Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:02:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Binh chế Đại Việt thế kỷ XI - XV  (Đọc 33003 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 01:00:39 am »

       
        3.Quân Ngũ phủ thời Lê Sơ

        Quân Ngũ phủ là một bộ phận quan trọng của quân đội trung ương dưới triều vua Lê Thánh Tông, là lực lượng quân thường trực của Nhà nước Lê Sơ đóng ở những địa bàn trọng yếu trong nước.

        Thời Lê Sơ, chế độ trung ương tập quyền càng đẩy mạnh khuynh hướng quân chủ chuyên chế. Trải qua nhiều lần chấn chỉnh và sửa đổi, đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497), bộ máy nhà nước chuyên chế phát triển đến mức hoàn bị nhất với những thiết chế chặt chẽ và kéo theo đó là sự hoàn thiện của cơ chế tổ chức quân đội quốc gia và sự độc quyền về xây dựng, quản lý lực lượng vũ trang cả nước.

        Ngay sau khi đánh đuổi quân Minh, giành lại nền độc lập, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo, đó là Tây Đạo, Đông Đạo, Bắc Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo. Cùng với việc thiết lập cơ chế hành chính này, Nhà nước đặt vệ quân 5 đạo. Đứng đầu mỗi đạo là quan hành khiển, nắm giữ sổ sách và coi việc quân, dân. Mỗi đạo đặt một số vệ quân trực thuộc do các quan tổng quản chỉ huy. Bấy giờ, cả nước có 19 lộ, trấn. Một lộ trấn đặt một vệ quân. Tất cả trực thuộc 5 đạo.

        Lê Thánh Tông cải tổ bộ máy tổ chức hành chính. Nhà vua bãi bỏ thể chế 5 đạo, cả nước chia thành 12 đạo thừa tuyên năm (1490 đặt thêm thừa tuyên Quảng Nam), và tổ chức quân Ngũ phủ (năm phủ), đó là:

        - Phủ Trung Quân, gồm các vệ quân Thanh Hoá và Nghệ An;

        - Phủ Đông Quân, gồm các vệ quân An Sách và Nam Bang;

        - Phủ Tây Quân, gồm các vệ quân Quốc Oai và Hưng Hoá;

        - Phủ Nam Quân, gồm các vệ quân Thiên Trường và Thuận Hoá;

        - Phủ Bắc Quân, gồm các vệ quân Bắc Giang và Lạng Sơn.

        Riêng hai đạo thừa tuyên Thái Nguyên và Tuyên Quang thì đặt quân Phụng Trực. Mỗi phủ nói trên đều có sáu vệ quân và do một đô đốc chỉ huy; ví như Trịnh Công Lộ đã từng làm đô đốc phủ Đông quân. Tổng cộng quân Ngũ phủ gồm 30 vệ, 154 sở, 3.080 đội, với tổng số quân là 61.600 người. Với việc tổ chức quân Ngũ phủ (1466), nhà nước quân chủ thời Lê đã trực tiếp nắm giữ quân các đạo và biến phần lớn quân năm đạo trước đây thành quân thường trực của trung ương. Lực lượng quân đội do các tổng quản chỉ huy từ thời Lê Thái Tổ đã chuyển thành quân đội do các đô đốc ngũ phủ trông coi. Đó là một bước phát triển đáng kể trong cơ cấu tổ chức quân đội thời Lê Sơ.

        Tóm lại, từ thời Lê Sơ, nhất là từ đời vua Lê Thánh Tông, cùng với sự phát triển cao của chế độ quân chủ chuyên chế, các tổ chức quân đội của triều đình đã phát triển hoàn chỉnh. Với sự xuất hiện quân Ngũ phủ, quân đội thường trực do triều đình trực tiếp quản lý đã có mặt ở tất cả các đạo thừa tuyên trong cả nước. Đây là hình thức quân đội của nhà nước theo khu vực. Quân Ngũ phủ đảm nhận canh phòng trong những địa bàn trọng yếu. Do đó, phạm vi canh phòng của quân triều đình mở rộng hơn nhiều so với các triều đại trước. Quân Ngũ phủ cùng với Cấm quân trong Kinh trở thành chỗ dựa vững vàng của nhà nước quân chủ chuyên chế, đồng thời nó là một phương tiện quan trọng để chính quyền trung ương nắm và quản lý chặt chẽ các cơ sở. Bằng biện pháp tăng cường quyền lực này, Nhà nước Lê Sơ càng có khả năng khống chế các đạo, nâng cao hơn nữa sức mạnh về an ninh và quốc phòng trong cả nước.




Chỉ huy phủ: - Tả Hữu Đô đốc   
-   Phụ tá: Đô đốc Đồng tri và Đô đốc Thiêm Sự.
Chỉ huy phủ: - Tổng tri
-   Phụ tá: Đồng Tổng tri và Thiêm Tổng tri. 
Chỉ huy phủ: - Quản lãnh
-   Phụ tá: Phó quản lãnh, Chánh Võ úy và Phó Võ úy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 01:02:42 am »


        II. QUÂN ĐỊA PHƯƠNG (Quân các lộ, trấn, đạo)

        Quân địa phương là một tổ chức quân đội trong hệ thống ngạch quân Đại Việt, là số quân thường trực do các châu, lộ, trấn, đạo tổ chức, quản lý và chỉ huy theo quy chế chung của nhà nước.

        Sử chép, Đinh Tiên Hoàng chia nước làm 10 đạo, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người. Lê Hoàn lên ngôi, đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu và vẫn giữ cơ cấu tổ chức quân sự 10 đạo quân như trước. Thời Đinh - Lê, mỗi đạo hành chính trở thành một đạo quân sự. Đó là cơ chế quân đội biên chế theo khung. Quân ở địa phương nào lệ thuộc vào đạo quân của địa phương ấy, khi có việc gọi ra, xong việc lại trở về làm ruộng, tự túc lương ăn.

        Sau khi lên ngôi lập triều Lý, Lý Công Uẩn chia nước thành 24 lộ, 2 trại; dưới các lộ hoặc phủ có các châu, huyện. Trong các lộ, châu của Đại Việt thời Lý đều có tổ chức quân sự do quan lại địa phương quản lý và chỉ huy. Quân đội ở các phủ, lộ, châu được chia làm hai hạng: Binh lính ở miền xuôi gọi là chính binh, binh lính miền thượng du và các châu xa gọi là phiên binh.

        Năm 1207, Lý Cao Tông xuống chiếu tuyển đinh nam, lấy những người khoẻ mạnh sung quân, đặt dưới quyền cai quản của quan các lộ để dẹp giặc1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd. tr.300). Sử xưa chép rải rác các hoạt động của quân địa phương thời Lý. Đó là sự kiện tháng 8 năm 1132, khi quân Chiêm Thành và Chân Lạp vào cướp phá ở Nghệ An, vua Lý Thần Tông sai Thái úy Dương Anh Nhĩ đem quân ở phủ Thanh Hoá và châu Nghệ An đánh giặc; năm 1151, vua Lý Thần Tông xuống chiếu cho Thống chế Lý Mông đem 5.000 quân Thanh Hoá và Nghệ An đưa Ung Minh Ta Diệp về nước Chiêm Thành làm vua; hoặc năm 1207, Lý Cao Tông ra lệnh tuyển nhân đinh khoẻ mạnh sung vào quân đội đặt dưới quyền cai quản của các lộ để dẹp loạn...1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập IV, Sđd, tr.25, 40). 
        Sự xuất hiện của quân các châu trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075-1077) chứng tỏ phần nào quy mô tổ chức và vai trò của họ trong cuộc chiến tranh giữ nước. Trong lần "Tiên phát chế nhân" (1075), Lý Thường Kiệt đã huy động đông đảo quân đội và dân binh ở các châu, lộ phía Bắc do các thủ lĩnh địa phương chỉ huy như Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn, Lưu Kỷ, Vi Thủ An... Hai năm 1076-1077, quân các thủ lĩnh nói trên lại tham gia chiến đấu chống Tống ở ngay biên giới, chặn đánh và hạn chế bước tiến quân của giặc. Bấy giờ, theo Tông sử, tướng Lưu Kỷ có 5.000 quân đóng ở Quảng Nguyên (Cao Bằng). Dưới quyền thống lĩnh của Lưu Kỷ còn có nhiều tướng kiệt liệt như Nùng Chí Cao, các con Nùng Tồn Phúc, Hoàng Lục Phẫn... Phò mã Thân Cảnh Phúc lúc đó đóng ở động Giáp, khống chế hai cửa ải Quyết Lý và Giáp Khẩu; Hoàng Kim Mãn giữ Môn Châu; Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu từ Tư Lăng đến Lạng Châu. Sử nhà Tống cũng cho biết, khi Quách Quỳ tiến tới huyện Quang Lang thì gặp quân Thân Cảnh Phúc đem voi chặn đường, quân Tống không thể tiến được Quỳ bèn sai quân cung thủ tiễn dùng nỏ bắn vào voi, lấy mã tấu chém vào vòi voi, voi sợ quay lại1 (Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.286). Sách Quế hải chí của Trung Quốc cũng chép: "Viên tri phủ Quang Lang là phò mã bị thua, bèn trốn vào trong bụi cỏ. Thấy quân Tống lẻ loi thì giết chết hoặc bắt về. Người ta cho đó là một vị thần"2 (Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.286). Những đạo quân của các châu động phía Bắc rất thông thạo địa hình, là nỗi e ngại lớn của địch. Tướng Tống là Triệu Tiết nói: "Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc ở động Giáp đều cầm cường binh”3 (Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.286). Những sự kiện trên không chỉ chứng minh sự đóng góp to lớn của quân các lộ trong kháng chiến mà còn cho ta biết một thực tế là lúc đó ở các châu, các lộ đều có lực lượng vũ trang của mình, ở miền núi do các thủ lĩnh vừa là quan lại địa phương vừa là quan triều đình (như phò mã Thân Cảnh Phúc) thống lĩnh.

        Như thế, triều Lý cho phép các lộ tuyển đinh tráng trong địa phương và cai quản binh trong lộ mình, đồng thời chịu sự chỉ huy chung của trung ương. Số quân giữa các lộ không giống nhau, nhiều ít tuỳ lộ lớn, bé và tuỳ nhu cầu phòng giữ trong địa hạt. Đây là lực lượng vũ trang canh phòng tác chiến chủ yếu trên địa phương, nhưng khi có chiến tranh lớn thì quân các lộ chịu sự điều động và chỉ huy của triều đình. Trong lực lượng quân thường trực của Nhà nước Đại Việt thời Lý thì "ngoại binh", gồm cả quân các lộ đều được chia phiên, thay nhau túc trực hay về nhà sản xuất tự túc. Theo Phan Huy Chú: “Thời Lý, trong thành có quân Túc vệ đội ngũ đông nghiêm, còn quân ở ngoài thì vẫn theo ý đời xưa, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết. Cho nên binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống giặc" (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Sđd, tr.3).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 01:03:32 am »


       Buổi đầu thời Trần, các khu vực hành chính vẫn giữ nguyên như thời Lý. Nhưng đến năm 1242, Trần Thái Tông đổi 24 lộ mà trước đây nhà Lý đặt làm 12 lộ, 2 trại; sau đó đặt thêm 5 phủ, 6 châu. Trong mỗi lộ chia thành một số phủ, châu hoặc huyện. Các lộ, phủ, châu đều có quân thường trực riêng của mình. Sử xưa của ta còn gọi đó lắ các đội tuyển phong" hay "các đô phong đoàn". Năm 1261, nhà Trần chính thức tổ chức "phong quân" ở các địa phương. Sách Toàn thư chép: "Tháng 2, chọn đinh các lộ người nào mạnh khoẻ sung làm binh quân triều đình), còn thì sung làm sắc dịch ở các cục, viện và đội tuyển phong ở lộ, phủ, huyện"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), Tập 11, Nxb Khoa học xã hội, H.1993, tr.32). Tháng 8- 1344, vua Trần Dụ Tông cho đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để trừ "giặc cướp". Tháng 2-1363, nhà vua lại xuống chiếu chọn dân đinh sung vào quân các lộ. Nếu theo cơ cấu tổ chức hành chính nói trên thì lực lượng quân các lộ, phủ thời Trần rất đông đảo. Tuy nhiên, số quân nhiều hay ít cũng tuỳ từng thời kỳ, tuỳ vị trí địa lý và điều kiện dân cư trong xứ. Như Phan Huy Chú nhận xét: "Binh các lộ buổi đầu đời Trần chỉ đặt ở mấy đạo Đông, Nam, Bắc; từ Hoan Ái (Nghệ An và Thanh Hoá) trở vào còn xem là đất xa, có việc mới gọi ra, ngày thường chưa đặt thành vệ. Từ thời Long Hưng, Đại Khánh (1293-1323) về sau, bờ cõi phía Nam khai thác rộng thêm, bấy giờ binh ở Thanh Nghệ và Thuận Hóa mới liệt vào quân hiệu”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 11, Sđd, tr.32).

        Cũng như thời Lý, thời Trần thực hiện chính sách "nhu viễn"2 ("Nhu viễn" là chính sách mềm dẻo với các vùng xa. Cũng giống như chính sách "cơ mi", tức là ràng buộc lỏng lẻo đối với các châu, lộ ở vùng núi xa xôi. Mục đích để liên kết với cộng đồng các tộc người trên các vùng lãnh thổ, nhất là đối vớt các dân tộc ít người, dùng nhiều hình thức ràng buộc các quan lại, các thủ lĩnh địa phương, coi họ là quan lại trong hệ thống chính quyền và do triều đình quản lý. Trường hợp năm 1228, Trần Thủ Độ sai sứ đưa sắc thư gia phong Nguyễn Nộn làm Hoài đạo Hiếu vũ vương và đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho để ràng buộc Nộn là một ví dụ.

        Theo sách Toàn thư, tháng 2 năm 1266, thuỷ quân lộ Đông Hải đi tuần ở biên giới, đến núi Ô Lôi dò biết quân Nguyên đang chuẩn bị tiến công xâm lược đã báo về kinh thành để phòng bị (18.34). Điều đó chứng tỏ quân của lộ nào thì đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ vùng lãnh thổ trên đất liền hay vùng biển của lộ mình, đồng thời nó có mối quan hệ chặt chẽ với triều đình. Tuy nhiên, Nhà nước có quyền điều động quân các lộ khi cần thiết. Lúc đó quân địa phương có thể đặt dưới sự chỉ huy chung của các vương hầu, quý tộc Trần và chịu sự điều hành của Quốc công tiết chế. Chẳng hạn, tháng 12 năm 1284, khi hơn nửa triệu quân Nguyên chuẩn bị tiến công xâm lược Đại Việt, Trần Quốc Tuấn ra lệnh điều động quân các lộ ở đông nam Thủng Long. Sử chép: "Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân các lộ ở Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm; chọn những người dũng cảm làm tiên phong"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập 2, tr.51). Theo lệnh đó, quân các lộ đều phấn chấn tụ họp. Chỉ riêng Hưng Vũ vương Nghiền, Minh Hiến vương Uất, Hưng Nhượng vương Tảng và Hưng Trí vương Hiện đã chỉ huy 20 vạn quân các xứ Bàng Hà và Trà Hương thuộc Hải Phòng, Hải Dương), Na Sầm và Long Nhãn thuộc (Bắc Giang, Bắc Ninh), Yên Sinh (thuộc Quảng Ninh) đến cùng hội quân với Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp.

        Vào những thời điểm có chiến tranh lớn, vua Trần thường xuống chiếu cho phép các vương hầu, quý tộc thống lĩnh quân các lộ giúp vua đánh giặc. Sự kiện nói trên là một ví dụ. Sách Lịch triều hiên chương loại chí nói rằng: "Khi ấy quân lính do các thân vương đốc suất mới chỉ là ở mấy lộ Đông Nam thôi; còn từ Thanh Hoá trở vào vẫn chưa gọi đến. Cho nên vua (Trần Nhân Tông) có câu thơ: Cối kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh (thuyền cũ Cối Kê ngươi còn nhớ, Hoan Diễn hãy còn 10 vạn quân). Đủ biết binh thế thời bấy giờ rất thịnh"2 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV. Sđd. tr.6). Cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược Mông - Nguyên hồi thế kỷ XIII khẳng định vai trò to lớn của quân các lộ, phủ trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Quân các châu, lộ phía Nam và phía Tây còn đảm nhận nhiệm vụ chống lại sự xâm phạm, quấy phá, cướp bóc của người Chiêm Thành, Ai Lao và Chân Lạp. Có khi họ độc lập chiến đấu, có khi họ được điều động chiến đấu cùng với quân chủ lực của trung ương. Năm 1335, Thượng hoàng Trần Minh Tông đã cử Đoàn Nhữ Hài làm đốc tướng chỉ huy quân Thần Vũ và quân Nghệ An đánh quân Ai Lao sang cướp. Thời cuối Trần, triều chính suy vi, Cấm quân bất lực trước sự quấy phá của thù trong giặc ngoài; vì thế Nhà nước đã nhờ cậy và huy động lực lượng "phong quân" các lộ. Tháng 8-1358, vua Dụ Tôn phải xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ chỉ huy các đội Phong đoàn chống lại các cuộc nổi dậy chống chính quyền.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:09:29 pm »


        Cũng như triều Lý, triều Trần thực hiện chính sách" "Ngụ binh ư nông" đối với quân địa phương. Sách Binh chế chí chép: “Nhà Trần theo phép nhà Lý, binh túc vệ được cấp bổng hàng năm..., còn binh các đạo thì được chia phiên về làm ruộng"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí. Tập IV, Sđd, tr.20).

        Triều Hồ thay triều Trần năm 1400, song hệ thống quân sự các lộ, trấn của nhà Hồ về cơ bản đã được Hồ Quý Ly cùng phe cánh xây dựng từ những năm cuối triều Trần. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho đổi tên các lộ, phủ thành các trấn. Trước khi dời kinh đô về An Tôn (Thanh Hoá), Hồ Quý Ly đổi lộ Thanh Hoá thành trấn Thanh Đô, lộ Quốc Oai thành trấn Quốc Oai, lộ Đà Giang thành trấn Thiên Hưng, lộ Nghệ An thành trấn Lâm An... Ở các lộ đặt chức An phủ sứ chánh và phó, ở các trấn đặt các chức Trấn phủ chánh và phó. Bấy giờ các vùng Thanh Hoá, Nghệ An, Hoá Châu, Thuận Châu, Lâm Bình đều đặt quân hiệu. Đến khi giành được vương quyền, Hồ Quý Ly vẫn duy trì các tổ chức quân sự địa phương. Cùng với việc tăng cường quân đội trung ương, nhà Hồ cũng chú trọng tăng quân số của các lộ, trấn. Vì thế quân đội triều Hồ phát triển mạnh cả về số lượng và tổ chức.

        Sau khi đánh đuổi giặc Minh, giải phóng đất nước, Lê Lợi tiến hành chia lại các đơn vị hành chính địa phương. Từ tháng 4-1428, cả nước chia thành 5 đạo. Đồng thời với việc phân chia hành chính, Lê Thái Tổ thiết lập các vệ quân 5 đạo. Các vệ đó thành lập dựa trên cơ sở các lộ, trấn; mỗi lộ, trấn đặt một số vệ quân trực thuộc đạo mình. Đạo lớn đặt 5 vệ, đạo nhỏ đặt 3 vệ, tổng cộng 19 vệ; cụ thể:


        Nhà Lê căn cứ vào các khu vực hành chính mà phân chia thành 5 đạo quân   và các vệ quân trực thuộc. Cơ chế vệ quân 5 đạo trên đây được duy trì từ đời Lê Thái Tổ đến các đời vua Lê Thái Tông và Nhân Tông. Sang đời Lê Thánh Tông, cả nước chia thành 13 đạo thừa tuyên và có các phủ, châu, huyện trực thuộc. Về mặt quân sự, phần lớn trong các đạo đều đặt đô ti. Ở những thừa tuyên xa kinh thành tuỳ theo điều kiện và yêu cầu việc bố phòng mà lập ra các vệ trực thuộc với số lượng khác nhau. Trong số 13 thừa tuyên, chỉ có 9 thừa tuyên tổ chức các vệ trực thuộc đô ti, đó là: Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, An Bang, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Quảng Nam. Các đô ti gồm nhiều vệ, mỗi vệ có 5, 6 cơ sở. Tổng cộng 9 đô ti trong các đạo thừa tuyên có các vệ quân trực thuộc nói trên là 27 vệ, 157 sở. Nếu theo biên chế năm Quang Thuận thứ 8 (1467) mỗi vệ 5-6 sở, mỗi sở gồm 20 đội, mỗi đội 20 người thì số quân trong 9 đô ti là: 62.800 người. Đó là chưa kể quân của các đạo thừa tuyên khác không tổ chức đô ti, trực thuộc các phủ quân, như các đạo Thiên Trường, Bắc Giang, Nam Sách và Quốc Oai (Bảng Cool.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:18:45 pm »

        
        Từ năm 1490, triều đình Lê Sơ còn đặt thêm các sở Thủ ngữ kinh lược sứ ở các vùng được gọi là "biên viễn" quan trọng như Nghệ An, Thuận Hoá, An Bang, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Quảng Nam... Cả nước có 8 Thủ ngữ, gồm 87 sở. Các Thủ ngữ lệ thuộc đô ti của các đạo thừa tuyên. Số lượng sở phụ thuộc các Thủ ngữ nhiều ít không đều. Biên chế tổ chức các sở như thế nào không thể xét rõ; nhưng nếu theo biên chế như các loại quân khác thì tổng cộng số quân mới đặt là 34.800 người (xem Bảng 8 và 10).

        Như vậy, quân đội của các đạo thừa tuyên được tổ chức theo các đô ti, mỗi đô ti gồm 2 bộ phận: các Vệ quân trực thuộc và các Thủ ngữ Kinh lược sứ. Dưới các Vệ quân và Thủ ngữ là một số Sở hợp thành (xem Bảng 9). Nếu theo biên chế trên thì số quân địa phương dưới triều vua Lê Thánh Tông lên tới 97.600 người, chưa kể 4 đạo thừa tuyên không có các Vệ trực thuộc. Đó quả là một con số đáng kể trong hệ thống tổ chức quân sự của Nhà nước Lê Sơ. Theo chính sách "Ngụ binh ư nông" thì quân đội chia thành 2-3 hoặc 5 phiên thay nhau về sản xuất; do đó số lượng quân tại ngũ cũng giảm đi rất nhiều.

        Tóm lại, quá trình phát triển hoàn thiện của quân các lộ trấn, đạo phụ thuộc vào quá trình phát triển hoàn thiện của nhà nước phong kiên và cơ cấu hành chính, phụ thuộc vào điều kiện dân cư và vị trí địa lý quân sự các khu vực. Do đó, về tổ chức biên chế cùng với số lượng của nó cũng tuỳ thuộc yêu cầu của từng địa phương, trong từng giai đoạn lịch sử. Quân các lộ, trấn, đạo dưới các triều Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ là tổ chức quân sự địa phương nằm trong hệ thống lực lượng vũ trang quốc gia Đại Việt. Đó là lực lượng quân đội chiến đấu tại chỗ, chủ yếu ngay tại địa phương, song khi cần nhà nước có thể điều động như những lực lượng cơ động của triều đình. Quân địa phương có số lượng đông đảo nhất trong hệ thống tổ chức các thứ quân. Họ vừa tham gia sản xuất vừa canh phòng và luyện tập theo chính sách “Ngụ binh ư nông” trong các triều đại. Tổ chức quân sự này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh địa phương cũng như trong sự nghiệp chung đánh giặc, giữ nước.



« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2016, 07:25:20 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:23:53 pm »

          






« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2016, 07:28:55 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:29:54 pm »


        III. QUÂN VƯƠNG HẦU

        Từ thế kỷ XIV về trước trong cơ cấu tổ chức các thứ quân của Nhà nước Đại Việt có một bộ phận quân đội quan trọng, đó là “quân vương hầu”. Vậy quân vương hầu là gì? Nó được tổ chức như thế nào và vai trò lịch sử của nó ra sao?

        Các ý kiến về vấn đề trên đều tập trung vào một giai đoạn lịch sử đó là thời Trần; tuy nhiên vẫn chưa thống nhất. Một số nhà nghiên cứu không công nhận có quân vương hầu. Có người cho rằng, quân vương hầu là quân địa phương. Có tác giả khẳng định vương hầu tông thất không có quyền xây dựng quân đội riêng nhưng họ thường nuôi một số gia nô, gia đồng và khi có chiến tranh họ được mộ binh ở địa phương - trong và ngoài thái ấp của mình - đồng thời chỉ huy đạo binh đó đánh giặc1 (Theo sách Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb Khoa học xã hội, H.1970, tr.111). Ngược lại, cũng có những nhà nghiên cứu khẳng định, dưới triều Trần, ngoài quân Túc vệ ở kinh đô và quân các lộ do nhà nước tổ chức, quý tộc tôn thất họ Trần còn được phép thành lập những đội quân riêng. Thành phần chủ yếu của lực lượng này là nông nô, nô tỳ2 (Theo Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Sđd, tr.34). Tuy nhiên, về nguồn gốc, về hình thức tổ chức, chức năng và hoạt động quân sự của quân vương hầu ra sao vẫn chưa có tác giả nào đề cập cụ thể.

        Vương hầu là tầng lớp đại quý tộc tông thất (chủ yếu thuộc họ vua) được phong tước vương và tước hầu. Quân vương hầu là lực lượng quân sự của các quý tộc thân thuộc nhà vua. Trên thực tế, đó là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại khá lâu trong xã hội Đại Việt trước thế kỷ XIV.

        Có thể coi quân vương hầu xuất hiện từ thời Tiền Lê. Binh chế thời Tiền Lê cho phép các vương hầu có quân riêng. Thời đó tổ chức quân sự này gọi là "quân vương - phủ”. Trong các phủ đệ của một số thân vương quý tộc có một bộ phận "gia khách" hay "gia binh" mang tính chất "thân binh". Các vương hay đại thần trong triều khi được phái đi trấn trị ở các vùng thường mang theo số quân này đến các địa phương và phát triển thành nòng cốt của lực lượng quân sự địa phương.

        Theo sách Đại Việt sử lược, Lê Đại Hành đã phân 11 người con của mình, mỗi người trấn trị một phương. Họ có phủ đệ và binh lính, vì thế đã xảy ra sự kiện khi nhà vua qua đời và Long Việt lên ngôi (Lê Trung Tông) thì các vương như Đông Thành Vương, Trung Quốc Vương và Khai Minh Vương đưa quân về tranh ngôi, sinh ra nội chiến trong 9 tháng1 (Đại Việt sử lược, bản dịch của Nguyễn Gia Tường, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.104). Các con của Lê Đại Hành được phân chia trấn trị ở các địa phương như sau:

        1. Đông Thành Vương Long Tích (không rõ chỗ ở).

        2. Nam Phong Vương Long Việt, con thứ 3 (không rõ chỗ ở).

        3. Ngự Man Vương Long Đĩnh, con thứ 4, coi giừ Phong Châu (Sơn Tây, Phú Thọ).

        4. Khai Minh Vương Long Đình, con thứ 5, coi Đằng Châu (Kim Động, Hải Dương).

        5. Ngự Bắc Vương Long Cân, con thứ 6 coi Phù Lan (Văn Lân, Mỹ Thọ, Hưng Yên).

        6. Đinh Phiên Vương Long Tùng, con thứ 7, coi giữ Ngũ Huyện Giang (Thanh Oai, Hà Tây).

        7. Tư Doanh Thành Phóng Vương Long Tương, coi thành Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Tây).

        8. Trung Quốc Vương Long Kích, coi Mật Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên).

        9. Man Quốc Vương Long May, con thứ 10, coi Vũ Long (Thanh Hoá).

        10. Hành Quân Vương Long Đề, con thứ 11, coi giữ Cổ Lãm (Cát Lãm, Quế Dương, Tiên Sơn, Bắc Ninh).

        11. Phù Đới Vương Long Nghĩa coi Phù Đới (Vinh Bảo, Hải Phòng).

        Đội ngũ quý tộc thời Lý mà nòng cốt là bộ phận quý tộc tông thất, trong đó có các hoàng tử, thân vương được phong chức tước cao và được nhà vua giao cho nhiều trọng trách như phong chức Đại nguyên soái cầm quân đánh giặc lưu giữ kinh sư bảo vệ kinh thành, trao quyền trấn trị và thu thuế ở các địa phương, v.v... Cũng như thời Tiền Lê, vua Lý đã đưa con cháu mình đi trấn trị một số lộ, trấn để bảo đảm sự trung thành về chính trị của địa phương đối với triều đình. Quyền tổ chức lực lượng quân sự riêng của , các vương hầu tông thất thời Lý có hay không chúng tôi không thấy ghi trong sử sách. Tuy nhiên, trong thực tế các vương (con vua Lý) có lực lượng "phủ binh" riêng gọi là “quân vương phủ”. Sự biến cung đình năm 1028 cho biết điều này. Lúc đó vua Lý Thái Tổ mất, Thái tử Phật Mã (tức Lý Thái Tông) chưa lên ngôi, thì ba vương: Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương đã đem "phủ binh" của mình vào phục sẵn trong cấm thành để giết Thái tử nhằm tranh ngôi báu. Đông Chinh Vương phục binh ở trong Long Thành, còn Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương ở ngoài cửa Quảng Phúc đợi Thái tử đến để đánh úp. Nhưng việc không thành vì Lê Phụng Hiểu và Lý Nhân Nghĩa đã chỉ huy quân cấm vệ đánh tan. Bấy giờ Khai Quốc Vương trấn trị ở phủ Trường Yên (Ninh Bình) cũng có một đội quân riêng và tỏ ý không chịu mệnh Thái tử. Vì thế sau khi lên ngôi, Lý Thái Tông phải thân cầm quân đến Trường Yên vừa dùng áp lực vừa dùng ân tình để chiêu dụ Khai Quốc Vương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:31:40 pm »


        Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1077 có đội quân của hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn tham gia đánh trận Khao Túc trên sông Phú Lương (sông Cầu). Khi đó Hoằng Chân chỉ huy một đạo thuỷ quân mà lực lượng nòng cốt là 500 quân "nuôi riêng" của ông. Loại quân này được tổ chức, huấn luyện và trang bị theo phương thức riêng của chủ tướng họ. Khi có chiến tranh Nhà nước mới huy động để huấn luyện và chiến đấu dưới một sự chỉ huy thống nhất. Tôn Thăng, một người Tống, có viết trong sách Đàm phố rằng: "Hoằng Chân có nuôi riêng 500 quân đặc biệt, cấm mọi điều thị dục, dạy cho trận pháp. Đội quân ấy rất giỏi, hiệu lệnh rất nghiêm. Người nào cũng cầm một cái kim bài để làm hiệu riêng"1 (Hoàng Xuân Hãn. Lý Thường Kiệt. Sđd, tr.291). Như vậy quân vương phủ thời Lý thực chất cũng là một loại “thân binh", về hình thức có điểm giống như quân của nhà vua; điểm khác nhau ở chỗ, vua là đại diện của quốc gia, quân của vua là quân của triều đình, của nhà nước, còn quân của vương hầu là quân riêng của cá nhân, có nhiệm vụ bảo vệ phủ đệ và vùng ảnh hưởng của họ.

        Đến thế kỷ XIII, các vương hầu tông thất triều Trần đều được cấp thái ấp và có phủ đệ riêng. Nhà nước thừa nhận quyền trấn trị của các vương hầu quý tộc ở các địa phương trọng yếu, như1 (Theo tư liệu điền dã của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và tài liệu khảo sát của giáo sư Phan Đại Doãn (năm 1988), tài liệu của giáo sư, TS. Trương Hữu Quýnh và phó giáo sư, TS. Nguyễn Danh Phiệt):

        - Yên Sinh vương Trần Liễu ở Đông Triều, Yên Hưng (Quảng Ninh).

        - Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương).

        - Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (Vụ Bản, Bình Lục, Hà Nam).

        - Trần Quốc Chẩn ở Chí Linh (Hải Dương).

        - Trần Nhật Hạo ở Dương Xá (Hưng Hà, Thái Bình).

        - Trần Quang Khải ở Cao Đài (Bình Lục, Hà Nam).

        - Trần Quốc Tảng ở Tỉnh Bang (Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

        - Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hoà (Duy Tiên, Hà Nam).

        - Trần Quốc Khang ở Diễn Châu (Nghệ An).

        - Trần Nhật Duật ở Văn Rinh (Quảng Xương, Thanh Hoá - Trần Khát Chân ở Mai Động (Thanh Trì, Hà Nội).

        - Trần Quốc Triều ở Gia Lâm (Hà Nội).

        - Trưởng công chúa ở Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ).

        Hiện tượng trên là sản phẩm của chế độ kinh tế - chính trị đương thời, là kết quả của hình thức ban cấp thái ấp thuở đó. Tuy thái ấp và phủ đệ của các vương hầu tông thất không lớn lắm, chỉ độ vài ba làng, nhưng ở đó cũng khá đông dân, khoảng 100-200 hộ, có nhiều ruộng đất công và nằm ở các vị trí quan trọng. Năm 1266, vua xuống chiếu cho phép các vương hầu, phò mã, công chúa được chiêu mộ dân nghèo lưu tán khai khẩn đất hoang lập điền trang riêng. Vì thế, đời Trần đã xuất hiện nhiều điền trang lớn của quý tộc, tông thất trong một số vùng. Tại các vùng mình trấn trị, tại các điền trang và thái ấp, vương hầu quý tộc thực sự làm chủ, họ được phép khai khẩn đất hoang mở mang trang trại, bắt dân lao dịch, thu thuế và đặc biệt họ được quyền tổ chức lực lượng vũ trang riêng. Phan Huy Chú viết rằng: "Những vương hầu triều Trần được mở phủ đệ đều có trại ở hương, khi có lễ chầu thì tới kinh, xong việc lại về phủ đệ”1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập II, Nxb Sử học, H.1961, tr.76).

        Dưới thời Trần, bên cạnh điền trang là sở hữu riêng của vương hầu quý tộc, nhà nước còn có chế độ ban cấp thái ấp cho họ2 (- Điền trang: theo sách Từ Hải (Trung Quốc), "điền trang" là trang viên, được thành lập trên diện tích đất chiếm hữu của hoàng thất, quý tộc, quan liêu và địa chủ. Trang viên thuộc hoàng thất gọi là hoàng trang, hữu uyển, cung trang; thuộc quý tộc, quan liêu, địa chủ gọi là tư trang, hữu nghĩa trang, biệt thự hay biệt trang (Từ Hải), Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1989, tr.1884) - Thái ấp: Từ Hải còn gọi là "thái địa", "thực ấp" là vùng đất các bậc khanh đại phu được phong. Quý tộc được ăn (thực) tô thuế của ấp được phong). Xét về mặt sản xuất nông nghiệp, thái ấp không góp phần tăng diện tích canh tác và về mặt sở hữu vẫn là ruộng đất công. Người được ban cấp chỉ được quyền hưởng tô thuế và huy động nhân lực trong phạm vi thái ấp giới hạn trong một đời. Sau khi người được ban cấp qua đời ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước trực tiếp quản lý hoặc trả lại cho hương ấp quản lý. Tại đây, gia binh của vương hầu làm nhiệm vụ sản xuất và phục dịch lúc thời bình, khi có chiến tranh là lực lượng quân sự của các vương hầu tham gia chiến đấu. Dường như khi phong thái ấp, Nhà nước phong kiến quý tộc Trần có ý thức giao cho vương hầu tông thất nhiệm vụ trấn giữ ở những vùng quan yếu của đất nước. Qua sự phân bổ các thái ấp, ta thấy nổi lên các vùng chiến lược trọng yếu: vùng biên cương phía bắc (Chí Linh, Đông Triều - Quảng Ninh); vùng cửa ngõ đông bắc (Hải Phòng, Thái Bình); vùng phiên dậu phía nam (Thanh Hoá, Nghệ An) và vùng bản bộ, phụ cận của quê hương nhà Trần (Hà - Nam - Ninh). Điều này hoàn toàn khác hẳn với chế độ phân phong của nhà nước phong kiến phân quyền. Rất tiếc cho đến nay chúng ta chưa có đủ tài liệu để khôi phục diện mạo đầy đủ của thái ấp thời Trần về mọi phương diện.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:32:27 pm »


        Trong thời kỳ đất nước có chiến tranh, thường xuất hiện những đạo quân của các vương hầu quý tộc nhà Trần. Sử xưa gọi đó là các đạo quân "gia nô" hay "vương hầu gia đồng". Theo sách Toàn thư, trước cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toàn tuy còn ít tuổi cũng đã tổ chức được một đạo quân gia nô và thân thuộc đông đến hơn nghìn người và dựng cờ đề sáu chữ "Phá cường địch, báo hoàng ân”. Đó là một đội quân trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết, háo hức chờ thời cơ đánh giặc, lập công. Sách An nam chí lược chép: Thời Trần có ba đô vương hầu gia đồng là Sơn Lao đô, Dược Đồng đô và Toàn Hầu đô. Các học giả Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú đều chép về việc triều đình nhà Trần thường hạ lệnh cho các vương hầu, tông thất mộ binh và thống lĩnh binh của mình giúp vua đánh giặc. Thậm chí Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật còn thu nạp cả những binh sĩ người Tống quy phục, lập thành đội quân Thái Đát nổi tiếng chiến đấu giỏi, đã lập nhiều chiến công trong kháng chiến chống quân Nguyên.

        Những dấu tích xưa còn lại ở những vùng có thái ấp, điền trang của vương hầu quý tộc cho biết phần nào về quy mô các phủ đệ và một số hình thức tổ chức quân sự ở đó. Quắc Hương, tức làng Thành Thị (Bình Lục, Nam Hà) là thái ấp của Trần Thủ Độ. Nhà Trần ban cho Trần Thủ Độ vùng đất này làm thái ấp với mục đích ban đầu là dẹp loạn. Vị trí địa lý của Quắc Hương nằm ở ngã ba sông Châu, sông Sắt, trấn giữ và bảo vệ đường thuỷ phía bắc phủ Thiên Trường. Trong bối cảnh chung của vùng trũng nước, bố trí một thái ấp ở đây là khiến vị trí này trở thành một cứ điểm quân sự. Trần Thủ Độ vừa có trách nhiệm giữ vững an ninh ở khu vực vốn đã từng là "điểm nóng" chống lại triều Trần, vừa phải xây dựng nơi đây thành một trung tâm bảo vệ Tức Mặc (Thiên Trường). Tại vùng Quắc Hương hiện còn dấu vết của khu Cột Cờ, nhà Giảng Võ, gò Con Quy, gò Rẻ Quạt, chân thành nội, chân thành ngoại... Khu Cột Cờ là một khu đất cao và rộng khoảng 3 sào. Ở đây ngày trước còn tồn tại tục kéo cờ; hằng năm vào ngày 12-8 âm lịch, các thôn đem cờ của mình để treo rồi tổ chức trò đất vật đánh gậy, biểu dương lực lượng, các trai tráng đua tài võ nghệ. Tương truyền khi Trần Thủ Độ về lập phủ đệ ở Quắc Hương, ông cho quân lính khiêng một con rùa đá lên gò đất nơi ông thường dùng để làm bãi tập binh, đặt rùa quay về hướng Bắc. Từ đó có tên là gò Con Quy. Khu Rẻ Quạt gồm năm gò toả ra theo hình rẻ quạt. Dân địa phương cho đây là các điểm đóng quân. Tại làng Thành Thị còn có di tích nền nhà Cương; đó là khu nhà nuôi ngựa và để yên cương của quân lính Trần Thủ Độ. Những di tích cùng với những địa danh ở làng Thành Thị mà ngày xưa là Quắc Hương chứng tỏ nơi phủ đệ của Trần Thủ Độ đã có một lực lượng quân sự đáng kể.

        Ở Dưỡng Hoà (Duy Tiên, Nam Hà) tương truyền là thái ấp của Trần Khánh Dư, có một hệ thống hào lớn bao quanh làng, rộng khoảng 400 mẫu. Bên trong thái ấp còn có nhiều dấu vết của Dinh Phố, Dinh Tư, Trại Ngựa, Chợ Ngọc, Trại Gang, Trại Lính, Trại Voi... Khu thái ấp này có vị trí quan trọng, nằm ở phía nam thành Thăng Long, gần đường Thiên Lý.

        Thái ấp của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn tại Vạn Kiếp ở vào một địa bàn quân sự hiểm yếu của miền Đông Bắc của đất nước. Nhà Trần đặc biệt chú trọng canh giữ và bảo vệ vùng đất này nên đã cử một trong những tướng giỏi nhất của vương triều về đây trấn giữ. Vạn Kiếp với tâm điểm là thung lũng Kiếp Bạc, có sông sâu, núi cao hùng vĩ bao quanh, tiện lợi cả đường thuỷ và đường bộ. Vạn Kiếp đóng vai trò to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ hai; 20 vạn quân của các vương đã tập hợp ở đây vào tháng Giêng năm 1285 để chuẩn bị cho cuộc phản công địch vào tháng Sáu năm đó.

        Thái ấp của Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải ở Cao Đài (Bình Lục, Hà Nam) nằm trên ngã ba sông Vị Hoàng và Ninh Giang, cận kề với kinh đô thứ hai của nhà Trần là Thiên Trường. Trong kháng chiến chống Mông - Nguyên năm 1285, thái ấp này là một trong những phòng tuyến bảo vệ vùng phía Nam của nước Đại Việt, bảo vệ cung Thượng hoàng, bảo vệ cuộc rút lui chiến lược của hoàng tộc từ kinh đô Thăng Long về Thiên Trường. Thái ấp của Trần Quang Khải ở trên gò đất cao, tường đất bao quanh, có hào sâu, phía trong là phủ đệ và khu nhà ở. Những di tích: Trại lính, Lò rèn, Xưởng dệt, các đồn canh, trạm gác, v.v... là những chứng tích về hoạt động quân sự trong thái ấp này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 07:33:27 pm »


        Như vậy, trong sử cũ không nói rõ về quy chế của tổ chức quân sự của vương hầu quý tộc, nhưng qua các dấu tích còn lại, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, dưới triều Trần, ở một chừng mực nhất định các vương hầu quý tộc được phép tổ chức lực lượng quân sự riêng. Việc mộ quân, luyện quân và điều động quân vương hầu xuất phát từ yêu cầu giữ gìn an ninh trong khu vực, từ yêu cầu chống ngoại xâm, bảo vệ quyền thống trị của dòng họ và theo lệnh điều động của nhà nước. Thời bình, lực lượng quân sự này không đáng kể, chủ yếu họ là một số gia nô, nô tỳ của các quý tộc vừa sản xuất vừa phục dịch, vừa luyện tập quân sự và được vũ trang ở mức độ nhất định để canh phòng trang trại, thái ấp và phủ đệ. Khi đất nước có chiến tranh, các vương hầu quý tộc được quyền “mộ binh và thống lĩnh binh của mình". Lúc này, quân vương hầu không chỉ có gia nô, thân thuộc mà có cả những trai tráng ở các làng xã lân cận, được tổ chức thành các đạo quân cứu nước, đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của triều đình. Các đạo quân cứu nước này có thể đông đến vài vạn người, như cuối năm 1284, các vương - con của Trần Quốc Tuấn đã điều động được 20 vạn quân, trong đó có một phần đáng kể các lực lượng nông nô, nô tỳ trong các điền trang thái ấp. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) tình hình biên giới càng khó khăn, nhà vua truyền cho các tông thất, vương hầu mộ thêm dũng sĩ binh tráng làm quân gia thuộc. Vào thời điểm đó, quân triều đình, quân các lộ và quân vương hầu được tăng cường nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng.

        Quý tộc Trần có thái ấp, có điền trang, có phủ đệ và đội quân riêng. Điều đó chứng tỏ sự tồn tại một mức độ nhất định yếu tố phân tán trong xã hội thời Trần. Tuy nhiên, yếu tố này luôn bị hạn chế bởi tính chất xã hội cùng với những chính sách ràng buộc của nhà nước tập quyền. Về mặt tổ chức cũng như chức năng của quân vương hầu triều Trần không có biểu hiện đối lập đối với trung ương. Nhà nước cho phép tổ chức, nhưng quy mô của quân vương hầu có hạn chế, nhà vua có quyền điều động khi cần thiết. Triều đình không cho phép tồn tại những hiện tượng có khuynh hướng mở rộng quyền lực hoặc quy mô phủ đệ của các quý tộc. Ví dụ, Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang (anh cùng mẹ khác cha của Trần Thánh Tông) được cử trấn trị ở Diễn Châu. Ở đó Quốc Khang xây dựng phủ đệ có phần lộng lẫy quá mức thường1 (Di tích phủ đệ Trần Quốc Khang hiện còn ở xã Văn Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An). Tin đến triều đình, lập tức vua Thánh Tông cho người dò xét khiến Quốc Khang phải biến nó thành chùa thờ phật. Đối với các phủ đệ của người khác họ thì triều đình còn nghiêm khắc hơn. Năm 1253, nhà nước phải ra sắc lệnh hạn chế người theo hầu của tông thất và các quan văn võ, nhiều thì 1.000 người, ít thì 100 người. Những điều trên chứng tỏ yếu tố phân tán vẫn còn tồn tại, nhưng nhà nước phong kiến thời Trần là một nhà nước tập quyền mạnh. Mối quan hệ tốt giữa vương hầu quý tộc và vua càng làm tăng thêm sức mạnh của vương triều. Chính sách về điền trang, thái ấp của nhà Trần bao hàm cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa quốc phòng là nhờ vậy.

        Sự kết hợp giữa quốc phòng và kinh tế, giữa quân sự và ban cấp, thái ấp là nét đặc biệt trong sự tồn tại của vương triều Trần. Hai vấn đề này trở nên quan trọng trong cả thời bình và thời chiến. Thời bình hoạt động của thái ấp không chỉ nhằm phục vụ cho các vương hầu, quý tộc mà còn là nơi tích trữ lương thực, dự trữ sức người sức của cho thời chiến, vấn đề này đã được thể hiện trong các lần kháng chiến chống Mông - Nguyên. Yếu tố quân sự - quốc phòng đã trở thành mục đích quan trọng hàng đầu của thái ấp, bởi vì:

        1- Thái ấp đều nằm ở những địa bàn trọng yếu của đất nước, ở vị trí ngã ba sông, ven sông, ven đường, thuận lợi trong việc hành quân...

        2- Các vương hầu, quý tộc được ban cấp đều là những tướng giỏi, văn võ song toàn, là trụ cột của triều đình, là những tướng giỏi có thể chỉ huy những đạo quân lớn, quan trọng.

        3- Các thái ấp trở thành những căn cứ địa trong kháng chiến, hay những chốt quân sự có ý nghĩa phòng thủ đất nước, như Quắc Hương ở gần Thiên Trường, Vạn Kiếp ở vùng cửa ngõ phía Đông Bắc, v.v...
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM