Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:07:59 am » |
|
b- Quân vụ Thanh lại ti Quân vụ Thanh lại ti có nhiệm vụ trông coi việc tuyển bổ và khảo xét trong quân, giúp việc luyện tập và hoạch định các cuộc hành quân. - Về việc tuyển bổ, luyện tập và khảo xét + Nếu trong Kinh và ngoài các xứ có lính trốn thiếu, chết hay già yếu bị sa thải thì mỗi tháng ba kỳ, các quan chỉ huy phải khai trình lên Bộ Binh; Quân vụ Thanh lại ti sẽ ra lệnh cho tuyển mộ thêm hoặc truy bắt người đào ngũ. Theo lệ, cứ 3 năm 1 kỳ tuyển lính sung vào quân Thị vệ. Nếu chưa đến kỳ mà thiếu Thị vệ thì Quân vụ Thanh lại ti được quyền tuyển bổ thêm. + Ở các hiệu quân nếu thiếu lính thì chỉ huy làm tờ khai lên bộ, Quân vụ Thanh lại ti ra lệnh tuyển bổ sung cho đủ số theo lệ định. + Đến kỳ luyện tập, Quân vụ Thanh lại ti phải tổ chức cho các quân thuỷ, bộ luyện tập, thao dượt. + Ba năm một kỳ khảo xét, Thanh lại ti tổ chức các đợt thi trong quân thuỷ, bộ, nhằm kiểm tra nâng cao trình độ kỹ thuật và chiến thuật trong quân đội. - Về việc hoạch định các cuộc hành quân + Quân vụ Thanh lại ti có nhiệm vụ cử người đi khảo sát và vẽ bản đồ địa hình sông núi, đường sá, rồi chỉ định những nơi quan yếu cần lập đồn dinh trấn giừ. Các cửa ải, bến đò, cửa sông có ý nghĩa trong việc phòng thủ phải được đánh dấu trên địa đồ; làm thành 3 bản, 1 gửi lên vua, 1 nộp cho chính đường, còn 1 bản lưu tại Bộ Binh. + Khi có chiến sự, Quân vụ Thanh lại ti phải lo trù liệu những phương tiện, tham mưu hoạch định kế hoạch cho các cuộc hành quân tác chiến để ứng phó có hiệu quả với những việc khẩn cấp. Tóm lại, từ thời Lý đã xuất hiện chức Binh Bộ thị lang, thời Trần và thời Hồ có chức Binh bộ thượng thư; tuy nhiên, việc tổ chức Bộ Binh chưa thấy sử chép. Từ thời Lê Sơ đời Nghi Dân (1460), đặc biệt từ đời vua Lê Thánh Tông, Bộ Binh đã được tổ chức với tư cách là một cơ quan hành chính quân sự trông coi toàn thể các công việc thuộc binh chính, trong đó có một cơ quan thường trực và hai cơ quan chuyên môn chuyên trách đảm đương các nhiệm vụ hành chính quân sự trong Bộ Binh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:14:00 am » |
|
1.3. Ngũ phủ đô đốc Từ đời vua Lê Thánh Tông, triều đình Lê Sơ đặt quân ngũ phủ (5 phủ). Do đó, bên cạnh Bộ Binh, nhà nước còn tổ chức Ngũ phủ đô đốc, những tổ chức trực tiếp cai quản quân các phủ. Bấy giờ, trên thực tế các quan trực tiếp điều khiển quân binh ở các phủ là Tả, Hữu đô đốc Ngũ phủ gồm: Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ, Nam quân phủ và Bắc quân phủ. Ngũ phủ đô đốc là một con số cộng giữa 5 phủ quân. Các phủ tuy có độc lập tương đối, nhưng tất cả đều chịu sự quản lý chung của triều đình. Mỗi phủ tương đương như một "quân khu”, đảm đương một khu vực hành chính - quân sự nhất định. Mỗi phủ quân do một phủ đô đốc thống suất. Ban chỉ huy tại phủ gồm 4 vị: Tả đô đốc, Hữu đô đốc, Đô đốc đồng tri và Đô đốc thiêm sự. Mỗi phủ đô đốc cai quản 6 vệ trực thuộc. Ban chỉ huy phủ quân nắm 6 vệ thông qua bộ máy chỉ huy mỗi vệ. Đó là các Tổng tri, tiếp đến là Đồng tổng tri, Tổng tri thiêm sự. Dưới các Vệ là Sở (mỗi vệ có 5 - 6 sở), các sở có Quản lĩnh, Phó quản lĩnh, Chánh võ úy và Phó võ úy chỉ huy. Dưới Sở là Ngũ, có chức Tổng kỳ, v.v... Đó là cơ quan quản lý hành chính và hệ thống quan lại của các phủ quân thời Lê Sơ, cũng là sự kế thừa, mô phỏng của Đại Việt đối với tổ chức quân sự đầu đời Minh. Năm 1380, Minh Thái Tổ đổi Đại đô đốc phủ thành Ngũ quân đô đốc phủ - một cơ quan hành chính quân sự trong triều, gồm Trung, Tiền, Tả, Hữu và Hậu quân. Việc đặt Ngũ quân đô đốc phủ để thống suất các đạo là điểm tương đồng trong cơ cấu tổ chức quản lý quân đội của hai nước. Như vậy, trải qua các thời kỳ, đến đời Hồng Đức, bộ máy chỉ huy quản lý quân đội đã phát triển nhiều. Trên danh nghĩa quan Thái úy vẫn là người đứng đầu quân đội, thực tế quyền quản lý đã chuyển sang tập thể Bộ Binh và Năm phủ đô đốc. Các cơ quan này vừa có tính độc lập tương đối vừa lệ thuộc lẫn nhau. Bộ Binh đảm nhận nhiệm vụ trên phương diện hành chính như tuyển bổ, khảo xét, chăm lo trang bị, hậu cần... còn các phủ đô đốc lo việc cụ thể về chiến thuật, kỹ thuật, quản lý việc binh và động viên quân đội.  Bằng việc bãi chức Tể tướng và chức Tổng chỉ huy quân đội, chuyển quyền chỉ huy từ tay cá nhân sang tay tập thể, Lê Thánh Tông đã triệt để tập trung được quyền chỉ huy tồi cao đối với quân đội vào tay cá nhân mình. Đó cũng là một bước phát triển mới trong chính thể nhà nước quân chủ chuyên chế. Mặc dù đã đưa các đại thần tin cậy nắm giừ quân đội và đã tuyển chọn một hệ thống võ quan trung thành với những quy chế chặt chẽ, nhưng Nhà nước Lê Sơ lúc đó vẫn lập ra một số quan giám sát quân đội, không trực thuộc quân đội. Cùng với việc duy trì Ngự sử đài và lực lượng ngôn quan, Lê Thánh Tông còn đặt 6 khoa để giám sát các hoạt động của 6 bộ; trong đó Khoa Binh giám sát hoạt động của Bộ Binh và quân đội. Từ tháng 6 năm 1473, Lê Thánh Tông còn đặt ra Cai đạo giám sát ngự sử thuộc Ngự sử đài để tăng thêm lực lượng giám sát quân đội. Mỗi Cai đạo giám sát được lập ra trên khu vực hành chính của phủ quân, giữ nhiệm vụ giám sát phủ quân đó cùng một số ti, vệ thuộc Cẩm Y, Kim Ngô... Lực lượng giám sát và đối tượng giám sát đã được nhà nước quy định rõ ràng. Hệ thống quản lý đó dựa trên nguyên tắc phân quyền và liên đới trách nhiệm (Bảng 11). 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:18:35 am » |
|
2. Bộ máy võ quan, tướng lĩnh trong quân đội Đại Việt
Hệ thống tổ chức chính quyền Nhà nước phong kiến Đại Việt chia thành hai ban văn và võ, còn gọi là Văn giai và Võ giai. Riêng về Võ giai bao gồm các quý tộc tông thất am hiểu võ nghệ, các tướng lĩnh trực tiếp cầm quân chỉ huy các đơn vị. Tất cả đều nằm trong hệ thống tướng lĩnh võ quan từ trung ương đến địa phương, chia thành hai cấp: quan trong quan trong Kinh) và quan ngoài (quan địa phương ở các lộ, trấn, đạo). 2.1. Bộ máy võ quan, tướng lĩnh ở trung ương
a- Võ quan, tướng lĩnh thời Lý - Trần - Hồ Ở nước ta từ thời Đinh bắt đầu chế định giai phẩm các quan văn võ, đặt chức tướng quân. Tướng Phạm Phòng át có một giai đoạn làm Thân vệ tướng quân và Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân, kiêm Điện Tiền chỉ huy sứ dưới triều vua Đinh. Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn kiểm duyệt quân ngũ và tổ chức hệ thống võ quan. Triều đình Tiền Lê chia làm hai ban văn - võ. Trong Ban Võ có Phạm Cự Lạng giữ chức Thái úy, Từ Mục làm Đại quản trị quân dân. Từ năm 1006, Khai Minh vương Long Đỉnh lên ngôi, "sửa đổi quan chế về văn võ, nhất thiết theo bên Tống"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.181). Bấy giờ Lý Công Uẩn được giữ chức Tứ Sương quân phó chỉ huy sứ sau tăng làm Tả Thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ, quản Cấm quân. Lý Thái Tổ sau khi lập triều đại mới, đã phong tước cho những người thân thuộc và các tướng có công với các danh hiệu như Thái sư, Thái phó, Thái bảo, Thái úy, Tổng quản, Tướng công, Tả Kim ngô, Tả hữu vũ vệ; phong Vũ Đức vương Trương Hiển làm Thái úy, Dực Thánh vương Phó làm Tổng quản, Trần Cảo làm tướng công, Phí Xa Lỗi làm Tả Kim ngô, Vệ Trúc làm Hữu Kim ngô, Đàm Thảo và Đỗ Giản làm Tả, Hữu vũ vệ. Năm 1028, nhà vua cử Lý Đạo Kỷ làm Tả khu mật, Xung Tân làm Hữu khu mất, Nguyễn Quang Lợi làm Thái úy, Đàm Toái Trạng làm Đô thống, Vũ Ba Tư làm Ung vệ thượng tướng, v.v... Các đời vua Lý tiếp sau đều giữ cơ cấu quan lại của Thái Tổ. Năm 1128, Lý Thần Tông xét duyệt chức quan văn võ, đặt thêm chức Chỉ huy sứ, Vũ vệ tướng và Hoả đầu. Chỉ huy quân triều đình là Thái úy, rồi Điện Tiền chỉ huy sứ trực tiếp quản lãnh Cấm quân. Khi điều quân đi đánh dẹp, vua phong các chức Đô thống đại nguyên soái, Đô thống nguyên soái hoặc Chiêu thảo sứ, v.v... Năm 1182, Lý Cao Tông xuống chiếu cầu người hiền lương và đắp đàn phong tướng; cho Ngô Lý Tín làm Thượng tướng quân. Theo Phan Huy Chú, triều Lý đại lược về văn võ đều có 9 phẩm: Lấy ba chức Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), ba chức Thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo), cùng với Thái úy, Thiếu úy Kiểm hiệu bình chương sự làm trọng chức của văn võ đại thần. Về võ ban có các chức Đô thống, Nguyên soái, Tổng quản, Khu mật sứ, Khu mật sứ tả hữu, Tả hữu Kim Ngô, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng quân các vệ, Chỉ huy sứ, Vũ vệ hoả đầu, v.v... Đó là các tướng hiệu, các cấp chỉ huy quân đội triều đình.  Thời Trần, vua vẫn là thủ lĩnh quân sự tối cao. Khi đất nước có giặc, vua trao quyền chỉ huy cho người có tài năng quân sự trong Hoàng tộc, như Trần Thủ Độ được phong Thái sư, coi giữ tất cả việc hành quân đánh dẹp trong nước (năm 1226), hoặc như trường hợp phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân (năm 1283). Nhà Trần cũng lấy ba chức Thái, ba chức Thiếu, Thái úy, Tư đồ, Tư Mã, Tư không làm trọng chức của các đại thần văn võ. Trong hàng võ quan có các Thượng tướng, Đại tướng, có Thân vệ tướng quân, Vũ vệ đại tướng quân, Phủ quân phó đô đốc tướng, Soái điện đô áp nha, Quản quân tiết độ sứ Đô thống chế, v.v... Triều Hồ đặt các quan chức cũng theo chế độ nhà Trần. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử lúc đó, Hồ Quý Ly buộc phải loại bỏ các lực lượng chống đồi. Ngay từ những năm cuối triều Trần, Hồ Quý Ly đã từng bước thực hiện cải cách quân sự, xây dựng đội ngũ võ quan, tướng lĩnh cho triều đại mới. Các tướng lĩnh trung thành với sự nghiệp nhà Trần như tướng quân Thiết Liêm Nguyễn Khoái và Nguyễn Vân Nhi, tướng chỉ huy quân Thiết Giang Nguyễn Ha và Lê Lạc, tướng quân Thiết Sang Nguyễn Bát Sách đều bị giết. Thượng tướng Trần Khát Chân, tướng quản quân Hữu Thánh Dực cùng hàng trăm người bị hành quyết sau sự kiện "hội thề Đốn Sơn" (1399). Các tướng trung thành với sự nghiệp họ Hồ được trao quyền chỉ huy, như Khả Tuân và Chương Dương được cử coi quân Thần Dực, Thần Dũng; Nguyễn Đa Phương và Hoàng Phụng Thế chỉ huy quân Thánh Dực; Phạm Lại quản lĩnh Cấm vệ đô, v.v… Bấy giờ, nhà Hồ đặt chức Tả, Hữu tướng quốc. Trong quân đội có các Đại tướng, Đô tướng thống lĩnh các Đại quân, Trung quân, Vệ quân, v.v... Một số tướng được cử quản lãnh các quân Thần Sách, Long Tiệp, Thiết Giáp, Thiết Liêm... Các chức như Đô đốc, Đô thống, Tổng quản trông coi các đơn vị... Trong đợt chinh phạt Chiêm Thành năm 1403, Phạm Nguyên Khôi làm Đại tướng thuỷ quân chỉ huy các vệ Thiên Ngưu, Phúng Thần và Long Tiệp; Đỗ Mãn làm Đô tướng bộ quân, coi quân Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Năm 1406, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng và tướng quân Hồ Đỗ được trao quyền tiết chế chỉ huy hai đạo quân lớn nhất của nhà Hồ chống lại cuộc xâm lược của quân Minh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:23:47 am » |
|
b- Võ quan, tướng lĩnh thời Lê Sơ Buổi đầu thời Lê, Thái Tổ đặt các chức Tả - Hữu tướng quốc, Kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự, Đại tư đồ, Đại tư mã, Tư không, Tư khấu, Tam thái, Tam thiếu, Thái úy, Thiếu úy, v.v... Đó là trọng chức của đại thần văn võ Những người thân tín được gia thêm hai chữ "Nhập nội". Tổ chức 6 quân Ngự Tiền và 5 quân Thiết Đột đều có Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản đứng đầu. Đời Lê Nhân Tông (1448) giảm số tướng hiệu trong quân Ngự Tiền, trước mỗi quân có 8 viên nay chỉ để 2 viên; quân Thiết Đột trước có 4 viên, chỉ lưu lại 2 viên. Trong kinh thành còn có các chức võ quan từ Đô đốc, Tổng quản đến Chánh - Phó võ úy. Chỉ huy các vệ sở là Tổng quản, Thượng tướng, Đại tướng, Tướng quân và Đô chỉ huy sứ. Trong các đơn vị cơ sở còn có các chức Phó võ úy, Hoả đầu, Đại đội trưởng, Chánh - Phó ngũ trưởng (Bảng 12). Nhìn chung, ở giai đoạn đầu thời Lê Sơ, trong triều đình tập hợp đông đảo võ tướng có công lớn. Vua "chuộng võ tướng hơn văn thần". Vì vậy, võ quan rất được trọng dụng. Từ nửa cuối thời Lê Sơ, Lê Thánh Tông lên ngôi Hoàng đế, mở ra con đường thênh thang cho Nho giáo; địa vị văn quan được nâng cao. Mùa Thu năm 1471, Lê Thánh Tông tiến hành sửa định "Hoàng triều quan chế", bãi các chức Tướng quốc Bình chương sự và Bộc xạ, trở lại quy chế Tam thái, Tam thiếu, Tam úy. Đặt thêm các chức võ quan như Đô kiểm điểm, Đề đốc, Đô đốc đồng trì, đến các Phó úy, Vệ úy, Phó vệ úy. Bấy giờ, ở trong kinh thành đặt Đô đốc phủ trong Ngũ phủ quân và đặt 2 vệ Kim Ngô và Cẩm Y, 4 vệ Hiệu Lực, 4 vệ Thần Võ, 6 vệ Điện Tiền. Hệ thống quan võ đờiLê Thánh Tông đã thực sự chính quy, đó là hệ thống quan lại của nhà nước quân chủ chuyên chế mới được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở quan chế thời Lý - Trần và tham khảo quan chế triều Minh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:30:12 am » |
|
2.2. Hệ thống võ quan, tướng lĩnh địa phương
Về nguyên tắc, quân địa phương không thể tách rời sự chỉ đạo, quản lý của triều đình trung ương. Nhà nước quản lý quân các lộ, trấn, đạo thông qua hệ thống võ quan, tướng lĩnh các địa phương. Từ thời Lý, trong các lộ, trấn và các trại đều đặt quan binh đóng giữ, nhưng sử liệu không cho ta hiểu rõ về việc phân cấp quan lại địa phương. Bấy giờ đã có các tri phủ, phán phủ, tri châu chịu trách nhiệm quản lý sổ sách quân và dân. Vua Lý vừa đặt quan cai trị các vùng, vừa tìm cách lôi kéo, ràng buộc các thủ lĩnh quân sự địa phương hợp tác, làm quan lại trong bộ máy hành chính của mình. Tác dụng của chính sách đó đã biểu hiện rõ trong cuộc kháng chiến chống Tống. Sang thời Trần, triều đình đặt ở các lộ chức An phủ sứ, Trấn phủ chánh và phó sứ, Thông phán, Thiêm phán; ở huyện đặt Lệnh úy và Chủ bạ. Quan coi giữ việc binh ở lộ thuộc các chức Kinh lược sứ, Phòng ngự sứ, Thủ ngự sứ, Quan sát sứ, Đô hộ phủ, Đô thống phủ và Tổng quản phủ. Đó là kết quả của chính sách đặt quan cai trị, như sách Toàn thư phản ánh: "Tháng 2-1290 (triều đình) chọn các quan văn võ đi nhậm trì ở các lộ"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập 11, tr.66). Khi trong nước có chiến tranh, vua còn hạ lệnh cho các vương hầu, quý tộc thống lĩnh binh của mình và binh các lộ giúp vua đánh giặc. Dưới triều Hồ, nắm binh quyền ở các địa phương có các Đô đốc Đô hộ, Đô thống, Tổng quản và Thái thú. Các quan triều đình được cử về địa phương để tổ chức và chỉ huy quân đội. Chẳng hạn, Thái bảo Trần Hàng coi phủ đô thống lộ Bắc Giang; Thiếu bảo Vương Nhứ Chu làm Tri Thiên Trường phủ lộ quân dân sự; Hành khiển Hà Đức Lân làm Tân Yên phủ lộ thái thú, v.v... Bấy giờ, nhà Hồ đặt chức Liêm phóng sứ ở các lộ để dò xét tình hình quan lại làm cơ sở cho sự giáng truất hay cất nhắc các quan. Đầu thời Lê, trong các đạo đặt các vệ quân trực thuộc. Đứng đầu đạo có các quan Hành khiển, Tổng binh hoặc Tổng tri. Mỗi vệ quân trực thuộc đạo có một ban chỉ huy gồm Tổng quản, Đô tổng quản, Đồng tổng quản, Đồng tổng tri, Đồng tri và Quản lãnh. ở các lộ, phủ và trấn có chức Trấn phủ; ở châu có Phòng ngự sứ, Quan sát sứ; ở các cửa biển và ven sông đặt chức Tuần kiểm; các tù trưởng nơi phiên thuộc giữ chức Thủ ngữ, Đoàn luyện. Từ đời Lê Thánh Tông, trong các thừa tuyên đặt các Thừa ti, Đô ti và Hiến ti; trong đó Đô ti là cơ quan quản lý việc binh và quân đội. Việc binh nhung trong thừa tuyên nào do Đô ti ở đó đảm nhiệm. Quan đứng đầu Đô ti là Tổng binh sứ, thứ đến là Tổng binh thiêm sự và Tổng binh đồng tri. Ba vị này đại diện chính quyền nhà nước nắm giữ toàn bộ lực lượng quân đội trong thừa tuyên. Đô tì cầm quân thông qua các vệ quân và ban chỉ huy của các vệ ấy. Buổi đầu, Tổng binh còn kiêm chức Thừa tuyên sứ, sau đó để giảm bớt quyền lực các tướng, triều đình cử các văn quan giữ chức Thừa tuyên sứ. Mỗi khi biên giới có việc, cả Tổng binh và Thừa tuyên sứ phải cùng bàn bạc. Nhìn chung, ở các địa phương, các Lộ - Trấn - Đạo, Phủ - Huyện - Châu, Giáp - Hương - Xã, người đứng đầu vẫn là người chịu trách nhiệm trước nhà vua về các mặt quân sự và dân sự. Vì thế, tổ chức quản lý quân đội bên cạnh hệ thống dọc của ngạch binh (như thời Lê Sơ là Bộ Binh), còn có các hệ thống ngang theo các cấp đơn vị hành chính. Đây là sự phối hợp quản lý song trùng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tập trung quyền hạn trong bộ máy nhà nước trung ương tập quyền. Trên đây là một số nét chủ yếu về hệ thống võ quan, tướng lĩnh Đại Việt cả ở triều đình và địa phương. Hệ thống quan lại đó ngày một hoàn thiện, có tổ chức và biểu hiện xu hướng quyền lực tập trung dần vào trung ương theo sự phát triển của nhà nước quân chủ chuyên chế. Thử so sánh số võ quan ở trung ương và địa phương năm Hồng Đức thứ 2 (1471), ta thấy:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:35:26 am » |
|
  Trong khi quan văn địa phương nhiều hơn ở trung ương thì quan võ địa phương lại rất ít so với trung ương, mặt khác tổng số quan võ vẫn nhiều hơn quan văn. Điều dó chứng tỏ lực lượng quân triều đình luôn được chú trọng phát triển và quân đội được coi là chỗ dựa quan trọng nhất của nhà nước quân chủ. Trong điều kiện nhà nước phong kiến Đại Việt luôn trọng võ thì số lượng võ quan cao cấp thường rất lớn, ngay cả trong giai đoạn mà văn quan được ưu đãi như thời Lê Thánh Tông. Về mặt phẩm hàm võ quan cao hơn văn quan; đề là Thượng trụ quốc nhưng văn quan cao nhất chỉ đến tước "bá" trong khi đó võ quan được phong tước "công"; hoặc cùng một hàm "Chánh thất phẩm" thì võ quan chỉ là "Phó võ úy" còn văn quan là "Đô cấp sự trung" (phụ trách một trong sáu khoa). Hiện tượng phẩm cao mà chức thấp chứng tỏ chính quyền coi trọng quân đội và rất chú ý đến vấn đề chỉ huy trong quân đội. Tuy nhiên khi xem xét hoàn cảnh cụ thể của từng cá nhân trong hàng ngũ quan lại thì võ quan thường bị thiệt thòi hơn; vì cùng một phẩm trật ấy, văn quan được "ăn trắng mặc trơn" và đàng hoàng sống ở nơi dinh thự, còn võ quan thì vẫn phải vất vả ở chốn biên cương, hải đảo hay nơi trận mạc xa xôi. Phải chăng vì thế mà dân gian có câu: Văn quan thất phẩm thì sang Võ quan thất phẩm còn mang gươm hầu. Trong các thế kỷ từ XI - XV, nhà vua luôn luôn thể hiện là thống lĩnh quân sự tối cao. Khi có chiến tranh, vua thường "tự làm tướng" tổng chỉ huy các đạo quân. Thống lãnh các đạo quân có thể do các hoàng tử, thân vương hay quý tộc có tài năng quân sự. Chỉ huy các cuộc hành quân có khi còn do các Tả tướng quốc, các Thái úy, các Đại tướng, Đại tư mã, Tổng quản, v.v... dưới các danh hiệu như Đại nguyên soái, Đô thống nguyên soái, Chinh lỗ tướng quân, Bình tây tướng quân, v.v... Những lúc đó, cả quân triều đình và quân địa phương đều được điều động và chịu sự chỉ huy thống nhất. Tóm lại, chế độ quản lý, chỉ huy quân đội của quốc gia Đại Việt từ thế kỷ XI - XV, đã từng bước phát triển và hoàn thiện. Nhờ chế độ đó mà nhà nước phong kiến thời bấy giờ đã có được một hệ thống quan lại, một đội ngũ võ quan, tướng lĩnh có Đức có Tài, có khả năng quản lý và chỉ huy tốt quân đội trong hoà bình cũng như khi đất nước có chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:39:34 am » |
|
Chương IV VŨ KHÍ TRANG BỊ VÀ HUẤN LUYỆN QUÂN ĐỘI Để xây dựng quân đội theo phương châm "cốt tinh không cốt nhiều”, các triều đại rất chú ý đến vấn đề trang bị và huấn luyện. Nội dung quan trọng này của Binh chế Đại Việt tuy đã có một số nhà nghiên cứu nói đến nhưng còn sơ lược và tản mạn, có lẽ do hạn chế lớn về sử liệu. Thông qua một số quy chế, chế độ của nhà nước và những biểu hiện cụ thể về trang bị và huấn luyện, chúng tôi tìm hiểu những hoạt động của các triều đại về lĩnh vực cụ thể này của Binh chế. I. VẤN ĐỀ TRANG BỊ QUÂN ĐỘI 1. Chế tạo và trang bị vũ khí trong quân đội Thời Lý, nước Đại Việt trở nên khá cường thịnh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự, rất quan tâm đến võ bị. Lý Thái Tổ khi dời đô ra Thăng Long đã nghĩ ngay đến việc tăng cường Cấm quân và trang bị cho quân lính để bảo vệ kinh đô mới. Năm 1043, vua Lý Thái Tông “xuống chiếu cho chư quân sắm sửa áo giáp và binh khí". Lý Nhân Tông - con người "sáng suốt thần võ", là "vua giỏi của triều Lý", đã trị vì trong thời kỳ phạt Tống, bình Chiêm; lúc hoà bình vẫn luôn mong sao có quốc phòng tốt để "trong nước được yên hàn, ngoài biên không có giặc giã"; trước khi qua đời, ông đã không quên dặn Thái tử và các đại thần: "Phải lo sửa sang giáo mác, đề phòng việc không ngờ"1 (Quốc sử quán thế kỷ XIX, Việt sử thông giám cương mục, Sđd, Tập VI, tr.16). Đến thời Trần, với quan điểm xây dựng quân đội cốt tinh nhuệ, nên vấn đề trang bị và huấn luyện càng được coi trọng. Năm 1286, vua Trần Nhân Tông đã lệnh cho các tông thất chiêu mộ binh và lệnh cho Quốc Tuấn đốc suất các vương hầu, quý tộc cùng dân chúng sắm sửa vũ khí và đóng chiến thuyền, chuẩn bị bước vào cuộc đọ sức mới với giặc Nguyên. Năm 1364, vua Trần Dụ Tông xuống chiếu chế tạo chiến cụ và thuyền chiến đề phòng hoạn nạn từ biên giới phía Nam. Bấy giờ Chiêm Thành thường quấy phá, nhà vua ra lệnh chỉnh đốn quân đội, sửa soạn binh nhung và có ý muốn tự mình cầm quân đánh giặc. Đầu thế kỷ XV, trong khi lo lắng làm sao có quân đội mạnh để chống giặc Bắc, Hồ Quý Ly đã rất coi trọng vấn đề trang bị và giao công việc cần kíp này cho con trai là Hồ Nguyên Trừng - một người nổi tiếng có đầu óc sáng chế thời đó. Sang thời Lê Sơ, mặc dù đất nước thanh bình, nhưng các vua Lê đều cho rằng: "phàm có Nhà nước tất có võ bị" và thường xuyên quan tâm xây dựng quân đội không chỉ về mặt tổ chức mà cả trên lĩnh vực trang bị vũ khí. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh cho các phủ quân phải nghiên cứu chế tạo vũ khí theo kiểu mới1 (Quốc sử quán thế kỷ XIX, Việt sử thông giám cương mục, Tập XI, Sđd, tr.19). Những điều đó chứng tỏ vấn đề trang bị vũ khí cho quân đội luôn được các triều đại quan tâm. Vũ khí trang bị thời bấy giờ rất phong phú và đa dạng. Có thể phân thành hai loại: Vũ khí bạch binh và hoả khí. 1.1. Vũ khí bạch binh Thế kỷ X - XI là giai đoạn quân đội quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt sản xuất và sử dụng vũ khí bạch binh, bởi lúc bấy giờ ở nước ta chưa chế được thuốc súng, hoả khí chưa xuất hiện. Sang thế kỷ XIII, trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, quân đội nhà Trần bắt đầu sử dụng pháo. Tuy nhiên hoả khí còn hạn chế. Quân đội vẫn chủ yếu sử dụng vũ khí bạch binh. Quân đội Đại Việt trong các thế kỷ từ XI - XV được trang bị các loại bạch binh thông thường như giáo, mác, dao (đao), kiếm gươm), qua, kích, đinh ba, trượng, lao, liềm vắt, câu liêm, các loại chông, bẫy đá, máy bắn đá, cung nỏ. Bên cạnh các vũ khí đó, người chiến binh còn được trang bị kèm theo các phương tiện hộ thân như áo giáp khiên mộc, “hộ tâm phiến" (tấm che ngực), v.v...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:40:47 am » |
|
Thương, trượng và nhất là gậy là những vũ khí thông thường, phổ biến của quân đội Đại Việt. Trong chiến tranh chống giặc Ngưu Hống (ở Tây Bắc), Phạm Ngũ Lão sai quân sĩ làm những gậy tre ngắn để phang vào chân voi; voi đau, phải quay đầu chạy. Sách Toàn thư có nói về đội đấu gậy của quân đội triều đình nhà Trần... Tre, gỗ chắc vót nhọn (có thể bịt sắt) trở thành cây lao, cũng là thứ vũ khí phổ biến, dễ chế tạo. Phóng lao (ném thủ tiễn) là một trong ba môn thi bắt buộc để tuyển chọn các võ úy thời Lê Sơ. Như vậy, gậy, thương, trượng và lao là những vũ khí truyền thống đơn giản và dễ trang bị cho quân đội, nhất là đối với quân địa phương và dân binh.
Đinh ba là thứ vũ khí rất phổ biến trong dân gian, cách chế tạo đơn giản dễ sử dụng, chỉ gồm ba mũi đinh nhọn, ở giữa cao hơn. Có địa phương gọi đó là cái xỉa, có tra cán, dùng để đâm.
Giáo, mác, kiếm hoặc gươm là những vũ khí đột kích bằng sắt, sắc và nhọn rất thông dụng trong quân đội nước ta thời xưa. Giáo thân ngắn, cứng, có gờ nổi cao ở giữa, hai lưỡi vát sắc cạnh và nhọn để đâm kẻ địch. Gươm và kiếm lưỡi dài. Thân gươm hơi cong, sống dày, lưỡi mỏng. Kiếm thân thẳng, dày ở giữa, hai lưỡi sắc. Chuôi giáo bằng gỗ hay tre; còn chuôi gươm, kiếm bằng đồng, có thể được chạm khắc. Vua Lý Nhân Tông dặn Thái tử: Phải lo sửa sang giáo, mác đề phòng khi có chiến tranh. Giáo có nhiều loại như: giáo có họng tra cán (hình búp đa, hình ngòi bút) và giáo có chuôi tra cán hình lá lúa hay có ngạnh). Đội Cấm binh của Lý Anh Tông do quan Điện Tiền Vũ Đái chỉ huy đã dùng giáo trong vụ bắt tên nội phản Đỗ Anh Vũ năm 1150. Lính thị vệ nhà Lý đã sử dụng giáo trong sự biến cung đình năm 1210. Quân sĩ khi đánh Tống, phạt Chiêm, phần lớn cầm giáo chiến đấu. Đã tìm thấy nhiều di vật vũ khí thời Lý ở Hà Nội và Thanh Hoá, trong đó có chiếc gươm dài 72cm, phần thân 59cm; chiếc kiếm dài 62,3cm, phần thân 62,3cm.
Quân đội nhà Trần sản xuất và sử dụng giáo khá phổ biến. Di vật giáo sắt thời Trần tìm thấy ở chùa Bút Tháp (Hà Nội) và ở phủ đệ Trần Quốc Tuấn ở Kiếp Bạc. Sử sách cũng phản ánh điều này. Một bài thơ của Trần Phu trong Sử Giao Châu tập có câu: “Kim qua ảnh lý đan tâm khổ” (trông bóng giáo mác sáng loè thấy lòng đắng cay). Bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão có câu: “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ Thu" (Cầm ngang ngọn giáo vì núi sông đã mấy mùa Thu). Sau đó tiến sĩ Phạm Quý Thích (thời Lê) cũng đã làm hai đôi câu đối ca ngợi tài năng, công tích của Phạm Ngũ Lão, trong đó có câu: "Vạn cổ giang sơn nhất sáo hoành" (Một ngọn giáo cầm ngang đã bảo vệ vẹn toàn giang sơn). Trên một chiếc thạp bằng sứ tráng men hoa văn thời Lý - Trần, ta thấy hình các chiến bình tay trái cầm giáo, tay phải cầm khiên tròn. Những di vật giáo sắt mà khảo cổ học đã tìm thấy ở chùa Bút Tháp, ở phủ đệ Trần Quốc Tuấn, ở khu vực Hoàng thành Thăng Long và ở Ngọc Khánh (Hà Nội) cho ta hình dung được phần nào trang bị của quân đội Đại Việt. Năm 1285, tại bến Đông, Ô Mã Nhi hăm dọa Đỗ Khắc Chung rằng: “Đại quân ta ở xa đến đây, nước ngươi sao không trở giáo đến ra mắt mà lại chống cự mệnh lệnh?". Trương Hán Siêu trong bài Phú sông Bạch Đằng đã mô tả quân nhà Trần trong trận Bạch Đằng như sau: “Bấy giờ muôn dặm thuyền bè tinh kỳ phất phới, sáu quân oai hùng gươm giáo sáng chói”. Sử thần triều Lê ca ngợi tướng quân Phạm Ngũ Lão là người “có tài múa giáo, làm thơ, lập nhiều công lớn”.
Năm 1398, Hồ Quý Ly được phong chức Đồng bình chương sự, được vua ban cho một thanh gươm, một lá cờ đề chữ "Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức". Gươm, kiếm là vũ khí tuỳ thân, đeo bên mình của các tướng sĩ. Các tướng quân thời Trần và thời Hồ đều được trang bị gươm để bảo vệ và chiến đấu. Trong Bình Ngô đại cáo có câu: "Gươm, kiếm mài đá đá núi cũng mòn". Chứng tỏ, quân đội nhà Trần và nghĩa quân Lam Sơn có rất nhiều gươm giáo. Đến thời Lê Sơ, Cấm quân cũng được trang bị giáo. Năm 1456, vua Lê Nhân Tông sai quân Ngự Tiền dùng giáo vây và đâm chết con hổ lớn vào chùa Diên Hựu (chùa Một Cột). Như vậy, quân đội thời Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ đều được trang bị và sử dụng giáo mác.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:41:11 am » |
|
Các tướng lĩnh võ quan Đại Việt phần lớn đeo kiếm trong chỉ huy và chiến đấu. Năm 1028, khi dẹp "loạn ba vương", Lê Phụng Hiểu đã dùng kiếm chém Vũ Đức Vương. Sách Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (thế kỷ XV) có ghi chuyện Lê Phụng Hiểu rằng: "Nghe tin giặc đến... bèn xách một con dao, chặt cây làm vũ khí, xông thẳng vào trận... Họ Lý ban thưởng. Phụng Hiểu nói: Tôi dùng thác đao để đánh giặc, nay xin ném thác đao đến đâu thì cho làm giới hạn ruộng đất tới đó. Vua cho. Ông ném được 10 dặm". Ông nổi tiếng là người "quăng dao, múa kiếm lừng danh", được Lý Thái Tông khen ngợi là "giỏi hơn cả Kiền Đức vậy". Năm 1044, nhà vua ra lệnh phát vũ khí trong kho cho quân sĩ trước khi lên đường đánh Chiêm và cuộc chiến năm đó được sử chép là: "máu nhuộm gươm giáo, xác chết đầy đồng"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập 1, tr.123), chứng tỏ một phần vũ khí trang bị của quân đội nhà Lý. Trong kháng chiến chống Mông - Nguyên, không chỉ quân ta mà quân địch cũng sử dụng giáo, điều này được biểu hiện qua bài thơ Cảm hoài: "Đoạt sáo Chương Dương độ" (Bến Chương Dương cướp giáo giặc) của Thượng tướng Trần Quang Khải.
Lao và móc câu chùm là những vũ khí đánh xa đơn giản. Lao có hình dáng như mũi tên cánh lớn và có họng tra cán. Trong quân đội Đại Việt có môn thi phóng lao. Sách Thông giám tập lãm (đời Thanh) chép về trận Mã Yên nói Liễu Thăng bị sa bẫy và bị trúng lao mà chết. Móc câu chùm (móc vất) hình dáng như chiếc mỏ neo, có 3 móc hình lưỡi câu; cán có lỗ để buộc dây.
Bấy giờ, vũ khí đánh xa chủ yếu là cung nỏ, loại binh cụ truyền thống của quân đội nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước. Phép cưỡi ngựa bắn cung có ở nước ta từ lâu đời. Thời Lý ở kinh thành Thăng Long có Xạ Đình (bãi tập bắn). Sử chép: "Vua (Lý Anh Tông, 1170) tập bắn và cưỡi ngựa ở phía Nam thành Đại La, gọi là Xạ Đình; sai các quan văn võ hàng ngày luyện tập phép đánh giặc, phá trận"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập 1, tr.290). Thời Lý - Trần, tập cưỡi ngựa và sử dụng cung kiếm là việc bắt buộc đối với mọi vương hầu, tướng lĩnh. Bấy giờ, bên cạnh Điện Giảng Võ và Giảng Võ Đường còn có Trường bắn, Bãi tập hay Trường đua. Ngoài đua ngựa, các tướng còn đọ tài bằng thương và cung kiếm. Quan Thái úy Trần Tự Khánh nổi tiếng tài bắn cung. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn khuyên các tướng phải "huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ". Trần Cụ là người rất giỏi bắn nỏ, được vua Trần Anh Tông cho vào cung dạy Thái tử.
Cung, nỏ, với mũi tên tẩm thuốc độc là vũ khí lợi hại của quân đội Đại Việt. Sử chép về chiến công của các đội quân cung nỏ thời Trần năm 1285 như sau: "Lý Hằng đem quân hộ tống Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta lấy tên độc bắn trúng vào gối bên tả của Hằng, Hằng chết. Tuỳ tướng là Lý Quán thu nhặt 5 vạn quân còn lại lấy đồ đồng giấu Thoát Hoan vào trong để trốn về Bắc. Đến Tư Minh, Hưng Vũ Vương đuổi theo dùng tên thuốc bắn trúng, Lý Quán chết, quân Nguyên tan vỡ". Tên Việt gian Trần Kiện không thể thoát chết bởi mũi tên độc của gia nô Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô ở Ma Lục. Nguyên sử nói rằng, trong trận Bạch Đằng (1288), quân Trần "bắn tên như mưa".
Từ năm 1426, khi tiến quân ra Bắc bao vây thành Đông Quan, nghĩa quân Lam Sơn đã hùng mạnh với đủ các loại vũ khí trang bị, trong đó có rất nhiều cung nỏ. Vì thế khi viết thư dụ hàng Vương Thông, Nguyễn Trãi cũng đã nói rõ sự trưởng thành của nghĩa quân rằng: “Trước thì khí giới không trơn mà nay thì thuyền chiến ngất mây, áo giáp rực sáng, tên đạn chất đống, thuốc súng đầy kho. So trước với giờ, mạnh hay yếu thì biết được rõ"1 (Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr.138). Sau giải phóng, Lê Thái Tổ đã chỉnh đốn quân đội, quy định biên chế mới, mỗi vệ quân trang bị 50 nỏ tốt. Đến vua Lê Thánh Tông, quân đội chia thành các ti vệ và sở. Trong số 66 ti ở kinh thành, có 7 ti cung nỏ; đó là các ti Kỵ Xạ, Du Nỗ, Tráng Nỗ, Kính Nỗ, Thần Tí... Trong số 51 vệ quân ở kinh đô có vệ Kỵ Xạ chia thành 5 sở. Đó là các đội cung nỏ trong quân triều đình thời Lê Sơ. Để tuyển chọn võ quan, các kỳ võ thí dưới triều Lê đều chú trọng môn bắn cung nỏ. Bộ binh, kỵ binh, thủy binh và tượng binh thời Lê Sơ đều được trang bị cung nỏ, nên các kỳ thi võ nghệ đều có quy định chế độ thi riêng về môn bắn cung nỏ cho các loại quân. Về cung thì bắn trên ngựa hoặc bắn trên bộ mỗi thứ một tao. Bắn ngựa thì dùng cái đích cách 100 bước, phóng ngựa thật nhanh và bắn 3 phát, trúng được từ 2 phát trở lên là loại ưu, trúng một tên là đạt. Bắn bộ thì dựng một cái đích cách 50 bước, bắn 5 phát, trúng tử 4 - 5 phát là hạng ưu, trúng 2 tên là đạt. Nhà vua quy định: "Phàm thi cung nỏ, chuẩn định 3 năm 1 kỳ. Cứ đến mùa Thu các năm Tí, Ngọ, Mão và Dậu, sai một viên quan võ, một viên tham tri thị nội, một viên câu kê đến thi bắn cung trong quân bộ. Mùa Thu các năm Thân, Dần, Tị, Hợi thì sai hai viên quan võ, bốn viên thị nội, hai viên câu kê thi nghề bắn nỏ của thuỷ binh"1 (Phan Huy Chú, Sđd, tr.33).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2016, 05:42:14 am » |
|
Khảo cổ học đã tìm thấy ở khu vực Giảng Võ (Ngọc Khánh) một số lượng mũi tên sắt lớn, với nhiều mũi tên dính thành cục, chưa mài dũa; mỗi mũi tên có chiều dài 4 - 5cm; là những mũi tên lấy ở khuôn đúc ra chưa hoàn thiện. Chứng tỏ ở đây thời Lê đã có xưởng đúc mũi tên để cung cấp cho việc thao luyện, thi cử của nhà trường; phục vụ trong trường đua, bãi tập thời đó.
Cung nỏ là vũ khí đánh xa quan trọng nhất trong thời kỳ bạch khí. Ngoài cung nỏ, quân đội Lý - Trần còn sử dụng máy bắn đá. Năm 1075, Lý Trưởng Kiệt khi tiến công Ung Châu đã dùng máy bắn đá để ném đá và những giỏ đựng chất cháy vào thành. Sách Lý Thường Kiệt của giáo sư Hoàng Xuân Hãn có ghi: "Quân Lý dùng công cụ máy bắn đá), tứ bề trèo lên cao nhằm bắn vào trong thành, giết nhiều quân phòng thử”1 (Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Ban Tu thư viện Đại học Vạn Hạnh ấn hành, Sài Gòn 1996, tr.194). Tuy nhiên, máy bắn đá không thông dụng ở nước ta.
Quân đội Đại Việt còn được trang bị câu liêm, móc câu chùm, chông sắt và những phương tiện công thành như “Vân thê" (thang), xe đánh thành... Câu liêm vừa là vũ khí vừa là đồ quân dụng của thủy quân; có thể dùng cắt dây leo hoặc để móc thuyền. Trong trận Bạch Đằng (1288), tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị thương nhảy xuống nước, quân ta lấy câu liêm móc lên bắt sống. Câu liêm là vũ khí lợi hại được nghĩa quân Lam Sơn sử dụng trong trận đánh thành Xương Giang. Lúc đó, quân của Trần Nguyên Hãn đã dùng thang và câu liêm trèo lên thành để phá cửa thành. Thời Lê Sơ, trong mỗi vệ quân có trang bị 40 liềm vất 50 câu liêm. Câu liêm có hai loại: đầu tròn và đầu nhọn có móc. Đời Lê Uy Mục (1505), khi chế định binh khí, đặt quân điếm Ngũ phủ, mỗi điếm canh được cấp phát 5 câu liêm đầu nhọn. Chông (bằng tre hay sắt) là vũ khí rất lợi hại của quân ta khi đánh phục kích. Trong kháng chiến chống Mông - Nguyên, trên đường rút chạy của giặc có hàng trăm dặm từ Nội Bàng đến Nhứ Nhi - Khâu Cấp, quân ta đã đào hố đặt chông để bẫy giặc. Binh thư yếu lược có nói về phương pháp sử dụng chông sắt. Quân đội nhà Hồ cũng chế tạo và sử dụng chông sắt. Tại Tây Đô, nhân dân đào được nhiều vũ khí bằng sắt, trong đó có loại chông bốn mũi, theo thế chân kiềng, một mũi luôn luôn chĩa lên trên. Để đánh thành Ung Châu (của nhà Tống, 1075) và thành Chà Bàn (của Chiêm, 1471) quân nhà Lý và Lê Sơ còn dùng thang "Vân thê" hay "Phi thê", bao cát. Phương pháp nối thang để công thành cũng được mô tả trong Binh thư yếu lược. Sách Toàn thư có nói về sự kiện năm 1426, Lê Lợi tiến quân bao vây Đông Quan và ra lệnh chế xe đánh thành1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập III, tr.41). Xe đánh thành có nhiều loại như xe Phân ôn, xe Phi mã, xe trâu gỗ, lừa gỗ... được gắn 4 bánh hoặc 2 bánh lớn bé khác nhau. Xe có khung che bằng da trâu. Binh lính ở trong đẩy xe đi, để tiếp cận thành. Ông cha ta thường cho rằng "đánh thành là hạ sách", chủ trương "vây thành diệt viện" là chính, do vậy các phương tiện, vũ khí đánh thành của quân ta không phát triển như ở Trung Quốc và các nước khác.
Mũ che đầu, khiên mộc, áo giáp... là các phương tiện hộ thân. Năm 1002, Lê Hoàn "xuống chiếu làm mấy nghìn mũ Đầu mâu phát cho 6 quân". Mũ của ngoại binh thời Lê Sơ chế bằng da trâu, sơn đỏ. Hộ tâm phiến (tấm che ngực) hay khiên, mộc có thể được đúc băng đồng hay làm bằng da, bằng mây. Ngày xưa, vua có khi củng là tướng, do đó vua Lý sử dụng "ngự thương” và mộc. Sử chép năm 1043, cái mộc của Lý Thái Tông "tự nhiên rung động" nhà vua "nhân đó", xuống chiếu sắm sửa áo giáp và binh khí chuẩn bị đánh Chiêm. Hình ảnh người chiến binh thời Lý - Trần tay khiên tay giáo đã được khắc họa trên các thạp sứ, đĩa sứ. Sách Toàn thư có chép, thời Hồ, Hồ Hán Thương sai Hồ Tùng đi đánh Chiêm Thành, quân bộ đi đường núi cách xa quân thuỷ; gặp nước lũ, tướng sĩ giữa đường hết lương 3 ngày, phải nướng áo giáp bằng da để ăn (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.211).
Thời Lê Sơ, khiên được sử dụng rất phổ biến. Vua Lê Thánh Tông sai quân Ngự Tiền vẽ mẫu mặt thuẫn và nón da để đưa vào xưởng sản xuất. Binh sĩ mỗi người được trang bị một chiếc mộc. Trong các kỳ thi hay luyện tập võ nghệ đều có phép lăn khiên, sử dụng mộc, áo giáp và lá chắn. Năm 1505, số quân canh giữ ở các cửa thành được trang bị cung tên, dao và 50 tấm mộc. Áo giáp có thể bằng da, bằng mây, bằng đồng hay sắt. Năm 1214, tướng Nguyễn Nộn bị đối thủ dùng giáo đâm thủng áo giáp sắt, bị thương. Sứ Nguyên là Trần Phu cho biết: "Mới lần đầu đến trước của điện, xuống xe, thì Thái sư Trần Quang Khải và Thái úy Trần Đức Việt, mỗi người cầm một miếng ván tròn như gương màu xanh rộng 6 xích, trên vẽ mặt trời, mặt trăng, sao Bắc Đẩu và 28 vị tinh tú, có ý dùng để tự che chở cho mình" (An Nam tức sự). Phép thi võ trong quân đội Lê Sơ có môn bắn cung, ném thủ tiễn, sử dụng áo giáp và lá chắn. áo giáp được trang bị rất phổ biến trong quân đội Lê Sơ, vì thế trong bài Quan duyệt thuỷ trận, Nguyễn Trái viết rằng: “Muôn giáp khoe oai tì hổ dữ”…2 (Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, tr.262), chứng tỏ áo giáp đã được trang bị phổ biến trong quân đội thời bấy giờ.
Sử liệu quá hạn chế nên chỉ biết được phần nào về chế độ trang bị quân đội các thế kỷ XI - XV. Bấy giờ, trong điều kiện hoả khí chưa phát triển thì vũ khí bạch binh vẫn chiếm ưu thế về trang bị và vẫn giữ vai trò quan trọng trong chiến đấu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|