Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:25:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hoạt động phá hoại và lật đổ của CIA ở Việt Nam  (Đọc 21369 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 07:44:42 pm »

5. CIA TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁ HOẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM

           Theo qui định của hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dương, phía ta bắt đầu tiếp quản thành phố Hà Nội ngày 10 tháng 10 năm 1954 và thành phố Hải Phòng ngày 16 tháng 5 năm 1955. Những thế lực phản động trong hàng ngũ Pháp lợi dụng luôn quãng thời gian chuẩn bị cho việc tập kết lực lượng và bàn giao chính quyền để xúc tiến các mưu đồ phá hoại, sau khi buộc phải rút hoàn toàn khỏi miền Bắc Việt Nam. Cục tinh báo trung ương Mỹ cũng chớp luôn thời cơ để thực hiện các mưu đồ phá hoại của Mỹ.

          Tháng 8 năm 1954, Lênxđên từ Sài Gòn đáp may bay ra Hà Nội tiếp xúc với một số giám mục đạo Thiên chúa và một số “lãnh tụ” đảng Đại Việt, vừa để tìm hiểu tình hình, vừa để bàn bạc âm mưu chống phá “Việt Minh cộng sản”. Dựa vào lực lượng Công giáo để chống lại cộng sản vô thần vẫn là chủ trương nhất quán của CIA. Về lực lượng Đại Việt, CIA thừa hiểu dây chỉ là một nhóm phần tử cơ hội, khi Nhật Bản thắng thế thì dựa vào Nhật Bản để làm chỗ dựa “chống Pháp”, đến khi Nhật Bản bại trận thì lại tìm cách “bắt liên lạc” với Mỹ để có quan thầy mới. Không phải ai khác mà chính Patti là cựu sĩ quan OSS, khi tới Vân Nam, hồi đầu năm 1954 đã nhận xét, Đại Việt cũng như Quốc dân đảng đều không có lực lượng ở trong nước. Nhưng trong lúc Mỹ đang cần tập hợp các lực lượng phản động để chống lại Việt Minh cộng sản thì chẳng có một “đảng phái chính trị” nào khác ngoài những tàn dư của đảng Đại Việt mà tiêu biểu là một số “nhà trí thức” cơ hội chủ nghĩa, đang sống trong khu vực Hà Nội, tạm thời bị Pháp chiếm đóng. Vì vậy, Lênxđên dã tìm đến bọn chúng nhằm lôi kéo chúng làm tay sai cho Mỹ.

           Lênxđên chỉ ở lại Hà Nội vài ngày rồi lại đáp máy bay vào Sài Gòn. Liền sau đó, phó của Lênxđên là Cônen, lúc này đeo lon thiếu tá, lại bay ra Hà Nội cùng với một nhóm 6 sĩ quan SMM. Cônen đặt trụ sở chính thức tại Hà Nội, tiếp đó lại lập thêm một “chi nhánh” nữa tại Hải Phòng. Trong buổi họp báo công khai tại Hà Nội, Cônen tự giới thiệu là người cầm đầu phái đoàn Mỹ, trông nom việc giúp đỡ những người Việt Nam “lánh nạn cộng sản” từ miền Bắc di cư vào Nam. Cônen chính thức báo tin chính phủ Mỹ đã huy động một số tàu vận tải quân sự và cả máy bay quân sự để dưa những người Việt Nann di cư từ Hà Nội,Hải Phòng vào Sài Gòn.

            Lênxđên khoe, trong nhóm sĩ quan SMM được cử ra Hà Nội, Hải Phòng hoạt động. Có cả chuyên gia về “chiến tranh tâm lý” rất thành thạo môn “tuyên truyền rỉ tai”, tức là phao tin đồn nhằm để kích động nhiều người di cư vào Nam. Đúng là trong thời kỳ này, CIA đã hoạt động rất tích cực và được sự hỗ trợ rất “hào phóng” của chính quyền Mỹ. Từ Oasinhtơn qua Sài Gòn đến Hải Phòng, Hà Nội, các sĩ quan CIA rất thành thạo về khoa tuyên truyền kích động, đã phối hợp với nhau, hoạt động trên một qui mô rộng lớn. Tại các vùng công giáo ở miền Bắc Việt Nam hồi đó, người ta thấy khá nhiều cha cố, liên miên tổ chức những buổi giảng đạo để rồi cuối cùng kết luận bằng một câu: “chúa đã vào Nam, các con chiên ngoan đạo nên đi theo chúa”. Dĩ nhiên, phần lớn những người quá mê tín đều tưởng thật, vội vàng thu xếp di cư. Tuy nhiên cũng còn có những người phân vân do dự, phần vì tin chắc chính phủ Cụ Hồ không khi nào lại ngược đãi giáo dân, ngăn cấm tự do tín ngưỡng, một phần nữa còn vì đã bao năm gắn bó với quê cha đất tổ không lẽ trong chốc lát có thể rời bỏ ruộng vườn làng mạc, dấn thân vào nơi vô định. Lập tức, tại một số nhà thờ, người ta thấy có hiện tượng “chúa chảy nước mắt thương khóc con chiên” Trò ảo thuật này rất đơn giản. Trước khi làm lễ, chỉ cần một linh mục nào dó, đã được tay chân của CIA lôi kéo, nhỏ một ít glyxêrin vào mặt pho tượng Đức bà đồng trinh hoặc tượng Đức chúa Giêxu. Lúc cha cố giảng đạo. Các con chiên đều cúi đầu chăm chú nghe đọc thánh kinh, hầu như không ai “phân tán tư tưởng” để ý đến sự việc diễn ra chung quanh. Khi đọc kinh xong, linh mục quay lên lấy nước thánh, lúc đó mới giả vờ thốt lên một tiếng kêu kinh ngac làm như bất chợt vừa mới phát hiện ra “chúa chảy nước mắt...” thế là, một đồn mười, mười lại đồn trăm, trong số dân công giáo ở miền Bắc hồi đó loan truyền rất nhanh chóng hiện tượng kỳ lạ này.

            Tại Sài Gòn, Lênxđêm “tăng viện” thêm cho Cônen bằng cách “móc nối” với một tên “thầy tướng” người Việt gốc Hoa tên là Triệu Dinh, có biệt tài sáng tác những câu ca dao, hò, vè “ngụy trang bằng danh từ “sấm truyền”. Những câu “sấm truyền” do Triệu Dinh sáng tác “tiên đoán” sau khi chúa vào Nam, miền Bắc sẽ gặp nhiều tai họa như động đất, sóng thân “mười phần chết bảy còn ba, phần ba còn lại chẳng ra hồn người” hoặc “mười phần chết bảy còn ba, phần ba còn lại nửa ma nửa người”, hoặc “mười phần chết bảy còn ba, phần ba ngắc ngoải kêu mà ai thương”. Được Lênxđên cho tiền, Triệu Dinh còn biên soạn cuốn lịch năm mới (tức năm Ất Mùi 1955) giấy tốt, chữ đẹp và lẫn vào nhiều tờ lịch là những câu “sấm truyền” nói bóng gió đến những “thảm họa” mà miền Bắc Việt Nam sẽ phải gánh chịu trong năm 1955. Tay chân của Lênxđên và Cônen còn phao tin, chờ đến khi quân đội Pháp từ miền Bắc rút hết vào Nam, lúc đó Mỹ sẽ “ném bom nguyên tử”, biến Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình... thành tro bụi. Thời kỳ cuối năm 1954 dầu năm 1955 quả là CIA đã gây ra rất nhiều tai họa cho hàng triệu gia đình giáo dân miền Bắc. Có những vùng công giáo toàn tòng, nhân dân từ bao đời nay vẫn bảm chặt thửa ruộng mảnh vườn quanh ngôi nhà thờ cổ kính, nay dột nhiên tất cả mọi người bỏ vào Nam hết, không phải chỉ có toàn bộ gia đình, mà là toàn thể chỏm xóm. Những người do dự chưa muốn rời quê cha đất tổ đã bị các cha cố, các trùm trưởng “thuyết phục”, thực tế là hăm dọa. Rõ ràng, đây là những vụ “cưỡng ép di cư” rất trắng trợn, mà chính một số thành viên trong Uy ban giám sát và kiểm soát đình chiến ở Việt Nam hồi đó cũng phải thừa nhận.

             Cũng không phải chỉ có nhiều giáo dân từ miền Bắc di cư vào Nam để Ngô Đình Diệm kiếm được nhiều là phiếu ủng hộ trong cuộc tranh giành quyền binh Với Bảo Đại “như một số báo chỉ xuất bản ở các nước phương Tây, hồi đó đã nhận định. Mưu đồ của CIA, và cũng là mưu đồ của chính quyền Mỹ hồi đó, còn sâu xa hơn nhiều. Bởi vì, không phải chỉ có nhiều giáo dân thuộc vùng đồng bằng sông Hồng “theo Chúa vào Nam” mà hàng loạt gia đình vợ con binh lính người Nùng đóng tại khu vực biên giới như Lạng Sơn, Đình Lập, Tiên Yên, Móng Cái cũng bỏ vào Nam sinh sống. CIA đã dự kiến trước sau thực dân Pháp, cũng phải rút khỏi nước Việt Nam. Những người lính thuộc dân tộc Nùng ở vùng rừng núi miền Bắc Việt Nam này sẽ thoát ly sự ràng buộc của Pháp để lại rơi vào vòng ảnh hưởng của Mỹ. Những người “lính miền núi” này và cả con cháu của họ nữa sẽ có thể trở thành những “mũi xung kích” khi cần thiết tổ chức “Bắc tiến”, tiến công Việt Minh cộng sản. Trong trường hợp chưa có thời cơ và điều kiện phát động chiến tranh, những “người miền núi” này, sau khi được tuyển mộ vào hàng ngũ điệp viên CIA, sẽ trở thành những tên gián điệp, biệt kích phục vụ cho các hoạt động lật đổ của CIA .

             Trong bản “tổng kết công tác” thời kỳ hoạt động tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng “thời gian 300 ngày” từ giữa năm 1954 đến giữa năm 1955 (tức thời gian các lực lượng vũ trang của Pháp thực hiện tập kết để chuyển dần vào miền Nam Việt Nam). CIA khoe đã “lôi kéo được hơn 1 triệu người, hầu hết là tín đồ đạo Thiên chúa, từ miền Bắc di cư vào Nam. Đúng là với số đôla khá lớn tung ra cộng với tất cả các mánh khỏe tuyên truyền rỉ tai, phao tin đồn nhảm, dùng thần quyền để thuyết phục, dụ dỗ, lôi kéo kết hợp với hăm dọa và cưỡng ép. CIA đã có “thành tích lớn” trong việc tạo ra đợt “di dân ồ ạt kể từ sau chiēn tranh thể giới thứ hai”. Suốt mấy triều đại tổng thống Mỹ đều “hài lòng về thành tích vĩ đại” đó. Chỉ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, quân đội Mỹ hoàn toàn rút khỏi Việt Nam, chế độ ngụy quân ngụy quyền sụp đổ thảm hại, sau một loại thất bại liên tiếp, cả Nhà trắng lẫn cơ quan CIA “ngã ngửa người ra” khi được biết trong số những giáo dân di cư vào Nam có khá nhiều cán bộ cộng sản hoạt động bí mật đã tận dụng cơ hội do CIA tạo ra để lọt vào hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền, tạo thành một mạng lưới không chỉ thu thập tin tình báo mà còn góp phần không nhỏ vào việc làm cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ.

              Về phía Mỹ, cơ quan CIA cũng không quên các hoạt động phá hoại và lật đổ tại miền Bắc Việt Nam, một công việc mà các diệp viên CIA đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm và thành thạo tới mức nhiệm vụ này trở thành chức năng chủ yếu của CIA. Không phải ai khác mà chính nhiều quan chức cấp cao CIA, trong những cuốn hồi ký của mình, đã công khai tiết lộ “chức năng chủ yếu của cơ quan tình báo Trung ương Hoa kỳ không phải chỉ nhằm thu thập tin tình báo, mà chính là phá hoại lật đổ”.

             Từ tháng 7 năm 1951, ngay trong chuyến đi đầu tiên từ Sài Gòn ra Hà Nội. Lênxđên đã nhờ “phòng nhì” của Pháp giới thiệu để làm quen với các “lãnh tụ” đảng Đại Việt như Đặng Văn Sung, Cao Xuân Tuyên,… bàn kế hoạch tổ chức một nhóm vũ trang bí mật cài lại miền Bắc Việt Nam hoạt dông “phá hoại và lật đổ” khi Việt Nam tiếp quản. Việc cần kíp trước mắt là phải tuyển lựa cấp tốc khoảng “vài chục” thanh niên “trung thành và dũng cảm” bí mật đưa đi huấn luyện về quân sự rồi sau đó lại bí mật quay trở về miền Bắc Việt Nam “thực thi công vụ”.

             Lúc này, bọn “lãnh tụ”, Đại Việt cũng đang có âm mưu cài lại một số đảng viên chưa bị lộ mặt của chúng tại các thành phố đông dân như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định... nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng. Được Lênxđên tìm gặp, bọn này rất vui mừng phấn khởi. Đối với bọn cầm đầu Đại Việt, việc tìm kiếm những đảng viên chưa bị lộ mặt để cadi lại miền Bắc Việt Nam không khó lắm, bởi vì chúng vừa mới tiến hành một đợt “kết nạp đảng viên mới”, trước khi theo chân Pháp rút chạy vào miền Nam Việt Nam. Cái khó là phải chọn lọc trong số này những tên “trung thành”, có sức khỏe, thích phiêu lưu mạo hiểm, có tinh thần chống “Việt Minh cộng sản”.

             Từ năm 1952, khi còn đeo lon đại úy trong đội quân do Pháp chỉ huy đông lại huyện Giao Thủy, Nam Định, Cao Xuân Tuyên đã tuyển lựa được một tên lính hầu, gọi là “gác-đờ-co”... Vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa làm nhiệm vụ phục dịch. Do là tên Trần Minh Châu tức Trần Văn Cập, một tín đồ đạo Thiên chúa, sau khi cách mạng tháng 8-1945 bùng nổ đã làm xã đội trưởng dân quân rồi làm chủ tịch xã. Sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, Cập đã bị quân đội Pháp bắt trong một trận càn quét hồi năm 1949 và đã nhanh chóng phản bội cách mạng, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân, ngoan ngoãn làm tay sai cho địch. Qua cặp mắt sành sỏi của Cao Xuản Tuyên, tên phản bội Trần Văn Châu sau khi trải qua một vài thử thách, dược Tuyên rất tin dùng, Tuyên thường huyênh hoang nói với đồng họn: “sử dụng những tên phản cách mạng để chống lại cách mạng là thượng sách nhất, cao tay nhất. Bởi vì, những tên này đã trót phản bội Việt Minh thì chỉ còn một cách lao vào chống Việt Minh cộng sản tới cùng”. Dĩ nhiên, tên Trần Văn Cập có một điểm yếu là đã hoạt động trong hàng ngũ Việt Minh, nghĩa là đã lộ mặt. Nhưng dù sao, Cập mới chỉ làm tới chức Chủ tịch và đội trưởng dân quân trong một xã. Nếu tạo được một lý lịch giả mạo cho Cập, để Cập đổi họ, đổi tên, rồi đưa Cập lên tận Hà Nội hoạt động trong một thành phố đông dân thì nhất định vần có thể sử dụng dược.

             Và thế là, sau cuộc “hội đàm” giữa trưởng phái đoàn Mỹ SMM là Lênxđên với các lãnh tụ cầm đầu đảng Đại Việt, Trần Văn Cập đã được " đảng" bố trí đưa lên Hà Nội. Tại Hà Nội, Trần Văn Cập lại ”bắt nối” được với Nguyễn Kim Xuyến cũng là một thanh niên công giáo quê ở huyện Ý Yên, Nam Định. Từ tháng 3 năm 1951, Xuyên đã từng bỏ làng quê lên Nam Định xin theo học lớp đào tạo hạ sĩ quan tại thành phố Nam Định nhưng không trúng tuyển. Buồn bực, chán nản, Xuyến lên Hà Nội, lại nhà một người quen là Nhượng Tống, một tên văn sĩ phản động lúc này đang là một “đảng viên cao cấp” của đảng Đại Việt. Nhượng Tống dã kết nạp Nguyễn Kim Xuyến vào đảng Đại Việt, giới thiệu Xuyến theo học một lớp “chính trị vỡ lòng” của đảng Đại Việt, tổ chức tại bệnh viện tư của bác sĩ Đặng Vũ Lạc rồi sau đó lại giới thiệu Xuyến vào làm việc tại tòa soạn báo Gió Mới. Từ tòa soạn của tờ báo này, Nguyễn Kim Xuyến được dịp làm quen với Cao Xuân Tuyên và Đặng Văn Dương là em trai Đặng Văn Sung, đồng thời được các lãnh tụ Đại Việt đánh giá là một thanh niên hăng hái, gan dạ, có đầu óc quốc gia và tinh thần chống cộng.

              Trần Văn Cập và Nguyễn Kim Xuyến trở thành hai nhân mối tích cực, có nhiệm vụ bí mật móc nối, tuyển lựa những thanh niên “đồng tâm đồng chí” đi “du học quân sự” tại Mỹ. Nhưng mãi đến cuối tháng 8 năm 1954 là hết thời hạn cuối cùng, bọn chúng cũng mới chỉ “kết nạp” được 14 tên. Nếu cộng cả Cập và Xuyến thì cũng chỉ có 16 tên, không thể nào “tròn con số hai chục”.

              Tháng 9 năm 1954, toàn bộ 16 “du học sinh“ này được đưa từ Hà Nội xuống Hải Phòng, đặt dưới sự chỉ huy của trung úy Andriu, một điệp viên CIA, đồng thời là một thành viên trong phái đoàn SMM của Mỹ.

              Đô đốc Xalen, chỉ huy trưởng đội đặc nhiệm 98 thuộc hạm đội 7 của Mỹ đã được lệnh của bộ tư lệnh hải quân khu vực Thái Bình Dương của Mỹ, bố trí một chuyến tàu “há mồm” đưa “sinh viên quân sự” ra khơi. Trái với điều bọn Tần Văn Cập mơ ιrớc, chúng không dược dưa tới Mỹ tham quan các thành phố Niu Yoóc, Sicagô, Oasinhtơn mà chỉ được tới một hòn đảo thuộc Mỹ ở Thái Bình Dương, cách xa bờ biển nước Mỹ hàng ngàn hải lý. Ngay khi vừa cập bến, tất cả bọn này được xe vận tải quân sự phủ vải bạt kín, đưa tới một doanh trại mà chính bọn chúng cũng không biết là trại lính gì và cũng không dược phép hỏi. Công việc đầu tiên là kiểm tra lại sức khỏe, có 3 tên không đủ tiêu chuẩn phải quay trở lại Việt Nam. Còn lại 13 lên. Tất cả đều được gán cho những cái tên Pháp hoặc Mỹ, coi đó là “bí danh” trong thời kỳ học tập, đồng thời cũng để cho các huấn luyện viên Mỹ dễ diểm danh.

              Sau những bài “quân sự thường thức, và những môn bắt buộc như bơi lặn, chèo thuyền, chạy bộ, trèo tường, võ Giuđô, cách phát tín hiệu liên lạc với máy bay... bọn chúng chia thành 3 tổp theo học các khoa chuyên môn“, có các chuyên gia giảng dạy bằng tiếng Anh, một tên Mỹ dịch sang tiếng Pháp, rồi một tên trong bọn lại dịch sang tiếng Việt cho cả tổp cùng hiểu.

             Lớp quân sự gồm có Cập tức Lexli, Địch tức Philip, Ðức tức Lơ Roa, Hào tức Ăngđrê, học các môn sử dụng súng ngắn, tiểu liên, trung liên, đại liên, súng cối, ném lựu đạn, đặt mìn và mìn hẹn giờ. Sau dó là các chiến thuật phục kích, tập kích và phản kích khi bị đánh úp bất ngờ.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 07:47:56 pm »

           Lớp tình báo gồm có Thanh tức Pie, Chấn tức Vanhxăng, Minh tức Capê, Sản tức Rudi, Nguyên tức Rôbe học cách thức thăm dò tin tức, thu thập tình báo, đánh cắp tài liệu, sử dụng các máy ảnh đặc biệt.

             Lớp vô tuyến điện gồm có Xuyến tức Sáchơmanhơ, Long tức Anbe, Đàm tức Xiranô học cách sử dụng và sửa chữa radio, truyền tin bằng mật mã, cách giải mã.

                 Sau hơn bốn tháng học tập cật lực là cuộc thi “tốt nghiệp” cuối cùng, từng tên một được dẫn vào phòng “thầm vấn”. Một tên Mỹ, đóng vai công an Bắc Việt đề ra hàng trăm câu hỏi lắt léo, từng tên phải trả lời rành rọt theo những điều đã được quan thầy hướng dẫn. Một thiết bị, gọi là “máy kiểm tra nói dối”, kiểm tra từng nhịp dập trái tim, hơi thở, sự tuần hoàn của não để đi tới kết luận những “sinh viên” này có thật sự gan dạ, bình tĩnh và nhất là có “trung thành với sự nghiệp” mà quan thầy Mỹ trao cho không.

             Ngày 8 tháng 2 năm 1955, tên Minh tức Capê bị giữ lại vì máy “kiểm tra nói dối” phát hiện có sự dao động trong nội tâm, 12 tên còn gọi lại được tàu chiến Mỹ đưa về Sài Gòn trao cho Cao Xuân Tuyên lúc này đã đeo lon trung tá, phụ trách toàn thể nhóm phá hoại và lật đổ. Hào, Cập, Đức là 3 tên học tập, xuất sắc trong bọn được phong trung úy. Những tên còn lại được phong cấp từ thiếu úy đến thượng sĩ. Đầu tháng 3 năm 1955 cả bọn lại được tàu Mỹ đưa ra Hải Phòng.

              Trong chuyến đi này, Cao Xuân Tuyên cũng ra Hải Phòng. Hắn ở lại đây một thời gian dể bố trí sắp sếp nhân mối tổ chức các “mạng lưới”, cho tới khi quân đội Pháp rút hết mới quay trở lại Sài Gòn. Cùng ở lại Hải Phòng với Cao Xuản Tuyên có Phạm Việt Đức, Nguyễn Văn Tiêm và Nguyễn Kim Xuyến. Tổ thứ hai gồm có Phạm Đăng Hào. Nguyễn Đình Long, Vũ Đình Địch về Nam Định, Trần Văn Cập và số còn lại lên Hà Nội.

              Lúc này, tất cả bọn chúng đã vứt bỏ hết những tên Mỹ, tên Anh, tên Pháp và thay bằng những “bí số” để bí mật liên lạc với với nhau cũng như liên lạc với “trung ương”. Ngoài ra, trong cuộc sống ngụy trang ngoài xã hội, mỗi tên lại có vải lên gọi khác nhau, làm nhiều nghề khác nhau. Sau một thời gian ngắn, chúng lại đổi chỗ ở đồng thời đổi cả tên và đổi cả nghề. Ví dụ như Trần Văn Cập còn có một “chứng minh thư“ thứ hai ghi tên Trần Minh Châu và có lúc lại dược gọi bằng cái tên ngắn gọn là “bác Nguyên chữa xe đạp”. Chỗ ở của hắn cũng luôn luôn thay đổi, lúc thì ở Hàng Rươi, lúc thì về Quán Thánh, lúc thi lại dọn nhà ra tận bờ sông.

              Tháng 5 năm 1955, khi quân đội Pháp rút hết khỏi Hải Phòng, đồng thời cũng là rút hết khỏi miền Bắc Việt Nam, nhóm phái đoàn quân sự SMM do Cônen chỉ huy cũng quay trở lại Sài gòn. Cônen có vẻ không thỏa mãn vì lực lượng bán quân sự do CIA tổ chức, mới đầu dự định có 20 tên, nhưng khi đưa đi đào tạo chỉ tuyển mộ dược có 16 tên và lúc “tốt nghiệp” chỉ còn lại vẻn vẹn 12 tên. Nhưng Lênxđên nói: “lúc này là 12 tên rồi sẽ phát triển lên 120 tên. Và 120 tên này sẽ tiến hành 1200 vụ phá hoại ở miền Bắc Việt Nam”.

              Trong bản báo cáo gửi về Oasinhtơn (toàn văn đã bị phanh phui trước ảnh sáng dư luận trong vụ tiết lộ các tài liệu mật của Lầu năm góc) phái đoàn SMM của Lênxđên khoe:

             “Phái đoàn SMM ở miền Bắc Việt Nam dưới sự chỉ huy của Cônen đã tổ chức dược một nhóm bán quân sự (mà chúng tôi ngụy trang bằng cái tên Việt Nam là Bình) thông qua đảng Đại Việt, nhóm này đã được bí mật đưa vào miền Bắc qua cảng Hải Phòng dưới sự chỉ huy của trung úy Anđriu và được một chiếc tàu của Hải quân Mỹ chở đến khu vực huấn luyện, một nhóm nữa được tổ chức ở miền Nam và được ngụy trang dưới cái tên là nhóm Hào.

             Vũ khí và trang bị dùng cho đội công tác bán quân sự của nhóm Bình được cất giấu ở miền Bắc, tại các khu vực chưa bị Việt Minh kiểm soát. Chúng tôi đã chuyển bí mật vào Việt Nam khoảng 8 tấn rưỡi đồ tiếp tế cho nhóm Hào để rồi Hào lại chuyển cho nhóm Bình ở miền Bắc. Số hàng này gồm có 14 máy vô tuyến điện, 300 súng các-bin, 90.000 viên đạn các-bin, 50 súng ngắn, 10.000 viên đạn súng ngắn và 150 tạ chất nổ, 2 tấn rưỡi đã được chuyển đến tay nhóm Bình ở Bắc kỳ. Số còn lại được SMM cất giấu dọc sông Hồng. Ngày 16 tháng 5 năm 1955 Việt Minh tiếp quản Hải Phong, các nhóm Bình và Hào của chúng tôi lúc này đều đã có mặt ở miền Bắc và đều đã được trang bị đầy đủ. Đã phải làm việc rất căng như phải lựa chọn người, đưa ra ngoài huấn luyện rồi lại đưa về thâm nhập trở lại, trang bị cho họ, bố trí họ tại những địa điểm đã ấn định. Toàn bộ công việc này phải tiến hành hết sức bí mật, không để cho Việt Minh, Ủy ban Quốc tế biết. Thậm chí cả những ngựời Pháp và những người Việt Nam bạn bè thân Mỹ cũng không được biết…“.

              Từ Sài Gòn, Lênxđên và Cônen hý hửng ngóng chờ tin về các ”hoạt động” của nhóm bán quân sự. Chi nhánh CIA ở Sài Gòn đã vạch kế hoạch tỉ mỉ cho bọn tay chân của chúng ở Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định tích cực phát triển nhân mối, tổ chức những vụ ám sát các cán bộ cấp cao của Việt Minh, đặt chất nổ phá hoại các trạm biến thế điện, đặt mìn (chế tạo giống như những viên than) phá hoại các dầu máy xe lửa giữa lúc tàu đang chạy, đổ axit vào các thiết bị trong nhà máy, cho cát vào bình xăng xe ô tô.

              Tuy nhiên cho tới khi kết thúc năm 1955 rồi qua năm 1956, thậm chí mãi tận những năm 1957, 1958 bọn tay chân của Lênxđên vẫn không gây ra được một vụ nổ nào tại các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam. Nguyễn Kim Xuyên đã lĩnh tới 6 khẩu súng có thiết bị giảm thanh nhưng không gây dược vụ ám sát nào. Bản báo cáo dầu tiên của Trần Văn Cập gửi về “trung ương” cho biết dã “kết nạp” được 2 nhân mối, bắt liên lạc được với Trần Văn Tước là đảng viên Đại Việt ở phố Lò Đúc, Trần Duy Hinh là tài xế cũ lái xe cho Đặng Văn Sung... nhưng cho tới lần báo cáo thứ 8 vẫn chỉ nhai lại diệp khúc “tình hình có nhiều khó khăn. Việt Minh quản lý hộ khầu rất chắc. Chưa hoạt động được vì sợ lộ cơ sở”.

              Tháng 8 năm 1956 Cao Xuân Tuyên quá sốt ruột, phải ra lệnh gọi một tên trong nhóm phá hoại vào tận trong Nam, trực tiếp báo cáo tình hình cụ thể. Từ Hà Nội, bọn đàn em của Tuyên gửi điện mật vào cho biết, Phạm Đăng Hào, tức Hùng, bí số HG sẽ đích thân vào Sài Gòn gặp trung ương. Ngày 6 tháng 9 năm 1965, Hào tới Sài Gòn được đưa ngày tới gặp một| “Cố vấn Mỹ” và được xét hỏi suốt 48 giờ trong đó có 14 lần thẩm tra qua “máy kiểm tra nói dối”. Sau dó, Hào được đưa về nhà Đặng Văn Sung ở 378 phố Phan Thanh Giản rồi lại đưa về “trụ sở” tại 217 đường Công Lý. Tại dây, Hào nhận được chỉ thị cố gắng gây ra một vụ nổ “cốt để có tiếng vang”. Ngày 15 tháng 9 năm 1956, Hào lại vượt tuyến ra miền Bắc, đem theo một số hàng hóa bán đi dược 14 triệu đồng (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa) đem chia cho đồng bọn, gọi là “chút quà của cấp trên ủng hộ, động viên toàn nhóm cố gắng thực thi công vụ”.

              Từ nửa cuối năm 1958, mọi liên lạc điện đài tử Bắc vào Nam đều im bặt, Cao Xuân Tuyên đứng ngôi không yên, dự đoán “có chuyện chẳng lành đã xảy ra”. Ngày 5 tháng 5 năm 1959 tòa án Hà Nội xử công khai bọn gián điệp, phá hoại. Lúc này cả Lênxđên va Cônen đều đã trở về Mỹ. Mãi một thời gian dài sau đó, sau khi đã tốn khá nhiều công sức tiền của đề nghiên cứu xem tại sao toàn thể bọn phá hoại đều bị công an Bắc Việt bắt sống, CIA Mỹ cũng chỉ “mang máng” biết rằng: trong một buổi kiểm tra “hàng tồn kho” của một số tư sản gian thương tại Hải Phòng công an đã phát hiện thấy ba quả mìn làm giống như những viên than dùng để chạy đầu máy xe lửa. Tuy nhiên, những viên than giả này có “điểm yếu” là nhẵn bóng hơn những vên than thông thường và đưa lên mũi ngửi có mùi tanh. Những người chủ nhà có mìn cất giấu bị gọi lên đồn công an xét hỏi nhưng không đủ bằng chứng buộc tội, lại được tha về. Cuối cùng “vụ phát hiện được mìn” cũng chìm trong quên lãng. Có пgười còn nhận xét: đâỷ là mìn của Pháp để lại và Pháp cùng bọn tay chân đã rút hết vào Nam. Cái nhóm “Bình và Hào” của Mỹ lại tiếp tục hoạt động vì không thấy theo dõi. Thế nhưng, chính trong lúc chúng đinh ոinh “không bị theo dõi” thì Công an Bắc Việt đã “cài” được người vào trong nhóm của chúng theo dõi chúng tử “trong gan ruột” chứ không phải chỉ từ bên ngoài. Trong 8 chuyến liên lạc điện đài của chúng thì chỉ có 2 chuyến đầu là thật, 6 chuyến sau đều tiến hành theo sự bố trí của công an “Đặc phải viên” của nhóm được “cử vào Nam trực tiếp báo cáo với Trung ương” cũng đã bị công an khống chế.

              Một lần nữa, CIA lại bị thua dau.

              Tiếp theo vụ án Trần Minh Châu tức Cập, hàng loạt tên gián diệp nữa cũng lần lượt bị bắt gọn và đưa ra tòa án công khai xét xử trước đông đảo nhân dân. Trong số này có vụ tên Nguyễn Tiến Thành và đồng bọn, hoạt dộng trên một địa bàn khá rộng, từ Hải Phòng đến tận Vĩnh Phú.

              Trước tòa, Nguyễn Tiến Thành và đồng bọn đã cúi đầu nhận tội và cung khai tất cả những âm mưu phá hoại và lật đổ của chúng. Thành báo cáo, cuối năm 1954 hắn đã được Nghiêm Kế Tổ là một “lãnh tụ” Việt Nam quốc dân đảng kết nạp vào “đảng” rồi bố trí cho di “du học quân sự tại nước ngoài”. Từ Hải Phòng, Thành cùng 5 tên nữa đáp tàu biển của Pháp vào Sài Gòn. Tại đây, sau khi được CIA thẩm tra lý lịch và thử thách, trắc nghiệm. Thành cùng với hơn 10 tên nữa lại được đưa xuống tàu biển của Mỹ tới đảo Guyam giữa Thái Bình Dương. Chương trình học tập cũng tương tự như hai nhóm Bình và Hảo. Lênxđên đã khoe trong bản báo cáo về “thành tích” của phái đoàn quản sự SMM do hắn chỉ huy.

              Tuy nhiên nhóm Nguyễn Tiến Thành không do CIA trực tiếp tuyển mộ mà là do bọn Nghiêm Kế Tổ, Hoàng Công Măng, Vũ Hán Khuông trong tổ chức phản động mệnh danh là Việt Nam quốc dân đảng tự động tổ chức rồi nhờ CIA hỗ trợ. Dĩ nhiên CIA sốt sắng nhận lời ngay. Như báo cáo của SMM đã ghi nhận, trong thời kỳ ra Hà Nội bắt liên lạc với các tổ chức phản động. Lênxđên cũng như Cônen chỉ tiếp xúc với nhóm Đại Việt, chứ không tìm gặp bọn đứng đầu Việt Nam Quốc dân đảng. Nay Việt Nam Quốc dân đảng lại tự đóng góp thêm cho CIA một nhóm phá hoại nữa để chống lại Việt Minh cộng sản ở miền Bắc Việt Nam, đúng là một “dịp may bất ngờ” đối với CIA.

               Sau khi đã được huấn luyện kỹ các kỹ thuật phá hoại, ám sát, thu thập tin tình báo, ngày 16 tháng 4 năm 1955 bọn Thành lại được đưa trở lại Hải Phòng trước khi quân dội Pháp rút khỏi thành phố cửa biển này. Từ Hải Phòng, bọn Thanh tách ra thành 4 tổ, chia nhau hoạt động ở các thành phố và thị xã Hải Phòng. Hà Nội, Sơn Tây, Hà Đông,

               Theo đúng kế hoạch đã bàn bạc kỹ từ trước, từng tên trong bọn phá hoại do Thành cầm đầu tự dộng kiếm lấy một nghề “làm ăn lương thiện” cố gắng im hơi lặng tiếng một thời gian hòng giữ bí mật, tránh khỏi cặp mắt nghi ngờ của các chiến sĩ an ninh và nhân dân chung quanh. Mãi tới 16 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1955 Thanh mới cho một điện đài bắt liên lạc với “Trung ương” ở Sài Gòn để nhận chỉ thị hoạt động. Thế nhưng, suốt trong hai tháng 6 và 7 năm 1955, bọn Thành đã 6 lần mở đài bắt liên lạc với cấp trên nhưng đều không nhận được tín hiệu trả lời. Hơn nữa, trong bọn cùng đi học Ô Quan về, còn có 9 tên nữa đã trở lại Hải Phòng nhưng sau đó, Thành đã tốn công tìm kiếm vẫn “mất tích” không biết đang bí mật ẩn náu ở đâu hoặc đã ra đầu thú hay đã bị công an bắt.

               Trước tình hình đó, đầu tháng 8 năm 1955. Thành phải cử hai “đặc phái viên” là Văn và Song vượt tuyến vào Nam để bắt liên lạc và trực tiếp báo cáo tình hình với cấp trên. Nhưng mới đi tới Nghệ An, hai tên Văn và Song đã “cảm thấy có người theo dõi” vì vậy “thần hồn nát thần tính” bọn chúng lại hốt hoảng quay trở lại, không dám tiếp tục cuộc hành trình vượt tuyến nữa.

              Làm thế nào để “bắt liên lạc với Trung ương” bây giờ? Số tiền trợ cấp đã hết. Kho vũ khí, kho điện dài vẫn đang cất giấu. Bọn Thành bàn với nhau, rút lên vùng trung du Phú Thọ, vừa lao động sản xuất trong một số cơ sở nông nghiệp để kiếm ăn vừa hoạt động phá hoại, cổt “gây được một tếng vang lớn”, trấn động tới trong Nam, như vậy sẽ đến tai “trung ương Quốc dân đảng” liền đó, Thành và đồng bọn tiến hành “gây cơ sở”, bằng cách làm quen với một số phần tử xấu ở địa phương, kết nạp bọn này vào tổ chức phản động do Thành cầm đầu. “Cương lĩnh hoạt động” của bọn Thành là tiến hành “cách mạng tư sản dân quyền” để chống lại “Việt Minh cộng sản”. Phú Thọ sẽ là “căn cứ địa” của bọn chúng. Sau khi đã “giải phóng” được vùng trung du này sẽ “đánh loang ra các vùng lân cận rồi cướp chính quyền tại Hà Nội (1)

              Thế nhưng, giữa lúc “các nhà cách mạng tư sản dân quyền” của cái tàn dư Việt Nam Quốc dân đảng đang tỉ tê rỉ tai tuyên truyền về “cương līnh hoạt động” thì mạng lưới an ninh của nhân dân đã bủa vây rồi dần dần xiết chặt. Cuối cùng toàn bộ 11 tên trong nhóm phản cách mạng này đều sa lưới pháp luật. Từ Phú Thọ những tên bị bắt giữ đã cúi đầu nhận tội khai báo tất cả những địa điểm chôn cất điện đài cũng như vũ khí của bọn chúng tại Hải Phòng. Căn cứ vào những lời khai báo này ta đã tịch thu toàn bộ 4 điện đài ở nhà số 7 Ngô Thuận Thái, Hải Phòng Vốn là “trụ sở bí mật” của Hoàng Công Măng, tiếp đó lại thu thêm nhiều hòm vũ khí và chất nổ do CIA cung cấp cho bọn chúng, trong đó có tới 113 súng các bin báng gập.

              Như vậy là từ vụ án Trần Minh Châu đến vụ án Nguyễn Tiến Thành, ta đã lần lượt phá 6 vụ án phá hoại và lật đổ của CIA cài lại miền Bắc, trước khi bọn chúng chưa kịp gây tội ác. Sau khi toàn bộ các nhóm phá hoại của CIA bố trí trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam bị bắt giữ và xét xử, một luồng không khí hoang mang dao động nhanh chóng lan rộng trong hàng ngũ bọn tay sai của thực dân đế quốc. Cả những tên do Pháp cài lại cũng hoảng hốt tự động ra đầu thú để được hưởng lượng khoan hồng. Một số đồng bào công giáo yêu nước đã tin gặp chính quyền, tố cáo nհữոց hoạt động của tên gián điệp Mỹ đội lốt thầy tu mang tên Đu lây, tổng giám mục tại Nhà thờ lớn Hà Nội có nhà riêng tại số 41 phố Lý Quốc Sư đang lén lút tuyên truyền dụ dỗ lôi kéo giáo dân chống lại chính quyền và thu thập tin tức cho Mỹ Trước những chứng cớ cụ thể, một phần do chính đồng bào công giáo cung cấp, một phần do các chiến sĩ an ninh của ta phát hiện. Chính phủ ta đã ra lệnh trục xuất Đu Lây. Tiếp đó, tòa lãnh sự Mỹ ở số 11 phố Hai Bà Trưng và các cơ sở cuối cùng của Mỹ đặt tại số 5 Bà Huyện Thanh Quan, số 36 phố Hoàng Diệu cũng bị đóng cửa. Các tổ chức như Hội bảo hiểm nhân thọ, tổ chức đại chúng học vụ, tổ chức y tế lưu động do Mỹ đỡ đầu, thực tế là do CIA ẩn núp bên trong cũng ngưng hoạt động. Từ đó trở đi. CIA bị chặt nốt những “chân rết” cuối cùng còn cố bám dai tại Hà Nội.


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 07:51:37 pm »

6. BÊN TRONG “SỞ LIÊN LẠC PHỦ TỔNG THỐNG”

           Mặc dù một loạt hành động phá hoại của bọn gián điệp cài lại miền Bắc Việt Nam đã liên tiếp bị triệt tiêu, bọn Mỹ-Diệm vẫn không chịu từ bỏ những âm mưu đen tối của chúng. Với chức vụ “cố vấn đặc biệt” của tổng thống, Lênxđên đã hướng dẫn cho Ngô Đình Diệm tổ chức ra một thứ “Cục tình báo trung ương” tại miền Nam Việt Nam với chức năng: vừa làm nhiệm vụ phản gián, vừa làm nhiệm vụ thu thập tin tình báo, chống lại phong trào cách mạng đang dâng cao ở miền Nam và tiếp tục phá hoại miền Bắc Việt Nam.

                    Lúc này, Cao Xuân Tuyên đã bị thất sủng sau khi hai nhóm phá hoại Bình và Hảo bị thanh toán gọn. Tên Lê Xuân Tung (cấp bậc trung lá, tương đương với Cao Xuân Tuyên) lại dược Mỹ-Diệm chọn lựa đứng đầu cái “cục tình báo Trung ương” được ngụy trang bằng cái tên rất mơ hồ là “sở lện lạc phủ tổng thống”. Theo lời khai của những tên gián điệp biệt kích bị ta bắt giữ, cái “sở liên lạc phủ tổng thống” này gồm 7 phòng, mỗi phòng có một “bí số” riêng.

              - Phòng thứ nhất, bí số P.35, phụ trách việc tuyển mộ đào tạo bọn gián điệp biệt kích. Lực lượng gián điệp biệt kích này, lúc đầu thấy tên là “Liên đoàn biệt động”, sau đó thấy danh từ “biệt động” quá lộ liễu, các cố vấn Mỹ lại khuyên Ngô Đình Diệm đổi tên là “Liên đoàn quan sát”.

             - Phòng thứ hai, bí số P.45 phụ trách hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi việc tập trung lực lượng gián điệp biệt kích ra hoạt động phá hoại tại miền Bắc Việt Nam.

             - Phòng thứ ba, bi số P.55, phụ trách hướng dẫn, chỉ dạo, theo dõi hoạt động của bọn gián diệp biệt kích tại miền Nam Việt Nam. Lực lượng này cũng được đào tạo như bọn gián điệp biệt kích hoạt động tại miền Bắc, nhưng sử dụng vào việc tiêu diệt các cơ sở cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Nhiệm vụ của bọn chúng dò xét những người bị tình nghi là “cán bộ cộng sản nằm vùng” và tổ chức vây ráp, ruồng bố những khu vực tình nghi là có cơ sở cách mạng đang bí mật hoạt động.

             - Phòng thứ tư bí số P.65, phụ trách vấn đề “an ninh nội bộ”, tức là dò xét ngay cả công nhân, viên chức, sinh viên, tri thức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền. Tổ chức của phòng này giống hệt sở mật thám Pháp và Cục điều tra Liên bang FBI của Mỹ.

             - Phòng thứ năm, bí số P.75, phụ trách việc thu thập sưu tầm, dịch thuật, phân tích những tài liệu, tin tức tình báo thu nhận được từ nhiều nguồn khác nhau.

             - Phòng thứ sáu, bí số P.85 phụ trách các công việc hành chính, quản trị, hậu cần.

             - Phòng thứ bảy, bí số P.95, phụ trách mạng lưới thông tin liên lạc bằng các phương tiện thông thường và các kỹ thuật mật của ngành tình báo.

             Như vậy là, ngay từ khi thành lập cái gọi là “sở liên lạc phủ tổng thống”, lực lượng gián điệp biệt kích trực thuộc “sở liên lạc” này đã có nhiệm vụ hoạt động ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, “cố vấn đặc biệt” Lênxđên đã chỉ dẫn cho Ngô Đình Diệm, không phải chỉ có việc tổ chức một bộ máy gián điệp theo kiểu CIA mà còn xây dựng cả một hệ thống khủng bố đàn áp kiểu FBI. Tất cả những “tinh hoa” trong ngành tình báo, gián điệp, biệt kích, mật thám, cảnh sát của Hoa kỳ đều được quy tụ trong cái “sở liên lạc phủ tổng thống” của Ngô Đình Diệm.

              Trong việc tuyển chọn gián điệp biệt kích, mới đầu bọn Mỹ - Diệm rút từ các lực lượng bộ binh hoặc biệt động những tên có sức khỏe và năng lực, đưa đi “đào tạo chuyên môn” bằng cách cho theo học những khóa huấn luyện biệt kích ở Nha Trang hoặc ở nước ngoài, tại các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippin, Nhật Bản hoặc trên đảo Guyam. Từ năm 1950 trở đi, do yêu cầu “tăng thêm số lượng”, các nhân viên CIA đã đến thẳng các trại “tiếp cư”, tức là những khu tập trung gồm nhiều dãy nhà vách làm bằng gỗ, mái lợp bằng tôn do Mỹ dựng lên nhằm “tiếp đón” ոhững người từ miền Bắc di cư vào Nam, để trực tiếp tuyển mộ. Bọn chúng thường nhằm vào đoàn thanh nіên công giáo hoặc con cái gia đình phản động chống đối “chế độ cộng sản” coi đó là những người “có lòng căm thù và ý chí”, có thể tạo thành đám tay sai trung thành của Mỹ. Sau khi đã hoàn tất các thủ tục giấy tờ về lý lịch, giấy cam kết tình nguyện phục vụ, bọn này còn phải trải qua một loạt thử thách bằng cách dứng hàng giờ trước những thiết bị “trắc nghiệm tâm lý” trả lời hàng trăm câu hỏi để máy thầm tra xem có thật sự trung thành với lý tưởng “chống cộng” hay không có “quyết tâm” lọt vào tận cơ sở của “Việt Cộng”, ở trong Nam hoặc xung phong “Bắc tiến” hay không, có sẵn sàng “chịu đựng gian khổ, hy sinh phấn đấu” không... Sau mới được cử di học về kỹ thuật, chiến tranh chiến thuật, chiến tranh tâm lý, điều tra tình báo... lại phải thử thách qua máy “trắc nghiệm tåm lý” để khẳng định xem, quá trình học tập rèn lսyện gian khổ, có hoang mang dao động, ngã lòng nản trí hay không, rồi mới được chính thức công nhận là “thành viên của liên đoàn quan sát”, được cử đi hoạt động tại một khu vực nào đó ở miền Nam hoặc miền Bắc.

               Tại miền Nam Việt Nam, đi đôi với việc tung lực lượng gián điệp biệt kích hoạt động tại các khu vực nghi là “căn cứ Việt cộng” tháng 10 năm 1959 CIA còn “mách nước” cho Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật “chống cộng, tố cộng, diệt cộng”, gọi tắt là luật 10-59, buộc các gia đình từ bố mẹ, con cái, vợ chồng đến anh chị em và họ hàng thân thuộc phải tố giác lẫn nhau giết hại lẫn nhau. Lênxđên còn hướng dẫn cho Ngô Đinh Diệm tổ chức các trại trập trung theo những kinh, nghiệm dã tích lũy được từ thời kỳ còn hoạt động ở Philippin. Những trại tập trung này được Ngô Đình Diệm gọi bằng những cái tên rất mỹ miều như “khu trù mật”, “khu dinh điền” hoặc “ấp chiến lược”.

                Với sự chỉ đạo trực tiếp của các cố vấn CIA. Ngô Đình Diệm hy vọng sẽ thực hiện được “chiến lược dồn làng gom dân” trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, kiểm soát dược từng người dân và tách rời từng cán bộ “Việt cộng” ra khỏi đám dân thường, thực hiện khầu hiệu “tát cạn nước để bắt cá” CIA cũng giúp Ngô Đình Diệm xây dựng một loạt nhà tù không lồ để giam giữ những người cộng sản, những người kháng chiến cũ, những người có cảm tình với cộng sản, và tất cả những người chống lại Ngô Đình Diệm, kể cả các tín đồ đạo Phật cũng như công nhân, nông dân, trí thức, sinh viên, những nhà buôn lớn nhỏ. Tại miền Nam Việt Nam, dựa vào “đạo luật 10-59”. Ngô Đình Diệm còn tổ chức nhiều “tòa án quân sự lưu động” kéo theo máy chém, lần lượt đi khắp các vùng hành quân càn quét trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, chặt đầu những người chống đối hòng khủng bố, uy hiếp, đe dọa những người khác.

                Thế nhưng, Ngô Đình Diệm càng đàn áp khủng bố thì phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam càng dâng cao. Việc ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng với hàng loạt vụ nổi dậy ở Mỏ Cày, Bến Tre... vào thời gian cuối 1960 đầս năm 1961 đã làm cho cả Ngô Đình Diệm lẫn quan thầy Mỹ hoang mang lo sợ.

                Bước vào năm 1961, đế quốc Mỹ đã phải thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, với công thức cố vấn Mỹ + hỏa lực và bộ binh ngụy, thật sự mở những cuộc hành quân tác chiến vào khu căn cứ cách mạng đang ngày càng phát triển ở miền Nam Việt Nam. Những đơn vị đầu tiên của Mỹ kéo vào miền Nam Việt Nam để hỗ trợ cho ngụy là những đơn vị “lực lượng đặc biệt”, tổ chức theo kiểu “biệt động quân”. Nhiều sĩ quan thuộc “lực lượng đặc biệt” Mỹ vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ huấn luyện cho các lực lượng biệt động của ngụy. Mặt khác, lực lượng biệt động của ngụy trong thời kỳ này cũng đã vượt ra quá khuôn khổ phụ trách của CIA, và thật sự trở thành một lực lượng do cả CIA lẫn lầu năm góc của Mỹ “đỡ đầu”, có nghĩa là vừa được cố vấn CIA tuyển mộ, chỉ dẫn, vừa được các sĩ quan của Lầu năm góc huấn luyện, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ tổng tham mưu quân đội ngụy.

                Trên cơ sở cái gọi là “liên đoàn quan sát 1” thành lập từ năm 1957, đến cuối năm 1960 Ngô Đình Diệm đã phải ký sắc lệnh tổ chức hai liên đoàn, đặt tên là liên đoàn 77 và liên đoàn 31. Thiếu tá Phạm Văn Phú (sau này là trung tướng) được cử làm liên đoàn trưởng liên đoàn 77 và thiếu tá Phạm Duy Tất (sau này là đại tá) được cử làm liên đoàn trưởng liên đoàn 31. Nhiệm vụ của 2 liên đoàn này đều tương tự như nhau, tức là “thu thập và phối kiểm những tin tình báo cùng với phòng nhì thuộc bộ tổng tham mưu ngụy, nhằm tổ chức các cuộc hành quân đột kích vào các vùng căn cứ cách mạng và khu vực giải phóng tại miền Nam Việt Nam, tập kích vào các tuyến đường Trường Sơn từ Bắc vào Nam, kiểm soát các khu vực rừng núi biển phòng không để cho các lực lượng từ miền Bắc thâm nhập vào miền Nam có thể tỏa xuống vùng đồng bằng tạo lực cho phong trào cách mạng đang phát triển.

               Đến năm 1964, khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã hoàn toàn tỏ ra bất lực, không đàn áp nổi cao trào cách mạng miền Nam Việt Nam, phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ đưa lính chiến dấu Mỹ vào trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, hai liên đoàn 77 và 31 sau khi đổi phiên hiệu thành liên đoàn 111 và 301 lại được sát nhập lại thành một đơn vị lớn, đặt dưới sự chỉ huy của “Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt” do tên thiếu tướng nguy Lê Văn Nghiêm chỉ huy, trực thuộc Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt này còn có các bộ phận như tiểu đoàn biệt kích 91 và các toán biệt kích “Lôi phong”,”Lôi vũ”, “Lôi hổ”.

               Trụ sở Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt được chuyển từ Sài Gòn về Nha Trang. Bộ tham mưu của nó thật sự là một cơ quan chiến dấu bao gồm 7 phòng, 5 ban Phòng 1 phụ trách các vấn đề quân số. Phòng 2 chịu trách nhiệm đặc biệt về thu thập tin tức tình báo. Phòng 3 đảm nhiệm các kế hoạch hành quân tác chiến và là một phòng lớn nhất, có 5 ban trực thuộc mang tên: ban hành quân, ban huấn luyện, ban nghi lễ, ban binh thư, ban phiên dịch. Phòng 4 chịu trách nhiêm về hậu cần, Phòng 5 chuyên trách về các vấn đề giáo dục chính trị, quan hệ xã hội, chiến tranh tâm lý. Cuối củng là 2 phòng an ninh và quân y.

                   Các cố vấn tình báo CIA, có thêm các sĩ quаn quân báo DIA, tiếp tục hoạt động trong bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt Mỹ CIA chuyên trách về các mặt chiến tranh tâm lý, an ninh và hoạt động xã hội của bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt ngụy. CIA cũng đảm nhiệm thu thập tin tình báo từ miền Bắc Việt Nam đề cung cấp cho Mỹ và ngụy, trong đó có bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt. Các cố vấn tình báo CIA, được hỗ trợ thêm bằng các phương tiện quan sát suốt dọc tuyến đường Trường Sơn, nhanh chóng phát hiện ra, miền Bắc Việt Nam không chỉ liên tục chi viện cho cách mạng miền Nam nhưng cán bộ đã từ miền Nam tập kết ra Bắc, mà còn đưa cả một số đơn vị chiến đấu từ miền Bắc vào Nam sau khi Mỹ đã đưa quân vào tham chiến tại miền Nam Việt Nam. CIA nhận định phải lập lại kế hoạch phá hoại miền Bắc Việt Nam và nếu những toán gián điệp cài lại miền Bắc đã bị thủ tiêu thì phải “cấy lại” bằng những toán mới, thâm nhập vào miền Bắc bằng mọi cách, để tiến hành các hoạt động phá hoạt và lật đổ.
Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 07:55:37 pm »

7. NHỮNG CON THIÊU THÂN LAO VÀO LƯỚI CỦA MIỀN BẮC VIỆT NAM

           Những tài liệu tịch thu của Mỹ ngụy sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cộng với lời khai của những tên gián điệp xin đầu thú, cho biết: “từ năm 1957 các cố vấn CIA đã gợi ý cho Ngô Đình Diệm cần phải tăng cường việc tung gián điệp trở lại miền Bắc hoạt động không phải chỉ bằng cách vượt qua giới tuyến quân sự bằng đường bộ mà phải tận dụng đường không và đường biển”. Đến năm 1960, nhu cầu “Bắc tiến” không phải chỉ bao gồm những tên gián điệp thu thập tin tức mà cả những toán biệt kích có vũ trang, vừa thu thập tin, vừa tập kích phá hoại các cơ sở kinh tế, quốc phòng ở miền Bắc Việt Nam.

                 “Sở phòng vệ duyên hải” ra đời là một bộ phận của Nha kỹ thuật trực thuộc Bộ tổng tham mưu ngụy, chuyên tổ chức hoạt động tình báo gián điệp, phá hoại và quấy rối vùng ven biển và các đảo ở miền Bắc, đồng thời trinh sát và tìm cách ngăn chặn luồng chi viện bằng đường biển từ miền Bắc vào miền Nam. Những hoạt động của “sở phòng vệ duyên hải” kết hợp chặt chẽ với những hoạt động của “liên đoàn quan sát” “trực thuộc” sở liên lạc phủ tổng thống gồm những toán gián điệp biệt kích nhảy dù xuống những vùng hẻo lánh ở miền Bắc Việt Nam sẽ tạo thành một mạng lưới bao gồm cả “mũi dao và lá chắn”, vừa ngăn chặn luồng chi viện bằng dường bộ và đường biển từ miền Bắc vào miền Nam, vừa thân nhập vào miền Bắc bằng đường không và đường biển để tiến hành các hoạt động phá hoại.

                 Thật ra, ngay từ khi thành lập cái gọi là “Sở liên lạc phủ tổng thống”, Ngô Đình Diệm cũng dã chuần y cho thành lập một “khối hải vận” trực thuộc phòng P.45, tức là phòng chuyên trách việc tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc hoạt động. Nhưng trong thời gian dầu việc thâm nhập bằng đường biển của bọn gián điệp biệt kích đã gặp rất nhiều khó khăn do mạng lưới an ninh bảo vệ vùng bờ biển của chúng ta tổ chức chặt chẽ, nhiều toán gián điệp biệt kích bị phát hiện ngay từ khi chưa kịp đổ bộ lên bờ, chưa kịp hoạt động. Một số ít tuy đã đổ bộ được hoặc mới đổ bộ lên bờ, tiến hành được vài hoạt dộng phá hoại lẻ tẻ, nhưng lập tức lại bị sa lưới. Vì vậy, dến cuối năm 1963 Mỹ ngụy đã phải tạm ngừng hoạt động để “chấn chỉnh tổ chức, củng cố lực lượng” đến năm 1964 mới lại hoạt động với qui mô lớn hơn. Lúc này, hạm đội 7 của Mỹ đã tiến hành nhiều hoạt động sát vùng bờ biển của ta vừa để khiêu khích, thăm dò phản ứng, vừa để hỗ trợ cho ngụy. Ngày 1 tháng 4 năm 1964 khối “Hải vận” của ngụy được chính thức đổi tên thành “sở phòng vệ duyên hải” tăng thêm số quân và trang bị. Một lực lượng “người nhái” gọi là “lực lượng biệt hải” (tức biệt kích đường biển) được cấp tốc thành lập, các cố vấn hải quân của Mỹ đảm nhiệm việc huấn luyện bơi, lặn và bơi đường dài cho bọn gián điệp biệt kích ngụy.

                 Mới đầu, khi còn gọi là “khối hải vận” lực lượng biệt kích đường biển của ngụy bao gồm có 2 chi cục:

                 - Chi cục thứ nhất, mang tên Ătlăngtích (Đại Tây Dương) phụ trách chỉ đạo bọn gián điệp biệt kích bơi qua sông Bến Hải hoặc dùng thuyền đưa gián điệp thâm nhập vào miền Bắc. Phạm vi hoạt động của bọn này được giới hạn từ Bến Hải tới Hà Tĩnh.

                - Chi cục thứ hai, mang tên Paxiphíc (Thái Bình dương) chuyên dùng thuyền lớn đi sâu, vào miền Bắc để thả gián diệp, biệt kích người nhái đi hoạt động trong phạm vi từ Hà Tĩnh dến tận Quảng Ninh.

                Năm 1964, khi “khối hải vận” được chuyển thành “sở phòng vệ duyên hải” do tên đại tá Ngô Thế Linh làm chỉ huy trưởng và tên trung tá Đỗ Văn Tiên làm chỉ huy phó, cơ quan này đã thật sự chuyển thành một bộ máy tác chiến, bao gồm một cơ quan tham mưu (trong đó có 4 ban: nhân viên, an ninh, tiếp vận, thông tin liên lạc) và 2 lực lượng:

                    - Lực lượng hải tuần gồm 13 tàu biển và thuyền máy cό tốc độ nhanh, trang bị hỏa lực đầy đủ.

                    - Lực lượng biệt hải người nhái gồm một đại đội chia thành 7 toán nhỏ, đặt dưới sự điều khiển của một ban chỉ huy.

                Một loạt chuyên gia hải quân Mỹ đã được cử tới cùng phối hợp với các nhân viện CIA làm “cố vấn” cho lực lượng biệt kích đường biển của ngụy. Trong đống hồ sơ lưu trữ tịch thu được sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng còn ghi rõ họ tên và lý lịch tóm tắt của nhiều cố vấn Mỹ, như trung tá hải quản Bôpphê, cố vấn trưởng trung tá Haorănxơ, cố vấn phó, thiếu tá Gugenman, cố vấn bộ phận hành chính tiếp vận, đại úy Đơnlop, phụ trách tổ chức hành quân, đại úy Mêtdaoxơ, phụ trách huấn luyện người nhái.

                 Mặc dù vậy, hoạt động của bọn gián điệp biệt kích người nhái cũng rất hạn chế, tin thu lượm lược “không nhiều và rất ít bảo đảm chính xác”. Vì vậy cố vấn Mỹ lại phải chỉ đạo cho ngụy tiến hành bất cóc nhiều người dân đánh cá ở miền Bắc Việt Nam đang làm ăn ở ngoài khơi, đưa về tận cù lao Chàm ở Hội An để khai thác. Tại đây các “chuyên gia” của CIA đã trực tiếp tiến hành nhiều thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ rồi khống chế, cưỡng bức, dọa nạt, cố “khai thác những tin tình báo ở miền Bắc” thế nhưng, như chính các hồ sơ lưu trữ của Mỹ ngụy đã thừa nhận, những người dân đánh cá này chỉ chăm lo công việc làm ăn, suốt ngày đi khơi, đi lộng, không biết gì mấy về những hoạt động quân sự của Bắc Việt trên đất liền. Hơn nữa, hầu hết những người dân đánh cá bị bắt cóc đều căm phẫn, kịch lịệt phản đối Mỹ ngụy, đòi chúng phải lâp tức trả lại tự do và đưa trở về miền Bắc vì vậy công việc khai thác tin tình báo càng khó đạt được kết quả.

                  Những báo cáo “tổng kết kinh nghiệm hoạt động” của CIA cũng thừa nhận những hoạt động của bọn gián điêp biệt kích thâm nhập vào miền Bắc Việt Nam “gặp nhiều khó khăn và đạt rất ít kết quả. Vì vậy, CIA chủ trương, nên bù lại bằng cách đầy mạnh các hoạt động của bọn gián diệp biệt kích đồ bộ xuống miền Bắc Việt Nam băng đường không, CIA nhận định, miền Bắc Việt Nam có nhiều khu vực hẻo lánh, thưa dân, nhất là tại khu vực miền núi. Tổ chức cho gián điệp biệt kích nhảy dù xuống các khu vực rừng núi hẻo lánh ở miền Bắc Việt Nam trong đêm tối là công việc “dễ dàng hơn đổ bộ bằng dường biển rất nhiều” bọn gián điệp biệt kích sau khi tiến hành các hoạt động phá hoại hoặc gây cơ sở vẫn có thể “tận dụng đường rừng trở lại miền Nam Việt Nam”.

                  Có điều, Mỹ, ngụy đã chủ quan, không lường được hết sự lớn mạnh nhanh chóng của nước Việt Namn dân chủ cộng hòa sau khi đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Chỉ một thời gian ngắn sau khi toàn bộ miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, ngày 3 tháng 3 năm 1959 lực lượng công an nhân dân vũ trang dã chính thức được thành lập. Đồng thời mạng lưới phòng không của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, từ Bắc, Đông Bắc đều được kiện toàn với đầy đủ hệ thống ra đa và các cỡ pháo cao xạ phòng không có thể chiến đấu trong mọi thời tiết, cả ban ngày lẫn ban đêm.

                  Căn cứ vào những chỉ thị kịp thời nhậy bén của Ban chấp hành trung ương Đảng, và Bác Hồ, Bộ Công an (nay là Bộ Nội vụ) đã chủ động vạch kế hoạch cụ thể “đề ra nhiều phương án toàn diện dựa vào phong trào quần chúng, sự phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng võ trang, tập trung chỉ đạo các đơn vị, các địa phương triển khai công tác đón đánh gián diệp biệt kích địch, bất kể chúng thâm nhập bằng đường bộ, đường không hay đường biển.

                   Đêm 27-5-1961, một máy bay hai động cơ của Mỹ-Diệm cất cánh từ Đà Nẵng theo hướng biển, bay ra ngang vùng trời Ninh Bình rồi hạ thấp độ cao vòng lên Mai Châu (Tây Bắc). Hồi 20g 30 phút, chúng thả dù 4 tên gián điệp biệt kích xuống mỏm đồi thuộc khu vực Phù Yên. Dân quân địa phương đã kịp thời phát hiện bao vây theo dõi. Các lực lượng Công an nhân dân ta tiếp tục truy lùng và bắt gọn, thu điện đài võ khí. Chúng đều là những tên đã vào Nam theo địch từ 1951, nay được lệnh CIA quay trở lại miền Bắc hoạt động phá hoại theo kế hoạch mang tên Castor. Đó là những lên biệt kích đầu tiên thâm nhập bằng đường không bị bắt gọn.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 08:00:04 pm »

           Tiếp đó, đến đêm 27 tháng 6 năm 1961, ta lại bắt gọn một toán biệt kích mang tên Ares thâm nhập vùng bờ biển Tiền An, Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Từ những vụ biệt kích đầu tiên thâm nhập bằng đường không và đường biển bị sa lưới pháp luật này, lực lượng an ninh ta đã nhanh chóng khai thác, khống chế và khuất phục được những tên bị bắt, buộc chúng bí mật làm việc cho ta. Trong khi đó, bọn chỉ huy của chúng ở miền Nam cứ đinh ninh rằng chúng đã đổ bộ thành công vào miền Bắc. Với nhóm biệt kích đường biển (Ares) với trò chơi nghiệp vụ ta đã bắt thêm được 2 toán 16 tên. Trong kế hoạch Castor của chúng ta đã nhử được 8 toán 39 tên trong đó có chiếc máy bay C76, định ra tiếp tế cho đồng bọn mà CIA không hề biết là đã lọt vào tay lực lượng an ninh nhân dân ta, bị bắn rơi lúc 1 giờ 15 phút đêm 2 tháng 7 năm 1961 trên vùng trời Ninh Bình. Máy bay bị bốc cháy rơi xuống một cánh đồng thuộc xã Tô Hiệu, huyện Kim Sơn. Trên máy bay có 10 tên ngụy, 2 tên bị cháy thui, 1 tên bị chết sau khi máy bay rơi, 7 tên còn lại đều bị thương đã được các lực lượng công an, tự vệ đưa vào bệnh viện cứu chữa nhưng sau đó 3 tên vì bị thương quá nặng cũng dã bị chết, chỉ còn lại 4 tên.

                 Ngày 15 tháng 11 năm 1961, trừ tên Trần Phúc Lộc bị thương nặng dang còn tiếp tục điều trị 3 tên còn lại là Phan Thanh Vân, Phạm Văn Đăng, Đinh Như Khoa đã bị dưa ra xét xử công khai.

                Trước tòa án, tên trung úy Phạm Thanh Vân khai hắn đi lính cho Pháp, được học lái máy bay tử năm 1952, do “có tay nghề”, lái máy bay thành thạo, cho nên khi Mỹ thay chân Pháp hắn đã được bọn ngụy cử làm nhiệm vụ huấn luyện viên hoa tiêu rồi làm trưởng ban hành quân của một phi đoàn máy bay chiến đấu đã từng phục vụ nhiều chuyến thả dù bọn biệt động xuống những khu vực hành quân càn quét, ngoài ra còn nhiều lần thực hiện những chuyến bay dài tới Philippin, Đài Loan, Nhật Bản. Đầu năm 1961 CIA đã tổ chức cho Phan Thanh Vân tập bay thấp, bay đêm để chuẩn bị cho chuyến bay thả gián điệp biệt kích xuống hoạt động phá hoại tại miền Bắc Việt Nam. Trong chuyến bay đêm 1 tháng 7 năm 1961 Phan Thanh Vân được cử làm hoa tiêu trưởng phi cơ.

                Phan Thanh Vân kể lại:

                “Chiều ngày 1 tháng 7, tôi được lệnh của trung tá Nguyễn Cao Kỳ là chỉ huy trưởng liên phi đoàn vận tải hàng không quân sự miền Nam, báo cho biết đẳng 15 giờ có mặt tại căn cứ không quân. Lúc vào phòng họp, tôi thấy có 3 cố vấn Mỹ, trong trong dó có một người lên là Tôni nói thạo tiếng Pháp. Tôni trao nhiệm vụ cho tôi ngay trong đêm hôm đó phải lái chiếc C47 ra miền bắc thả dù người và vật liệu xuống điểm H đã ghi sẵn trên bản đồ bay. Tiếp đó, đại úy Linh trao cho mỗi nguời chúng tôi một bộ quần áo nâu và dặn chúng tôi phải mặc vào người, phòng khi máy bay gặp tai nan thì để trốn chạy. Đại úy Linh còn trao cho tổ 300 đôla và dặn, nếu gặp tai nạn hỏng hỏc, máy bay buộc phải đáp xuống miền Bắc thì cứ khai đây là máy bay đi buôn thuốc phiện lậu ở Lào. Số tiền 300 đôla là tiền đặt cọc trước, khi về chủ sẽ trả thêm. Ngoài ra còn có bản chỉ dẫn “cách phá hủy máy bay sau khi chạm đất. Trước hết phải tắt công tắc điện, sau đó dùng búa đập vỡ những ống chứa xăng cho chảy hết ra ngoài rồi dùng lửa thiêu hủy máy bay cùng toàn bộ tang vật”.

                 Tóm lại, cấp trên của chúng đã chuẩn bị chu đáo, chọn tay lái giỏi và căn dặn kỹ cách xử sự khi máy bay rơi. Nhưng sau khi trúng đạn, cả Phan Thanh Vân lẫn những tên còn sống sót không tên nào nghĩ đến chuyện thiêu hủy máy bay để phi tang. Chính vì vậy, ta đã thu được toàn bộ tang vật gồm có các loại súng trường hai nòng báng gập, loại súng trường một nòng báng rút do công ty chế tạo vũ khi Harintơn và Risácsơn ở Mỹ sản xuất, máy thu phát vô tuyến điện BN2 kiểu RT3, máy phát diện quay tay GN.58, hai điện đài URC4 cùng đầy đủ thuốc chữa bệnh, chữa vết thương, lương khô, gạo sấy và các loại thuốc lá Bông lúa, Hoàn Kiếm, Thăng Long sản xuất lại miền Bắc Việt Nam.

                 Tên Phạm Văn Đăng, thợ máy, cho biết thêm:

                 “Sau khi đã nghe phổ biến nhiệm vụ xong, tôi được dẫn vào một phòng nhỏ. Ở đây có một người Mỹ và một người Việt Nam. Người Mỹ bảo tôi đưa cho họ xem bản lý lịch đã được dịch sang tiếng Anh. Sau đó, anh ta dẫn tôi đến trước một cái máy, bắt tôi quay mặt vào phía tường, không được nhìn máy rồi đưa tay trái ra, cho máy đo áp lực áp vào mạch máu tay trái của tôi. Họ dồn dập hỏi tôi nhiều câu, và dặn tôi chỉ được trả lời, hoặc là “có” hoặc là “không” rất nhanh, những câu hỏi rất đột ngột và khác nhau. Đang hỏi tôi “có yêu vợ không” lại hỏi tiếp “có liên lạc với Việt Minh cộng sản không ?” rồi lại quay sang hỏi “có ăn cắp không”, “có thương con không”, “có đọc báo nhân dân ở miền Bắc không”. Hỏi rất nhiều đến mãi 6 giờ chiều mới xong”.

                 Phạm Văn Dũng còn tiết lộ: “chiếc máy bay này không sơn số hiệu và cờ hiệu. Bên trong có gắn thêm thùng xăng phụ và trang bị 2 động cơ để có thêm sức mạnh, bay được lâu hơn”

                Tên Đinh Như Khoa, trung sĩ nhất thuộc Liên đội quan sát 1, kể lại cả một quãng đời “đầy biến động” của hắn. Khoa nói:

                “Thưa quý tòa, khi cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ tôi là một thanh niên đã tham gia cướp chính quyền tại quê tôi ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau đó tôi còn được di học lớp huấn luyện cán bộ quân sự sơ cấp ở Ba Đồn. Nhưng đến năm 1947 do lời dụ dỗ của các cha cố, cụ thể là cha Quang, phó xứ Hòa Ninh, tôi đã phạm sai lầm là thôi không tham gia kháng chiến nữa rồi đền năm 1949 đã đi lính cho Pháp rồi được tuyển chọn làm gián điệp biệt kích tung ra miền Bắc hoạt động. Tôi rầt cảm động và biết ơn vì được tòa cho phép tôi gặp lại ông bố đẻ ra tôi vẫn còn ở lại miền Bắc. Tôi thấy bố tôi béo tốt khỏe mạnh, quần áo sạch sẽ lành lặn chứ không lam lũ như hồi trước. Từ đó tôi càng thấy rõ sai lầm của mình.

                Cùng trong lúc xử án, chính quyền ta đã cho trưng bầy toàn bộ các tang vật thu được trên chiếc máy bay C17 bị bắn rơi mà bọn gián điệp biệt kích chưa kip phá hủy hoặc đã cưỡng lại cấp trên, không chịu phá hủy.

                Đó là những chiếc súng ngắn có ổ đạn quay cỡ 38 có thể bắn xa 10 mét xuyên qua 7 centimét gỗ thông, những khầu súng ngắn nòng dài cùng cỡ đạn và ổ đạn chuyên dùng của cảnh sát Mỹ; súng trường một nòng báng rút, sung, trường hai nòng báng gập, những chiếc dao đi rừng chuôi gập, dao găm loại lớn, dao găm loại nhỏ; 5 loại đạn dùng cho các loại súng trường, súng ngắn kể trên, 2 loại pháo hiệu. Tất cả các loại vũ khí này, trừ một loại pháo hiện sản xuất tại Nhật Bản, còn tất cả đều sản xuất tại Mỹ. Phần lớn các loại đạn dều có đầu chì khi bằn vào người sẽ nát vụn thành nhiều mảnh nhỏ, rất khó gắp để chữa chạy.

               Bên cạnh những cây súng là máy phát diện quay tay, máy phát tín hiệu (moóc-xơ) hai bộ máy thu phát vô tuyến diện chạy pin, 3 loại gương phản chiếu dùng để báo hiệu cho máy bay, 4 loại pháo hiệu.

               Ngoài ra, còn có 29 loại thuốc đóng gói dưới сáс dạng bột, viên, nước dùng để chữa nhiều loại bệnh, 16 loại băng để băng bó các vết thương ở đầu, bụng, chân tay, 1 dao chích và 1 bơm hút máu khi bị rắn độc cắn, tất cả đều chế tạo ở Mỹ.

              Bọn gián điệp biệt kích này còn mang theo đầy đủ nhiều loại lương khô, gạo sấy, thịt khô, lạp sườn, đường, kẹo, muối, dụng cụ chế biến nước mặn nước ngọt và lưới đánh cá, lưỡi câu cá... để có thể tạo điều kiện cho chúng hoạt động dài ngày không cần tiếp tế.

              Tất cả nhân chứng, vật chứng này đã tố cáo đầy đủ mọi mưu đồ phá hoại của CIA và thất bại thảm hại của chúng.

              Tính đến cuối năm 1963, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội biên phòng, quân đội nhân dân, các lực lượng an ninh đã phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ bắt gọn 12 toán gián diệp biệt kích thâm nhập bằng đường biển và đường không trong các khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, Quảng Bình. Ta còn khám phá hàng chục vụ gián đệp ẩn nấp tại nhiều khu vực, cùng với hàng chục tổ chức phản động trong đó có một số tên phản động trong tôn giáo và trong dân tộc miền núi.

               Bước sang năm 1962, công tác phòng chống gián điệp biệt kích càng được đầy mạnh với nhiều kinh nghiệm, phong trào quần chúng trở thành thiên la địa võng, tính tới ngày 5-8-1964 là thời điểm đế quốc Mỹ trắng trợn ném bom Miền Bắc, ta đã tiêu diệt và bắt sống trên 60 toán với gần 500 tên, gồm đủ các toán thâm nhập bằng đường biển, đường không và đưuòng bộ. Nếu tổng hợp cả loại gián điệp con thoi qua đường biên giới thì gồm hai trăm toán với trên 2000 tên, làm phá sản hoàn toàn âm mưu rất thâm độc của Cục tình báo TW. Mỹ và tay sai ở miền Nam Việt Nam là nhằm tạo dựng lên lực lượng chống cộng trong lòng Cộng sản ở miền Bắc để hòng phá hoại chủ trương chi viện cho chiến trường miền Nam.



Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 08:06:04 pm »

8. BÀN TAY VẤY MÁU CỦA CIA TRONG HÀNH ĐỘNG THÍ BỎ NGÔ ĐÌNH DIỆM


                 Cuối năm 1956, Étuôt  Lênxdên quay trở về Mỹ làm việc tại “tổng hành dinh” của cơ quan CIA, chuyên trách về các vấn đề Viễn đông và vẫn thường xuyên theo dõi tình hình diễn biến ở Việt Nam. Những bản báo cáo đầu tiên từ Sài Gòn gửi về Oasinhtơn, đối với Étuốt Lênxđên quả là “rất đáng vui mừng phấn khởi”: chính quyền Ngô Đình Diệm do “bàn tay ma” của Lênxđên góp phần quyết định trong việc dựng lên, rõ ràng “đang được củng cố”. Với chế độ “gia đình trị”, bố trí các tay chân thân tín nắm giữ các cơ quan then chốt trong chính phủ, lại có cả lực lượng cảnh sát và nhất là lực lượng quân đội ngày càng được nắm bởi các tướng tá do Mỹ đào tạo. Lênxđên đinh ninh “đây là một chính quyền vững chắc nhất thế giới”. Mặc dù từ năm 1961 cao trào nổi dậy của nhân dân miền Nam Việt Nam đang ngày càng phát triển, nhưng Lênxđên tin chắc rằng, với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” do Lầu năm góc tiến hành ở miền Nam Việt Nam, cộng với các “chiến dịch” liên tục tiến công miền Bắc bằng các hoạt động phá hoại do CIA phụ trách, Lênxđên hy vọng “trong tương lai không xa tình hình miền Nam Việt Nam sẽ trở lại ổn định” như chính Lênxđên đã nhiều lần công khai tuyến bố với các nhà báo, cũng như đã nhiều lần khẳng định với Tổng thống Mỹ.

                    Từ năm 1958, sau khi trở về Mỹ làm việc tại cơ quan trung ương của CIA, Lênxđên đã được phong quân hàm chuẩn tướng và đến năm 1963 lại được phong quân hàm thiếu tướng trước khi nghỉ hưu. Thế nhưng, cũng đúng cái năm 1963 này, cơ đồ Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam lại đổ ụp !

                   Như chính các tài liệu mật của Lầu năm góc đã ghi nhận, ngay từ năm 1961 tức là khi bắt đầu “thí nghiệm” cuộc chiến tranh can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam với công thức: “bộ binh ngụy + cố vấn và hỏa lực Mỹ” chính quyền Kennơđi đã bắt đầu “đánh dấu hỏi” về năng lực của Ngô Đình Diệm, một con bài do Lênxđên góp phần dựng lên và ra sức bảo vệ. Sau cuộc đảo chính không thành công của Nguyễn Chánh Thi, giữa Bộ Ngoại giao Mỹ và Cục Tình báo trung ương CIA đã có nhiều tranh cãi xoay quanh vấn đề “nên” thay ngựa giữa dòng bằng cách gạt bỏ Diệm hay nên củng cố thế lực cho Diệm hơn nữa nhằm giúp Diệm thanh trừng tận gốc các lực lượng chống đối. Bộ Ngoại giao Mỹ chủ trương, nếu không gạt bỏ Diệm thì ít nhất cũng phải gây sức ép đòi Diệm phải “mở rộng chính phủ” thực hiện một vài chính sách có tính chất “mị dân” gọi là phương pháp “vặn đầu van nhằm xì bớt hơi” các thế lực chống dối. Lúc đầu CIA chủ trương nên bám giữ con bài Ngô Đình Diệm đến cùng, nhưng sau đó cũng lại nghiêng theo ý kiến: dù chưa gạt bỏ Ngô Đình Diệm thì ít nhất cũng phải loại trừ Ngô Đình Nhu, hủy bỏ chế độ “gia đình trị” của Diệm bằng cách buộc Diệm phải “mở rộng chính phủ”.

                   Vận mạng của Ngô Đình Diệm đã được quyết định bởi một báo cáo mật của Râugiơ Hinxman, Vụ trưởng Vụ điều tra và nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao, đề ngày 3-12-1962 trong đó nhấn mạnh:

                   ... “Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng như nhiều quan chức Mỹ tại Nam Việt Nam cho rằng hiện nay đã xuất hiện nhân tố chiến thắng trong cuộc chiến đấu chống nổi loạn của Việt cộng. Mức độ lạc quan đó là quá sớm”. Bản báo cáo này cũng vạch rõ: “Tình hình chính trị nội bộ khó đánh giá hơn nhiều. Diệm đã tăng cường kiểm soát bộ máy hành chính và quân sự. Tuy không có nhiều tin về tình trạng bất mãn đối với sự lãnh đạo của Diệm trong giới thượng lưu và các quan chức chính quyền nhưng vẫn còn có nhiều dấu hiệu dáng lo ngại, nhất là sự chỉ đạo của Diệm đối với các nỗ lực chống nổi loạn. Cũng có những tin tình báo cho biết, các quan chức quân sự và dân sự trọng yếu vẫn đang tiếp tục tham gia vào các âm mưu đảo chính chống Diệm”.

                  Bản báo cáo kết luận: “Cuộc đảo chính lật Diệm có thể xảy ra bất cứ lúc nào và sẽ dễ dàng bùng nổ nếu như cuộc chiến đấu chống Cộng sản không thuận lợi, nếu Việt cộng tiến hành có kết quả một loạt cuộc hành quân quan trọng và nổi bật, hoặc nếu thương vong của quân đội Việt Nam cộng hòa tăng lên nhiều. Hy vọng thành công nhất có thể sẽ là một cuộc đảo chính do những người không cộng sản lãnh đạo, bao gồm các quan chức quân sự và dân sự trung, cao cấp”.

                  Như vậy là, chính quyền Mỹ đã tính đến chuyện phải ủng hộ một cuộc đảo chính lật Diệm. Tốt nhất là một cuộc đảo chính do chính các tướng tá của Ngô Đình Diệm tiến hành, những người đã được Mỹ đào tạo qua những lớp “bổ túc quân sự”, được coi là những phần tử “thân Mỹ”. Nếu không, nhân dần miền Nam chẳng chóng thì chày sẽ hoàn thành công cuộc cách mạng lật đổ Ngô Đình Diệm, hoặc sẽ xảy ra một cuộc đảo chính quân sự do các “thế lực thân cộng sản gây га”.

                 Đầu năm 1963, LuyXiêng Cônen được lệnh của CIA “tăng cường thâm nhập vào các giới quân sự, dân sự cao cấp ở miền Nam Việt Nam” và để điều tra, thăm dò khả năng đảo chính, “vừa để chuẩn bị nắm lấy” những con bài mới trong âm mưu lật Diệm, không để lọt vào tay cộng sản. Như mọi người còn nhớ, Luy xiêng Cônen chính là viên trung tá tình báo người Mỹ gốc Pháp đã từng làm phó cho Êtuốt Lênxdên trong phái đoàn quân sự SMM của Mỹ, đồng thời cũng là người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động phá hoại của CIA tại miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1951 - 1956.

                  Theo chính lời Nguyễn Văn Vỹ, nguyên trung tướng, cựu tổng trưởng quốc phòng ngụy tiết lộ với cán bộ ta khi ra trình diện trước chính quyền cách mạng 7-5-1975 thì chính Vỹ là tướng ngụy đầu tiên được Cônen “móc ngoặc” ngay từ năm 1955, khi Lênxdiên và Cônen mới đặt chân tới miền Nam Việt Nam. Lý do chủ yếu là vì từ năm 1945, sau khi bị Nhật Bản đảo chính, Nguyễn Văn Vỹ lúc dó là một trung úy trong quân đội Pháp đã theo đám tàn quân do trung tá Pháp Lơcốc đóng ở Móng Cái chỉ huy, rút chạy sang Trung Quốc, Nguyễn Văn Vỹ trở thành một gián điệp hoạt động dưới sự chỉ huy của đại tá tình báo Pháp Cácbonen trong khu vực vịnh Hạ Long. Chính trong thời gian hoạt động thám báo ở khu vực Hoa Nam tiếp giáp với Việt Nam này, Nguyễn Văn Vỹ đã “bắt liên lạc” được với Cônen rồi quen thân với Cônen từ đó.

                 Sau chuyến gặp lại Nguyễn Văn Vỹ tại Sài Gòn năm 1955, Cô-nen đã dùng Vỹ làm chiếc “cầu nổi” để “kết bạn” với Dương Văn Minh. Lê Văn Kim, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính. Tất cả những viên tướng ngụy này đều đo Pháp đào tạo nhưng từ năm 1956, sau khi quân đội Pháp buộc phải rút hết khỏi Việt Nam, đã lại ngả luôn vào quỹ đạo thân Mỹ. Cônen dược CIA coi như “một nhân vật quan trọng bậc nhất” trong việc lôi kéo những tướng ngụy này. Vốn là một người Mỹ gốc Pháp, Cônen không có khó khăn gì trong việc “kết bạn và chơi thân” với những viên tướng ngụy đã sống lâu năm ở Pháp, nói tiếng Pháp thạo hơn tiêng Việt.

                 Trong khi chưa kịp “đào tạo và bồi dưỡng” những sĩ quan được cử sang Mỹ học, CIA coi việc “lôi cuốn” những viên tướng nắm giữ các “trọng trách” trong quân đội ngụy Nguyễn Văn Vỹ, Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Trần Văn Dôn, Tôn Thất Đính... là một công việc quan trọng hàng dầu. Tuy nhiên, sau khi phế truất Bảo Đại hồi cuối năm 1966, Ngô Đình Diệm cũng gạt luôn một số tướng ngụy quá thân Pháp như Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn Vỹ, buộc họ phải sống lưu vong tại Pháp (1). Cônen lập tức tìm cách “nắm chặt” Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn. Là một người rầt ham mê môn quần vợt, hầu như ngày nào Dương Văn Minh cũng tới câu lạc bộ thể thao tại Sài Gòn. Tại đây, Dương Văn Minh không những chỉ “gặp gỡ thân mật” với Cônen, mà còn “có nhiều quan hệ mật thiết” với cả đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Hăngrê Cabốt Lốt.

                  Điều vô cùng bất hạnh cho Ngô Đình Diệm là trong lúc trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ, tại Sài Gòn là tướng Pao Hakin chủ trương “chỉ nên cải tổ chính phủ của Diệm” thì đại sứ Mỹ Cabốt Lốt lại nhấn mạnh đến sự cản thiết “phải lật đổ Ngô Đình Diệm”. Những tài liệu mật của Lầu năm góc tiết lộ: “Đại sứ Cabốt Lốt nhanh chóng trở thành một người tham gia âm mưu đảo chính lật Diệm, trong khi đó tướng Hakim lại chủ trương ngược lại. Trong một bức diện gửi về Mỹ cho tướng Mácxen Taylo lúc đó là chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, để ngày 30-10-1963, tức 48 giờ trước khi xảy ra đảo chính, tướng Hakim đã viết: “ tôi muốn gợi ý là chúng ta đừng thay ngựa quá nhanh. Suy cho cùng thì dù đúng hay sai chúng ta cũng đã ủng hộ Diệm suốt 8 năm nay, Mỹ đã là nguời mẹ tuyệt diệu và người bố ân tình của Diệm. Từ khi lên cầm quyền, Diệm vẫn trông cậy rất nhiều ở chúng ta. Theo tôi, lúc này mà truất phế Diệm, gạt bỏ Diệm đi là điều không nên”.

                 Nhưng hỡi ôi, dù Ngô Đình Diệm có rất trung thành với quan thầy Mỹ, dù Ngô Đình Diệm có là “đứa con đầu long” do chính CIA Mỹ đẻ ra, thì đến nay, với chính sách thực dụng của Nhà trắng, Ngô Đình Diệm vẫn cứ phải thanh toán. Từ Tổng thống Mỹ Giôn Kennơđi đến cục trưởng Cục tình báo trung ương Mỹ ở Oasinhtơn là Giôn Muccon và giám đốc chi nhánh CIA ở Sài Gòn là Rivácsơn đều đồng ý đi nước cờ “thí Diệm”, tức là chấp nhận chủ trương của đại sứ Mỹ Cabốt Lốt tại Sài Gòn.

                 Những tài liệu mật của Lầu năm góc tiết lộ:

                “Từ nhiều tuần trước khi bùng nổ cuộc đảo chính, phái đoàn Mỹ ở Sài Gòn đã duy trì nhiều cuộc tiếp xúc bí mật với các viên tướng âm mưu làm đảo chính thông qua một trong những nhân vật có kinh nghiệm nhất, tháo vát nhất của Cục tình báo Trung ương, một cựu chiến binh đã hoạt động tại Đông Dương là trung tá Luyxiêng Cônen. Trung tá Cônen được các tướng “ngụy” Việt Nam tin cậy đến mức, trong khi họ làm đảo chính, Cônen cũng có mặt với họ ngay trụ sở Bộ Tổng tham mưu quân lực Cộng hòa. Ngày 25-10 tức một tuần trước khi xảy ra đảo chính, trong một bức điện gửi về Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, đại sứ Cabốt Lốt đã mô tả Cônen là một nhân vật không thể thiếu được của CIA trong mưu đồ đảo chính này. Cabốt Lốt đã nhấn mạnh trong bức điện:

                “Chi nhánh CIA (tại Sài Gòn) đã thực hiện chu đáo những chỉ thị của tôi. Mọi cuộc gặp giữa tướng Trần Văn Đôn và Cônen đều được đích thân tôi thông qua. Như chúng ta đã biết, Cônen là bạn thân từ 18 năm nay của tướng Đôn và tướng Đôn dā tỏ ra không muốn giao dịch với bất cứ ai ngoài Cônen. Tôi không tin rằng, một người Mỹ nào khác đang liên hệ chặt chẽ với các tướng (ngụy) lại có thể đem lại kết quả được hơn Cônen. Chúng ta không nên ngăn cản một cuộc đảo chính quân sự vì hai lý do. Truớc hết, hình như ít nhất mọi nguời đều tin rằng chính phủ sau này sẽ không tồi tệ và chao đảo như chính phủ hiện nay. Hai là, sẽ cực kỳ không khôn ngoan nếu chúng ta dội một giáo nước lạnh vào âm mưu làm đảo chính. Chúng ta cần nhớ rằng, đây là con đường duy nhất để có được một sự thay đổi chính phủ ở Nam Việt Nam”.

                Ngày 30 tháng 10 năm 1963, Cabốt Lốt lại gửi một bức diện nữa cho Hội đồng an ninh quốc gia ở Hoa kỳ, vạch rõ:

               “Chi nhánh CIA tại Sài Gòn từ lâu nay đã phân tích kỹ những lực lượng tiềm tàng dự định làm đảo chính và đã nhận dịnh, các tướng lĩnh có lẽ đã tính toán khá sít sao triển vọng thành công của họ. Có thể, họ cũng đã dự kiến, một khi họ đã bắt dầu hành động thì không phải chỉ có những đơn vị đã dự tính trong kế hoạch mà còn có nhiều đơn vị khác nữa cũng sẽ đi theo họ.

               Chúng tôi đã dự kiến, Cônen sẽ gặp Đôn vào đêm 30-10, hoặc Sáng sớm 31-10. Chúng tôi cũng đã dự kiến, khi cuộc đảo chính bắt đầu bùng nổ, chính phủ Diệm sẽ yêu cầu tôi hoặc tuớng Hakin dùng ảnh hưởng của mình để giập tắt cuộc đảo chính đó đi. Lúc đó, chúng tôi sẽ trả lời, ảnh hưởng của chúng ta nhất định không thể lớn hơn tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội cộng hòa Việt Nam. Nếu tổng thống cộng hòa Việt Nam cũng không trừ bỏ được cuộc đảo chính, thì nhất định chúng ta cũng sẽ không làm được điều đó.

               Lúc cuộc đảo chính bùng nổ, chính phủ Diệm có thể sẽ xin Mỹ cung cấp cho máy bay lên thẳng để di tản những nhân vật chủ chốt đi nơi khác. Vấn đề này sẽ cần phải nghiên cứu rất sát, nhưng nhất định chúng tôi sẽ không đưa máy bay và phi công của chúng ta bay vào giữa hai luồng lửa đạn của các lực lượng đối địch. Tốt hơn hết là chúng ta sẽ tổ chức một cuộc ngừng bắn rồi mới đưa những nhân vật đó sang một nước láng giềng hoặc tốt hơn cả là đưa bọn họ đi Saipan (2) Nếu các nhân vật cao cấp và gia đình họ xin cư trú tại sứ quán Mỹ hoặc tại các cơ sở khác của Mỹ thì có lẽ chúng ta sẽ chấp nhận lời yêu cầu đó.

              Về phần các tướng lĩnh, rất có thể họ cần tiền. Trong phạm vi những số tiền đó có thể trao tay một cách kín đáo. Tôi cho rằng chúng ta nên cung cấp cho họ miễn là chúng ta tin chắc cuộc đảo chính sẽ được tổ chức tốt để có nhiều triển vọng thành công”.

              Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng dãdự kiến trước nhiều khả năng có thể sảy ra sau khi bùng nổ đảo chính. Những khả năng này đã đưuọc tính toán kỹ trong nhiều cuộc họp mặt bí mật giữa đại sứ Mỹ. Cabốt Lốt, giám đốc chi nhánh CIA tại Sài Gòn, Risacson và “kiến trúc sư” của cuộc đảo chính là điệp viên CIA Luyxiêng Cônen, lúc này đã được phong cấp quân hàm từ trung tá lên đại tá. Bức diện của đại sứ Mỹ Cabốt Lốt từ Sài Gòn gửi về Oasinhton ghi nhận:

               “Trong trường hợp cuộc đảo chính thành công, chắc chắn các tướng lĩnh làm đảo chính sẽ yêu cầu chúng ta nhanh chóng công nhận họ kèm theo một sự bảo đảm nào đó, ví dụ như tiếp tục sự viện trợ quân sự và kinh tế. Chúng ta cần chuẩn bị trước để kịp thời đưa ra những lời tuyên bố, một khi tình hình đã trở nên rõ ràng. Trong những bản tuyên bố này, chúng ta khẳng định lập trường của chúng ta là tiếp tục cuộc chiến tranh chống Việt cộng cho đến thắng lợi cuối cùng. Đài tiếng nói Hoa Kỳ có thể là một phương tiện quan trọng để loan báo những lời tuyên bố này.

               Nếu cuộc đảo chính thất bại, chúng ta sẽ cố gắng thu nhặt những mảnh vỡ nát. Từ hồi tháng 8, chúng ta đã cam kết với các tướng lĩnh là sẽ giúp đỡ cho gia đình họ di tản nếu âm mưu đảo chính không thành công. Chúng ta cần tôn trọng cái đó, nếu diều kiện cho phép. Nhất định, nếu cuộc đảo chính thất bại thì sự đồng lõa của Mỹ vào cuộc đảo chính này sẽ bị lên án. Chúng ta cần dự kiến truớc và phải chuẩn bị những biệp pháp đối phó, với tất cả khả năng của chúng ta.

               Nếu cuộc đảo chính tỏ ra nhùng nhằng không phân thắng bại và xảy ra một tình thế xung đột kéo dài thì chúng ta phải đứng ra làm trung gian hòa giải nhằm giải quyết vấn đề này, vì lợi ích của cuộc chiến tranh chống Việt cộng. Điều đó có thể đem lại một số lợi thế nào đó, khiến cho chính phủ Diệm phải nhượng bộ. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ chuốc lấy sự nhục nhã tử cả hai phía, vì cả hai phía đều oán trách vai trò “trung gian hòa giải” của chúng ta. Thế nhưng, dù sao sự nhục nhã này cũng ít ghê tởm hơn so với tình trạng bế tắc mở cửa cho Việt cộng thu được thắng lợi. Chúng ta coi một sự bế tắc như vậy là khả năng ít xảy ra nhất.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 08:11:12 pm »

                  Tôi không biết có thể còn có những bằng chứng nào nữa về quyết tâm của những người làm đảo chính. Sự thật đã rõ ràng là những nhân vật này sẵn sàng liều mạng. Nếu tôi là một quan tòa xét đoán lòng người thì ngay buổi sáng hôm qua, khi nói chuyện với Đôn tôi đã nhìn thấy rõ trên nét mặt của Đôn thể hiện sự chân thành và quyết tâm.

                  Tất nhiên, một sự tính toán sai có thể phá hoại vị trí của chúng ta ở Đông Nam Á. Nhưng chúng ta cũng sẽ vấp phải những hiểm họa ghê gớm nếu như không hành động gì cả. Lẽ dĩ nhiên nếu chúng ta tin chắc là cuộc đảo chính sẽ thất bại thì chúng ta sẽ làm tất cả mọi việc để ngăn không cho nó bùng nổ”.

                 Rất rõ ràng, những câu chữ được ghi bằng giấy trắng mực đen trong tập hồ sơ mật của Lầu năm góc đã tố cáo cụ thể, cuộc đảo chính ngày 1 tháng 12 năm 1963 lật đổ tên tay sai Ngô Đình Diệm là một mưu đồ thâm độc có bàn tay của quan thầy Mỹ nhúng vào. Cả CIA lần sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đều đã chuẩn bị rất kỹ, tính toán rất chi ly cho từng khả năng có thể xảy ra khi cuộc đảo chính bùng nổ. Hiển nhiên, đây là một mưu đồ “có cân nhắc và tính toán trước” của Mỹ.

                Vẫn theo những tài liệu của Mỹ ngụy để lại, từ ngày 5 thắng 10 năm 1963 đã có cuộc tiếp xúc bí mật giữa điệp viên CIA Cônen và tướng ngụy Dương Văn Minh. Cuộc đối thoại tiến hành bằng tiếng Pháp là ngôn ngữ mà cả Minh lẫn Cônen đều rất thông thạo. Minh yêu cầu Mỹ ủng hộ cuộc đảo chính một cách cụ thể, tức là sau khi lật được Diệm rồi Mỹ vẫn duy trì kế hoạch viện trợ cho chính quyền ngụy ở mức trên 500 triệu đôla một năm. Minh cho biết, trong số các tướng ngụy “quyết tâm lật đổ Diệm” có Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim là những nցười hăng hái nhất, còn Trần Thiện Khiêm thì trong lúc này hãy còn lừng chừng, chưa dứt khoát. Minh cho biết, mục tiêu của cuộc đảo chính là thủ tiêu Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn là hai nhân vật bị nhân dân căm ghét nhất, nhưng vẫn duy trì Ngô Đình Diệm làm “bù nhìn” để tránh một sự xáo trộn lớn. Cônen đồng ý νới kế hoạch của Dương Văn Minh và báo cáo về trung tâm CIA. Đến lượt CIA báo cáo với Nhà Trắng, được đích thân Tổng thống Mỹ Kennơđi phê chuẩn.

                Ngày 11 tháng 10, Cônen lại gặp Dương Văn Minh báo tin cho Minh rõ “Tổng thống Mỹ đã bật đèn xanh” Dương Văn Minh liền cử Trần Văn Đôn từ giờ phút đó liên lạc thường xuyên với Cônen, đều dặn báo cáo với Cônen từng chi tiết trong những bước ráo riết chuẩn bị đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Có nghĩa là, từ ngày 12 tháng 10 trở đi, ClA trực tiếp theo dõi và chỉ đạo sit sao cuộc đảo chính này.

               Trong thời gian này tòa đại sứ đứng đầu là Henri Cabốt Lốt hoàn toàn ủng hộ ClA trong mưu đồ đảo chính. Nhưng tướng Pao Hakin tư lệnh Bộ chỉ huy viên trợ quân sự Mỹ vẫn chưa tán thành triệt dê. Tôi 22 tháng 10, trong khi tới dự chiếu đãi tại sứ quân Anh tại Sài Gòn, tướng Mỹ Pao Hokin đã gặp tướng ngụy Trần Văn Đôn cùng tới dự tiệc. Hakin đã gọi riêng Đôn ra một nơi và rỉ tai: “Lật Diệm trong lúc này sẽ là một sai lầm lớn”. Ngày hôm sau, Đôn tức tốc đi gặp Cônen, xin ý kiến. Cônen nói: “Cứ vững tâm tiến bước không nên dẫm chân tại chỗ”. Hai người cùng quyết định chọn 26 tháng 10 làm ngày đảo chính. Sở dĩ chọn ngày này là vì đó là ngày Quốc khánh do Diệm đặt ra kỷ niệm ngày lật đổ Bảo Đại. Ngày hôm đó các đơn vị tiến hành đảo chính có thể kéo về Sài Gòn mà không bị nghi ngờ, vì mọi người sẽ nghĩ là về dự lễ duyệt binh.

              Nhưng trong thời gian này, tướng Hakin cũng gửi điện về Mỹ cho Mácxoen Taylo, yêu cầu Taylo “gây áp lực với tổng thống Kennơdi đừng để xảy ra cuộc đảo chính mà Hakin dự kiện sẽ gây mất ổn định đem lại nhiều hậu quả không có lợi cho Mỹ”. Mặt khác, Hakin tiếp tục khuyên Trần Văn Đôn không nên làm đảo chính. Do đó ngày 26 tháng 10 đã trôi qua nhưng Diệm vẫn tồn tại.

              Sáng 28 tháng 10, Ngô Đình Diệm tiếp các phái đoàn ngoại giao tại Sài Gòn, Trần Văn Đôn cũng tham dự. Đôn đã kéo đại sứ Mỹ Cabốtlốt ra một nơi, xin ý kiến. Lốt trả lời vắn tắt: “Hãy nghe Cônen, đừng nghe Hakin!” Thế là rõ ràng CIA đã thắng Lầu năm góc trong chủ trương lật Ngô Đình Diệm,

              Ngày 29 tháng 10; đại sứ Cabốtlốt gửi điện mật báo cáo với tổng thống Mỹ Kennơđi: “các tướng Sài Gòn nhất quyết lật Diệm, không ai ngăn được họ” Lúc này chi nhánh CIA tại Sài Gòn, chủ yếu là Cônen đã lôi kéo được Tôn Thất Đính là tư lệnh biệt khu Sài Gòn đứng về phía đảo chính. Tập hồ sơ lý lịch các tướng ngụy do CIA nắm giữ ghi rõ, lúc này Đính mới 37 tuổi, thuộc vào loại tướng trẻ của Ngô Đình Diệm. Đính là một sĩ quan được Pháp đào tạo và được Ngô Đình Cẩn che chở, đỡ đầu. Thông thường, một sĩ quan như vậy rất trung thành với triều đại nhà Ngô. Chính vì vậy Tôn Thất Đính đã được coi như một sĩ quan “cận vệ” của Ngô Đình Diệm, được Diệm trao cho giữ chức Tư lệnh biệt kհu thủ đô, nắm giữ lực lượng bảo vệ Sài Gòn, trong đó có dinh tổng thống của Ngô Đình Diệm.

              Tuy nhiên, Tôn Thất Đính cũng có khá nhiều điểm yếu như mọi sĩ quan ngụy. Đó là tham tiền, tham danh vọng địa vị, cơ hội chủ nghĩa, dễ trở cờ, thay thầy đổi chủ. Chỉ qua lần tiếp xúc với Cônen, Tôn Thất Đính đã từ phía một viên tư lệnh có trọng trách bảo vệ Sài Gòn và dinh tổng thống trở thành một viên tướng tay sai của CIA, ngấm ngầm liên minh với bọn đảo chính lật Diệm.

              Điều bất hạnh cho gia đình họ Ngô là cho mãi tới khi bùng nổ cuộc đảo chính, cả Ngô Đình Diệm, Ngô Định Nhu lẫn Ngô Đình Cần đền không hay biết gì về sự phản trắc của Tôn Thất Đính. Hơn thế nữa, sau khi được mật báo về “nhiều tin đồn sẽ bùng nổ đảo chính” Ngô Đình Nhu vẫn còn tin cậy vào Tôn Thất Đính, trao cho Đính soạn thảo các phương án “chống đảo chính”, thậm chí còn đặt lực lượng biệt động quân ở Sài Gòn cũng như quân đoàn 4 của tướng Huỳnh Văn Cao ở vùng đông bằng sông Cửu Long dưới sự điều động của Tôn Thất Đính. Với quyết định này, chính Ngô Đình Nhu đã tự tước bỏ mất lực lượng chống đảo chính, đồng thời còn tăng cường sức mạnh cho phe đảo chính lật Diệm.

              Từ trụ sở CIA tại Sài Gòn ngay sát nách dinh tổng thống ngụy, trùm tình báo Cônen theo dõi từng ngày từng giờ những bước đi của bọn tướng ngụy tay sai trong mưu đồ lật đổ Ngô Đình Diệm. Cuốn nhật ký của CIA trong ngày 1 tháng 11 năm 1963 ghi rõ: Đúng 10 giờ sáng đại sứ Cabốt Lốt thân hành đưa đô đốc Hari Phen tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương qua thăm Sài Gòn đến chào xã giao Tổng thống Ngô Đình Diệm. Buổi nói chuyện diễn ra một cách tẻ nhạt. Nửa chừng câu chuyện Ngô Đình Diệm đánh bài ngửa, nói thẳng trước mặt Lốt và Phen là Diệm đã nắm được nguồn tin chính xác sẽ xảy ra đảo chính, nhưng Diệm dã có kế hoạch đối phó. Cabốt Lối và Hari Phen gượng gạo nói vài lời không đầu không đuôi rồi cáo từ. Cabốt Lốt trở về sứ quán bình thản ăn cơm rồi đi ngủ trưa như thường lệ. Hari Phen ra sân bay Tân Sơn Nhất, cùng di có Hakin và Trần Văn Đôn.

                Trong lúc này, tại một biệt thự của Trần Văn Đôn được dùng là “đại bản doanh chỉ huy cuộc đảo chính” Cônen đã có mặt, mang theo một chiếc cặp da đựng 3 triệu đồng tiền ngụy, tương đương với 40.000 đôla sẵn sàng, chi “vào những việc cần thiết” khi bọn tướng ngụy làm đảo chính yêu cầu. Nhóm đảo chính mời Cônen đến ngồi ở một chiếc bàn có máy diện thoại, một máy nối liền với chi nhánh CIA ở Sài Gòn, một máy nối liền với nhà riêng có vợ con Сônen. Một trung đội lính “ mũ nồi xanh” của Mỹ đúng 15 phút trước khi bùng nổ cuộc đảo chính đã có mặt ở nhà riêng của Cônen, sẵn sàng bảo vệ vợ con Cônen khi có giao tranh giữa lực lượng đảo chính với số quân hiện còn trung thành với Ngô Đình Diệm.

                Đúng giờ đã định, cuộc đảo chính bùng nổ dưới sự chỉ đạo của Cônen, chính xác như một chiếc đồng hồ điện tử. Do không gặp sức cản ở vùng ngoại vi bảo vệ Sài Gòn, những đơn vị tiến hành đảo chính nhanh chóng tiến vào khu trung tâm bao vây dinh tổng thống, trụ sở tổng nha cảnh sát và đánh chiếm đài phát thanh. Trần Văn Đôn đi tiễn Hari Phen từ sân bay đã trở về trung tâm thành phố, trực tiếp tới dài phát thanh dọc bản “hiệu triệu Quốc dân” và loan báo cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm đã bùng nổ.

                Trong lúc này hai anh em Diệm, Nhu đã chủ động di chuyển xuống hầm cố thủ được xây dựng bí mật trong dinh tổng thống, có đường giao thông ngầm thoát ra ngoài. Chờ mãi không thấy tiến hành kế hoạch “phản đảo chính” Diệm sốt ruột quay máy điện thoại trực tiếp nói chuyện với Trần Văn Đôn. Toàn bộ cuộc nói chuyện diện thoại giữa Điệm và Đôn đều được CIA ghi âm và lưu trữ.

                Dưới đây là những lời trao đổi cuối cùng giữa Trần Văn Đôn và Ngô Đình Diệm.
                 Diệm: Tướng Đôn đấy à? Các ông đang làm trò gì thế?
                Đôn: Kính thưa Tổng thống chúng tôi đã nhiều lần yêu cầu Tổng thống sửa đổi chính sách thể theo nguyện vọng của Quốc dân nhưng không dược đáp ứng. Bây giờ quân đội phải ra tay, thể theo ý nguyện của dân chúng. Kính mong Tổng thống thông cảm.
                Diệm: Tại Sao các ông không thảo luận với tôi? Tại sao chúng ta không thương lượng được với nhau để sửa chính sách, hoàn thiện đường lối?

               Một lát sau, Diệm lại quay máy điện thoại gọi cho các tỉnh trưởng, quận trưởng nhưng không có ai trả lời: Tướng Huỳnh Văn Cao tư lệnh quân đoàn 4, nguồn hy vọng cuối cùng của Ngô Đình Diệm lúc này cũng đang bị “vít chặt” tại sở chỉ huy ở Vùng 4 chiến thuật, trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, không còn một lực lượng nào có thể giải vây ứng cứu cho Ngô Đình Diệm được nữa.

               Chờ đến 8 giờ tối. Diệm và Nhu theo đường hầm bí mật lẻn ra ngoài dinh tổng thống tới nhà một lái buôn người Hoa là Mã Tuyển ở Chợ Lớn. Chuyến đi trót lọt. 6 giờ sáng hôm sau, 2 tháng 11 Diệm gọi điện thoại cho Dương Văn Minh, chấp nhận từ chức với điều kiện chức Tổng thống phải trao lại cho phó Tổng thống đương nhiệm hoặc chủ tịch hạ viện. Minh không đồng ý. Nửa giờ sau Diệm lại gọi điện thoại cho Trần Văn Đôn.

               Diệm: Tôi là Tổng thống. Tôi sẵn sàng từ chức, sẵn sàng di tản ra nước ngoài nhưng việc này phải tiến hành công khai đúng với các nghi thức dành cho một vị nguyên thủ quốc gia.

               Đôn: (ngừng một lát, trao đổi ý kiến với đồng bọn rồi trả lời): Thưa ngài, tôi thành thật nói rằng chúng không thể nào chiều ý ngài được.
               Diệm: Không sao, cảm ơn.

                    Một lát sau, Diệm lại gọi dây nói cho Đôn. Mãi tới lúc này Diệm mới báo cho nhóm đảo chính biết đang trú ẩn tại nhà thờ thánh FrăngXoa Xaviê ở chợ Lớn và yêu cầu cho xe đến đón Diệm Nhu về để ra sân bay di tản. Nhóm đảo chính cử tưởng Mai Hữu Xuân cùng đi với thiếu tá Dương Hữu Nghĩa và đại úy Nguyễn Văn Nhung trên chiếc xe bọc thép M113 đi tìm Diệm Nhu. Trên đường về, cả Diệm và Nhu đều bị giết chết bằng những nhát dao băm vằm trên mặt.

               Lúc này Cônen vẫn ngồi lại trong “đại bản doanh” của nhóm đảo chính. Không thấy đưa Diệm Nhu về, Cônen hỏi Minh:
               - Họ đâu rồi?
               Minh trả lời:
               - Tự sát rồi!
              Cônen hỏi tiếp
               - Ở đâu?
              Minh đáp:
              - Ở nhà thờ. Ông có muốn xem không?
              Cônen:
              - Không!

                   Thế là chấm dứt tấn bi kịch đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm rồi giết chết cả hai anh em Diệm Nhu. Toàn bộ cuộc đảo chính này, từ lúc mới nhen nhóm chuẩn bị đến khi kết thúc đều được ghi trên giấy trắng mực đen và ghi âm trên những cuốn băng từ tố cáo hành động tàn ác của CIA.

                  Khi những tài liệu này bị phanh phui ra ảnh sảng, nhiều tờ báo xuất bản ở Mỹ đã cùng nhận xét: trong toàn bộ lịch sử hoạt động của CIA ở Việt Nam, chỉ có một thành công dáng ghi nhớ nhất, một hành động tiến hành trót lọt nhất, đó là cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Nhưng mỉa mai thay, đây lại là một nuớc cờ thí xe, một cuộc thanh trừng bằng cách giết hại cả Diệm lẫn Nhu, những tên tay sai vào loại trung thành nhất của Mỹ, do chính CIA dựng lên rồi lại quật đổ. Đó cũng là bài học đau đớn và nhục nhã cho tất cả những tên tay sai phản động ôm chân quan thầy Mỹ


(1) Sau khi Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm cuối năm 1963, Nguyễn Văn Vỹ mới trở về nước
(2) Một hòn đảo của Mỹ ở trung tâm Thái Bình Dương


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 08:20:31 pm »

9. UYLIAM CÔNBAI VÀ KẾ HOẠCH “BÌNH ĐỊNH”


                 Cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm đã không “cải thiện” được tình hình miền Nam Việt Nam như CIA dự tính mà ngược lại, còn xô đẩy chế dộ ngụy ở miền Nam Việt Nam vào một tình trạng hỗn loạn kéo dài. Bọn tướng ngụy trẻ tuổi như bày “ngựa non háu đá” hết Nguyễn Khánh lại đến Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ quay ra xung đột, hất cẳng lẫn nhau. Trong khi đó, phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam ngày càng dâng cao và phát triển. Bước sang năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ hoàn toàn phá sản, Nhà trắng và Lầu năm góc buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa lính Mỹ vào trực tiếp tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

                  Ngày 8 tháng 3 năm 1965, sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ bắt đầu dổ bộ lên Đà Nẵng, mở đầu cho một loạt các đơn vị thuộc loại thiện chiến nhất của Mỹ như sư đoàn 1 kỵ binh bay, sư đoàn bộ binh “anh cả đỏ”, sư đoàn 25 bộ binh “tia chớp nhiệt đới”, sư đoàn 4 bộ binh, sư đoàn bộ binh amêricon, lữ đoàn bộ binh trang bị nhẹ 146, lữ đoàn bộ binh trang bị nhẹ 199... Cho tới năm 1968, số quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã “lên tới mức cao nhất” là hơn nửa triệu quân, cộng thêm với hơn 1 triệu quân ngụy và chư hầu nhưng vẫn không tài nào đè bẹp được ý chí đấu tranh của nhân dân miền Nam, được miền Bắc xã hội chủ nghĩa hết lòng hết sức chi viện.

                 Nếu, CIA Mỹ đã từng lộ mặt nham hiểm tàn bạo trong vụ lật đổ và giết hại 2 anh em Ngô Đình Diệm hồi cuối năm 1963 thì đến 1968 lại càng lộ rõ sự bất tài, bất lực. Báo chí Mỹ cho biết, trước cuộc tiến công Tết Mậu thân 1968 của Việt cộng, CIA đã “hoàn toàn không hay biết gì về ý đồ chiến lược của Cộng sản, thậm chí còn có những báo cáo rất chủ quan, đánh giá thấp đối phương”, Đôn Ôbơdôphơ là phóng viên tờ Bưu điện Oasinhton có mặt tại Sài Gòn trong suốt cuộc tập kích chiến lược hồi Tết Mậu thân 1968 đã viết một bài phóng sự dài, vạch rõ “sự chủ quan và gà mờ” của CIA tại Sài Gòn. Đôn Ôbơdôphơ viết:

                 “Vào thời điểm xảy ra cuộc tiến công Tết Mậu thân Lêo Crem xi là sĩ quan an ninh của sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã không được CIA thông báo một tin gì về những dự đoán “tình hình sắp xảy ra”, đồng thời cũng không thu lượm được một dấu hiệu nào về cuộc tiến đánh tòa đại sứ Mỹ. Mặc dù vậy, Cremxi vẫn dành gần trọn một buổi tối để đi kiểm tra, xem xét các chỗ ở của các quan chức ngoại giao Mỹ trong nội thành Sài Gòn và trao đổi tình hình với chi nhánh CIA tại Sài Gòn. Khoảng 45 phút trước khi bùng nổ cuộc tiến công của Việt Cộng, chính Cremxi còn đi xe tới cơ quan CIA, cùng rà soát lại một lần cuối cùng tình hình tại Sài Gòn với sĩ quan trực ban сủа CIA, ngay tại sở chỉ huy của CIA tại Sài Gòn. Cremxi được CIA thông báo “tình hình Sài Gòn vẫn hoàn toàn yên bình.” Mãi tới lúc đó, Cremxi mới quay trở về đi ngủ.”

                Đôn  Ôbơdồphơ, cũng như nhiều phóng viên báo chí phương Tây có mặt tại Sài Gòn lúc đó, dù cùng chung nhận xét, cuộc tiến công Tết Mậu thân 1968 đã diễn ra hoàn toàn bất ngờ đối với Bộ tư lệnh գuân Mỹ cũng như đối với bọn ngụy quân, ngụy quyền. Trong khi CIA cũng như cơ quan quân báo Mỹ tập trung sự chú ý vào Khe Sanh thi đối phương lại táo bạo mở cuộc tập kích chiến lược vào hầu hết các đô thị và cơ sở quân sự của Mỹ ngụy tại miền Nam Việt Nam, gây trấn động đến tận nhà Trắng. Sau sự kiện này, uy tín của CIA tại miền Nam đã “xuống thấp tới mức chưa từng thấy”.

                Cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân còn chứng minh, hàng chục năm nay CIA vẫn thường khẳng định, các đô thị và vùng đồng bằng ven biển “đều ổn định”, thì ngược lại, trong vụ tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, chính những vùng trung tâm dân cư này lại là những bàn đạp tiến công vào những cơ sở cất giữ vũ khí để Việt cộng “giáng những đòn sấm sẻt vào những cơ quan đầu não của Mỹ ngụy. Trước tình hình đó, sau cơn choáng váng Tết Mậu Thân Mỹ ngụy lại phải mở một loạt “chiến dịch bình định” càn đi càn lại những vùng đồng bằng, ven biển mà chúng đã từng nhiều lần “bình định”. Nhưng chiến dịch bình định này kéo dài suốt mấy năm liền, từ 1969 đến 1973, mang nhiều tên gọi: “bình định”, “tái bình định” “bình dinh cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, “bình định và phát triền”…

                Một lần nữa, CIA lại được chính quyền Mỹ giao cho “trọng trách” giúp đỡ ngụy quyền “bình định triệt để” miën Nam Việt Nam. Nếu trong giai đoạn đầu tiên, khi đế quốc Mỹ mới “bám chân” vào miền Nam Việt Nam, hình ảnh ghê tởm của CIA đã tập trung vào vai trò của Etuốt Lênxdên, một con cáo già tình báo được chọn làm nhân vật chủ yếu của nhiều cuốn tiểu thuyết mang tên “Một người Mỹ trầm lặng” và “một người Mỹ xâu xí” , thì trong giai đoạn cuối này, những tội ác tàn bạo của CIA lại tập trung vào vai trò của Cônbai, một nhân vật còn đáng ghê tởm hơn Etuốt Lênxđên gấp bội.

               Uyliam Cônbai là ai?

               Trong cuốn “Chân dung bọn trùm CIA” (1) nhà nghiên cứu người Pháp Alanh Ghêranh cho biết, Uylian Igân Cônbai ra đời năm 1920 trong một gia đình quân nhân bang MinêXôla nước Mỹ. Trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939 -1945) Uyliam Cônbai là một sĩ quan nhảy dù đã từng phục vụ trong sở công tác chiến lược OSS và năm 1943 đã nhẩy dù xuống vùng sau lưng địch trên đất Pháp. Đội quân báo của Cônbai đã sát cánh chiến dấu cùng với lực lượng kháng chiến Pháp, trinh sát, điều tra tình hình bọn phát xít Đức để phục vụ cho chiến dịch đổ bộ quy mô lớn của lực lượng đồng minh chống Phát xít lên vùng bờ biển Noocmăngđi của Pháp hồi tháng 6 năm 1944.

               Kết thúc chiến tranh, Cônbai được phong quân hàm thiếu tá, được giải ngũ để tiếp tục công việc học tập và đã tốt nghiệp đại học luật. Cuộc đời của Cônbai, cho tới lúc này, có thể được coi là đáng ca ngợi, nếu như năm 1950 CIA không tuyển mộ Cônbai vào làm diệp viên cho Cục tình báo trung ương CIA. Bước ngoặt của Uyliam Cônbai bắt đầu từ cái mốc này. Sau khi đã theo học một khóa huấn luyện nghiệp vụ. Năm 1951 Cônbai bắt đầu được cử đi hoạt động tại nước ngoài, lần lượt khoác áo “tùy viên quân sự” làm việc tại các sứ quán Mỹ ở Thụy Điển và Italia. Năm 1958, Cônbai được cử làm phó cho Nich Natxiôt, một nguời Mỹ gốc Hi lạp, giám đốc chi nhánh CIA tại Sài Gòn. Tháng 7 năm 1959, Cônbai được đề bạt thay chân Natxiôt rồi đến tháng 6 năm 1962 lại được cất nhắc làm phó phòng Viễn Đông thuộc Trung ương Cục tình báo Mỹ. Đến năm 1968, sau khi cuộc tập kích chiến lược tết Mậu Thân bùng nổ, Cônbai đã được chính tổng thống Mỹ Lindơn Ben Giôn Xơn cử sang miền Nam Việt Nam làm phó chỉ huy chiến dịch bình định cho tới cuối năm 1972 thì lại được gọi về Mỹ làm việc tại phòng kế hoạch, tức là phòng chuyên trách về các hoạt động bí mật rồ đến tháng 5 năm 1973 thì được tổng thống Mỹ Risơt Ních Xơn cử làm giám đốc Cục tình báo Trung ương CIA.

              Như vậy là, theo Alanh Ghêranh nhận xét, Uyliam Cônbai là một điệp viên nhà nghề hoạt động chủ yếu ở miền Nam Việt Nam và cứ sau một đợt hoạt động lại được cất nhắc lên một cấp, cuối cùng đã leo lên đến cấp tột đỉnh của Cục tình báo Trung ương nước Mỹ, Dĩ nhiên, được “vinh thăng” như vậy là vì Cônbai đã lập được nhiều “thành tích” ở miền Nam Việt Nam, và nêu hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng thì những “thành tích” này có nghĩa là những “tội ác”, Alanh Ghêranh viết: Uyliam Cônbai là điển hình của một tình báo nhà nghề đã từng bước leo lên từng nấc thang của CIA, và sau một phần tư thế kỷ hoạt động bí mật đã trở thành giám đốc cục tình báo trung ương, ngôi sao sáng của CIA. Thể nhưng, nhân cách của con người có bề ngoài “hòa nhã và lịch sự nhất” này, lại là nhân vật đã đạt mức kỷ lục về tội ác giết người nhiều nhất. Một số người đã không ngần ngại gọi Cônbai là “tên tội phạm chiến tranh”. Đúng vào lúc Cônbai leo lên nấc thang cao nhất của CIA thì cũng là lúc Quốc hội Mỹ phải mở nhiều cuộc điều tra về CIA và về vai trò của cá nhân Cônbai để rồi cuối cùng tổng thống Gierôn Pho lên thay tổng thống Risớc Níchxơn đã buộc phải cách chức giám đốc CIA của Cônbai. Thay vào đó là Gioocgiơ Busơ hiện nay đang là tổng thống Mỹ. Sau khi bị gạt ra khỏi chức vụ giám đốc Cục tình báo trung ương CIA, Uyliam Cònbai đã tập trung hơn 2 năm nhằm hoàn thành cuốn hồi ký kể lại 30 năm hoạt động trong nghề tình báo. Năm 1978, cuốn sách này dã dược nhà xuất bản Ximơn vu Sơstơ ở Niu Yoóc cho ra mắt bạn đọc với nhan đề “Cuộc đời của tôi trong Cục tình báo trung ương”.

                   Trong phần viết về quá trình hoạt động tại miền Nam Việt Nam, Uyliam Cônbai khoe, lần đầu tiên trong đời khi mới đặt chân tới Sài Gòn vào tháng 2 năm 1939, “tình hình ở đây khá yên tĩnh khiến cho tôi có thể đem theo cả vợ con cùng sống chung trong một tòa biệt thự xinh xắn ngay cạnh dinh tổng thông Ngô Đình Diệm. Còn về nhiệm vụ quan trọng mà tôi được giao phó xét ra cũng có vẻ lý thú mà không đến nỗi quá nguy hiểm. Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lúc đó là ngài Enbi Đubrao là người tôi đã từng quen biết khi cùng hoạt động ở Rôma, thủ đô Italia. Giám đốc chi nhánh CIA ở Sài Gòn là ông Nich Natxiôt, một người Mỹ gốc Hilạp rất năng động, cũng là người đã từng phục vu trong sở công tác chiến lược OSS từ hồi chiến tranh thế giới thứ hai”

                  Cônbai cũng tiết lộ: “Phân cục CIA tại Sài Gòn hồi đó trên dưới 46 nhân viên đều là những người tuyệt đối trung thành với giám đốc Natxiôt. Phân cục này có 2 ban, ban thứ nhất chịu trách nhiệm duy trì những quan hệ nghiệp vụ với cơ quan mật vụ của chính quyền địa phương. Nhiệm vụ chủ yếu là trao đồi, tổng hợp và phân tích những tin tình báo về các hoạt động của Cộng sản ở cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam, tra hỏi những người trốn khỏi miền Bắc và các cán bộ Việt cộng bị bắt ở miền Nam Viêt Nam, tìm cách đưa điệp viên thâm nhập miền Bắc Việt Nam” Cônbai nhận xét: “để tiến hành những nhiệm vụ này, các điệp viên của chúng tôi không cần phải che đậy giấu giếm mà làm việc gần như công khai trong các văn phòng của CIA đặt tại sứ quán Mỹ, trụ sở phái đoàn viện trợ kinh tế AID hoặc phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự MAAG.

                  Ban thứ hai, hoạt động độc lập, đơn phương, không quan hệ với cơ quan mật vụ của Diệm. Nhiệm vụ của các điệp viên trong ban thứ hai này là tiếp xúc với tất cả các phe, phái chính trị đang hoạt động công khai hoặc bí mật ở miền Nam Việt Nam, từ những giáo phái cuồng tín, các nhóm cực hữu, đến các phần tử cấp tiến thuộc cảnh tả, chống lại sự độc tài chuyên chế và của chỉnh sách phản dân chủ của Ngô Đình Diệm, Cônbai nhận xét: “Rõ ràng, loại điệp viên này cần có một “cái vỏ bọc bên ngoài” cho nên họ đã được tạo điều kiện đề nắm giữ đủ các thứ chức vụ trong khối cộng đồng người Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Họ đóng vai các quan chức của cơ quan AID, các nhân viên sứ quán, các nhà kinh doanh. Họ tuyển mộ và khai thác các điệp viên người Việt Nam ngay tại các cơ quan, các tổ chức mà họ có nhiệm vụ phải theo dõi”.

                  Như vậy là Uyliam Cônbai đã công khai tiết lộ trên giấy trắng mực đen, cơ quan CIA tại miền Nam không chỉ tổ chức “công cuộc chồng Cộng”, mà còn nhằm vào điều tra dò xét ngay cả chính quyền ngụy. Rất nhiều điệp viên cao cấp trong tồ chức mật vụ của Ngô Dình Nhu và Trần Kim Tuyển, thực chất lại là những “điệp viên ngầm” của CIA mà chính Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyên cũng không biết.

                 Tuy nhiên, tội ác của CIA tại miền Nam Việt Nam không phải chỉ bắt tay với Ngô Đình Nhu. Mục tiêu chủ yếu của CIA vẫn là đối phó với phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam Việt Nam. Trong lĩnh vực này, bàn tay của CIA nói chung và của Uyliam Cônbai nói riêng, quả thực “đẫm máu”, vì đã thực hiện một loạt tội ác cực kỳ dã man tàn bạo.

                 Vẫn theo tiết lộ của Uyliam Cônbai, mục tiêu đầu tiên khi đặt chân tới miền Nam Việt Nam là “bình định kհu vực người thượng” ở Tây Nguyên mà CIA nhận xét là một “địa bàn chiến lược rất quan trọng”. Cônbai viết người Thượng là “một dân tộc đang làm cho chính phủ Ngô Đình Diệm lo ngại” bởi vì họ chống lại chủ trương “đồng hóa” của Diệm. Hơn thế nữa, khu vực này lại đang “bị Cộng sản thâm nhập”. Để tranh thủ “trái tim và khối óc của người Thượng”, Cônbai kiến nghị “cần tăng cường viện trợ kinh tế nhằm phát triển đời sống cho người Thượng”. Tới một chừng mực nào đó, khi đôla và hàng hóa Mỹ đã cám dỗ được người Thượng: lúc đó sẽ “mạnh dạn phát súng cho người Thượng” để họ “bảo vệ các ấp chiến lược của họ, chống lại sự thâm nhập của Cộng sản”. Kiến nghị của Cônbai được tòa đại sứ Mỹ chuẩn y và soạn thảo thành một “chương trình hoạt động” gọi tên là “Chương trình thăng tiến về kinh tế xã hội cho các dân tộc thiểu số người Thượng”. Nhiều cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ, còn gọi là “lính mũ nồi xanh” đã được cử tới để huấn luyện quân sự cho người Thượng”.

                Uyliam Cônbai biết: “Cuộc thí nghiệm này của CIA tiến triển và mở rộng nhanh chóng đến mức tôi quyết định đặt tên cho lực lượng tự vệ của người Thượng là “đội dân vệ không chính quy” trong đó bao gồm những “lực lượng xung kích với sự tham gia của các trai tráng ở tất cả các buôn làng có nhiệm vụ đi tuần tiễu giữa các ấp chiến lược để ứng cứu nơi này nơi khác khi cần, “Cônbai tiết lộ, ngay trong đợt thí nghiệm, đã có tới hơn 30.000 khẩu súng được phân phát cho những người Thượng mà CIA đã mua chuộc, lôi kéo. Tính chất thâm độc của CIA, mà kẻ chủ mưu là Uyliam Cônbai, đã dùng sự cám dỗ vật chất để chia rẽ người Thượng với người Kinh, rồi trên cơ sở đó, sử dụng những phần tử xấu trong số người Thượng để “săn lùng” “Việt Cộng”. CIA treo giải thưởng, mỗi “cái tai” của Việt Cộng bị cắt sẽ được trao tặng một đấu muối, hoặc một hòm đồ hộp, hoặc vài mét vải. Đã có những tên ác ôn trong số những phần tử xấu người Thượng tích lũy hàng xâu chuỗi tai người Kinh mà chúng đã cắt xẻo, phơi khô rồi treo ở trong nhà, coi như một thứ trang trí bằng “chiến lợi phẩm”. Đầu năm 1962, khi Cônbai được thăng chức và trở về Mỹ làm phó trưởng phòng Viễn Đông, Risocsơn thay Cônbai vẫn tiếp tục “chương trình” này một cách năng nổ. Tuy nhiên, sau khi hai anh em Diệm Nhu bị giết và miền Nam Việt Nam “rơi vào tình trạng hỗn độn chưa từng thấy” thì các kế hoạch lập “ấp chiến lược” và ‘quân sự hóa” người Thượng của Uyliam Cônbai cũng bị lật nhào, Cônbai thú nhận trong hồi ký: “Sau khi đã thức suốt đêm tại trụ sở trung ương của CIA, tôi đến gặp giám đốc Maccôn để cùng đi đến Nhà trắng. Ngồi trong xe, tôi bộc lộ với Macôn là cái chết của anh em họ Ngô đã gây xúc động lớn đối với cá nhân tôi. Nhưng bây giờ không phải là lúc bây tỏ tình cảm. Vấn đề là phải báo cáo ngay với Tổng thống và Hội đồng an ninh quốc gia mọi diễn biến của tình hình ở Sài Gòn”.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 08:25:11 pm »

                  Cônbai viết tiếp: “Sau cuộc họp tôi được Tổng thống trực tiếp trao nhiệm vụ đi Sài Gòn để theo dõi tại chỗ, những diễn biến tiếp theo. Song tới nơi, tôi thấy rõ, triển vọng tình hình quả là đáng lo ngại. Chương trình “ấp chiến lược” đã bị tan rã. Cộng sản đã thắng điểm trong mùa hè và mùa thu, tới nay lại tận dụng tình trạng tê liệt tiếp theo việc lật đổ Diệm để khuếch chương chiến quả. Tôi càng bi quan hơn khi thấy những nỗ lực trước kia của CIA đến nay cũng gặp bế tắc, không biết còn có thể làm được những gì nữa. Các đội đặc vụ mà chúng ta cho thâm nhập vào miền Bắc Việt Nam bằng đường không và đường biển đều hầu như hoàn toàn thất bại. Tất cả đều bị bắt hoặc nhanh chóng bị mất liên lạc bằng diện đài. Chỉ có 1 hoặc 2 đội còn liên lạc được bằng điện đài nhưng sau này mới rõ, họ đã bị công an miền Bắc sử dụng để chống lại chúng ta. Tiếp đó, tổng thống Kennơdi cũng bị ám sát. Phải thành thật mà nói rằng, chưa một vị Tổng thống nào có cảm tình với CIA hơn Kenơđi. Giờ đây, Linđơn Giônxơn là người thừa kế Kennơđi phải thừa hưởng ở Việt Nam một mớ bòng bong. Người ta dễ dàng nhận thấy, tại các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam, 6 tháng khủng hoảng chính trị tiếp theo vụ lật đổ Ngô Đình Diệm đã đem lại những kết quả chua chát. Nhà trắng nhanh chóng nhận ra, chương trình “ấp chiến lược” hoàn toàn không còn hoạt động nữa”.

                       Thế nhưng, thua keo này lại bầy keo khác, đế quốc Mỹ ngoan cố không cam chịu thất bại. Kế hoạch lập “ấp chiến lược” đã hoàn toàn phá sản, CIA lại cay cú kiến nghị một chương trình “quy mô lớn hơn và cũng tốn kém nhiều đôla hơn. Sau cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân 1968, người ta thấy phó đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Rôbớt Cômơ được Nhà trắng cử làm nhân vật “đặc trách” một chương trình quy mô lớn với tên gọi rất kêu là “chương trình phát triển cách mạng” dưới sự “hỗ trợ” của cơ quan phát triển quốc tế, viết tắt là AID. Uyliam Cônbai trở thành một “nhân viên cao cấp” của AID tại miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là một “đặc phái viên” của AID trong “chương trình phát triển cách mạng” CPRDS. Uyliam Cônbai thừa nhận trên giấy trắng mực đen: “Trên thực tế, chương trình phát triển cách mạng chính là chương trình bình định, một sự hợp tác giữa cơ quan phát triển quốc tế AID và lục quân Mỹ là quân chủng cung cấp phần lớn ngân khoản và nhân viên điều hành cho chương trình”.

                      Uyliam Cônbai viết:

                     “Lúc này, giám đốc Cục tình báo trung ương CIA là Risơt Hen. Tôi đã đề nghị với ông, thôi phụ trách phòng Viễn Đông vào cuối tháng 1 năm 1968 để giành tháng 2 vào việc nghiên cứu tình hình và đến đầu tháng 3 thì đi Sài Gòn nhận chức mới.

                     Lúc tôi tới Sài Gòn, một nhiệm vụ cấp bách dang đợi chờ tôi: “đối phó với những tổn hại sau cuộc tiến công Tết Mậu Thân. Lãnh thổ miền Nam Việt Nam đang bị tàn phá, tình trạng hỗn loạn diễn ra ở khắp mọi nơi. Phần lớn các thành phố, thị trấn bị đốt phá một phần hoặc đổ nát. Nhưng tháng công tác dầu tiên của tôi với Rôbớt Cômơ là tập trung vào “chiến dịch phục hồi”. Tất cả những công việc này đã tiến hành trong nỗi lo sợ thường xuyên là Việt Cộng sẽ mở thêm những trận tiến công mới. Vì vậy, toàn bộ các hoạt động đều đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các lực lượng quân sự”.

                    Cônbai, tiết lộ tổng số nhân viên dân sự trong chương trình “bình định” khi Cônbai trở lại miền Nam Việt Nam chỉ có 800 người nhưng số nhân viên quân sự đã lên tới 3000, tức là gấp 4 lần. Ba năm sau đó, số nhân viên dân sự đã phát triển tới 1200 người và số nhân viên quân sự lên tới 6000, tức là gấp 5 lần. Tuy nhiên, như chính Cônbai thừa nhận trong hồi kí, chính một nhân viên cao cấp của Mỹ là Giôn Pônvan, giữ chức “cố vấn trưởng” chương trình bình định, một người mà chính quyền Mỹ đã đánh giá “xuất sắc nhất và tận tụy nhất” với công cuộc bình định lại chính là người đã “không tiếc lời công kích chương trình phát triển cách mạng” Chính Giôn Pônvan đã nói thẳng với Cônbai: chương trình này kém hiệu quả hơn mức độ mà CIA tưởng tượng rất nhiều.

                    Cũng như những kế hoạch “bình định” đã tiến hành tử trước và đã lần lượt phá sản, chủ chương nhất quán của CIA cũng như của Uyliam Cônbai trong khuôn khổ “chương trình phát triển cách mạng” lần này là “tiếp tục mạnh dạn phân phát vũ khí cho các đội tự vệ tại các thôn ấp đã được bình định để họ chống lại Cộng sản”. Cônbai kể lại, tuy nhiên, bước vào giai đoạn nảy, chủ trương “phát vũ khí” đã không được những nhân vật hữu trách nhất trí tán thành, mà còn dấy lên nhiều tranh cãi. Cônbai viết: “Dưới cặp mắt của nhiều nhân vật có trách nhiệm của cả Việt Nam lẫn Mỹ thì chủ trương vũ trang cho dân chúng trong các ấp chiến lược, trên cơ sở tự nguyện hoặc theo một chế độ nào đó, là một sáng kiến hoàn toàn điên rồ, bởi vì đám tự vệ được coi là “lính không quân phục” này vừa thiếu kỷ luật lại thiếu huấn luyện không thể nào chiến đấu tốt. Một số người khác còn lo sợ, số vũ khí này sẽ nhanh chóng được nộp cho Cộng sản, hoặc do tự nguyện, hoặc bị bắt buộc. Lại có người nói trước, sẽ phục vụ cho các nhóm đối lập để chống lại chính phủ. Cuối cùng, người ta cho rằng việc trang bị vũ khí cho các đội dân vệ chỉ đem lại kết quả là làm tăng thêm những vụ giết người.

                    Thật vậy. Nếu trước kia Cônbai chủ trương trang bị cho người Thượng để bắn giết người Kinh thì giờ đây, việc phân phát vũ khí tràn lan cho các đội tự vệ tại các thôn ấp “đã bình định” càng thúc đẩy thêm sự bắn giết giữa những người Việt Nam với nguời Việt Nam. Trong giai đoạn này, Uyliam Cônbai tiết lộ “có tới 500.000 súng trường và tiểu liên đã dược phân phát cho các đội dân vệ”. Dĩ nhiên, khi “rút kinh nghiệm” CIA đã thực hiện chủ trương này “một cách thận trọng hơn”. Cônbai viết: “lần này chúng tôi phải phân phát vũ khí một cách thận trong theo từng bước. Trước hết, phải chọn lựa một xã hoặc một nhóm ấp điển hình làm nòng cốt cho chương trình mở rộng rồi từ đó sẽ “loang ra” như “một vết dầu loang”. Để công việc được tiến hành trôi chảy, chúng tôi đã sử dụng các đội “phát triển cách mạng” mà CIA đã tổ chức ra, nhưng sau đó đã được sát nhập vào CORDS. Những nhân viên trong các đội này được trả lương và được huấn luyện kỹ. Họ được phái về các thôn ấp, huấn luyện cho dân vệ cách sử dụng vũ khí, cách xây dựng một đồn canh, cách rào dây kẽm gai, cách điều tra, thám báo. Khi một xã nào đó đã có khả năng tự vệ dược thì đội lại chuyển sang xã khác và bắt đầu từ con số không. Như vậy, có nghĩa là chiến dịch “phục hồi” sẽ dần dần hoàn tất, chính phủ (ngụy) bắt đầu giành được chủ động và chuyển sang phản công, chuyển sang chiến lược được lựa chọn là “chiến dịch bình định”, nghĩa là tổ chức tại các vùng nông thôn nhằm tham gia một chương trình an ninh và phát triển, tước bỏ của Việt Cộng mọi cơ sở trong nhân dân”.

                     Cônbai viết tiếp: “Có lúc, chúng tôi đã tìm một từ ngữ khác hơn là “bình định” vì vấn đề ở đây không phải chỉ “bình định” để nông dân được sống yên ổn mà trái lại, còn phải huy động sự tham gia tích cực của nông dân vào công cuộc chống lại Cộng sản. Chúng tôi muốn tránh những câu rỗng tuếch như “phát triển cách mạng” mà muốn dùng chữ “phát triển nông thôn”. Nhưng sau đó, chúng tôi lại thấy từ ngữ này gợi ra một việc có tinh chất quá ư thuần túy nông nghiệp. Nhưng cuối cùng, vẫn không có một từ ngữ nào có ý nghĩa hơn”.

                    Qua những lời lẽ viết trên giấy trắng mực đen này, rõ ràng CIA đã chịu khó rút tỉa kinh nghiệm, đã thận trọng đi từng bước, chuẩn bị rất kỹ và luôn luôn hoàn thiện “công cuộc bình định” đã được đích thân Tổng thông Mỹ giao trách nhiệm...    Trong khi chương trình này đang tiến hành khần trương, Rôbớt Comơ được lệnh của Tổng thống Giôn Xơn cử đi làm đại sứ ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mấy ngày sau, tổng thống phong cho tôi hàm đại sứ để tôi có mọi quyển lực thay thế Comơ. Chiến dịch tiếp tục khiển khai. Và phía Việt Nam, đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Ông Thiệù đã thành lập một hội đồng trung ương về “bình định và phát triển” đặt dưới quyền trực tiếp của thủ tướng và chịu trách nhiệm hợp tác chặt chẽ với ban tham mưu của CORDS Ở Sài Gòn.

                    Như vậy là, chương trình “bình định” do CIA vạch ra đã được phát triển tới mức rất cao và được coi là một “trọng tâm chỉ đạo” của chính quyền ngụy, do đích thân Tổng thống ngụy cầm đầu. Mặc dù vậy, cả Mỹ và ngụy đều vẫn không làm chủ được tình hình. Ở nông thôn, nhiều xã ấp “ban ngày là thuộc quốc gia, ban đêm lại thuộc cộng sản”. Trong các đô thị, Việt cộng vẫn duy trì nhiều cơ sở bí mật, và đó là những bàn đạp để tổ chức những cuộc biệt kích bất ngờ của đặc công.

                   Mỹ ngụy lại phải dấn thân một bước nữa. Thêm một kế hoạch mới, gọi là chương trình Phượng Hoàng ra đời. Theo lời khai của một số nhân viên cảnh sát ngụy khi ra trình diện với chính quyền cách mạng, mới đầu chương trình này được ghi tắt trên hồ sơ là PH.H. có nghĩa là “phối hợp”. Để thực hiện chương trình này cần có sự phối hợp giữa các lực lượng cảnh sát, quân đội và các tổ chức tình báo, kinh tế, chính quyền. Sau đó, để thuận tiện cho việc gọi tên, chương trình này được gọi là “Phượng Hoàng”. Vì “Phượng Hoàng” cũng là một danh từ bắt đầu từ các chữ cái “PH” và “H”.

                  Uyliam Cônbai viết:

                 “Tháng 7 năm 1968, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành một sắc lệnh mà tôi có tham gia soạn thảo thành lập ủy ban Phượng Hoàng ở tất cả mọi cấp từ trung ương đến khu, tỉnh, quận. Tất cả các cơ quan có liên quan đều phải cử đại diện của mình vào ủy ban Phượng Hoàng. Trong khuôn khổ của chiến dịch bình định cấp tốc các ủy ban này sẽ ấn định các chỉ tiêu cần phải đạt được. Những diễn biến tiếp theo “đã chứng minh rõ, đúng là có tồn tại một bộ máy hạ tầng cơ sở của Việt Cộng. Chúng tôi cũnց nhận thức được rằng, để đánh phá bộ máy hạ tầng cơ sở này thì những cuộc tuần tra ban đêm cũng như những cuộc hành quân càn quét đều không đạt được kết quả chiến lược của chúng tôi là phải lôi cuốn dân chúng tham gia vào cuộc chiến tranh này.

                  Vì vậy, điều quan tâm đầu tiên của chúng tôi là phải tổ chức một mạng lưới tình báo để thu lượm những tin về tổ chức hạ tầng cơ sở của Việt cộng rồi sau khi đã thẩm tra, phân tích sẽ kiên quyết trừ khử những cán bộ lãnh đạo của bộ máy cơ sở của Việt cộng.

                 Tuy vậy, chúng tôi đã phạm phải một sai lầm phổ biến trong khi thực hiện chương trình Phượng Hoàng. Đó là các ủy ban Phượng Hoàng các cấp chưa bao giờ có được những đơn vị chiến đấu khả dĩ có thể trực tiếp tiến hành những hoạt động đánh vào bộ máy của Việt cộng. Ủy ban Phượng Hoàng chỉ làm nhiệm vụ chuyền giao các tin tình báo đã thu lượm được cho các tổ chức và cơ quan có những lực lượng cần thiết để đánh vào Việt cộng, ví dụ như: Ủy ban Phượng Hoàng kiến ոghị cảnh sát tới bắt một cán bộ Việt cộng ở làng này, hoặc kiến nghị với cơ quan chiêu hồi tới dụ dỗ một cán bộ Việt cộng ở làng kia xin qui chính. Sau mỗi đợt hoạt động như vậy, ủy ban Phượng Hoàng sẽ tổng hợp xem có bao nhiêu cán bộ Việt cộng đã bị giết, bao nhiêu đã bị bắt và bao nhiêu đã xin chiêu hồi. Từ đó, ủy ban Phượng Hoàng lại gửi báo cáo lên đại bản doanh ở Sài Gòn, để thống kê có bao nhiêu cơ sở của Việt cộng bị phá hủy, trên cơ sở tổng số cản bộ đã bị tiêu diệt”.

                  Báo chi Mỹ cho biết, CIA đã “chi một khoản tiên tài lớn” vào việc thực hiện chương trình Phượng Hoàng. Tuy nhiên, do quốc hội Mỹ đã thông qua một đạo luật ghi nhận, để “bảo đảm công tác bí mật” cho nên giám đốc CIA “không phải báo cáo khoản chi tiêu của mình trước Quốc hội”, không ai biết cụ thể số tiền lớn này là bao nhiêu cả. Người ta chỉ “ước lượng đại khái” CIA đã chi hàng trăm triệu đô la vào việc tuyển mộ nhân viên và mở các lớp huấn luyện đào tạo cũng do “không có lực lượng quân sự trong tay để tổ chức những cuộc hành quân càn quét” nên CIA đã chủ trương “tiêu diệt các cán bộ cơ sở của Việt cộng bằng cách ám sát”. Ngay từ năm 1969 tức là khi Ních xơn mới lên cầm quyển thay Giôn xơn, báo chí Mỹ đã tố cáo, trong vòng chưa đầy một năm thực hiện chương trình Phượng Hoàng, CIA “đã tổ chức một chiến dịch ám sát có nhiều người bị giết oan”.

                  Trước những lời tố cáo của công luận, Uyliam Cônbai đã phải đứng ra điều trần trước Quốc hội Mỹ. Dĩ nhiên, Cônbai cố sức bào chữa cho hành vi đầy tội ác của cả nhân cũng như của guồng máy CIA. Cônbai còn lập luận, nhờ có chương trình Phượng Hoàng nên guồng máy hạ tầng cơ sở của Việt cộng đã bị triệt tiêu, quân đội Mỹ có thể “yên tâm” rút khỏi miền Nam Việt Nam và tổng thống Níchxơn có thể “Yên tâm” với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

                  Như toàn thể giới đều rõ, tên tính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày 20 tháng 3 năm 1973 thì ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn bộ ngụy quân nguy quyền sụp đổ. Trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 nhân dân miền Nam Việt Nam từ thành thị đến nông thôn đều hết lòng hết sức giúp đỡ quân giải phóng Điều đó chứng minh, “hạ tầng cơ sở” của Viêt cộng vẫn tồn tại, bất chấp hàng loạt chiến dịch “bình định” tlàn ác và đẫm máu của CIA


(1) Đã được Nhà xuất bản Công an nhân dân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm1987.


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2017, 08:41:09 pm »

10. CIA VÀ KẾ HOẠCH “CHIÊU HỒI”



                  Tháng 2 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu với danh nghĩa Tổng thống ngụy ký sắc lệnh sát nhập hai bộ Dân vận và Chiêu hồi làm một. Lúc này, hội nghị Pari về Việt Nam đã ký kết, toàn bộ quân đội Mỹ đã buộc phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chi nhánh CIA núp dưới bóng tòa đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam vẫn tồn tại và càng tăng cường hỗ trợ cho ngụy quân ngụy quyền đánh phá cách mạng Việt Nam. Việc sát nhập hai bộ Dân vận và Chiêu hồi làm một cũng là một “gợi ý” của CIA, nhằm tập trung lực lượng tiến hành mưu đồ thâm độc mà chúng đã dốc sức thực hiện từ nhiều năm nay, đó là tìm mọi cách dụ dỗ những người trong hàng ngũ kháng chiến trở về với “chánh nghĩa quốc gia”.

               Theo nhận xét của nhiều nhân viên CIA đã từng làm cố vấn cho ngụy trong cơ quan chiều hồi. Việc lôi kéo những người thuộc lực lượng đối phương chạy sang hàng ngũ “quốc gia” không phải là một vấn đề mới. Gioó giơ Xôri phớt, một “chuyên gia chiêu hồi” của CIA đã từng biên soạn một “luận án” về vấn đề này. Trong đó có nêu nhiều kinh nghiệm đã rút tỉa được từ những “bài học” của quân đội thực dân Anh tại Malaixia sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai. Etuốt Lênxđên, một điệp viên CIA, thời kỳ làm cố vấn cho tổng thống Philippin cũng đã đúc kết được nhiều bài học, kinh nghiệm “trong việc mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ nhiều phần tử ly khai trong hàng ngũ quân giải phóng Hukbalahap do đảng cộng sản lãnh đạo, quay trở về “qui thuận” tổng thống Mắc xay xay. Phòng nhì của quân đội thực dân Pháp trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương 1946-1955 cũng đã thực hiện nhiều âm mưu thủ đoạn lôi kéo nhữnh phần tử thoái hóa trong lực lượng kháng chiến đầu hàng bọn chúng.

               Như vậy có nghĩa là, CIA đã kết hợp những kinh nghiệm của bản thân, cộng với kinh nghiệm của đế quốc Anh và thực dân Pháp để hoàn chỉnh cái gọi là “công tác chiêu hồi” mà chúng đã truyền lại cho bọn ngụy, suốt từ thời Ngô Đình Diệm đến thời Nguyễn Văn Thiệu. Ngay trong khi vận dụng tại miền Nam Việt Nam, công tác chiêu hồi của bọn ngụy cũng luôn luôn được quan thầy CIA liên tục nâng cao và hoàn chỉnh theo từng giai đoạn. Mới đầu cơ quan đặc nhiệm công tác chiêu hồi của ngụy chỉ tương đương với cấp Cục, nằm trong bộ tổng tham mưu quân ngụy. Liền theo đó, khi Mỹ bắt đầu tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt” tại miền Nam Việt Nam CIA đã kiến nghị rút cơ quan chiêu hồi khỏi quân đội và đặt dưới sự điều hành của chính quyền trung ương nhằm tăng cường tập trung sự chỉ đạo cũng như việc cung cấp vật chất cho cơ quan này. Nha chiều hồi bắt đầu xuất hiện với một giám đốc thuộc phái dân sự rồi nhanh chóng nâng cấp thành tổng nha, cuối cùng là Bộ Chiêu hồi. Do tính chất phức tạp của công tác chiêu hồi đòi hỏi phải phối hợp cả cơ quan tỉnh báo, chiến tranh tâm lý, thông tin tuyên truyền cho nên Bộ Chiêu hồi của ngụy có lần đã sát nhập với Bộ Thông tin rồi đến những ngày cuối cùng trước khi sụp đổ lại sát nhập với Bộ Dân vận.

                CIA cũng nhận định, trong cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam (do Mỹ tiến hành) chủ nghĩa cộng sản đã ăn sâu bám rễ trong lòng quần chúng nhân dân ở cả hai miền Nam, Bắc. Kinh nghiệm của Ngô Đình Diệm trong thời kỳ “chống cộng, tố cộng, diệt cộng” đã chứng minh, không phải chỉ các đảng viên cộng sản, mà hầu như toàn bộ những người đã tham gia kháng chiến, chưa được kết nạp vào Đảng, cũng rất gắn bó với đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Nhiều nguời đã bộc lộ rõ khí phách, kiên quyết không chịu ly khai, không chịu xé cờ đỏ sao vàng. Nhiều người không phải đảng viên cộng sản nhưng đã hiên ngang nhận lấy cái chết như những người cộng sản, chứ nhất quyết không chịp quy thuận Mỹ ngụy. CIA gọi những người này là “những phần tử cuồng tín” và chủ trương muốn “chiêu hồi” tức là dụ dỗ những người kháng chiến “hồi chánh” thì phải “tẩy não” họ, phải dùng “lý luận quốc gia đề đánh bật lý tưởng cộng sản” trong đầu óc họ.

                 Chính vì vậy cho nên, ngay từ thời kỳ Ngô Đình Diệm, trùm trình báo CIA làm cố vấn chính trị cho Diệm là Etuốt Lênxđên đã kiến nghị “cần phải cử những người có tri thức, có lý luận, tinh thông chủ nghĩa Mác để chống lại chủ nghĩa Mác” phụ trách công tác chiêu hồi nhằm dùng “lý thuyết quốc gia chống lại lý tưởng cộng sản” thuyết phục những người đã đi theo cộng sản phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để quay về với “chánh nghĩa quốc gia”

                 Điểm mặt những nhân vật đã từng được CIA xét duyệt để kiến nghị với chính quyền ngụy cho phụ trách công tác chiêu hồi có Nguyễn Xuân Phong xuất thân từ một gia đình công chức cũ của thực dân Pháp sau khi thực dân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam đã quay sang ôm chân Mỹ, được cử đi học ở Mỹ. Thời kỳ làm Bộ trưởng Bộ Xã hội trong chính quyền ngụy, Nguyên Xuân Phong thường khoe “có nghiên cứu về chủ nghĩa Mác” và trong nhiều buổi “đăng đàn diễn thuyết” đã công khai nhân danh một “học giả” lớn tiếng thóa mạ Các Mác, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội nguyền rủa “chế độ cộng sản Bắc Việt” và mạt sát Việt cộng trước một đám thính giả “toàn là người quốc gia” lại nghe Xuân Phong diễn thuyết trong hội trường đầy cảnh sát mật vụ, dĩ nhiên những lời ba hoa vô liêm sỉ của Phong được vỗ tay tán thưởng. Không ai dám công kích lại. Trong thời kỳ giữ ghế tổng trưởng chiêu hồi Nguyễn Xuân Phong chuyên đi “giảng thuyết” cho các “binh sĩ Việt cộng” vừa bị bắt làm tù binh hoặc vừa mới chạy sang hàng ngũ ngụy quân sau cơn dao dộng về chiến tranh ác liệt: Nguyễn Xuân Phong được bọn đàn em suy tôn là một “nhà lý luận” và đã được Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức “phó đoàn đại biểu” của ngụy tại hội nghị Pari về Việt Nam. Thời kỳ Bân cơ làm đại sứ và Uylliam Cônbai làm phó đại sử Mỹ ở miền Nam Việt Nam, người ta thường thầy Nguyễn Xuân Phong thậm thụt lại nhà riêng của trùm tình báo CIA - Cônbai. Chính Cônbai trong khi “vui chuyện” đã công khai tiết lộ được chính quyền ngụy “tham khảo ý kiến” trong việc bổ nhiệm cán bộ phụ trách công tác chiêu hồi. Cônbai còn đi xa hơn nữa, tới mức có ý định “bồi dưỡng” cho Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Xuân Phong trở thành những nhân vật “kiên cường chống cộng” ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, trong khi Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu mâu thuẫn hục hặc với nhau thì Nguyễn Xuân Phong, được coi là “cánh hẩu” của Nguyễn Cao Kỳ cũng bị Nguyễn Văn Thiệu ruồng bỏ.

                    Nếu Nguyễn Xuân Phong được coi là “người сủа Nguyễn Cao Kỳ” thì Nguyễn Ngọc An lại được coi là “người của Trần Văn Hương”. Khi Hương giữ chức thủ tướng ngụy thì Nguyễn Ngọc An đã được Trần Văn Hương “mời ra giữ chức tổng trưởng chiêu hồi” vì “ngưỡng mộ một nhà giáo có lý luận”. An có mở một trường tư ở Trảng Bàng. Theo các nhân viên tình báo ngụy ra dầu thú cách mạng cho biết, Nguyễn Ngọc An là một tên “triệt để chống cộng có đầu óc kỳ thị hai miền Nam, Bắc rất rõ rệt” thể hiện rõ nét tư tưởng cực đoan. Thời kỳ giữ chức tổng trưởng chiêu hồi Nguyễn Ngọc An đã thẳng tay gạt bỏ tất cả những nhân viên là người miền Bắc di cư vào Nam, thay vào đó toàn là những người thân tín, “cánh hẩu” của An mà An gọi là “dân miền Nam chính cống”.

                   Vẫn theo nhận xét của những nhân viên dưới quyền thì Nguyễn Ngọc An “trình độ thua xa Nguyễn Xuân Phong”, khét tiếng là một tên “vừa dối nát vừa bạo ngược” nhưng “không hiểu sao lại được cố vấn Mỹ, lúc đó là Uyliam rất tin cậy”. Nếu Nguyễn Xuân Phong chủ trương “dùng lý luận chủ nghĩa quốc gia để đánh bật lý thuyết cộng sản” thì An lại chủ trương “phóng tài hóa thu nhân tâm” dung tiền của, vật chất để lôi kéo những phần tử dao động, tham sống sợ chết rời bỏ hàng ngũ cộng sản trở về với quốc gia. Thời kỳ Nguyễn Ngọc An làm tổng trưởng chiêu hồi cũng là thừoi kỳ ngân sách chi cho những người “hồi chánh” được Mỹ nâng cao them. Tùy theo cấp bậc, chức vụ những tên đào ngũ, phản bội, rời khỏi hànց ngũ kháng chiến chạy sang hàng Mỹ nguy đều được thưởng tiền. Cấp đại úy được 200.000 đồng tiền ngụy, thiếu tá 300.000 đồng, trung tá 400.000 đồng. Tên Tám Hà vì dao động, chay sang hàng Mỹ ngụy hồi tết Mậu Thân, được “thưởng” luôn 500.000 đồng.

                 Trong nhũng ngày cuối tháng tư năm 1975, khi các lực lượng vũ trang cách mạng rầm rộ tiến vào giải phóng Sài Gòn: Hồ Văn Châm là một trong nհững tên đã được CIA đề cử giữ chức tổng trưởng chiêu hồi bị mắc kẹt không di tản được đành phải ở lại. Μột thời gian sau, Châm và vài tên thân tín định bỏ trốn ra nước ngoài nhưng lại bị bắt trở lại. Trong bản khai báo quá trình hoạt động của mình, Hồ Văn Châm đã viết, hắn ra đời ở Thừa Thiên, đã tốt nghiệp đại học y khoa và làm bác sĩ thời Pháp thuộc. Cũng trong thời kỳ này Hồ Văn Châm quen thân với Hà  Thúc Ký và đã được Hà Thúc Ký rủ rê vào đảng Đại Việt chống cộng sản, chống Việt Minh làm tay sai cho Nhật Bản.

                 Cuối năm 1965 dầu năm 1966 trước tình hình bọn “tướng trẻ” ở miền Nam Việt Nam đang đấu đá lẫn nhau sau khi lật đổ Diệm, Hà Thúc Ký thấy có cơ hội “làm ăn” đã rủ Hồ Văn Châm “khôi phục lại đảng Đại Việt” và lấy tên là đảng “Đại Việt cách mạng”. Tháng 1 năm 1966 đảng này được phép chính thức hoạt động. Hà Thúc Kỷ, Hồ Văn Châm đã chọn “đảng kỳ” là một lá cờ có hai mảnh vải, mảnh trên màu đỏ, mảnh dưới máu vàng giữa cό ngôi saο trắng trên nên tròn màu xanh. Được Hà Thúc Ký giao cho chức Ủy viên Trung ương đặc trách tuyên huấn, Hồ Văn Châm đã viết báo, viết sách và đi diễn thuyết nhiều nơi đề tuyên truyền cho cái gọi là “tôn chỉ mục đích cách mạng của Đảng Đại Việt” vừa mới tái sinh với hình thức mới và nội dung mới” (1) Năm 1970 nội các dân sự của Trần Văn Hương bị nhóm quân sự Thiệu, Kỳ lật đổ, Nguyễn Ngọc An là tay chân thuộc cánh hẩu của Trần Văn Hương cũng bị bọn Thiệu Kỳ gạt ra ngoài. Để tập hợp lực lượng củng cố vị trí của mình, trong khi thành lập nội các mới Nguyễn Văn Thiệu đã thân hành tìm gặp Hà Thúc Ký ngỏ ý nhường cho đảng Đại Việt một ghế bộ trưởng. Hà Thúc Ký lại đi gặp Hồ Văn Châm lúc đó đang làm nghề thầy thuốc ở Sài Gòn, giới thiệu Hồ Văn Chân làm tổng trưởng chiêu hồi. Các cố vấn CIA khi được hỏi ý kiến đã rất tán thành Hồ Văn Châm với hai lý do:

                 1) Châm là một ủy viên Trung ương, một sáng lập viên của đảng Đại Việt “cách mạng” Nếu giữ ghế tổng trưởng chiêu hồi có nghĩa là lần đầu tiên trong lịch sử thành lập, Bộ Chiêu hồi có được một “chính khách” làm bộ trưởng chứ không phải là một quan chức cai trị. Trong cuộc “xung đột tư tưởng giữa hai ý thức hệ là chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản” CIA rất cần có một “nhà chinh trị” nắm giữ Bộ chiêu hồi.

                 2)  Hồ Văn Châm lúc đó còn nổi tiếng là một bác sĩ “nghèo”, không có ôtô, đi lại toàn dùng chiếc xe vespa đã cũ. Một “nhà chính trị” giữ chức bộ trưởng lại “được tiếng là nghèo” dĩ nhiên sẽ rất dễ lừa mị nhân dân dưới cái vỏ bọc “công tâm” và “liêm khiết” “vì chủ nghĩa, vì lý tưởng chứ không phải vì đôla”

                Liền sau khi giữ chức tổng trưởng chiêu hồi, Hồ Văn Châm đã bộc lộ luôn tính chất cơ hội chủ nghĩa của hắn bằng cách ly khai đảng Đại Việt cách mạng của Hà Thúc Ký để gia nhập đảng Dân chủ, là một đảng do Nguyễn Văn Thiệu lập ra nhằm đầu cơ chính trị, tập hợp những phần tử ăn cánh với hắn. Cái đảng Dân chủ của Thiệu được “chính thức ra mắt” quốc dân đồng bào ngày 28 tháng 3 năm 1973 tai rạp REX ở Sài Gòn. Bọn cố vấn cho Thiệu gợi ý nên chọn “đảng kỳ” là một lá cờ nền vàng sao đỏ để đối lập với là cờ đỏ sao vàng.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM