Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:39:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sơn miền ký ức - Tập 1  (Đọc 50795 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:35 pm »


NHẬN NHIỆM VỤ MỞ ĐƯỜNG THỐNG NHẤT

Sáng ngày 8 tháng 6 năm 1964, tôi và anh Nguyễn Phú Hồng được Cục Công binh Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng và Chính ủy đến sở chỉ huy Trung đoàn 229 ở Trung Hà để nhận lệnh. Cùng dự có một số cán bộ các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần mà Cục Công binh đã mời. Khi tôi đến, thấy một số anh em đã có mặt tại đây như anh Vinh, anh Bảy...

Đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ. Đồng chí nói: Hôm nay, được ủy nhiệm của Bộ, tôi giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 98 công binh đi làm nhiệm vụ mở đường cơ giới trên Trường Sơn. Hướng tuyến, tiêu chuẩn kỹ thuật thế nào, chắc đồng chí Tiệp đã nhận trực tiếp tại Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu. Tôi nói thêm một số ý:

Trước hết, Trung đoàn cần nhận thức đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Con đường cơ giới mở trên Trường Sơn, dẫn từ miền Bắc vào tận miền Nam, khó khăn gian khổ lắm, nhưng tác dụng của con đường thì vô cùng to lớn. Rồi đây khi chiến tranh phát triển, thông qua con đường này trang bị kỹ thuật, phương tiện, vũ khí cùng các binh chủng của ta sẽ được tăng nhanh và ngày càng nhiều vào chiến trường miền Nam. Quân ta sẽ đánh lớn và chắc chắn sẽ nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Trung đoàn 98 là đơn vị đầu tiên của Binh chủng Công binh được nhận nhiệm vụ này. Đây là vinh dự, nhưng trách nhiệm thật lớn lao. Đảng ủy, thủ trưởng cần lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đồng chí Lê Quang Hòa còn nói thêm một số nét cơ bản về công tác đảng, công tác chính trị. Đồng chí nói về truyền thống Trung đoàn 98 xuất xứ là một trung đoàn bộ binh thành lập ở Quảng Ninh năm 1946. Trong kháng chiến chống Pháp, trung đoàn đã chiến đấu lừng danh ở khu Đông Bắc, đặc biệt là ở chiến trường đường 18 suốt từ Bắc Ninh, Bắc Giang, đến Quảng Ninh, Móng Cái. Đến năm 1951, Trung đoàn 98 về trực thuộc Sư đoàn 316 và chiến đấu ở Tây Bắc, nổi nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trực tiếp đánh C1, mở cửa vào A1 dẫn đến chiến thắng hoàn toàn ở Điện Biên Phủ. Sau hòa bình, trung đoàn chuyển nhiệm vụ thành trung đoàn công binh mở đường ở Tây Bắc và cũng lập được nhiều thành tích. Như vậy truyền thống của trung đoàn thật sáng chói, vừa mang truyền thống chiến đấu bộ binh, vừa mang truyền thống mở đường thắng lợi của công binh. Các đồng chí hãy phát huy truyền thống đó trên chiến trường mở đường Trường Sơn.

Đồng chí Lê Quang Hòa dặn dò và nhấn mạnh rất nhiều điều về công tác chính trị, công tác chính sách, công tác dân vận. Các đồng chí hãy mang lá cờ "mở đường thắng lợi" của binh chủng công binh để "mở đường thống nhất".

Sau khi nhận nhiệm vụ xong, chúng tôi đi làm thêm một số việc ở cơ quan, và rồi cũng cho anh em mỗi người 7 ngày phép để về thăm nhà và tạm biệt gia đình. Bản thân tôi cũng được phép tranh thủ về Hải Phòng mấy ngày để dặn dò, tạm biệt "bà xã" và 2 cháu: Nhân và Hải còn tuổi thơ ngây đang đi học. Phút chia tay, không khỏi bịn rịn, nhưng cả nhà đều hiểu rõ chuyến đi xa để rồi có ngày được sum họp trở lại khi nước nhà thống nhất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:41:15 pm »


Ngày 19 tháng 7 năm 1964, ban chỉ huy cùng cơ quan Trung đoàn bộ lên tàu hỏa vào Vinh, rồi tiếp tục lên xe phủ bạt kín vào tới Ho thuộc đất Quảng Bình là nơi chuẩn bị nhập tuyến. Tại đây tôi đã trực tiếp gặp anh Võ Bẩm, Tư lệnh Đoàn 559 nhận nhiệm vụ phối thuộc, được anh Bẩm dặn dò chỉ dẫn nào là tình hình giao liên gùi thồ, tình hình ta, tình hình bạn, âm mưu và hoạt động của địch, về tuyến đường sẽ mở. Anh Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn hỏi rõ về tình hình tiếp tế lương thực thực phẩm cho bộ đội và được trả lời, là sẽ rất vất vả vì phụ thuộc vào gùi thồ phía sau.

Mọi việc chuẩn bị khá nhanh chóng. Cơ quan tham mưu đã bố trí một đồng chí ở lại Ho để nhận và bàn giao toàn bộ những vật không được mang theo như sổ sách, ảnh, thư từ cùng các tư trang của bộ đội.

Và cũng tại đây từ nay trở đi - anh Bẩm vừa nói vừa cười thân mật - Đơn vị được mang mật danh là "Chi hội Bình Minh" thuộc "Hội Lao động Giải phóng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam".

Về quân trang, Quân Giải phóng được trang bị các loại súng nhẹ chiến lợi phẩm đánh Pháp như Sten, Brenô, 7,9 ly. Cuộc hành quân nhập tuyến bắt đầu!

Những thử thách ban đầu đã tới. Đơn vị chúng tôi đã âm thầm vượt từ ngọn đồi này qua ngọn đồi khác vượt núi rừng âm u rậm rạp. Đèo 1001, đỉnh của dãy Trường Sơn sừng sững hiện ra trước mặt nhưng không cản nổi bước chân của anh lính giải phóng. Một vài ngày đầu, vì còn được hơi hướng của miền Bắc, bộ đội ít nhiều đã được rèn luyện hành quân mang nặng còn khỏe, nhưng chỉ sau 1 tuần sức lực cơ bắp cũng sút giảm dần. Một số anh em đã bắt đầu ốm. Cuộc hành quân đi bộ cũng không vì thế mà sụt hẳn, gần 1 tháng trời chúng tôi đã từ Đông Trường Sơn qua Tây Trường Sơn đến đường số 9, qua Sê Pôn, tới dốc Thơm, về nơi tập kết. Đó là La Hạp, một vùng đồi thấp, cây cối thưa thớt, cỏ tranh xanh rờn bạt ngàn, một địa điểm trên đất Lào anh em. Cơ quan Trung đoàn bộ hạ trại ở đó.

Những ngày đầu tháng 8 năm 1964, trên đất bạn Lào thuộc tỉnh Xa Ra Van vừa được giải phóng là cảnh đồi nương bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, thoảng đâu đây vẫn còn khét mùi thuốc súng. Những mái nhà lá ọp ẹp, chỉ còn trơ khung gỗ cháy đen. Nhân dân các bộ tộc Lào anh em, lác đác đã có đoàn trở về bản làng để khôi phục, làm lại nương rẫy.

Thấy bộ đội Việt Nam sang, bà con vô cùng phấn khởi, chắc không còn phải sơ tán liên tục như những thời kỳ trước. Bà con vẫn còn rất nghèo và đói, nhưng tinh thần giúp đỡ bộ đội thì vô cùng quý giá. Tôi nhớ có lần đoàn của cơ quan Trung đoàn bộ gặp một tốp dân bạn, có già, trẻ, trai, gái, quần áo rách mướp, đang gồng mình trèo dốc, gùi những kiện hàng nặng nề, với những bước đi khó nhọc, chắc là đói lắm.

Đồng chí Trần Bá, Chủ nhiệm chính trị thấy vậy hỏi: Đồng bào gùi gì thế, nặng lắm hay sao mà đi khó khăn vậy, hãy nghỉ và lấy một ít trong gùi để ăn rồi hãy đi. Một cụ già nói, mình đói khổ nhưng không bằng bộ đội Việt Nam và Pa-thét Lào đâu, các con còn đói khổ hơn nhiều còn hy sinh nữa chứ! Mình gùi thuốc cho bộ đội để chữa bệnh đấy, bộ đội ốm nhiều lắm mà! Mình không được ăn, bộ đội ốm yếu lấy gì chữa bệnh để đánh Mỹ.

Đồng chí Chuẩn, trợ lý chính trị đề nghị: chúng ta hãy dành mỗi người một phần cơm nắm cho bạn. Thế rồi anh em hưởng ứng ngay; các gói cơm nắm ăn trưa đều được bẻ đôi, chúng ta cùng chia sẻ với đồng bào. Những hình ảnh đầu tiên đó đã làm cán bộ, chiến sĩ cảm động, một bài học về tình nghĩa anh em sâu đậm Việt - Lào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:41:47 pm »


Ngày 2 tháng 8 năm 1964, anh Nguyễn Phú Hồng, Bí thư Đảng ủy triệu tập họp đảng ủy, cuộc họp đầu tiên thông qua kế hoạch quyết tâm. Mình báo cáo nhiệm vụ của trung đoàn mà Bộ Quốc phòng giao, các kế hoạch lãnh đạo và đảm bảo, một kế hoạch dài 2 năm đến cuối năm 1965, đường phải thông đến bắc Tây Nguyên, trước mắt đến cuối năm 1964 phải thông đến Bạc (sông Sê Công).

Tiếp sau đó, trong hội nghị quân chính có mặt đầy đủ đại diện các cơ quan tham mưu. Đồng chí Hoàng Tiến Vinh, Tham mưu phó báo cáo tình hình tuyến đường, sử dụng lực lượng kế hoạch khởi công. Đồng chí Lê Đức Bảo, Chủ nhiệm hậu cần báo cáo kế hoạch đảm bảo hậu cần. Anh Bảo rất hăng hái, nhấn mạnh gạo thực phẩm đảm bảo rất ít, sẽ thiếu, nhưng sẽ cấp mỗi tháng mỗi người một cân muối. Anh em ngầm hiểu, có muối sẽ có thêm thực phẩm, rau, đậu, thịt bằng cách đổi cho đồng bào. Đồng chí Nẵng, Phường ở cơ quan khí tài hứa sẽ tìm đủ mọi cách có đủ cuốc xẻng, dao, choòng và nhấn mạnh không có thuốc nổ. Anh Bá, chủ nhiệm chính trị trung đoàn, lấy ngay hình ảnh vừa gặp nhân dân Lào đi trên đường để giáo dục giữ vững mối quan hệ Việt - Lào, giữ vững sinh hoạt Đảng, công tác chính trị, động viên khen thưởng kịp thời v.v.

Buổi họp quân chính trên đất bạn Lào đầu tiên, đã có quyết tâm cao như thế!

Ngày 3 tháng 8, các cán bộ ra về triển khai tích cực để kịp ngày khởi công: Ngày 7 tháng 8 năm 1964.

Chắc các đồng chí chúng ta ngồi đây còn nhớ: Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ gây ra sự kiện vịnh Bắc Bộ, đưa hàng chục máy bay bắn phá Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... Quân dân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống giặc lái. Dã tâm xâm lược của đế quốc Mỹ đã quá rõ ràng. Nhạy bén với tình hình, đồng chí Chính ủy Nguyễn Phú Hồng nhanh chóng hội ý Thường vụ Đảng ủy: chúc mừng chiến công đầu của quân dân miền Bắc, Trung đoàn 98 phải tỏ rõ quyết tâm bằng ngày ra quân đầu tiên trên Trường Sơn phải là ngày thắng lợi đầu tiên trả thù cho đồng bào miền Bắc.

Và một ý nghĩ mới vụt đến. Chúng ta sẽ tích cực chuẩn bị thêm, sẽ ra quân lùi lại 2 ngày và lấy đúng ngày 9 tháng 8, ngày trùng với tên Trung đoàn 98 để ghi nhớ được lâu. Tất cả chúng tôi hoan nghênh sáng kiến và triển khai theo phương án này. Đồng chí trung đoàn phó Chu Minh Đông nói: ngày đó chỉ huy và cơ quan chúng ta phân chia xuống các tiểu đoàn để đốc chiến và đề nghị trung đoàn trưởng và chính ủy trực tiếp xuống một đại đội để dự cùng anh em. Chúng tôi đã chọn Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 là đơn vị được bố trí tốt nhất về nhân sự, vật chất, tinh thần.

Chỉ huy Đại đội 4 là đại diện cho hai miền Nam Bắc. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bộp, quê Bắc Giang, chính trị viên Đặng Đức Thông quê Quảng Nam. Trong các cán bộ trung đội có Đoàn Ngọc Lập, Vương Thanh Cầm, Nguyễn Tấn Đăng đều là cán bộ trẻ, hăng hái, nhiệt tình, được đào tạo cơ bản tại Trường Sĩ quan công binh. Gần 100 chiến sĩ đều là lính nghĩa vụ trẻ, khỏe.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:42:16 pm »


Đúng 5 giờ 30 phút sáng ngày 9 tháng 8 năm 1964, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 4 vừa ra tới hiện trường thì một cơn mưa rào ập tới, cơn mưa kéo dài gần 30 phút. Anh em phải tạm trú mưa, thử thách đầu tiên phải vượt qua. Có tiếng xôn xao ông trời không ủng hộ 98, mưa thế này vỡ kế hoạch ngay từ ngày đầu ra quân!

Đồng chí Nguyễn Văn Bộp vụt đứng dậy: Các đồng chí nhầm rồi. Ở quê ta, mỗi khi đào móng làm nhà mà được trận mưa to đó là điềm lành đấy. Đây mình sắp "động thổ" phải là "hên" lắm chứ. Mọi người cười to đồng tình hưởng ứng.

Và đúng như vậy, sau 30 phút mưa nặng hạt, trời bỗng tạnh hẳn. Đại đội 4 đã về đúng vị trí của mình, như bài học đội hình vừa làm đường vừa sẵn sàng chiến đấu, có cảnh giới, phòng không, phòng địch mặt đất.

Lễ động thổ khởi công tuyến ô tô Trường Sơn bắt đầu!

Nghi lễ thật là đơn giản vì điều kiện chiến trường và vì bảo mật. Không có băng rôn lớn, chỉ có khẩu hiệu viết tay cài trên mũ hoặc viết trên ống tre nứa. Cơm nước không bày biện nhưng được ăn nóng ngay trên mặt đường.

Chẳng có bộc phá nổ mở màn mà chỉ có mệnh lệnh đơn giản: "Vì miền Nam ruột thịt, vì đất nước thống nhất! Tất cả bắt đầu!". Tôi vừa ra lệnh, hàng trăm cánh tay giơ cao vung xuống, tiếng cuốc, tiếng xẻng, tiếng dao búa ầm ầm làm mất đi sự tĩnh mịch của không gian buổi sáng sớm.

Tất cả lao động liên tục cho đến hết ngày. Buổi đầu năng suất rất cao, toàn trung đoàn hoàn thành gần 10 kilômét đường ô tô. Chúng ta đã đánh thắng trận đầu giòn giã, hưởng ứng ngày chiến thắng của miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ".

Nói đến đây, anh Tiệp quay sang phía bên phải hỏi: Các đồng chí ngồi đây có đồng chí nào tham gia mở đường ngày đó không? Hơn chục cánh tay giơ lên tự hào: "Có đấy ạ!".

Cuộc họp mặt hôm nay, một số đồng chí Đại đội 4 ngày đó cũng có mặt.

Đồng chí Đỗ Phương Tâm lần lượt giới thiệu từng đồng chí một và nói: Anh em Đại đội 4 hiện ở Cổ Loa, Đông Anh còn hơn 20 đồng chí, thời đó đều là chiến sĩ, chỉ có 2 đồng chí là A trưởng. Đồng chí Ngát, đồng chí Năm, đồng chí Lưu, lần lượt phát biểu đều tỏ ra rất vui mừng, không ngờ được vinh dự được sống trong ngày lịch sử động thổ bổ nhát cuốc đầu tiên trên tuyến Trường Sơn năm ấy. Ngày 9 tháng 8 năm 1964 là như vậy!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:43:15 pm »


HƯỚNG VỀ PHÍA NAM, NHANH CHÓNG MỞ ĐƯỜNG ĐẾN NGÃ BA BIÊN GIỚI

"Ngày 9 tháng 8 đó cũng là mở đầu cho một đợt thi đua "Vì miền Nam ruột thịt". Tiếp theo, dựa vào tài liệu khảo sát thiết kế của Cục Công binh đã chuẩn bị từ năm 1963, Trung đoàn theo đội hình lúc cuốn chiếu, lúc nhảy cóc, trong hơn 4 tháng vượt qua mọi địa hình phức tạp, thời  tiết khắc nghiệt, thiếu thốn vật chất, đến giữa tháng 12 năm 1964, Trung đoàn đã đến dốc Bạc trên dòng sông Sê Công.

Đúng dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân, tham mưu phó Công binh Nguyễn Văn Nhạn dẫn 7 chiếc xe Gat thông đường trong niềm vui tin tưởng.

Đúng là dốc Bạc!... Một đoạn đường ngắn có độ dốc quá lớn, lớn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, lại phải qua 12 vòng cua ngược chiều nhau liên tiếp. Cán bộ, chiến sĩ chúng tôi, vừa mưu trí, vừa lao động vất vả, vật lộn gian khổ với 12 cua dốc trong nhiều ngày đêm mới hoàn thành.

Đây là một kỷ niệm không bao giờ quên, còn đọng lại mãi trong tâm trí chúng tôi, những ai đã một thời mở đường từ Bản Đông đến Bạc. Những năm sau, dốc 12 cua trở thành trọng điểm, máy bay địch đánh phá thường xuyên, nhiều xe bị đổ, bị hỏng trên đoạn dốc này.

Cũng phải nói là thời kỳ đầu chúng ta chưa triển khai được cầu, phà, nên phải vượt sông bằng ngầm, mà ngầm có yêu cầu riêng, đường xuống ngầm bị khống chế nên khó tránh dốc. Sau này chúng ta có nhiều biện pháp để khắc phục các ngầm bằng bến phà, cầu nổi.

Vượt qua sông Bạc, chúng tôi có thêm người bạn đồng hành. Đó là Trung đoàn 279 có mật danh "Rạng Đông", do anh Hoàng Đình Luyến làm trung đoàn trưởng và anh Hoàng Thược là Chính ủy. Hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông, hai cái tên của hai anh em sinh đôi cùng một binh chủng, cùng bắt tay nhau, đưa tuyến đường qua hết đoạn này qua đoạn khác. Đường càng vào trong càng khó khăn thêm. Việc đưa lương thực đến phía sau càng gian nan, Trung đoàn Rạng Đông qua 3 tháng liên tục không đưa được nổi 4 máy ủi vượt sông Bạc. Thuốc nổ lại càng khó hơn, Đèo Long vừa dốc vừa lắm đá, phải dẫm chân tại chỗ khá lâu mới thông xe được. Vượt qua Chà Vằn, dốc Bô Phiên, đèo Sê Ca Mán lại hiện ra trước mặt, quanh co, đá tảng xếp tầng.

Chúng ta đã khéo bố trí đội hình, sử dụng hợp lý số thuốc nổ ít ỏi để có hiệu suất cao, đã có sáng kiến làm bừa đất bằng gỗ và dây rừng tại chỗ của các đồng chí Đại đội 4, năng suất nâng lên gấp nhiều lần. Toàn đơn vị đã tận dụng mọi thời gian, bất kể mưa nắng, không có ngày nghỉ, một ngày liên tục ở mặt đường từ 6 giờ sáng đến 7 giờ tối. Với lao động như vậy ăn uống lại thiếu thốn. Do gạo và lương thực không vận chuyển vào kịp, tiêu chuẩn chiến sĩ bình quân mỗi ngày không quá 3 lạng gạo, có ngày chỉ đủ gạo nấu cháo.

Tuy vậy, với tinh thần vì miền Nam, trung đoàn vẫn quyết tâm lao động để đưa nhanh đường về tới đích. Thiếu gạo thì kiếm củ mài, củ rừng, hạt dẻ, hạt gắm bổ sung. Thiếu rau thì có rau tàu bay, rau lá sắn, măng tre thay thế. Thiếu thịt, thỉnh thoảng có chú lợn rừng sa bẫy cung cấp. Đủ các thứ khắc phục nhưng cũng không thể giữ được sức khỏe cho bộ đội.

Thời tiết, muỗi rừng, vắt rừng đua nhau bóc xé da thịt chiến sĩ. Nhiều chiến sĩ bị sốt rét hành hạ. Một loại dịch sốt rét ác tính rất nguy hiểm, dẫn đến tử vong rất nhanh. Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 2 chỉ trong 3 ngày đã tiễn đưa 10 đồng chí. Thuốc chống sốt rét rất thiếu. Anh em quân y cũng đã cố gắng khắc phục, học tập kinh nghiệm địa phương lấy phôi ổ mối sắc với rễ cây ớt, sao vàng, uống nước đỡ được phần nào. Đã có nhiều hôm, đơn vị chỉ có 50% chiến sĩ ra mặt đường. Chính ủy Phú Hồng, đã có buổi sáng nhường lại bát cháo cho đồng chí trợ lý ăn để có sức ra mặt đường. Chiến sĩ khỏe nhường phần cháo của mình cho chiến sĩ ốm là chuyện bình thường.

Kẻ địch trên không, dưới mặt đất luôn gây cho ta nhiều khó khăn. Nhận thấy nguy cơ con đường mòn ngày càng vào sâu, chúng đã dùng mọi phương tiện hiện đại chụp ảnh liên tục cả ngày lẫn đêm hòng phát hiện để bắn phá, ngăn chặn.

Tại Pắc Huội, máy bay AD6 đã oanh tạc vào đúng đội hình của Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, hai đồng chí hy sinh, 10 đồng chí bị thương. Tiểu đoàn 1 đang trên đường hành quân di chuyển cũng bị máy bay địch phát hiện và bắn phá. Đã có nhiều lần, chúng ta bắt được các toán biệt kích giả dân trà trộn vào nơi trú quân và thi công của ta.

Khó khăn như vậy, nhưng ngày ngày đường vẫn cứ dài ra. "Bình Minh" vượt qua "Rạng Đông", rồi "Rạng Đông" lại vượt qua "Bình Minh", "hai anh em sinh đôi" đang cùng nhau chơi tiếp sức, tiếp tục chinh phục con đường phía trong. Suối To, Sê Sụ, Phi Hà, rồi Pa Kha và đúng đến ngày 18 tháng 1 năm 1966, Trung đoàn Bình Minh đã tới Tà Xẻng bắc Tây Nguyên. Đây là ngã ba Đông Dương, nơi có câu nói: "Một con gà gáy cả ba nước cùng nghe!". Kết thúc giai đoạn đầu tiên hai trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông đã hoàn thành đoạn đường dài 256 kilômét.

Và tại đây, chúng ta đã tổ chức cho chiến sĩ ăn cái Tết thứ hai ở Trường Sơn, trong niềm vui chung cùng các chiến thắng trên chiến trường miền Nam".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:47:32 pm »


ĐƯỜNG 49, TRUNG ĐOÀN THẦN TỐC

Sáng 24 tháng 1 năm 1966 tức mồng 2 Tết Bính Ngọ, trong một khu rừng tre tương đối kín đáo ở Tây Nguyên, trung đoàn bộ chúng tôi đang đi chúc Tết vui vẻ. Chính ủy Nguyễn Xuân Kim đang tâm sự ở cơ quan chính trị, trung đoàn phó Chu Minh Đông đang khề khà hơi men với cơ quan hậu cần. Trung đoàn trưởng Phan Quang Tiệp cùng cơ quan tham mưu đang ngồi bên chén nước trà còn bốc hơi ấm.

- Báo cáo thủ trưởng, có điện khẩn ở ngoài đoàn, chiến sĩ cơ yếu Đoàn Văn Tập vội vã bước vào và trình điện. Tham mưu phó Hoàng Tiến Vinh đón bức điện nói: Chắc là điện chúc Tết, động viên anh em mình vừa hoàn thành nhiệm vụ, hẳn lại có thưởng to rồi.

Với dáng mặt ung dung, thư thái, anh Tiệp mở bức điện ra xem. Ngay đầu điện đã có chữ "Thượng khẩn". Anh căng mắt đọc từng dòng một:

"Mệnh lệnh gửi Trung đoàn 98. Chuyển ngay trung đoàn sang làm đường 49. Điểm đầu ngã ba Phi Hà, qua các điểm Chín Suối, bãi đá Lâm Phu, Lanh Tanh, đèo 200, vượt Nậm Kông, rồi qua suối Tà Ngâu, điểm nối sang đất bạn Cam-pu-chia, điểm cuối K20 Xiêm Pạng.

Đường dài khoảng 200km. Yêu cầu thi công thật khẩn trương để chuyển hàng ngàn tấn hàng đang bị ứ đọng. Thời gian không quá 4 tháng. Liên hệ chặt chẽ với đồng chí Đức Phương, mật danh là "Ông Chủ". Triển khai ngay và báo cáo về Đoàn".


Điện còn nói rõ thêm "vì ở phía ngoài, địch đánh phá mạnh, nhiều điểm bị tắc, xe hàng không vào được. Đường C4 được mở là một cứu cánh lớn để đưa hàng từ K ra nhanh tới các chiến trường nhất là Tây Nguyên và Khu 5".

Chúng tôi rất hiểu điều đó. Từ khi quân Mỹ ồ ạt đổ quân vào, chúng mở liên tiếp các cuộc tiến công hòng bình định nhanh, tiêu diệt quân giải phóng, mà muốn thắng chúng phải đánh mạnh tuyến chi viện đường Hồ Chí Minh. Các cửa khẩu và các trọng điểm phía bắc đường Trường Sơn bị đánh phá rất mạnh như Pha Nốp, Xiêng Phan, Văng Mu, Thà Khống, Dốc Thơm... có nơi tắc 7 ngày, 10 ngày, vận chuyển gặp rất nhiều khó khăn.

Với tình hình đó, mệnh lệnh mở đường C4 nhanh chóng trở nên rất có ý nghĩa và trung đoàn đã triển khai khẩn trương. Cơ quan tham mưu, đồng chí Tô Đa Mạn và đồng chí Nguyễn Văn Bảy đã mở bản đồ, nghiên cứu nhanh địa hình, xác định các điểm khống chế, và báo cáo ngay, đường dài khoảng 200 kilômét, thi công nhanh cũng mất 5 tháng, có thể chia là 2 đoạn:

Đoạn 1: Từ Phi Hà đến Tà Ngâu dài khoảng 120 kilômét, đường đi dưới rừng cà bông tương đối kín, có một số điểm khó như khu vực Chín Suối dễ lầy lội. Bãi đá Lâm Phu dài khoảng 2 kilômét đi sát bờ sông Sê Sụ, đèo 200 dài khoảng 5 kilômét tương đối trống trải, dốc, đất pha đá, gần địch, địch còn chốt ở Mường Mày.

Đoạn 2: Từ Tà Ngâu đi K20 đường dài khoảng 80 kilômét, chủ yếu qua rừng khộp, dễ thi công. Cần chú ý điểm vượt sông Tà Ngâu. Cơ quan cũng đã sơ bộ đề xuất cách sử dụng lực lượng và biện pháp tác nghiệp. Các cuộc họp Đảng ủy, họp quân chính khẩn trương và được khái quát như sau:

Tinh thần là phải triển khai như một chiến dịch, thật nhanh trong mọi công việc, từ họp hành đến mọi công tác chuẩn bị. Đội hình chiến dịch là trung đoàn thành một tuyến, mỗi tiểu đoàn một đoạn, mỗi đại đội một phân đoạn, vừa nhảy cóc vừa cuốn chiếu trong từng phân đội.

Phương pháp tác nghiệp là thi công trong hành tiến. Trinh sát định tuyến đi trước, đội hình tác nghiệp theo ngay. Thi công liên tục, nhiều giờ trong ngày, kể cả đêm. Công tác bảo đảm đặc biệt là hậu cần, cần đảm bảo ăn no, uống đủ. Khẩu hiệu là thần tốc, thần tốc mở đường. Tuyệt đối giữ bí mật. Quyết tâm hoàn thành trong vòng 3 tháng vượt trước kế hoạch 2 tháng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:48:16 pm »


Đúng ngày mùng 2 Tết, chấp hành mệnh lệnh, các tiểu đoàn đã lên đường ngay, thứ tự từ ngoài vào lần lượt là tiểu đoàn 1, 2, 3. Có một thuận lợi là đã có tuyến đường thồ đi dọc tuyến nên các phân đội triển khai khá nhanh. Lợi dụng đường sông Sê Sụ, chúng ta đã mượn được một số thuyền máy, các thuyền này làm nhiệm vụ rải bộ phận trinh sát và chỉ huy tiểu đoàn ở phía trong. Riêng trung đoàn bộ, bộ phận đi thuyền máy gồm trung đoàn phó Chu Minh Đông, đồng chí Tô Đa Mạn, đồng chí Nguyễn Văn Bảy ở cơ quan tham mưu, đồng chí Bảo - Chủ nhiệm Hậu cần, đồng chí Bá - Chủ nhiệm Chính trị cùng một số trợ lý đi thẳng vào phía tuyến trong, sau đó đi ngày vào K20 gặp "ông chủ" để quan hệ, báo cáo tình hình triển khai, đặc biệt là công tác đảm bảo lương thực, thực phẩm cho bộ đội.

Ngày mùng 3 Tết, 8 giờ sáng, chúng tôi đã có mặt ở K20 trên bờ sông Sê Công nắng gió. Đã từ 2 năm nay, giờ này chúng tôi mới được hưởng một không khí tương đối thanh bình.

Cơ quan "ông chủ" thật đơn giản, dưới rặng cây cà bông, trông nền nếp nhưng cũng không quên sẵn sàng chiến đấu, phòng không, phòng địch mặt đất. Những dãy kho liên tiếp đầy ắp hàng, phân tán trong khu rừng gần nơi "ông chủ" ở. Thuyền máy chạy trên sông liên tục chở đầy hàng cập bến nhanh chóng rồi lại rời bến khẩn trương. Chúng tôi hình dung khá nhiều hàng hóa như đang đòi hỏi tính chất khẩn trương của con đường phải nhanh chóng hoàn thành. Chúng tôi cũng thầm nghĩ, ngành hậu cần quân đội ta thật tài giỏi đã thiết lập được con đường vận tải này.

Rồi đây các vũ khí, binh khí kỹ thuật từ miền Bắc vào B2 đi qua con đường này cũng rất thuận lợi. Những tâm tư, ý nghĩ trên thoảng qua cũng không làm chúng tôi sao nhãng nhiệm vụ trước mắt.

Trong gian phòng nhỏ thông thoáng, trên chiếc bàn dài có bộ ấm chén màu nâu, hai bộ ghế mây trang nhã, chúng tôi được ông chủ Đức Phương tiếp. Thật bất ngờ, ông chủ không phải dáng nhà tư sản béo mập trắng trẻo như chúng tôi nghĩ. Ông là một người cao to, có làn da bánh mật, hai con mắt luôn nhấp nháy, nhưng giọng nói lại có sức thu hút. Ông vào đề nhanh: Chúng tôi K20 đã nhận được điện của Tổng cục Hậu cần, Đoàn 559 cho biết Trung đoàn 98 nhận được lệnh vào làm đường ô tô để chở hàng từ đây. Rất mong các đồng chí vào để hợp đồng công việc, yêu cầu làm thật nhanh để rút hàng.

Ông khoát tay nhìn vào các bãi hàng xung quanh rồi nói: Đấy, các anh nhìn, hàng chất đống, toàn hàng cho chiến trường, nào gạo, thực phẩm, nhu yếu phẩm và cả xăng dầu nữa, có hàng vạn tấn, phải có đường ô tô thì mới chuyển nhanh được. Trong này rất mong con đường ô tô của các anh, không phải 5 tháng mới xong, mà cần phải nhanh hơn, nếu không mùa mưa ập đến không vận chuyển được. Để chiến trường đói thiếu, không mở chiến dịch được, để các anh Đoàn 559 đói thiếu trên đống hàng, thử nghĩ sao đành.

Những lời nói của "ông chủ” là lời động viên thiết thực, lời kêu gọi của chiến trường, làm đoàn chúng tôi ai nấy như đều bừng lên một khí thế, một niềm tin, một quyết tâm, con đường nhất định sẽ chóng hoàn thành. Chúng tôi phát biểu đề nghị một vài việc nhất là công tác đảm bảo sức khỏe, đảm bảo thi công cho bộ đội. "Ông chủ" lại khoát tay một cái dài và nói: Các cậu cứ cho bộ đội ăn no để lấy lại sức vì đã 500 ngày liên tục chịu đói chịu khổ trên Trường Sơn.

Cần thuốc chống sốt rét, không thiếu, cần dụng cụ cuốc xẻng để làm đường, sẽ có đủ. Thế rồi anh Đông, anh Bảo nhìn nhau và nói nhỏ điều gì. Ông chủ Đức Phương liền nói: Thôi, cho mấy trợ lý quân nhu đến gặp ngay anh Huỳnh Tấn Đại để nhận hàng cho bộ đội. Chúng tôi nghĩ, chỉ cần có gạo ăn no thôi, nhưng ông chủ lại nói, cấp cho một ít xà phòng, một ít thuốc lá sợi, một số bịch đường. "Ông chủ" cũng không quên nhắc: nếu gặp người dân Cam-pu-chia hỏi hoặc lính K hỏi thì các cậu cứ nói là "cu ly" của ông chủ, hiểu không, không được nói là bộ đội nhá. Ra về anh Chu Minh Đông còn nhắc đồng chí trợ lý quân nhu xin "ông chủ" cho ít chè khô để bộ đội uống, đã rất lâu thèm hương vị miền Bắc.

Kể đến đây anh Tiệp nói, tôi còn nhớ mãi, khi đoàn hậu cần về, tôi rất phấn khởi nhưng vẫn phê bình ông Đông cần lương thực thuốc men là chính, sao nhận chè làm gì. Tôi nhớ lúc đó anh Đông cứ phàn nàn với chúng tôi mãi, đúng là làm công nên tội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2016, 10:48:51 pm »


"Ngay sau đó, các đơn vị đã vào vị trí của mình. Những chiếc ba lô được xếp hàng ngay ngắn ở một góc đường, anh em chiến sĩ, người chặt cây, đào rễ, người kéo đất san nền. Đấy một tốp ba người đang cùng nhau đào phạt những ổ mối to hàng chục mét khối. Chỗ khác một tốp lại cùng nhau đào những tảng đá hộc chắn ngang đường. Không một tiếng bộc phá, không một tiếng reo hò, chỉ nghe thấy những tiếng dao chắc nịch đẽo cây đánh dấu đường, tiếng cuốc bùng bục, tiếng kéo lá rào rào. Trong những ngày này, lao động kéo dài một ngày từ 15 giờ đến 16 giờ, có ít ngày làm thông đêm, bộ đội chỉ được phép có một giấc ngủ ngắn ngủi tại chỗ, hoặc tại chiếc võng treo trên hai gốc cây. Tất cả mọi người từ chỉ huy trung đoàn, văn thư đánh máy, liên lạc, y tá, ai cũng cầm cuốc, xẻng, dao cùng tham gia mở tuyến. Ai cũng muốn góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ thần tốc đặc biệt này.

Khó nhất vẫn là mở dốc đá Lâm Phu, đá liền khối, mở sao đủ rộng đường và giữ được bí mật. Anh em đã có sáng kiến, đục nhiều lỗ bộc phá nhỏ, tra thuốc, tranh thủ lúc không có máy bay trinh sát cho nổ rồi lại ngụy trang ngay.

Đèo 200 dài, dốc lớn, cua hẹp, có những đoạn lại hướng về phía địch; Mường Mày, A Tô Pơ, đã chỉnh lại từng đoạn tuyến tránh che khuất mắt địch, chọn giờ làm, đặt đài quan sát, đồng thời cử cán bộ dân vận biết tiếng Lào như đồng chí Phong, Lùng, Tê đi vào bản trước, vận động bà con giữ bí mật và khống chế những tên địch còn sót lại.

Vượt qua sông Tà Ngâu là vào đất Cam-pu-chia. Vấn đề đặt ra là làm sao để mở con đường qua đó được. Đại đội 7 do đồng chí Nguyễn Đình Tùng làm đại đội trưởng với quần áo bà ba đen và mũ lá do ông chủ cấp phát, với danh nghĩa là "cu ly" làm công cho ông chủ. Nguyễn Đình Tùng là cai đôn đốc do "ông chủ thuê”. Với cách che mắt như vậy, nhiều người dân cũng chẳng để ý, nhưng cũng có người biết chút ít, tò mò hỏi. Có một lần, một ông già người Cam-pu-chia đi qua, thấy đoàn "cu ly" đang cặm cụi lao động, thỉnh thoảng nhìn lên phía trước, nhưng không thấy "ông cai" đứng đấy nói gì. Ông già thắc mắc tại sao "cu ly" làm chểnh mảng, mà "ông cai" không cho mấy ba toong. "Ông cai" Tùng nói nhăng nhít vài câu cố tình đánh trống lảng. Ổng già nói: Thôi, tôi biết "ông cai” và "cu ly" của ông chủ rồi. Các ông là "cu ly" Điện Biên Phủ, ý nói là lính Điện Biên Việt Nam. Anh em nghĩ, ai biết cứ biết, ta giấu cứ giấu, miễn là không nói, người dân không biết, thế là được. Với lính Cam-pu-chia cũng vậy, một lần đồng chí Mạn, trưởng ban tác chiến cùng tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Hoàng Viết Cúc khi đi trinh sát bến phà Nhăng Sum bên hữu ngạn sông Sê Công, chúng tôi phải qua đồn Xiêm Pạng, ở đây có lính gác. Làm thế nào để vượt qua trạm gác? Đành phải dở "kịch bản", chúng tôi nói là "cu ly". Họ chẳng hiểu, và sau đó nói là người của "ông chủ". Họ cười và viết vào một tờ giấy nhỏ cho chúng tôi vào khảo sát! Thế mới biết uy tín "ông chủ" lớn biết chừng nào. Thật vậy, trong cuộc chiến đấu, chúng ta đã có nhiều mưu sâu, kế sắc.

Nhiệm vụ từng phân đội và toàn trung đoàn diễn biến liên tục ngày này qua ngày khác. Các phân đội vượt qua các phân đội, toàn tuyến của trung đoàn được nối liền.

Đó là ngày 4 tháng 3 năm 1966, một ngày đáng ghi nhớ.

Qua 38 ngày đêm lao động miệt mài liên tục, Trung đoàn đã hoàn thành xong con đường trước thời hạn 4 tháng 22 ngày. Thật là một kỷ lục thần tốc mở đường nói lên một ý chí quyết tâm cao, một tổ chức điều hành giỏi và những kinh nghiệm kỹ thuật tích lũy trong nhiều năm tháng của cán bộ và chiến sĩ.

Hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi điện báo cáo ngay ra Đoàn và về Cục Công binh. Được tin này, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 cử đồng chí Hồng Kỳ, Chủ nhiệm Chính trị đến thăm và tặng Trung đoàn lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cùng tấm Huân chương Quân công hạng ba. Tư lệnh Hoàng Văn Thái đến thăm động viên chiến công Trung đoàn vừa lập, tặng Trung đoàn lá cờ "Mở đường thần tốc". Và cũng từ ngày đó, Trung đoàn 98 - Chi hội Bình Minh vinh dự mang tên "Trung đoàn mở đường thần tốc".

Nhưng niêm vui còn được nhân lên gấp nhiều lần khi đường 49 vừa mở xong, nhiều đoàn xe nối đuôi nhau vào, tranh thủ hai tháng mùa khô còn lại ta gấp rút vận chuyển lương thực, thực phẩm, thuốc men, xăng dầu, hàng vạn tấn còn tồn đọng, kịp bổ sung cho chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 đánh thắng. Từ đường C4 này, Binh trạm 37 được hình thành, địch đã phát hiện, đánh rất ác liệt, hình thành các trọng điểm, nhưng vẫn đứng vững mãi mãi trong suốt cuộc chiến như một trong các mũi tấn công chủ yếu để vận chuyển vào chiến trường B2 Nam Bộ.

Sau khi hoàn thành đường C4, anh Phan Quang Tiệp quay ra miền Bắc chữa bệnh. Ba năm sau, năm 1972, anh lại quay vào Trường Sơn với nhiệm vụ Cục phó. Năm 1973 anh là Cục trưởng Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn gắn với tuyến Trường Sơn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Anh là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn với quân hàm Thiếu tướng cho đến ngày anh nghỉ hưu năm 1989.

Anh Phan Quang Tiệp đã vĩnh biệt cuộc đời ngày 30 tháng 7 năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các thế hệ lực lượng công binh Trường Sơn nói chung trong đó có Trung đoàn 98 không bao giờ quên hình ảnh người chỉ huy đã từng gắn bó một thời, đầy nhiệt huyết, có dũng khí, quyết tâm cao, mẫn cán, nghiêm túc, có tư duy sắc sảo trong lãnh đạo chỉ huy, hòa đồng trong mối quan hệ cán binh.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 07:15:52 am »


ĐƯỜNG 20 QUYẾT THẮNG NHẬN LẴNG HOA BÁC HỒ
Đại tá HOÀNG TRÁ
Nguyên quyền Sư đoàn trưởng
Sư đoàn ô tô 571 Đoàn 559

Mùa mưa, tranh thủ những ngày tạnh ráo, lực lượng vận chuyển bổ sung, tiếp nhận tạo lập chân hàng; khôi phục sửa chữa xe máy; nâng cấp đường để nâng bánh xe lăn; hồi phục sức khỏe, chấn chỉnh tổ chức, rèn cán chỉnh quân...

Địch vẫn đánh rải rác, ta vận chuyển nhỏ.

Đại hội tổng kết thi đua, liên hoan mừng công binh trạm lần thứ nhất, trong một hang động lớn. Hai trăm chiến sĩ thi đua, quyết thắng và cán bộ về dự. Chính ủy Nguyễn Dân đọc báo cáo tổng kết thi đua, biểu dương các đơn vị, cá nhân lập thành tích xuất sắc... Các chiến sĩ quyết thắng báo cáo thành tích, kinh nghiệm cá nhân và phân đội xe, kho, công binh, cao xạ, giao liên... Chúng tôi nghe được nhiều bài học cụ thể về thông đường, đánh máy bay, vượt cung tăng chuyến (...), do chiến sĩ và thanh niên xung phong sáng tạo nên. Ngày thứ hai dành cho thanh niên liên hoan văn nghệ "cây nhà lá vườn", tự biên tự diễn. Máy phát điện sáng rực trong hang động lớn. Trên sân khấu từ phông màn, trang phục diễn viên đủ màu sắc, làm bằng dù pháo sáng của Mỹ thu được trên trọng điểm. Có nhiều gương mặt hôm qua lên sân khấu báo cáo thành tích, hôm nay là diễn viên như: Nguyễn Thị Liệu, Vũ Tiến Đề, Phương Thảo, Hồng Tâm, Hồng Liên v.v... Lời ca, điệu chèo, kịch ngắn, độc tấu, ngâm thơ... diễn tả những gì đã diễn ra trên tuyến 20 Quyết thắng. Trình độ nghệ thuật có chừng mực, song mọi người vẫn say sưa ngắm nhìn hành động, tâm tư, tình cảm của chính mình và đồng đội đang diễn ra trên sân khấu... Những trận cười thoải mái, những tràng vỗ tay, hoan hô sôi nổi hòa nhập khán giả với diễn viên không chuyên.

Giờ giải lao, tôi ra cửa hang hóng mát, bỗng thấy bốn nữ thanh niên xung phong quần xắn cao, chân dép lốp, tay cầm võng, bạt, đòn khiêng. Mấy cô chạy đến hỏi tíu tít:

- Đi từ đâu đến đây vậy?

- Chúng em vừa cáng cái Chắt và Lân vào bệnh xá binh trạm.

- Sao vậy?

- Bị thương lúc sáng, địch đánh ngầm Khe Tum.

Tôi hỏi:

- Bị thương vào đâu? Nặng hay nhẹ?

- Vào chân và vai, phần mềm, nhẹ thôi.

- Thôi được, lát nữa tôi sẽ sang bệnh xá, các cô vào đây tham gia văn nghệ, đến chiều theo xe anh chị em đơn vị cùng về. Có cô nào biết hát không?

Một cô nhanh nhẩu trả lời:

- Cô Mậu ngâm thơ giọng Hà Tĩnh rất hay và cô Khiêm giọng Quảng Bình hát hay lắm thủ trưởng ạ.

Điều bất ngờ đến với tôi: cô giới thiệu tiết mục ngâm thơ và Bích Mậu vẫn trong bộ quần áo ướt sũng bước ra sân khấu.

Em xin ngâm bài thơ vừa sáng tác: "Cáng bạn"; Tiếng thơ dứt... có tiếng sụt sùi, người lau nước mắt vì xúc động mạnh, bởi nhân vật, sự kiện, sáng tác và biểu diễn chỉ một cô Bích Mậu.

Đến tiết mục đơn ca nữ: Hồng Khiêm quần xắn ống thấp ống cao, bước ra sân khấu hát bài: "Nổi lửa lên em", chất giọng nữ cao, trong trẻo, cả hội trường vỗ tay không dứt và yêu cầu hát lại. Tôi nhìn kỹ hóa ra cô Khiêm cáng bạn vào bệnh xá lúc sáng.

Chính ủy trao đổi với tôi, nhất trí thành lập đội tuyên truyền văn nghệ không chuyên của binh trạm và chọn "diễn viên" là những người đã thể hiện xuất sắc các tiết mục. Đồng chí Phạm Bá Chức, giáo viên văn hóa Đội 25 làm đội trưởng và 17 anh chị em thanh niên xung phong làm chiến sĩ. Chúng tôi đã cải biên nâng cao các tiết mục xuất sắc và cho đi đến các đại đội, tiểu đoàn biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sĩ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2016, 07:16:25 am »


Hội nghị tập huấn cán bộ quân chính binh trạm lần thứ nhất, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy từ đại đội trở lên thay nhau về dự. Tại Hội nghị, Thường vụ đề ra hai yêu cầu:

- Một là: Thống nhất tư tưởng hợp đồng binh chủng vận tải quân sự nhằm đảm bảo đội hình tiểu đoàn xe vận tải tập trung, tăng cung, vượt chuyến.

- Hai là: Hồi phục sức khỏe mỗi cán bộ sau 10 ngày đến tập huấn, lúc về tăng 1-2kg; thư giãn, vui chơi thoải mái, chuẩn bị tinh thần đấu trí, đấu lực mùa khô năm 1967-1968.

Sau 9 ngày nghe báo cáo và thảo luận dân chủ quân sự, đi đến nhất trí: Lấy bộ đội xe làm chuẩn để tổ chức hợp đồng binh chủng vận tải quân sự.

Coi một ngày đêm là một trận chiến đấu vận chuyển để chia ba giai đoạn:

- Giai đoạn chuẩn bị (từ 9-17 giờ).

- Giai đoạn thực hành vận chuyển (từ 17-6 giờ).

- Giai đoạn kết thúc một trận chiến đấu vận chuyển (từ 6-8 giờ).

Quy định những việc phải làm trong từng giai đoạn của bộ đội xe, kho, công binh, cao xạ... Có những bài tập mẫu về xử lý tình huống diễn ra lúc địch đánh, đường tắc, vượt qua trọng điểm,v.v...

Ngày cuối cùng chúng tôi thảo luận hai câu hỏi:

- Mùa khô 1967-1968 địch sẽ dùng thủ đoạn gì? Quyết chiến điểm ở đâu?

- Ta chuẩn bị đối phó và hành động thế nào?

Có nhiều ý kiến tranh luận và đi đến nhất trí các phương án chuẩn bị (...) đối phó. Cuối cùng binh trạm trưởng kết luận ngắn gọn để nhớ:

- Địch đánh ngầm, ta đá (đổ đá); địch phá đường, ta nổ ủi (thuốc nổ và máy ủi); mở đường vòng tránh và nâng cấp đường, nâng bánh xe lăn.

- Cao xạ "nhằm thẳng quân thù mà bắn", không cho chúng đặt bom giữa tim đường và sát hại xe hàng. Vận tải - xe tốt lái giỏi, vượt cung, tăng chuyến...

- Chỉ huy thông suốt liên tục; ba trực tiếp (trực tiếp động viên giao nhiệm vụ, trực tiếp kiểm tra đôn đốc, trực tiếp đánh giá công việc và con người).

- Tất cả hành động dũng cảm, nhanh như sóc, mạnh như hổ, theo lệnh chỉ huy hợp đồng binh chủng của binh trạm, thông qua hệ thống trạm chỉ huy của giao thông vận tải trên đường (3-5 kilômét có một trạm).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM