Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:55:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến đấu ở Tây Nguyên  (Đọc 57921 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:10:58 am »


        Sau đấy, vô tình tôi gặp đồng chí Mai Nhân cán bộ của B3 giữa một khu rừng cây cối um tùm xanh ngát. Lúc đấy, trời đã lạnh, anh Nhân cho tôi một chiếc chăn dù, chiếc chăn đó theo tôi đi khắp chiến trường và hiện giờ vẫn còn "sống” cùng tôi. Thật thú vị khi anh em chúng tôi được anh Nhân "chiêu đãi" một bữa cơm rất "thịnh soạn”. Này nhé, măng le nấu với thịt thú rừng, loại măng rừng ngon nhất đấy. Tôi vẫn nghĩ, ở ngoài Bắc, có tiền cũng không mua được.

        - Giờ đã cuối mùa mưa mà vẫn còn măng le sao anh? Tôi hỏi anh Đoá

        - Còn, nhưng ít thôi anh ạ! anh trả lời.

        Từ đây trở vào thật "sướng” đủ đường, được ăn thịt thú rừng đủ loại như khỉ, gà rừng, hưu, nai, chồn, hoẵng... sức khoẻ bọn tôi sau khi được "tẩm bổ” có khác ngay.

        Đến các trạm tôi thường được nằm võng; mỗi trạm đều có một bãi cho bộ đội ở. Anh em cũng căng võng vào cây rừng mà nghỉ, việc nấu ăn và sưởi ấm đều bằng bếp Hoàng Cầm. Dưới ánh lửa bập bùng của đêm rừng cao nguyên, những kỷ niệm thời chống Pháp lại sống dậy trong tôi...

        Còn trời mưa thì sao? Mưa thì căng ni lông lên trên võng mà ngủ. Cán bộ có ưu tiên hơn, được nằm ở trong trạm tuy nhà tranh vách nứa vẫn đỡ mưa hơn anh em ngủ ngoài trời. Nói vậy chứ khó khăn gian khổ vẫn là chính, buộc mỗi người phải tự biết rèn luyện và thích nghi với hoàn cảnh thực tại.

        Đi trong rừng, ngủ trong rừng không phải không nguy hiểm nhưng lại rất thú vị. Đặc biệt ở đây rất nhiều vắt, có đoạn vắt nhiều đến vô kể, đầu nó cứ nhoi lên nhu nhú như đàn đỉa con, nhìn quen mắt rồi mà người vẫn cứ thấy nổi da gà.

        Một lần, khi chúng tôi hành quân qua một đoạn rừng có tổ ong bò vẽ rất to. Kể ra đi quành bằng đường khác cũng tránh được nhưng rất xa. Vì thế anh em dặn nhau cứ thẳng tiến nhưng cấm được cười nói hoặc làm các động tác trêu trọc gì hết, cứ nín thở mà đi. Quả nhiên khi đi qua, một vài con bay lượn xung quanh chúng tôi nhưng thấy không có "thái độ” khác thường nên chúng không "tấn công”. Thế là chúng tôi ai cũng thở phào nhẹ nhõm vì thoát nạn.

        Lần khác, tôi đang ngủ trong một chiếc lán, ngay cửa lán có một cây xanh tươi tốt, còn anh em chiến sĩ thì mắc võng lên cây ngủ ở ngoài. Ai ngờ đâu, sáng tinh mơ, khi tỉnh dậy mấy chiến sĩ phát hiện trên cây ngay cửa lán có một con rắn lá (màu xanh) rất độc và nguy hiểm đang nằm rất “hiền lành". Một vài anh em lo quá, hét ầm lên, định đánh, nhưng may quá thấy động con rắn bò đi mất.

        Thưởng thức món ăn ở rừng thì nhiều, và món rất bổ ấy là chuyện con trăn. Có một lần, vào 12 giờ đêm khi tất cả ăn đang ngon giấc ngủ, tôi cũng vậy. Bỗng có người lay tôi dậy uống tiết trăn. Chưa hết ngạc nhiên, tôi vội dậy đi ra sân đã nhìn thấy một con trăn to, dài đến vài mét được treo trên cành cây bằng một sợi dây rừng. Chả là anh em vừa bắn được xong. Một anh cầm bát rượu hứng dưới, còn anh khác cầm đuôi con trăn dùng dao cắt đuôi tiết trăn chảy vào bát rượu. Thế là sau đó từ cán bộ đến chiến sĩ truyền tay nhau bát rượu bổ đó mà thưởng thức. Tôi chưa uống bao giờ, nhưng thấy anh em nói là rất bổ, nên tôi cũng uống xem sao. Quả nhiên uống xong, chỉ mấy phút tôi cảm thấy trong người nóng ran lên, khí thế lắm. Buổi tiệc rượu giữa đêm khuya thế mà trở nên rôm rả khác thường.

        Đây đó, câu nói của Nguyễn Trãi lại sống lại trong trí nhớ của tôi: "Rượu hoà nước dưới trên đều một bụng cha con". Đó là chiến công của đồng chí Ón cần vụ của tôi là người Cao Bằng. Đồng chí Ón là tay thiện xạ chuyên đi bắn khỉ, hươu và sau đó chế biến món ăn. Có lần đồng chí ấy trèo lên lấy phong lan, tôi cản không được sau đành đặt tên cho phong lan đó là "Ón lan". Đồng chí này rất tốt, rất yêu quý tôi. Có lần ở Liên khu 5, năm 1944, tôi và đồng chí đó bị pháo địch bắn phá, chúng tôi phải tạm chạy vào trong rừng, đồng chí Ón đã nằm đè lên người tôi để che chở đạn pháo của địch cho tôi. Tôi rất mến đồng chí đó và cảm ơn đồng chí đó rất nhiều.

        Thế mới biết cuộc sống người lính có biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Lúc khổ, lúc sướng là vậy.

        Anh Đoá bảo tôi:

        - Bây giờ thì hết gà nhà rồi, nhưng anh muốn ăn gì có nấy, khỉ, nai, dê hay gà rừng? Anh muốn ăn thịt gì thì anh em xin "phục vụ” ngay. Đúng thế, nhiều lần ước là thấy. Một hôm, anh em họ bắn được một con nai, họ bắc bếp đun hai nồi: một nồi nước sôi và một nồi mỡ sôi. rồi xẻ thịt nai ra, giờ thì tuỳ anh muốn dùng kiểu tái nào thì dùng. Thế mới biết, nếu cứ ở Hà Nội, thì dù có ao ước đến bao nhiêu cũng không có được món ăn vừa lạ vừa bổ như thế...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:11:44 am »


        Trên đường vào Mặt trận B3, tôi còn được gặp anh Hoàng Kiện, người bạn, người đồng chí mà sau này còn gắn bó với tôi nhiều năm ở Học viện Quân sự Cấp cao. Lúc đó anh Hoàng Kiện chỉ huy Sư đoàn 304 vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Sau khi đánh xong trận Plâyme thắng lợi - đánh cho sư kỵ binh không vận Mỹ, một phát minh mới của Mắc-na-ma-ra những đòn choáng váng, anh được Bộ điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Vì thế trên đường anh ra Bắc chúng tôi đã gặp nhau. Hai anh em tôi dừng chân nghỉ dọc đường. Anh say sưa kể lại chuyện đánh trận Plâyme như thế nào? và vì sao ta thắng lợi giòn giã như thế!

        Qua câu chuyện anh kể, tôi lại có thêm kinh nghiệm thực tế chiến trường rất bổ ích và quý giá. Anh như tiếp cho tôi nguồn sức mạnh mới trước khi vào trận. Trong người tôi bỗng trào dâng niềm cảm xúc thật khó tả vừa hồi hộp bồn chồn vừa háo hức và lo lắng về trách nhiệm và cương vị của mình.

        Càng đi vào gần chiến trường không khí chiến tranh càng rõ rệt. Đi trong rừng bạt ngàn nhưng vẫn là đi dưới tiếng gầm rú của máy bay và tiếng pháo địch. Địch đang hoạt động mỗi ngày một dữ dội hơn.

        Lúc bấy giờ, vào chiến trường, con đường 559 này chưa phải là nhộn nhịp lắm. Có lẽ cũng có nhiều lý do, nhưng lý do chính là ta chưa tổ chức được nhiều trận đánh lớn hợp đồng binh chủng, và chưa tổ chức vận tải cơ giới một cách thông suốt. Và vì thế nhu cầu cung cấp cho chiến trường chưa lớn.

        Sau này, tôi ra vào nhiều lần thì lúc đó mới thấu hiểu sâu sắc hơn giá trị, "tầm vóc chiến lược” của con đường 559, con đường đọng lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó phai mờ.

        Các lần sau đó đi ra vào nhiều lần tôi đi hoàn toàn bằng phương tiện ô tô, tuy có nguy hiểm thật nhưng nhanh hơn nhiều so với việc hành quân bộ trước đây. Trên con đường ấy, tôi đã gặp biết bao điều cảm hứng bởi thiên nhiên, cảnh sắc thơ mộng. Con đường trải dài thẳng tắp giữa các đồi thông dưới ánh trăng thơ mộng của chị Hằng. Nhưng thiên nhiên thơ mộng đó và chị Hằng có biết đâu mọi người qua lại đây đều rất ngại, cả tôi cũng thế vì đó là mục tiêu - miếng mồi ngon cho máy bay giặc, khác hẳn với những con đường quanh co, dốc núi quành quèo, chính nó lại không nguy hiểm bằng một con đường thẳng băng. Những đồi thông, rừng thông xanh biếc rầm rì lời tâm sự của gió, nhưng cũng đang bị khuấy động bởi tiếng gầm rú của máy bay và tiếng bom đạn của giặc Mỹ trong cuộc chiến tranh ác liệt. Lúc ấy, tôi chợt nghĩ: có lẽ "xe không kính” của "nhà thơ 559" Phạm Tiến Duật cũng đã đi qua con đường này rồi còn gì nữa. Và trên con đường ấy tôi đã gặp biết bao nhiêu người, bao nhiêu số phận.

        Thật xúc động và cảm phục khi gặp những chị đang địu cả con ra Bắc để học tập, có những chị thì đi làm nhiệm vụ vận chuyển thương binh... Thấy các chị "địu” con vất vả quá, anh chị em giao liên phải thay nhau bế hộ, trông đến tội. Tôi nghĩ đó là điều kỳ lạ về tinh thần con người - người phụ nữ Việt Nam, với sức mạnh kỳ lạ của những vóc dáng mảnh mai và thậm chí thể lực yếu đuối ấy mà đã vượt lên tất cả, đó chính là sức mạnh về ý chí của cả một dân tộc dồn mọi tâm sức, để chiến thắng một đế quốc khổng lồ như Mỹ. Cho đến giờ lịch sử chiến tranh chưa cắt nghĩa được điều đó.

        Lần ấy, trong số thương binh chuyển ra Bắc, tôi đã gặp đồng chí Sĩ Động, anh bị cụt một chân. Lúc mệt anh nằm võng, lúc đỡ anh lại chống nạng đi lấy. Anh Động cũng là giáo viên cũ của Học viện. Anh em gặp nhau ai nấy mừng mừng tủi tủi, rơi nước mắt. Chúng tôi ôm lấy nhau thấy xúc động quá, chẳng phải anh em ruột thịt mà tình cảm đồng chí đồng đội lúc này còn hơn thế nữa, thương nhau chia sẻ ngọt bùi cùng nhau.

        Sau này khi chúng ta triển khai làm thêm trục đường ống dẫn dầu dọc theo con đường 559 thì không khí trên con đường này sôi động hẳn lên. Sự thần kỳ của con đường cũng được nhân lên gấp bội. Cũng chính từ khi ta làm con đường ống dẫn dầu thì địch càng luôn luôn tìm mọi cách đánh phá, dử dội hơn nhiều lần bằng những hành động thả biệt kích, thám báo chỉ điểm thậm chí tổ chức cả một chiến dịch đánh phá qui mô ... . Nhưng nhờ có dân tốt, quân và dân ta đều cảnh giác nên bọn chúng không làm gì được.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:12:04 am »


        Chúng tôi đã từng gặp và còn nhớ mãi những khuôn mặt đáng yêu của các nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường này. Họ đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho cách mạng, đất nước độc lập tự do ngày đêm chống chọi với bom đạn ác liệt để bảo vệ sự sống của con đường huyết mạch. Những giờ phút căng thẳng khi điều khiển cho từng đoàn xe qua ngầm, qua đèo dưới làn bon đạn địch, những lần phá bom nổ chậm hay san lấp hố bom để thông đường... Có lần xe ô tô hết xăng vào trạm bơm xăng của 559 thì toàn là các cô gái cả miền Nam và miền Bắc bơm xăng cho các xe ô tô. Mặc dù từ rất nhiều quê khác nhau trên khắp đất nước: Nghĩa Bình, Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Thái Bình... nhưng họ sống với nhau ở nơi đây như chị em ruột thịt, sống chết có nhau. Sự gian khổ hy sinh là chất keo gắn chặt họ với nhau trong cuộc sống và chiến đấu. Với họ cũng có nhiều ngành nghề, có cô được trên cho đi học nâng cao trình độ y tá y sĩ nhân viên chuyên môn điều trị, có cô là chiến sĩ thông tin, văn công... Tất cả họ phần lớn đều còn rất trẻ, hồn nhiên mà dũng cảm phi thường, trong trắng và đáng yêu biết bao.

        Những năm sau đó còn có dịp đi lại trên con đường này, chúng tôi lại tích luỹ thêm những kinh nghiệm hành quân. Và lại có thêm bao nhiêu kỷ niệm về con đường ấy: Có lúc xe chúng tôi chạy cả ban ngày nhưng chủ yếu là ở những đoạn đường đã được nguỵ trang kín đáo.

        Một lần, tôi được nghỉ ngay tại Tổng hành dinh Bộ Tư lệnh đường 559, ở đây tôi được gặp anh Đồng Sĩ Nguyên, một đồng chí chỉ huy gan dạ, mưu trí. Lúc ấy, anh đang là Tư lệnh đường chiến lược vận tải Trường Sơn (559). Rồi tôi lại gặp cả đoàn của anh Năm Công ở Quân khu 5 đi ra Hà Nội họp. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên quyết định đoạn này rậm rạp được nguỵ trang tương đối kín đáo, địch lại không bắn phá lắm nên có thể đi ban ngày.

        Tất cả anh em chúng tôi đều phải mang mũ sắt trên đầu. Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay trên đầu rồi những tiếng nổ vọng từ xa tới. Sau lần gặp anh Đồng Sĩ Nguyên, chúng tôi và đoàn anh Năm Công được anh Nguyên "chiêu đãi" một bữa khá thịnh soạn, tươm tất. Nhất là tối hôm ấy chúng tôi còn được thưởng thức một tối văn công do đoàn văn công Trường Sơn biểu diễn. Các cô văn công lúc đó không son phấn, chẳng trang điểm gì hết, nhưng nghe họ hát, múa sao mà vui thế, đẹp thế. Thế mới biết, đang lúc bom đạn ác liệt, giữa rừng Trường sơn được ưu đãi như vậy có khi còn thích thú hơn nhiều so với một số đêm ở nhà hát lớn Thủ đô Hà Nội.

        Đi xe ô tô có nhanh, đỡ vất vả hơn nhiều so với đi bộ, song không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có lần chúng tôi đi bằng xe "Bắc Kinh", khi xe đang vượt qua một chiếc đèo lên gần tới đỉnh đèo thì két nước không còn một giọt vì máy quá nóng. Đây thường là tụ điểm đánh phá của địch nên rất nguy hiểm. Phải lấy nước nhanh. Gần đỉnh đèo thì khó mà kiếm được nước. Quả nhiên anh em phải chia nhau đi tìm khắp các khe lạch, vất vả lắm mới lấy được nước để đổ cho xe chạy tiếp.

        Sau này khi được dùng xe Uát thì mới thấy xe này bảo đảm hơn, "khoẻ" hơn xe '"Bắc Kinh" nhiều. Nó không những đi nhanh qua đèo, dốc mà ở những ngầm sâu, suối sâu nếu xe Jin ba cầu qua được thì nó cũng qua được.

        Còn lần khác khi xe đi vào mùa mưa, đường trơn, chúng tôi phải đi bằng xe Jin ba cầu có đầu tời, mỗi khi lên dốc phải dùng tời để kéo. Nhất là qua những chỗ nước lũ mực nước lên cao trên các ngầm, lại phải dùng xe kéo pháo Uran để kéo xe Jin. Thậm chí còn dùng cả xe máy húc để kéo.

        Cá biệt, có các ngầm như Tà Lê, đèo Mụ Giạ, cua chữ A là những mục tiêu mà địch bắn phá rất ác liệt, đoạn đường ấy rất khó đi. Lần ấy, khi xe chúng tôi qua đèo Mụ Giạ vào buổi chiều, nhìn cây cối hai bên đường trơ trụi hết, lộ ra toàn là đất đỏ, ấy là sự tàn khốc của chiến tranh. Song cũng vì bom đạn đánh phá nhiều nên cây cối quang đãng hơn, nhất là các "cua" trên đèo lại rất rộng, anh em lái xe mở rộng được tầm nhìn, xe đi lại dễ dàng hơn. Lợi và hại là bạn đồng hành mà. Một đồng chí có nhận xét như thế đấy. Tất cả điều ấy cũng là khó khăn, vất vả đấy nhưng đừng so sánh với sự chịu đựng khó khăn nguy hiểm của các đồng chí công binh mở đường. Họ không chỉ phải chịu đựng bom đạn mà phải chống chọi với cả thiên nhiên khắc nghiệt, nắng mưa, gió rét... Nhất là các đồng chí ở cung đoạn có cầu phà, cầu phao thì nhiều đồng chí ngày đêm phải dải trên cầu để chờ đón và dẫn đường cho các đoàn xe qua. Dũng cảm nhất là những đồng chí phải đứng ở giữa cầu phao để đảm bảo vững chắc cho cầu xe qua. Các đồng chí lái phà cũng phải thường xuyên nằm ở trọng điểm đánh phá của địch. Nguy hiểm biết bao, phi thường biết bao tinh thần bất khuất, dũng cảm hy sinh, sự gan dạ phi thường ấy đã trở thành sức mạnh to lớn chiến thắng vũ khí kỹ thuật hiện đại của Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 02:54:11 pm »


        Lịch sử mãi mãi còn ghi nhận những tấm gương hy sinh dũng cảm của các nữ thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc. Ở đoạn ngã ba này, có lần chúng tôi đi qua cầu được một đoạn thì địch ném bom dữ dội, trước mặt chúng tôi cũng vậy đó là cảnh nhà dân hai bên đường lửa còn đang cháy dở. Chắc ai trong số chúng ta quê ở Quảng Bình thì rõ hơn hết những hy sinh cao cả của các bà mẹ. Họ đã từng dỡ hết cánh cửa nhà mình để lát đường cho xe bộ đội ra Mặt trận. Mẹ Suốt ngày đêm chèo đò chở bộ đội qua sông dưới làn đạn giặc. Sau chiến tranh, từ các em nhỏ đến các cụ già toàn quốc cũng đã biết hình ảnh bà mẹ Suốt Quảng Bình qua thơ ca kháng chiến chống Mỹ... Đó là những tấm gương trường tồn với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

        Đường 559 - với tầm vóc chiến lược của nó thật xứng đáng có nhiều công trình tổng kết và viết thành lịch sử chiến tranh. Là một trong những người được đi qua con đường có nhiều lần tôi không sao kể hết và thấy hết được mọi điều. Chỉ biết rằng đó là một con đường vận tải, cung cấp lương thực, thực phẩm, vũ khí cho chiến trường thắng Mỹ - ngụy. Với những trạm chuyển tải, cứu chữa thương bệnh binh với các trạm quân y, bệnh viện dã chiến, các trạm thông tin liên lạc với đường ống dẫn dầu như "cánh tay khổng lồ" vươn tới chiến trường miền Nam nó đã góp một phần rất quan trọng, quyết định sự thành công của cuộc chiến đấu. Vì thế nó phải được giữ gìn như mạch máu trong cơ thể con người. Đường ống dẫn dầu đó là mạch máu chảy từ Bắc vào Nam, chảy từ khi quân Mỹ đặt chân lên mảnh đất miền Nam. Đường ống đẫn dầu qua đèo núi thật là thần kỳ.

        Quả thật con đường 559 đã chứng kiến bao sự kiện. Con đường ấy đã từng đưa đón vợ chồng Pôn-pốt Iiêng xa-ri và vợ chồng Si-ha-núc đi lại giữa Cămpuchia và Hà Nội. Ở mỗi trạm giao liên, đều có các căn nhà giành riêng cho vợ chồng Xi-ha-núc nghỉ mỗi khi dừng chân. Có nhiều ngôi nhà rất đẹp, sàn toàn bằng gỗ được bào nhẵn. Xung quanh nhà treo đầy các làn phong lan hiếm lạ hoa toả ngát hương. Ở giữa rừng gian khổ vậy mà tưởng nơi nghỉ mát hay khu du lịch.

        Với tôi còn những kỷ niệm khác không kém phần thú vị, lần đó, khi qua một trạm giao liên trên con đường 559, vô tình tôi trông thấy một quyển tạp chí nghiên cứu lịch sử. Ở giữa rừng cuốn sách trở nên quý giá vô cùng. Tôi ngỏ lời xin đồng chí trạm trưởng cuốn sách ấy. Biết tôi là người ham mê lịch sử, anh vui vẻ tặng tôi. Nhờ có cuốn sách ấy mà tôi có thêm tư liệu để hoàn thành cuốn sách "Tổ tiên ta đánh giặc" - một trong những cuốn sách đầu tay của tôi được thai nghén và xuất bản ngay tại chiến trường.

        Lần khác, vào năm 1973, khi đường 559 chuyển từ Tây Trường Sơn sang Đông Trường Sơn. Lúc ấy bom đạn đã ít đi, mỗi lần tranh thủ lúc dừng chân ở các trạm giao liên chờ nước lũ qua đi là thời gian tôi suy nghĩ để hoàn thành bản thảo cuốn sách "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa".

        Thế đấy, với tôi thì con đường 559 đã trở nên thân thiết biết nhường nào. Giờ đây mỗi khi xem lại các cuốn sách trên, tôi tự nhủ, những lúc khó khăn như thế mình vẫn cố viết sách thì giờ đây khi điều kiện có đầy đủ hơn nhiều, lẽ nào lại không tiếp tục "sự nghiệp " đó.

        Cũng vì tầm vóc của nó cần phải nói thêm một chút kỹ càng hơn và con đường này. Nó được chia thành 3 chặng:

        Chặng một, từ miền Bắc (làng Ho - Quảng Bình) đến Bến Hét trên con đường 18 từ Tân Cảnh đi Atôpơ, do Bộ Tư lệnh 559 quản lý, chặng thứ hai, từ Bến Hét đi Đức Lập (Đắc Lắc). Chặng này do Mặt trận Tây Nguyên quản lý và chặng ba, từ Đức Lập đi vào Miền do Bộ Tư lệnh Miền quản lý.

        Bộ Quốc phòng và Tổng cục Hậu cần đối với con đường 559 cũng vô cùng tài giỏi. Theo quyết định của Bộ, tất cả các đồng chí phục vụ trên con đường này đều nằm trong biên chế binh chủng hợp thành. Trong đó có các binh chủng như: vận tải, công binh, phòng không, thông tin, giao liên. Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp rất chú ý làm đường, cả đường 559 và các đường chiến dịch. Nhờ có con đường này, ngoài việc vận tải nói chung, ta có thể đưa quân ra vào, đưa thương binh từ chiến trường về phía sau (hậu phương)... một cách thuận lợi hơn . Cũng chính vì tầm quan trọng của đường 559 mà chiến lược của Mỹ là phải cắt đứt tiền tuyến và hậu phương của ta. Chiến lược của Mỹ là nhằm đánh phá cả tiền tuyến và hậu phương. Với con đường 559 chúng đánh phá ác liệt không kém gì tiền tuyến. Nhưng đường 559 vẫn hiên ngang, trụ vững, vẫn phát triển và vươn dài theo núi rừng Trường Sơn hùng vĩ dọc ngang hàng vạn km và đường ống dẫn dầu hàng ngàn km. Con đường đã chứng kiến cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa ta và địch, giữa lòng dũng cảm vô song của con người Việt Nam với mọi vũ khí hiện đại của không lực Hoa Kỳ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 02:54:37 pm »


        Chúng tôi vẫn ao ước một ngày nào đó phải có được những công trình lịch sử, những tác phẩm văn học tương ứng với tầm vóc của con đường chiến lược này. Bởi vì thiếu nó, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước khó mà đi đến thắng lợi.

        Bộ đội 559 không chỉ bảo vệ mạch máu giao thông giỏi mà cũng có một bộ phận trong số họ đó là bộ đội cao xạ pháo tham gia vào chiến công của chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971, bắn rơi nhiều máy bay địch, nhất là máy bay trực thăng. Trong chiến dịch Buôn Ma Thuột, Đoàn 559 cũng tham gia với Mặt trận Tây Nguyên 1 Trung đoàn công binh, 1 Trung đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn bộ binh đã tăng thêm sức mạnh cho trận Buôn Ma Thuột.

        Không thể nói hết, kể hết những chiến công của họ, cả chiến công thầm lặng những chiến công đã trở nên huyền thoại, thần kỳ. Bởi vì tôi đâu có ý định chỉ giành riêng cuốn sách này để nói về con đường, mà chỉ với ý định khi nói về cuộc chiến đấu rực lửa ở chiến trường Tây Nguyên, chiến trường miền Nam, thì con đường 559 cũng như vậy không thể không nhắc đến. Đấy là chúng tôi - những người chiến sĩ đã từng trong cuộc. Không chỉ vậy mà cả những người "ngoài cuộc" như anh Tố Hữu – nhà thơ danh tiếng cũng thế và anh còn nói hay hơn chúng tôi nhiều. Năm 1973 anh Tố Hữu có vào miền Nam trên con đường này bằng nhạy cảm của mình, anh đã cảm xúc thật sự thành những lời thơ lắng đọng:

                                        "Trường Sơn đông nắng, tây mưa
                                        Ai chưa qua đấy như chưa biết mình"


        Giá trị của việc "biết" là như thế đấy. Vì thế trách nhiệm của chúng tôi, những người lính đã đi qua chiến tranh chưa phải là xong, mà đó chỉ mới là một nửa. Hôm nay, chiến tranh đã hết, chúng tôi rất muốn chiêm nghiệm và viết về nó, trong đó có cả con đường 559 để cho tất cả những ai, nhất là những người chưa qua đường 559 hãy "biết mình" là ai?

        Ai ở đường 559 quên làm sao được anh Đào "móm" - chỉ huy trưởng một binh trạm của 559, quê ở miền Nam Trung Bộ. Vì ý thức đối với quê hương mình rất cao, tình cảm dễ xúc động trước lời kêu gọi của quê hương, chiến trường, lần ấy anh đã đi vượt cung của 559 (qua Bến Hét) để vào địa bàn B3, nhanh chóng vận tải sớm hậu cần cho Mặt trận Tây Nguyên, chỉ với ý nghĩ là tạo thuận lợi cho chiến trường thôi mà sau "sự kiện" này, Bộ Tư lệnh 559 thì phê bình anh nhưng Bộ Tư lệnh B3 lại khen anh. Chuyện lạ mà có thật. Có người hỏi Đào "móm":

        - Thế là thế nào?

        Anh hồn nhiên trả lời:

        - Có sao đâu, lời khen của chiến trường "nặng hơn cân" lời phê của Bộ Tư lệnh 559, tôi vẫn thích.

        Tôi vào đến Mặt trận đúng vào lúc chiến dịch bắt đầu, vào đến chỉ huy sở B3, tôi được gặp các anh Chu Huy Mân, Cao Văn Khánh, Nguyễn Hữu An, Nam Hà, Lê Linh, Hoàng Phương và anh Vương Tuấn Kiệt. Anh Cao Văn Khánh lúc ấy là Phó tư lệnh Mặt trận. Các anh nóng lòng chờ tôi vào trận, và tôi cũng chỉ mong sớm được gặp các anh ấy để bắt tay vào công việc chính. Số anh em này toàn là bạn chiến đấu cũ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Những người đã từng lăn lộn với thực tiễn chiến đấu và công tác, những kinh nghiệm trong công tác chính trị, quân sự, những cán bộ được đào tạo khá cơ bản trong thời bình được rèn luyện thử thách trong cả thời chiến vừa có trình độ, vừa có bản lĩnh chính trị cao. Đấy là một bộ chỉ huy mạnh.

        Anh em chúng tôi gặp nhau trong không khí sôi động, tấp nập của chiến trường. Vui vẻ, tự tin, ở bên cạnh các anh, những đồng chí đi trước có nhiều kinh nghiệm, tôi cảm thấy vững dạ và dường như được tăng thêm sức mạnh.

        Không thể nghỉ ngơi gì nữa - mặc dù vừa phải hành quân qua một chặng đường dài. Tôi sốt ruột hỏi anh Mân những kinh nghiệm đánh Mỹ. Anh đưa cho tôi xem kế hoạch tác chiến của địch Sa Thầy mùa khô 11/1966. Đây là một trận đánh mà nghệ thuật rất hay. Mưu kế rất tài tình. Đối chiếu giữa kế hoạch tác chiến và hoạt động của quân Mỹ trong thực tế thấy gần giống nhau. Do rút được kinh nghiệm từ trận đánh Plâyme 1965, ở trận này ta nhử địch vào sâu trong thế trận ta đã bày sẵn mà tiêu diệt.

        Bài học nữa là vấn đề lựa chọn chiến trường để đánh Mỹ rất quan trọng. Lựa chọn chiến trường chiến lược Tây Nguyên là rất phù hợp, trong chiến trường Tây Nguyên phải tiếp tục lựa chọn hướng nào để đánh Mỹ mà cũng sẽ thu được thắng lợi giòn giã như Sa Thầy?

        Qua đấy, tôi rất khâm phục nghệ thuật mưu kế chiến dịch của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên và nhất là đồng chí Tư lệnh Chu Huy Mân.

        Trong khi trăn trở suy nghĩ điều đó, tôi chợt nhớ lời nhắc nhở của các anh - Anh Văn, anh Dũng khi còn ở Hà Nội trước lúc lên đường - Đó là phải tìm hiểu thật kỹ, nghiêm túc để nắm cho được chắc quy luật thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ. Từ đó về sau tôi nghiệm mãi và thấy rất đúng điều này: biết địch biết ta trăm trận không nguy. Nghệ thuật hay mưu kế giỏi cũng phải xuất phát từ cái gốc ấy.

        "Hôm nay trên đường hành quân ra Mặt trận, trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác. Cả đoàn quân tiến theo Người như thác đổ... "

        Nhạc sĩ nào đã viết bài hát ấy - cảm ơn vì họ đã giúp chúng tôi dựng lại không khí trên đường ra trận hồi đó như vậy đấy. Ai cũng phải tự hào nếu được hoà mình vào không khí đó, và nhất là được đặt chân trên con đường 559 trong những năm đánh Mỹ, dù chỉ một lần thôi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 02:56:01 pm »


PHẦN 8

ĐẾN TÂY NGUYÊN

        Tây Nguyên là địa danh chỉ miền núi và cao nguyên phía tây Trung Bộ chạy dài từ vĩ tuyến 15 xuống đến vĩ tuyến 11: Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; nam giáp tỉnh Bình Phước miền Đông Nam Bộ; đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ; tây giáp nước Lào và Campuchia, với một biên giới chung dài khoảng 700 km.

        Tây Nguyên rộng khoảng 67.000 km2 (phần Tây Nguyên thuộc Khu 5 có khoảng 35.962km2) gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức (nay là Kon Tum - Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng).

        Đó là nói về mặt địa lý. Nhưng trong kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên là một bộ phận của Khu 5. Kể từ năm 1964, để tiện cho việc chỉ huy tác chiến, Bộ Tư lệnh Khu 5 còn thành lập Mặt trận Tây Nguyên - gọi tắt là B3, bao gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc - Phú Bổn, còn Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức thuộc Khu 6. Số dân ở Tây Nguyên có khoảng gần 1 triệu người gồm hơn 30 dân tộc anh em, đông dân hơn cả là các dân tộc Xê Đăng, Dẻ, Cơ Giông (Kon Tum); Gia Rai, Ba Na (Gia Lai); Ê Đê, MơNông (Đắc Lắc), Cờ Ho (Lâm Đồng). Các dân tộc đều có tiếng nói riêng và một số dân tộc có chữ viết theo các hệ ngôn ngữ Môn Khơ me, Malaia.

        Địa hình Tây Nguyên được hình thành bởi năm cao nguyên nối tiếp nhau từ Bắc vào Nam; phía bắc là cao nguyên Kon Tum, độ cao trung bình trên 1000m với các dãy núi cao trùng điệp, có các đỉnh cao như Ngọc Linh 2598m, Ngọc Niay 2259m, Ngọc Krinh 2025m và thấp dần cho tới bắc tỉnh Gia Lai, chỉ còn một số dãy núi cao trên dưới 1500m. Tỉnh Kon Tum Gia Lai nằm trong cao nguyên này.

        Tiếp đến là cao nguyên Đắc Lak có độ cao thấp hơn, trung bình dưới 1000m, địa hình tương đối bằng phẳng, không có ngọn núi cao nào đáng kể. Phần bình nguyên ở phía nam cao nguyên này là thị xã Buôn Ma Thuột củatỉnh Đắc Lắc.Địa hình từ Buôn Ma Thuột về phía nam lại cao dần lên.

        Tiếp giáp về phía nam của cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Lâm Viên và sau đó là cao nguyên Di Linh. Độ cao trung . bình trên 1500m với các dãy núi cao có đỉnh như Chư Yang Sơn 2405m, Chư Yên Du 2075m. Tỉnh Lâm Đồng với thủ phủ Đà Lạt bao gồm hai cao nguyên này.

        Tiếp giáp về phía tây nam cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Mơ Nông có độ cao thấp, trung bình 1000m bao gồm các tỉnh Tuyên Đức, Quảng Đức, nay thuộc tỉnh Đắc Nông. Trên các cao nguyên thường có rừng thưa, phần lớn là rừng khoọc, xen lẫn rừng Le, có các bãi trồng, có bãi rộng tới 1 km2.

        Càng về phía nam, phần giữa Tây Nguyên đất tương đối bằng phẳng, song lại có nhiều hồ nước rộng và sâu như ở khu vực Phước An, Lạc Thiện và Biển Hồ ở Plâyku (đặc biệt hồ Lạc Thiện sâu và rộng, là một trong những hồ đẹp nhất ở miền Nam).

        Đất đai Tây Nguyên rất màu mỡ, nhìn chung có hai loại đất phong hoá, phong hoá bazan và phong hoá granít. Đất mang màu đỏ gạch mà ta thường gọi là đất đỏ bazan rất thích hợp với việc phát triển cây công nghiệp như: cao su, cà phê, bông, hồ tiêu ...

        Tây Nguyên có nhiều sông và suối lớn phát nguyên từ các dãy núi cao, nhưng đáng kể là ba sông chính: Sê San (Pô Cô), Sêrêpốc và sông Ba.

        Sông Sê San (Pô Cô) bắt nguồn từ các dòng suối trong dãy núi phía bắc cao nguyên Kon Tum, chảy qua phía tây thị xã Kon Tum sang tới Campuchia rồi đổ vào sông Mêkông đoạn thuộc thị xã STung Treng.

        Sông Sêrêpốc bắt nguồn từ các dòng nước suối và hồ lầy nam cao nguyên Đắc Lắc chảy về phía bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Ratanakiri thuộc Campuchia hợp lưu với sông Sê San chảy vào sông Mê Kông.

        Sông Ba bắt nguồn từ nam cao nguyên Kon Tum phía đông thị xã Plâyku, chảy qua thị xã Phú Bổn đổ ra Biển Đông ở địa phận thị xã Tuy Hoà (Phú Yên).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:15 pm »


        Tây Nguyên sớm có một mạng lưới giao thông ngang dọc. Quốc lộ 14 chạy suốt từ Huế qua Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột, nối liền với đường số 13, ở ngã ba Chơn Thành ra quốc lộ 1 vào đến Sài Gòn.

        - Quốc lộ số 19 chạy từ Quy Nhơn đến biên giớiCampuchia.

        - Quốc lộ số 21 chạy từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hoà Khánh Hoà.

        - Liên tỉnh lộ số 7 từ Plâyku đi Tuy Hoà (Phú Yên)

        Còn có các đường liên tỉnh, giữa các huyện về thị xã. Ngoài ra Tây Nguyên đã hình thành thêm một hành lang đường quân sự chiến lược: trục đường 1b (đường Trường Sơn) nối liền từ Bắc chạy dọc theo phía tây của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Quảng Đức vào phía nam tới Lộc Ninh (Nam Bộ); một số đường nhánh nối với quốc lộ số 14 và các đường xuyên rừng nằm trên phần phía tây các tỉnh ở Tây Nguyên.

        Ở Tây Nguyên, các con đường quốc lộ, tỉnh lộ có vẽ trên bản đồ trong suốt hai cuộc kháng chiến thì thường bị địch chiếm giữ. Chỉ sau năm 1960 kể từ khi ta bắt đầu mở đường Trường Sơn (đường 559) một tuyến đường chiến lược nối liền hậu phương lớn - miền bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, từng tháng, từng ngày vươn tới Tây Nguyên rồi vào miền Đông Nam Bộ thì lúc đó ta mới có một mạng lưới giao thông bí mật xuyên rừng, vượt núi, có những đường hành lang dọc từ Bắc xuống Nam, men theo biên giới Việt Lào, Việt - Campuchia. Có những đường ngang từ Tây sang Đông xuống các tỉnh ven biển miền Trung.

        Núi rừng, cao nguyên với đất đai, sông suối, đường sá ở Tây Nguyên còn bị chi phối bởi thời tiết và khí hậu. Hàng năm, ở Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 360 đến 500 ly; giữa mùa mưa có tháng mưa rất to và liên tục làm cho núi lở, sông suối nước lũ chảy xiết trở ngại đến mọi hoạt động, đi lại. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5, gió khô hanh, đất se cứng, thời tiết thuận lợi cho việc lưu thông, nhất là các hoạt động quân sự.

        Từ những vùng xung quanh, muốn đến Tây Nguyên phải vượt qua đèo cao, có những rừng cây rậm rạp, thường xuyên mây mù che phủ, càng đi càng gặp nhiều suối sâu vách đứng và đường đèo phức tạp. Song cũng gặp nhiều rừng gỗ quý, nhiều loại cây có quả ăn được, nhiều loại thú rừng quý hiếm.

        Người dân Tây Nguyên sống thưa thớt, nhưng các buôn làng thường ở tập trung, sống bằng nông nghiệp và săn bắn với những tập quán cổ truyền nhiều màu sắc. Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiêu buôn làng bị đánh phá, hoặc chống lại việc gom dân của địch, nên đồng bào thường ở phân tán vào các khe suối, có khi vài ba nhà ở trong một khe suối nhỏ, đi một nửa ngày đường mới gặp.

        Đồng bào Tây Nguyên giàu lòng yêu nước, kiên cường bất khuất, yêu quý buôn làng vốn có truyền thống cách mạng chống giặc ngoại xâm. Trong kháng chiến chống Pháp chúng ta đã từng biết tinh thần cách mạng rất cao của người dân Tây Nguyên như anh hùng Ma Trăng Lơn và anh hùng Núp qua tác phẩm "Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Trong kháng chiến chống Mỹ, tinh thần đó lại càng thêm bùng cháy.

        Đồng bào luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ. Nhiều thanh niên Tây Nguyên đi bộ đội, du kích, các buôn làng đều đóng góp sức người, sức của, lương thực, thực phẩm cho cách mạng và có những anh hùng chiến sĩ thi đua.

        Thiên nhiên của Tây Nguyên không chỉ giàu tiềm năng về mặt kinh tế, mà còn tạo nên những đặc điểm nổi bật hình thành một vùng có tầm chiến lược quân sự rất quan trọng đối với đất nước ta và thậm chí đối với toàn Đông Dương.

        Tây Nguyên có thế rất cao so với các khu vực tiếp giáp với nó. Từ trên thế cao này, Tây Nguyên có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực xung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, Tây Nguyên có có thế rộng lớn cả về bề rộng, về chiều sâu và sự kín đáo; lại có thế dài liên tục, từng khu vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nhưng lại nối tiếp với nhau, khu vực này có thể hỗ trợ cho khu vực kia, tạo nên một thế liên hoàn vững chắc.

        Tây Nguyên vừa có rừng núi, vừa có cao nguyên; có dung lượng chiến trường lớn, có thể tác chiến hợp đồng binh chủng. Có thể nói Tây Nguyên là "mái nhà" của Đông Dương và vì vậy người Pháp khi phát hiện ra Tây Nguyên đã từng đánh giá: "Ai làm chủ Tây Nguyên, sẽ làm chủ Đông Dương ?".

        Là một địa bàn chiến lược quân sự hết sức quan trọng như vậy nên cả ta và địch đều hết sức chú ý giành giật với nhau từng tấc đất trên cao nguyên này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:57:12 pm »


PHẦN 9

TRẬN ĐÁNH ĐẮC TÔ I

        Tôi vào đến Tây Nguyên vào dịp gần Tết năm 1967. Trong Thư chúc Tết năm 1967 của Bác Hồ, có bài thơ Xuân:

                                        Xuân về xin có một bài ca
                                        Gửi chúc đồng bào cả nước ta
                                        Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
                                        Tin mừng thắng trận nở như hoa


        Ngày ấy, mỗi khi Tết đến, cả nước mong đón thơ của Bác, như chờ đón một mệnh lệnh mới, một niềm tin về bước phát triển mới của cách mạng mà Đảng và Bác đã dẫn dắt từng bước đi cho toàn dân tộc.

        Kể từ khi đế quốc Mỹ hiếu chiến leo thang chiến tranh bằng không quân bắn phá miền Bắc (1964) và đưa quân viễn chinh hùng hổ kéo vào miền Nam (1965), đẩy cuộc "chiến tranh cục bộ" của chúng lên đến đỉnh cao thì cũng là lúc chúng bị quân và dân ta giáng cho những đòn nặng nề nhất.

        Phát huy thắng lợi mùa khô 1965 - 1966, quân và dân hai miền tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công trong suốt Hè Thu 1966, như trong thư chúc mừng năm mới, mà Bác Hồ đã tóm tắt:

        "Chỉ tính đến tháng 11 năm 1966, quân và dân miền Nam anh hùng đã loại khỏi vòng chiến đấu 34 vạn tên địch, trong đó có hơn 10 vạn tên là xâm lược Mỹ, bắn rơi và bắn hỏng hơn 1900 chiếc máy bay địch v.v...Quân và dân miền Bắc dũng cảm đã bắn tan xác hơn 1600 máy bay giặc Mỹ" (Chú thích: Hồ Chí Minh, Toàn tập, T 12, tr 187. 188 Nxb CTQG Ha Nội 1996.).

        Bài thơ chúc Tết của Bác đến với Tây Nguyên đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn quân và toàn dân đang bước vào cuộc đọ sức với quân Mỹ trong mùa khô lần thứ hai 1966 - 1967.

        Tết đến, nhưng Tết trên chiến trường còn nhiều gian khó, nên đạm bạc lắm. Trong lúc tổ chức cho anh em chiến sĩ văn hóa, văn nghệ vui ngày Tết để làm vơi đi phần nào nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, thì cán bộ được triệu tập họp để nghe phổ biến nhiệm vụ khẩn trương trong những ngày sắp tới.

        Chiến dịch Sa Thày đợt 2 nổ súng giành thắng lợi giòn giã, như một đóa hoa Xuân của Tây Nguyên dâng lên Bác kính yêu. Địch buộc phải rút khỏi phía tây sông Sa Thày, sau đó rút cả phía đông và sang bờ bên kia sông Pô kô. Thậm chí chúng còn bỏ cả Sùng Thiện, Sùng Lễ sau một trận pháo kích ác liệt của ta.

        Chiến thắng Sa Thày đã góp phần phối hợp với quân và dân miền Đông Nam Bộ đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai mùa khô 1966 - 1967 của Mỹ, bẻ gãy chiến lược "hai gọng kìm" là "bình định" và "tìm diệt" của chúng. Trên toàn Miền, lợi dụng thời cơ địch đang lúng túng bị động về chiến lược, ta liên tiếp mở nhiều đợt hoạt động tấn công địch không để cho chúng có thời gian củng cố chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược lần 3.

        Ở Tây Nguyên, tháng 9 năm 1967, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mật trận quyết định mở chiến dịch Đắc Tô 1, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, phá hủy phương tiện chiến tranh, buộc Mỹ phải điều lực lượng cơ động chiến lược lên Tây Nguyên để ta tiêu diệt, đồng thời tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quân ngụy thuộc quân đoàn 2, phối hợp và tạo điều kiện cho chiến trường Khu 5 và các nơi khác tiến công địch mở rộng vùng giải phóng.

        Khó khăn lớn nhất của chiến dịch Đắc Tô là công tác bảo đảm vật chất, hậu cần kỹ thuật, bởi đây là một chiến dịch quy mô lớn đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên.

        Bộ Tư lệnh Mặt trận đồng thời là Bộ Tư lệnh chiến dịch Đắc Tô gồm có: Tôi là Tư lệnh, anh Trần Thế Môn là Chính ủy, anh Cao Văn Khánh là Phó Tư lệnh, anh Bùi Nam Hà - Tham mưu trưởng, anh Đặng Vũ Hiệp - Chủ nhiệm chính trị.

        Anh Cao Văn Khánh-Phó Tư lệnh Mặt trận, anh còn là giáo viên toán học, một nhà toán học. Anh đã cùng với anh Vương Tuấn Kiệt tham mưu phó, anh Vĩnh chủ nhiệm hậu cần, và anh Đặng Văn Khoát trưởng phòng kế hoạch dày công nghiên cứu mấy ngày đêm mới làm được kế hoạch vận chuyển vật chất đạn dược cho chiến dịch; rồi phải huy động cả bác sĩ y tá, đội vận tải nữ gồm các cô người dân tộc và các cô gái Nghĩa Bình v.v...đi vận tải đạn ĐKB. Anh Cao Văn Khánh là một người chỉ huy rất giỏi, rất tốt, rất đoàn kết với anh em cán bộ chiến sĩ, bộ đội đều quý mến anh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:57:35 pm »


        Sở dĩ chúng tôi chọn Đắc Tô để mở chiến dịch mùa Đông - 1967, bởi Đắc Tô là thung lũng như một lòng chảo án ngữ ngã ba đường 14 và đường 18, cách thị xã Kon Tum 40km về phía tây bắc. Địch xây dựng khu vực này thành một căn cứ quân sự tương đối lớn với hai sân bay và nhiều kho tàng, nhằm làm căn cứ xuất phát cho các cuộc hành quân của chúng ra vùng ba biên giới. Ở phía tây nam Đắc Tô là vùng rừng núi trùng điệp có độ cao trung bình 800m, gồm nhiều đỉnh cao nằm ở bờ tây sông Pô Cô tạo thành lá chắn thiên nhiên che chở cho Đắc Tô. Nếu ta chiếm được các điểm cao này thì toàn bộ thung lũng Đắc Tô sẽ nằm trong tầm bắn của pháo binh và khống chế của ta.

        Địa hình khu tác chiến tuy không rộng, nhưng có đầy đủ các yếu tố để mở chiến dịch cấp Sư đoàn. Từ các dãy núi bên bờ tây sông Pô Cô như Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tang, Ngọc Bờ Biêng ta có thể bố trí hoả lực khống chế toàn bộ Đắc Tô - Tân Cảnh, buộc địch phải đưa quân ra phản kích. Khu vực Ngọc Dơ Lang là khu chiến thứ nhất, ta có thể triển khai hàng Trung đoàn để đánh bại đòn phản kích thứ nhất của địch. Khu vực Ngọc Kom Liệt, Bãi Le và điểm cao 875 là khu trung tâm, nơi triển khai lực lượng chủ yếu của ta nhằm thực hiện trận quyết chiến chiến dịch. Khu vực bắc đường 18, đông và đông bắc Tân Cảnh có thể triển khai lực lượng đánh vào sau lưng đội hình địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu của chiến dịch.

        Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho ta thực hành mưu kế điều địch đến nơi ta chọn sẵn để tiến công tiêu diệt. Rút kinh nghiệm chiến dịch PLây Me năm 1965 và chiến dịch Sa Thày năm 1966, đặc biệt là chiến dịch Sa Thày, từ chiến dịch Sa Thày ta mới bước đầu nắm được quy luật của quân Mỹ. Chiến dịch Sa Thày là cơ sở của chiến dịch Đắc Tô 1, lần này ta cũng vận dụng cách dụ địch điều địchvào thế trận của ta nhưng là thế trận có chiều sâu và áp dụng chiến thuật "vận động tiến công kết hợp với chốt" đến độ hoàn thiện hơn.

        Ở Tây Nguyên, quân ta mở cuộc tiến công vào hướng Đắc Tô. Ở hướng này, để đối phó với cuộc tiến công của ta, quân Mỹ đã sử dụng 2 lữ đoàn của Sư đoàn bộ binh số 4 trong đợt đầu. Sau đó trong đợt hai của chiến dịch, Bộ Tư lệnh dã chiến số 1 của quân Mỹ còn phải sử dụng thêm lữ đoàn dù số 173, đội dự bị chiến trường, và cuối cùng quân Mỹ lại phải tung thêm một bộ phận của Sư đoàn kỵ binh bay số 1 - lực lượng cơ động chiến lược.

        Trên mỗi chiến trường, quân Mỹ có tới 2 - 3 Sư đoàn bộ binh và các Trung đoàn, có tiểu đoàn thiết giáp và pháo binh. Ngoài ra ở đó còn có các Sư đoàn, Trung đoàn quân nguỵ và quân chư hầu. Quân tuy đông, nhưng chúng phải sử dụng phân tán, vì một thành phần lực lượng khá lớn phải làm nhiệm vụ bảo vệ các tuyến phòng ngự, các căn cứ quân sự, các trục đường giao thông, và tiến hành công tác bình định cũng như đối phó với các hoạt động chiến đấu của du kích trên toàn bộ lãnh thổ chúng tạm thời kiểm soát.

        Ở Tây Nguyên, quân Mỹ có Sư đoàn bộ binh số 4 phụ trách chiến trường. Ngoài ra chúng còn có lực lượng dự bị của các cấp trên. Khi phải đối phó với cuộc tiến công của ta thì lực lượng phụ trách chiến trường - Sư đoàn bộ binh số 4 - phải ứng phó đầu tiên. Sau đó mới lần lượt có sự tham gia của lực lượng dự bị của các cấp trên.

        Để đối phó với cuộc tiến công của quân ta ở Đắc Tô, Sư đoàn 4 Mỹ chỉ có thể sử dụng tối đa hai lữ đoàn. Còn một lữ đoàn thì phải đảm nhiệm nhiệm vụ phòng ngự và làm lực lượng dự bị luân phiên. Khi hai lữ đoàn thê đội một không đủ sức đối phó thì phải sử dụng lực lượng dự bị của các cấp trên.

        Trên toàn chiến trường miền Nam, cuộc tiến công của quân ta vẫn còn nằm trong giai đoạn đánh vận động, có đánh một phần vào tuyến phòng ngự vành ngoài của địch. Ở Đắc Tô, quân ta cũng áp dụng chủ trương đánh vận động, tiến công quân địch ở vành ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:58:02 pm »


        Sư đoàn 4 Mỹ có một lữ đoàn đóng ở Tân Cảnh và sau đó địch điều thêm lên đây lữ đoàn dù 173 - dự bị chiến trường. Còn ta có Sư đoàn 1 gồm 3 Trung đoàn: 66, 174, 320; Trung đoàn 24; Trung đoàn pháo 40 cùng đặc công và lực lượng vũ trang Kon Tum.

        Trong các dãy cao điểm, có cao điểm 875 là nơi ta chọn để tổ chức trận quyết chiến chiến dịch.

        Mưu kế của ta như sau: Dựa theo kinh nghiệm chiến dịch Sa Thày do Tướng Chu Huy Mân chỉ huy.

        Ta phán đoán, khi ta cho đơn vị pháo binh đánh khêu ngòi thì địch có thể cho bộ binh ra đánh đuổi bộ phận khêu ngòi của ta, kết hợp với dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau đội hình đơn vị khêu ngòi của ta để bao vây tiêu diệt. Nếu đơn vị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng này bị ta đánh, thì chúng lại đổ tiếp vào sâu hậu phương của ta để đánh phá hậu phương ta và cắt đứt liên hệ giữa bộ đội đang chiến đấu với hậu phương.

        Dựa vào kinh nghiệm phán đoán quy luật, thủ đoạn hành động của địch ta bố trí thế trận như sau: ở đằng sau bộ phận đánh khêu ngòi, ta bố trí một Trung đoàn để đón đánh quân đổ bộ đường không của địch. Khi quân đổ bộ đường không này bị đánh, địch tất sẽ đổ bộ đường không thứ hai vào sâu trong hậu phương của ta. Ở đó ta bố trí hai Trung đoàn sẵn sàng đón đánh đội quân này.

        Với mưu kế đó, ta bố trí thế trận như sau:

        - Ở dãy cao điểm Ngọc Bơ Biêng và Ngọc Tang, ta bố trí Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 độc lập, được tăng cường 2 khẩu sơn pháo 75 ly, 2 ĐKZ 75 ly, 6 khẩu cối 82 ly của Trung đoàn pháo binh 40. Đây là trận địa chốt hiểm yếu của chiến dịch, nằm ngay sát tuyến phòng thủ của địch, có nhiệm vụ khống chế căn cứ Đắc Tô 2 và sân bay Phượng Hoàng, thu hút kìm chân tiêu hao quân địch, dụ chúng vào sâu tạo điều kiện cho Sư đoàn 1 đánh trận then chốt. Đây chính là lực lượng đánh khêu ngòi chiến dịch.

        - Đằng sau cao điểm này là Ngọc Dơ Lang ta bố trí Trung đoàn 320, tiếp đến đằng sau Ngọc Dơ Lang ta bố trí Trung đoàn 174 ở cao điểm 875 và Trung đoàn 66 ở cao điểm 823. Đây là khu quyết chiến và cao điểm 875 là điểm quyết chiến.

        Trung đoàn 174 chiến đấu ở điểm quyết chiến 875 trong khu quyết chiến. Trung đoàn 66 đánh vào cạnh sườn và bảo vệ cánh trái cho Trung đoàn 174. Trung đoàn 320 tùy theo tình huống diễn ra, khi cần đánh quặt lại phía sau đội hình tiến công của địch vào cao điểm 875.

        Trong khi ta triển khai lực lượng chiến dịch (từ 25 -26 tháng 11) quân địch vẫn không phát hiện được gì. Quy luật và thủ đoạn của địch về cơ bản diễn ra như ta dự kiến. Ta điều địch từng bước vào thế trận của ta.

        Ngày 3 tháng 11 pháo binh đánh khêu ngòi được lệnh nổ súng vào căn cứ Đắc Tô. Bị đòn bất ngờ nên địch bị thiệt hại rất nặng. Lữ 3 của sư 4 Mỹ cho hai tiểu đoàn tiến công đường bộ vào trận địa khêu ngòi của ta ở Ngọc Bơ Biêng và cho trực thăng đổ bộ quân xuống đằng sau trận địa khêu ngòi của ta ở khu vực Ngọc Dơ Lang, hòng bao vây tiêu diệt ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, dựa vào công sự vững chắc, ta giữ vững trận địa; và ở khu chiến thứ nhất (khu chiến trung gian), Trung đoàn 320 của ta chiến đấu với quân đổ bộ đường không của địch.

        Không đẩy được ta ra khỏi trận địa khêu ngòi, lại bị đánh ở mũi bao vây. Bị đòn đau, bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn vội vã điều gấp lữ đoàn dù 173 Mỹ từ Phú Yên lên Đắc Tô tăng cường cho sư 4 Mỹ để đối phó. Lữ đoàn dù 173 đóng ở hai nơi, sở chỉ huy và một lực lượng đóng ở Tân Cảnh. Một lực lượng nữa đóng ở PLây Cần. Ý định của địch là dùng hai lữ đoàn Mỹ cùng một lúc tiến hành phản kích trên hai hướng tây và tây nam Tân Cảnh. Lữ đoàn 1 , Sư đoàn 4 triển khai trên hướng tây nam đánh chiếm Ngọc Dơ Lang. Ngọc Kông Krinh. Lữ đoàn dù 173 từ hướng tây đánh chiếm các cao điểm phía nam PLâyCần (Bến Hét), Ngọc Kom Liệt. Cả hai cánh quân này sẽ hợp vây tại khu vực điểm cao 875.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM