Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:37:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiếc khuy đồng  (Đọc 29124 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #20 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 06:02:58 pm »


8.DƯỚI CHIẾC CHAO ĐÈN MÀU NÂU NHẠT

  Chạy trốn lúc đó là ngu ngốc, vì tôi chưa thuộc hết đường ngang lối tắt trong thành phố Ri-ga và hầu như không quen biết ai ở đây cả. Có một vài người biết tôi nhưng nếu dẫn xác đến lúc này thì chỉ mang đến cho họ sự kinh hoàng mà thôi. Hiện nay bọn Đức thường xuyên bắt bớ, sục sạo tận các hang cùng ngõ hẻm, có thể nói là một con ruồi cũng không lọt qua mắt chúng. Hơn nữa trong thâm tâm tôi cũng nghĩ chưa chắc là bọn SS đến đây để chộp tôi.
  Tôi hỏi Mác-ta:
  -- Bọn Đức ngồi ở phòng khách thì làm sao chị ra ngoài được?
  -- Họ không vào bếp. Cho nên cháu lẻn qua sân và ra đây.
  Hình như chị đầu bếp này đã mang máng hiểu rằng tôi không phải là Béc-din thực và có vẻ mến tôi...
  -- Chị cứ trở vào bếp đi và đừng lo gì cả. Bọn quỷ cũng không đến nỗi đáng sợ như người ta tưởng đâu.
  Tôi thong thả bước vào thềm, trèo lên cầu thang dùng chìa khóa riêng mở cửa và đường hoàng đi vào phòng khách, lớn tiếng chào:
  -- Hai-lơ!
  Hai thằng SS trẻ măng đang ngồi ngả người trên ghế bành, thi nhau rít thuốc lá. Thoạt trông thấy tôi chúng đứng phắt dậy:
  -- Hai-lơ! Hai-lơ hít!
  "Hai-lơ hít" nghĩa là "Hai-lơ Hít-le", nhưng chúng hô nhanh quá thành ra nuốt mất một vần! Chúng chả lộ vẻ gì định đến tóm tôi vào tù hết. Tôi niềm nở hỏi:
  -- Tốt lắm. Các anh ghé vào chơi hay là có việc gì vậy?
  Một tên cười híp mắt, còn tên kia vẫn giữ bộ mặt nghiêm nghị và nói:
  -- Thưa ông Béc-din. Chúng tôi được lệnh mời ông đến sở Giét-ta-pô.
  -- Chúng ta đi xe có được không?
  -- Còn gì bằng! -- Hắn kiểu cách nghiêng mình, chìa tay ra mời tôi -- Xin ông đi trước cho...
  Khi đến sở Giét-ta-pô, tên này nhảy xuống trước giơ tay chào tôi và đứng lại bên cạnh xe, còn tên kia thì dẫn tôi vào phòng Ê-din-ghe.
  Ê-din-ghe nhã nhặn bắt tay tôi:
  -- Xin mời ông ngồi -- Rồi trầm ngâm một lát cho ra vẻ trịnh trọng -- Đại úy Blây, mời ông ngồi xuống. Tôi có hai việc muốn bàn với ông...
  Xem chừng tên Ê-din-ghe này định dùng chính sách vừa xoa, vừa đấm; nếu lần trước hắn đã mời tôi ăn bánh ngọt thì lần này tất hắn sẽ kề gươm vào cổ tôi. Hắn dõng dạc nói:
  -- Tôi muốn báo cho ông một tin quan trọng. Chúng tôi vừa nhận được mật lệnh của nguyên soái Him-le là phải mời tất cả các sĩ quan nước ngoài vào trại tập trung đặc biệt. Tuy vậy, lệnh này chỉ thi hành đối với các sĩ quan bị bắt với vũ khí và binh phục -- Hắn đăm đăm nhìn tôi với đôi mắt đục lờ ngụ nhiều ý nghĩa và bắt đầu kể vanh vách -- Nó không bao gồm những loại gián điệp lẩn lút trong dân gian lương thiện, những phần tử có nguy hại đáng sợ cho quốc gia, những cá nhân định chống lại quốc trưởng và dân tộc Đức, những kẻ ngoan cố rắp tâm tẩu thoát...
  Hắn chỉ nói chừng ấy nhưng tôi đã hiểu cả. Tôi rất có thể thuộc vào loại gián điệp lẩn lút, vào loại phần tử nguy hiểm, vào loại cá nhân kình địch và rốt cuộc người ta có quyền bắn tôi vì rắp tâm chạy trốn...
  Tôi hiểu vậy nhưng cũng chưa biết chắc chắn là Ê-din-ghe đã mò ra được cái gì mà có vẻ như muốn bắt bí tôi.
  Hắn tiếp:
  -- Ông không nên vong ơn bội nghĩa đối với kẻ đã cứu mạng mình. Hẳn ông còn nhớ khi bọn tình báo Hồng quân bắn ông chết hụt ở nhà riêng thì chúng tôi đã phải chạy chữa ngày đêm, tìm đủ mọi cách để cứu ông ra khỏi lưỡi hái của thần chết.
  Lập luận này chắc do An-cốp-xcai-a bịa đặt ra thật là khác xa sự thực nhưng tôi vẫn cứ phải làm ngơ. Với cái tính chất ăn sống nuốt tươi và chủ quan vốn có của bọn sĩ quan Đức, Ê-din-ghe sống sượng hỏi thẳng tôi:
  -- Ông không phải là người vong ân bội nghĩa chứ? Ông có bằng lòng làm cho chúng tôi hay không?
  Bây giờ sau khi đã nhận được chỉ thị của Prô-nin, tôi có thể coi khinh cái danh dự hão của tên sĩ quan Anh. Cho nên tôi giở ngay giọng kiêu kỳ cốt làm cho hạng người mềm nắn rắn buông như Ê-din-ghe phải vị nể:
  -- Ngài đặt tôi vào nước cờ bí quá, thật là tiến thoái lưỡng nan. Quyền lợi của Tổ quốc Đại hồng Mao bắt buộc tôi phải nộp gươm cho ngài.
  Ê-din-ghe liền gào lớn:
  -- Hai-lơ Hít-le!
  Tôi cũng không hiểu hắn có đợi chờ ở tôi lời hô hưởng ứng không, nhưng tôi chỉ ngồi yên vì cho rằng dù ở hoàn cảnh nào đi nữa thì một sĩ quan Anh cũng không thể khúm núm trước bọn mật thám Đức.
  Ê-din-ghe đắc ý:
  -- Tôi rất hài lòng thấy ông đã tìm ra lối thoát. Bởi vì lão Soóc-sin nhà ông đếch hiểu gì về chính trị cả.
  Rồi hắn trút vào đầu thủ tướng Anh toàn những lời nguyền rủa thô tục mà nếu kẻ kình địch với Soóc-sin nghe thấy cũng lấy làm chướng tai chứ đừng nói là một sĩ quan Anh; tuy vậy, tôi vẫn ngoan ngoãn ngồi yên khiến Ê-din-ghe hả hê lắm. Hắn bô bô an ủi:
  -- Ông không nên luyến tiếc hiện tại nữa. Nước Đức sẽ lo cho tương lai của nước Anh.
  Sau khi khua môi múa mép một hồi, hắn quay sang công việc thiết thực:
  -- Tôi muốn báo cho ông một tin vui. Khi ông đã bàn giao xong xuôi mọi công việc cho chúng tôi rồi, thì chúng tôi sẽ lập tức phái ông trở về Luân Đôn. Chúng tôi có đủ khả năng để sắp xếp công việc này. Ông giả vờ làm bộ là suýt bị bắt giam và trốn thoát. Ở Anh, ông sẽ làm việc cho chúng tôi.
  -- Nhưng tôi không định trở về Luân Đôn. Tôi thấy ở đây được việc hơn.
  Hắn hỏi cộc lốc:
  -- Ông không dám liều à?  Ở đây với kẻ chiến thắng cho yên thân hơn chứ gì?
  Tôi nói quanh:
  -- Tôi thấy mình ở lại đây thì tốt hơn. Nếu tôi đi thì lập tức Luân Đôn sẽ cử người khác sang thay, một kẻ chưa quen hơi bén tiếng và không biết hắn có chịu cộng tác với các ông không?
  Ê-din-ghe gật đầu ra điều độ lượng:
  -- Được. Chúng ta sẽ trở lại câu chuyện này bao giờ ông đã cho chúng tôi thấy rõ những dẫn chứng về lòng trung thành của mình.
  Tôi dè dặt hỏi:
  -- Ngài muốn nói đến những dẫn chứng gì đấy? Tôi đã hứa là sẽ cộng tác với các ngài...
  Hắn reo lên:
  -- Đấy. Chính chúng tôi muốn những dẫn chứng về sự cộng tác thành thực ấy. Cách liên lạc và bọn thủ hạ, bọn thủ hạ và cách liên lạc. Chỉ có hai việc như vậy thôi, chúng tôi không đòi hỏi gì hơn nữa. Có thế thì ông mới đền đáp được ơn cứu mạng và lòng tin cẩn của chúng tôi.
  Đến đây tôi đã phạm một sai lầm lớn là coi Ê-din-ghe quá ngu ngốc. Tôi hứa sẽ chỉ cho hắn tất cả đám tay chân của mình tức là bọn thiếu nữ, mặc dầu tôi đã đoán rằng Ê-din-ghe hiểu biết họ khá tường tận. Hắn nghiêm nghị hỏi:
  -- Bao giờ? Bao giờ thì chúng tôi nhận được lưới do thám của ông?
  Tôi có thể lập bản danh sách bọn thiếu nữ trong vòng nửa tiếng đồng hồ nhưng muốn làm cho ra vẻ khó khăn, quan trọng, tôi bèn đáp:
  -- Tôi sẽ trao danh sách bọn tay chân cho ngài... sau đây ba... không, xem nào, sau đây bốn ngày.
  -- Được, tôi sẽ đợi ông. Kể từ hôm nay, cửa phòng tôi luôn luôn mở rộng để đón ông. Hôm nay là ngày 12...Vậy đến ngày 16 tôi sẽ đợi ông ở nhà riêng.
  Nói xong hắn ấn vào nút chuông điện:
  -- Mời ông Mu-le mang theo sổ sách lên đây -- Hắn ra lệnh cho một tên lính hầu vừa ló mặt vào. Tên này lại biến đi ngay. Ê-din-ghe nhìn tôi nói một cách úp mở và oai vệ -- Tôi muốn cho ông biết thế nào là cộng tác với tình báo Đức. Không có ai rộng rãi bằng người Đức đâu.
  Ngay sau đó tên Mu-le nặng nề lê cái xác béo phị vào phòng. Lão đeo kính gọng vàng, mái tóc hoa râm chải sáp bóng mượt, bộ quân phục SS màu đen bó chặt lấy tấm thân đẫy đà của lão và muốn nứt ra trước cái bụng phệ. Ê-din-ghe giới thiệu:
  -- Ông Mu-le, chánh thủ quỹ của chúng tôi...
  Còn một tên sĩ quan nữa đi theo Mu-le, nhưng chả thấy Ê-din-ghe đả động đến. Hắn chỉ ôn tồn hỏi tên thủ quỹ:
  -- Ông mang đủ cả chứ?
  -- Bẩm quan chánh, tôi mang theo đúng như lệnh ngài ạ.
  Ê-din-ghe vừa nhìn tôi vừa nhìn tên thủ quỹ:
  -- Ông Blây, chúng tôi muốn đãi ông một món tiền. Chúng tôi cũng biết người biết của lắm chứ không đâu!
  Tôi hơi động đậy người khiến cho Ê-din-ghe lại hiểu lầm trệch sang một ý khác. Hắn vội bảo:
  -- Ấy, đừng ngượng ông Blây ạ. Chúng tôi tin rằng ông đáng được thưởng công lắm. Và cũng đừng ngượng vì tôi đã gọi tên thật của ông ra trước mặt ông Mu-le. Ông ta cũng cần phải biết là mình giao tiền cho ai chứ?
  Mu-le mở cặp ra trao tiền cho tôi, trong đó có cả đồng Mác lẫn đồng Xtéc-linh. Ê-din-ghe giải thích:
  Chúng tôi đưa ông cả hai thứ tiền. Mác để tiêu, còn tiền Anh để bỏ vào két.
  Mu-le khúm núm cười hì hì.
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #21 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2016, 11:45:57 pm »

  Trong tình thế ấy nhất định không nên từ chối. Tôi cầm lấy tập giấy bạc nhét ngay vào túi với thái độ "phớt tỉnh Ăng-lê", nhưng Ê-din-ghe liền ngăn lại:
  -- Không, không nên thế. Mong ông đếm lại số tiền cho, nhất thiết phải đếm, và viết cho tờ biên lai. Trong chuyện tiền nong thì chớ nên quý phái rởm như vậy.
  Tên sĩ quan đi cùng Mu-le vội vàng trỏ cho tôi ngồi vào bàn rồi kéo cái bàn lại gần.
  Tôi đành phải làm theo lời Ê-din-ghe, đếm lại số tiền, viết giấy biên nhận, rồi đưa cho Mu-le.
  -- Xong xuôi rồi chứ?
  Không hiểu sao Ê-din-ghe không hỏi Mu-le mà lại hỏi tên sĩ quan đi theo kia. Tên này đáp:
  -- Thưa xong rồi ạ.
  Ê-din-ghe liền hất hàm báo hiệu cho cả hai đi ra ngoài. Sau đó hắn đứng dậy.
  Tôi tưởng thế là đã xong xuôi rồi, có ngờ đâu cái tên chúa huênh hoang này vẫn không nhịn được cơn nghiện của hắn. Trước khi chia tay hắn còn phun ra hàng tràng diễn văn dài dòng văn tự, lặp lại cái điệp khúc muôn thuở của bọn phát xít "Giống nòi bá chủ, tinh thần Nhật nhĩ man ¹, thanh gươm trừng phạt... "
  "Đế quốc Đức mới cần phải vâng lệnh thượng đế làm bá chủ hoàn cầu. Lưỡi cày Đức sẽ khai phá đất Nga dưới bóng thanh gươm thần của dân tộc Đức. Một công nhân Đức mạt lưu, xét về phương diện sinh vật học và theo quan điểm chủng tộc cũng còn gấp trăm lần dân Nga, Ba Lan, Lét-tô-ni và các nòi giống mọi rợ khác. Chúng sẽ được dùng làm bia đỡ đạn cho lính Đức. Dân bản xứ phải làm, làm hùng hục, làm chết bỏ. Không cần phải nuôi chúng. Chúng chỉ đáng làm phân bón mà thôi. Trong cuộc chiến tranh diệt cộng này chả cần đến tinh thần cao thượng và danh dự nhà binh. Khôn sống mống chết, mạnh được yếu thua. Không có gì là nhân đạo hết. Lưỡi gươm thần trừng trị của chúng ta sẽ làm cỏ sạch dân tộc nào dám cả gan cản bánh xe tăng, cản vó ngựa của chúng ta. Có thể ngay hôm nay, có thể trong 10 năm, có thể trong 100 năm nữa... "
  Đó chính là bản trường ca do Hít-le, Him-le và Rô-den-be sáng tác.
  Hắn ưỡn ngực ra, hoa chân múa tay tưởng chừng như mình đang đứng trước cuộc mít tinh lớn.
  Ngày hôm sau Giê-lê-nốp đến nhà tôi. Lần này anh đi thẳng qua cửa chính. Mác-ta vào báo:
  -- Có người hỏi ông, cái người mà hôm nọ đã cùng ông đi đâu đấy.
  Giê-lê-nốp mang theo giấy tờ đã được đổi tên là Vích-to Sa-ru-sin. Những giấy tờ ấy được làm chính xác và ăn khớp y như thật.
  Tôi gọi Mác-ta lên bảo là tôi đã thuê lái xe. Để dò xét thái độ phản ứng của chị, tôi nói:
  -- Anh ta sẽ ngủ ở đây. Kê cho anh ta một chiếc giường ngoài hành lang, nghe chưa?
  Sở dĩ chúng tôi chọn nơi này làm chỗ nghỉ cho Giê-lê-nốp vì ở đó có hai lối để đi ra khỏi nhà.
  Mác-ta vốn bản tính trầm ngâm, ít ăn ít nói, nhưng nay thấy có người mới đến ở chị cũng lộ vẻ vui mừng. Chị thưa:
  -- Thưa ông, cháu xin vâng lời ông. Nếu ông cho phép, cháu sẽ mang chiếc đi-văng nhỏ ở phòng khách ra cho ông Vích-to nằm.
  Tôi tò mò hỏi:
  -- Anh ta không làm gì phiền cho chị chứ?
  -- Thưa ông, trái lại thế đấy ạ. Cháu rất sung sướng được chăm nom cho một người đáng mến như vậy.
  Mác-ta đi rồi, tôi quay sang Giê-lê-nốp:
  -- Cậu làm thế nào mà khéo thu phục lòng người đến thế?
  Giê-lê-nốp cười tủm:
  -- Có lẽ chị ta đã đoán ra được ít nhiều. Chị ấy là một phụ nữ bình thường đã nếm biết bao điều cay đắng khổ nhục do quân phát xít gây nên. Nhiều người thân thích của chị bị dồn sang Đức, một người em trai bị treo cổ. Các đồng chí bạn của em chị biết rõ chị lắm và họ đã khuyên nên hỏi ý kiến chị về cử chỉ hành động của anh. Chị ta cho biết anh là một người tốt, mực thước. Chị ta quý trọng anh ở chỗ là không hề dan díu với An-cốp-xcai-a và bọn thiếu nữ thường lui tới nhà này. Hôm chúng ta bố trí chuyến đi đến căn cứ du kích thì chị nhận nhiệm vụ báo trước cho tôi biết mọi tình hình để tránh sự phục kích bất ngờ của bọn mật thám.
  Giê-lê-nốp đã làm cho tôi mở mắt. Tôi đã nhìn thấy sự thật về Mác-ta. Thế mà trước kia đã có lúc tôi dám nghi ngờ chị làm tay sai cho bọn Đức.
  Bây giờ lại phải dò xét thái độ ban đầu của An-cốp-xcai-a đối với Giê-lê-nốp.
  Ả mò đến lúc trời gần tối, đi vào phòng ăn ngồi xuống bên bàn châm thuốc hút.
  -- Có thể mừng anh đấy. Ê-din-ghe rất bằng lòng anh.
  -- Cô cũng đã biết rồi sao?
  -- Cái gì mà tôi chả biết, nhất là những việc có ít nhiều liên quan đến tôi.
  -- Tôi cũng có tin mới muốn báo cho cô biết. Tôi đã thuê một người lái xe.
  Ả sẵng giọng:
  -- Để làm gì? Thực là thừa tiền!
  Tôi phân trần:
  -- Tôi không thể lạm dụng lòng tốt của cô mãi được. Hơn nữa, anh ta đã ở đây rồi.
  -- Hắn là người thế nào?
  -- Kiều dân Nga ở Ta-lin, tên là Vích-to Sa-ru-sin.
  -- Này Béc-din ạ, anh còn nhẹ dạ tin người quá.
  Tôi nổi nóng:
  -- Cô định cường điệu sự non nớt của tôi hay sao?
  -- Nhưng anh đã xem kỹ giấy tờ của hắn chưa? Có thể cho tôi xem được chứ?
  -- Tất nhiên.
  Tôi chạy vào văn phòng lấy giấy tờ đưa cho ả. Ả chăm chú xem xét hồi lâu và lắc đầu ra vẻ phật ý:
  -- Đáng tiếc là không có chỗ nào thiếu sót cả.
  Tôi ngạc nhiên:
  -- Sao lại "đáng tiếc"?
  -- Bởi vì giấy tờ thật thường vẫn có chỗ sai lệch một tí. Những kẻ đội lốt, giả mạo thì giấy tờ của họ bao giờ cũng rất khuýp, không bẻ vào đâu được nữa.
  Trong mấy phút cả hai đều ngồi yên lặng, chợt ả thốt lên:
  -- Hay là bọn Đức sai hắn đến đây. Mà bọn du kích đỏ cũng rất có thể làm nổi việc này. Và biết đâu chính anh đã chỉ cho chúng nơi ẩn náu của mình -- Ả nhấp nháy đôi mắt tinh quái -- Này, anh Béc-din, chớ có bắt cá hai tay nhé. Lần thứ hai thì tay súng tôi không run đâu đấy.
  Tôi vẫn ung dung đáp:
  -- Cô quá giàu đức tính đa nghi nhà nghề. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng nghe lời cô khuyên, nhưng về việc này tôi xin cam đoan rằng hắn chỉ là một lái xe, không hơn không kém.
  -- Hắn đã đến đây rồi à?
  Tôi bấm chuông gọi Mác-ta:
  -- Nếu ông Víc-to còn ngoài kia thì mời ông vào.
  Liền sau đó Giê-lê-nốp đã lật đật đi vào phòng ăn, thái độ lễ phép, điềm đạm, đường hoàng.
  An-cốp-xcai-a chòng chọc ngắm anh từ đầu đến chân hồi lâu, nhưng anh không hề tỏ vẻ khó chịu, sốt ruột. Thình lình ả hỏi:
  -- Tên thật anh là gì?
  -- Thưa, Vích-to Sa-ru-sin -- Giê-lê-nốp điềm nhiên đáp.
  -- Anh từ đâu đến?
  -- Thưa, từ Ta-lin.
  Giê-lê-nốp nói tiếng Nga nhưng giọng lơ lớ tiếng nước ngoài vì anh vốn có biệt tài đóng kịch.
  An-cốp-xcai-a hạch:
  -- Tôi không vừa lòng với giấy tờ của anh.
  Giê-lê-nốp chỉ khẽ nhún vai. Ả liền cho anh lui ra, rồi bảo tôi:
  -- Chính hắn cũng chả làm cho tôi vừa ý. Những kẻ giả mạo bề ngoài vẫn có thể gây thiện cảm với mọi người.
  -- Tôi lại nghĩ khác. Cô không nghe thấy hắn nói tiếng Nga thế nào ư?  Hắn nói tiếng Anh thạo hơn nhiều, chẳng hề vấp váp.
  An-cốp-xcai-a lắc đầu nguây nguẩy:
  -- Không, không. Nếu bọn Intelligence service cần hắn giả dạng là người Nga thì hắn uốn cái giọng ấy cho mà xem không thao thao bất tuyệt hơn anh ấy à? Suy như anh đây này, anh nói tiếng Anh chả thạo là gì?
  Ả bỏ ra về và luôn hai ngày liền không bén mảng đến như muốn tỏ cho tôi biết rằng ả giận tôi vì hành vi tự tiện vừa qua.
  Trưa ngày 16,một tên Giét-ta-pô đến nhà tôi lễ phép báo tin:
  -- Quan chánh nhắc là tối nay quan lớn đợi ngài tại nhà riêng.
  Tôi liền lục cuốn sách ghi số dây nói và dựa vào đó sao ra một bản danh sách các nữ do thám của Blây. Chỉ mất độ nửa giờ tất cả.
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #22 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2016, 11:05:37 pm »

  Tối đến, Giê-lê-nốp lái xe đưa tôi đến Ê-din-ghe.
  Lão chánh mật thám sống trong một tòa lầu rộng thênh thang.
  Đứng gác bên ngoài là một tên hiến binh, tên ra mở cổng cho tôi cũng là hiến binh. Ê-din-ghe ra tận cửa đón tôi và mời vào phòng khách.
  Đồ đạc bày đầy một căn phòng rộng. Nào bàn lớn, bàn con, ghế bành, ghế đẩu, ghế tựa, đôn, đi-văng, thảm, đệm, khăn trải bàn thêu thùa sặc sỡ, lọ cổ, ấm chén bằng pha lê, thủy tinh, sứ... chắc toàn là của ăn cướp.
  Trên đi-văng ngồi chễm chệ một mụ to béo mà tôi đã có dịp trông thấy tại nhà giáo sư Grê-nhe. Ê-din-ghe dẫn tôi đến cạnh mụ:
  -- Lốt-ta, tôi xin giới thiệu với mình -- Hắn ngừng lại khoảng một giây -- hẵng tạm gọi là ông Béc-din. Chắc mình còn nhớ ông Béc-din, vì ông ta đã đến chơi bác sĩ Grê-nhe một lần.
  Mụ đon đả chào hỏi và đôi mắt lờ đờ cứ trân trân nhìn xuống chiếc bàn con đặt trước lò sưởi. Trên bàn đã sắp sẵn những chiếc tách xinh xắn, cốc, ly, bánh bích quy, bánh nướng, rượu mùi... Quanh bàn là mấy cái đôn phủ lụa mỡ gà. Ngọn đèn tỏa ánh sáng dịu dưới chiếc chao màu nâu nhạt có vẽ những hình gì lăng nhăng không rõ. Ê-din-ghe bảo vợ:
  -- Mình mời ông Béc-din dùng cà phê đi chứ?
  Mụ ta ngượng nghịu cười:
  -- Ông Béc-din...
  Chúng tôi ngồi vào bàn. Tên lính SS mở cổng cho tôi khi nãy  bây giờ giữ chân bồi bàn, mang vào một phích cà phê bốc khói nghi ngút. Vợ Ê-din-ghe nhanh nhảu rót cà phê vào các tách, còn hắn thì rót rượu mùi cho tôi và hắn.
  -- Xin nâng cốc.
  Ê-din-ghe nhìn vợ bằng một cái nhìn kẻ cả:
  -- Lốt-ta! Sao mình không mời ông Béc-din xem vật quý của chúng ta đi?
  Lốt-ta liền đưa mắt về phía chiếc chao đèn và ngoan ngoãn nói:
  -- Theo cho đúng mốt cũng thật là vất vả. Tôi phải chạy vạy mãi mới xoay được chiếc chao đèn này đấy.
  Tôi liếc qua chiếc chao đèn một cái để chiều ý chủ nhân chứ cũng chả thấy nó có gì là đặc biệt cả, nhưng Ê-din-ghe phu nhân thì có vẻ tưởng rằng tôi tỏ ý thán phục lắm. Mụ cười khìn khịt:
  -- Giá mà ông biết nó đáng giá đến thế nào! Ai cũng ước ao có được những chiếc chao đèn lịch sự như vậy. Tôi đã phải đánh đổi cả một bộ đồ trà quý nhất mang từ bên Pháp về...
  Vợ tên chánh mật thám nói rặt những chuyện xã giao kiểu cách, còn tôi thì chỉ ngồi nghe theo phép lịch sự.
  Tôi từ chối tách cà phê thứ hai của chủ nhân:
  -- Thưa quan chánh, tôi không quen uống nhiều cà phê ban đêm.
  -- Thế thì chúng ta bắt đầu vào công việc vậy -- Ê-din-ghe gật đầu ra hiệu cho vợ -- Lốt-ta, mình có thể vào phòng ngủ được rồi.
  Tôi nghiêng mình chào mụ.
  Khi vợ đã ra đi, Ê-din-ghe bảo tôi:
  -- Ông Blây, trao cho tôi bọn tay chân của ông đi. Tôi sốt ruột lắm rồi.
  Tôi giơ ngay bản danh sách ra. Hắn vồ lấy tờ giấy, liếc nhìn qua và tôi thấy sắc mặt hắn đỏ gay như mào gà, hai hàng ria mép khẽ động đậy. Hắn nghiến răng ném mảnh giấy xuống bàn hỏi tôi:
  -- Cái gì đây? Thế này là cái quái gì?
  Tôi đáp lại bằng giọng tự hào:
  -- Bọn thủ hạ của tôi chứ còn cái gì nữa. Tôi có tai mắt ở khắp các tiệm cà phê, cửa hiệu, phòng cắt tóc... Bản danh sách này ghi rõ những ai ở đâu, làm gì...
  Nhưng hắn không thèm nghe nữa. Hắn rít lên:
  -- Ông chế diễu tôi đấy phỏng? Tôi cần bọn nhãi ranh này làm cái quái gì? Chúng tôi đã bỏ chúng vào túi từ lâu rồi. Chúng làm việc cho ông, cho chúng tôi, cho tất cả những ai muốn. Ông cho tôi là thằng ngốc hay sao? Tôi muốn lưới do thám thực thụ của ông kia!
  Đúng là hắn muốn moi lưới gián điệp mà Prô-nin đã nói với tôi, nhưng ngoài bọn thiếu nữ này thì tôi còn biết ai nữa đâu. Tôi buồn rầu đáp:
  -- Thưa quan chánh...
  Ê-din-ghe gầm lên:
  -- Đừng giở trò nỡm ra đây nữa. Ông cố giấu bọn tay chân, giấu điện đài, định xỏ chúng tôi và tưởng là mưu gian sẽ trót lọt. Này đại úy Blây! Một là ông hạ khí giới, hai là để chúng tôi lột da ông ra để làm chao đèn.
  Con thú dữ đã giận sùi bọt mép nhưng tôi vẫn cứng cỏi đáp:
  -- Thưa quan chánh, ngài chả cần phải dọa tôi làm gì. Dù sao tôi vẫn là một sĩ quan Anh quốc, vốn chỉ biết sợ thượng đế và đức nữ hoàng thôi...
  Ê-din-ghe yên lặng giây lát, hau háu nhìn tôi bằng đôi mắt cú vọ rồi chợt phá lên cười:
  -- Ha ha! Đức nữ hoàng của ông chắc cũng thú vị lắm nếu được trông thấy cái này -- Hắn thọc tay vào túi áo và quẳng ra bàn một mớ ảnh rồi dằn từng tiếng -- Ông ngắm xem! Đức nữ hoàng cũng phải giương mắt ếch ra mà ngắm!
  Tôi nhặt mấy tấm ảnh lên xem. Nói đúng ra đó chỉ là một kiểu ảnh, trong đó có hình tôi đang ngồi bên bàn giấy của Ê-din-ghe đếm bạc, Ê-din-ghe đứng sau lưng. Tôi choáng váng người, hiểu ngay ý nghĩa thâm độc của mấy chiếc ảnh đó. Một sợi dây hết sức chắc chắn để trói buộc, hãm hại những ai không chịu vâng lời. Thì ra tên sĩ quan đi theo Mu-le hôm nọ cốt để thi hành quỷ kế này đây. Nếu cơ quan Intelligence service mà nắm được bức ảnh đó thì ôi thôi: đại úy Blây đã đến ngày tận số! Ê-din-ghe cười mát:
  -- Còn cần phải làm gì nữa để thu ngài vào chiếc hồ lô của chúng tôi?
  Tôi cúi đầu đứng lặng hồi lâu, sau mới ngước mắt lên cất cái giọng rõ não nùng như giọng hoàng tử Hăm-lét:
  -- Vâng thưa ngài, tôi đã thua ván cờ này, tôi đã mắc bẫy. Nhưng tôi cũng biết rằng mình nên làm gì bây giờ. Một viên đạn vào trán, đó là con đường duy nhất của người sĩ quan sa cơ thất thế như tôi. Mong ngài sẽ rộng lượng cho tôi sống nốt đêm nay nữa để kịp viết vài dòng tuyệt mệnh cho bạn bè thân thích...
  Thế mà cái giọng bi ai, phường chèo ấy lại xúc động đến can tràng của tên Giét-ta-pô lang sói...
  Ê-din-ghe hốt hoảng, sợ tôi tính nước liều, vội vàng đổi giận làm lành:
  -- Thôi được, ông Blây ạ. Lần này tôi tha cho ông về cái tội đùa cợt. Nhưng nhớ là đừng đùa dai lần nữa nhé. Nếu muốn ngắm trăng thì phải chỉ cho tôi những ngôi sao của mình.
  Tôi ủ rũ đáp:
  -- Thưa quan chánh, rồi ngài sẽ thấy. Nhưng ngài cần hiểu rằng không phải chỉ có việc đi đếm đầu từng đứa rồi trao từ tay chủ này sang chủ khác một cách đơn giản đâu. Phải kiểm tra, xem xét, chuẩn bị, báo tin cho chúng. Có thế chúng mới mang lại lợi ích cho ngài. Mỗi một đứa đều có cá tính riêng của chúng chứ. Người khác không thể bán chúng được, mà nên để chúng tự bán mình thì hơn.
  -- Được, được lắm ông Blây ạ. Chúng tôi tin và chờ ông, nhưng chỉ nhắc ông nên vứt bỏ cái lối nhạo đời kiểu Ăng-lê đó đi và chớ coi chúng tôi là trẻ con.
  Lợi dụng cuộc rút lui của Ê-din-ghe tôi liền vòi vĩnh:
  -- Thưa quan chánh, ngược lại, tôi sẽ xin hết sức thành thực với ngài và còn mong ngài giúp đỡ một tay nữa là khác. Tôi cũng chưa quen biết hết bọn thủ hạ của mình, có một số do viên sĩ quan Anh trước đây giao lại cho tôi. Do đó mà tôi cần phải thân hành đi kiểm tra, thử thách chúng... và cần phải có một lái xe làm được việc.
  Ê-din-ghe tươi cười:
  -- Chúng tôi sẽ thuê...
  -- Không dám, xin cám ơn ngài. Tôi đã thuê được rồi. Bây giờ chỉ xin ngài vui lòng cấp cho hắn các giấy tờ cần thiết.
  -- Hắn là người thế nào đã?
  -- Kiều dân ở Lét-tô-ni tên là Vích-to Sa-ru-sin...
  -- Người Nga à? -- Ê-din-ghe hỏi có vẻ ngờ vực.
  Tôi giả vờ làm bộ như bất đắc dĩ phải khai sự thực:
  -- Vâng, tôi xin thưa thật với ngài. Hắn chính là một trong những tên do thám của tôi mà ngài đang cần. Hắn giữ chân liên lạc và nếu được ở gần tôi thì sẽ làm được nhiều việc lắm.
  Ê-din-ghe hấp tấp hỏi dồn:
  -- Giòng dõi Ăng-lê hay sao?
  -- Vâng, đúng như vậy. Nhưng tôi không muốn rằng...
  Ê-din-ghe vui vẻ gật đầu:
  -- Tôi hiểu ý ông. Trong trường hợp này thì tôi rất sẵn lòng.
  Hắn hứa ngay ngày mai sẽ ra lệnh cấp giấy tờ cho người lái xe của tôi rồi hai bên chia tay nhau, rất hài lòng.
  Ngày hôm sau tôi kể lại cuộc hội kiến cho An-cốp-xcai-a nghe. Ả chăm chú theo dõi từ những chi tiết hết sức vụn vặt. Trong khi kể chuyện tôi không quên mỉa mai bình phẩm thói khoe của, đài các rởm của hai vợ chồng tên chánh mật thám, nhất là cái mụ béo phị ấy.
  -- Thật là một điển hình kiểu tư sản thối nát, xa hoa đài các rởm...
  An-cốp-xcai-a liền phản đối:
  -- Chớ nói thế! Một chiếc chao đèn bao nhiêu tiền của!
  Tôi khó chịu hỏi vặn:
  -- Cái chao đèn ấy có gì là lạ? Cũng như trăm ngàn cái khác, mặc dầu bà Ê-din-ghe cứ dài môi ra mà khoe khoang.
  -- Anh ngốc lắm! Nó làm bằng da người kia đấy! Thứ đó người ta sản xuất trong các trại tập trung. Vì vậy mà hiện nay ở Đức những nữ chuyên viên nổi tiếng của các công ty mỹ nghệ đang đua nhau nghĩ ra các kiểu chao đèn lịch sự nhất.
  Tôi ngây người ra chưa tin hẳn. An-cốp-xcai-a nhắc lại:
  -- Phải rồi, đúng đấy. Nếu giấy thấm và chao đèn làm bằng da người có hình xăm trên đó, thì sẽ đắt vô giá.
  Lúc ấy tôi mới rợn cả người..., và cảm thấy lợm giọng khi nghĩ đến tách cà phê đêm qua trong phòng khách hào nhoáng lộng lẫy nhà Ê-din-ghe. Nhưng An-cốp-xcai-a thì đã quên ngay câu chuyện chiếc chao đèn và hỏi sang công việc thường ngày. Ả tỏ vẻ không vừa lòng với việc Ê-din-ghe nhận lời cấp giấy thông hành cho Vích-to. Hình như ả nghi chính Ê-din-ghe đã bí mật cài Vích-to đến để rình mò tôi. Việc Ê-din-ghe đòi nắm lưới gián điệp của Intelligence service khiến cho ả nghĩ ngợi nhiều. Ả đăm chiêu gật gù:
  -- Hắn lại định theo gót Blây trước kia đây. Hắn muốn chiếm đoạt những cái mà thượng đế không dành riêng cho hắn. Được, rồi hắn sẽ chui vào chiếc thòng lọng như Blây...
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #23 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2016, 11:08:03 pm »

  
10. NƯỚC ANH PHẢI BÁ CHỦ HOÀN CẦU!

  Mới nhìn qua tưởng Ri-ga không có gì khác trước: phố xá vẫn tấp nập xe cộ và khách qua đường, các hiệu buôn vẫn tíu tít kẻ mua người bán...
  Nhưng Ri-ga ngày nay là của bọn Đức. Chỗ nào cũng nhan nhản bọn lính mang chữ thập ngoặc. Chúng nghênh ngang ngoài phố, cười đùa ầm ĩ trong các tiệm ăn, các quán giải khát.
  Ri-ga đang sống trong không khí ngột ngạt khủng khiếp. Hầu hết nam nữ thanh niên Lét-tô-ni đều bị dồn sang trại tập trung ở Đức. Tất cả những ai bị tình nghi có cảm tình với cộng sản đều bị khủng bố tàn sát. Hàng vạn người Do thái đã bị thiêu sống, bắn, chém và bây giờ bọn Giét-ta-pô đang tiếp tục vây lùng những người sống sót. Các đảng viên cộng sản thì bị treo cổ. Nhưng lớp này gục xuống, lớp khác lại hiện ra, hình như họ là những người bất tử. Nhà máy vẫn bị phá hủy. Từng đoàn xe lửa chở lính Đức vẫn bị đổ. Báo chí bí mật vẫn được chuyền tay nhau trong dân chúng. Máy bay của Đức ở phi trường vẫn bị bốc cháy. Bọn sĩ quan không dám thò mặt ra phố đêm khuya.
  Nhìn bề ngoài, đời sống của Ri-ga tưởng chừng như êm đềm lắm, nhưng thực ra trong lòng nó đang sôi sục một cuộc đấu tranh sống mái, đẫm máu, đẫm nước mắt, đầy đau khổ và hi vọng.
  Thế mà riêng tôi vẫn kéo dài chuỗi ngày tháng lê thê, an nhàn, vô vị. Lần đầu tiên từ thuở  lọt lòng mẹ đến nay tôi mới phải sống cảnh này là một.
  Trong lúc đó ngay cạnh tôi, Giê-lê-nốp bận túi bụi: vừa vùi đầu vào công tác bí mật vừa phải làm tròn nhiệm vụ lái xe cho tôi. Không đêm nào anh có mặt ở nhà cả và có khi lại đi vắng luôn mấy ngày liền. Tuy bản thân tôi và gian nhà này đều bị sở cảnh sát và cơ quan Giét-ta-pô kiểm soát gắt gao, vậy mà Giê-lê-nốp vẫn ngang nhiên đi sớm về khuya, lọt qua mọi cặp mắt diều hâu của chúng.
  Không tiện kể ra đây những hoạt động của Prô-nin nhưng chắc rằng anh còn phải làm nhiều hơn Giê-lê-nốp nữa.
  Còn tôi thì sáng nào cũng dậy rõ muộn, uống cà phê điểm tâm rồi trò chuyện cùng với An-cốp-xcai-a và bát phố... Nếu không có các "nàng thiên nga" thỉnh thoảng ghé qua thăm thì có lẽ tôi chẳng còn việc gì khác ngoài ăn, ngủ và chờ đợi... chờ đợi hoài.
  Trong những ngày khắc khoải ấy, tình bạn thắm thiết với Giê-lê-nốp là tia nắng sưởi ấm lòng tôi. Hai đứa thường tâm tình về đời tư. Anh vốn quen biết với Prô-nin từ thuở nhỏ. Qua lời kể lại của anh tôi mới biết rõ việc Prô-nin chui vào hàng ngũ quân Đức.
  Prô-nin tự tay thảo ra "kế hoạch phản bội" này. Anh ta đến một đơn vị ở tuyến lửa đợi cơ hội và đổi tên là Gát-ca. Việc này hết sức bí mật. Ngoài anh ra chỉ có trung đoàn trưởng và đại đội trưởng biết mà thôi. Thế rồi thời cơ đã đến...
  Hôm ấy một quả đại bác rơi trúng hầm ban tham mưu đã giết chết tham mưu trưởng trung đoàn. Liền đó Prô-nin nhận được lệnh lên đường, đồng thời tin Prô-nin ám sát tham mưu trưởng và lấy cắp tài liệu mật sang hàng địch cũng lan đi nhanh khắp các đơn vị Hồng quân.
  Đồng chí cục trưởng quân báo quân đoàn ra tận nơi tiễn đưa "kẻ đầu hàng".
  Lợi dụng khi tiếng súng tạm ngừng trong chốc lát, cục trưởng quân báo cùng Prô-nin vượt ra khỏi vị trí của đại đội. Cả hai nấp sau rặng đỗ tùng. Lần cuối cùng, Prô-nin đưa mắt ước lượng cự ly rồi quay lại bắt tay thủ trưởng. Anh nhô ra khỏi bụi cây vừa đúng lúc lưới lửa của quân Đức lại quét sang. Một viên đạn hất anh ngã ngửa xuống.
  -- Đồng chí bị thương? -- Cục trưởng quân báo lo lắng hỏi.
  -- Vâng, hình như dưới xương khóa.
  -- Thôi, để tôi dìu đồng chí về bệnh xá. Tạm hoãn việc này lại vậy.
  -- Không được, dù sao vẫn cứ phải tiến hành.
  -- Còn vết thương?
  -- Có thể vì nó mà công tác của tôi thêm phần thuận lợi.
  -- Nhưng sợ vết thương sâu quá...
  -- Không hề gì. Đã là quân báo viên thì phải biết lợi dụng thời cơ chứ.
  Nhăn mặt vì đau đớn, Prô-nin thu toàn lực gượng đứng lên và lao sang phía địch.
  Quân ta liền nã súng vào "tên phản gội" kia. Cố nhiên là đạn đầu giấy. Bọn Đức đã đoán ra sự tình và ngừng bắn tức khắc. Sức vừa kiệt thì Prô-nin vừa ngã gục trước tiền duyên trận địa địch, ngực bê bết máu...
  Tấn kịch khéo léo của anh khiến tôi cũng phải nhầm và suýt nữa thì người diễn viên có tài đã bỏ mạng vì tay tôi.
  Suốt mùa đông tôi và Prô-nin gặp nhau chỉ có một lần.
  Càng ngày Ê-din-ghe càng thúc giục tôi giao nộp bọn thủ hạ cấp bách hơn. Hắn đặt rất nhiều hi vọng vào tôi nên đối với tôi hắn hết sức rộng lượng.
  Một buổi tối hắn mời tôi đến nhà riêng và nghiêm nét mặt bảo rằng:
  -- Ông Blây yêu quý, ông đã lợi dụng lòng khoan dung của chúng tôi nhiều quá. Chúng tôi không thể chờ đợi được nữa. Tôi biết rằng ông cần phải chuẩn bị, xem xét, kiểm tra lại bọn tay chân của mình, vả lại điệp viên không phải là những quả bóng để chúng ta chuyền tay nhau một cách dễ dàng. Nhưng chúng tôi cần phải trực tiếp kiểm soát việc liên lạc của ông với Luân Đôn ngay từ bây giờ. Vì vậy ông phải chỉ điện đài cho chúng tôi. Đến thứ tư... à thứ năm này, một là ông giao nộp điện đài, hai là mời ông dời gót ngọc về trại tập trung ở Béc-lin, không lôi thôi gì nữa.
  Tôi về thuật lại với Giê-lê-nốp. Anh tức tốc ra đi, hôm sau anh báo rằng Prô-nin hẹn gặp tôi ở rạp chiếu bóng Xplăng-đi-dơ.
  Đúng hẹn, tôi đến rạp lấy vé xem buổi thứ hai, số ghế 20 bên phải. Vào lúc ấy bao giờ cũng vắng người vì theo điều lệnh của bọn Đức thì quá 10 giờ muốn đi lại trong thành phố phải có giấy phép đặc biệt.
  Đèn tắt. Cuốn phim bắt đầu. Khoảng 20 phút sau, một bóng đen đến ngồi cạnh tôi thì thầm:
  -- Chào cậu.
  Prô-nin nắm chặt lấy tay tôi.
  -- Tên Ê-din-ghe lại giở quẻ đòi điện đài phỏng?
  Tôi thuật lại rõ đầu đuôi câu chuyện hôm qua. Prô-nin kéo dài giọng:
  -- Ừ... ừ thì mình cũng đoán trước được tình hình như thế... Giờ thì cậu tìm cách trì hoãn càng lâu càng tốt và cứ yên tâm mà đợi, chứ đừng vội bỏ cuộc đấy nhé.
  -- Sao? Anh định giam chân tôi trong vòng tù hãm này đến bao giờ? Anh không nghe tiếng súng ngày đêm đang dồn dập quanh đây hay sao?
  -- Hãy bình tĩnh. Vở kịch của cậu cũng sắp hạ màn đến nơi rồi... Cậu hỏi vì sao phải chờ đợi? Cậu chớ quên rằng kiên nhẫn là một trong những đức tính không thể thiếu được của người tình báo, dù có khi phải sống trong những nghịch cảnh éo le. Chỉ có trên màn ảnh và tiểu thuyết mới có những hạng tình báo xốc nổi, khuấy nước chọc trời, sống cuộc đời nay đây mai đó. Nhưng trong thực tế, người tình báo phải kiên nhẫn, khắc khổ, có khi nằm không mà chờ đợi hàng bao nhiêu năm trời để khám phá ra chỉ một điều bí mật thôi.
  -- Chờ, nhưng liệu xem có được cơm cháo gì không?
  -- Có thể không được việc gì, nhưng cậu cứ phải chờ. Đó là mệnh lệnh của trên và là nhiệm vụ của cậu. Cậu cứ tiếp tục đóng vai Blây đi cho thật khéo vào. Nhớ lục lọi từng kẽ ván, từng góc nhà, nghiên cứu từng quyển, từng trang sách của Blây để lại, vì những thứ ấy có thể giúp ta rất nhiều. Hôm nay tớ chỉ muốn nói với cậu vậy thôi. Rồi đây có ngày chiếc chìa khóa để mở mọi bí mật này sẽ về tay ta. Biết đâu 364 ngày qua đất trời vẫn mù mịt âm u, mà ngày cuối cùng nắng lại bừng lên.
  Prô-nin bắt tay tôi lần nữa:
  -- Cốmà kiên nhẫn hơn nữa vì chắc cậu cũng biết rằng cậu đang ngồi trên đống lửa đấy. Nhưng dù sao vẫn phải tìm mọi cách để nấn ná. Địa vị của cậu có thể mang lại nhiều thuận lợi cho cuộc chiến đấu của quân ta. Thôi, cậu về đi. Ngày mai Giê-lê-nốp sẽ truyền lệnh mới cho. Chúc cậu ngon giấc!
  Prô-nin đứng lên biến ngay vào bóng tối.
  Đây là cuộc gặp gỡ lần thứ hai giữa tôi và anh trong mùa đông ấy. Tuy rất ít khi gặp mặt anh mà tôi có cảm tưởng là lúc nào anh cũng bên cạnh tôi. Trong mọi trường hợp cần thiết, mọi hoàn cảnh đặc biệt tôi đều có thể gặp anh xin ý kiến để giữ vững lòng tin.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười, 2016, 11:13:04 pm gửi bởi namvinh789 » Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #24 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2016, 08:19:55 pm »

  Hôm sau Giê-lê-nốp cho tôi biết là sẽ có điện đài nộp cho bọn Đức, nhưng phải thoái thác thêm một tuần lễ nữa. Tôi báo ngay tin ấy cho Ê-din-ghe bằng điện thoại:
  -- Thưa quan chánh, sắp có điện đài nộp cho ngài rồi đấy ạ. Nhưng ngay bây giờ tôi không thể rời Ri-ga được, xin ngài thư thả cho một tuần nữa.
  -- Cũng được, xin tùy ý ông! -- Hắn sẵng giọng -- Nhưng nên nhớ cho đây là lần cuối cùng và tôi không thể chờ đợi thêm, dù chỉ một ngày thôi.
  Tôi truyền tin đó cho Giê-lê-nốp. Anh thở dài khoan khoái:
  -- Đừng lo, Prô-nin không chơi khăm anh đâu.
  Quả thật bốn hôm sau, kể từ ngày tôi gặp Prô-nin. Giê-lê-nốp đi về xoa tay thú vị báo tin:
  -- Ổn lắm, có điện đài rồi. Chủ nhật tôi với anh thân chinh đến xem qua một tí và thứ tư thì anh đưa Ê-din-ghe đi giao cho hắn.
  Chủ nhật...
  Hôm ấy trời u ám, sương mù trắng xóa phủ lên mọi cảnh vật, gió lạnh từ biển khơi hiu hắt thổi vào.
  Chúng tôi đánh xe theo con đường vắng vẻ dọc bờ biển. Những ngôi nhà nghỉ mát vô chủ đứng co ro hai bên đường. Tôi nói:
  -- Hình như chúng nó vẫn theo dõi mình đấy, Giê-lê-nốp ạ. Thằng cáo già lúc nào cũng muốn quấy rối.
  -- Hẳn rồi. Hắn rất quỷ quyệt, luôn luôn vờ không để ý gì nhưng anh nên nhớ rằng hắn chỉ sợ hôm nay chúng mình không xóa sạch được vết chân dẫn tới điện đài thôi.
  -- Nghĩa là chúng nó đang rình mò chúng ta.
  -- Còn phải hỏi gì nữa. Nhưng cứ mặc xác chúng nó. Để cho bọn giặc mũi khoằm mừng thầm với nhau là đã tóm được râu một phái viên gián điệp Ăng-lê.
  Ô tô đỗ lại trước một biệt thự nhỏ, hiu quạnh. Vừa bước ra khỏi xe, tôi thấy một bóng gì thấp thoáng trong sương cách đấy khá xa. Giê-lê-nốp điềm nhiên đẩy cổng.
  -- Vào đi, và phải nhớ kỹ mọi đường ngang lối tắt, làm thế nào cho Ê-din-ghe tưởng là anh thông thuộc chỗ này từ lâu.
  Đến hành lang, Giê-lê-nốp móc trong túi ra một chùm chìa khóa lần lượt mở cửa ngoài, cửa trong và bước vào phòng. Bàn ghế, đồ đạc ở đây hãy còn ngăn nắp nguyên vẹn. Có lẽ chủ nhà mới tản cư được ít lâu.
  Chúng tôi đi thẳng xuống bếp và chui vào một cái hầm tối om. Giê-lê-nốp bật đèn lên, đoạn rán sức đẩy ngã thùng rượu vang to tướng cạnh tường. Một cửa ngách lộ ra. Chúng tôi nghiêng mình lách sang phòng bên. Điện đài đặt trên chiếc hòm gỗ ghép xù xì. Tôi hỏi:
  -- Thế ăng-ten ở đâu cậu?
  -- Anh không nhìn thấy con gà bằng sắt trên mái nhà à?
  -- Vậy mà bọn Đức lâu nay vẫn không mò ra ư?
  -- Mò thế quái nào được. Con gà mới nhảy lên đó hôm qua thôi. Nghe đây này. Anh có thể nói chuyện với "thủ trưởng" của anh mỗi tháng 2 lần vào ngày 14 và ngày 28, từ 14 đến 15 giờ, làn sóng 11 và 06. Mật khẩu gọi là "Nước Anh",  và mật khẩu đáp là "Phải làm bá chủ hoàn cầu". Anh biết quốc ca Anh chứ? "Nước Anh phải làm bá chủ hoàn cầu!" nhưng nhớ đừng bê cả câu vào nhé. Prô-nin dặn rằng càng gọn chúng nó càng tin. Đài này không liên lạc với Luân Đôn mà phải qua trạm Xtốc-khôm.
  -- Nếu chúng nó hỏi mật mã?
  -- Sẽ có, trong ba ngày liền anh phải học thật thuộc tất cả mật mã.
  Chúng tôi quay ra. Giê-lê-nốp móc trong túi ra một chiếc máy phun nhỏ xíu, cứ qua mỗi cửa anh bơm xuống mặt đất một lớp bột mỏng. Tôi ngạc nhiên:
  -- Cậu làm gì thế?
  -- Bơm bột xi măng để lần sau đến anh có thể biết ngay được có kẻ nào bén mảng vào đây sau chúng mình không.
  Bốn bề vẫn lặng ngắt. Về mùa đông, ở các khu nghỉ mát vẫn có cái quang cảnh buồn tẻ như thế này.
  Chúng tôi ngồi lên xe. Cái bóng lởn vởn đằng xa lúc nãy, giờ đã tiến gần tới chỗ chúng tôi. Giê-lê-nốp thản nhiên cho xe đâm sầm vào bóng đó khiến hắn hốt hoảng nhảy vội sang bên vệ đường. Xe chạy nhanh, sương mù lại dày đặc nên tôi không nom rõ mặt hắn.
  Sáng thứ hai, tôi gọi điện đến sở mật thám:
  -- Có phải quan chánh đấy không ạ? Béc-din đây. Thứ tư ngài có thể dạo chơi ra ngoại ô với tôi không?
  -- Thứ tư hay thứ năm? -- Không hiểu tại sao hắn hỏi vặn lại như vậy.
  -- Theo tôi thì thứ tư tiện hơn.
  -- Tốt lắm, thứ tư cũng được.
  Sáng thứ tư tôi đưa Ê-din-ghe đi xem điện đài. Thật là một chuyến du lịch "Tiền hô hậu hét". Dẫn đầu là hai tên "mặt sắt đen sì" ngồi trên hai chiếc mô tô chiến đấu, kế đến chiếc xe hòm bóng lộn của Ê-din-ghe trong ấy có hắn, tôi, một kỹ sư vô tuyến điện và một điệp báo viên người Đức, sau cùng là chiếc cam nhông đầy ắp lính hộ vệ, súng lắp lưỡi lê sáng loáng.
  Hôm nay, Ê-din-ghe ra vẻ dương dương tự đắc lắm. Suốt dọc đường hắn ngồi bệ vệ ngả người về phía sau, mắt lim dim. Khi đến gần biệt thự hắn mới quay sang bảo tôi:
  -- Ông Blây, ông miễn phải chỉ cho tôi chỗ đặt điện đài nhé.
  Con chó già này muốn trộ tôi đây. Hắn chỉ vào ngôi nhà có con gà bằng sắt trên mái:
  -- Ở đây chứ gì?
  Hắn đắc ý cười hô hố rồi không quên huênh hoang:
  -- Thấy chưa ông Blây? Trên đời này có cái gì qua mắt chúng tôi được. Đấy là tôi muốn thử xem lòng thành thật của ông đến mức nào đó thôi -- Hắn tiến lại gần cổng, bảo tôi vào trước -- Giờ thì mời ông hướng dẫn cho.
  Tôi mở cửa và liếc nhìn xuống nền nhà: không có một vết chân mà lớp bột xi măng cũng chẳng còn. Nhất định là sau khi tôi và Giê-lê-nốp đến đây đã có kẻ nào mò vào và trước khi ra về nó đã lau sạch các dấu vết.
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #25 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2016, 11:20:17 pm »

  Tôi đưa chúng xuống hầm, xô đổ thùng rượu, rồi dẫn cả bọn chui sang căn buồng nhỏ. Đến trước hòm gỗ, tôi khẽ nghiêng đầu về phía Ê-din-ghe:
  -- Xin mời ngài.
  Hắn dõng dạc truyền lệnh:
  -- Ông Xtra-út, kiểm tra xem.
  Tên kỹ sư với lấy cái vặn vít trên tay người hiệu thính viên, cúi xuống tháo tung ra vài bộ phận, xem xét rất tỉ mỉ. Tên này tỏ ra thạo nghề lắm.
  -- Thưa quan chánh, đúng "mác" Ăng-lê đấy ạ.
  -- Được lắm -- Hắn quay sang hỏi tôi -- Lịch liên lạc của các ông như thế nào?
  -- Một tháng hai lần vào ngày 14 và 28, từ 14 đến 15 giờ, làn sóng 11 và 06.
  -- Ồ, ông Blây, ông rõ tinh ranh!  Bây giờ tôi mới hiểu vì sao thứ tư lại tiện hơn thứ năm. Hôm nay đúng ngày 14 -- Ê-din-ghe nhìn đồng hồ rồi gọi tên hiệu thính viên -- Pôn! À, còn mật khẩu gọi là gì ông Béc-din nhỉ?
  -- "Nước Anh".
  -- Mật khẩu đáp?
  -- "Phải làm bá chủ hoàn cầu".
  -- Tốt lắm. Cảm ơn ông.
  Giây phút chờ đợi nặng nề trôi qua. Tên hiệu thính viên bắt đầu làm việc.
  Mặc dù tôi biết chắc hôm đó là ngày liên lạc đã quy định của hai đài nhưng trống ngực cứ nện thình thịch. Chỉ khi nghe thấy tiếng trả lời của đài bên kia tôi mới thở phào nhẹ nhõm...
  Ê-din-ghe hách dịch chỉ tay vào máy và bảo:
  -- Mời ông nói chuyện cho!
  Tôi bắt đầu báo cáo công tác đã làm, tình hình Ri-ga, những vấn đề linh tinh và trách móc bọn Đức...
  Tên chánh mật thám và bè lũ tay chân nhìn tôi chăm chú và dỏng tai lên không bỏ sót lời nào. Tôi vừa nói xong, Ê-din-ghe hỏi:
  -- Luân Đôn trả lời đấy à?
  -- Không. Thiếu tá Ha-véc-gam phái viên Intelligence service đóng tại Xtốc-khôm. Muốn liên lạc với Luân Đôn cần phải qua ông ta.
  Ê-din-ghe không ngớt lời khen ngợi tôi. Về đến Ri-ga hắn đòi tôi phải cho mật mã. Tôi chép ngay cho hắn hầu hết bản mật mã đã thuộc lòng.
  -- Ông Blây khá lắm. Từ nay tôi sẽ liên lạc trực tiếp với thiếu tá Ha-véc-gam. Giờ nói đến lưới điệp viên. Nếu việc này được tốt như việc vừa rồi thì trên ngực ông chắc chắn sẽ lấp lánh chiếc huân chương chữ thập sắt.
  Tôi nhủ thầm: "Chữ thập sắt hay là một viên đạn đồng vào sau gáy?!! "
  -- Giao lại cho ngài cả một lưới điệp viên như thế rất là khó khăn, nhưng tôi xin cố gắng.
  "Món quà" trên đã làm cho Ê-din-ghe rất hài lòng nên nhiệm vụ này dù có kéo dài thêm một thời gian hắn cũng lờ đi.
  Sau ngày nhận điện đài, Ê-din-ghe không kêu ca nữa và tôi cũng chẳng biết hắn nói những gì với tên Ha-véc-gam. Tôi chỉ để hết tâm trí lo khám phá màng lưới tay sai bí mật kia, nhưng mỗi bước đi của tôi đều bị bọn Giét-ta-pô bám sát. Còn An-cốp-xcai-a vẫn như trước. Quan hệ phức tạp giữa ả và tôi không làm sao hiểu được.
  Có thể là ả rất tốt đối với tôi: săn sóc về mọi mặt, dạy cho từ cách đối xử với bọn Đức, tạo mọi điều kiện cho tôi được gần gũi với Ê-din-ghe và Grê-nhe, nhất là lúc nào cũng cố che đậy cái tung tích Blây giả của tôi.
  Qua bao nhiêu ngày điều tra, tôi vẫn chưa rõ được những hoạt động và bí mật về cái chết của Blây. Do đó càng không hiểu sự liên quan giữa ả với Blây. Cả đến sự giao thiệp quá thân mật của ả với Grê-nhe cũng làm tôi thắc mắc. Vì tên này không phải là một nhà bác học đơn thuần. Ngoài nghề y học, hình như hắn còn hoạt động cho một mục đích chính trị to lớn... Hắn rất thân cận với Hít-le, Him-le, Rô-den-be và xem ra có uy thế lắm. Grê-nhe rời Béc-lin sang Ri-ga không phải là việc ngẫu nhiên. Ở đây hắn chiếm một tòa nhà lớn, lại còn được dành riêng một biệt thự lộng lẫy ở gần biển. Trong biệt thự đó hắn nuôi các em bé Lét-tô-ni mồ côi mà hắn xin ở các trại tập trung trước khi bố mẹ các em bị bọn phát xít đưa sang lò sát sinh. Vì vậy hắn được tiếng là nhân đạo (!)...
  An-cốp-xcai-a trọ ở khách sạn. Gian phòng của ả rất ít đồ đạc, bày biện cẩu thả, tạm bợ. Mới nhìn qua có thể tưởng ả chỉ là một nghệ sĩ nghèo. Thường mỗi lần đến đây tôi đều thấy một người lạ mặt nước da ngăm ngăm đứng thập thò ngoài cửa phòng. Hỏi thì ả chỉ nói mập mờ:
  -- Hắn che chở cho tôi.
  Bố An-cốp-xcai-a là người Ba Lan. Lão đã tốt nghiệp ban triết học trường đại học Cra-cốp-xki. Sau đó lão dạy học ở Vác-sa-va, rồi chuyển sang viết văn, làm chính trị và trở thành nhà ngoại giao. Mẹ An-cốp-xcai-a chết sớm. Cô bé mồ côi mẹ từ thuở lên năm đó đã theo bố đi hầu khắp các nước châu Âu. Về sau lão này đã bán bí mật quốc gia cho một cơ quan ngoại quốc nào đó, hình như cho Anh thì phải, vì lúc bấy giờ đế quốc Anh đang lăm le nhòm ngó Ba Lan. Về sau lão ta chết một cách kỳ lạ... Năm ấy An-cốpxcai-a vừa đầy 18 tuổi. Cuộc sống trở nên bơ vơ, thiếu thốn.
  Theo lời các ông bạn ngoại quốc, ả liền trở về nước. Họ giúp đỡ ả về vật chất, còn ả thì cung cấp cho họ những tin tức cần thiết. Ả sống một đời phóng đãng, luôn luôn tìm cách gần gũi với những ai có thể khai thác được những điều có lợi cho các ông bạn ngoại quốc. Năm 1939, khi quân Đức chiếm Ba Lan, ả chạy sang Luân Đôn. Năm 1940 được bọn Intelligence service phái đến Ri-ga giúp Blây...
  Không bao giờ ả muốn kể lại cuộc đời bí hiểm của mình, nhưng tôi đã lợi dụng cơ hội thuận tiện để moi dần từng mẩu và chắp nối lại, thành ra hiểu thêm về con nữ gián điệp đó.
  Một buổi tối đẹp trời, An-cốp-xcai-a rủ tôi đến chơi nhà Grê-nhe. Nơi đây thường tụ họp đám người Đức thượng lưu ở Ri-ga. Đêm nay ít khách. Ở giữa bàn, mấy con bạc đang cơn máu me, trong góc cuối phòng, dăm ba cây rượu vừa chè chén vừa lè nhè. Lúc mọi người đang vui chơi thì thình lình có một tên sĩ quan SS vào thì thầm với chủ nhân. Grê-nhe tái mặt đi. Hắn lôi An-cốp-xcai-a ra một chỗ rỉ tai cái gì rồi đến nói nhỏ với tên tướng không quân đang ngồi đánh bài. Tên này lật đật đi ra, không chào ai cả. Grê-nhe quay lại gượng cười với khách:
  -- Thưa quý vị, vì trường hợp cấp cứu nên tôi xin lỗi các vị...
  Khách khứa kéo nhau ra về. Grê-nhe mời An-cốp-xcai-a đi với hắn. Tôi đến bên An-cốp-xcai-a hỏi nhỏ, ả nghiêm trang trả lời rằng quan trên đã đáp máy bay đến.
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2016, 09:08:09 pm »



11.TIẾNG NGƯỜI TRONG BÓNG TỐI.
 
  Tôi trở về nhà một mình, An-cốp-xcai-a đi đâu với lão giáo sư mãi đến chập tối hôm sau mới đến nhà tôi. Khác với thường lệ, hôm ấy ả ngồi yên lặng vừa hút thuốc vừa nhấp từng ngụm cà phê, đôi mắt đăm chiêu, nét mặt trầm ngâm. Mãi về sau ả mới quay lại phía tôi:
  -- Hôm nay Grê-nhe không đi làm việc, cũng không có ở nhà, mà... -- Ả không nói hết câu, đứng lên và gọi tôi cùng sang phòng khách. Ả gieo mình xuống đi-văng, rít từng hơi thuốc dài ra dáng mệt mỏi khác thường.
  -- Anh Béc-din, tối nay tôi sẽ ngủ ở đây.
  -- Nếu không có gì trở ngại tôi xin đưa cô về tận nhà.
  -- Không được, sáng mai tôi phải dậy sớm để đưa anh đến gặp vị quan trên vừa đáp máy bay đến Ri-ga tối hôm qua.
  -- Ai thế hả?
  -- Quan trên của chúng mình.
  Qua những câu trả lời mập mờ ấy tôi chưa đoán được vị khách mới đến là ai. Một trong những tên đầu sỏ Giét-ta-pô? Him-le hay là Căn-ten Bru-nhe? Tôi bèn gặng hỏi thêm:
  -- Chị không thể cho tôi biết ông ta là ai ư?
  -- Đó là một trong những vị chỉ huy cơ quan do thám của cường quốc bên kia đại dương. Ông ta là một nhân vật có thần thế. Ở đây chỉ có tôi, Grê-nhe và cả anh nữa mới được gọi riêng ông ta là Tay-lo. Ngoài ra, không còn ai có thể biết được tên thật của ông ta, mà mọi người đều gọi là Xê-da Ba-rét. Ông Tay-lo đội tên một đại kỹ nghệ gia Nam Mỹ sang đây để bàn về việc thương mại. Nhưng kỳ thực ông ta đi kinh lý các lưới gián điệp ở châu Âu: Na Uy, Anh, Tây Ban Nha... Vì vậy anh phải hết sức cẩn thận và tỏ ra khôn ngoan kẻo rầy rà to đấy -- Ả ngừng lại giây lát, nhìn vào mặt tôi -- Anh ngạc nhiên ư? Có lẽ anh không hiểu vì sao một kỹ nghệ gia lại vừa kiêm một tướng gián điệp chứ gì? -- Như được gãi đúng chỗ ngứa, tôi mỉm cười gật đầu. Ả chậm rãi giải thích -- Tiền tài và chính trị lúc nào cũng gắn liền với nhau. Ngay từ bây giờ Tay-lo đã chú ý đến việc chiếm các thị trường châu Âu sau khi chiến tranh chấm dứt. Ri-ga là một trong những nơi ông ta thích nhất... -- An-cốp-xcai-a kéo dài giọng, nhoài về phía trước dụi điếu thuốc lá hút dở vào đĩa gạt tàn bằng pha lê. Đoạn ả hất hàm về phía tôi -- Thôi, vào ngủ đi. Ngày mai tôi sẽ đánh thức anh sớm để đúng 6 giờ chúng ta sẽ đến yết kiến quan trên.
  Tôi vội lẻn đi tìm Giê-lê-nốp để báo tin này, nhưng không thấy tăm hơi anh ta đâu cả.
  Sáng hôm sau An-cốp-xcai-a lái xe đưa tôi đến tòa nhà bằng đá màu xám ở đường K. Ba-rô-na. Lên đến tầng ba, ả bấm chuông gian buồng số 5. Tên sĩ quan hầu cận ra dẫn chúng tôi vào một căn phòng tối om. Ngọn đèn con che kín mít chỉ để hở cho ánh sáng lọt xuống mặt bàn. Tôi nghe giọng nói the thé từ trong bóng tối:
  -- Ngồi xuống cạnh bàn này!
  Tôi lần đến bên bàn, ngồi lọt thỏm vào chiếc ghế bành lót đệm lò xo mềm nhũn, cố giương mắt nhìn thẳng về phía phát ra mệnh lệnh ấy. Bốn bề lặng chìm trong một màu đen rùng rợn.
  Lát sau khi đã quen mắt, tôi nhận ra trong bóng tối mờ mờ một người tầm thước, phì nộn, bệ vệ trong bộ y phục đen tuyền. Ngoài ra không thể thấy rõ gì hơn nữa. Tên này ồm ồm hỏi tôi:
  -- Có phải tên ông là...
  Tôi vội xưng tên:
  -- Béc-din.
  Hắn gắt:
  -- Đừng đùa ở đây.
  Tôi mỉm cười:
  -- Hay là Blây cũng thế.
  Hắn phát cáu, quay sang phía An-cốp-xcai-a:
  -- Bà biết ông này chứ, bà An-cốp-xcai-a?
  -- Vâng, ông Béc-din, đại úy Blây và thiếu tá Ma-ca-rốp chỉ là một mà thôi.
  Hắn cười gằn:
  -- Thế nào, ông Béc-din? Có lẽ ông tưởng tôi cũng ngốc như tên chó săn Ê-din-ghe kia hay sao?
  Tôi liền chữa:
  -- Xin lỗi ngài, sở dĩ tôi không dám xưng tên thật với ngài là vì tôi chấp hành lệnh của bà An-cốp-xcai-a. Tôi đã bị bắt buộc phải quên tên thật của mình đi mà chỉ được quyền xưng với tất cả mọi người là Béc-din hay Blây mà thôi.
  Hắn cười khẩy ngắt lời tôi:
  -- Cái đó rất tốt. Nhưng đối với tôi ông phải tỏ ra biết điều và khôn ngoan hơn một chút chứ. Nếu tôi không nhầm thì tên tuổi tướng Tay-lo này ông đã biết từ đêm hôm qua.
  Bỗng An-cốp-xcai-a nói chen vào:
  -- Bẩm đại tướng, tôi có thể ra ngoài được chưa ạ?
  -- Được, cho cô lui.
  Cánh cửa hé mở rồi đóng lại ngay. Tay-lo bắt đầu dịu giọng:
  -- Ông Ma-ca-rốp, từ nay tôi muốn ông mang lại tên thật và chức vụ cũ của ông.
  -- Nghĩa là tôi sẽ trở lại hàng ngũ Hồng quân...
  -- Chính thế. Nhưng không phải làm việc cho bọn đỏ mà để phục vụ cho nước Mỹ. Rõ chưa?
  Tôi ngồi im, Tay-lo bắt đầu rao hàng:
  -- Chắc ông thừa biết hiện nay đồng Mỹ kim đang ngự trị trên thế giới và nó có một sức mạnh không gì cưỡng nổi. Phải, ánh sáng đồng tiền vàng đang gieo mầm hạnh phúc của mọi người. Ông còn trẻ lắm, đường đời còn dài. Vả lại ông có đủ khả năng và hoàn cảnh để trở thành một thám tử lợi hại, vì ông vừa là sĩ quan tham mưu, vừa là thiếu tá, vừa là đảng viên cộng sản. Nếu ông thuận lời thì ngay bây giờ ông có thể lĩnh được năm vạn đô-la và từ nay về sau, cứ mỗi ngày chúng tôi sẽ trả lương cho ông hai trăm đô-la. Đó là không kể những món tiền thưởng khác sau mỗi lần làm tròn nhiệm vụ. Tương lai của ông sáng sủa lắm. Chỉ cần ông nghĩ kỹ một tí thôi.
  Tôi vờ lắc đầu ra vẻ phản đối để dò ý. Hắn xòe bàn tay đặt lên bàn và lớn tiếng:
  -- Ông chớ quên rằng: "thân cá đang nằm trên thớt! ". Nếu tôi ra lệnh một tiếng thì chỉ trong nháy mắt thôi tim ông sẽ ngừng đập.
  -- Việc này quả là khó khăn, xin đại tướng cho tôi vài ngày để suy nghĩ.
  -- Không được, 4 giờ chiều ngày mai tôi phải đáp máy bay rời khỏi Ri-ga rồi. Hẹn cuối cùng là đến trưa mai ông phải trở lại trả lời cho tôi biết ý kiến quyết định của mình.
  Ra khỏi phòng tối, tôi ba chân bốn cẳng chạy một mạch về nhà. Nhưng vẫn chưa thấy mặt Giê-lê-nốp. Tôi bèn đi thẳng tới sở mật thám để tìm Prô-nin. Thoạt trông thấy tôi, tên sĩ quan trực ban kính cẩn hỏi:
  -- Chào ông Béc-din. Có phải ông đến yết kiến quan chánh?
  -- Không, tôi muốn gặp ông Gát-ca cơ.
  -- Về việc gì?
  Tôi chìa ra mấy tấm ảnh khỏa thân kiểu Pa-ri, chưa kịp nói lời nào, hắn đã hai tay giằng lấy tập ảnh, đôi mắt dán chặt vào những đường cong khêu gợi, miệng tán huyên thuyên:
  -- Ồ, ông tìm đâu ra của quý này đây? Đúng mốt Pa-ri lắm! Ông Gát-ca thích mê đi rồi.
  Được tin tôi đến, Gát-ca xuống ngay.
  -- Ông tìm tôi có việc gì?
  -- Xin lỗi, đã làm phiền ông. Nghe nói ông có một số tiểu thuyết Pháp rất hay. Tôi muốn đổi lấy vài quyển.
  -- Nhưng sách để ở nhà cơ.
  -- Được, tôi sẽ lái xe đưa ông về tận nhà và trở lại đây.
  Xe vừa đi được một quãng, Prô-nin hỏi ngay:
  -- Có việc khẩn đấy à?
  -- Phải, tướng Tay-lo vừa đến đây tối hôm qua.
  -- Nghe nói có một đại kỹ nghệ gia nào cơ mà?
  -- Chính hắn đấy. Việc này rất bí mật, chỉ có An-cốp-xcai-a, Grê-nhe, tôi và một vài sĩ quan cao cấp thân cận được biết thôi. Tôi vừa gặp hắn xong.
  -- Hắn muốn gì thế? Bảo cậu làm gián điệp cho Mỹ phải không?
  -- Tất nhiên, nhưng ác một cái là hắn buộc tôi phải trở về đơn vị cũ ngay lập tức.
  -- Ấy chết! Không được. Công việc của cậu đã xong đâu. Cậu còn phải ở lại Ri-ga lâu -- Prô-nin im lặng trong giây lát, đôi mắt hơi nheo lại nhìn thẳng về phía trước -- Ừ, khó đấy! Nhưng dù sao cậu cũng cứ nhận lời, có điều là nên tìm cách ở nán lại Ri-ga càng lâu càng tốt. Ngay bây giờ cậu phải gặp An-cốp-xcai-a để dò ý kiến ả xem. Cứ yên tâm, trong cuộc gặp gỡ ngày mai với Tay-lo chắc chắn cậu sẽ biết được nhiều điều cụ thể hơn.
  Đúng hẹn trưa hôm sau tôi lại đến đường K. Ba-rô-na, lên tầng thứ ba và bấm chuông gian số 5. Cửa hé mở, cũng cái tên sĩ quan hầu cận hôm qua ló mặt ra. Vừa trông thấy tôi hắn giễu cợt hỏi:
  -- Thế nào, đã quyết định xong chưa? Muốn sống hay chết?
  -- Nếu chọn con đường chết thì tôi còn dẫn xác đến đây làm gì nữa!
  -- Ồ, tốt lắm! Ngồi đợi một tí nhé, đại tướng đang bận.
  Mấy phút sau cửa lại mở, tôi bước vào, Tay-lo niềm nở:
  -- Chào thiếu tá -- Hắn hỏi luôn -- Bây giờ thì tình hình có thay đổi. Ông không được rời Ri-ga ngay mà cần ở lại ít lâu nữa để hoàn thành một nhiệm vụ khẩn cấp. Hẳn ông đã biết bản danh sách thủ hạ của Blây mà bà An-cốp-xcai-a đang giữ chứ? Chúng tôi cần tìm ra toàn bộ lưới điệp viên bí mật đó. Tôi và bà An-cốp-xcai-a sẽ giúp ông làm việc này. Hiện nay chúng tôi đã nắm được một tên trong số tay sai thân tín nhất của Blây. Ông sẽ dựa vào hắn để tìm cho ra chìa khóa đọc bản danh sách hiểm hóc kia. Xong nhiệm vụ này, ông sẽ trở về hàng ngũ Hồng quân. Thế có ổn không? -- Nói đến đây hắn vụt ngừng lại, hình như còn giấu cái gì chưa nói ra. Tôi mừng như mở cờ trong bụng, nhưng để giấu kín, tôi giả vờ cau mày suy nghĩ ra chiều đắn đo. -- Vâng, cũng được. Nhưng... để hoàn thành công việc vừa khó khăn vừa nguy hiểm này, tôi cần có những đặc quyền cần thiết và sự bảo đảm an toàn chứ?
  Tôi vừa nói xong hắn cười hô hố, tỏ vẻ đắc chí lắm:
  -- Ông rất thông minh. Đáng đóng lon thiếu tá lắm. Ông đã thấy trước được mọi việc. -- Hắn móc trong túi lấy ra một chiếc khuy đồng trên có khắc hình tam diệp đặt lên bàn -- Bùa hộ mệnh của ông đây, cầm lấy. Chiếc khuy đồng này là một bảo vật tượng trưng cho quyền bất khả xâm phạm của ông, vì vậy chớ nên khinh thường nó. Nếu gặp trường hợp khó khăn, ông chỉ việc giơ nó ra. Khi ấy tất cả bọn thủ hạ của tôi không một đứa nào có quyền chạm đến người ông, ngược lại họ còn phải làm theo ý ông.
  Hắn đứng lên đi vòng ra sau ghế rồi vỗ vỗ vào vai tôi:
  -- Thôi, ông về được rồi. Có thể không bao giờ chúng ta gặp lại nhau nữa, nhưng chúng tôi luôn luôn quan tâm chăm sóc đến ông và cầu Chúa ban lộc cho ông.
  Tôi toan bắt tay từ biệt Tay-lo thì đột nhiên hắn hỏi to:
  -- À mà ông muốn nhận tiền ở ngân hàng nào vậy?
  -- Thưa, tiện nhất chỉ có ngân hàng Thụy Điển.
  -- Ồ, được lắm. Tôi sẽ đóng cổ phần cho ông ở đấy.
  Hắn nắm chặt lấy tay tôi. Tôi hối hả ra về. Dọc đường, chốc chốc tôi lại lấy lá bùa hộ mệnh ra ngắm nghía, cười thầm...
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2016, 06:48:15 pm »



  12.BÔNG HOA LƯU LY.

  Chẳng biết trong buổi tiễn đưa tên Tay-lo rời khỏi Ri-ga có mặt An-cốp-xcai-a không, nhưng chắc chắn là sau khi tiếp tôi thế nào Tay-lo cũng gặp riêng An-cốp-xcai-a.
  Chiều tối ả lại đến nhà tôi, nét mặt tươi vui lạ thường. Ả đến gần, mở ví ra, dùng hai ngón tay kẹp lấy chiếc phong bì dán kín đưa cho tôi:
  -- Tướng Tay-lo nhờ tôi chuyển cho anh cái này.
  -- Phiếu lĩnh tiền ở ngân hàng Thụy Điển chứ gì?
  -- Xem đó thì biết.
  Tôi nhét phong bì vào túi và lấy ra chiếc khuy đồng để ngửa trong lòng bàn tay.
  -- Cô biết vật này chứ?
  -- Hẳn rồi -- Ả chăm chăm nhìn chiếc khuy đồng, liếc nhìn tôi không chớp mắt y như ả mới gặp tôi lần đầu tiên -- Anh vớ bở rồi đấy. Từ nay bọn gián điệp Mỹ không đứa nào dám chạm tới lông chân anh nếu không có lệnh của Tay-lo. Anh nên giữ kín. Của quý đấy. Theo tôi biết thì chỉ vài ba người có vật ấy thôi. Sau này nếu anh sa vào một tai nạn khủng khiếp thì chiếc khuy đồng đó sẽ là lá bùa hộ mệnh thần hiệu nhất.
  -- Cô cũng có chứ?
  -- Không... không cần chiếc khuy đồng tôi vẫn làm được việc, vì hoàn cảnh của tôi không giống anh -- Ả mỉm cười ngập ngừng hồi lâu -- Anh muốn... có tiền không?
  Tôi ngơ ngác. Ả đứng lên nghiêng mình như một vũ nữ ra mời khách nhảy. Tôi đứng lên theo ả sang phòng bên cạnh. Ả đến bên tường tháo bức tranh bột màu xuống, xong thò tay vào cái khe nhỏ xíu kéo ra một cuộn giấy.
  Tôi liền mở ra xem. Đó là bản danh sách bọn thủ hạ bí mật của Blây. Trong ấy có ghi 26 họ và các chữ cái đầu của tên và tên lót.
  -- Rõ ràng thế này còn phải tìm gì nữa?
  -- Anh tưởng thế chứ? Nhờ anh tìm ra tên của bọn này.
  Tôi đọc qua một lượt tất cả những họ viết bằng tiếng Anh và ngẫm nghĩ lời nói của An-cốp-xcai-a. Bây giờ tôi mới hiểu hết sự bí hiểm tai quái của bản danh sách quan trọng này. Tôi hỏi ả:
  -- Có phải vì nó mà Blây chết không?
  -- Chẳng những là Blây mà cả anh nữa, cũng suýt mất mạng đấy.
  -- Quý đến thế cơ à?
  -- Tất nhiên. Ngay cả Cục an ninh quốc gia Liên Xô cũng đã bỏ ra một số tiền khá lớn, nhưng vẫn chưa ăn thua. Hiện nay bao nhiêu nước cờ đang xoay quanh quân tướng bí hiểm ấy. Na-pô-lê-ông đã nói: "Một điệp viên giỏi đáng giá bằng một đạo quân", mà 26 tên này là 26 lâu la lợi hại. Blây đã tốn mất năm sáu năm ròng mới lựa chọn được bọn tay sai đáng giá đó, anh hiểu chưa?
  -- Trời ơi, cô giết Blây chỉ vì tiền ư?
  -- Ồ, còn phải hỏi. Lúc nào tiền cũng trên hết. Anh nhớ rằng chưa một ai có thể từ chối sự cộng tác với cơ quan do thám Mỹ chỉ vì sức mạnh của đồng đô-la mà thôi.
  -- Nếu bọn Intelligence service biết được việc này thì sao? Cô không sợ à?
  -- Hừ, sợ! Anh nghe đây. Điều thứ nhất là kẻ nào chống lại Tay-lo, kẻ ấy sẽ mất mạng. Điều thứ hai là có trời mà biết được việc tôi làm. Bản thân anh ở trong cuộc mà đến ngày nay anh chưa mò ra được tí gì nữa là. Bây giờ tôi không cần giấu anh làm gì...
  Một buổi chiều Blây định đến tiệm ăn ở khách sạn Rim để đưa bản danh sách này cho một đại phú thương Anh cùng với vợ sang "du lịch" ở Liên Xô sắp đáp máy bay về Luân Đôn vào nửa đêm hôm ấy. Tôi thấy hắn có một bản chính và một bản sao. Hắn định nộp cho lão đại phú thương một bản chính, còn bản sao hắn sẽ giữ lại. Trước khi Blây ra đi, tôi gạ hắn bán cho tôi một bản. Hắn nhún vai, cười khẩy... Tôi dọa hắn hãy coi chừng. Blây liền đánh tôi. Tôi rút súng bắn hắn ngay tức khắc. Xong tôi chiếm luôn một bản và mang bản kia đến gặp lão thương gia người Anh nói dối là tình báo Liên Xô bắn Blây bị thương nặng nên hắn nhờ tôi đi thay...
  -- Thế bây giờ làm sao tìm ra được chìa khóa để đọc bản danh sách?
  -- Đấy mới là việc khó. Nhưng không sao. Nay mai Tay-lo sẽ bảo một tên tay sai cũ của Blây đến đây và chúng ta có hy vọng tìm ra manh mối. Bản danh sách này rất quan trọng, nhưng nếu thiếu chìa khóa thì sẽ vô dụng. Anh cứ cố gắng đi, rồi sẽ có phần -- Nói đến đây An-cốp-xcai-a ngửa người trên ghế bành, hai tay vòng ra sau gáy chìa bộ ngực hở trắng nõn nà, phập phồng, cặp đùi khép hớ hênh, đôi mắt lim dim, nồng nàn. Nghĩ một lúc ả quay lại gọi một tên mà lần đầu tiên ả gọi -- Ma-ca-rốp! Nếu anh biết điều, anh sẽ được sung sướng, bằng không thì chính tay tôi... phải, bàn tay này sẽ không tha anh đâu -- Bỗng ả đứng phắt lên ra lệnh -- Anh bảo Vích-to lái xe đưa tôi về.
  Tôi gọi Giê-lê-nốp lên:
  -- Anh đánh xe đưa bà An-cốp-xcai-a về khách sạn. Hôm nay bà ấy hơi khó ở, anh liệu mà lái từ từ đấy nhé.
  Lát sau Giê-lê-nốp trở về cho tôi biết là An-cốp-xcai-a không về nhà mà đi đến lão Grê-nhe. Tôi thuật lại cho anh nghe buổi tiếp kiến Tay-lo, cho anh xem phiếu lĩnh tiền, bản danh sách và chiếc khuy đồng. Anh thở dài đặt bản danh sách điệp viên xuống và nói chậm rãi:
  -- Phải, một tên gián điệp lợi hại bằng một đạo quân thật, 26 tên này quả là một lực lượng không nhỏ... Quân ta chưa tiến đến Béc-lin, chiến tranh thế giới thứ hai chưa chấm dứt, thế mà bọn chúng đã nghĩ đến một cuộc chiến tranh mới rồi. Quân khát máu!
  -- À, mà Giê-lê-nốp này, ở đây hình như... toàn là ký hiệu hay bí danh gì ấy...
  -- Thì tôi có bảo với anh là tên thật đâu. Cái khó là ở chỗ đó, chứ nếu tên thật thì còn nói gì nữa. Tuy thế nhưng chúng mình phải giải ngay bài toán đi thôi.
  Đêm đó là một đêm hè ngắn ngủi. Trên bầu trời đen thăm thẳm thao thức xao xuyến muôn vàn ngôi sao. Tôi và Giê-lê-nốp ngồi bên ngọn đèn con mải mê tìm tòi, trao đổi ý kiến, trời sáng lúc nào không biết. Bỗng nhiên Giê-lê-nốp chạy lại cửa sổ, tôi đứng lên theo sau. Dưới đường cái một đám đông nghịt, toàn là ông già, bà lão, đàn bà và trẻ em đang lê bước giữa hai hàng lính SS. Mặt họ cúi gằm xuống buồn thảm. Bọn lính khát máu thì đứa nào cũng súng ngắn cầm tay.
  Chúng nó đang diễn tấn thảm kịch gì đây?
  Tôi và Giê-lê-nốp lặng lẽ nhìn nhau...
  -- Tôi đi đằng này có tí việc -- Nói xong, anh vội vã xuống cầu thang.
  Hôm sau Giê-lê-nốp trở về bảo tôi sao lại bản danh sách điệp viên gửi cho Prô-nin.
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #28 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2016, 08:29:40 pm »

  Hôm sau nữa, tôi đang nằm trong phòng riêng, Mác-ta chạy vào báo có một người lạ mặt muốn gặp tôi. Tôi hồi hộp bước ra hành lang. Người khách lễ phép hỏi:
  -- Xin lỗi, có phải ngài là Béc-din?
  Tôi cúi chào lại:
  -- Vâng, chính tôi.
  Đôi mắt đục lờ của người ấy nhìn tôi chòng chọc.
  -- Xin tự giới thiệu: tôi là Ô-dôn, đến đây giúp việc ngài.
  -- Mời ông vào nhà.
  Ô-dôn từ tốn ngồi xuống ghế, móc trong túi ra một tấm bưu ảnh vẽ một chùm hoa lưu ly, hết nhìn tôi lại nhìn vào ảnh, xong đặt lên bàn và dùng bàn tay che kín lại. Tôi hỏi một câu xã giao thường lệ:
  -- Ông cần gì tôi?
  Ô-dôn đột nhiên hỏi lại:
  -- Ngài có nuôi ngựa không? Ngựa kéo xe ấy mà.
  -- Không.
  -- Thế còn ngựa cưỡi?
  -- Cũng không, tôi chỉ có ô tô thôi.
  -- Có lẽ ngài cũng nuôi bò sữa đấy nhỉ?
  -- Cũng không nốt.
  -- Thế ngài không nuôi một thứ gia súc nào ư: chó, mèo, lợn, thỏ?...
  -- Vâng, đúng như vậy.
  Tôi ngơ ngác nhìn người khách kỳ khôi ấy và thực tình không hiểu tí gì cả. Thấy thế hắn buồn bã thở dài:
  -- Tiếc nhỉ?
  Xong, người khách lại rút bàn tay ra để lộ rõ ràng tấm bưu ảnh hoa lưu ly, nhìn trừng trừng vào đó hồi lâu hình như ngờ ngợ điều gì:
  -- Thưa ông Béc-din, tôi là bác sĩ thú y. Người ta mách rằng nhà ngài có nhiều gia súc đang bị ốm  vì vậy tôi đến đây để giúp ngài...
  Chắc là có điều gì đây? Tôi thầm nghĩ thế và cố moi óc chắp nối lại những chuyện đã xảy ra trước đây. Bỗng tôi sực nhớ ra trong phòng khách của Blây cũng có rất nhiều bưu ảnh mà tôi vẫn cho là "trò rởm tiểu tư sản" và trước kia người chủ kho củi đến đây cũng cứ mân mê một chiếc bưu ảnh trên tay điệu bộ chẳng khác gì người này. Ô-dôn đứng lên định ra về, tôi ngăn lại và tất tả sang phòng khách lục tìm tấm bưu ảnh hoa lưu ly trong mớ tranh ảnh.
  Sau khi so hai tấm bưu ảnh thấy hoàn toàn giống nhau, nét mặt Ô-dôn thay đổi hẳn:
  -- Thế mà chúng mình cứ đóng kịch với nhau mãi.
  -- Phải cẩn thận chứ, vì dạo này thường xảy ra lắm sự bất ngờ...
  -- Trong nội bộ chúng mình có gì là bất ngờ hả ông Béc-din?
  -- Vậy mà có đấy.
  -- Lạ nhỉ!
  -- À, mà ai bảo là tôi đang cần sự giúp đỡ của ông?
  -- Một người quen cũ của tôi ở bên kia đại dương...
  -- Ông gặp người ấy đã lâu chưa?
  -- Mới cách đây ba ngày.
  Tôi bàng hoàng cả người. Thôi đúng rồi. Tay-lo rời Ri-ga về Mỹ cũng mới được ba ngày...
  -- Bây giờ ông định làm gì trước tiên nào?
  Hiểu nhầm câu hỏi của tôi, hắn hấp tấp trả lời:
  -- Làm gì à? Tôi chẳng biết bắn súng, không quen bắt cóc giết người, chưa từng tra tấn đánh đập ai. Thực thế, vì tôi là bác sĩ thú y mà. Nếu cần tôi chỉ có thể gây một luồng dịch thán thư để giết hàng loạt người trong một vùng rộng lớn.
  À, ra thế đấy. Giờ đây tôi mới hiểu hết giá trị của một tên gián điệp lợi hại.
  -- Thôi thế cũng được. Nhưng chỗ ở của ông vẫn như trước chứ?
  -- Vâng.
  Hỏi thế chứ tôi có biết chỗ ở của hắn bao giờ. Ô-dôn về rồi, tôi ngồi nghiên cứu tỉ mỉ tất cả bưu ảnh mong nắm được tông tích bọn tay sai của Blây. Rất nhiều bưu ảnh, mà mỗi bưu ảnh là một loại hoa. Mỗi loại hoa lại ứng với một người. Nhất định phải tìm ngay địa chỉ của Ô-dôn mới có thể lần ra được các đầu mối kia.
Logged
namvinh789
Thành viên
*
Bài viết: 159


« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2016, 09:56:32 pm »



13.MÚA TRÊN LƯNG NGỰA.

  An-cốp-xcai-a vẫn theo dõi tôi chẳng phút nào rời mắt. Thường thường mỗi ngày ả đến nhà tôi một lần, có khi hai lần. Chiều nay giữa lúc tôi và Giê-lê-nốp đang loay hoay lần mò chỗ ở của Ô-dôn thì ả lại đến và vô tình gỡ mối tơ vò hộ chúng tôi.
  Ngồi xuống đi-văng, An-cốp-xcai-a đánh diêm hút thuốc rồi đưa đôi mắt nhà nghề nhìn tôi chờ đợi, nhưng tôi cứ phớt tỉnh, ả đành lên tiếng trước:
  -- Gặp rồi chứ?
  -- Ai cơ?
  -- Người được lệnh đến đây chứ còn ai nữa.
  Tôi thấy cần phải nói thật những việc vừa qua với An-cốp-xcai-a, có lẽ ả sẽ giúp được tôi nhiều trong việc này.
  -- À, gặp rồi.
  -- Hắn là ai thế?
  -- Bác sĩ thú y Ô-dôn. Biệt hiệu là lưu ly.
  -- Hiện hắn ở đâu?
  -- Chính tôi còn đang lúng túng về điểm đó...
  -- Khó quái gì cái ấy, ta suỵt con chó già Ê-din-ghe đi đánh hơi hộ ta vậy.
  Tôi liền gọi điện thoại cho Ê-din-ghe. Hắn bảo tôi ngày mai đến để thảo luận rõ ràng hơn.
  Hôm sau, Giê-lê-nốp lái xe đưa tôi đến sở mật thám. Vừa trông thấy tôi, Ê-din-ghe niềm nở:
  -- Rất hân hạnh được gặp ông.
  -- Chào quan chánh.
  -- Mời ông tự nhiên cho.
  Tôi ngồi xuống ghế, bực dọc nói:
  -- Ông Ê-din-ghe, trước sau rồi tôi cũng giao cả lưới điệp viên của tôi cho ông. Để việc bàn giao được tốt đẹp tôi cần hai tuần lễ để kiểm tra lại bọn thủ hạ của mình. Nhưng hiện nay tôi đang gặp một khó khăn...
  -- Gì thế, ông cứ nói. Tôi sẽ tìm mọi cách làm vừa lòng ông.
  -- Tôi cần tìm một vị bác sĩ thú y tên là Ô-dôn.
  -- Tại Lét-tô-ni?
  -- Phải. Ông ta là một trong những điệp viên tin cẩn nhất. Chúng tôi mất liên lạc với nhau đã lâu, mà bây giờ đánh điện hỏi Luân Đôn không tiện lắm.
  -- Ồ, tưởng việc gì... -- Ê-din-ghe với lấy ống nói -- A lô... a lô... Gọi ngay cho tôi ông Ga-út lên đây.
  Có tiếng chân bước gấp ngoài hành lang, cửa hé mở, một sĩ quan Đức cao lớn đi vào.
  -- Bẩm quan lớn gọi gì ạ?
  -- Ga-út, ông tìm ngay cho tôi địa chỉ của ông bác sĩ thú y tên là Ô-dôn. Nhiệm vụ rất là quan trọng, rõ chưa?
  -- Thưa đã.
  -- Được, cho lui.
  Tên sĩ quan cúi đầu chào rồi bước vội ra. Đột nhiên nét mặt Ê-din-ghe trở nên nghiêm nghị, hai hàng ria mép khẽ rung rung như ria con gián. Hắn nói giọng gay gắt:
  -- Ông Blây, ông quá lạm dụng lòng khoan dung của tôi. Đã bao nhiêu lần tôi yêu cầu ông cộng tác với chúng tôi, nhưng ông vẫn chần chừ. Tại sao ông lại quá trung thành với nước Anh đến thế? Và bây giờ ông còn đi che chở bọn cộng sản và du kích...
  Tôi lạnh toát cả người nhưng vẫn cố ngồi yên giữ vẻ thản nhiên, bụng bảo dạ: "Phen này có lẽ hỏng bét mất". Ê-din-ghe tiếp:
  -- Ông có dám tin chắc vào tên lái xe của mình không? Chúng tôi đã nhận được những tin tức không hay về tên đó. Không hiểu vì sao mà hắn có thể lừa bịp được một nhà thám tử già dặn như ông. Ông Blây ạ, tôi nói việc này với ông vì tôi còn tin ông lắm.
  Tôi đã hoàn hồn, lòng nhẹ hẳn đi. Qua lời nói của tên chánh mật thám, tôi biết rằng dù sao chúng cũng chưa mảy may nghi ngờ tôi là người Nga mà chỉ đinh ninh là Blây, đại úy gián điệp của Anh có ý định liên lạc với bạn đồng minh chiến tranh là du kích Liên Xô, cho nên hắn đe dọa để tôi sợ mà cắt đứt sự liên hệ ấy nếu có.
  Đôi mắt Ê-din-ghe long lên sòng sọc, hàm hắn bạnh ra:
  -- Hồ sơ về tên Vích-to đã nằm trong ngăn kéo đây rồi. Ngày mai hoặc ngày kia tôi sẽ ra lệnh tóm cổ hắn. Còn riêng ông thì chỉ bận tâm trong một thời gian rất ngắn mà thôi...
  Tôi vẫn ngồi yên tính nước cờ. Hắn nói xong, tôi giả vờ ngạc nhiên:
  -- Lạ thật! Vích-to là một lái xe tốt và giỏi, luôn luôn tỏ ra hết lòng vì nước Anh. Tôi rất hài lòng về hắn. Mà ngay cả bà An-cốp-xcai-a vốn đa nghi cũng không hề ngờ vực hắn cơ mà!
  Ê-din-ghe cười mát:
  -- Ai bảo với ông thế? Xin thưa rằng chính bà An-cốp-xcai-a giúp chúng tôi khám phá ra việc này.
  Trời! Té ra ả là con dao hai lưỡi! Tôi cứng họng nhưng vẫn làm ra bộ chưa tin hẳn lời nói của Ê-din-ghe và yêu cầu hắn hoãn lệnh bắt Giê-lê-nốp lại để tôi tự kiểm tra tên lái xe của mình...
  Vừa lúc ấy tên sĩ quan Ga-út vào đưa cho Ê-din-ghe một mẩu giấy con. Xem xong hắn trao cho tôi. Trên đó có ghi ba chữ: "Ma-dô-na, Xtơ-ren-nhi-ê-cu, 14".
  Tôi cảm ơn và vội đứng lên cáo biệt để tránh câu chuyện Vích-to. Khi tiễn tôi ra cửa hắn dặn thêm:
  -- Ông Blây, vấn đề vừa rồi chỉ mới có tôi và ông biết thôi. Mong ông giữ kín cho.
  -- Quan chánh có thể tin ở tôi.
  Nói xong tôi chào kiểu Hít-le rồi ra về. Giê-lê-nốp mở máy và sửng sốt nhìn tôi:
  -- Anh làm sao thế?
  -- Nguy đến nơi rồi, chúng sắp bắt cậu. Chính Ê-din-ghe đã biết việc liên lạc của cậu với tổ chức bí mật ở Ri-xki.
  -- Còn bao nhiêu nhiệm vụ...
  Giê-lê-nốp nói chưa dứt lời, tôi chèn vào ngay:
  -- Nhiệm vụ gì bây giờ. Cậu phải trốn đi ngay, không được trì hoãn nữa.
  -- Trốn? -- Giê-lê-nốp lắc đầu -- Anh chưa thấy hết tầm quan trọng của công việc mà chúng ta đang làm. Dù có hi sinh bao nhiêu người cũng phải tìm cho bằng được lưới điệp viên của Blây. Chưa xong nhiệm vụ này không một ai có quyền rời khỏi Ri-ga, vì sau khi chiến thắng phát xít, bọn ấy sẽ là mối đe dọa nguy hiểm cho Tổ quốc chúng ta. Chúng chẳng khác gì đám ròi bọ đối với một vết thương. Nếu biết giữ gìn sạch sẽ thì vết thương có thể lên da non trong vòng một tháng, nhưng nếu để cho bọn ròi bọ này rúc vào đó thì sẽ phải chạy chữa hàng năm, hàng chục năm chưa chắc đã khỏi.
  -- Nhưng dù sao cũng cần báo cáo với Prô-nin.
  -- Tất nhiên -- Giê-lê-nốp cho xe rẽ sang phố khác và hỏi: Còn địa chỉ của Ô-dôn, anh đã tìm ra chưa?
  -- Trong túi đây rồi.
  -- Tốt lắm! Nhưng nếu chúng nó khử ngay mình thì bực thật nhỉ!
  Giê-lê-nốp nói thế nhưng với tài khôn khéo của anh tôi tưởng bọn Giét-ta-pô không thể hành động theo ý của chúng được, và nhiệm vụ của chúng tôi có triển vọng sẽ hoàn thành tốt mà Giê-lê-nốp không phải hi sinh. Chúng tôi đang lâm vào thế cờ bí đây.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM