Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:39:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Binh chế Đại Việt thế kỷ XI - XV  (Đọc 33015 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:25:36 am »


        b- Chế độ tuyển quân thời Lê Sơ

        Sau khi đánh thắng quân Minh, giành được độc lập, Lê Thái Tổ tiến hành tổ chức chính quyền và quân đội chính quy Giữ lời hứa trước đây với nghĩa quân trong số 35 vạn quân còn lại sau chiến tranh, nhà vua chọn giữ lại 10 vạn, còn cho về với gia đình và đồng ruộng. Chế độ tuyển quân được thực hiện nhằm chọn những đinh nam trẻ khoẻ thay thế số quân cũ già yếu. Một quy chế mới về binh dịch đã được ban hành. Theo quy định: "Một nhà ba người thì lấy một làm quân, phú dịch tha cho ba năm"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb Khoa học xã hội, H.1967, tr.36, 66). Tháng 12 năm 1428, nhà vua chỉ huy cho các quan võ: "Người nào đã đem vợ con ẩn tránh ở núi rừng để cùng trẫm mưu lo việc nước, từ Mường Thôi, Bồ Đằng, Chí Linh, Khả Lam, thì hoặc con hoặc cháu đều được miễn dịch quân dân. Nếu đã làm quan thì không thuộc lệ này. Con cháu anh em nào không thuận đạo mà quên nghĩa, cầu an hàng giặc thì không được nhận. Ai làm trái thì xử biếm hay bãi"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb Khoa học xã hội, H.1967, tr.36, 66).

        Kế nghiệp Thái Tổ, vua Lê Thái Tông hằng năm vẫn ra lệnh tuyển quân. Năm 1434, nhà vua sai Tư đồ Lê Sát, Tư khấu Lê Ngân, Tư mã Lê Liệt và Lê Bôi tuyển lựa đinh tráng các đạo. Các danh sắc như viên tử là con các quan văn võ, từ lục phẩm trở lên, các giám sinh Quốc Tử Giám, các sắc dịch, các công nô và tư nô có thích chữ ở trán do nhà vua ban, đều được ở diện miễn lính. Nếu là quân Ngự Tiền Võ Đội và quân Thiết Đột mà có từ một đến ba con trai thì một được miễn binh dịch, đối với các gia đình quân, dân thường có từ ba con trở lên cũng chỉ được miễn một người, còn đều phải chịu nghĩa vụ binh dịch. Trước khi đại tập quân đội, nhà vua thường ra lệnh tuyển dân đinh bổ sung quân ngũ. Vua Lê Nhân Tông cũng rất coi trọng sổ hộ tịch và tuyển quân. Mùa Xuân năm 1444, nhà vua cho tuyển đinh tráng bổ sung vào quân ngũ. Tử năm 1449, ấm trạch cho con cháu các quan được mở rộng cả trong chế độ nghĩa vụ binh dịch. Lệ cũ, quan từ lục phẩm thì con được miễn; đến đây cả cháu nội quan lục phẩm, con trai quan thất, bát phẩm đều được miễn binh dịch; các hoạn quan được phép chọn một người thân thích miễn lính.

        Từ năm 1470, trên cơ sở chế độ hộ tịch "tiểu điển" và "đại điển", Lê Thánh Tông định lệ tuyển nhân đinh làm lính. Nhà có ba người thì một bổ sung vào hạng lính (quân thường trực); một người cho vào hạng quân quan dự bị). Lúc thường có tên trong Sổ quân, ở nhà sản xuất, khi cần nhà nước chiếu sổ gọi ra làm lính. Còn một người thuộc hạng dân, được miễn binh dịch. Nhà có 5 - 8 đinh trỏ lên thì 2 người bổ vào hạng lính, 1 bổ vào hạng quân, còn lại là hạng dân. Con cháu các quan hàm thất, bát phẩm thì tuyển lính như bách tính; đối với các quan khác thì trừ số học nhiêu, còn tuyển sung quân Tuấn sĩ vệ Cẩm Y hay quân Vũ Lâm.

        Từ năm 1477, con cháu của người tước Công, Hầu, Bá; con trưởng các quan văn võ, ai chăm học thì sung vào Sùng Văn quán, ai thích võ nghệ thì cho học ở vệ Cẩm Y để thi làm võ úy. Tháng 3 năm 1486, nhân một kỳ tuyển quân, vua Lê Thánh Tông ban hành Điều lệ Hồng Đức quân vụ, gồm 27 điều, trong đó có ba điều bổ sung cho lệ tuyển binh năm 1470. Theo các điều lệ này thì đối tượng tuyển lính thời Lê Sơ chủ yếu là nông dân, địa chủ trong các dịa phương, những thợ thủ công và thương nhân, con cái quân nhân và quan lại không biết chữ. Những người được miễn tuyển là con cháu các quan lại đương chức từ lục phẩm trở lên, hoặc bản thân người đó là quan viên, chức dịch, học sinh Quốc Tử Giám, một số quan nô và tư nô do vua ban hoặc con cháu nhà cô độc (nhà chỉ có một con trai). Sách Toàn thư có ghi một trường hợp đặc biệt dưới thời Lê Sơ miễn tuyển lính cho bản thân và con cái của những người giàu có nhiều thóc dâng nộp cho nhà nước. Đó là trường hợp tháng 8 năm 1460, sau khi phế truất Nghi Dân, triều đình cần có một số lớn lương thực, đã cho phép người giàu tình nguyện dâng nộp thóc để có quan tước và được miễn tuyển lính. Người nộp 70 hộc được thưởng 1 tư và miễn tuyển; nộp từ 100 - 200 hộc thì được làm quan tòng bát phẩm đến chánh nhất phẩm, nhàn tản, con cái họ cũng được miễn tuyển lính1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd, tr.176).

        Thời Lê Thánh Tông, các quy chế, luật lệ về tuyển lính được bổ sung hoàn chỉnh. Do nhu cầu phát triển của nhà - nước quân chủ chuyên chế, nhu cầu quốc phòng và nâng cao chất lượng quân đội, những quy định về tuyển chọn và miễn trừ chặt chẽ hơn các đời trước. Nhà nước mở rộng diện miễn tuyển, nhất là đối với diện nho sinh giỏi. Bản thân vua Lê Thánh Tông vốn tài giỏi, yêu thích văn chương, muốn thu hút được nhiều nhân tài và những người đỗ đạt trong các địa phương; cho nên trong 7 loại nhân đinh được phân hạng thì các quan viên và các học nhiêu chưa phải là đối tượng tuyển quân. Không kể hạng lão nhiêu và những người tàn tật, trong số những đinh tráng từ 18 tuổi đã được ghi trong sổ, trước hết nhà nước tuyển những đinh tráng khoẻ mạnh nhất làm lính, số còn lại cho thuộc hạng quân đã được ghi tên vào sổ, bình thường vẫn là nông dân, lúc cần huy động thì chiếu sổ mà gọi. Khi điều kiện kinh tế và xã hội cho phép, nhà vua còn mở rộng diện miễn tuyển cả đối với nông dân - tầng lớp đông đảo và đóng góp nhiều nhất trong sự nghiệp giữ nước; đó là một số trường hợp đối với cha con, anh em trong một gia đình hoặc các nho sinh nghèo phải đi làm thuê làm mướn được các đô ti ở thừa tuyên công nhận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:26:08 am »


        Phan Huy Chú viết về chế độ lập Sổ quân và tuyển lính đời Hồng Đức như sau: "Hạng lính thì kê riêng. Những người phiêu lưu trốn biệt thì bỏ ra ngoài sổ. Trưởng thành đến 18 tuổi thì vào sổ. Trước hết tuyển những cường tráng làm lính, rồi đến dân tráng sung vào hạng quân, ở nhà làm ruộng, khi nào thải người già yếu thì chiếu sổ theo thứ tự lấy bổ sung vào. Cứ mở sổ mà lấy binh, không cần đòi bắt mà có đủ ngay... Phép tuyển binh đời Hồng Đức rất rõ ràng chu đáo. Bấy giờ dân đinh không ai sót tên trong sổ mà số binh thường có nhiều, là vì kén lựa được đúng số. Ba năm một lần xét lại, tưởng như phiền phức, nhưng quy chế đã nhất định, dân cũng yên lòng"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Sđd, tr.17). Chế độ binh dịch thời kỳ này đã minh bạch, hợp lý và công bằng nên Phan Huy Chú mới có nhận xét như vậy.

        Đối với Cấm binh, lính thị vệ bảo vệ trong cấm thành, Nhà nước Lê Sơ có chế độ tuyển chọn riêng, với những tiêu chuẩn cao hơn; ngoài sức vóc còn chú ý về phẩm chất, lòng trung thành của họ. Thường đó là lớp con em trong những gia đình giàu có, là những người đã trải qua rèn luyện, trưởng thành trong quân ngũ, là con em của các võ quan, của Cấm quân, con cháu các công thần, quan lại cao cấp được hưởng quyền tập ấm. Tóm lại, đó là những người có quyền lợi gắn liền với giai cấp thững trị, hàng ngũ quý tộc phong kiến.

        Ngoài các nguồn cung cấp binh lính kể trên, Nhà nước Đại Việt còn sử dụng một nguồn nhân lực khác làm binh, đó là những kẻ phạm tội. Tuy nhiên số đó được biên chế trong những đơn vị không quan trọng của quân đội, có thể là lính lao dịch hay sản xuất, có khi là những đơn vị đóng ở những vùng đất phía Nam mới khai phá. Năm 1474, Lê Thánh Tông ra sắc chỉ rằng: "Đối với các tù bị tội lưu, người lưu châu gần thì sung quân ở vệ Thăng Hoa, lưu châu ngoài thì sung ở vệ Tư Nghĩa, lưu châu xa thì sung ở vệ Hoài Nhân. Kẻ được tha tội chết thì lưu ở vệ Hoài Nhân"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd, tr.252. 253, 264, 279). Cũng trong năm đó, nhà vua lại ra sắc chỉ: "Lại viên các nha môn tự tiện về nhà thì đồ khao đinh, sung quân"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd, tr.252. 253, 264, 279). Năm 1479, vua ra lệnh: "Các quan viên lười biếng, bỉ ổi, đê tiện, yếu hèn, nếu là con cháu công thần thì bãi chức cho về hạng dân, nếu là con cháu thường dân thì bãi chức, sung quân"3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd, tr.252. 253, 264, 279). Để buộc các nho sinh, sinh đồ phải luôn chăm chỉ học tập, cố lập thân bằng con đường khoa cử, nhà nước quy định rằng: “Học sinh tam xá (Thượng xá, Trung xá và Hạ xá) mà ở tản mát thì quan phụ trách trừng trị phạm lỗi, phạm nhiều lần thì tâu lên để sung quân”. Đến năm 1483 lại có sắc chỉ: "sinh đồ từng thi Hương mà không trúng kỳ nào thì phải sung quân; trúng một lần thì về làm dân chịu phú dịch như lệ. Sinh viên Tăng quan đường mà thi Hội không trúng thì sung quân..."4 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd, tr.252. 253, 264, 279). Chỉ riêng những tướng hiệu phạm tội thì sung vào Ngự Tiền võ đội được ở trong thành Thăng Long, còn lại phải sung vào những đạo quân ở xa hay binh lính lao dịch. Trong các chương Vệ cấm, Vi chế, Quân chính, Hộ hôn, Điền sản, Đạo tặc, v.v... của Quốc triều hình luật có nhiều điều quy định những ai phạm tội nhẹ thì xử đồ làm "Tượng phường binh" hay "Chủng điền binh" tức làm lính nuôi voi hay binh lính sản xuất. Đó là những hình phạt đặc biệt hay những hình thức tuyển lính độc đáo thời Lê Sơ. Phải chăng thời đó việc tổ chức, quản lý và giáo dục trong quân đội đã chặt chẽ, đủ mạnh để có thể cải tạo những kẻ lỗi lầm, phạm pháp "cải tà quy chính", hay bấy giờ trong quân đội có một tổ chức như nhà tù hoặc một hình thức tương tự để giam giữ tội nhân?

        Nhà nước quy định những luật lệ nghiêm cấm hoặc trừng phạt tội ẩn giấu, bán thả quân nhân. Điều thứ 8 trong Mười điều quân luật buổi đầu thời Lê Sơ có quy định: Tướng hiệu nào bán thả quân nhân thì bị tội chém1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd, tr.37). Năm 1426, Lê Thái Tổ hạ lệnh cho các quan phủ, huyện, lộ tiến hành điều tra và tịch thu sung công ruộng đất của lính trốn. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra chỉ dụ cho các quan trấn thủ và phó tổng binh các vệ ở Yên Bang, Lạng Sơn, Tuyên Quang rằng: "Các ngươi coi giữ chức vụ chống giừ biên cương, nên phòng bị những sự không ngờ để ngăn chặn giặc ngoài cần phải bảo các tướng hiệu, răn dạy quân nhân không được quen thói cũ trốn về bỏ phế chức vụ2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập lll, Sđd, tr.215). Điều 23 của Luật Quân chính thời Hồng Đức ghi rằng: “Những quân lính tại ngũ mà bỏ trốn thì bị tội đồ làm Tượng phường binh; tái phạm thì xử tội lưu; người chứa lính trốn thì bị xử tội đồ làm khao đinh; quan xã dung túng mà không bắt thì tội nhẹ hơn người lính trốn một bậc; quan lộ, quan huyện không biết thì phải biếm hay cách chức. Nếu người lính ra tự thú tội thì được giảm tội và phải nộp số tiền khoá dịch sung công ấy"1 (Quốc triều hình luật, bản dịch, Sđd, tr.107). Chính nhờ những chế độ nghiêm ngặt như trên, Nhà nước Lê Sơ đã có một đội quân thường trực hùng mạnh, đã bảo vệ được hoà bình trong một thời kỳ dài lâu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:26:41 am »


        Thời Lê Sơ thực hiện chính sách Ngụ binh ư nông mở rộng hơn thời Lý, Trần. Chế độ luân phiên được thực hiện đến cả Cấm quân - tức loại quân đóng ở kinh thành mà dưới các thời Lý, Trần đều phải thường xuyên túc trực tại ngũ. Đời Lê Thái Tổ, từ quân Ngự Tiền đến quân các đạo, phủ và trấn đều được chia phiên. Đời Lê Nhân Tông, cả quân Ngự Tiền Võ Đội cũng được chia phiên. Đặc biệt đến đời Lê Thánh Tông mở rộng diện chia phiên cho tất cả các loại quân. Đời Lê Thái Tổ quân lính chia thành 5 phiên, 1 phiên tại ngũ, còn 4 phiên trở về sản xuất. Đời Lê Nhân Tông, quân Ngự Tiền Võ Đội chia làm 3 phiên, 1 phiên ở lại canh phòng và luyện tập, còn lại về sản xuất. Đời Lê Thánh Tông, ngoại binh vào ngày rằm hằng tháng lên điểm mục để canh phòng và luyện tập; quân ở các sảnh, viện, cục và lính thợ đến ngày mùa đều được chia làm hai, một nửa túc trực làm việc, còn một nửa cho về thu hoạch, cấy cày.

        Do chính sách chia phiên trên đây nên số quân thường trực thời Lê Sơ khoảng từ 10 - 16 vạn, tuỳ theo từng giai đoạn khác nhau. Ngoài số đó, lực lượng dự bị rất hùng hậu, cho phép nhà nước nhanh chóng huy động được một lực lượng quân đội lớn mạnh lúc cần thiết. Theo sách Toàn thư, năm 1446, Lê Thánh Tông huy động được 60 vạn quân (?) đặt dưới quyền chỉ huy của hai đô đốc Lê Thụ và Lê Khả cùng thiếu phó Lê Khắc Phục đi đánh Chiêm Thành, vì bấy giờ vua Chiêm là Bí Cai đã hai lần đem quân xâm phạm biên giới. Năm 1470, nhà vua đã huy động được 26 vạn quân đi hỏi tội vua Chiêm Trà Toàn đã đánh châu Hoá. Tháng 8 năm 1479, lấy lý do Ai Lao và Bồn Man câu kết chống Đại Việt, Lê Thánh Tông đã điều động 18 vạn quân và cử phò mã Đô úy Trịnh Công Lộ làm Chinh di tướng quân, Đô đốc đồng tri Lê Vĩnh làm phó tướng theo 5 đường tiến đánh. Tháng 12 năm ấy, nhà vua lại sai Kỳ quận công Lê Niệm chỉ huy 30 vạn quân đánh Bồn Man... Những sự kiện trên chứng tỏ tiềm lực quân sự cũng như khả năng huy động quân đội của triều chính Lê Thánh Tông vào những thời điểm đất nước có chiến tranh là rất lớn.

        Như vậy, vấn đề tuyển mộ và động viên quân đội là một nội dung quan trọng của Binh chế Đại Việt, một vấn đề được các vương triều phong kiến nước ta từ thời Lý đến Lê Sơ hết sức coi trọng. Chế độ quản lý nhân đinh có ý nghĩa trên nhiều lĩnh vực: chính trị - an ninh xã hội, kinh tế và quân sự. Trên cơ sở làm hộ tịch, phân hạng nhân đinh, lập sổ vàng nam và Sổ quân, chính quyền nhà nước có điều kiện thuận lợi để điều động nhân lực, tuyển chọn và động viên quân đội. Những quy chế về chế độ tuyển mộ và động viên binh lính trong thời bình cũng như lúc chiến tranh của các triều đại trên nói chung là tươm tất, rõ ràng, bảo đảm tận dụng được nhân đinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ binh dịch. Khi chính quyền nhà nước càng hoàn thiện, chế độ quân chủ chuyên chế càng chặt chẽ và chính quy. Tất nhiên đó là những chính sách, những quy định của nhà nước quân chủ chuyên chế, trước hết phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị, bảo vệ vương quyền; những chính sách ấy cũng chứa đựng những hạn chế về điều kiện lịch sử - xã hội... Nhưng khi nhà nước hoặc giai cấp cầm quyền còn đóng vai trò tích cực thì các chính sách nói trên còn chứa đựng những nội dung tiến bộ, hợp với lòng người, với nhu cầu và lợi ích dân tộc. Những quy định ngày một hoàn thiện trên lĩnh vực này vừa bảo đảm cho nước Đại Việt có quân đội đủ mạnh, có số lượng quân thường trực hợp lý, có nguồn nhân lực dự trữ dồi dào và khả năng nhanh chóng huy động đông đảo quân đội khi cần thiết, vừa bảo đảm sự công bằng, yên lòng dân, ổn định xã hội. Có thể coi đây là một phép hay của Binh chế trong giai đoạn lịch sử trung đại nước ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:27:13 am »

        2. Chế độ tuyển dụng võ quan, tướng lĩnh

        2.1. Quan điểm và tiêu chuẩn tuyển dụng

        Những nhà chủ trì quốc gia Đại Việt thường xuyên coi trọng vai trò của người tướng. Binh thư yếu lược viết: "Nước lấy binh làm gốc, binh lấy tướng làm gốc, quân lấy tướng làm chủ” và "cái đạo mạnh binh để chiến thắng cốt yếu có 5 điều: 1. Sửa sang binh khí, 2. Có đủ quân lính và xe cộ, 3. Súc tích nhiều, 4. Rèn luyện sĩ tốt. 5. Kén được tướng giỏi"1 (Binh thư yếu lược (Phụ Hổ trướng khu cơ), bản dịch. Nxb Khoa học xã hội, H.1977, tr.31 - 50). Lê Lợi khẳng định đằng: "Được thua quan hệ ở tướng, chứ không phải ở đông với ít". Lê Lợi và Nguyễn Trài viết trong thư gửi tướng Vương Thông rằng: "Tôi nghe, thiên hạ được yên hay phải nguy, sinh dân bị họa hay hưởng phúc, thực do ở việc binh, mà binh quyền giữ lấy hay bỏ, cho hay cướp lấy, quan hệ ở người làm tướng. Cho nên có câu nói rằng: "Tướng là người giữ vận mệnh của quân"2 (Nguyễn Trài toàn tập, Sđd, tr.183). Vua Lê Thái Tông khẳng định trong một bài chế gửi tướng thần có công rằng: "Quyền giữ việc quân là quyền lớn của nước". Lê Thánh Tông cũng nói: "Giữ việc quân quốc là một trách nhiệm quan trọng"3 (Phan Huy Chú, Sđd, Tập I, tr.254), “người tướng ở nơi biên khổn chức trách rất là trọng. Triều đình trông cậy không khác gì cái phên cái dậu bảo vệ trong nước"4 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, bản dịch, Tập XI, Nxb Văn Sử Địa, H.1959, tr.33). Những điều đó chứng tỏ, ông cha ta rất coi trọng việc quân, đánh giá cao vai trò của các võ quan, tướng lĩnh; luôn coi người tướng là trụ cột của nước nhà.

        Tiêu chuẩn quan trọng nhất để chọn tướng của ông cha ta là Đức và Tài. Đức trước hết là lòng nhân nghĩa, là sự trung thành và lòng yêu nước. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh, người tướng phải xứng đáng là một "trung thần nghĩa sĩ', "dĩ thân tuẫn quốc". Lê Lợi - Nguyễn Trài cho rằng: "Đạo làm tướng phải lấy nhân nghĩa làm gốc, trì dũng làm cành", "danh tướng cốt ở trọng nhân nghĩa", "phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu” và phải "vì nước hết trung, tôn vua theo nghĩa"1 (Nguyễn Trãi toàn tập, in lần thứ hai, Nxb Khoa học xã hội, H.1974, tr.143). Lê Thái Tông nói: "Đạo làm tôi cốt yếu hai điều: trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân. Yêu vua phải hết lòng trung, yêu dân phải hết lòng thành mà thôi", "các trang tướng giỏi đối với vua hết đạo làm tôi, vì nước quên nhà"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập III, tr.80). Vua Lê Thánh Tông khen ngợi tướng quân Nguyễn Xí: "Giúp tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá; trong ngoài hết chức phận làm quan văn tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi”3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập I, tr.239). Cùng với Đức là Tài, một yêu cầu không thể thiếu ở người làm tướng. Đặc biệt để chống lại những kẻ thù hùng mạnh và xảo quyệt "đánh như tằm ăn, không cần của dân, không cầu được chóng” thì như Trần Quốc Tuấn nói phải chọn dùng tướng giỏi và quyền biến. Lê Lợi, Nguyễn Trái cho rằng, người tướng phải gồm đủ các phẩm chất: trung thành, nhân nghĩa, tài trí và dũng cảm. Đó là những quan điểm tiến bộ. Tuy nhiên trong điều kiện bấy giờ, quan điểm người tướng vẫn bị hạn chế bởi ý thức hệ phong kiến, bởi tính chất thời đại, đặc biệt vào buổi cuối Trần và Lê Sơ, khi mà Nho giáo được giai cấp phong kiến Đại Việt sử dụng như ý thức hệ của mình. Dẫu sao, trong thời kỳ nhà nước phong kiến đương lên, giai cấp phong kiến còn đóng vai trò tích cực thì những quan điểm của họ cũng gắn liền với lợi ích dân tộc, hợp lòng người.

        Sử liêu không phản ánh các quy chế về tuyển chọn võ quan, tướng lĩnh thời Lý. Nhưng qua hiện tượng vua Lý sử dụng Lê Phụng Hiểu, Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt)... làm tướng và phong đến chức Đô thống Thượng tướng quân hay Phụ quốc thái úy, chứng tỏ thời Lý rất coi trọng tài năng quân sự và những người lập công. Việc chọn các quan giữ chức Thái úy như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Đỗ Anh Vũ, Phùng Tá Chu, v.v... cũng phản ánh điều đó. Theo Toàn thư, năm 1077, sau cuộc chiến tranh chống Tống thắng lợi, Lý Nhân Tông ra lệnh: "Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập I, tr.28). Năm 1160, vua Lý Anh Tông sai Tô Hiến Thành tuyển lính và chọn trong tướng hiệu người nào tinh thông binh pháp và thạo võ nghệ làm tướng2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập I, tr.28).

        Trần Quốc Tuấn trước khi mất đã căn dặn vua Anh Tông về kế sách giừ nước là phải "dùng được người hiền lương", "phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến như đánh cờ, tuỳ thời mà làm, có thu được quân lính như cha con một nhà thì mới dùng được"3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.80. 51). Người tướng mà Trần Quốc Tuấn yêu cầu phải có lòng trung, công minh, chính trực, phải có tấm lòng "phụ tử" với binh sĩ. Quan điểm "bạt dụng lương tướng" của ông đã được triều đình nhà Trần vận dụng trong quá trình xây dựng quân đội đánh giặc giữ nước. Năm 1267, Trần Nhân Tông xuống chiếu, chọn trong tông thất những người giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp để chỉ huy các đô, các quân. Năm 1283, vua Nhân Tông ra lệnh chọn trong quân hiệu những người có tài để chia lãnh các bộ ngũ4 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.80. 51).

        Sau khi sự nghiệp giải phóng đất nước thành công, Lê Thái Tổ (Lê Lợi) ban chiếu cầu hiền, cho tìm kiếm những người có tài văn võ, có thể trị dân coi dân, để trao chức vụ. Trong bài chiếu gửi tướng thần có công, nhà vua viết: “Sáng nghiệp là khó...; giữ cơ nghiệp sẵn có không phải dễ, cho nên phải tìm người hiền tài để bảo người saư”1 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.260.). Lê Thái Tông cũng đã hạ lệnh cho các quan văn võ phải vì nước mà tiến cử người tài. Đến đời vua Thánh Tông, khi nhà nước bước vào thời kỳ thịnh trị, vấn đề bổ dụng nhân tài để coi quân, trị dân càng được coi trọng. Trong một tờ chiếu gửi quan Tổng binh có nói: "Chức quan Tổng binh nhận ký thác trong một địa phương, không nên ủy nhiệm người không tốt. Các quan khoa đài nên tuyển vệ quan các nha môn, người nào đượm lược, hình thức, tư cách, tài cán, liêm khiết và siêng năng thì bổ chức ấy. Ai giám tư tình bảo cử bậy người bỉ ổi, hèn kém, tham ô, lười nhác thì trị tội"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập III, tr.290). Nhà sử học Vũ Quỳnh đã ca ngợi triều Lê Sơ: “Người hiền tài có được nhiều hơn cả đời xưa"3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập III, tr.290). Như vậy, các triều đại phong kiến Đại Việt mà người đại diện là nhà vua đã thường xuyên quan tâm và ban chiếu lệnh tuyển chọn những người tài đức để sung vào đội ngũ võ quan, tướng lĩnh chỉ huy quân đội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:28:32 am »


        2.2. Đối tượng tuyển chọn

        Đối tượng tuyển chọn võ quan trước hết là những người thuộc tầng lớp quý tộc tông thất, từ lớp người có quyền lợi gắn liền với dòng họ thống trị. Thời Lý - Trần, người có quan tước con cháu được thừa ấm mới được vào làm quan. Các vương hầu quý tộc thời Trần có phủ đệ và quân đội riêng, khi có chiến tranh được làm tướng, chỉ huy quân của mình và quân các lộ phụ cận giúp vua đánh giặc, tăng thêm thế mạnh giữ nước. Cùng với chế độ phong vương hầu và cấp phủ đệ, nhà vua còn chú trọng tuyển những người trong hoàng tộc để coi giữ binh quyền. Chức Tể tưởng chỉ chọn những người trong gióng tông thất thông hiểu thi thư, binh pháp. Chức Phiêu kỵ tướng quân chỉ phong cho các hoàng tử hoặc Thiên tử nghĩa đệ. Năm 1267, triều đình Trần định quân ngũ, chọn người trong tông thất giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp để trông coi bộ ngũ. Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công tiết chế, Trần Khánh Dư giữ chức Phiêu kỵ đại tướng quân và làm phó tướng cho Quốc Tuấn; Trần Quốc Khang làm Phiêu ky thượng tướng quân. Nhiều thân vương thuộc gióng tông thất được làm Thái úy (Trần Liễu, Trần Nhật Hao), trong đó Thái úy Trần Quang Khải làm Tướng quốc coi việc cả nước. Hồ Quý Ly khi lên ngôi đã ra lệnh chọn những người trong gióng họ cho làm tướng coi quân. Các tướng Hồ Đỗ, Hồ Vấn, Hồ Xạ, Hồ Cương, v.v... đều là những võ quan cao cấp trong triều.

        Ngoài đối tượng chính là vương hầu tông thất, Nhà nước Đại Việt còn chú trọng sung vào hàng ngũ quý tộc võ quan những tài năng thuộc gióng họ khác. Đó là trường hợp Lê Phụng Hiểu, Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt), Tô Hiến Thành thời Lý; Lê Tần, Nguyễn Khoái, v.v... thời Trần; Nguyễn Đa Phương, Phạm Nguyên Khôi, Đỗ Mãn thời Hồ, v.v... Đầu đời Lê, những người trong tông thất cũng như những tướng lĩnh có công trong kháng chiến đều được trao quyền tướng quân, giữ các chức vụ quan trọng như Thái úy, Thiếu úy, Đại tư mã, Thượng tướng, Đại tướng, v.v... Vua Trần đã có lệnh: "Chọn trong các quan viên, người nào có tài năng luyện tập võ nghệ, tinh thông thao lược thì không kể tông thất đều cho làm tướng coi quân".

        Trong một chừng mực nhất định, các triều đại phong kiến Đại Việt còn tuyển cả những người có đức độ, tài năng thuộc các tầng lớp bình dân cho làm quan võ. Phạm Ngũ Lão vốn là một gia thần của Trần Quốc Tuấn, do tài năng của mình mà được cử làm tướng, phong đến chức Thân vệ đại tướng quân dưới đời vua Trần Anh Tông. Thời Lê Sơ, các đời vua như Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông đã chú ý chiêu mộ những người hiền tài cho giữ các chức vụ cai quản quân và dân, không câu nệ đường xuất thân. Trong tờ chiếu cầu hiền tài, Lê Thái Tổ nói: "Bất kể ai, là người hiền hoặc ở triều đình, hoặc ở nơi thôn giã, là người tài bị khuất trong hàng ngũ quan nhỏ, là người hào kiệt náu mình nơi đồng nội, lẫn ở hàng binh lính đều được trọng dụng và trao chức quyền xứng đáng"1 (Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr. 194). Tất nhiên, dù xuất thân từ hàng ngũ khác, dẫu là nho sĩ, quan lại khác họ hay tầng lớp bình dân, một khi đã gia nhập đội ngũ tướng lĩnh của các triều đại, họ đều được phong chức tước, ban cấp bổng, lộc và trở thành quan lại phong kiến, phục vụ cho lợi ích của vương triều thống trị. Chính vì thế, vấn đề chọn dùng võ quan tướng lĩnh trong các triều đại luôn luôn bị chi phối bởi hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến, bởi ý thức về quyền lợi của giòng họ thống trị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:29:14 am »


        2.3. Các phương thức tuyển chọn

        Về phương thức tuyển dụng võ quan tướng lĩnh, ngoài biện pháp nhiệm tử, tức triều đình - mà đứng đầu là vua bổ nhiệm những nhân tài thuộc hàng ngũ quý tộc tông thất, những người thể hiện tài năng và có công trong thực tế như đã nói ở trên, các triều đại phong kiến còn sử dụng những biện pháp sau:

        a- Tiến cử và bảo cử

        Để khỏi bỏ sót nhân tài, các triều đại phong kiến Đại Việt đã vận dụng hình thức tiến cử và bảo cử. Tiến cử là hình thức giới thiệu những người có tài, có đức nổi tiếng để quan xem xét, xin vua bổ dụng làm quan. Hình thức tiến cử được thực hiện phổ biến từ đời Lý, Trần và đầu Lê. Những người tài có thể do người khác tiến cử, có thể tự mình tiến cử. Phạm Ngũ Lão là một gia thần, được Trần Quốc Tuấn phát hiện và bồi dưỡng thành tài, rồi tiến cử với triều đình, về sau trở thành Thân vệ đại tướng kiêm Điện tiền chỉ huy sứ quản Cấm quân.

        Lê Lợi chủ trương “vời đón hiền giả, thu dụng nhân tài, nhún lời hậu lễ để thu hào kiệt" nên đã kén chọn được nhiều tướng giỏi từ bốn phương. Sau giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ nhà Minh, Lê Thái Tổ đã nhiều lần hạ lệnh cho các quan văn võ phải vì nước mà tiến cử người hiền tài. Chiếu của vua nói rõ rằng: "Ta nghĩ việc thịnh trị tất do dùng được người hiền; muốn có người hiền phải có người tiến cử; cho nên người làm vua thiên hạ tất phải lấy việc ấy làm công việc trước nhất... Vậy ta hạ lệnh cho đại thần văn võ, công hầu, đại phu, từ tam phẩm trở lên mỗi người tiến cử một người, hoặc ở triều đình hoặc ở thôn quê, hoặc đã làm quan, hoặc chưa làm quan, nếu có tài văn võ trí thức, có thể cai trị quân dân, ta sẽ tuỳ tài bổ dụng1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập III, tr.80). Giai đoạn đầu Lê Sơ, việc tiến cử và tự tiến cử rất được coi trọng. Lê Lợi đã thể hiện tinh thần thiện chí, không hẹp hòi của mình trong các bài chiếu cầu hiền. Bấy giờ, ai tiến cử được người tài đức thực sự đều được thưởng công. Lê Thái Tông, khi vừa lên ngôi (1434) đã đề cập đến việc tiến cử: "Mới rồi cần người hiền tài để giúp việc trị nước, có lệnh cho mọi người tiến cử người mình biết, nay đã lâu rồi mà chưa có ai theo lệnh tiến cử một người nào để đáp lại lòng trẫm là cớ làm sao?”2 (Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr.133). Tiếp đó, nhà vua đã ra lệnh tìm kiếm để tiến cử những người tài đức đang nương náu, ẩn dật ở nơi rừng núi hoặc thôn quê. Nhờ thế, một số nhân tài hoặc văn hoặc võ đã được bổ dụng làm quan.

        Từ thời Lê Thánh Tông, phương thức tiến cử đã chuyển thành bảo cử. Bảo cử cũng là tiến cử nhưng do tập thể tiến hành. Người có tài mà quan trên biết tiếng thì được đề cử lên Bộ Lại; Bộ Lại xem xét và tâu xin vua bổ dụng. Năm Hồng Đức thứ 5 (1484), nhà vua lệnh cho các nha môn trong ngoài, nếu có chức nào khuyết thì có thể tìm người tài cán, học thức, thanh liêm, làm việc giỏi, đề nghị bổ vào chức đó. Vua nói: "Trong triều đình nếu quân tử được tiến dụng là gốc rễ tiến lên đời thịnh trị; nếu tiểu nhân được tiến dụng là đường ngõ bước vào đời loạn lạc; trẫm cùng các khanh phải khuyến miễn lẫn nhau, dùng người quân tử, bỏ bọn tiểu nhân, việc này phải ngày đêm khuyến miễn nhau luôn luôn, để mong đưa nước nhà đến đời thịnh trị"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, Chính biên, bản dịch, Tập I, Nxb Văn Sửa, H.1959, tr.71). Đã nhiều lần vua ra sắc chỉ xác nhận lệ bảo cử để áp dụng cho các quan văn võ ở các huyện, thừa ti và quan tổng binh. Tuy nhiên, vấn đề bảo cử cũng rất nghiêm khắc, "Ai dám thiên tư cử bậy phải người hèn kém, tham, lười, sẽ bị trị tội"2 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.96).

        Tiến cử và bảo cử cốt để cung cấp thêm nhân tài sung vào guồng máy cai trị hoặc khi mà lệ thi cử chưa đảm nhận cung cấp đủ nhân tài giúp nước. Lệ tiến cử, bảo cử giúp cho một số người tài năng, vì lý do nào đó không ứng thí được, có thể ra thi thố ở đời. Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "Cử người làm quan có hai lối: một là tiến cử thì lấy người tài đức hơn hẳn mà không cứ thân phận; hai là bảo cử thì lấy người danh vọng to, mà phải chiếu theo tư cách. Hai lối ấy giống nhau mà thể thức hơi khác. Lệ bảo cử mới đặt từ đời Hồng Đức. Bấy giờ việc ấy làm thận trọng, trừng phạt lại rất nghiêm, cho nên không ai giám bảo củ thiên tư, các chức đều xứng đáng, rốt cuộc thu được hiệu quả là chọn được nhiều người hiền tài cho nước"3 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.96). Hình thức tiến cử và bảo cử nói trên được vận dụng để tuyển dụng quan lại, trong đó có cả những tài năng trên lĩnh vực quân sự.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:29:42 am »


        b- Chế độ thi cử và khảo xét võ quan

        Thời Lý, năm 1075, triều đình mở khoa thi đầu tiên tuyển chọn nhân tài đất nước. Chế độ khoa trường thời đó còn hạn chế, chủ yếu là chọn văn quan. Tuy vậy, một số nhân vật đỗ đạt cao cũng được cử tham gia bộ máy quan lại quản lý việc binh; trường hợp Lê Văn Thịnh làm Binh bộ thị lang là một ví dụ. Tháng 12 năm 1162, triều đình khảo xét các quan văn võ, và lấy đó làm phép thường, cứ 9 năm một kỳ khảo xét. Chế độ khoa cử phát triển qua thời Trần và Hồ, nhưng sử liệu không phản ánh hình thức thi chọn võ quan. Năm 1246, vua Trần Thái Tông quy định việc khảo xét các quan văn võ: 10 năm gia tước 1 cấp, 15 năm gia chức 1 bậc. Hình thức quan trọng, chủ yếu trong phương thức tuyển dụng võ quan thời Lê Sơ là thi cử và khảo xét. Đầu thời Lê, phần lớn võ quan là những người trưởng thành và có công trong chiến tranh. Sau giải phóng, để đáp ứng với yêu cầu mới khi đất nước hoà bình phát triển, vua Lê Thái Tổ tiến hành khảo xét quan lại, thải bớt những người thiếu năng lực, bổ sung nhiều tướng trẻ, tài ba. Năm 1428, đợt đầu khảo xét, chia thành 4 bậc, bậc nhất là các quan viên văn võ có tài cán, làm việc giỏi. Năm sau, vua lại truyền lệnh các quan ôn luyện để chuẩn bị cho kỳ thi Minh Kinh. Trong đó, quan văn thi kinh sử; quan võ thi kinh, pháp lệnh và kỳ thư.

        Dưới đời Lê Thái Tông, việc thi cử và khảo xét quan lại chặt chẽ hơn. Chiếu vua nói rằng: "Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học; phép chọn người có học thì thi cử là đầu”. Nhà vua ra quy chế rằng, phép sát hạch các quan văn võ đều phải do Tổng quản nơi mình trực thuộc đứng ra sát hạch. Các tướng hiệu và võ quan ở đạo do Tổng quản bản đạo khảo xét. Kết quả chia làm ba bậc: bậc nhất thưởng tước 1 tư và 5 quan tiền; bậc hai thưởng tước 1 tư và 2 quan tiền; bậc ba được thưởng 1 tư. Từ năm 1437, việc khảo xét võ quan được tách riêng đi sâu vào chuyên môn võ nghệ. Mỗi quan phải thi ba môn quân sự: bắn cung, phóng lao, sử dụng áo giáp và lá chắn. Người trúng cách (trúng cả ba môn) thì cấp toàn bổng nếu không trúng thì lượng bổng giảm dần xuống. Quy định này trở thành quân lệnh.

        Đến đời Lê Thánh Tông, hệ thống võ quan qua thời gian được đào thải, chọn lọc, chất lượng ngày càng cao. Các đợt khảo hạch nghiêm túc mà nhẹ nhàng dưới hình thức đô thí. Nhà nước quy định cứ 3 năm mở 1 kỳ thi bắt buộc cho võ quan tướng lĩnh. Mỗi người bắn 5 mũi tên, phóng 5 phát lao và đấu khiên một đường. Kết quả chia thành 5 cấp làm tiêu chuẩn để thăng giáng võ quan. Năm 1486, nhà vua ban sắc chỉ về bổ nhiệm quan chỉ huy các ti. Theo sắc này, Bộ Lại cùng các quan ở vệ được quyền lập hội đồng, xét chọn những ai trúng trường, thân thể cường tráng, được bổ nhiệm túc trực làm việc ở các ti, vệ. Năm 1488, định rõ phép khảo xét công trạng các quan: 3 năm sơ khảo, 6 năm tái khảo, 9 năm thông khảo; nếu ai có tài năng đặc sắc khác thường sẽ có lệnh chỉ nhà vua đặc cách cân nhắc, không tính niên hạn. Đồng thời ra sắc chỉ cho các trưởng quan các nha môn ở Ngũ phủ và các vệ kén chọn tướng hiệu thuộc quyền mình cai quản, người nào có quân công, am tường lão luyện võ nghệ và tài năng kiến thức, thanh liêm, mẫn cán thì để giữ chức cũ; còn kẻ bỉ ổi, tham nhũng, làm việc một cách cầu may thì tâu lên để bãi chức. Thời Lê Sơ, khoa trường đã trở thành điển lệ trọng đại trong quan chế. "Trong nước không bỏ sót nhân tài, triều đình không dùng lầm người kém".

        Nghiên cứu hệ thống quan chức, thực tế cho thấy con đường tiến thân của những nho sinh thông kinh sử có phần dễ dàng hơn. Họ đem tài ra thi thố ở các kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình để gia nhập vào hàng ngũ quan lại. Những võ quan muốn vinh thân bằng con đường binh nghiệp lại gặp nhiều trắc trở. Ở nước ta, theo sử sách thì thi văn quan, thi kinh sử có trước các thời kỳ võ quan, võ nghệ. Phần lớn võ quan xuất thân và trưởng thành qua chiến trận, hoặc do tài năng của mình được nhiệm cử hay tiến cử. Tuy nhiên, việc thi cử, khảo hạch để tuyển dụng võ quan đã được tiến hành từng bước và một ngày hoàn thiện hơn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:30:09 am »


        c. Chế độ tập ấm

        Hình thức tập ấm thực chất là lối trả công cho các công thần, các quý tộc hoặc còn sống hoặc đã mất, là một phương thức bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị. Những người có công thành lập các triều đại tức là những “khai quốc công thần" hoặc những người lập công lớn trong chiến trận đều được định công trao chức vụ, tạo ra một tầng lớp công thần. Hình thức bổ dụng này đã để lại một hệ quả truyền thống của nó là chế độ tập ấm quan lại.

        Thời Lý - Trần gọi hình thức này là ấm phong hay nhiệm tử. Dưới triều Lý có hiện tượng phong cho cha sinh ra Hoàng hậu làm tướng. Đó là tháng 11 năm 1028, Lý Thái Tổ phong cha Hoàng hậu họ Mai (Mai Hựu) làm An quốc thượng tướng, cha Hoàng hậu họ Đinh ninh Ngô Thượng) làm Thượng quốc thượng tướng. Dĩ nhiên đây là trường hợp đặc biệt, chỉ phong chức tước chứ không cho quyền. Trường hợp này đã bị sử thần Ngô Sĩ Liên kịch liệt phê phán1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Nxb Khoa học xã hội, H.1993, tr.251). Tháng 6 năm 1105, Lý Thường Kiệt chết, Lý Nhân Tông thương tiếc, phong cho mỹ tự, cấp thực ấp một vạn hộ và cho em là Thường Hiến làm tướng, phong tước hầu. Hiện tượng trên có thể hiểu ở thời Trần qua sự kiện vua Trần Thái Tông có ý định phong cho anh ruột của Trần Thủ Độ là An Quốc làm tướng, mặc dầu biết An Quốc không có tài. Tuy nhiên việc này đã bị Trần Thủ Độ gạt đi và nói: "An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, nếu cho thần hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng làm tướng thì trong triều sẽ ra sao"?

        Đầu đời Lê, con em các công thần có công lớn trong kháng chiến đều được bổ dụng, như trường hợp con Lê Lai, Lê Ngân, v. v... Công lao của cha anh được coi như “tờ giấy thông hành" cho con em trở thành quan lại. Có nhiều trường hợp bị hạn chế về tài năng, nhưng cũng có những trường hợp cha giòng con dõi, tiêu biểu là Lê Sư Hồi con Nguyễn Xí; cả hái cha con đều có công lớn, được vua ban quốc tính. Từ Lê Thánh Tông, chế độ tập ấm được phân thành nhiều loại. Đối với người già không có chí tiến thủ thì được phong chức tản quan (có chức tước, bổng lộc mà không có quyền); đối với người ham mê kinh sử thì được sung vào các trường Quốc Tử Giám, Sùng Văn quán để bồi dưỡng học hành; đối với người ham mê võ nghệ thì giao cho các quan chức trong vệ Cẩm Y dạy bảo, hằng ngày phải tới trường đua ở phía Tây kinh thành để học võ nghệ, tập bắn cung, phóng thủ tiễn... Mỗi năm cứ đến tháng Quý đông (tháng Chạp), vệ Cẩm Y phái quan đến khảo xét việc ganh đua võ nghệ của học sính, đến năm thứ 3 đưa sang Bộ Binh khảo thí, ai trúng tuyển thì bổ chức võ úy.

        Ngoài những biện pháp nói trên, dưới triều Trần và Lê Sơ, nhà nước còn cho phép người giàu nếu tình nguyện nộp thóc nuôi quân thì tuỳ theo số thóc để phong quan chức hay cho làm tướng. Trần Quốc Tuấn cho họ làm "Giả lang tướng"; Lê Thánh Tông gọi họ là "Tản quan", giữ chức nhàn tản, không có nhiệm vụ nhất định, bản thân và con cái họ được miễn tuyển lính và lao dịch.

        Nhận xét về ưu điểm của quy chế quan văn quan võ và các triều đại, sử gia Phan Huy Chú viết: “Ở triều Lý, quan đều đáng tài, không có nhũng lạm" và "thời Trần dùng người thật công bằng... việc kén dùng chỉ cần tài là được... chỉ cần người dùng được, chứ không câu nệ đường xuất thân"1 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.98, 99). Nguyễn Trãi nói về triều chính Lê Thái Tông: "Chọn người hiền không cứ loại nào, dùng người tài xem như mình vậy Kén người thì rau phỉ rau phong đều hái, đức tài thì đồ thô đồ méo cũng không quên"2 (Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr. 143). Sử thần Vũ Quỳnh ca ngợi triều Lê Thánh Tông: "Văn võ đều dùng theo sở trường của từng người”3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập III, tr.319); hoặc như Phan Huy Chú nói: "Bấy giờ, các quan đều làm việc giỏi, gọi là đời thịnh trị"4 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.98, 99). Các sử thần triều Lê đã không ngớt lời ca ngợi các tướng lĩnh nhà Trần: “Giao cầm quân thì cùng nhau sống chết, khi đối địch với giặc thì tự mình xông pha lên phía trước quân sĩ, giặc trông thấy phải tránh lui, không kẻ nào địch nổi”5 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.111). Nhìn chung, việc tuyển chọn, bổ dụng, cất nhắc và thăng giáp võ quan trong các triều đại đã có quy chế rõ ràng; vì thế nhà nước đã có một đội ngũ võ quan, tướng lĩnh chỉ huy tài giỏi và trung thành. Đó là kết quả tích cực của chế độ tuyển dụng quan lại các triều đại từ Lý đến Lê Sơ.

        Tuy nhiên, vấn đề tuyển dụng võ quan ở triều đại nào cũng có những mặt hạn chế của nó. Trước hết là do hạn chế về điều kiện lịch sử, các chính thể đang trong quá trình xây dựng, hệ thống quan chế đó chủ yếu bảo vệ lợi ích cho tầng lớp trên, cho giai cấp phong kiến mà đại diện là gióng họ thống trị. Chế độ thi cử ngạch võ quan ra đời chậm và tiến hành không thường xuyên. Cho nên, hậu quả của nó đúng như nhận xét của Phan Huy Chú: "Phép khảo khoá thời Lý - Trần, niên hạn đều chậm lâu. Nhà Lý lấy 9 năm làm 1 khoá, nhà Trần lấy 15 năm 1 lần xét thì chậm trễ quá. Kỳ hạn cấp bách cố nhiên không phải là phép tốt. Nhưng sự thăng quan hay giáng chức để lâu quá thì người hiền tài không khỏi bị chìm lấp, mà kẻ vô tài thường được tạm nương thân, không phải là chính sách khuyến khích người ta đổi mới"1 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.98, 99). Hạn chế này đã được sửa chữa từ đời Hồng Đức, năm 1471, vua Lê Thánh Tông ra lệnh: cấm để chậm niên hạn khảo khoá; định lệ 3 năm 1 lần thăng giáng, giảm thải và bổ sung quan lại. Sự chậm trễ trên cùng với chế độ nhiệm tử hay tập ấm đã đưa đến kết quả là trong hàng ngũ võ quan tướng lĩnh xuất hiện những viên quan chỉ lo hưởng thụ, không đủ tài năng và sinh ra tình trạng tham nhũng, lợi dụng chức quyền, bắt lính sai dịch... làm cho dân tình ta oán, nhà nước buộc phải đề ra những biện pháp triệt trừ tham quan ô lại. Có những thời kỳ do quá chú trọng phát triển võ quan, số lượng quan tướng dư thừa, dẫn đến tình trạng: "quan nhiều thì hại dân", quan thì túng, dân thì nghèo, số vệ sĩ tăng nhiều, lương cấp không đủ”2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.141). Vua Trần Anh Tông ban thưởng quá nhiều quan tước khiến Thượng hoàng Trần Nhân Tông phải kêu lên: "Có một nước nhỏ như bàn tay sao lắm quan thế"1 (Ngô Thì Sĩ, Việt sử tiêu án, Sđd, tr.230). Điều đó buộc triều đình phải ra lệnh giảm bớt số tướng hiệu ở các vệ quân để đỡ phí hại lương lộc, đỡ phần chi phí cho nhà nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 04:31:11 am »


        II QUẢN LÝ, CHỈ HUY QUÂN ĐỘI

        Trong Binh chế, quản lý, chỉ huy là một vấn đề quan trọng được các triều đại hết sức quan tâm. Hoàng đế luôn luôn đóng vai trò trung tâm của mọi hoạt động đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, là thủ lĩnh quân sự tối cao có quyền quyết định về mặt tổ chức, điều động và chỉ huy quân đội. Tuy nhiên, chính quyền trung ương luôn luôn có một số cơ quan hành chính quân sự và một đội ngũ võ quan, tướng lĩnh các cấp được tổ chức tuyển lựa, đào luyện cẩn thận để giúp Hoàng đế quản lý, điều hành quân đội - công cụ bạo lực chinh yếu bảo vệ vương quyền, bảo vệ đất nước.

        Dưới đây là một số nét về hệ thống quản lý, chỉ huy quân đội và những quy định của Nhà nước Đại Việt trên lĩnh vực này.

        1. Các cơ quan hành chính quân sự

        1.1. Thượng thư sảnh và Khu mật viện

        Trong cơ cấu Binh chế Đại Việt, Cấm quân là lực lượng quan trọng nhất. Về mặt tổ chức hành chính, cơ quan nào quản lý Cấm quân? Sách Toàn thư chép: "Theo lệ cũ, Cấm quân thuộc Thượng thư sảnh, đến nay (1342) đặt Khu mật viện để quản lãnh". Cũng với ý nghĩa đó, trong Quan chức chí, Phan Huy Chú viết: "Dụ Tông, năm Thiệu Phong thứ 2 (1342), sai Khu mật viện quản lĩnh Cấm quân. Phép cũ Cấm quân thuộc về Thượng thư sảnh. Đến đây đặt quan Khu mật viện để coi Cấm quân"1 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.Cool.

         Tổ chức chính quyền và quan chế triều Tiền Lê có phần mô phỏng theo chế độ nhà Tống, nhưng không thấy sử sách nói đến Thượng thư sảnh. Từ đời vua Lý Thần Tông, năm Thiên Thuận thứ nhất (1128), triều đình Lý đặt chức Thượng thư sảnh ngoại lang. Bấy giờ quan coi việc quân dân trong cả nước là Tể tướng dưới các danh nghĩa như Tổng quản tri quân dân thời Tiền Lê) và Phụ quốc thái úy (thời Lý). Thượng thư sảnh ngoại lang là một chức quan lớn, nhưng lại thuộc về Văn ban.

        Thượng thư sảnh bắt đầu thành lập từ thời Trần. Bấy giờ quan đứng đầu sảnh là Hành khiển Thượng thư, tức chức Aự tướng, sau Tể tướng. Đến thời Lê Sơ, đứng đầu Thượng thư sảnh là Thượng thư lệnh, còn gọi là Mật viện tham tri. Thượng thư sảnh có nhiệm vụ giúp việc Tể tướng điều khiển bách quan, tham mưu giúp nhà vua những ý kiến, những lời khuyến dụ về các việc trọng đại của triều chính, trong đó có cả quân sự.

        Khu mật viện, còn gọi là Nội mật viện được thành lập từ thời Lý, là cơ quan trông coi cả việc dân và việc binh do quan Tả, Hữu sứ quản lãnh. Năm 1028, Lý Đạo Kỷ được cử làm Tả khu mật, Xung Tân làm Hữu khu mật. Sang thời Trần, Khu mật viện dưới sự điều khiển của quan Khu mật viện Tham nghị triều sự, chuyên xem xét những việc cơ mật trong triều, kể cả quân sự. Dưới đời vua Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài giữ chức Tri khu mật viện sự. Năm 1267, Trần Thánh Tông đặt Hành khiển ti ở hai cung: Hành khiển tả hữu ti ở cung Thánh Từ (nơi Thượng hoàng ở) và Hành khiển ti ở cung Quan Triều (nơi vua ở) gọi chung là Nội mật viện. Năm 1325, vua Trần Minh Tông đổi Hành khiển ti làm Môn hạ sảnh, Nội thư hoả cục vẫn là Nội mật viện. Đến đời Dụ Tông, năm 1342, vua ra lệnh Khu mật viện trực tiếp quản Cấm quân và cho Nguyễn Trung Ngạn giữ chức Hành khiển tri Khu mật viện sự. Chính vì thế, vừa lên nắm quyền, Nguyễn Trung Ngạn đã ra lệnh chọn đinh tráng các lộ để sung vào ngạch thiếu của Cấm quân và lập sổ Cấm quân. Năm 1372, đời vua Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly từng giừ chức Khu mật viện đại sứ. Tháng 12 năm 1395, Phạm Cự Luận làm Tham mưu quân sự kiêm Khu mật viện sự.

        Dưới thời Lê Sơ, cùng với Khu mật viện, nhà nước lập thêm Chính sự viện, trong đó có các đại thần văn võ tham dự, coi xét các việc trọng đại của triều chính. Phan Huy Chú viết: "Chính sự viện để giữ then chốt, dùng cả văn võ, gồm các chức Tham tri chính sự, Tham nghị, Đồng tham nghị; về sau lại đặt Chính sự viện thượng thư". Trong Khu mật viện có các quan chỉ huy Khu mật viện sứ, Khu mật viện phó sứ, Tri viện sứ, Đồng tri viện, v.v... ở đó chỉ có những cận thần của vua tham dự, cùng bàn những điều cơ mật. Việc bảo vệ cung cấm của Cấm vệ quân cũng giao cho thuộc viên Nội mật viện quản lý.

        Sử cũ của ta ghi chép quá ít về những hoạt động trên lĩnh vực quân sự của Khu mật viện. Điều này ở Trung Quốc, sử cũ phản ánh rõ hơn. Thời Bắc Tống (960 - 1129) dưới vua, binh quyền còn thuộc quản lý của ba cơ quan: Khu mật viện, Tam Nha và Soái thần. Trong đó Khu mật viện phụ trách binh dịch và hổ phù; Tam Nha cai quản chư quân; Soái thần nắm quyền cầm quân. Sự chia sẻ đó nhằm hạn chế bớt tập trung quyền lực. Khu mật viện là cơ quan hành chính tối cao, trực tiếp nhận lệnh cửa Hoàng đế trong việc bố trì, điều động quân đội, "nắm quyền cơ mật, coi việc quản lý các công trình phòng thủ, vũ khí, xe ngựa, chiêu mộ Cấm quân, duyệt binh và thưởng phạt". Đứng đầu Khu mật viện là Khu mật chánh và phó sứ. Sang thời Nguyên (1271 - 1368), Khu mật viện cũng là cơ quan giúp việc của vua trên lĩnh vực quân chính, quản lý quân đội theo lệnh của Hoàng đế. Chẳng hạn, tháng 4 năm 1279, Khu mật viện nhà Nguyên xin Hốt Tất Liệt cho đem quân sang đánh Đại Việt, nhưng vua Nguyên còn cân nhắc lợi hại, chưa đồng ý; hoặc năm 1289, Khu mật viện lại đề nghị lập Soái phủ, lấy Lưu Đức Lộc làm Đô nguyên soái, chuẩn bị một lần nữa đánh Đại Việt, Hốt Thất Liệt đã chấp thuận, nhưng lệnh đó lại hoãn vì vua Nguyên xét thấy không còn đủ sức đánh Đại Việt nữa... Ở các địa phương, có khi nhà Nguyên còn lập Hành khu mật viện mang tên địa phương để chỉ huy hoạt động quân sự trong vùng.

        Như vậy, ở Đại Việt cũng như ở Trung Quốc các thế kỷ XI - XV trong triều đình trung ương có cơ quan Khu mật viện, một tổ chức do nhà vua quản lý, bao gồm những cận thần của vua, thường ngày cùng vua bàn việc cơ mật, trong đó có những hoạt động nhà nước trên lĩnh vực quân sự mà trực tiếp là hoạt động của Cấm quân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:03:39 am »


        1.2. Bộ binh

        Trong triều chính từ thời Lý đến thời Lê, người đứng đầu là vua, nhưng vua thường giao quyền trực tiếp điều khiển các quan lại cho Tể tướng (Phụ quốc thái úy hoặc Tướng quốc). Đến đời Lê Thánh Tông, chính quyền quân chủ chuyên chế phát triển, vua bãi bỏ chức vụ Tể tướng, tự mình đứng ra điều khiển bá quan. Tuy nhiên để giúp vua lãnh đạo triều chính và cai trị muôn dân, bao giờ trong nước cũng có những cơ quan hành chính và chuyên môn. Trong triều có những văn phòng bên cạnh vua và thái tử, có các cơ quan chuyên môn và các bộ do các quan Thượng thư đứng đầu, trong đó có Bộ Binh chuyên lo việc binh nhung.

        Bộ Binh ở nước ta có từ bao giờ? Tổ chức và chức năng ra sao? Thời Lý đã đặt chức Thượng thư nhưng tên các bộ chưa thấy phân định rõ. Ngoài trường hợp Lại bộ thượng thư Từ Anh Nhĩ, sử sách có chép sự kiện năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho quan Nội cập sự Lê Văn Thịnh làm Binh Bộ thị lang. Sau đó, năm 1084, sai Binh Bộ thị lang Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình bàn nghị về việc cương giới. Đến đời Trần, ta cũng chưa biết rõ có mấy bộ. Dõi theo sử sách ta thấy có nói đến chức Thượng thư thị lang Bộ Binh, Bộ Lễ, Bộ Lại và Bộ Hình. Sách Toàn thư có phản ánh sự kiện năm 1406, Hồ Hán Thương cho Đỗ Mãn thôi giữ chức Thượng thư lệnh hữu tham tri chính sự và cử Hành khiển Binh Bộ thượng thư kiêm Thân Ngưu vệ đại tướng quân Đỗ Nhân Giám thay. Tuy vậy, cũng như triều Lý và triều Trần, việc tổ chức các bộ dưới triều Hồ như thế nào ta không thể xét được.

        Đầu đời Lê, vua Lê Thái Tổ chỉ đặt ba bộ: Bộ Lại, Bộ Lễ và Bộ Dân (tức Bộ Hộ). Trải qua các đời Thái Tông và Nhân Tông, chỉ huy quân đội trung ương chủ yếu vẫn là những cá nhân; sau vua là Tể tướng, Tả Hữu tướng quốc (Tả Hữu Đô đốc) hay Thái úy. Lúc đó Bộ Binh chưa được thiết lập, tổ chức hành chính, chuyên môn giúp vua quản lý quân đội vẫn là Khu mật viện như trước.

        Năm 1460, kế tục vua Lê Nhân Tông, Nghi Dân xây dựng triều chính với mong muốn đổi mới cơ chế chính quyền, chia đặt 6 bộ, 6 khoa và các quan phủ, huyện. Lê Thánh Tông lên ngôi, tiếp tục cải cách hành chính quốc gia theo mô hình tiến bộ lúc đó. Cũng như Nghi Dân, Lê Thánh Tông đặt 6 bộ và 6 khoa với những chức năng riêng biệt; trong đó Bộ Binh coi giữ các việc thuộc binh chính, đảm đương nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và chiến tranh. Thế là từ đây việc binh nhung được giao cho Bộ Binh quản lý Cũng như các bộ, đứng đầu Bộ Binh là quan Thượng thư; giúp việc Thượng thư có hai phụ tá Binh bộ Tả thị lang và Hữu thị lang. Trong Bộ Binh có một cơ quan thường trực gọi là Binh Bộ tư vụ sảnh. Đứng đầu sảnh có quan Binh bộ tư vụ với nhiệm vụ trông coi và điều hành công việc thường nhật của Bộ Binh. Có thể coi đây là "văn phòng bộ". Những công việc có tính chất chuyên môn của Bộ Binh được phân công cho hai cơ quan chuyên trách là Vũ khôi Thanh lại ti và Quân vụ Thanh lại ti. Cai quản mỗi Thanh lại ti đó là một viên Lang trung và một viên Ngoại lang.

        a- Vũ khố Thanh lại ti

        Vũ khố Thanh lại ti là cơ quan chuyên trách trông coi binh nhung khí giới, việc hộ giá và nghi trượng của vua, bảo vệ an ninh trật tự cho những ngày tế lễ, tang lễ...

        - Về việc binh nhung khí giới

        + Vũ khố Thanh lại ti quản lý, giữ gìn và lo trang bị cho toàn quân về khí giới, cờ xí, trống chiêng, áo mũ, đạn dược và tất cả những đồ quân dụng.

        + Những đồ quân dụng, nếu có nhiều hay ít, đủ hay thiếu, cũ hay mới, còn bền hay đã hỏng... Vũ khố Thanh lại ti phải xem xét, đưa ra bàn định để tâu khai xin chế tạo, sửa chữa hay huỷ thải. Có thể coi đó là một phần chức năng hậu cần - kỹ thuật cho toàn quân.

        -Về việc hộ giá, nghi trượng và tế lễ

        + Vũ khố Thanh lại ti chuyên lo xem xét dân tình, cắt cử quân lính thuỷ, bộ theo hầu và bảo vệ vua. Những ngày tế lễ, Thanh lại ti căn cứ sơ đồ Bộ Lễ chuyển sang để cắt đặt quân lính dẹp đường sá, chuẩn bị cờ xí và đứng theo thứ vị đã định.

        + Khi có sứ thần ngoại bang đến yết kiến hay triều cống, Vũ khố Thanh lại ti phải cắt cử binh mã đón rước, truyền cho quân lính dẹp đường mở lối hay cho quân xếp hàng làm nghi lễ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM