Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:35:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Biên giới  (Đọc 25537 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2017, 11:07:12 pm »

                 Trời vẫn cứ mưa. Ướt. Đói. Mỏi. Buồn ngủ. Ngứa ngáy. Sườn đồi dốc, ngồi trơn tượt xuống.
                - Vào đây Cương. Ngồi sát vào đây cho đỡ lạnh.
                - Ngồi sát hẳn vào.
                - Có điếu thuốc lào xin điếu, cậu. Lạnh quá. Hút cho ấm ngực một tí.
   
                Thỉnh thoảng tiếng súng nổ từng tràng, diệt mấy tên địch định lợi dụng đêm tối chuồn. Gần sáng. Vòm trời trắng, mấy thằng lê dương ướt như chuột lột, hốc hác, chạy ra hàng. Rồi hơn một tiểu đội lê dương co ro dưới cành cây, giơ tay thẳng, theo mấy anh cấp dưỡng. Bên kia suối, những lá cờ trắng cố nâng cao.
                - Đề dác mê vu(11).
   
                Lê dương. Nhảy dù. Ngụy binh. Quan. Lính. Chiến trường nhộn nhịp. Chỗ này mấy tù binh. Chỗ kia đống súng đạn. Những cái xác béo nịch nằm ngang, nằm dọc trên sườn đồi. Dọc đường nhựa. Khe suối. Hai chiếc khu trục bay tới, lượn mấy vòng rồi bay đi.
                - A lô! Chuẩn bị mảng để cho tù binh qua sông nhé.
                - A lô! Cho dân công sang gánh chiến lợi phẩm.
                - A lô! Nhớ nhặt mấy vỏ hộp to để đựng thức ăn nhé. - Tiếng anh cấp dưỡng.
   
                Đường về bản trơn như mỡ. Trời tối. Mưa ào ào. Tù binh ngã. Tên quan ba Mo-rô, ngừng lại men đường, tay chống chiếc gậy tre, run run:
                - Tôi đói, rét, và mỏi lắm rồi!
   
                Vài đội viên lấy bạt của mình đưa cho mấy tên tù binh ốm yếu. Tới bản. Gian nhà tối om. Bà ké đang ngồi thu hình, giơ đôi bàn tay cóng bên bếp lửa. Bà mới ở đồng về.
                - Đây là tù binh Pháp chúng con vừa bắt được.
   
                Họ chưa kịp rửa chân. Các bà già, trẻ em, phụ nữ đã xúm quanh, dòm ngó. Họ kể cho bà con nghe trận vượt sông Kỳ Cùng, trong lúc máy bay địch bắn dữ dội. Bà con phồng mồm, trợn mắt, theo điệu nói của người kể chuyện. Mấy chị dân công cũng ghé vào xem, líu lô tiếng Thổ, cười khanh khách, chỉ cái mũi chúng dài, dài. Các chú Tây im thin thít, buồn rầu, đầu gục xuống nghĩ ngợi, thỉnh thoảng lấy tay nắn đôi chân, hoặc xin bát nước chè. Chợt một tiếng kêu:
                - Có phải thằng Hai Nạng đây kia không?
                Mọi người nhìn về phía một tên ngụy binh ngồi khoanh tay trong một xó, đầu gục xuống. Bà con chạy lại, lôi nó ra. Nó lùi lại.
                - Đích nó rồi.
                - Đánh bỏ mẹ thằng Việt gian đi.
                Họ ngửa mặt nó lên. Một ông ké lấy trong bếp ra một thanh củi xông lại, mắt căm hờn.
                - Mày chết với ông. Mày dẫn Tây vào để nó chặt đầu con ông. Cả những thằng giặc kia nữa, để chúng nó làm gì?
                Ông ké vung thanh củi, tàn bay lấp loáng. Bọn tù binh giạt cả ra một bên. Một đội viên giữ cụ lại. Ông ké xô anh, quát:
                - Để tôi phang cho nó một cái. A, anh là anh Triều phải không? Anh là cháu nó, anh định bênh nó phải không?
                Các bà ké, các phụ nữ, cả bà ké chủ nhà cũng loay hoay đi tìm một cái que, một cái gậy. Một bà ké tay cầm con dao quắm, khóc nhếch nhác:
                - Mày đốt nhà tao. Mày bắt cháu tao. Cháu tao đâu?
                Mọi người:
                - Các anh để cho chúng tôi giết nó. Ừ những thằng giặc Pháp kia, chúng nó không máu mủ gì với mình, chúng nó ác đã đành, còn mày sao mày chó má thế được. Băm vằm nó ra. Chính phủ hỏi tội. Chúng tôi xin chịu.
   
                Một trung đội trưởng đứng ra giữa mọi người. Anh nói:
                - Xin bà con để cho tôi nói. Tôi cũng là em họ nó. Trong số anh em chúng tôi, có nhiều người có họ với nó. Không phải là chúng tôi bênh nó dâu. Chúng tôi cũng muốn giết nó. Nhưng tội trạng của nó, phải để Chính phủ xử.
                - Phải giết ngay nó đi. Nó đã đi dự hội nghị Sài Gòn! Nó với thằng Hai Tu, phải đem chôn sống chúng nó đi!
                - Nó đã giết hại bao nhiêu đồng bào!
                Họ xô cả lại phía tên Việt gian. Anh trung đội trưởng nói:
                - Tội ác của nó còn nhiều nữa. Thế nào những thằng bán nước cũng phải đền tội.
                - Nó phải đền tội ngay bây giờ! Anh để chúng tôi đánh chết nó đi.
                - Chúng ta phải đợi lệnh Cụ Hồ chứ?
   
                Họ lùi cả lại. Ông ké ngồi xuống, rúi thanh củi vào bếp. Các bà ké gục đầu khóc. Ông ké nói:
                - Chỉ sợ Cụ Hồ tha thôi!
                - Tùy người Cụ Hồ tha. Những đứa bán nước hại dân thì Cụ Hồ không tha. Chúng ta cứ đợi lệnh Cụ Hồ. Bà con cứ bình tĩnh.




(1). Ca dao của trung đoàn đánh Khâu Luông.
(2). Le Page.
(3). Tiểu đoàn nhảy dù.
(4). Rhin.
(5). Charton
(6). Tức 477
(7). De la Beaите.
(Cool. Bài hát Hò dân cày của Văn Chung
(9). Pignon, Paris, Constant, Carpentier
(10). Thuật theo báo Tiến mạnh của tiểu đoàn...
(11). Hạ khí giới!

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2017, 08:29:29 pm »

VI

                Giặc chạy Thất Khê. Giặc bị chặn đánh. Giặc về Na Sầm. B.C.C.P. quỳ xuống hàng. Bộ đội vào Đồng Đăng. Công-tăng bỏ Lạng Sơn, chạy lấy người, bỏ hàng kho võ khí, hàng kho quân trang, bỏ cả xe cộ, bỏ cả giấy má, bỏ cả Việt gian, bỏ cả âm mưu nặn xứ Nùng tự trị, bỏ cả chó béc-giê. Giặc rút về Cao Lộc. Giặc bỏ Lộc Bình. Giặc chạy về Đình Lập. Giặc rút về Móng Cái. Hải Phòng xôn xao. Hà Nội nhớn nhác. Dân chúng nội thành tích trữ gạo. Dân chúng chạy ra vùng tự do. Các-păng-chi-ê bị cách chức. Pờ-lê-ven(1) báo cáo cuộc thất bại thảm thương trước Quốc hội Pháp. Pa-ri truy điệu đoàn quân viễn chinh tử trận. Ô-ri-ôn(2) xin lỗi chúa Ma-rốc về nông nỗi để mất hai tiểu đoàn Ta-bo và hứa báo thù! Và giặc rút Thái Nguyên!

                 Máy bay muối mặt cố làm mờ bầu trời quang đãng của quân dân Cao Lạng. Cố ngăn cản những ngày hội chiến thắng của ta mở tại khắp nơi trong miền mới giải phóng. Cố tàn phá những thành phố, những đô thị đã được trở về Tổ quốc. Cố giết hại dân ta, ngay giữa lúc chúng ta trao trả tù binh cho chúng nó.

                 Những chị dân công gày gò, nhỏ bé, khiêng những tên Tabo, Bép, lê dương to xác, qua những đèo, những suối về Thất Khê, ngước mắt hiền lành nhìn đoàn máy bay lượn trên đầu. Rồi những tiếng bom nổ, tiếng liên thanh bắn rất lâu. Các chị ngơ ngác. Các chị lại khiêng cáng đi. Bọn tù binh có tên nhắm mắt lại, có tên nhìn đâu đâu, có tên nhìn các chị muốn ngỏ ý xin lỗi. Tiếng oanh tạc lại gần hơn nữa. Bọn tù binh không chịu nổi sự tàn nhẫn của chính người nó, nhao nhao lên:
                 - Treo cổ những thằng phi công chó đểu ấy lên!
                 - Treo cổ chúng nó lên!
                 - Nó không những là kẻ thù của các anh, các chị, mà nó chính là kẻ thù của chúng tôi. Chính cái thằng A-li-úc nó ton hót với cấp chỉ huy của các anh, các chị, đề nghị để chúng tôi ở lại, còn cho nó được về với gia đình nó. Bẽ mặt cho nó là cấp chỉ huy của các anh, các chị lại không nghe nó!
                 - Treo cổ thằng A-li-úc lên!
                 - Treo cổ tất cả những thằng A-li-úc lên!
                 - Về Hà Nội, chúng tôi sẽ đập ba toong vào mặt chúng nó. Một đêm tới Thất Khê, chúng thấy dân chúng tới thăm, tặng kẹo, bánh, thuốc lá. Chúng dự buổi lửa trại liên hoan với dân chúng. Phụ lão, bộ đội, trẻ con, đàn bà, Hoa kiều, người Kinh, người miền núi, trà trộn với tù binh, tất cả các giống người. Giữa những âm thanh của ca nhạc, do một đoàn nhạc sĩ biểu diễn, tiếng hát của các em thiếu nhi và các chị phụ nữ bật nổi lên, giọng trong vắt, hát không đúng điệu lắm. Đã ba năm nay, bà con đã phải hát thầm những bài ca cách mạng! Một lính Đức đứng lên hát một điệu Đức. Rồi Hung, rồi Áo, rồi Thụy Sĩ, rồi Ba Lan, rồi Ý, rồi Tây Ban Nha, rồi Ta bo, rồi Pháp, nối nhau hát những bài ca không biên giới. Tù binh về, thao thức suốt đêm. Sáng sớm, một chị cứu thương nói được tiếng Pháp đến băng bó một lần cuối cùng cho một tù binh. Chị hỏi:
                 - Anh có ngủ được không?
                 Hắn lắc đầu:
                 - Cảm động quá. Tôi không sao ngủ được.
                 Một tên cụt tay, ngồi bên, hỏi chị:
                 - Sao các chị tốt thế? Sao các chị lại khiêng chúng tôi?
                 Chị đang tươi cười, mặt chị nghiêm hẳn lại:
                 - Sự thật là chúng tôi thâm thù các anh. Nhưng các anh là bại binh rồi thì chúng tôi đối đãi thế. - Nói xong, chị lại cúi xuống băng bó cho tên tù binh kia.
                 Tên tù binh cụt tay cúi đầu. Một lúc lâu hắn nói:
                 - Chị nói đúng lắm. Chúng tôi cũng nghĩ nhiều. Tôi tiếc rằng tôi cụt, nếu không, tôi sẽ xin ở lại chiến đấu bên các chị. Tôi không ngờ. Tôi thật không ngờ. Tôi tiếc những việc tôi đã làm. Nhưng đã muộn rồi!
   
                 Chị đã biến vào đám đông. Ngoài sân bay, máy bay đã hạ cánh. Trong này, tù binh còn tíu tít hỏi chuyện các chị, các anh dân công. Chúng viết thư cho những người đã khiêng chúng mà lúc ấy vắng mặt. Chúng thuật trên giấy những tội ác của đoàn quân viễn chinh Pháp. Chúng chia nhau quà bánh, thuốc lá. Chúng chìa tay nhận mỗi người một món tiền của Chính phủ ta gửi cho. Máy bay sắp cất cánh, một lính Pháp mải nói chuyện với một dân công, tất tả chạy đi nhận cái phần của hắn.
                 - Để tôi mua bàn chải và thuốc đánh răng. Đợi bọn chỉ huy ở Hà Nội phát các thứ này, thì đến bao giờ? Chào nhé. Chào nhé. Chào nhé.
                 Qua mỗi người, hắn lại chào. Đến người cuối cùng thì tiếng hắn rung lên.
   
                 Máy bay đã rời khỏi đất. Những khăn mùi soa vẫy tới tấp về phía dân chúng. Đã xa và cao rồi, mùi soa còn vẫy. Một ông ké, vai đeo ba lô, vừa đi vừa nói:
                 - Ngày mai thằng Tây Hà Nội lại lên ném bom. Đéo mẹ chúng nó!
                 - Thế tù binh ta đâu? - Đấy là lời một anh dân công đang hý hoáy thu dọn cái cáng tre.
                 Dân chúng Thất Khê gọi nhau đào hầm léo nhéo.

*
*   *

                Chiến thắng lên như nước vỡ bờ.
                 Tin giải phóng các đất đai mới, các thị trấn mới, truyền đi.
   
                 Các ủy ban chiếm lĩnh đô thị lên đường vội vã. Các ủy ban thu dọn chiến trường đi gấp. Trạm tiếp nhận tù binh không ngớt hỏi cung những tên mới đến. Các ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, bấy lâu rúc rừng, rúc núi, lục tục kéo ra, lủng củng giấy tờ, máy chữ, ba lô. Bộ đội vẫn mải mê truy kích giặc, tiếp sức cho những bộ đội du kích địa phương tỉa đánh. Những bộ phận được nghỉ ngơi nhóm những hội nghị kiểm thảo sơ kết trận đánh của mình, từng tổ, từng tiểu đội, từng trung đội, từng đại đội. Huấn luyện những anh em trong hàng ngũ Pháp tình nguyện ở lại với bộ đội. Bộ đội tổ chức những buổi ca nhạc, những tối kịch cho dân chúng. Các chiến sĩ gánh những gánh lúa nặng trĩu, óng ánh vàng, rào rào như gió thu, về cho bà con.

                 Một hôm, bộ đội tíu tít như gà tìm chuồng.
                 - Làm cái gì mà ồn lên thế?
                 - Không ạ, Đấy, cậu thích cái bút máy của mình thì mình cho cậu, cậu nhường cho mình đi.
                 - Kiếu thôi. Bút máy thì rồi tớ cũng mua được.
                 - Tớ lạy cậu.
                 - Tôi cũng lạy anh.
                 - Đã bảo mà. Đánh thắng là thế nào cũng được gặp mà.
                 - Vừa mới ăn bò khao xong.
                 - Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ!
                 - Chiến thắng tuyệt thật!
                 - Cũng là nhờ nhịn đói khỏe!
                 - Tề chỉnh một chút nào, cậu!
                 - Bác không cần hình thức đâu.
                 - Thắng thì cũng phải thế nào chứ lị!
                 - Để cho tôi đi. Từ ngày tôi vào bộ đội, tôi chưa đề nghị xin xỏ cái gì bao giờ.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Ba, 2017, 08:35:21 pm gửi bởi loiho000 » Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2017, 08:31:24 pm »

                Đội viên, cán bộ sửa soạn như ngày Tết. Nhưng Bác giản dị như một ngày thường. Ô tô sình sịch.
                - Đấy! Đấy!
   
                Các chú nhìn ra đường. Không phải Bác. Bác đi bộ tới giữa lúc các chú không ngờ. Vòng người đang rộng bỗng hẹp lại, hẹp lại. Tiếng hoan hô chạy vòng trên đầu. Mũ ca lô tung lên. Đầu súng nhấp nhô. Kiểng chân, xô cả vào người trước. Lại những tiếng hoan hô. Bác không đứng trên diễn đài. Bác di thẳng xuống bãi cỏ. Bác không đội mũ. Mặt Bác xạm phong trần. Đầu hoa râm đã bạc nhiều. Bác mặc áo hở ngực. Quần Bác nhàu. Chân Bác đi dép cao su trắng, đứt quai sau.
                - Ồ! Bác không đeo kính.
                - Bác cũng quàng khăn mặt như ta thôi.
                - Tưởng cụ Chủ tịch thì ghệt phải cao ngập đầu gối!
   
                Bác đi đi lại lại. Bác hỏi các chú có mệt không, có khỏe không. Bác bảo các chú ngồi xuống kẻo mỏi. Bác hỏi các chú có ỉa bậy không.
                - Thưa Bác không.
                Bác nhìn về phía có tiếng trả lời. Bác hỏi:
                - Có thật là không không?
                - Thưa Bác có đấy ạ.
   
                Bác khuyên các chú không nên tiếp tục việc phản vệ sinh ấy. Dân người ta kêu. Mà việc ấy không xứng với bộ đội.
                - Có đúng không?
                - Thưa Bác đúng ạ.
   
                Bác nói chuyện vui. Bộ đội cười. Khi Bác thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú, các chú thốt nhiên im lặng. Bác nhắc ngay đến thương binh. Bác khuyên phải thu dọn chiến trường ngay, chôn cất tử thi, kẻo sinh bệnh tật. Bác chạm vào chân chú này. Bác đứng trước mặt chú kia. Các chú sinh bạo, nhao nhao xin nói. Bác hỏi một chú ngồi đằng sau, trong bóng tối. Bác hỏi vì sao ta chiến thắng to. Chú nói vì cố gắng. Chú nói vì kỹ thuật tiến bộ.
                - Thưa Bác, cháu có ý kiến, vì nhân dân ạ.
   
                Bác quay lại xem chú nào. Bác khen nói đúng. Chú rú lên vì các bạn chung quanh cù nách. Bác nói về nhân dân. Lời Bác rung lên khi Bác nói đến những nỗi khổ của nhân dân, đến những hy sinh lớn lao, những đóng góp vô lượng của nhân dân, đưa lên cho Chính phủ từng hột cơm, hạt gạo để Chính phủ đánh giặc. Bác nói thêm rằng ta thắng lớn vì chỉ huy sáng suốt và kiên quyết. Bác khuyên các chú phải kính dân, yêu dân, tin dân. Bác khuyên các chú phải triệt để chấp hành mệnh lệnh. Bác phê bình kỷ luật chiến lợi phẩm không nghiêm của một vài cá nhân và đơn vị.
                - Phải biết tiếc chiến lợi phẩm. Nó là xương máu của chiến sĩ. Đừng có như chú nào Bác gặp hôm qua làm gà mà đốt bốn ngọn nến. Thế là phí. Các chú nên nhớ rằng, nước ta nghèo, dân ta khổ, chúng ta không được phí
                Các chú bấm nhau:
                - Chết chưa. Chết chưa. Trúng tủ nhớ.

                Bác nói về cán bộ:
                - Cán bộ phải thương yêu đội viên. Nhất là chính trị viên, phải là người chị, người anh, người bạn, người mẹ của đội viên, phải hằng ngày trông nom đội viên, từ cái ăn, cái ở, khi tập luyện, khi mệt mỏi, ốm đau. Mà phải gương mẫu. Đừng có như cái chú chính trị viên nào mồm thì nói phải giúp dân, bắt đội viến quét tước, mà mình thì đi nằm.
                Các chú nhảy lên, vỗ tay.
                - Bác mà làm chính trị viên đại đội mình nhỉ.
                Bác quay về phía cán bộ:
                - Có đúng không?
                Cán bộ cười, nhìn nhau, bấm nhau. Mặt Bác hiền từ:
                - Chú nào có cái tật ấy thì vứt nó đi. Cán bộ phải coi đội viên như tay chân. Đội viên phải coi cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì đánh đâu thắng đấy.
   
                Bác nói đã nhiều. Bác không uống nước. Bác hôm nay không ho. Bộ đội còn muốn nghe. Vòng người khép chặt lại. Bác đem vài món quà tặng cho cá nhân nào xuất sắc nhất. Bộ đội yêu cầu Bác cho xem trước. Bàn tay Bác gày gò chìa cho mọi người xem ngôi sao xinh xinh, đỏ thẫm, lóng lánh như ngọc, lóng lánh như mắt các chú trố to nhìn lên. Bác ngồi xuống cỏ, trước các chú. Các chú lần lượt ra trước mặt Bác hứa cố gắng giết giặc, nghe lời Bác dạy. Một đội viên biếu Bác cái hộp mề đay của giặc mà anh chiếm được khi xung phong đầu tiên vào nhà chỉ huy của A-li-úc. Một chú đứng sau nói:
                - Thưa Bác, Bác cho chúng cháu biết hộp gì đấy ạ.
                - Các chú lại bắt Bác báo cáo nữa!
                Bộ đội cười ầm ĩ, khoái trá. Bác giơ từng chiếc mề đay cho mọi người xem.
                - Thưa Bác, chúng cháu chưa trông rõ ạ.
                Bác giơ cao hơn. Các chú cười sung sướng, ôm nhau, nghiêng ngả. –
                 Thôi, đừng bắt Bác giơ mãi, Bác mỏi tay.
   
                Thốt nhiên im lặng. Bác chạy ra hôn người chiến sĩ cụt tay đã làm cho giặc bạt hồn, một thanh niên gày gò, đang đứng trước Bác hứa quyết tâm chiến đấu. Đầu bạc của Bác sát đầu xanh của người chiến sĩ, tay áo sơ mi lòng thòng quờ quạng bên sườn Bác.
   
                Người chiến sĩ trở về chỗ cũ. Tiếng vỗ tay của bộ đội, núi sau vang vọng lại. Bác đứng lên từ tạ ra về, và nói:
                - Bây giờ thì Bác bận, không thể ở lâu với các chú được. Vậy Bác chúc các chú khỏe và cố gắng. Cố gắng luôn luôn để khi Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh, đánh là được.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2017, 08:33:54 pm »

                 Bội đội lại vận động đi...

                 Cao Bằng ngập lụt. Dân công đang quét dọn. Nậm Nàng, nơi Sác-tông đốt đoàn xe của nó, các anh tài xế đang hí hoáy chữa, lắp bộ phận máy nọ vào bộ phận máy kia, và đã cho chạy được sáu chiếc. Đông Khê tàn phá không một bóng cây. Một vài tù binh Đức, Ý chạy đi chạy lại. Bông Lau, quãng đường hiểm trở, chật ních những xác xe đổ trong trận phục kích ác liệt năm xưa. Thất Khê xinh đẹp giữa một thung lũng lúa chín vàng. Đồn Khâu Trích, Chấp Giao trên đỉnh núi, đàn quạ đông tụ tán. Miếu Quan Đế đã được gỡ ra khỏi hàng rào dây thép gai trói chặt. Đêm đêm xe chạy, gọi nhau ấm ớ, người xuống người lên. Mấy anh sốp phơ hàng bình Âu líu tíu. Con đường số Bốn thênh thênh, lỗ chỗ vết giày đinh của bộ đội, những giấy gói đồ hộp, mẩu thuốc lá bết xuống đất. Hai bên đường, toàn bụi cỏ um tùm. Ruộng đã bỏ đấy ba năm. Dân chúng trở về. Em nhỏ chạy lon ton.
                 - Thích quá! Lại gặp mày. - Tiếng kêu của anh đại đội trưởng bộ binh, người lùn tè, đeo chiếc kiếm dài, khi gặp anh đại đội trưởng pháo binh, đeo kính trắng.
   
                 Bộ đội nghỉ. Anh cán bộ bộ binh chỉ lên núi, chỉ lên đồi, chỉ xuống đường, chỉ lên trời, cười tít mắt.
                 - Rộng quá. Của chúng ta hết. Có thể từ đây đi thẳng Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa. Tao có cảm tưởng rằng gió này thổi tới tận Mạc Tư Khoa, và gió từ Mạc Tư Khoa thổi tới tận đây. Gió dân chủ sướng quá.
   
                 Họ nhìn lên trời, lên núi, lên đồi. Bộ đội cũng nhìn theo. Lừa lại bắt đầu đi, ba thồ lênh khênh, tiếng kim khí lanh canh, tiếng guốc sắt rít rít. Hàm vỗ mông lừa giục:
                 - Nhanh, nhanh.
   
                 Lời Hàm vẫn lè nhè, nhưng bước đi gọn.
                 ... Bình Gia, cái phố nhỏ bên suối. Đoàn ngựa của nhà buôn đi thủng thẳng. Bắc Sơn, thung lũng đỏ như son. Với tấm lòng son của những anh hùng khởi nghĩa mười năm xưa. Các em đi học chạy tung tăng. Vũ Lễ, một khu rừng cháy, cây là những thỏi than vĩ đại. Con suối chảy róc rách bên một phố vắng người. Đá to dưới suối cùng đàn trâu trên bờ một màu. Các nhà trong phố đã xếp dọn gọn ghẽ. Phố này, toàn là những người đàn bà Cao Lộc, Lộc Bình di cư tới, làm máng, làm nương, sống hiu hắt, sáu năm nay. Họ đi ăn tiệc liên hoan với bà con địa phương để ngày mai về đất cũ. Một bà cụ tám mươi tuổi nói:
                 - Khi chạy giặc, dắt cả trâu lẫn trẻ. Trâu cũng chết nhiều mà trẻ cũng chết nhiều. Bây giờ cũng hãy còn có trâu, có trẻ, nhưng ít thôi.
   
                 Máy bay giặc khủng bố các thị trấn, các đường giao thông. Nhưng giặc vẫn rút Hoà Bình. Hành lang đông tây bị chọc thủng. Tiếng máy bay như tiếng kêu tuyệt vọng của bầy giặc điên.
                 Cửa khải hoàn rồi lại cửa khải hoàn. Biểu ngữ rồi lại biểu ngữ:
                 - Hoan hô các chiến sĩ dân công!
                 - Dành gạo cho bộ đội.
                 - Pây vận tải se khả sắc(3).
   
                 Một cái biểu ngữ đồ sộ trên đỉnh đèo Trám. Trước người ta đề:Hoan nghênh Đông Khê giải phóng. Sau lại được tin giải phóng Cao Bằng, họ viết thêm Cao Bằng bên Đông Khê. Rồi nhiều nơi khác được thu hồi. Người kẻ đành dán lên hai tiếng hoan nghênh và giải phóng một tờ giấy khác viết chi chít: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, v.v... Mỗi thứ chữ một kiểu, một thứ mực, tùy theo hôm nhận được tin.
   
                 Nhiều biểu ngữ tương tự. Có cái đã ghi thêm Lào Cai. Có cái đã ghi thêm Hòa Bình. Có cái, tác giả dành hẳn một khoảng trắng dài ở dưới để điền thêm.
   
                 Giặc đang cố tăng viện. Súng và tàu bay của Tờ-ru-man(4) tải sang thêm. Gian khổ còn nhiều.
                 - Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh, đánh là được.
                 Bộ đội đã nghe rõ Bác Hồ.
                 Trên khoảng trắng dài kia của biểu ngữ, tác giả sẽ còn điền thêm nhiều tên đồn, huyện, tỉnh, thành phố, đường xá, hải cảng sắp thu hồi. Và nhất định, tác giả còn phải dán lên nhiều lần giấy nữa, để một ngày nào đó, không xa lắm, nhưng còn mang theo nhiều đau thương, tang tóc, anh chỉ cần viết gọn hai tiếng Việt Nam.


12- 1950



(1). Pléven.
(2). Auriol.
(3). Đi dân công để giết giặc.
(4). Truman.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #24 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2017, 10:10:36 pm »


NHẬT KÝ CHIẾN DỊCH

                 Rút từ sổ tay của Nguyễn Huy Tưởng những ngày tham gia Chiến dịch Biên giới, bắt đầu từ 14 tháng 7 năm 1950 - ngày tác giả “lên đường ra mặt trận một buổi trưa nắng dữ” và kết thúc ngày 7 tháng 11 năm 1950, tác giả kỷ niệm 11 năm ngày cưới của mình bằng một quyết tâm: “Ta nhất định phải có tác phẩm cho kháng chiến, cho chiến dịch”.

GHI CHÚ

                  - Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng về cơ bản được giữ nguyên như đã từng được tác giả viết ra trong suốt thời gian đi chiến dịch.
   
                    - Trong sổ tay của tác giả, có rất nhiều chỗ được viết tắt vì nhiều lí do: Để bảo đảm nguyên tắc bí mật, để viết cho kịp lời kể hoặc đơn giản là để tiết kiệm giấy mực. Nay xin chuyển thành cách viết đầy đủ để bạn đọc tiện theo dõi.
      
                    - Các chú giải của người biên soạn được đặt trong ngoặc đơn và in nghiêng ngay sau văn bản của tác giả (để phân biệt với những chỗ tác giả cũng sử dụng ngoặc đơn trong nhật ký), hoặc được đánh số và đưa xuống cuối trang.
      
                    - Những chữ có thể tác giả viết nhầm hoặc đề nhầm ngày ghi nhật ký (hoặc có khả năng bị đọc nhầm do mờ, thiếu nét...), được kèm theo dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn (?).
      
                    - Những chỗ lược bớt vì một lý do nào đó, được ký hiệu dấu chấm lửng đặt trong ngoặc đơn (...).
      
                    - Một số chỗ xét thấy cần thêm vào nhằm làm rõ ý tác giả và giúp cho bạn đọc dễ theo dõi, được đặt trong móc vuông [].
      
                    - Phiên hiệu của các đơn vị quân đội được giữ nguyên như sau: a - tiểu đội; b - trung đội; c - đại đội; d - tiểu đoàn, e - trung đoàn; f- đại đoàn.
      
                    - Trong quá trình làm công việc biên khảo phần nhật ký này của Nguyễn Huy Tưởng, người biên soạn đã nhận được sự chỉ dẫn, góp ý quý báu của nhiều vị lão thành, trong đó có những người đã trực tiếp tham gia Chiến dịch Biên giới. Chúng tôi xin chân thành cám ơn và mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị bạn đọc, đặc biệt là về những sai sót có thể có do hạn chế của người biên soạn.
Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2017, 10:18:56 pm »

14-7-50

                 Lên đường ra mặt trận một buổi trưa nắng dữ. Từ biệt Thi. Dùng dằng với Kim(1). Cùng đi: Nam Cao, Nguyên Hồng, Lưu Hương, Văn Cao. Tối tắm rửa nhà thím Hằng. Bữa cơm ngon. Uống nhiều chè tàu, không ngủ được.
                  Chưa biết làm gì. Đầu óc lung tung.


(1). Kim là bí danh của Hoài Thanh.

16-7-50

                  Đến Lợi(1). Vui vẻ. Đổi ba lô da, tuy không thích ba lô da. Gặp Phương Mai, Hồng Trang(2), chị Hảo. Tán phét. Tin Triều Tiên đánh mạnh: Mỹ nói khó đánh, vì khác hẳn với quy luật chiến tranh. Trường Chinh làm conférence de presse (họp báo). Gắn liền cuộc chiến đấu của Cao Ly(3) với cuộc chiến đấu của Việt Nam.
                  Gặp Lành. Quốc tế phê bình Đảng mình còn nhiều tác phong phong kiến, ít chú ý đến đời sống của nhân dân. Đúng.


(1). Lợi: Lưu Văn Lợi, người bạn thân thiết của Nguyễn Huy Tưởng, bấy giờ công tác ở Phòng Địch vận thuộc Cục Chính trị.
(2). Hồng Trang: Cán bộ phụ nữ, có quan hệ khá gắn bó với Nguyễn Huy Tưởng.
(3). Trước đây, người ta thường gọi Triều Tiên là Cao Ly.


17-7-50

                 Đi với Đạo(1). Vững tâm. Đeo bao gạo, mang muối.

                  Gặp Cương. Thương quá. Hỏng một phổi. Một phổi bắt đầu đau. Đau tim. Tràng nhạc đang phát. Lương 3000 [đồng]. Con gái Tú Anh. Lo cho con. Không ăn được. Ngủ ít. Đêm dậy thắp đèn. Ho, mồ hôi trộm. Mặc áo ấm luôn giữa mùa hè. Mỗi khi ho, uống nước vì khan cổ quá.
   
                  Đẹp. Mắt đẹp. Thanh tú quá. Thương. Biếu 1000. Cương nói: Anh ở nhà thì xin nhận, nhưng đi đường tốn. Vẫn cứ cho.
                  - Trời nắng quá. Qua C.C. (Chợ Chu) gặp bọn Trang. Không thú mấy, lạc với Nguyên Hồng. Qua suối, thác cuốn. Đường hoang vu. Nghe suối chảy ầm ầm là sợ. Cả ngày không ăn, nhưng đi nhanh. Đêm tối, không trông thấy gì. Thấy ruộng vui, nhưng lại lạc vào rừng. Chân đau không biết. Lưu Hương cởi truồng qua suối, đi trên rừng chon von như Tarzan. Hỏi mình có thiếu gì thì biếu vì mình ướt. [Đồng hồ] Movado không việc gì.
                  Thấy lửa. Vào. Một nhà miền núi nghèo. Nấu cháo. Vắt cắn d… Quần đùi ướt như thấy tháng. Một đêm ngủ được.


(1). Có thể là Lê Quang Đạo, bấy giờ là Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị, Phó chủ nhiệm Phòng Chính trị mặt trận.

18-7-50

                 Không có đường. Toàn đi đường piste (đường mòn). Mệt lử. Đầu gối không chịu đi.
                  Đến C.M. (Chợ Mới). Trông thấy đường nhựa, vui quá. Cảm thấy vất vả. Một vai gạo, một vai túi sách, lưng ba lô da. Ghét thằng Tây quá. Vui gặp Nguyên Hồng. Cà phê Trâm ngon.
   
                  Cùng Nam Cao nói chuyện về các lãnh tụ. Méconnaissance totale de Văn nghệ (Hoàn toàn không hiểu gì về văn nghệ). Không thích cách bợ đỡ, xum xoe chung quanh. Các lãnh tụ chụp ảnh nhiều. Trong khi các lãnh tụ Tàu giản dị.

                  Dọc đường một biển đề (kẻ): Đồng bào thôn Na Ráo phục hồi rẫy cũ 1947.
   
                  Đêm trằn trọc thương Cương.


19-7-50

                 L.H. khụng khiệng, nói toàn giọng Nguyễn Dinh Thi. Khinh bạc. Chuyện xây dựng con người, cậu, mình, v.v... Nam Cao và Nguyên Hồng đều không thích. Đến đâu, gục đầu vào ăn. Lười, không chịu làm gì cho đoàn. Yêu cầu cho làm việc nhẹ vì người mệt lắm.
                  Văn uể oải không muốn đi nữa. Trông như cờ bạc bịp.
                  Đi mệt. Nắng to. Đường không một bóng cây. Cùng Nam Cao nói chuyện về mấy ông T.V. (Thường vụ) (...)
                  Suối trong mát như nước đá. Đau cổ muốn sốt. Ngủ một giấc ngon ít mơ. Văn và Lưu tầm quất cho nhau và nói chuyện tếu với nhau.
                  Quí đức độ và sự cẩn thận của Nam Cao. Thấy Đ. hẹp hòi về phương diện đàn bà.


20-7-50

                   Lại qua Bắc Kạn. Một buổi sáng. Có cái thú đi trên đường nhựa như một buổi sáng ở tỉnh. Nhà cửa trống. Vẫn những cây thông trên đồi. Hàng quán lơ thơ. Cầu phà bị phá.
                  Đến ngồi ở một hàng chỉ bán bánh giò, cạnh cầu phà. Ở đây đã có vết ô tô. Hình như có 4 chiếc chở hàng cho Chính phủ. Anh chủ quán, một thanh niên, khoe có 2 chiếc ở biên giới sang.
                  - Lo, không biết viết gì.
                  - Bộ đội đã bắt đầu tiến lên. Cán bộ tếu nhiều. Ý thức bí mật ít.
                  - Nam Cao: (...) Thiên hạ sai cả, bọn văn nghệ sĩ sai ít, nhưng chính vì thế mà thiên hạ bảo nó sai.

20-7-50 (?)

                 Đợi ô tô. Tối L.L(1) xách cặp đi. Nghe đâu chuyến này có cả VNG(2).
                  Ăn cơm nhà một hàng. Vợ chặt giang làm giấy ở Chợ Chu, bị giang bắn vào con ngươi. Lòa mắt. Chồng hút thuốc phiện: Ngượng mặt quá. Nơi này tứ chiếng: Có cả người ngồi uống rượu trong hàng


(1). Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch.
(2). Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Tổng tư lệnh, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Chiến dịch.


21-7-50

               Sáng, một người chạy vào hỏi những người đi C.B. (Cao Bằng). Tếu quá. Nguyên Hồng rất lấy làm xót xa.
                  Một trung đội vận tải đi qua, gánh sọt, nửa dưới bọc lá gồi khô, lộ bát, chăn, v.v... Có cả bó rau. Sọt thì ngụy trang lá đã khô, sọt thì lá còn tươi như cây mọc. Trung đội trưởng chít khăn trắng, đeo kính đen, tay đeo đồng hồ tập hợp [bộ đội] ngoài đường, dặn muốn đi đâu phải xin phép tiểu đội trưởng. Giải tán chưa biết chào. Một bà già gánh rau qua. Họ xúm mua.
   
                  Đều là thiểu số. Đội nón ăn chúp(1), có người khăn xanh bạc. Trẻ có, đứng tuổi để râu có. Họ ngồi trên nón ăn bánh tẻ.
                  Rồi lại một trung đội khác đến.
                  - Đoàn vận tải. Có người phàn nàn phải đem gạo nhà đi. Một người nói lên trên kia có lương của Chính phủ. Một người nói: Khối đấy! Người ta nhao nhao phản đối. Có người ngoài nói: Các ông nên ăn sớm rồi đi thì hơn. Một người vận tải nói: Chúng tôi làm gì có quyền. Trung đội trưởng nói: Thế nào gọi là tập trung?
                  Viết thư cho Lành. Làm nghịch một bài thơ cho Kim:


   Nhật mộ tòng quân đăng Chợ Mới
   Mang mang cố hữu mộng trung không.
   Hồi đầu thâm ức Hoài Thanh diện
   Huy thủ cao đàm Anh Nghĩa(2) phòng.
   Tố Hữu dĩ thừa Tuyên huấn vụ
   Xuân Sanh nan xuất kiểm tra lung.
   Thử phiên phục vụ Cao Bằng dịch
   Sáng tác thời lai ý khí hùng.


(1). Một loại nón của người Tày (tiếng Tày, ăn có nghĩa là cái, chúp là nón).
(2). Huy là Nguyễn Huy Tưởng, Anh Nghĩa là Nguyễn Đình Thi.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2017, 10:28:04 pm »

22 - chiều

                 Dạo chơi Bắc Kạn đêm trăng. Nam Cao nói: Chúng mình bây giờ có tiến, và gần như độc tôn, đã thay thế cho Tự lực văn đoàn rồi.
                  Một người đàn bà gánh gạo nhanh nhảu cho ngủ. Nói chuyện về những ngày Bắc Kạn giải phóng. Qua những nhà Pháp ở, ghê ghê.
                  Gặp chủ quán Phủ Thông. Biết mình hồi trước khi giặc nhảy dù. Ragout (ragu), xúc xích bò.
                  Bộ đội địa phương tấp nập sửa soạn ngày xuất phát. Trang hoàng trụ sở. Ăn: mỗi người một nắm. Với măng. Uống nước lá ổi. Áo chàm bên áo nâu. Có người trông nhanh nhẹn. Có người hát và nói cả hai tiếng văn nghệ. Xà cột, đẫy chàm, ba lô. Mũ nâu có lưới. Hút thuốc lá. Một người quạt. Một người đứng gãi trước cổng lá có hoa đỏ trang trí
                  - Viết thư cho Cương.
                  - Tối đợi ô tô dưới ánh trăng. Đã bốn năm lại trông thấy ô tô, không có cảm giác gì lạ. Thường. Bọn tài vẫn thế. Chen chúc chất như đồ hộp. Một người thanh niên nói chuyện Triều Tiên(1). Nehru(2) đề nghị đứng ra trung gian. Một phái đoàn Mỹ tới Saigon(3). Ngủ la liệt. Đoàn xe bò đi về. Dân công(4) hát.
                  Bọn tài vứt mình xuống Nà Pạc. Mưa. Không có hàng. Tới nhà Công chính. Bộ đội ngủ say trên giường, trên ghế, dưới đất, hoặc màn hoặc không. Mỏi. Lưu Hương tìm một chỗ tốt nhất nằm trước. Ngủ tới gần 9 giờ sáng. Bọn Tấn râu vào tìm. Họ đi trước mấy hôm nay vẫn còn ở đây. Đợi ô tô.


(1). Cuộc chiến tranh Triều Tiên giữa hai miền Nam - Bắc (1950-1953).
(2). Jawaharlal Nehru (1889-1964); Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ (từ 1947).
(3). Trong cuốn Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975) (Nhà xuất bản Giáo dục, 2003) có ghi về sự kiện này như sau: "Ngày 21-7-1950, phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ tới Hà Nội” - không rõ có phải là cùng một sự kiện hay không.
(4). Nguyên văn là dân quân. Trong sổ ghi của Nguyễn Huy Tưởng, tác giả dùng phổ biến chữ dân quân và đôi khi cũng viết dân công để chỉ những người dân được huy động đi phục vụ chiến dịch. Nay xin thống nhất lại là dân công cho sát nghĩa.


23-7-50

                Không đi đường 3 bis mà đi đường số 3. Ản cơm lạp xường, dưa, măng chua ngon, chè bột báng. Mật ong. Chiều tới chợ Hà Hiệu.
                  Ở đây toàn Ngái. Màn. Có khi màn vải. Ruộm xanh. Dây màn to bản, xanh, một mặt đỏ. Chủ nhà áo chàm đang băm thịt. Người con gái bọc chuối lá, để trên cái rổ trên bếp. Một cái chảo lớn trên kiềng. Nhà lợp ngói. Phên tre dọc. Phần lớn ngang. Trước giường thờ, một cái giường gỗ có khung bóng, đồ sộ. Bàn ghế. Cối đá dài. Cối xay ngô trên giường bên những thúng mủng, thạp. Màn cái còn buông, cái vắt dở. Có cửa ra vào cài then. Dây vắt đầy quần áo chàm. Nhà làm trên đất. Nhiều ngô. Không có ảnh Cụ Hồ. Nhưng có ảnh Staline bé dán vào cột.
                  - Đường đi heo hút. Hàng chục cây số không có hàng. Dọc đường một vài cái bếp với những kiềng bằng gỗ cắm xuống đất. Tưởng tượng một thời cổ, nếu không là đường đá. Cao Bằng xa lắm anh ơi! Mưa. Noria (guồng nước) từ từ rít, như mùa đông. Năm rưỡi, ngoài đồng, trước nhà này, vẫn có người làm chưa về. Nền đất sạch sẽ. Một đôi giầy hài mũi xanh. Vài cái ống xa. Người con gái có chửa hát về đồng quê. Nhà cao lắm. Gà chiêm chiếp chiều.
                  Mưa dầm dề. Không biết làm gì. Lo cho ngày mai. Chuẩn bị gạo, đồ ăn nấu dọc đường. Vũ Cao(1) nói chuyện Cương. Nhớ và thẹn trong lòng. Người Ngái ăn nhiều, không kham khổ như ta. Mua ngô không được.


(1). Nhà thơ Vũ Cao.

24-7-50

                  Đường càng heo hút. Ám ảnh thổ phỉ. Đỗ ở một cái nhà của anh em vận tải. Sửa đường. Cầu không bắc được, người ta làm hẳn con đường lượn vòng. Gỗ ở dọc đường. Xác ô tô. Bên suối, một cái mái, trong có bễ, đe, người ta đang rèn.
                  Lên dốc mạnh. Đá cuội trắng óng ánh. Vị thế núi đẹp. Mây trắng chắn ngang sườn. Vách đá một bên. Có câu viết trên vách: Bể ái nguồn ân khôn xiết kế, Xa xôi nghỉ mát tí cô ơi. Thỉnh thoảng có vòi nước chảy bên đường, trong vách. Lắm lúc như đi vào đồn điền.
                  Mưa. Lắm lúc toàn hơi nước, xóa hết núi, lờ mờ hình đỉnh núi trong mây.
                  Chiều đến Phia Đén. Nơi nghỉ mát của chủ mỏ Tĩnh Túc cũ. Người vào đây nhiều. Có bếp lửa ấm cúng. Nhưng bẩn và dột. Có trồng thông. Có máy nước. Đêm trăng gió thổi ào ào. Sực tỉnh dậy. Ngao ngán vì đã say rượu, nói nhảm đối với Thận và Văn. Trách nhiệm đối với L.H. Không phải vấn đề ghét hắn mà là vấn đề giúp hắn tiến, nói thẳng cho hắn biết những cái xấu của hắn. Ngao ngán thứ hai: đã gây ảnh hưởng không tốt trong đoàn. Mất tinh thần vì ở nhà này người ta thổi nấu đông quá. Củi hiếm, trời mưa bão. Quyết nghị anh em người nào người ấy tự túc về ăn chiều. Hoang mang một lúc.


25-7-50

                 Lên đèo Léa: 1375 thước. Trời tạnh, gió thổi trong vắt lọt vào xương thịt. Tỉnh táo. Trời như mùa đông. Qua chỗ nghỉ mát, núi non trùng điệp, xa xa các chỏm núi biếc, gần: những đồi mamelons trụi, cỏ xanh sạch như lau. Một mảng núi xen giữa rực rỡ nắng. Dưới chân: một nhà nghỉ mát đỏ.
                  Đường đẹp. Đi lạnh. Rừng xứ ôn đới sạch sẽ. Núi cao. Phong cảnh thay đổi luôn luôn. Thung lũng sâu, thác chảy bọt trắng xóa. Ve kêu. Có chỗ núi mọc lởm chởm hình tháp bút, xanh sẫm trên những núi đồi màu mạ. Những xe bò nằm rúc trong bụi.
                  Dân chúng đang sửa đường, một khoảng lõm sâu bên cầu đổ. Trong thác, mấy người thanh niên gánh đá trên dòng nước, ra đặt lên đường. Lơ thơ vài người. Họ làm những việc đồ sộ.
                  Chiều đến Nguyên Bình. 1 đ 20 quả mận. 10 đ 8 quả mooc coọc. Mấy người Mán đỏ nhảy lấy đá ném chim. Họ đang sửa đường. Nguyên Bình: đồn phá trụi. Phố Khách. Toàn màu xanh, bày ngoài hiên các mẹt: mooc coọc, dưa, mận. Có những ghế tre lên nước bóng như ngà. Miếu Quan Đế nhà dạy học. Nhà lợp ngói đã xám. Chật chội. Bàn vuông. Có nhà gác. Bộ đội đến nhiều. Một dãy cột suốt từ đầu phố tới cuối. Những người đàn bà vạch vú [cho con bú], ngồi trên ghế dài nhìn ra đường. Một em bé đứng bán các maillot (áo may ô). Phở lạp xường. Ít rau cỏ. 360 đ một đôi vịt. Suối lượn bên phố. Lợn trong nhà, ngoài thềm. Cà dái dê tím như nhung.
                  Tối. Đàn ông ngồi trên những ghế cao trầm ngâm không nói. Ngoài phố, dưới ánh trăng, một thanh niên dạy các em Tàu hát những bài hát Việt Nam. Một thiếu nữ làm bánh rợm, đặt trên một mâm vuông đem ra bán, rồi lại thoăn thoắt bưng mâm vào. Bánh rợm tròn trông như bánh bao.
                  Có chuyện phiền trong đoàn. Không chịu đi nấu cơm với Đào. Đi ngủ sớm. Không gây được cảm tình. Ít uy tín.

26-7-50

                Từ Nguyên Bình đi Nước Hai, qua Nà Ngạn. Đường tắt, leo trèo rất khổ. Mất dép.
                  Những vách núi trông như động chùa. Có chỗ sâu hoắm vào, hai con bò nằm nhai lại. Thỉnh thoảng bên đường, một cô Mán đỏ đứng bán mooc coọc.
                  Mán áo đỏ hôm nay đi nhiều. Đàn bà mặc lòe loẹt. Đầu cạo trọc, chít khăn vành dây đen đỏ, hai bên cổ áo có những bông đỏ. Có những người hở ngực.
                  Gần Nà Ngạn. Có mương. Một công trình vĩ đại của thực dân. Trước đây có máy phát điện cho mỏ Tĩnh Túc. Lấy nước ở suối vào bể, rồi xây hẳn một lạch nước, dài ngót hai cây số.
                  Ở Nà Ngạn trọ nhà Nùng. Có vài người con gái xinh. Một người áng chừng con gái trưởng, khăn nhung, đuôi gà, nhanh nhẹn đun nước pha chè cho. Nhà sàn lợp ngói, chia hai ngăn. Một người đàn ông đang khoét gỗ làm một cái vỏ cân. Nghe nói là cân thuốc phiện. Trưa nắng hấp. Pha chè vối, trên sàn, có vẻ nhàn nhã lắm.
                  Sau trận uống rượu nói nhảm(1): Người ta lắm lúc phải làm quá đi rồi khi trở về mực thường mới khôn ngoan thêm ra được.


(1). Xem nhật kỷ 24-7-1950.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2017, 10:34:14 pm »

27-7-50

        Ở Nà Ngạn đi Sán Luồng, đi Nước Hai. Bà cụ Nà Ngạn tốt quá. Không biết nói tiếng Kinh, chỉ chỉ trỏ trỏ, ấm ớ. Thấy tôi nằm và thu xếp chỗ nằm, người con đi lấy chiếu, bà cụ ra hiệu bỏ chiếu ra, rồi đi lấy cót cuốn ở chân giường giải lên sàn, rồi ra hiệu giải chiếu lên trên. Rồi lại đi lấy sào để làm cọc mắc màn, lấy dây ngô buộc. Người con trai tôi cho quinacrine(1) lúc mới tới, biếu 4 quả trám. Chị Hoa tốt không kém, thấy khách đến đi đun nước pha chè. Bà cụ có 5 trai 2 gái. Một trai đi bộ đội. Mấy người con gái xinh, đêm nằm cười rúc rích. Sáng ra, mặc áo trắng cụt tay khêu gợi.
                - Nà Ngạn đi Sán Luồng. Vượt 4 đèo cao vút đỉnh núi, đứt hơi đứt ruột. Chửi Tây. Bộ đội tập mortier (súng cối).
                Gặp một người đàn ông Nùng, hỏi đi đâu. Nói đi chợ mua đồ ăn để các anh ăn chứ. Cùng đi với Nguyên. Nói chuyện về sự không hiểu văn nghệ của lãnh đạo. Một đám dân chúng tập hợp, toàn chàm, có cả Mán đỏ, Thổ, Nùng để đi nhân công. Nón vành to. Vài người hút pipe (tẩu) cần tre. Có người đeo hồ lô. Một thanh niên đọc tên, đứng giữa vòng người. Hỏi đường chỉ lối lên dốc. Lên dốc nhìn xuống một thửa ruộng ở bên, có một bà cụ và một người con gái rất xinh đẹp đang bừa. Bà cụ cười và nói:
                - Đường đi Sán Luồng đấy anh ạ.
                Và bà cụ cười, nhìn mãi. Nguyên vẫy mũ chào. Yêu quần chúng.
                Xa xa, dưới chân: thung lũng. Xanh núi, ruộng mạ, ruộng nâu, nhà lợp ngói xám, đen. Màu sắc rực rỡ. Tài liệu cho sơn dầu.
                Đèo cao. Đỉnh núi. Giang sơn Mán. Những người Mán đi về, áo xanh đội khăn, đầu không, cạo trọc để chỏm tóc dài, phần nhiều không biết tiếng [Kinh], đứng nép bên đường nhìn... Một anh dân công già có một hình ảnh:
                - Mán đỏ ăn mặc như phường chèo. Thấy máy bay cứ nhảy đỏ vào rừng. Ở quê ta mà ở ruộng nhô ra một nố ấy thì phải biết.
                Người Nùng văn minh hơn. Vào một nhà có ban thờ, chữ nho. Hỏi nước. Một em bé xinh xắn đi đun nước, mắt trong và mặt tươi. Khi đi, biếu một gậy trúc.
                Một anh Mán đẹp trai, đi với hai chị Mán. Nhanh nhẹn lấy nước sôi ở cái nồi nấu ngô đem ra. Hai chị Mán đi lấy ngô nấu. Anh con trai lấy ra một xâu cá con băm vụn. Các chị khăn vành dây. Đầu cạo nhẵn, khuyên to trong có mũi mác.
                Họ sống cổ sơ quá. Không có đồ vật gì của văn minh, toàn tre và đá. Trước kia Tây không làm cho họ xuống núi, mà bây giờ họ xuống làm việc với Chính phủ. Tăng gia khỏe. Có những rẫy ngô chạy từ đỉnh núi cao xuống chân. Nhiều ngô quá. Dọc đường có những người Mán bứt thân ngô tước ăn như mía.
                Tới Nà Bát. Những người Thổ gánh ngô cho Chính phủ. Có những chị xinh xinh. Bên suối ngồi nghỉ lấy thuốc lá cuốn, rồi lấy cái bùi nhùi ra bật lửa hút. Gần Nước Hai. Bộ đội nhiều. Phong cảnh đẹp. Cây xứ ôn đới sạch. Ruộng trong thung lũng xanh tươi.
                Gặp Nam Cao, Lưu Hương đi đường khác cũng vừa tới bến. Gặp hai người Thổ, nói chuyện trước phong trào Cao Bằng cao, nhưng bây giờ đã xẹp rồi.
                Tới Nước Hai. Gặp chị Tuyết, làm crème (kem) trứng tuyết. Nhiều nhãn trơ. Dưa. Vẫn rẻ, nhưng giá thực phẩm cũng cao. Hàng hóa, lơ thơ, cũng đắt.
                Gặp Cần, Hồ Phương, v.v... Cả bọn Tấn. Vui. Đêm trăng. Ăn bánh mì lạp xường quán Bằng Giang. Cháo gà. Cháo gan. Mua dầu con hổ. Định bỏ rơi bọn Đào Tùng đi với [Đại đoàn] 308.
                Một bà cho ngủ nhờ ở gian nhà không có ai. Mới mất một đứa con trai. Con gái trông giống Hiền(2) như đúc. [Cũng] Xanh xao như thế, thương con. Mẹ bà chủ nhà đã 72 tuổi. Lạc con, sau khi nghe Bắc Kạn giải phóng mới lần lên Việt Bắc tìm con cháu. Đi 3 tháng rưỡi, vì lạc đường. Có khi đi với thổ phỉ. Lạc trong rừng gianh, trông thấy cả hổ. Lạc hai ngày, gặp một bộ đội, mừng quá. [Anh] Nói: Cháu có việc cần chứ không thì cháu đưa cụ ra đường cái, nhưng cũng quay lại hơn một cây số để chỉ đường cho bà cụ. Ra đến đường cái bà cụ mới biết mình thoát chết. Hôm nay nói chuyện với cụ, trong khi cụ ăn cơm nguội, mồm móm. Cháu gái tên là Phương ngồi bên cạnh. Cảm động nghĩ đến nhân dân hướng về Chính phủ Kháng chiến.
                - Đào Tùng đến tìm. Khó chịu giữa lúc muốn tách đôi đoàn. Uống rượu với bọn 308. Đêm về địa điểm của Tùng. Biết là sẽ phải lộn về Nước Hai, nhưng cũng đi: vấn đề tình cảm!
                Nhớ Nước Hai. Một ngày rưỡi vui. Nhãn, bánh mì, cháo. Cơm cá và đậu. Gặp bạn, chuyện như pháo ran.


(1) Quinacrine: Một loại thuốc chống sốt rét, được sử dụng nhiều trong kháng chiến.
(2). Con gái đầu của Nguyễn Huy Tưởng, 8 tuổi, bị kẹt lại ở Hà Nội từ hồi đầu Toàn quốc kháng chiến.


29-7-50

               Lên đường đi Quảng Nguyên. Hàng nào cũng bán dưa. Gặp Lê Minh, tuyên huấn Liên khu Việt Bắc.
                Đường này mới đắp. Đỏ. Lên xuống đẹp. Bên đường có cây nên mát.
                Lê Minh phụ trách huyện Hòa An.
                - Hình như các cán bộ đã được phân phối. Tập trung cán bộ trung ương và khu vào tỉnh Cao Bằng để làm cho chiến dịch Cao Bằng.
                - Đường đi An Lại lầy lội, lên dốc xuống đèo. Chân đau, mồ hôi thấm áo quần.
                Chiều đến một thung lũng, sau khi qua một quán bán phở thịt lợn của một người đàn bà thiểu số. Có một người đàn ông bán ghép chuối. Nguyên gây sự với họ vì họ nghi không trả tiền.
                Sau một dãy tảng đá: một em bé Thổ - không biết tiếng Kinh, trên này nhiều người không biết tiếng phổ thông - đứng bán chuối lá và những quả mooc coọc nhỏ xíu - 5 đ 4 quả. Ít nước, một khe nước bẩn. Một giếng đầy rêu.
                Đoàn ở một nhà to, lợp ngói hoang tàn. Chủ nhà sợ máy bay đã vào núi. Sàn trơ những khúc gỗ ngổn ngang. Buồng có sập đồ sộ, mắc áo tủ lớn. Bàn vuông và ghế. Buồn chiều tối, mỏi, dép hỏng.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #28 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2017, 12:17:07 am »

30-7-50

                Ngủ sớm. Đêm rức chân. Lo đường trường. Dậy, lạnh. Núi mờ sương. Như mùa thu. Nhớ tiếc một cái gì ấm cúng. Chán lữ thứ.
                  Đi từ đây đến An Lại. Con đường này mới làm. Rộng. Đỏ. Đã có không khí chiến dịch. Bộ đội ở QN(1) đi lại. Đoàn vận tải đi lên. Một phụ nữ mỏi mệt, mặt chữ nãi(2). Đoàn vận tải này ở khu 3, có 300 người. Đủ màu sắc, đủ nón, phần nhiều mang ống tre, áo bó mo, nồi, lồng vịt. Đi chân đất. Có người mặt buồn. Có em mới 16, 17. Nắng. Mồ hôi. Xuống dốc, một thanh niên reo: Xuống dốc không phanh. Và họ xuống tuồn tuột. Những đoàn áo chàm. Phụ nữ áo chàm tập trung dưới gốc cây. Ngủ lăn bên bếp.
                 Dưới chân núi, gốc cây, một tốp vận tải. Có vài mái nhà dựa vào chân núi. Lố nhố người đủ các áo. Có người cởi trần ở trong lều ra. Có người trên những bậc đá lưng chừng núi như lối lên. Rồi suối. Rồi bờ suối những hòn đá. Rồi ruộng ngô. Vài người thiểu số đi vào. Phía gần đường, một cô em áo chàm mới lom khom. Cây tỏa khói. Phong cảnh như một tranh Tàu.
                 Đường mới làm xong tháng 4. Mỗi làng phụ trách một khúc. Gần Nà Tú, có con đường tắt ra Cao Bằng độ 4 cây số. Giặc có thể phục kích được. Hàng quán nhiều. Nhưng dân chúng hai bên đường chạy cả. Suốt từ đây đi An Lại, toàn nhà sàn lợp ngói bỏ không, tồi tàn. Thỉnh thoảng một nhà con trên dốc cao. Vài người Thổ ngồi nói lớn. Hàng: bán phở, chè gốc báng, thịt vịt. Dưa, dâu da, quả mề gà.
                 Anh em mỏi mong có cốc bia, nước đá. Phải phản động mới được hưởng. Pha trò: Có một người khổng lồ bước qua các mỏm núi, xách ô tô võ khí về, khỏi phải phiền đoàn vận tải...
                 Những phụ nữ Thổ, nón lệch, thắt lưng quặt, gánh rọ ngô, v.v... Nghỉ hốc núi. Đồn An Lại phảng phất Nguyên Bình. Giặc oanh tạc, chỉ còn mái, ngói, đá. Một đồn công an lẻ loi. Xa xa, dưới nắng dốc Mã Phục cao ngất, ngại ngùng.
                 Nghỉ quán chân đèo. Một quán dựa hốc đá, người chủ nguyên khu 3. Vợ ngồi chênh vênh trên hốc đá. Quán đối diện bán nước chanh và thạch. Chiều mưa, quán nhung nhúc người, ngựa, bộ đội, súng, ba lô, túi dết, lá bánh, người ngồi đứng, hút thuốc lá. Bếp cháy bên cạnh một người mẹ Thổ đang nhai cơm mớm cho con.
                 Tứ hồn nhiên. Nguyên xốc nổi, hay to tiếng, cãi nhau luôn. Đào vẫn nhạt. Tấn râu cười luôn.
                 Ô tô về bên đèo kia. Có vài người gánh những hòm điện trên đèo xuống. Nhà chủ đã bắt đầu ăn. Có cả phụ nữ cầm gậy gánh, đội nón có chóp rất cao. Chóp nón người đàn ông bịt bạc. Nền núi, như có ráng. Bây giờ toàn là phụ nữ áo chàm dài, khăn chàm khăn trắng chống gậy gánh các tay nải chàm, lủng lẳng chiếc hộp sắt tây đun nước hay ngụy trang - đạn - và những hòm munition (đạn). Lội suối ngang đòn gánh. Trước hàng, mấy phụ nữ bán dưa. Có yếm. Đeo xà tích lủng lẳng những đồng bạc Tây. Người đeo bị gạo trắng, quay lại, ngây thơ. Rồi lại đàn ông. Giơ cao gậy xuống đèo. Rồi lại phụ nữ. Tay đeo vòng, người uyển chuyển.
                 Đường cái đá, lại một đoàn phụ nữ gánh các hòm về. Bước dài bên những cột téléphone, dây téléphone rất rõ. Giữa núi xanh, có ánh sáng khoảng núi tiếp nhau. Họ tập trung bật nổi vài cành lá. Những đẫy viền thêu rất cũ, họ đem gánh. Croiser (đi ngang qua) những người gánh củi. Đi xuống suối, bên cạnh một lồng hai con vịt. Hòm sắt gánh ngược, chữ vàng, có chua phấn, trên để một chiếc hải sảo. Hai người chia nhau thuốc lá lưng chừng đèo. Quần vén tới đầu gối, các chị vẫn xuống đèo. Bên tay nải, một nậm đựng nước. Người một tay một vòng, một tay hai vòng. Nhẫn đồng. Áo có revers (cổ áo) đen thẫm.
                 Đoàn đi đã vãn. Một người vận tải trở lại quán. Một vài người công tác ăn bên quán bình tĩnh. Mưa vẫn rơi. Một nửa cầu vồng vắt qua núi. Các chị khỏe quá. Các chị tỉnh thần lắm. Lúc nào cũng vui. Không phàn nàn. Đầm cũng không khỏe bằng. Một chị thùy mị nhìn. Anh em hoan hô. Tây thai lố(3). Một chị nhoẻn miệng cười răng đen, để lộ một nửa hàm răng vàng. Đường lên dốc Mã Phục lởm chỏm đá.
                 Đêm trăng lên. Hai giờ sáng mới có xe GMC(4) đến. Anh em ngủ lăn lóc bên vệ đường. Bốn bề im lặng, núi mỗi lúc một mờ. Trăng tỏ. Ở trên đi xuống những đoàn áo chàm mấy trăm người, phụ nữ, nam giới đủ. Họ đi nhân công, ra tải súng đạn. Họ đi nhiều đường, khi lẻ, khi tụ, đen ngòm, để vào nghỉ một cái bản gần đường. Giữa cảnh núi cao, họ hùng vĩ quá, đòn gánh liền nhau, chạm nhau. Một đoàn đi đường tắt có tiếng phụ nữ trong vắt, êm dịu.
                 GMC đi êm quá. Dưới một mỏm núi vắt nghiêng qua đường - lúc nào cũng như muốn sập đổ, trần nhẵn như vòm Nhà Hát Lớn, le lói ánh đèn, những người thiểu số chuyển những hòm khí giới xuống, chất thành một đống vuông. Họ cởi trần, như những thiên thần bên đống lửa.
                 Nghĩ đến các chị ban chiều. Đêm nay họ phải đi suốt đến Nước Hai, đoạn đường mà mình phải đi thành hai ngày. Vĩ đại, phục các chị quá. Hình ảnh những nón bóng, chóp cao như mái tháp. Áo chàm ăn nhịp với màu sắc núi rừng. Và im lặng như núi rừng. Vững chãi như núi rừng.
                 Bốn giờ sáng tới Q.N. Trần Độ gọi tên mình, anh vui vẻ quá. Vào ở nhà một anh phó ban vận tải. Nhà ở đây rất to.


(1). Viết tắt của Quảng Nguyên, tên gọi cũ của huyện Quảng Uyên, Cao Bằng.
(2). Mặt cong dài (ngược với mặt chữ điền: vuông vức).
(3). Tây chết lố.
(4). Xe vận tải của Mỹ trang bị cho Pháp do ta thu được.


31-7-50

                    Q.N. phố đẹp như phố một tỉnh nhỏ. Nhà cửa đổ. Vài hàng lơ thơ. Ản phở chua. Gặp Nông Ích Đạt(1). Nghe Đạt nói: Các chị rất tinh thần. Rất thích được gánh khí giới. Thích hơn các thứ. Nói: Gánh khí giới để bộ đội đuổi Tây ra khỏi Cao Bằng. Để chúng em lại được họp chợ.

(1). Có thể là họa sĩ Nông Ích Đạt, người đã tham gia Hội nghị tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc cuối tháng 9-1949.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2017, 12:21:49 am »

1-8-50

                Ở tỉnh đảng bộ Cao Bằng. Gặp Tùng, con Khải. Kể thì gọi mình bằng ông, chào mình bằng anh. Tỉnh ủy vào ban cung cấp nhân công cả. Thanh niên Cao Bằng tòng quân nhiều. Nhiều anh mê miền xuôi, không muốn trở về, lấy vợ Kinh. Vợ thiểu số buồn lắm. Nhưng không vì thế mà họ oán Chính phủ.
                  Ruộng cằn: lởm chởm đá. Những tảng đá xếp hàng bên đường như người áo chàm đi. Nhà: toàn nhà sàn lợp ngói, nhà nọ thông sang nhà kia, có tới 5, 6 nhà họp thành xóm. Các chị tinh thần cao. Nhà vắng thanh niên: toàn những người đàn ông ngoài 40, và các thiếu nhi. Có chị nhân công trả 1000 đ, mà không đi, đi gánh bánh úy lạo chiến sĩ. Với Cao Bằng, phụ nữ là một điển hình quan trọng.
                  Nhà sàn phần nhiều to. Giữa và trên cao có ban thờ. Hai bên, trước mặt là sàn. Một bên có cửa thông vào bếp làm ở sau lưng và các buồng trong. Có cửa sổ, chấn song.
                  Dân chúng trên này yêu 174(1) lắm.
                  Đường đi nhiều đá. Có những suối trong, xanh vắt, dưới là đá, nước mát buốt. Lắm cái trông như bể tắm. Nhà làm lẫn màu sẫm với đá. Gặp Đạo [ở] thôn Cốc Đưa. Cách biên giới ngót hai chục cây số.
                  Pháp đã bàn. Việt Minh phải đánh Cao Bằng, Lao Kay để gỡ mặt. Tân Sắc(2) bàn: Cao Bằng không thắng lợi thì mất đường về. Pháp đã nói: Có lẽ Chính phủ Việt Minh sẽ dọn lên BS (Bắc Sơn) để tiện đường sang Tàu.
                  Ở nhà một trưởng thôn. Đi công tác suốt ngày. Về ăn cháo ngô rồi lại sắp đi. Thức ăn rẻ. Ăn bữa cơm toàn mỡ. Nhiều gà. Có lạch nước chạy suốt xóm. Tuyên huấn đã lên đây đông đủ. Xe đạp trên sàn. Hút thuốc lá Gemflower. Tắm rửa. Thoải mái.
                  Ở nhà một dân chúng Thổ. Nghèo, bố hút thuốc phiện bán hết, nên làm ăn khó khăn. Buôn vịt. Nhà nhỏ, bẩn như một bếp. Chung quanh, dưới giường đều là lồng gà vịt. Hỏi có biết Hồ Chủ tịch không? Nói không biết - nghĩa là không trông thấy. Ở nhà bẩn thỉu, không dám treo ảnh Cụ, vì Cụ phù hộ nước Việt Nam, chỉ ở các ban, nhà trưởng thôn mới có ảnh Cụ.
                  Nhà có 5 con, 2 đi bộ đội. Còn 3 con nhỏ. Đứa con giai biết nói tiếng phổ thông, học bình dân học vụ. Đứa con gái út, mắt một mí như Nhật, áo rách vai, nằm lòng mẹ. Bố 48 tuổi, hút thuốc lá, đầu đội mũ xanh choen hoẻn trên đầu. Người vợ nhanh nhẹn, đun nước, rót vào chậu mời mình rửa chân. Rửa chân khoan khoái quá. Sáng dậy đun nước sôi mời uống.
                  Nghĩ đến thân phận Mán, sống cheo leo, trên núi, nay xuống tham gia cách mạng khổ và vất vả. Phục ảnh hưởng của cách mạng.


(1). 174: Trung đoàn chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh, do Đặng Văn Việt chỉ huy.
(2). Tân Sắc: Nhà thơ Thôi Hữu.


2-8-50

                  Đổi được ba lô. Lòng nhẹ nhõm. Chính Hữu nói chuyện vào nhà một bà cụ. Trông thấy anh em nước mắt vòng quanh khóc. Bà cụ có con giai đi bộ đội chết. Nay thấy anh em nhìn xem ai giống con mình. Anh em hỏi mua gà. Bà cụ chạy đi vo gạo cho là mua gà thì phải ăn cơm. Ở với con gái.
                  Làng này là Nà Pài.
                  Hôm nay có Hội nghị căn bản của Mặt trận. Không được dự.
                  Đêm nào cũng nằm mê thấy vợ. Ân ái và thờ ơ. Không nghĩ gì đến con.
                  Ở đây chỉ thiếu muối, còn dân chúng tự túc. Giữa ruộng lúa, có xen những thửa ruộng cói xanh sẫm. Vài thửa ruộng đã có lúa chiêm.
                  Chiều, lại sang ngủ nhà ông Pàng. Giữa lúc ông gánh sọt đi ra: Ông đi vận tải. Đứa con lớn tên là Xén, nhanh nhẹn, ngồi bên: Nhà em nghèo lố. Hỏi bố đi vận tải mấy lần, nói nhiều lắm rồi. Hồi 1948, đi T.N. (Thái Nguyên) có mua cái bút máy có 50 đ, viết giỏi lắm, nhưng anh em đánh mất rồi. Đưa ảnh Cụ, kêu: Hồ Chủ tịch. Cho: Vui vẻ cám ơn anh nhớ.
                  Họ đã giải chiếu cẩn thận: chiếu bẩn. Nhà nghèo. Họ phải mượn thứ hộp ở nhà bên đun nước cho chúng tôi, người bên đòi, bắt con sang giả, rồi lấy một ống bơ loay hoay hậm hực làm rồi đun nước.

3-8-50

                 Đạo sang khai hội. Pha trò, không chỉnh. 4-8, Khoa(1) sang chơi. Cháo vịt. Nguyên pha trò quấy. Tin giặc tăng viện Đông Khê. Cuộc chiến đấu gay go. Buồn. Mượn T.H. 2 tiểu đoàn pháo binh. Từ chối, vì vấn đề quốc tế.

(1). Có thể là nhà điện ảnh Phạm Văn Khoa.

5-8-50

                Hưng(1) triệu tập văn nghệ sĩ tới sa bàn nói chuyện. Hai hàng rào đi vào sa bàn. Hưng cỡi ngựa đỏ, mặt hồng hào và tươi, đi trước. Anh em theo sau. Sa bàn làm tại một góc rừng. Đắp núi giả, có đường cái, sông chung quanh vị trí N5(2). Pháo đài, khu phố, sân bay, các vị trí chung quanh yểm hộ. Hưng bảo Hiếu chỉ dẫn sa bàn, và bổ khuyết sau, nhấn mạnh về những khó khăn ta cần phải khắc phục. Giặc yên trí về cách bố trí N5. Tin AFP nói Việt Minh đang sửa soạn tấn công những vị trí biên giới, nhưng chúng ta đã sẵn sàng. N5 khó đánh. Thắng lợi thì ảnh hưởng to, nhưng cần nhất là giữ bí mật.
                  Cảm thấy không e ngại Hưng mấy, anh thiết tha với văn nghệ và giao việc động viên một phần lớn cho văn nghệ.
                  Dọc đường, được tin Hưng cho hai văn nghệ [sĩ] đi theo để nói chuyện Cao Bắc Lạng. Muốn rủ Nam Cao cùng đi. Nam Cao không đi. Đi một mình, nhưng ngại. Cùng anh em thảo luận về kế hoạch văn nghệ trong chiến dịch. Bắt tay, mỗi người đi một ngả. Chiều tới L.L. (Lê Liêm). Cậu cậu mình mình. Phó thác công việc văn nghệ cho bọn mình. Cảm thấy nặng nề. Gặp Tâm Trung, Hồng Trang. Thư của Thanh Hương(3) gửi cho, yêu cầu viết thư mặt trận về cho vui cơ quan. Thư của Đạt(4) đượm tình thân.
                  Mưa. Ướt hết. Tới chỗ Hưng. Ăn cơm với Nguyễn Văn Tiến, Bí thư quân sự, nguyên Trung đoàn trưởng BB(5). Trẻ, thông minh. Hay dùng, để nói đùa, chữ bèn. Rất lạ một thanh niên như thế mà giữ nhiệm vụ to, nặng. Tiến nói các đồng chí Giải phóng quân phê bình ta ảnh hưởng chiến thuật Tây. Cân nhắc lực lượng. Chuyện các đồng chí Giải phóng quân, nhiều người không biết chữ, nhưng nhiều kinh nghiệm, ít lý thuyết. Ngô sư phó rất ít học, mà lại là một tay công kiên chiến giỏi. Quân sự Trung Hoa hoàn toàn theo quan điểm nhân dân. Phát huy sáng kiến của cá nhân. Tập trung lực lượng, đánh những trận căn bản. Mất đất cũng không sao. Kinh nghiệm mất Diên An mà đánh thốc vào Mãn Châu. Giải phóng quân có khi truy kích sư đoàn thiết giáp của Tưởng, mà đi bộ một ngày 160 cây số. 7 ngày 1200 cây số, phục trước 4 ngày, quân thiết giáp mới tới.
                  Ta thắng chiến dịch này, sẽ ảnh hưởng lớn trong toàn quốc. Có thể có 5 sư đoàn đánh thốc về Trung du.
                  Chiều tới QU (Quảng Uyên). Không đi qua phố Hưng ngồi trên tảng đá, tay cầm roi ngựa, bảo thư ký viết thư cho Ninh(6). Tối sẩm, ô tô đến. Lên ngồi cạnh Hưng. Đèn pha sáng rực. Xe chạy nhanh. Hưng nói: Impression (cảm giác) lạ. Tối ngủ tại một bản gần đường. Ăn cơm gan lợn, rau rớn. Hưng nói chuyện Cao Bắc Lạng hồi ở Nguyên Bình, ở hang, gần Mán. Đi đất. Có khi lên hang, sau khi khai hội về, phải ngược suối mà lên. Leo thác. Xem carte (bản đồ), Hưng mệt ngủ.
   Tối, canh.


(1). Bí danh của Võ Nguyên Giáp.
(2). Mật danh của vị trí Cao Bằng.
(3). Tâm Trung: Cán bộ phụ nữ làm công tác dân vận, về sau làm Phó giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Hồng Trang: Xem chú thích nhật ký 16-7-1950. Thanh Hương: Cán bộ phụ nữ làm công tác tuyên huấn, về sau làm Tổng biên tập báo Phụ nữ Việt Nam.
(4). Có thể là Nông Ích Đạt (xem chú thích nhật ký 31-7-1950).
(5). Trung đoàn Bắc Bắc (viết tắt của Bắc Ninh và Bắc Giang), tức Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308.
(6). Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, phụ trách hậu cần chiến dịch.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM