Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:04:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến đấu ở Tây Nguyên  (Đọc 58084 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:59 am »


        Ngày 8 tháng 1 năm 1975 Bộ Chính trị ra Nghị quyết lịch sử:

        "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam để tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”.

        Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976 được dự thảo lần thứ tám và nhắc nhở:

        "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975".

        Ngay hôm sau, ngày 9 tháng 1 năm 1975, Thường trực Quân uỷ Trung ương họp để quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tôi được tham dự cuộc họp này. Vấn đề trọng tâm là bàn về chiến dịch Tây Nguyên.

        Ở Hà Nội, khi tôi còn đang hiệu chỉnh lại các tài liệu để chuẩn bị báo cáo thì nhận được lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến gia đình dự bữa cơm thân mật. Những dịp như vậy, chúng tôi vẫn quan niệm như một lần làm việc sơ bộ. Quả nhiên sau bữa cơm, khi còn có hai chúng tôi, Đại tướng đã cho biết ý định của Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh - Bộ Tổng tham mưu mở một chiến dịch lớn ở Nam Tây Nguyên vào mùa Xuân 1975, rồi hỏi tôi:

        - Ý kiến của các anh?

        Ý kiến của chúng tôi?- Vâng. Một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên.

        Cũng như những lần trước được gặp anh tôi còn nhớ, trong một buổi làm việc tôi đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng dễ hơn Kon Tum. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân vì thiếu nước. Anh rất đồng tình.

        Đúng là do nhiều yếu tố rất dễ giải thích, các chiến dịch của Mặt trận Tây Nguyên đã thường thường được tổ chức ở phía bắc. Sáu trên bảy đợt hoạt động quân sự có tính chất chiến dịch cho đến trước Hiệp định Pa-ri đã diễn ra ở đây. Nhưng cũng có một chiến dịch cho nam Tây Nguyên: chiến dịch Bu Prăng- Đức Lập vào thời kỳ khó khăn 1969. Còn một chiến dịch nữa định mở ra ở bắc Buôn Ma Thuột năm 1966, nhưng đã không thực hiện được.

        Một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên định mở ra lúc này với tầm cỡ rộng hơn nằm trong kế hoạch chiến lược. Nam Tây Nguyên xét về mặt địa lý quân sự, đó là một địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng chung quanh Buôn Ma Thuột. Vì nó có dung lượng chiến trường lớn, dễ triển khai binh khí kỹ thuật cho việc thực hiện tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành. Và cũng về mặt ấy, với một ý nghĩa chiến lược đó là vùng tiếp giáp giữa Tây Nguyên và Nam Bộ - giữa Mặt trận B2 và B3 (Chú thích: Trong kháng chiến chống Mỹ, B2 là mật danh của Mặt trận Nam Bộ, B3 là mật danh của Mặt trận Tây Nguyên) đã luôn luôn là khâu trọng yếu cho việc bảo đảm hậu cần chiến lược. Nhưng khâu trọng yếu ấy vẫn đang còn là một khâu yếu, B2 không với ra, B3 chưa vươn tới. Cái nguyên nhân khiến cho các chiến dịch không thể mở được ở vùng này, oái ăm thay, lại chính là cái nguyên nhân buộc phải mở các chiến dịch ấy: vấn đề hậu cần. Cả địch và ta đều biết rõ điều đó. Nếu ta khắc phục được những khó khăn này thì nhất định đây sẽ là một trong những bất ngờ lớn đối với địch.

        Cần mở chiến dịch để giải quyết vững chắc vấn đề bảo đảm hậu cần chiến lược, nhưng không mở được các chiến dịch vì không thể bảo đảm hậu cần chiến đấu cho các trận đánh. Vẫn còn nhớ khi mở Bu Prăng-Đức Lập mùa Đông 1969, B3 phải tổ chức một tuyến bảo đảm hậu cần dài nhất từ trước tới nay: 25 cung vận chuyển gùi thồ dưới bom B52 và mưa lũ.

        Toàn quân làm công tác vận chuyển, kể cả các đơn vị trực tiếp nổ súng. Nhưng vấn đề hậu cần ở đây đâu chỉ là vấn đề vận chuyển. Có gì mà vận chuyển? B3 lúc đó không có gạo, các cơ quan, đơn vị phía sau đồng loạt ăn một lạng gạo một ngày, phải trồng sắn để ăn mà dành gạo cho phía trước. Không đủ, phải vào tận B2 xin gạo ra với 25 cung gùi thồ như vậy đấy.

        Từ năm 1973, nếu khả năng bảo đảm hậu cần chiến dịch đã tốt hơn lên rất nhiều thì việc bảo đảm vận chuyển chiến lược Bắc - Nam khi qua khu vực này đã ngày càng phức tạp hơn, khiến cho một chiến dịch tiến công ở nam Tây Nguyên càng trở nên cấp thiết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:13:26 am »


        Tôi đã có dịp nói đến những quan hệ khó khăn giữa Tây Nguyên và "Khơ – me” đỏ thời kỳ sau đảo chính của Lon Non. Những khó khăn này lại càng tăng thêm trong những năm sau đó.

        Ta trở lại vấn đề trên. Hành lang vận chuyển Bắc-nam của chúng ta cho đến thời kỳ này khi đi qua phía bắc Đức Lập (Nam Tây Nguyên) - nơi có địa hình độc đạo rất hiểm nghèo mà địch chiếm giữ vẫn phải né một chút sang đất đông Campuchia trước khi vào đến Nam Bộ. "Khơ me đỏ” lợi dụng điều này, nhất là trên đoạn đường tiếp giáp với Nam Bộ, đã nhiều lần tung lính ngăn chặn xe vận tải của ta, giết người, cướp của, đồng thời lại luôn luôn đưa yêu sách đòi ta rút bỏ con đường. Xuất phát từ những nguyên nhân ấy, các cơ quan chiến lược của chúng ta đã nhìn thấy trước hết vấn đề phải có ngay một chiến dịch tiến công ở hướng này để "nắn" lại hành lang vận chuyển chiến lược.

        Ý kiến của chúng tôi?

        Vâng, thực ra Bộ Tư lệnh Tây Nguyên cũng đã dự kiến một chiến dịch như thế vào cuối năm 1973. Thật là cần thiết. Chúng ta sẽ giải phóng Đức Lập, giữ vững địa bàn, nối ngay đường vận chuyển chiến lược của bộ đội 559 với đường 14 từ bắc Đức Lập, tạo thành hành lang Bắc-Nam hoàn toàn nằm trên đất nước chúng ta. Nhưng muốn thế phải có đủ lực lượng, phải có nhiều lực lượng. Ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, chúng ta đã ra khỏi yêu cầu tác chiến hầu như duy nhất là tiêu diệt sinh lực địch để coi trọng song song cả mục đích giải phóng lãnh thổ. Riêng đối với một chiến dịch ở nam Tây Nguyên như mục đích xác định ban đầu - ta càng phải giữ vững địa bàn đã giải phóng để đảm bảo sự thông suốt của hành lang vận chuyển chiến lược. Lực lượng quá ít sẽ không làm nổi việc này. Và muốn vậy, cần được tăng cường để tạo nên thế mạnh bởi: "Một lực lượng trực tiếp đánh chiếm mục tiêu và đánh địch phản kích, một lực lượng vòng ngoài để buộc địch phải phân tán đối phó, lực lượng này sức một có thể thành hai, vì không bị câu thúc giữ địa bàn, không bị xé lẻ..." (Chú thích: Điện gửi Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng 12-12-1972. Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu.).

        Khi ở Quân khu 5, chúng tôi cũng đã bàn phương án này và đề nghị rằng nếu có sự tăng cường lực lượng của Bộ thì nên tăng hai Sư đoàn cho Tây Nguyên và một Sư đoàn cho đồng bằng Trung Trung Bộ (Quân khu 5). Một chiến dịch như vậy là phải tính tới khả năng đánh địch phản kích cả năm và muốn thế ngay từ bây giờ (1973) phải lo gạo, đạn cho đến Xuân 1975 (Chú thích: Điện gửi Phó Tổng tham mưu ttưởng Lê Trọng Tấn ngày 6-12-1973. Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu.).

        Nghĩa là tôi muốn nhắc lại chiến dịch này trong thiết kế ban đầu chỉ mang mục đích khai thông và giữ vững hành lang Bắc-nam và mục tiêu cụ thể của nó là Đức Lập. Nhưng vào lúc nào thì Buôn Ma Thuột được đề cập đến? Tôi còn nhớ trong những dịp trao đổi, thảo luận ở Quân khu 5, một lần nữa chúng tôi đã nhất trí đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Tây Nguyên và đã dự kiến một phương án đánh lớn giải phóng thị xã, thị trấn ở khu vực này.

        Sau khi nêu ra những số liệu so sánh địch, ta, đồng chí Võ Chí Công có đặt câu hỏi; Chúng ta có thể ngay trong mùa khô này, tập trung lực lượng giải phóng trước hết Buôn Ma Thuột được không? Câu trả lời là có thể. Thượng tướng Chu Huy Mân nhấn mạnh, trong trường hợp đó, nhất thiết Mặt trận Khu 5 phải phối hợp chặt đứt đường 19, đường 21, chia cắt chiến lược địch ở Tây Nguyên với đồng bằng.

        Chúng tôi cũng đã có dịp đặt vấn đề giải phóng Buôn Ma Thuột trong Bộ Tư lệnh Tây Nguyên. Ta hãy thử nhìn lên bản đồ. Đức Lập cách Buôn Ma Thuột có 50 km. Mất Đức Lập, sống chết địch cũng phải phản kích để khôi phục lại, và chúng có ngay một căn cứ xuất phát rất tốt cả về mặt chiến dịch lẫn chiến đấu là Buôn Ma Thuột. Khi bàn đến tình huống này, Đại tá Vương Tuấn Kiệt, Tham mưu trưởng Tây Nguyên, đã thốt lên: "Phải chi chúng ta có thêm 2 Sư đoàn nữa để đánh ngay Buôn Ma Thuột".

        Chúng tôi đã nhìn thấy khả năng này không những sẽ là đảm bảo vững chắc cho sự thông suốt cửa hành lang Bắc-nam, là mục đích chiến dịch lúc ấy mà còn tạo được một địa bàn chiến lược rất cơ động hướng tới các ngả. Không, nếu được như thế thì chiến dịch sẽ mang một ý nghĩa và mục đích khác hẳn rồi.

        Ta phải nhìn vào bản đồ, Buôn Ma Thuột giữ một khoảng cách khá đều với bắc Tây Nguyên, đồng bằng Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ -Sài Gòn. Một trung tâm của chiến trường vượt ra ngoài phạm vi Tây Nguyên hướng tới toàn cục. Một ngã ba đường, những con đường rất tốt và thuận tiện theo nghĩa đen. Có đồng chí đã vừa chỉ vào bản đồ vừa nói đùa rằng đứng về ý nghĩa vật lý học, sức chấn động của một trận đánh vào Buôn Ma Thuột chẳng khác gì những sóng giao thoa mà một hòn đá ném xuống giữa mặt nước tạo nên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:01 am »


        Vấn đề này, năm 1973 trong một dịp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tôi đã có đề xuất, vì đánh Kon Tum thì không phát triển được, đánh Plâyku thì địch còn mạnh, chỉ có Buôn Ma Thuột là địch yếu và sơ hở ít phòng bị.

        Cố nhiên, đánh Buôn Ma Thuột vấn đề ở đây vẫn là lực lượng. Tây Nguyên lúc đó, chỉ có hai Sư đoàn đang ôm lấy Mặt trận chính hướng bắc Plâyku, Kon Tum và một số Trung đoàn độc lập hoạt động ở các hướng khác. Cơ sở đâu để ra quyết tâm? Lại vẫn là chiến lược, chính là chiến lược những người vạch kế hoạch ở Bộ Tổng tư lệnh - BộTổng tham mưu và ở cấp cao nhất, Bộ Chính trị Trung ương Đảng - đã hạ quyết tâm giải phóng Buôn Ma Thuột. Và như trên đã nói, những dự kiến của chúng tôi về một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên cũng bắt nguồn chính từ sự gợi ý và chỉ đạo của chiến lược. Nó có mục đích gắn chặt với chiến lược.

        Vấn đề còn lại là thời cơ: Khi nào thì có thể? Và thời cơ ấy đã đến vào cái thời điểm mà tất cả chúng ta đều đã biết, khi các điều kiện đã chín muồi cho việc hạ quyết tâm.

        Cần phải có lý luận kết hợp với thực tiễn chiến đấu có nhiều lúc đem đến những kết quả bất ngờ, và thước đo sự thành công là ở đấy. Chúng ta có thể thấy, chiến dịch đã được thiết kế với mục đích ban đầu là tạo một hành lang vận chuyển cơ giới thông suốt Bắc-nam bằng cách tiêu diệt và giữ vững Đức Lập. Trong quá trình, khi xét tới các dữ kiện, chúng ta đã chuyển mục tiêu sang giải phóng Buôn Ma Thuột, một trung tâm chính trị và đầu mối giao thông quan trọng, khoác lên chiến dịch Nam Tây Nguyên một tầm cỡ chiến lược. Lúc này trận Đức Lập thậm chí không được coi là mục tiêu chiến dịch mà chỉ là hành động tác chiến mở màn.

        Nhưng cuối cùng, thực tế là chiến dịch Nam Tây Nguyên đã biến thành chiến dịch Tây Nguyên, rồi trở thành chương mở đầu đầy hứng khởi cho bản giao hưởng vũ bão Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Sự vận động biện chứng của tư duy và thực tiễn giao tiếp nhau, thúc đẩy nhau để dẫn tới kết cục thần kỳ.

        Ở đây sự nhạy bén và tầm nhìn xa rộng của Bộ tham mưu chiến lược của chúng ta là xuất sắc. Tôi muốn nói thế vì vẫn còn có những kẻ ở phía bên kia cho rằng thắng lợi tuyệt đối mà chúng ta giành được có yếu tố ngẫu nhiên. Hiệp định Paris được ký kết có phải ngẫu nhiên không? Quân Mỹ buộc phải rút khỏi chiến trường có phải ngẫu nhiên không? Huống hồ vào năm 1975, tất cả đã rõ ràng là nếu không có Tây Nguyên thì sẽ có một cái gì đó giống như Tây Nguyên, hệ quả trực tiếp của những sự kiện mà tôi vừa đặt thành câu hỏi trên, hệ quả trực tiếp của cuộc kháng chiến lâu dài chống Mỹ, cứu nước.

        Và thắng lợi trọn vẹn mà chúng ta giành được đã sớm hơn dự kiến thì cũng chứng tỏ rằng đường lối lãnh đạo của Đảng ta là đúng đắn, những nhận định của chúng ta là chính xác và thực tiễn chiến đấu là sự phán quyết cuối cùng.

        Đúng như lòng mong muốn, sau các cuộc họp khẩn trương tại Hà Nội, tôi nhận được quyết định trở lại Tây Nguyên với cương vị Tư lệnh Chiến dịch, một chiến dịch mở đầu cho chiến cuộc mùa Xuân năm 1975. Sát ngày lên đường, tôi gặp đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí nhấn mạnh đây là thời cơ lớn: "Địch đã xuống sức rồi, phải kiên quyết và táo bạo nắm lấy các tình huống phát triển của chiến dịch. Chúc thắng lợi lớn. Đồng chí hãy chuyển đến đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên lời thăm hỏi và lòng tin tưởng của Trung ương Đảng”.

        Rời Hà Nội, chúng tôi cố gắng vào chiến trường thật sớm. Chẳng may chiếc xe quá cũ phải nằm lại ngang Quân khu, và chúng tôi lập tức nhận được sự giúp đỡ đầu tiên. Thiếu tướng Tư lệnh Quân khu Đàm Quang Trung ưu tiên đổi cho chúng tôi một chiếc xe mới. Vào đến Hiền Lương, chúng tôi tìm đến sở chỉ huy của Bộ đội Trường Sơn. Các đồng chí mới xê dịch từ miền tây Quảng Bình vào đây công việc còn đang ngổn ngang nhưng tôi vẫn được Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và các đồng chí có trách nhiệm hướng dẫn chu đáo. Việc đầu tiên là đồng chí thông báo cho tôi biết tình hình hành quân nhập tuyến của các lực lượng tăng cường cho Tây Nguyên. Rồi cười:

        - Còn gạo, đạn, xăng dầu, anh yên trí, không phải kêu đâu, chúng tôi đã lót sẵn và đang tiếp tục chuyển nữa, đủ để làm lại "cả năm 1972".

        Chúng tôi đã quá hiểu nhau, cái năm 1972 ấy, khi chiến dịch nổ ra ở Bắc Tây Nguyên. Hồi đó, tôi không hiểu đồng chí "Tư lệnh đường dây" (Tên thông tục để chỉ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn) đã phải vò đầu bứt tai như thế nào khi luôn luôn thấy xuất hiện trước mắt mình các bức điện thượng khẩn của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên với những câu ngắn gọn, mạch lạc đến chát chúa: "Rất thiếu xăng”, "Cần cấp gạo và xăng", "Gạo vào quá nhỏ giọt", "Không đủ đến ngày N" và lại còn thế này nữa: "Bắt đầu mưa xuống rồi".

        - Cám ơn. Chúng tôi có thể "vào" đêm nay được không anh?

        - Ngay bây giờ cũng được, đường tốt, không có máy bay địch từ Trị Thiên trở ra. A, chúng tôi đã thông xong con đường phía đông rồi đấy. Mời anh hành quân trên tuyến đường mới này.

        Còn gì bằng nữa, chúng tôi đang muốn rút ngắn khoảng cách về thời gian với chiến trường. Đây là con đường thẳng, còn con đường quen thuộc phía tây lại phải đi một vòng cung.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:24 am »


        Ngày vào đầu tiên thuận lợi. Không có máy bay địch hoạt động, mặc dù chúng tôi đi ban ngày. Khỏi cần nói xa xôi thắng lợi của Hiệp định Paris là đây chứ còn đâu nữa. Các nam nữ chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong nhộn nhịp trên mặt đường từ sáng đến tối. Đường còn đang mở tiếp, còn đang nắn lại, đoạn nào xong thì tiếp tục củng cố. Chạy cùng với ô tô là đường ống dẫn dầu, một kỳ công nữa của ngành hậu cần trên dải Trường Sơn. Chúng tôi say mê ngắm từng đoạn đường ống ló ra khỏi rừng cây và cảm động nhìn những chiến sĩ trẻ măng thao tác nhanh nhẹn tại một trạm bơm mà chúng tôi dừng lại lấy xăng. Đó là những cô gái Nghệ Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Hà Bắc ở các trạm xăng đã bơm xăng dầu cho xe chúng tôi.

        Cuối tháng 1, tiết trời dìu dịu. Cảnh vật, con người, không khí gợi đến cho tôi sự liên tưởng về những lần đi vào chiến trường của mình. Nó vẫn như còn bay nhảy trước mắt đấy, giữa biết bao kỷ niệm của cuộc đời.

        Lần đầu, năm 1966, tôi đi bộ xuyên dọc Trường Sơn, phải mất hai tháng trời gian khổ mới vào tới Tây Nguyên.

        Lần thứ hai, năm 1969, tôi đi khá nhanh bằng máy bay, nhưng phải qua một nước trung gian, rồi một nước trung gian nữa, cộng với phương tiện cuối cùng là đôi chân, mới về đến sở chỉ huy của mình.

        Lần thứ ba: ấy là vào năm 1973, tôi lại sử dụng đường Trường Sơn nhưng đã không phải đi bộ mà ngồi trên xe hơi. Một con đường vòng mà phần lớn lại nằm trên lãnh thổ hai nước anh em. Như thế đã là khá lắm rồi.

        Còn lần này: xe hơi, đường thẳng, hoàn toàn đi trên đất nước mình Điều tôi muốn nói lên tưởng chẳng cần viết ra trên giấy trắng mực đen nữa.

        Đường đi thật dài nên từ lần đi ra thứ hai cũng như khi trở vào trên đường đi tôi thường kết hợp tranh thủ viết sách. Những lúc chờ thông đường, những khi chờ sửa xe và nhất là những ngày gặp mưa lũ phải đợi cho nước sông, nước suối xuống mới đi được, tôi liền bỏ giấy bút ra viết sách. Có lúc ngồi bên bờ suối kê lên tảng đá để viết, có khi lại tựa vào một gốc cây trong rừng để sửa. Nhờ thế mà năm 1974 tôi ra được cuốn sách "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa" được in và xuất bản ngay trong năm 1975.

        Còn lần này thì khác, mọi tâm trí của tôi đều dồn cho một chiến dịch vô cùng quan trọng - chiến dịch Nam Tây Nguyên-Buôn Ma Thuột.

        Vào đến địa đầu đất Quảng, chúng tôi gặp một ít khó khăn: đường lầy vì mở ra đúng vào mùa mưa Trung Bộ, và vì bắt đầu có máy bay địch nên lại phải nắm quy luật hoạt động của chúng mà đi. Nhưng khi gặp phải khó khăn có vẻ khó khắc phục nhất thì chúng tôi lại vượt qua dễ dàng: đồng chí lái xe đột ngột ốm và chúng tôi đã thuyết phục được ngay một đồng chí lái xe đi ngược chiều, đồng chí đã lập tức vui lòng gửi xe mình lại rồi đưa chúng tôi vào mà không quản ngại khó khăn. Tôi vẫn còn nhớ tên con người thành tâm ấy và hôm nay xin một lần nữa gửi lời cảm ơn đồng chí, đồng chí Lê Văn Đoài, hạ sĩ lái xe thuộc Mặt trận B5.

        Sở chỉ huy Mặt trận

        Chúng tôi đến sở chỉ huy Tây Nguyên đêm 29 tháng 1, chỉ hơn 1 tuần sau khi xuất phát. Thật là một thời gian kỷ lục vào thời kỳ ấy? Nhưng sở chỉ huy chiến dịch đã chuyển mãi vào phía nam, chúng tôi chỉ còn gặp ở đây Đại tá Phó Chính uỷ Phí Triệu Hàm, Thượng tá Phó tham mưu trưởng Hồng Sơn và một số đồng chí khác. Tôi nắm qua tình hình địch rồi đi ra phía trước. Mùa này Tây Nguyên đầy hoa phong lan, chúng tôi đi đường kín trong rừng lại càng tha hồ chiêm ngưỡng phong lan đủ màu, đủ vẻ. Có nhiều chỗ, phong lan xoè ra như cách tay tiên mời chào.

        Một chuyện nho nhỏ là vào dịp này, tôi nhận được một giò lan tai trâu tuyệt đẹp. Và giò lan ấy như một tín hiệu chiến thắng đã đi cùng tôi suốt chiến dịch, suốt chiến cuộc 1975, từ Tây Nguyên xuống đồng bằng Trung Bộ, vào thành phố Sài Gòn giải phóng rồi ra Hà Nội mới chịu từ biệt vị trí sau xe để đến ở nhà Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Huy Phan (Viện quân y l08), một người bạn cũ rất thích phong lan.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:06:11 am »


        Khi tôi đến nơi, không khí nhộn nhịp như ngày Tết ở sở chỉ huy đã gây ấn tượng rất mạnh. Tôi hoà ngay vào không khí say lòng người lính ấy. Mà cũng chỉ còn ít ngày nữa thôi là đến Tết Nguyên Đán Ất Mão. Tôi tranh thủ nắm ngay tình hình mọi mặt qua Thiếu tướng Vũ Lăng Tư lệnh Mặt trận và Đại tá Đặng Vũ Hiệp Chính ủy Mặt trận. Phải nhận là các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Mặt trận (mà bây giờ trở thành Bộ Tư lệnh Chiến dịch) đã hoàn tất xong rất nhiều việc, có thể nói đã đi quá nửa đường trong công tác chuẩn bị chiến dịch và riêng về các mặt công tác đảm bảo một khối lượng khổng lồ từ việc xây dựng kho tàng, đường xá, vận chuyển, thiết lập mạng thông tin, mạng quân y, chở gạo, đạn đi các hướng đến các chi tiết của việc tiến hành nghi binh lừa địch, trinh sát thực địa và đảm bảo tuyệt đối giữ bí mật thì đã "hòm hòm", theo như lối nói của chiến sĩ.

        Đảm bảo mọi mặt cho một lực lượng trên sáu mươi ngàn người thật không phải dễ. Các đồng chí cũng mới nhận được quyết tâm chuyển mục tiêu chủ yếu vào Buôn Ma Thuột chỉ ít ngày trước đây khi Thiếu tướng Phó tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền trực tiếp vào phổ biến, vậy mà công tác trinh sát chiến dịch bước I cũng đã được tiến hành, do đồng chí Phó Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Năng chỉ huy trinh sát thực địa. Lực lượng đang được triển khai về các vị trí tập kết: Sư đoàn 320 xê dịch về giữa hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, Sư đoàn 10 đang hành quân từ phía bắc vào phía nam Mặt trận với một cung đường không phải là ngắn; Sư đoàn 968 đã đưa một phần lực lượng của mình từ Hạ Lào sang thay thế vị trí các Sư đoàn trên và đang còn tiếp tục đến; các Trung đoàn bộ binh độc lập cũng đang tiến vào các địa bàn hoạt động được xác định.

        Chỉ riêng Sư đoàn 316, đang hành quân gấp bằng cơ giới từ miền Bắc vào. Nhưng Sư đoàn trưởng, Phó Sư đoàn trưởng và các sĩ quan Tham mưu thì đã có mặt và đang tiến hành trinh sát thực địa. Các nội dung chuẩn bị cho việc xác lập phương án tác chiến đang được thảo luận. Tất cả những cái đó đã làm giảm nhẹ gánh nặng của tôi rất nhiều trong cương vị Tư lệnh Chiến dịch.

        Tôi thầm cảm ơn các đồng chí mình. Tôi cần phải nhấn mạnh một điều là công tác chuẩn bị chiến dịch đã được và sẽ được tiến hành còn có sự chi viện to lớn, nhiều mặt của chiến lược và các chiến trường bạn. Chúng tôi xem đó là một yếu tố quyết định. Chỉ riêng một vấn đề lực lượng, đã được gửi đến tăng cường cho chiến dịch không chỉ Bộ đội Dự bị Chiến lược mà cả một số đơn vị của Mặt trận Trị-Thiên, Mặt trận Duyên Hải Trung Bộ, Mặt trận Nam Bộ và Mặt trận Trường Sơn. Cái yêu cầu "cần được tăng cường để tạo nên thế mạnh bởi hai lực lượng" mà chúng tôi nêu ra trước đây như thế là được thoả mãn; vượt quá mức là đằng khác.

        Cơ cấu của bộ chỉ huy chiến dịch nói lên điều đó: sự có mặt của các Phó tư lệnh, Đại tá Phan Hàm (Phó Cục trưởng Cục tác chiến) Đại tá Nguyễn Lang (Phó tư lệnh bộ đội Trường Sơn) đã giúp cho việc điều động và tăng cường lực lượng được nhanh chóng và đúng yêu cầu. Bộ Tổng tư lệnh - BộTổng tham mưu còn cử đến các Thượng tá Hoàng Niệm (thông tin), Lê Xuân Kiện (xe tăng) và Tạ Vân (pháo binh) để giúp vào việc chỉ đạo, chỉ huy các binh chủng. Bộ chỉ huy quân sự Miền cũng đã cử ngay một tổ cán bộ do Thượng tá Vũ Long - người giáo viên cũ đã cùng tôi công tác ở Học viện quân sự dẫn đầu, ra phổ biến kinh nghiệm tiến công thị xã Phước Long, một kinh nghiệm thật sự bổ ích.

        Đặc biệt là sự xuất hiện lần đầu tiên bên cạnh một bộ chỉ huy chiến dịch. Cơ quan đại diện Quân uỷ Trung ương - Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Chính trị do Đại tướng Văn Tiến Dũng đứng đầu, gồm các đồng chí Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Đinh Đức Thiện, Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền và các đồng chí khác đã chứng tỏ quyết tâm cao độ của Trung ương và tầm mức quan trọng của chiến dịch này. Bộ đã tăng cường các đồng chí có trình độ vào giúp đỡ Mặt trận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:06:31 am »


        Đại tướng Văn Tiến Dũng là người có nhiều kinh nghiệm đã giúp đỡ Mặt trận nhiều ý kiến thông qua, duyệt kế hoạch tác chiến. Đồng chí Thiếu tướng Vũ Lăng là người chỉ huy quả đoán có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, hay nóng tính nhưng rất tình cảm, trong quan hệ với anh em được mọi người thương yêu. Đồng chí Đại tá Đặng Vũ Hiệp rất nhậy cảm về tình hình, hiểu biết về quân sự, có nhiều ý kiến lãnh đạo xây dựng quyết tâm cho bộ đội, Đồng chí Đại tá Nguyễn Năng có tinh thần chiến đấu cao, luôn đi sát bộ đội và có nhiều kinh nghiệm. Các đồng chí đều là cán bộ tốt, có trách nhiệm, đoàn kết hợp tác chung quanh Bộ Tư lệnh chịu trách nhiệm trước Đảng và quân đội hoàn thành mọi nhiệm vụ.

        Trên thực tế, Cơ quan đại diện không những chỉ đạo chúng tôi trong quá trình chuẩn bị mà chính là chỉ đạo việc chỉ huy tác chiến sắp tới.

        Chiều ngày 8 tháng 2, tại Bộ Tư lệnh Mặt trận, đã có cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và các đồng chí bên Dân, Đảng. Đồng chí Bùi San (Chín Liêm), Thường vụ Khu uỷ 5, người đã cùng chúng tôi làm việc trong một bộ chỉ huy chung năm Mậu Thân lại một lần nữa được Khu uỷ cử lên phối hợp các hoạt động nổi dậy của nhân dân và giúp đỡ Bộ Tư lệnh Chiến dịch trong công tác dân vận. Phía Đắc Lắc có các đồng chí Huỳnh Văn Mẫn (Năm Cần), Yblok, Nguyễn Xuân Nguyên (Mười Nguyên) và nhiều đồng chí khác. Bí thư tỉnh uỷ Gia Lai, đồng chí Võ Trung Thành (Năm Vinh), cũng lặn lội từ Bắc Tây Nguyên vào để nhận kế hoạch hiệp đồng. Riêng các đồng chí Kon Tum vì ở quá xa nên không trực tiếp đến được, đã hứa với Khu uỷ sẽ phối hợp các hoạt động chiến trường ở mức cao nhất.

        Trong những ngày này, chúng tôi đã sống lại không khí của năm Mậu Thân giữa nhiệt tình cách mạng nóng bỏng của lãnh đạo và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Có thể nói, đồng bào, đồng chí đã làm hết sức mình để chiến dịch thắng lợi. Ở phía bắc, khối chủ lực chính rút đi, nhưng phong trào du kích không những vẫn giữ vững mà còn được đẩy mạnh hơn lúc nào hết đã góp phần kìm giữ một bộ phận quan trọng sinh lực địch. Ở phía nam, địa phương đã cùng chúng tôi giải quyết nhiều khó khăn nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và chủ động đề xuất kế hoạch hiệp đồng tác chiến và nổi dậy, chủ động nhận nhiệm vụ tiến đánh chi khu quân sự - quận lỵ Lạc Thiện và một số căn cứ ngoại vi để phối hợp với đòn của bộ đội chủ lực. Cuộc gặp gỡ đã biến thành một cuộc liên hoan vui vẻ đón giao thừa nhân dịp Tết Ất Mão và cũng là để khẳng định những kết quả đã đạt được. Anh Chín còn lưu ý thêm chúng tôi phải đề phòng Fulro, vì Đắc Lắc là địa bàn hoạt động mạnh của bọn này.

        Sau đó, Đại tướng Văn Tiến Dũng Tổng tham mưu trưởng, đại diện Bộ Tổng tư lệnh công bố thành phần Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Tôi làm Tư lệnh; Đại tá Đặng Vũ Hiệp - Chính uỷ; Thiếu tướng Vũ Lăng, Đại tá Nguyễn Năng, Đại tá Phan Hàm, Đại tá Nguyễn Lang, Phó Tư lệnh; Đại tá Phí Triệu Hàm - Phó Chính ủy. Khu uỷ Liên khu 5 cử đồng chí Bùi San, Phó Bí thư Khu uỷ; đồng chí Huỳnh Văn Cần, Bí thư tỉnh uỷ Đắc Lắc và một số cơ quan phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo phong trào nổi dậy của quần chúng.

        Trong mấy ngày Tết, tôi tranh thủ xuống kiểm tra một số đơn vị và chúc Tết anh em. Tất cả đều phấn khởi, tất cả đều háo hức một không khí vào trận mùa Xuân.

        - "Nghỉ" mấy mùa đánh lớn buồn lắm. Phen này chúng tôi phải trả bữa, xin thủ trưởng cho đủ đạn nhé!

        Và tất cả đều khoẻ mạnh. Quân y vừa cho biết, tỷ lệ quân số khoẻ tháng 1 của toàn chiến trường là 96,2% cao nhất từ trước tới nay? Ai ở Tây Nguyên lâu mà không nhớ những năm khó khăn, được một tỷ lệ 80% đã thật là lý tưởng.

        Đến một ngã ba, vì không được báo trước, các đồng chí ba-ri-e buộc xe tôi phải dừng lại theo nguyên tắc giữ bí mật, nhưng sau khi nhận ra chúng tôi thì các đồng chí lại giúp đỡ vượt ngầm rất nhiệt tình, chu đáo. Tôi gặp bộ đội đang hành quân bằng cơ giới. Các chiến sĩ bộ binh ngồi trên một chiếc xe tăng vui vẻ reo lên:

        - Chúc mừng năm mới các thủ trưởng

        Tôi chào các chiến sĩ và chuyện lại nở bung. Anh em phàn nàn là nuôi mấy chú gà dành tết, cuối cùng chẳng được ăn.

        - Tại sao?

        Chúng tôi lần đầu tiên hành quân trên tăng, không biết thế nào cả. Có bu gà buộc cẩn thận sau xe, khi dừng nghỉ kiểm tra thì ôi thôi, chết thui chẳng còn một chú. Mới hay chỗ đó là ống xả, lính rừng Tây Nguyên mà thủ trưởng!

        Lại cười "Không sao, tất cả rồi sẽ quen", tôi trìu mến nghĩ về các chiến sĩ của mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:15:34 am »

               
PHẦN 12

BUÔN MA THUỘT - TRẬN THEN CHỐT QUYẾT ĐỊNH

        Quyết tâm chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm trận then chốt, trận đánh mở đầu là rất chính xác là một đòn đánh hiểm, nhằm vào chỗ sơ hở, vào điểm yếu của địch. Đánh chiếm được Buôn Ma Thuột, ta sẽ tạo được đà để nhanh chóng phát triển lực lượng xuống các tỉnh ven biển miền Trung, và tuỳ theo tình hình lúc đó sẽ phát triển được lực lượng xuống miền Đông Nam bộ, hay phát triển tiến công thị xã Plâyku.

        Một khi đã tạo ra được đà phát triển thì cũng tức là đã làm chuyển biến tình thế chiến lược, mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của địch, cô lập quân địch còn lại ở Quân khu 2 và trực tiếp uy hiếp Quân khu 3 của chúng. Ý nghĩa quan trọng của việc đánh Buôn Ma Thuột là tạo thế phát triển tiến công ra các hướng hiểm yếu khác.

        Quyết tâm chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm trận then chốt, là một quyết tâm chiến lược, trong một kế hoạch chiến lược của Đảng và quân đội ta. Bởi vậy kế hoạch tác chiến chiến dịch là phải thực hiện cho bằng được quyết tâm đó.

        Theo phương án tác chiến chiến dịch của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch là phải bố trí lực lượng hình thành một thế trận “trói địch lại mà diệt", một thế trận hoàn toàn chủ động để tiến công địch đánh, chắc thắng, quyết đánh và quyết thắng.

        Đánh địch bằng thế và lực, đánh địch bằng mưu kế. Muốn vậy, trước hết ta phải thực hiện tạo dựng cho bằng được trong không gian chiến dịch một thế trận "chia cắt, vây hãm, vừa vây hãm vừa tiến công, đột phá vừa bằng sức mạnh, vừa bằng mưu kế, bí mật bất ngờ giành toàn thắng”.

        Chia cắt chiến lược là chia cắt giữa Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung và các chiến trường khác ở miền Nam. Mục tiêu chia cắt là các đường chiến lược số 19 và 21.

        Chia cắt chiến dịch là chia cắt giữa các khu vực phòng ngự với nhau, chia cắt nam và bắc Tây Nguyên, làm cho các khu vực này không liên hệ và chi viện được cho nhau, nhằm chia cắt và kìm giữ lực lượng chủ yếu của địch ở Kon Tum - Plâyku; làm cho Buôn Ma Thuột bị sơ hở và cô lập để ta "trói địch lại mà diệt". Mục tiêu chia cắt là một số đoạn trên đường chiến lược số 14, 19 và 21.

        Bởi vậy việc chỉ huy đảm bảo để các đơn vị hành quân an toàn về đúng vị trí tập kết theo ý định của chiến dịch là tiền đề để thực hiện một mưu kế rất quan trọng - nếu không muốn nói là quan trọng nhất của chiến dịch: lập thế. Xác lập thế trận là lập sẵn các ý đồ của ta để tạo nên một chiều sâu cả về không gian lẫn thời gian cho chiến dịch, giành quyền chủ động phát triển.

        Chúng tôi dự kiến sẽ tạo nên một thế trận kìm địch, chia cắt địch, vây địch để đi tới tiêu diệt chúng. Nhưng để có một thế trận tốt thì còn cần thiết phải thực hiện một mưu kế khác: Đó là việc nghi binh đánh lạc hướng địch, giành thế bất ngờ. Chúng ta đã thực hiện việc này hoàn hảo đến mức sau này, một viên đại tá thất trận của quân đội Sài Gòn bị bắt ở Buôn Ma Thuột phải thốt lên: "Thật là một trò ảo thuật?".

        Trong một cuốn sách có tiêu đề "Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng” tôi đã có dịp trình bày về ý nghĩa các sự lựa chọn để dẫn tới nam Tây Nguyên chứ không phải là nơi nào khác, Buôn Ma Thuột chứ không phải là nơi nào khác cho mùa Xuân năm 1975. Ở đây liên quan đến việc nghi binh lập thế trận, tôi chỉ muốn nhắc lại một điều: bắc Tây Nguyên luôn luôn là nơi đối đầu là nơi tập trung lực lượng mạnh của ta và địch.

        Lúc này, lực lượng chiến dịch của ta đã hình thành các cụm quân trên các hướng tiến công.

        Cụm quân trên hướng Buôn Ma Thuột gồm: Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 24, Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn đặc công 27, Trung đoàn thiết giáp 273, hai Trung đoàn pháo binh 40 và 675, hai Trung đoàn cao xạ 232 và 234, hai Trung đoàn công binh và lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc.

        Cụm lực lượng trên hướng Đức Lập gồm: Sư đoàn 10 (thiếu Trung đoàn 24), Trung đoàn 271 (Nam Bộ). Lực lượng trên đường số 21 có Trung đoàn 25.

        Cụm lực lượng trên đường số 19 gồm: Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân khu 5 (thiếu một Trung đoàn), Trung đoàn 95A, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai và Kon Tum.

        Các hoạt động nghi binh của ta đã làm cho địch bị lạc hướng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:16:46 am »


        Ngày 18 tháng 2, trong một cuộc họp với các tướng lĩnh để kiểm điểm tình hình thực hiện Kế hoạch phòng thủ Quốc Gia "Lý Thường Kiệt 1975" và các biện pháp của Hội đồng an ninh Quốc Gia đã quyết định trước đây, Tổng thống nguỵ Nguyễn Văn Thiệu vẫn cho rằng: Quân khu 2 sẽ là chiến trường trọng điểm, Quân khu 1 và 3 là chiến trường phối hợp:

        Cần đề phòng Việt Cộng có thể đánh vào một số thị trấn hoặc thị xã như Quảng Đức, Kon Tum.

        Sau cuộc họp này về, Phạm Văn Phú thiếu tướng tư lệnh Quân khu 2, kiêm tư lệnh quân đoàn 2 đã triệu tập các chỉ huy trưởng đơn vị, các tiểu khu trưởng trong Quân khu để nhận định tình hình và bàn kế hoạch đối phó. Chúng cho rằng với sự bố trí lực lượng hiện thời của ta (sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 đều đang tập trung ở hai tỉnh Kon Tum, Plâyku) nếu đánh lớn Việt Cộng sẽ lấy Kon Tum - Plâyku làm "điểm", chiến sự sẽ diễn ra ác liệt ở đây. Nơi diễn ra sôi động thứ hai có thể là Quảng Đức vì hiện nay Việt Cộng đã chiếm được Phước Long, nên cần đánh Quảng Đức để mở thông hành lang Đông Trường Sơn.

        Mưu kế của ta là:

        Nghi binh lừa địch ở Plâyku; tập trung lực lượng đánh Buôn Ma Thuột. Hành động này phải rất bí mật. Chia cắt chiến lược và chiến dịch Tây Nguyên thành các cụm cô lập, không ứng cứu được nhau. Triển khai mưu kế này ta nghi binh bằng làn sóng điện và cho một Sư đoàn đánh vào Plâyku. Đòn này rất có giá trị.

        Mưu kế của địch là:

        Giữ vững Plâyku, đặc biệt phía tây nam. Cho trinh sát vũ trang ở bắc Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 53 lùng sục ở Mê Van;

        Trung đoàn 45 lùng sục ở bắc Buôn Ma Thuột. Do đó Sư đoàn 320 của ta phải lùi trước cuộc lùng sục để giữ bí mật.

        Từ đó địch củng cố hệ thống phòng thủ Kon Tum - Plâyku, các đơn vị vừa phòng giữ vừa tăng cường sục sạo ra xa để sớm phát hiện ý đồ đối phương và tổ chức tiến công ngay từ tuyến ngoài; tiêu hao làm giảm sức tiến công của đối phương khi đánh sâu vào khu vực phòng thủ thị xã. Tăng cường cho Quảng Đức thêm một Trung đoàn để phòng bị. Buôn Ma Thuột có thể bị đánh nhưng quy mô không lớn vì chỉ là "diện" nên chưa cần tăng lực lượng. Ngoài ra, cần chú trọng theo dõi điều tra sự di chuyển của các Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10. Hai Sư đoàn này di chuyển về hướng nào thì nơi đó sẽ nổ ra đánh lớn.

        Tuy vậy, Phạm Văn Phú vẫn tỏ ra lo âu, nên sau cuộc họp, Phú trao đổi riêng với Trần Văn Cẩm- chuẩn tướng phụ tá hành quân và Lê Khắc Lý-đại tá tham mưu trưởng quân đoàn là tình hình có thể có rất nhiều điều bất ngờ ngoài dự tính, trong khi lực lượng Quân khu ít và đã phải dàn mỏng và gắn chặt vào từng nơi. Phú than phiền rằng hôm họp ở Sài Gòn đã xin Thiệu tăng thêm quân dù, là lực lượng quen chiến trường để làm quân ứng cứu tại chỗ, nhưng không được Thiệu chấp nhận, mà chỉ được tăng phái thêm 2 liên đoàn biệt động quân cho Tây Nguyên. Như vậy trong tay Phú lúc này có 9 đơn vị (trung đoàn hoặc tương đương) thì 7 đơn vị tập trung ở hai tỉnh phía bắc, còn phía Nam Tây Nguyên chỉ có 2 đơn vị (trung đoàn 53 và liên đoàn biệt động số 23) để đối phó với thế "nặng đầu nhẹ đuôi" của Việt Cộng ở Tây Nguyên.

        Bởi vậy, mùa này Việt Cộng sẽ đánh ở đâu trên chiến trường cao nguyên? Nhắm mắt lại khỏi cần suy nghĩ, kẻ địch sẽ đặt cuộc 10 ăn 1: phía bắc.

        Còn Buôn Ma Thuột? - Không đâu, Việt cộng không có lực lượng. Họ có thể đưa lực lượng đến? - Mạo hiểm, và để làm gì chứ? Tại sao lại không là Kon Tum, nơi mà sự hiểu biết sơ sài về địa lý quân sự cũng thấy cần phải giành lấy, hơn nữa để thanh toán "món nợ " l972?

        Từ đầu chí cuối, cả tư lệnh lớn Nguyễn Văn Thiệu lẫn tư lệnh vừa Phạm Văn Phú đều một mức khẳng định Kon Tum. Nếu có nơi nào khác ở phía nam thì chỉ là những thị xã, thị trấn nhỏ không đáng kể lắm như Gia Nghĩa, Đức Lập nhằm mục đích thông đường. Được lắm, chúng ta sẽ cho điều khẳng định ấy những bằng chứng mà họ muốn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:17:06 am »


        Bộ Tư lệnh Tây Nguyên đã làm tất cả những gì có thể làm được để buộc địch phải tăng cường lực lượng hơn nữa lên hướng bắc, rồi kìm giữ chúng ở đây. Có thể nói chúng ta đã thực hiện cả một chiến dịch nghi binh từ tung tin thất thiệt, tạo những sơ hở giả đến việc tiến hành công tác thiết bị chiến trường, điều động lực lượng úp úp mở mở. Thậm chí, vào thời kỳ cuối của giai đoạn chuẩn bị, khi địch đã nắm được một vài bằng chứng về ý đồ của ta ở nam Tây Nguyên, ở Buôn Ma Thuột thì ta lại tìm cách vô hiệu hoá để khiến chúng tin rằng đây chỉ là động tác giả.

        Nhưng "động tác giả" lừa địch có hiệu quả nhất lại chính là những hành động tác chiến thật, thật mà là thật giả. Chúng ta đã sử dụng một số đơn vị và thậm chí cả một Sư đoàn - Sư đoàn 968 để làm việc này. Tôi xin nói ngay là Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ này một cách xuất sắc

        Một, từ Hạ Lào sang, tập kết trên hướng đường 19 kéo dài tây Pleiku, Sư đoàn đã chứng tỏ cho địch thấy một sự tăng cường lực lượng về phía Pleiku. Động tác này khá đến nỗi có lúc địch cho rằng thậm chí ta đã tăng cường đến hai Sư đoàn chứ không phải một. Chúng vội vã thông báo cho nhau.

        Hai, khi Sư đoàn 10 chuyển vào phía nam, một số đơn vị của Sư đoàn 968 đến thay thế được lệnh nghi binh để địch tin rằng Sư đoàn này vẫn ở Kon Tum. Các đồng chí đã "chơi trò điện tử" bằng hệ thống thông tin, khi đơn vị di chuyển, mọi quá trình chỉ huy liên lạc chỉ được phép sử dụng đường dây của các binh trạm, còn các phương tiện thông tin vô tuyến vẫn phải để tại chỗ, rồi phát đi những thông tin giả làm cho địch vẫn tin rằng quân ta đang hoạt động tại đó, đến nỗi sau này tên tướng Mỹ Tim-mét, cố vấn trực tiếp của Nguyễn Văn Thiệu phải kêu lên: "Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt Cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của Quân khu 2 ở Kon Tum và Pleiku”(?'?).

        Ba, Sư đoàn 968 đã thực hiện một loạt những trận đánh có bài bản theo kiểu "đột phá lần lượt" trước khi "gõ” vào mục tiêu chính, thậm chí có cả pháo lớn tham gia. Cách triển khai như là có nhiều Sư đoàn sắp đánh vào Pleiku.

        Một điều quan trọng và rất hay là Bộ Thống soái đã nhanh chóng tăng thêm cho Tây Nguyên hai Sư đoàn (sư đoàn 968 và Sư đoàn 316) là thành Tây Nguyên có 4 Sư đoàn và một số Trung đoàn độc lập - một tập đoàn chiến lược mạnh. Do đó chiến dịch có điều kiện hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến dịch, mọi hành động tác chiến, như đánh phản đột kích, đánh truy kích. Địch cũng bị bất ngờ với việc tăng cường lực lượng cho Tây Nguyên. Địch cũng không biết Sư 316 đã vào chiến trường. Sư đoàn 316 là lực lượng dự bị chiến lược của Bộ tăng cường cho chiến dịch, đã gấp rút hành quân từ Nghệ An vào thẳng Đắc Lăk. Suốt trong chặng đường hành quân Sư đoàn không dùng điện đài vô tuyến và không để lộ phiên hiệu.

        Đến chiến trường, Sư đoàn được bố trí giấu quân vào khu rừng già ở bờ tây sông Sê-rê-pok. Do vậy, đến ngày nổ súng mà dịch vẫn không hay biết. (sự bất ngờ chí mạng này vào lúc quyết định nhất ở phần sau, mãi tới khi những chiếc xe tăng của Sư đoàn 316 cán xích trên đường phố thị xã Buôn Ma Thuột thì tướng Phú mới biết phải sửng sốt thất kinh).

        Đưa bí mật đột ngột 2 Sư đoàn lên Tây Nguyên là mưu hay của ta, của Bộ Thống soái mà trực tiếp là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người đã có kinh nghiệm tác chiến lớn, người có trình độ chỉ huy các chiến dịch lớn, người có tri thức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành. Đó là cái nút trong mưu kế chiến lược.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm và trực tiếp chỉ huy các hành động chiến đấu nghi binh. Chúng tôi coi nó sẽ tạo nên bất ngờ đối với địch mà bất ngờ là bảo đảm của thắng lợi. Thực hiện đánh nghi binh, đây là bức điện mà bộ chỉ huy chiến dịch gửi cho Sư đoàn trưởng Thanh Sơn ngày 2 tháng 3, sau khi Sư đoàn 968 đã tiêu diệt các vị trí Đồn Tầm, điểm cao 535, nằm trong kế hoạch đó:

        1- Tổ chức ngay việc vây, diệt 605, uy hiếp quận lỵ Thanh An

        2- Dùng hoả lực đánh vào Chư Kara kết hợp bộ binh bao vây buộc địch đối phó.

        3- Đưa lực lượng ta chiếm giữ ngay dãy Chư Gôi, tổ chức thành trận địa mới trên đông sông Ia Puk.

        Trên tuyến đường 5A, 5B:

        1 Tích cực bám đánh liên đoàn 4, không cho chúng rút khỏi Chư Sang

        2- Tiếp tục hoạt động nhỏ trên đường 5B, giam chân Trung đoàn 44 tại đó.

        Tóm lại: Sư đoàn phải giam chân chủ lực địch trên hướng Pleiku - Kon Tum và cố gắng thu hút thêm để tạo thuận lợi cho hướng chính..." (Chú thích: Điện gửi 968 ngày 2-3-1975 lưu trữ Sư đoàn 968 và quân đoàn 3 )
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:59:26 am »


        Để giành lấy yếu tố bất ngờ, đi liền với các hành động nghi binh lừa địch là việc đảm bảo tuyệt đối giữ bí mật. Rất nhiều biện pháp đã được áp dụng một cách tỉ mỉ để thực hiện điều đó. Chỉ một việc nhỏ là luồn dây điện thoại ngang qua lộ 14 về sở chỉ huy (liên lạc bằng vô tuyến sóng cực ngắn đã được cấm tuyệt đối cho đến khi nổ súng), chúng tôi cũng phải bàn rất kỹ. Và phải mất tới ba ngày thảo luận mới đi đến một giải pháp tối ưu về vấn đề hiệp đồng - một vấn đề rất phức tạp nhưng không khó hiểu. Đó là vì chiến dịch này đã được tiến hành với mức độ hiệp đồng binh chủng rất cao. Đoàn 559 tăng cường cho chiến dịch 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 Trung đoàn công binh và 1 tiểu đoàn bộ binh. Các binh chủng kỹ thuật đều đưa vào chiến đấu ở cỡ binh đoàn, nhất là sự xuất hiện lần đầu tiên một Trung đoàn xe tăng, những yếu tố không dễ đảm bảo bí mật. Trên tất cả các hướng tấn công ở trận mở đầu then chốt - Buôn Ma Thuột - đều có một khối lượng quan trọng các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ đi cùng bộ binh. Bốn trên năm hướng có xe tăng. Đặc công đánh độc lập một hướng nhưng cùng hiệp đồng với từng hướng.

        Nhưng ở đây tôi đang đề cập tới vấn đề giữ bí mật bất ngờ nên chỉ muốn nói về động tác chuẩn bị thiết bị chiến trường cho hiệp đồng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công làm sao để địch biết được ý định của ta càng muộn càng tốt. Có lúc ta buộc phải tạm ngừng việc làm đường (bao gồm cả các bến phà vượt sông) từ các vị trí tạm dừng cuối cùng đến tuyến xuất phát tấn công khoảng cách này trung bình là 25 đến 30km, có nơi đến 40km, tổng cộng là hàng trăm km và hai bến phà. Ta đã huy động vào việc này hai Trung đoàn công binh làm đường và cầu phà.

        Các đồng chí công binh bảo đảm rằng công việc có thể hoàn thành trong khoảng 4, 5 tiếng đồng hồ bằng các phương pháp khẩn cấp, chúng tôi dự định (và thực tế đã như vậy) công binh sẽ tác nghiệp vào thời gian trước giờ nổ súng. Vấn đề là phải tính toán làm sao để từ các cự ly khác nhau -trong vài tiếng đồng hồ - bộ binh, xe tăng, pháo binh và các thành phần khác có thể vượt sông Sê-rê-pok (một con sông rộng 200m, lưu tốc lớn và... có cả cá sấu) trước 5 giờ sáng đến các vị trí xuất phát tiến công. Đã tính tới khả năng (có đơn vị) sẽ phải tác chiến trong hành tiến. Các đơn vị công binh phải ngày đêm hoạt động trên nhiều tuyến đường, phải san rừng, xẻ núi, bắc cầu... có những tuyến đường xuất phát tiến công cho xe tăng, xe bọc thép anh em phải bí mật triển khai, cưa gốc cây sẵn một phần chờ khi có lệnh cho xe húc đổ cây là thành ngay con đường.

        Nhưng một điều rất khó là: Ta mở đường khẩn cấp bằng bộc phá, tiếng nổ của nó cộng với tiếng máy ầm ầm của tăng, pháo khi vận động sẽ khác nào "lạy ông tôi ở bụi này”, giữ được bất ngờ chiến dịch rồi lại để mất bất ngờ chiến đấu. Thế là đi tới quyết định sẽ dùng đặc công và pháo mang vác (Rốc két, DKB, H12) tiến công các mục tiêu địch vào thời gian công binh tác nghiệp mở đường từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3. Đây là hành động "một công đôi việc":

        Một, yểm hộ cho bộ đội cơ động và dọn bớt các mục tiêu râu ria để tạo bàn đạp.

        Hai,... như các đại tá nguỵ Vũ Thế Quang, Nguyễn Trọng Luật sau này đã khai: "Vâng, đến lúc đó chúng tôi vẫn khẳng định rằng đây chỉ là các hoạt động bình thường của đặc công và pháo binh các ông, đến sáng rồi sẽ chấm dứt...", nên không biết rằng cùng lúc đó công binh của ta đang nổ mìn tác nghiệp tuyến đường xuất phát tiến công.

        Có tình huống như: gần sát ngày ta nổ súng, phát hiện những dấu hiệu nghi ngờ, địch cho nống càn thăm dò lên phía bắc, nơi của bộ đội Sư đoàn 320 đang trú chân và chuẩn bị thiết bị trận địa. Địch càn đến đâu, các chiến sĩ của ta phải lui vào đến đó và phải xoá hết dấu vết những gì đã làm được. Chúng chỉ rút khoảng 40 tiếng đồng hồ trước khi ta nổ súng và các chiến sĩ Sư đoàn 320 lúc ấy mới lại có điều kiện hối hả lao vào các công tác chuẩn bị.

        Không phát hiện được gì, địch yên tâm và chúng ta lại thêm một lần thắng địch và Trung đoàn 45, sư 23 nguỵ đi trinh sát vũ trang ở Bắc Buôn Ma Thuột phải chuyển về Plâyku để đối phó với Sư đoàn 968 đang đánh ở tuyến phòng ngự vòng ngoài thị xã Plâyku. Đó cũng là mưu hay của ta, lùi một bước để mà tiến.

        Nghi binh lừa địch, giữ bí mật giành yếu tố bất ngờ, là một trong các mặt công tác tiến hành có hiệu quả nhất, nhưng cũng là căng thẳng nhất, phải dồn tâm trí nhiều nhất trong giai đoạn trước ngày nổ súng. Tôi còn nhớ chiều 5 tháng 3, khi ngày N đã ở ngay trước mặt, rất nhiều tin tức đưa đến chứng tỏ địch có khả năng nắm được các ý đồ của ta đã khiến cả sở chỉ huy chúng tôi như lặng đi. Thiếu tướng Vũ Lăng nói: "Thật là những tin tức có thể làm rụng tim được". Và chúng tôi đã gửi ngay một bức điện cho các đơn vị nhấn mạnh phải kiên trì giữ bí mật đến cùng "Phải kiên trì giữ bí mật đến cùng, thà nhận những khó khăn để đánh địch chưa dự phòng còn hơn gấp nhiều lần đánh địch đã sẵn sàng ứng phó".
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM