Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:21:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3  (Đọc 46519 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 09:03:08 am »


CHIẾN DỊCH CHUYỂN HÀNG LỊCH SỬ

           Khoảng đầu mùa thu năm 1971, Trạm Trung chuyển của chúng tôi đang ăn mừng thắng lợi của Trung đoàn sau nửa năm “Diệt kẹp, giành dân” thắng lợi thì một buổi tối, độ 21 giờ, đồng chí Huỳnh Hữu Ai, Chính uỷ Hậu cần Trung đoàn triệu tập tất cả cán bộ đầu ngành cơ quan, đội phẫu, vận tải... tới họp và phổ biến:

         - Sư đoàn A-mê-ri-cơn (Mỹ) ở Gò Hội (Quảng Ngãi) đang rút về quân cảng Đà Nẵng. Sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên đang chốt ở Gò Đình, cầu Bà Mai, An Điềm (huyện Phù Cát) hoạt động “lết” thay quân Mỹ. Bọn Nguỵ cũng tích cực “lết” nhưng cục diện toàn chiến trường đang có lợi cho ta. Lệnh cấp trên, Trung đoàn 2 (lúc đó có 7 tiểu đoàn, anh em thường gọi là Lữ đoàn 2) lần lượt rút khỏi khu chiến, trở về hậu cứ (vùng núi phía Nam quận Hoài Ân). Trước hết là hoả lực và các đơn vị tăng cường. Ba tiểu đoàn bộ binh vừa đánh nghi binh (như vẫn còn hoạt động) vừa lần lượt rút. Tất cả các đơn vị phải bớt người ở lại để nhận gạo chuyển về hậu cứ đủ ăn trong 4 tháng. Trước mắt, nhiệm vụ vận chuyển gạo là trên hết.

        Vị trí đứng chân ở hậu cứ được xác định như sau: hậu cần ở nam Nghĩa Điền, trạm xá ở tây nam Nghĩa Điền, đội phẫu ở tây nam suối Đá Tượng (đập Làng), vận tải ở nam Phú Trị. Tất cả phải giữ bí mật.

        Ngày 15 tháng 7 năm 1971, các đơn vị phải vận chuyển đủ số gạo và ổn định vị trí đóng quân để tháng 8 nhận nhiệm vụ mới.

        Anh em phấn khởi bàn tán xôn xao. Người nói: tại sao đang đánh thắng mà lại lui. Người thì bảo: chắc là sắp có chiến dịch lớn hơn. Riêng tiểu ban kế hoạch chúng tôi thì lo tính toán thế nào để vận chuyển đủ số lượng gạo quy định. Tính ra, bình quân mỗi người phải đi 3 chuyến gạo và một chuyến thực phẩm mới đủ ăn trong 4 tháng. Nhưng không phải tất cả đều đi mà phải trừ thương bệnh binh, cán bộ đi công tác. Ví như cơ quan ở hậu cần có 60 người mà chỉ có thể huy động được 11 người. Lại còn bố trí lực lượng bảo vệ hành lang. vì gạo do địa phương phân phối cho Trung đoàn ở tận Trung Thứ, phía đông đường số 1, phải qua vùng địch kiểm soát. Rồi tới trạm trung chuyển ở vùng ven xã Mỹ Trinh về hậu cứ, phải đi mất 2 ngày. Tổng cộng nếu trót lọt một chuyến đi về phải mất 4 ngày 1 đêm.

        Tôi đề nghị Chính uỷ Ai cho dẹp tất cả mọi việc bàn giấy, chưa vội kiến thiết chỗ ở và yêu cầu Đảng viên phải gương mẫu đi chuyển gạo. Số khoẻ, trẻ thì đảm nhiệm cung đường phía trước để đi ban đêm và có thể đánh địch khi cần. Số lớn tuổi thì ở cung đường phía sau. Đồng chí Ai nhất trí và đợt vận chuyển gạo đã vượt thời gian, vượt chỉ tiêu, đủ ăn tới 5 tháng. Đồng chí Chính uỷ Lữ đoàn Nguyễn Ngọc Tiến đã khen ngợi cơ quan là Hậu nhưng rất Cần. Lúc bấy giờ cơ quan, đơn vị mới bắt đầu củng cố chỗ ở giữa rừng già Nghĩa Điền.

        Chưa làm xong khung nhà thì anh Bách, chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn gọi 3 chúng tôi, gồm: Đáng-kế hoạch, Quế-quân giới, Đắc-vận tải, đến giao nhiệm vụ mới. Đó là việc đi khảo sát thực địa để lập một đường dây vận chuyển hàng ngắn nhất từ hậu cứ của Trung đoàn 2 (Dốc Đót, Nghĩa Điền) đến trạm ông Thâm ở Gia Lai. Tính mỗi ngày đi 8 đến 10 tiếng đồng hồ thì phải mất mấy ngày. Chúng tôi lập lịch trình đi từ Dốc Đót qua núi Bình An, gặp đường dốc Bà Bơi đi về phía tây gặp ngã 3 nước Trinh (Đắk Trinh) tới sông Kôn. Ngược sông Kôn tới Cây Bồng rồi lên ngã 3 Đắk Miên, đi thẳng tới trạm Thâm. Từng cung đoạn, cách nhau một ngày đường sẽ lập một khu kho có thể chứa được 75-80 tấn hàng.

        Chúng tôi đi về mất 6 ngày. Thời tiết đúng vào mùa mưa, nước sông Kôn lớn, đường trơn, vắt nhiều vô kể. Ngã 3 Đắk Miên nước lớn không qua được phải đi ngược lên đội sản xuất ở đầu sông mới làm cầu độc mộc để vượt qua. Nếu gùi hàng, chúng tôi tính phải đi 4 ngày, lập 3 kho (cũng là nơi tập kết lực lượng vận tải của từng cung đoạn): (1) đỉnh suối Tà Lăng, (2) đông suối nước Miên, (3) trạm ông Thâm. Mỗi cung đoạn phải đi 1 ngày đường nhưng từng người chỉ đi nửa đường rồi giao hàng cho bộ phận ở trạm kế tiếp lên nhận. Dự kiến mỗi cung, mỗi ngày chuyển 900-1000kg. Lực lượng vận chuyển chỉ trông cậy vào cơ quan và các đơn vị phục vụ. Anh em bộ binh, pháo binh ...  phải học quân sự. Đại đội công binh chịu trách nhiệm làm kho, bắc cầu. Các cơ quan cứ 3 người cử 1 người đi vận chuyển. Trung đoàn trưởng Việt Sơn trực tiếp giao nhiệm vụ cho cơ quan Tham mưu và cơ quan Chính trị phối hợp tổ chức điều động lực lượng, cơ quan Hậu cần trực tiếp chỉ huy. Tất cả được chia thành 2 liên đội. Liên đội Tham mưu-Chính trị và Liên đội Hậu cần. Trung đoàn làm lễ phát động thi đua chuyển hàng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 08:43:10 pm »


        Từ khi vào Nam đến nay, chưa bao giờ Trung đoàn được cấp đạn nhiều như lần này (trước đây chỉ do lực lượng vận tải chuyển nhỏ giọt). Ai cũng ngấm ngầm mừng vì đoán chắc sẽ có trận đánh lớn sắp tới. Trước buổi xuất quân, từng người thi đua, Tiểu đội thi đua, cơ quan thi đua. Cá nhân có đồng chí Thự, đồng chí Phụng, nữ đồng chí Ét. Tiểu đội có Tiểu đội Nguyễn Bá Phụng, Tiểu đội Cao Thị Minh.

        Tiểu đội Cao Thị Minh là một Tiểu đội có 5 chị em của 4 dân tộc. Cô Minh người Kinh, quê xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ. Cô Ét người Ba-Na, quê xã Book Tới, huyện Hoài Ân. Cô Tuy người Ê-Đê, cô Mươi người Ba-na, quê Book-Bang, huyện Vĩnh Thạnh. Cô Hương, dân tộc H’Rê, quê ở Làng Leo, huyện Ba Tơ (chân đèo Nguyện). Lúc đầu thành lập, khi họp tiểu đội phải có người dịch ra tiếng Kinh mọi người mới hiểu nhau. Sau đó, đồng chí Thân, đại đội trưởng vận tải đã tổ chức cho các cô học văn hoá bằng tiếng Kinh. Đến nay, mọi người đã thoải mái trong giao tiếp bằng tiếng phổ thông.

        Tiểu đội này rất giỏi về dân vận với đồng bào dân tộc, giỏi kiếm rau rừng, giỏi kiếm củi, giỏi múa hát và giỏi mang hàng. Đại đội vận tải đã bí mật xây dựng thành Tiểu đội tiên tiến của Trung đoàn. Khổ một nỗi là các cô không khiêng được thương binh. Gùi hàng, các cô quen chăng dây gùi qua trán, khênh thương binh phải đặt đòn cáng lên vai, các cô không quen, chân bước lạng choạng, cáng thương xoay tròn không đi đúng đường, trời gần sáng mà chưa tới được cửa rừng, các cô khóc lóc. Sau lần đó, Đại đội phải chuyển Tiểu đội các cô về trạm xá để chuyển hàng và cô Ét trở thành chiến sỹ thi đua trong 3 năm liền. Lần này Tiểu đội các cô nhận thách thức với tất cả các Tiểu đội nữ và quyết tâm dẫn đầu.

        Khí thế ra quân rầm rộ. 95% quân số tham gia. Liên đội tham mưu, chính trị và trực thuộc, đứng tại trạm nước Miên trở lên. Liên đội Hậu cần, trạm xá đứng tại suối Tà Lăng, sáng lên nhận hàng ở cung phía trên, chiều chuyển về nhập kho tại hậu cứ Trung đoàn (dốc Đót). Sau 2 tháng vận chuyển, bình quân mỗi ngày nhập kho 1000kg trở lên. Năng suất bình quân mỗi người từ 35kg đến 50kg/chuyến. Đồng chí Nguyễn Bá Phụng (trung đội vận tải) mang 3 hòm đạn trên 100kg. Đồng chí Đinh Thị Ét (đội phẫu) mang 2 hòm đạn, có chuyến mang 3 hòm. Tiểu đội nữ tất cả mọi người đều mang 2 hòm đạn (trên 60kg). Để động viên phong trào thi đua, tôi đề xuất với chính uỷ hậu cần Huỳng Hữu Ai đặt chỉ tiêu khen thưởng như sau: mang thường xuyên 1 hòm được tặng giấy khen, mang thường xuyên 2 hòm xếp loại giỏi được tặng bằng khen. Mang thường xuyên 3 hòm xếp loại xuất sắc, cấp giấy chứng nhận kiện tướng. Đồng chí Ai nhất trí, và mọi người, mọi Tiểu đội dấy lên khí thế đuổi vượt nhau từng ki-lô-gam hàng. Có người ngoài hòm đạn (khoảng 33kg) còn móc thêm 1 hoặc 2 quả đạn cối 60 hoặc 82 ly. Tiểu đội cô Minh đạt năng suất cao nhất. Năm cô, mỗi chuyến chuyển 10 hòm đạn ĐKZ75 hoặc cối 82ly (gấp 2 lần Tiểu đội gái người Kinh). Trán gùi hàng, hai tay vòng trước ngực, miệng hát những bài ca Cách mạng, các cô bước từng bước vững chắc, bền bỉ, tâm trí thật lạc quan, yêu đời. Nhìn các cô, tôi lại nhớ năm 1967, các cô xuống đồng bằng, mang thực phẩm (cá, muối) ở thôn Tân Phụng (xã Mỹ Thọ), sau khi nhận hàng xong, các cô múa hát cho đồng bào xem. Hay nhất là bài “Tiếng chày trên sóc Bon Bo”, “Bài ca may áo”... các mẹ, các chị cảm động, khóc ôm các cô, mua tặng các cô đủ thứ tư trang. Tôi lại nhớ năm 1969, tôi đi nhận của Ban lương thực tỉnh Bình Định cấp cho Trung đoàn một rãy mì rộng mênh mông, không biết làm cách nào để đếm được số gốc mì. Tình cờ gặp cô Ét đi hái rau rừng. cô bảo: Các thủ trưởng muốn đếm nhanh, đếm đúng thì mình có cách. Các thủ trưởng chặt mấy khúc chuối rừng, tước thành sợi, buộc 100 sợi thành 1 bó. Rẫy nhỏ thì ít bó, rẫy to thì nhiều bó. Dùng dây đó buộc từng gốc mì, không bỏ sót gốc nào, cuối cùng đếm số dây còn thừa sẽ biết số mì trong rẫy. Đúng là thông minh bẩm sinh.

        Cuối tháng 10 năm 1971, chiến dịch vận tải của Trung đoàn hoàn thành. Các kho có tới 100 tấn đạn các loại. Một lượng dự trữ chưa từng có từ trước tới nay. Chúng tôi ai nấy lại về với công việc thường ngày của mình. Lòng mừng thầm: Kế hoạch chuyển lửa cho mùa xuân năm tới đã thành công tốt đẹp.

Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005       
N.V.Đ                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 08:52:10 pm »


SỰ MẤT TÍCH CỦA MỘT NỮ Y TÁ

        Khoảng cuối năm 1970, địch ra sức bình định nông thôn, bọn Nguỵ ở vòng trong dồn dân lập ấp, đóng chốt dày đặc. Bọn Mỹ và lính Nam Triều Tiên đảm nhiệm vòng ngoài, đổ quân đỉnh đồi, hốc núi nghi ngờ bộ đội ta hành quân, đóng quân. Có nơi chúng đổ quân chớp nhoáng lùng sục chốc lát rồi rút, có chỗ chúng đổ quân rồi nằm phục suốt mấy ngày liền (anh em thường gọi “ Mỹ lết”).

        Trung đoàn 2 lúc này được giao nhiệm vụ phá kẹp, giành dân, do đó phải tiến ra đóng quân ở ven núi để dễ tiến xuống đồng bằng. Nhiều nơi bộ đội ta ở xen kẽ với địch trong một khu rừng. Thậm chí ta ở giữa, trước mặt, sau lưng chỉ cách dăm trăm mét đường chim bay là địch. Bộ đội lúc nào cũng trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

        Hồi đó, tôi được giao phụ trách Trạm Trung chuyển của Ban Hậu cần Trung đoàn 2. Trạm được đặt tại lưng chừng núi phía Tây xã Mỹ Trinh. Trên đỉnh núi là lính “Mỹ lết”, trước mặt qua Truông Xa Vấn là ấp Mỹ Hoà do quân nguỵ chiếm. Phía bắc là đường chiến lược nối Phù Mỹ với Hoài Ân, lính Mỹ, nguỵ đi lại thường xuyên. Chúng bốc cả quân Mỹ ở Gò Hội (Quảng Ngãi) vào phục “lết” sát đường ra vào trạm chúng tôi. Có thể nói, suốt ngày đêm, chúng tôi chỉ nói thầm hoặc ra hiệu với nhau. Súng khi nào cũng nạp đạn, xung quanh trạm lúc nào cũng bố trí vọng gác.

        Hôm đó, sau khi đi kiểm tra các vị trí gác, tôi về chỗ đồng chí Thứ uống nước. Kiểu nước trà Quân giải phóng – treo bi-đông USA lên, đốt cồn khô lượm của Mỹ, một phút sau là có uống. Uống bằng bát sắt, nóng hôi hổi. Chưa uống xong một bát thì đồng chí Khuynh, đội trưởng đội phẫu của Trung đoàn đến xin gặp. Tôi vui vẻ nói: “Nếu chuyện yêu đương thì qua gặp Chính uỷ Ai. Nếu việc của trạm thì cứ ngồi đây vừa uống trà vừa bàn chuyện. Đây là trà của Phó chủ nhiệm Thân gửi từ tiền phương về khao thưởng chúng ta đấy. Trà Kim Tiền hảo hạng, không uống nhanh hương thơm bay lên đồi, bọn địch ngửi thấy sẽ mò xuống đấy.” Đồng chí Khuynh khen trà ngon, chưa báo cáo công việc thì tôi đã cao hứng nói: “Chúng ta là hậu cần nhưng mấy năm nay luôn ở vị trí xung kích giáp mặt địch như ở Làng Eo (năm 1968), dốc Cây Đa, Phổ Cường (năm 1969), An Đức, An Lão (năm 1969) và hôm nay là núi Chùa, Phú Mỹ. Lần nào cũng căng thẳng nhưng kỳ này có thêm thằng Đại Hàn (Nam Triều Tiên), ta vẫn ung dung của người chiến thắng”. Đồng chí Khuynh liền nói: “Nhưng hôm nay có lẽ chúng ta sẽ thua.” Tôi hỏi gắt: “Vì sao thua?” Khuynh nói: “Vì sáng nay, đội phẫu đã mất tích cô Trợ. Tìm khắp nơi mà không thấy, chỉ còn cái ba lô, thuốc và y cụ của đội.” Tôi thực sự sởn tóc gáy, trách cứ: “Việc động trời như thế mà không nói ngay, lại còn gãi đầu gãi tai như cờ bí nước.” Khuynh thanh minh: “Thì anh đã cho tôi nói đâu, lại còn mời uống nước”.

        Tôi gặng hỏi: “Mất vào lúc nào?”

        Khuynh: “Lúc mờ sáng mọi người thấy cô ấy đi giặt băng và vác thêm ống đạn để lấy nước.”

        Tôi đứng dậy phân công đồng chí Thứ lấy thêm 1 chiến sỹ nữa ra đài quan sát giao thêm nhiệm vụ quan sát bìa núi, đồng chí Khuynh cử một đồng chí qua gặp tôi để đi nhận vị trí mới (vị trí đã được chuẩn bị trước). Lệnh cho anh em trong trạm sẵn sàng chiến đấu. Nếu thấy có trực thăng đổ quân thì cho bộ đội đi về phía nam, tôi sẽ về đón.

        Tôi và đồng chí Khuyến – y tá đi vòng phía Nam núi Chùa, xuyên qua chân núi Én Liệng (điểm cao 719). Đi khoảng 1 tiếng đồng hồ vẫn không thấy dấu vết gì. Tôi nói cho Khuyến kinh nghiệm: Nếu thấy mạng nhện còn nguyên, lá non không bị lật là không có người qua. Chỗ sơn bình, thuỷ cận (núi bằng, gần suối) là chỗ dễ bị bom pháo, chỗ có vách núi dựng đứng, tuy ở khó nhưng là chỗ bom pháo không thể bắn trúng (ta thường gọi là góc tử giác).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 08:52:35 pm »


        Mười một giờ đêm, hai chúng tôi mới trở về trạm. Mọi người đang họp bàn để di chuyển. Đồng chí Ai – Chính uỷ hậu cần Trung đoàn cùng dự họp. Anh nhận định: Dù một ngày nay địch không có động tĩnh gì, nhưng chúng ta không thể bỏ qua tình huống cô Trợ đi chiêu hồi (đầu thú với địch). Đồng chí Nguyễn Thị Thu – Chính trị viên phó đội phẫu phát biểu: Cô Trợ trong công tác và sinh hoạt luôn yêu đời, không có biểu hiện tiêu cực. Nếu đi thì đi dưới thôn Đồng Cầu tối hôm qua, không có lý lên núi rồi lại xuống đầu thú. Đồng chí Thứ nói: Phía trước quá căng thẳng, có thể đồng chí Trợ tìm đường về hậu cứ. Tôi không nghĩ đồng chí Trợ đi chiêu hồi. Đồng chí Khuynh phát biểu: Tôi về đội phẫu sau đồng chí Trợ, qua các đợt phục vụ chiến dịch, tôi rất tin cô ấy. Nhiều lần gặp khó khăn nhưng cô ấy vẫn giữ được vai trò đầu tàu của một Đảng viên. Còn bây giờ cô ấy ở đâu thì tôi cũng đang tự hỏi mình. Đồng chí Châu Ngọc Thân, tổ trưởng Đảng thì nói chắc chắn: Tôi xin khẳng định, đồng chí Trợ bản lĩnh vừng vàng. Chiến dịch Xuân 1968, đội phẫu bị B52 rồi trực thăng lùng sục ở Nghĩa Lâm (Quảng Ngãi), chiến dịch A15 ở Hoài Nhơn năm 1969, đồng chí đều được khen thưởng. Nay ở trên đất quê mình, đồng chí không thể phản bội chúng ta. Nhưng nay, ở đây quá gần ấp Mỹ Hoà (ấp chống cộng), dẫu 1% nghi vấn, chúng ta cũng nên đề phòng - Tôi về muộn nên phát biểu sau cùng, khẳng định cô Trợ không đi chiêu hồi, và dẫn chứng thêm: Đợt hoạt động A15 ở hang đá Cẩm Đức cuối 1969, từ Hoài Nhơn, một mình đồng chí Trợ hộ tống 3 ca thương, đồng chí Tĩnh đi trước, bị Mỹ bắn chết, cô cũng bị thương, thương binh chạy mỗi người một ngả. Đồng chí Trợ đã bình tĩnh đi tìm đủ thương binh rồi lách địch tìm đường về hậu cứ. Bị lạc 2 ngày 2 đêm, mưa, lạnh, đói, vết thương sưng vù nhưng cô đã quên mình, chăm sóc anh em và đưa về an toàn. Đội phẫu lúc đó đã gọi cô là “Bà út tịch” của đội... Ngừng một lát, tôi nói khẽ, giọng hơi run: Chỉ sợ, bọn biệt kích Mỹ bắt về đâu đó giỡn chơi như mèo vờn chuột.

        Cuối cùng đồng chí Ai kết luận: Dù tin đồng chí Trợ không đi đầu thú, nhưng mọi người vẫn chuẩn bị di chuyển qua vị trí mới do đồng chí Đáng đã bố trí. Phải báo cáo sự việc với Chủ nhiệm Hậu Cần (đồng chí Bách) ở Sở Chỉ huy cơ bản, đồng chí Thân, Phó Chủ nhiệm ở Sở Chỉ huy tiền phương Trung đoàn.

        Thêm một ngày căng thẳng chờ đợi trôi qua. Đêm đó không có thương binh, chỉ có gạo về. Khu trạm vắng ngắt, không một tí gió, tiếng ve sầu kêu da diết, nghe càng thêm nóng bức. Dù không tin nhưng trong đầu tôi cứ lảng vảng ý nghĩ: Nếu cô ấy đi chiêu hồi thì cả tuyến đường và kho, trạm vừa mới mở sẽ bị lộ hết, rồi những khó khăn về vật chất và tư tưởng bộ đội, địch sẽ biết, chúng sẽ đánh phá mạnh hơn. Tôi trằn trọc suốt đêm, không tài nào ngủ được.

        Sáng ngày thứ 3, tôi lại ra hố nước, nơi cô Trợ đi giặt băng, sau đó lần theo mấy cây ổi ven đồi để xem có dấu vết người hái quả không. Tới cuối gò, tôi thấy một quả ổi xanh nằm ngay dưới gốc cây, xung quanh gốc có dấu chân dẫm sương trên cỏ, lần theo dấu chân ấy về đến hố nước của bếp ăn đơn vị thì mất. Ý nghĩ cô Trợ bị lạc lớn dần trong đầu. Tôi đề xuất với Chính uỷ Huỳnh Hữu Ai cho thêm người cùng tôi đi tìm. Thấy tôi hăng hái, đồng chí Hồng, chiến sỹ vận tải nói chen vào: “Đề nghị thủ trưởng Ai treo giải, ai tìm được cô Trợ thì gả cô Trợ cho đồng chí đó, vừa khao thưởng, vừa để cô ấy khỏi chòng chành.”

        Chiều hôm đó tôi đi về phía gò có nhiều cây ổi. Nếu đồng chí Trợ bị lạc sẽ đói và sẽ đi tìm trái cây để ăn. Đi tới, đi lui, đi ngang, đi dọc khu gò. Trời gần tối, tôi định quay về. Bỗng giật mình thấy trước mặt, một người đang ngồi tắm. Cứ như trên trời rơi xuống. Nhìn kỹ, đúng là Trợ rồi. Tôi nép vào bụi cây hồi hộp tự hỏi: Có nên gọi không, mắt theo dõi không buông, sợ cô biến mất. Lần đầu tiên trong đời, nhìn một người con gái tắm trần, tôi thấy nóng mặt, tự ngượng, nhưng lại vẫn muốn nhìn. Thì ra, con gái giải phóng, mặc quần áo thùng thình thì không mấy ai để ý nhưng bên trong, thân thể của họ có đường nét rất đẹp và hấp dẫn. Tôi nhắm mắt nhưng sợ cô biến mất nên lại “phải” nhìn, đành chịu tội mất nết xem lén nẫu tắm. Trong lòng không khỏi lo lắng: Tội nghiệp, 3 ngày nay đói, sao mà tắm lâu vậy?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 08:53:01 pm »


        Khi Trợ vừa mặc áo quần xong, tôi mới khẽ gọi: “Cô Trợ, cô Trợ phải không? Tôi, Đáng đây.”

        Trợ dừng lại luống cuống hỏi: “Anh Đáng! Ôi! Anh Đáng! Đơn vị đi đâu cả mà vắng teo, em tìm không ra?” Rồi chợt như nhớ ra điều gì, cô hỏi: “Anh đến lâu chưa?” Tôi trả lời thành thật: “Lâu rồi!” Cô khẽ kêu lên: “Thôi chết, anh nhìn em tắm?”. “Ừ! Có nhìn nhưng không bị tội cố ý. Tôi đi tìm cô!” Trợ nắm lấy tay tôi: “Eo ôi, em bắt đền anh. Em bắt đền anh!” Tôi nói vui: “Hết chiến tranh anh sẽ trả, còn bây giờ lại chỗ tảng đá ngồi, kể anh nghe.” Trợ chủ động hỏi: “Chắc cả đơn vị cho rằng em đi chiêu hồi phải không anh? Họ di chuyển đi nơi khác phải không ? Sao vắng tanh thế này?...” Tôi sốt ruột hỏi lại: “Tại sao cô không về? Cả đơn vị và anh chị em đều lo cho em suốt mấy ngày nay.” Thế là Trợ ôm chầm lấy tôi mà khóc. Cô nói trong nước mắt:

        - Anh! Thủ trưởng ơi! Em ngốc quá, không thể nào tìm ra đường mà về. Khổ tâm em lắm, anh có tin em đi lạc không?

        - Không tin mà đi tìm cô?

        Trợ kể: Sáng hôm ấy, trời còn mù sương, em tranh thủ đi giặt băng. Phải đổ nước bẩn đi xa hố nước nên về chậm. Các anh gác đường đã nguỵ trang quá tốt nên em không tìm được dấu vết để về. Em đi đi lại lại mấy vòng nhưng càng đi càng mất phương hướng. Em hoảng quá, càng lo sợ càng làm em lúng túng, quẫn trí. Chỉ sợ gặp địch sục sạo. Sáng chưa ăn, em thấy đói và khát, lần tìm cái ăn, nước uống. Gặp một hang đá, em lại chui sâu hơn. Nằm trong hang em nghĩ: Chắc là đơn vị đoán mình đi chiêu hồi nên đã chuyển chỗ ở. Em tìm cục đất khô viết lên vách đá: “Trợ này không bao giờ phản bội Đảng và đồng đội”. Anh muốn xem, em đưa anh vào hang đá xem!

        Tôi bảo: khỏi cần, cô cứ nói tiếp đi!

        “Em nằm lì chờ chết trong hang. Nhưng không chết mà bụng đói cồn cào. Nhắm mắt mà không ngủ được, cứ nghĩ vẩn vơ và nhớ các anh, nhớ mấy chị em”. Tôi nói xen vào để Trợ bớt xúc động: “Thế có nhớ riêng tôi không?” Trợ đánh khẽ vào vai tôi và bảo: “Đừng nói xạo. Nhưng cũng lạ thiệt, sao lại thấy anh đầu tiên sau bao nhiêu ngày bị lạc?” Rồi Trợ nhắc tới những ngày nấu một ăng-gô nhưng cơm lại thừa vì ai cũng nhường nhau. Một ngày hành quân ăn 6 quả chuối vẫn để dành 1 quả cho người ăn khoẻ... Anh em sống với nhau như thế mà nay lại chết ở đây. Một cái chết không rõ ràng. Có thể còn mang tiếng phản bội. “Thế là em vùng dậy” – Trợ nói tiếp: “Mình phải sống, phải tìm về đơn vị. Em bò ra khỏi hang đi hái ổi. Ăn xong lại đi loanh quanh, tối lại về hang. Và hôm nay em ra tắm”. Trời đã lờ mờ tối, Trợ giục tôi: “Ta về đi anh. Bây giờ thì em phải theo sát anh!” Tôi nói vui: “Là em bảo đấy nhé. Hãy theo tôi về nhà. Hết chiến tranh tôi còn sống sẽ đến hỏi em, không phải trầu rượu nữa nhé!” Trợ cũng không phải vừa, đáp lại: “Em sẽ theo về nhà anh không cần lễ hỏi, nhưng lúc đó anh phải chịu là người tù của em...”

        Trời tối hẳn thì chúng tôi về tới trạm. Lách qua mấy chiếc võng dù ở sườn đồi, tôi dắt Trợ đi thẳng xuống bếp. Cô Sơn, nuôi quân đang nằm trên võng hát khẽ: “Ngày mai em lên...”. Tôi chợt cắt ngang:

        - Báo cáo bếp trưởng! Tôi, Đại đội bậc trưởng, Trưởng ban Kế hoạch xin 2 phần cơm!

        Cô Sơn biết tiếng tôi, không quay nhìn và hỏi luôn:

        - Chị Liên đến na anh? (Liên là người yêu của tôi)

        - Ừ .... ừa... Tôi ấp úng.

        Sơn vẫn nằm trên võng, lúc đó mới ngoái nhìn 2 chúng tôi, rồi cô bỗng bật dậy, kêu lên:

        - Trời đất! Mô Phật! Chị Trợ phải không? Chị Trợ thật rồi!

        Tin lan nhanh khắp trạm. Mọi người kéo đến, người cười, người khóc chúc mừng...

Quy Nhơn, 30-04-2005       
N.V.Đ                   
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 09:17:11 pm »


TRẠM HẬU CẦN TRUNG CHUYỂN

        Cuối năm 1970, Trung đoàn 2 được tăng cường 4 Tiểu đoàn trực thuộc của Sư đoàn (do Sư đoàn phải tạm giải thể vì khó khăn về quân số, vũ khí). Đó là Tiểu đoàn Đặc Công, Tiểu đoàn Pháo Mặt đất, Tiểu đoàn Công Binh và Tiểu đoàn súng máy Cao Xạ. Lực lượng tương đương một Lữ đoàn.

        Đ/c Việt Sơn làm Chỉ huy trưởng

        Đ/c Nguyễn Ngọc Tiến làm Chính ủy

        Đ/c Vũ Quang Trắc, Trung đoàn trưởng nay làm Chỉ huy phó

        Đ/c Dương Minh Ngọ, Chính ủy Trung đoàn nay là Phó Chính ủy.

        Đ/c Võ Bách Chủ nhiệm Hậu cần

        Đ/c Nguyễn Thế Hoạt và Hồ Viết Thân đồng Phó Chủ nhiệm Hậu cần

        Đ/c Nguyễn Văn Chước, Chủ nhiệm Chính trị...

        Sau Tết Tân Hợi (1971), Lữ đoàn đánh trận đầu tiên diệt đồn An Bảo (xã Mỹ Lộc). Dự kiến địch sẽ đổ quân phản ứng, nhưng sau 3 ngày vẫn im lặng. Nhân dân vùng đông huyện Phù Mỹ dưới sự lãnh đạo của cán bộ địa phương đã liên tục nổi dậy phá ấp ở 2 xã Mỹ Đức và Mỹ Thọ. Đến ngày thứ 4, địch ồ ạt phản kích. Trung đoàn 41 ngụy càn quét xã Mỹ Lộc, chiếm lại đồn An Bảo. Quân Mỹ từ Quảng Ngãi được trực thăng chở đến đổ ở phía sau khu chiến, chiếm các mỏn núi phía Tây các xã Mỹ Trinh, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc. Quân Nam Triều Tiên đánh ra phía nam khu chiến, chiếm thung lũng xã Cát Sơn. Các hành lanh cơ động của ta từ phía trước đến phía sau bị cắt đứt.

        Trạm Hậu cần trung chuyển của Trung đoàn do tôi phụ trách đứng ở núi Chùa (tiếp giáp 2 xã Mỹ Trinh và Mỹ Hòa) bị cô lập. Thêm vào đó, quân Mỹ ở An Khê (tỉnh Gia Lai) cũng được trực thăng đổ xuống đỉnh núi Chùa, san ủi, đắp lô cốt, chăng dây thép gai... coi như chúng ở trên đầu trạm chúng tôi. Nhiệm vụ của Trạm là tiếp nhận thương binh từ các đơn vị chiến đấu ở phía trước và tổ chức lấy gạo, thực phẩm ở đồng bằng lên. Sau đó, chuyển về hậu cứ. Đồng thời nhận cơ sở vật chất từ sở chỉ huy Trung đoàn cung cấp cho phía trước.

        Thấy tình hình địch bủa vây xung quanh, tôi triệu tập cán bộ từ trung đội trở lên đến họp, bàn cách xử trí. Nơi họp đặt dưới một tảng đá nằm nghiêng như mái nhà có thể trú được chục người an toàn. Tôi thông báo cho mọi người, chúng ta đã đứt liên lạc với chỉ huy sở phía trước và chỉ huy sở cơ bản. Xung quanh ta hiện nay là địch. Các con đường về phía sau đã bị địch chiếm. Đồng chí Tân, đồng chí Lới đi tìm đường vẫn chưa thấy trở về. Gạo mấy bữa nay không lấy được, thương binh còn hơn 10 ca v.v...

        Mở đầu, đồng chí Nguyễn Thị Thu, Phó Chính trị viên Đội Phẫu lên tiếng:

        - Theo em, tình hình khó khăn còn dài. Xã Cát Sơn không còn dân. Ấp Mỹ Hòa đông nhưng ta chưa móc nối được cơ sở. Gạo ăn của Đội Phẫu, lấy ở xã Mỹ Lộc không đi được. Bởi vậy đề nghị anh Thân, Phó Chủ nhiệm ở Trạm Tiền phương chi viện.

        Đồng chí Khuynh, Đội trưởng Đội Phẫu phát biểu:

        - Đồng chí Ích, dược tá đã hy sinh, không có người pha chế thuốc. Băng, gạc sắp hết. Thương binh còn 12 ca, trong đó có 1 ca phải cõng, 2 ca phải khiêng.

        Đồng chí Thứ, Phó Đại đội trưởng Vận Tải ý kiến:

        - Đại đội trưởng đã dẫn một trung đội đi phía trước với Sở Chỉ huy tiền phương. Tiểu đội đồng chí Phụng cắm chốt ở xóm Đồng Cầu. Nhân lực đơn vị ở đây yếu. Tôi thấy địch trên đỉnh núi Chùa, dù ở trên đầu chúng ta nhưng đã quây hàng rào thép gai, chứng tỏ nó cũng sợ ta, chắc không dám xuống. Vì vậy, ta cứ ở đây cho bất ngờ. Chỉ cần giữ bí mật cho tốt và khẩn trương tìm đường để đưa hết thương binh về phía sau.

        Đồng chí Hùng nói:

        - Bảo đảm an toàn là trên hết. Cần bám chắc địch. Tôi biết giữa khu vực quân Mỹ đóng và khu vực quân ngụy đóng thường sơ hở, có thể lách qua. Chỉ lo không nắm được bố phòng bằng mìn của du kích. Chị Thiết, Xã đội trưởng Mỹ Trinh thường nhắc chúng ta nên đi qua đường xóm vì du kích không bố phòng ở trong làng.

        Đồng chí Quang, trợ lý quân y phát biểu:

        - Núi Chùa dù có địch ở trên đỉnh, nhưng thành núi đá dựng đứng, bộ binh địch không đi lùng sục được. Ta đứng chân ở núi Chùa là tốt nhất...

        Qua ý kiến mọi người, tôi kết luận: Lấy núi Chùa làm nơi cư trú của Trạm. Trước mắt, cử đồng chí Chắt, trợ lý thống kê đi ra Sở Chỉ huy tiền phương báo cáo đồng chí Thân không cho chuyển thương về Trạm Phẫu nữa mà chuyển ra Trạm xá huyện Phù Mỹ ở núi Chóp Chài. Nếu thuận lợi thì thương binh trạm ta cũng chuyển dần ra phía đó. Địch ngăn chúng ta ở phía sau thì ta tiến ra phía trước. Chúng sẽ không ngờ tới. Số bị thương nặng sẽ chuyển thẳng về K17 (Bệnh xá của Quân khu V), không chuyển về Trạm xá Trung đoàn ở hậu cứ. Chiều nay, đồng chí Hùng, đồng chí Khánh tới gặp tôi để bàn cách mở đường chuyển thương về phía sau.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 09:17:47 pm »


        13 giờ, Hùng và Khánh có mặt. Tôi đặt tấm bản đồ 1:100.000 xuống đất. Mấy đồng chí thương binh ở gần đó cũng lần tới nghe. Tôi chỉ vị trí K17 và vị trí của trạm đang ở Núi Chùa, chỉ vị trí bọn địch đã đổ quân chốt chặn. Sau đó vạch một con đường trên bản đồ và giải thích: “Ta sẽ xuất phát tại đây (gọi là điểm A) đi hướng tây gặp suối Đập Làng, ngược suối Đập Làng đi về hướng bắc xuyên qua Yên Ngựa giữa cao điểm 602 và 550, xuống dốc gặp suối khô, đi tiếp hướng tây nam gặp một suối khô khác tạo thành chữ Y, đi xuống một quãng là suối Đá Tượng. Hạ lưu suối Đá Tượng là K17”. Thấy anh em có vẻ chưa hiểu, tôi nói thêm: “Phải kết hợp bản đồ và địa bàn để không bị chệch hướng. Chệch hướng là đi vào chỗ địch phục kích ngay. Để khênh được thương binh phải chọn bình độ vừa phải mà đi. Bình độ vẽ trên bản đồ thể hiện độ cao thấp. Đường bình độ vẽ thưa là triền núi thoai thoải dễ đi. Đường bình độ vẽ dày là triền núi dựng đứng, khó đi. Lại phải chú ý màu sắc ở bản đồ. Chỗ màu xanh sẫm là rừng già, chỗ màu vàng là đồi tranh. Suối khô là nét màu xanh đứt quãng, suối có nước là nét màu xanh liền mạch... Kinh nghiệm của tôi, nếu giữa hai đường bình độ mà kẻ được một đường bút chì là đi tốt, kẻ được 2 đường bút chì là đi dễ. Còn đường bình độ sít nhau là dốc trên 45 độ, không thể khênh thương được.”

        Sau khi giới thiệu trên bản đồ, chúng tôi bắt đầu xuất phát. Tôi đi trước, trong tay cầm la bàn. Hùng và Khánh đi sau phát cây đánh dấu. Tới ngã ba suối khô hình chữ Y, tôi dừng lại đặt bản đồ, kiểm tra thấy đúng. Khánh và Hùng mừng vui với vẻ thán phục. Tôi nói: “Từ đây chỉ một đường dọc suối đi xuống là tới K17. Các đồng chí nhớ lấy.” Tất cả chúng tôi quay lại để kịp chuẩn bị cho ngày mai chuyển thương. Mặc dù đã đi khá nhanh nhưng đến tối mịt chúng tôi mới xuống hết dốc. May trời có trăng nên dò dẫm hơn 1 tiếng đồng hồ mới về tới trạm. Mọi người đổ xô tới hỏi: “Đã thông đường chưa?” Hùng trả lời: “Thông được một nửa, nhưng các anh cứ ngủ ngon, mai còn lên đường sớm.” Tôi chuẩn bị đi ngủ thì thấy đồng chí Thứ tới. Tôi hỏi: “Sao anh không đi nghỉ.” Thứ trả lời: “Tôi chờ anh. Báo cáo trưởng ban cho tôi đi chuyển thương vì đợt này đông và có ca phải cõng. Chỉ có tôi và đồng chí Cừ là đủ sức cõng. Hai người thay nhau cõng mới bảo đảm”. Tôi hoanh nghênh và đề nghị Thứ chuyển thương. Nếu có gì khó khăn thì đưa bản đồ cho đồng chí Thịnh, cán bộ tác chiến bị thương sẽ giúp xác định phương hướng. Tôi và đồng chí Khuynh chúc mọi người hành quân trót lọt. Định quay đi thì đồng chí Thịnh, đồng chí Vượng và đồng chí Quế là những cán bộ của Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bị thương, chống gậy tới và nói: “Thay mặt tất cả anh em thương binh cám ơn anh chị em hậu cần, vận tải, quân y trong trạm suốt mấy ngày qua đã chăm lo chu đáo và hôm nay còn mở được đường để chuyển thương. Các đồng chí không chỉ giỏi về công tác đảm bảo hậu cần mà còn giỏi cả công tác tham mưu như những sĩ quan tác chiến.”

        Tôi và anh Khuynh quay về trạm. Ra khỏi rừng thì trời tối. Trăng sáng, vượt qua mấy đám ruộng hoang ngập cỏ. Mấy con chim kền kền bay vọt lên kêu hoảng loạn “Cheeng cheeng héc! Cheeng cheeng héc!” Đây là một loài chim rất thính, luôn đi cả đàn, bay, nhảy, là là mặt đất. Hễ có động là kêu toáng lên. Nhiều lúc nguy hiểm cho ta lúc hành quân gần địch. Nhưng cũng có lúc báo động cho ta biết có địch hành quân phục kích.

        21 giờ, tôi và Khuynh về tới trạm. Đói, mệt. Đồng chí Khê vội xuống bếp lấy cơm. Tôi hỏi Khê mở đài miền Bắc nghe ta bắn rơi chiếc máy bay thứ mấy rồi? Khê trả lời: đài hết pin phải ghé sát tai mới nghe lõm bõm. Các cô nuôi quân cười bảo: “Anh Khê chuyên nghe “đài ghé”. Khê không biết nói lái nên cao giọng thanh minh: “Đài hết pin không ghé tai vào thì làm sao nghe được.” Các cô càng cười to hơn. Tôi phải giải thích cho Khê rằng: các cô nói em nghe “đài ghé”  là nói em “đè g...”. Khi đó Khê mới đỏ mặt đi ra.

        Ngày N+65: đồng chí Ai, Chính ủy Trung đoàn đến Trạm Trung chuyển thông báo những hoạt động thắng lợi của ta đã giải phóng từ xã Mỹ Đức, Mỹ Thắng đến Mỹ An, Mỹ Thành, Mỹ Cát, Mỹ Tài (huyện Phù Mỹ). Nhiệm vụ của trung đoàn sắp tới là giữ vững vùng giải phóng, và tiếp tục trừng trị tề ngụy ngóc đầu dậy. Sẵn sàng đánh lại bọn bảo an và lính Cộng hòa đi càn, không cho chúng lập lại ấp. Thủ đoạn của chúng là dùng xe tăng, xe bọc thép có chi viện của pháo binh, máy bay cho bộ binh tiến công.

        Ta đang khó khăn về đạn chống tăng. Cuộc chiến sẽ căng thẳng, ác liệt, thương vong sẽ lớn hơn. Bọn Mỹ và lính Nam Hàn tránh tác chiến trực diện để chờ về nước. Nhưng lại tích cực tham gia đổ bộ, phục kích đánh phá hậu cứ của ta. Các kho trạm phải cảnh giác và xác định tự chiến đấu để bảo vệ mình, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm. Trung đoàn tăng cường choTrạm trung chuyển 2 chiến sỹ trinh sát giỏi.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2017, 09:18:18 pm »


        Đồng chí Khuynh, đội trưởng đội phẫu báo cáo, hiện tại có 2 ca thương phải phẫu thuật. Thuốc gây tê, gây mê đều hết. Nếu phẫu thuật sẽ có tiếng kêu la, địch nghe thấy. Đồng chí Hải, phó chính trị viên đại đội vận tải đề xuất đổi giờ làm việc. Buổi sáng từ 4-8 giờ là lúc bọn địch chưa hoạt động. Nếu có tiếng kêu la, địch cũng không nghe thấy. Đồng chí Ai nhất trí.

        Khoảng 14 giờ hôm đó, tôi dẫn 2 trinh sát ra vọng gác giới thiệu địa hình và tình hình xung quanh. Tôi hỏi:

        - Các đồng chí về Lữ đoàn lâu chưa? (Lúc đó Trung đoàn 2 gọi là Lữ đoàn)

        - Em là Tiến, về đơn vị năm 1969, lúc ở Quảng Ngãi.

        - Em là Hỷ cùng về với anh Tiến.

        - Vậy là cựu binh rồi – Tôi nói. Nhưng chưa hoạt động vùng này phải không?

        - Vâng ạ! – Cả hai cùng đáp.

        Tôi nói rõ nhiệm vụ chủ yếu của 2 đồng chí là bám nắm địch và dẫn đường cho bộ đội chuyển thương binh, chuyển hàng qua vùng địch kiểm soát. Phải giữ bí mật, không để lại dấu vết sau mỗi lần đi và không để xẩy ra tác chiến. Việc nấu nướng nhờ vào dân. Dân ở đây chỉ còn bảy, tám gia đình, toàn đàn bà, trẻ em và người già. Họ rất thương bộ đội nhưng rất nghèo, không được đòi hỏi gì ở họ. Đêm nào họ cũng đón bộ đội và cán bộ dân chính qua lại đun nấu, ngủ nhờ tới sáng. Hai người phải nấu cho mình đủ ăn cả ngày. Ban ngày lên núi không được nấu nướng gì. Địch luôn dòm ngó cái xóm nhỏ này, bắn pháo bất kỳ và muốn tập kích vào ban đêm nhưng sợ mìn của du kích xã đội do cô Thiết chỉ huy. Chúng còn sợ cả con chó nhà bà Hai. Con chó khôn hết nói. Cán bộ, bộ đội đi suốt đêm thì không sao nhưng lính Mỹ, lính ngụy từ vùng địch mò lên là nó sủa từ xa. Địch tiến, nó lui, địch lui, nó bám theo. Nó chuyên nằm chỗ kín ở bìa làng hoặc mé đường cái lớn. Anh em mình ngủ trong làng cũng yên tâm. Đồng bào ở đây sống nhờ hạt gạo, củ khoai, ngọn rau quanh nhà và kiếm củi đem xuống vùng địch bán. Không nuôi heo, gà. Ăn chỉ có cơm, rau, muối, mắm. Tối ngủ dưới hầm kèo (hầm chữ A). Người già có võng nằm. Người khỏe trải chiếu hoặc nilon xuống đất. Họ sống như vậy bao năm nay rồi. Chúng ta phải quý trọng họ, không được làm điều sai trái.

        Tôi đang say sưa giải thích mọi việc như vậy thì bỗng nhiên, đồng chí Tiến giật tay áo tôi và nói:

        -   Anh Đáng ! em đã nhận ra anh rồi. Anh là người đã từng cắt tóc cho em mấy lần...

        -   Tôi ngỡ ngàng hỏi:

        -   Cắt tóc cho cậu. Ở đâu, bao giờ?

        -   Anh còn nhớ cách đây 16 năm, chiều nào anh cũng trèo lên chòi, dùng loa mo cau đọc báo cho cả xóm em nghe. Em trèo lên, anh không cho, lại còn mách với cha em...

        -   Thế cậu là người Nghệ An? Ở Diễn Kỷ, Nghi Long, Nghi Kiều hay Nghi Đức?

        -   Em quê Hà Tĩnh, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, có nhà thờ Thiên Chúa giữa làng.

        Tôi nhớ ra rồi. Dó là một làng quê nghèo. Năm 1954 lụt lớn, vỡ đê. Dân đói không có rau ăn. Tết năm 1955, mạ cấy xuống, có phù sa, lúa tốt mơn mởn, nhưng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, nghe bọn phản động đội lốt cha cố tuyên truyền “Cộng sản vô đạo, Chúa đã vào Nam”, thế là bà con bỏ ruộng đồng, nhà cửa, kéo nhau xuống Cửa Sót để lên tàu thủy của Pháp đi vào Nam. Hồi đó, tôi được đơn vị cử đi làm công tác dân vận, thực hiện 3 cùng: “Cùng ăn, cùng ở, cùng làm viêc với dân” để vân động đồng bào đừng nghe lời kẻ xấu. Lúc đầu, bà con Công giáo không cho vào nhà. Có nơi còn cho các bà, các chị, các o cởi truồng để bộ đội xấu hổ không dám tiếp cận. Chúng tôi ở ngoài vườn, ngày 2 buổi ra đồng tát nước, làm cỏ. Chiều về dọn vệ sinh, cắt tóc, tắm gội cho trẻ em. Tối tối, từng tổ 3 người đến các gia đình, nói chuyện với bà con mọi điều phải, trái. Dần dần họ hiểu và mời bộ đội vào nhà rồi rủ nhau đi làm đồng. Đa số bà con bỏ ý định đi vào Nam. Thôn xóm rộn ràng tiếng hát, tiếng học chữ.

        Năm đó lúa tốt, được mùa to. Nhà nào cũng có lúa mới. Đơn vị liên hoan văn nghệ. Bà con đến dự đông nghịt. Sau khi nghe đồng chí chỉ huy tuyên bố, đây là buổi liên hoan chia tay, cả sân đình nhốn nháo hẳn lên, không hát múa gì được. Bà con khóc lóc níu áo bộ đội, kể lể mọi chuyện những ngày bộ đội nhường cơm, sẻ áo cho bà con...Sáng hôm sau, bộ đội lên đường, các mẹ, các chị, các em khóc nức nở chẳng khác gì ngày tôi tập kết ra Bắc.

        Cậu Tiến kể, cả làng em, mấy năm sau, dù đã quên tên nhưng vẫn nhớ và nhắc anh bộ đội quê Trị Thiên trẻ, đẹp, nói năng lễ phép và giỏi văn nghệ, yêu trẻ em.

        Tôi cười bảo

        -   Mới đó mà 15, 16 năm rồi. Người thì tớ quên nhưng chuyện về làng cậu thì không bao giờ quên.

        -   Thế anh đã có vợ chưa ? Đột nhiên Tiến hỏi.

        -   Hai lần yêu nhưng phải thôi vì đánh địch liên miên.

        Tối hôm đó, tôi trực tiếp xuống trạm gác Đồng Cầu để bàn giao 2 đồng chí trinh sát. Trước khi đi, tôi tuyên bố:

        -   Các đồng chí trinh sát còn mới lạ nên đêm nay, các đồng chí vận tải đi trước, kế đến là đội phẫu, sau cùng là trinh sát và tôi. Hai đồng chí trinh sát phải nhớ đường để từ lần sau làm đúng nhiệm vụ.

        Bàn giao 2 trinh sát cho trạm Đồng Cầu xong, tôi rủ Tiến và Hỷ đi tắm cho biết chỗ. Xóm Đồng Cầu ít nhà, ít người nhưng tối đến là nhộn nhịp. Bộ đội, cán bộ dân chính, dân quân, du kích, đủ mọi thành phần nam, nữ. Nhà nào cũng có bốn năm người nấu cơm, nước. Đường ra suối vắng vẻ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2017, 08:24:36 am »


        Bỗng có tiếng con gái rì rầm phía suối. Cậu Tiến hỏi: trước mặt là một xóm nữa hay sao mà có tiếng người? Tôi bảo: không phải xóm làng mà là xóm cơ động của trạm phẫu. Họ đi gùi hàng và cũng tranh thủ tắm như chúng mình. Tôi đằng hắng mấy tiếng để báo động. Các cô im lặng. Tôi lên tiếng:

        -   Ai có xà phòng cho mượn một lát.

        -   Có đây! Anh Đáng phải không? Sang đây lấy một cục mà giặt.

        Cậu Hỷ hỏi tôi:

        -   Anh là cán bộ mà không được cấp xà phòng? Tôi không trả lời mà hỏi lại:

        -   Cậu vào chiến trường lâu chưa?

        -   Dạ, hai năm ở núi rồi.

        -   Thế cậu có biết tiêu chuẩn của Quân Giải phóng miền Trung Trung bộ chưa. Hãy nghe đây. Trên giấy thì mỗi ngày 2 lon rưỡi gạo (khoảng 6 lạng), 2 đồng tiền thức ăn (tiền ngụy Sài Gòn). Nhưng thực tế, có nhiều thì ăn đúng quy định, có ít thì ăn ít, không có thì tìm củ mỳ (sắn) và rau rừng. Phụ cấp sinh hoạt cá nhân chỉ cấp cho phụ nữ, mỗi tháng 20 đồng tiền vệ sinh. Còn con trai chúng mình “luôn sạch sẽ” nên không có phụ cấp khoản ấy.

        Chúng tôi tắm vũng nước trên dòng. Các cô tắm vũng nước dưới dòng. Các cô nói vọi lên: “ Đàng ấy có ai bị hắc lào thì khoan hãy tắm, kẽo nó trôi xuống bám vào chúng em thì gay”. Tôi trả lời “ Bọn anh toàn người đẹp. Có cần kiểm tra thì lên đây. Còn các cô cũng tắm sơ sơ thôi, kỳ cọ kỹ quá thì cá sẽ cay mắt, chết mất giống. Mà nhớ ở suối có nhiều đỉa trâu, sờ mà bắt, đừng soi đèn pin, địch trên đồi phát hiện, chúng bắn pháo, không kịp mặc quần áo mà chạy đấy.”, Nghe nói có đỉa trâu, các cô vội vã tắm và rút lui. Ba anh em chúng tôi tiếp tục tắm. Tôi hỏi cậu Hỷ quê ở đâu. Hỷ trả lời: “Em có nói chắc anh cũng không biết... Quê em ở tận Đồng Hỷ, Thái Nguyên”. Tôi hỏi: “Có gần bến đò Huống Trung không? Cậu có biết nhà anh Tính cô Tình, trước cổng có cây bông gòn rất to”. Và rồi tôi kể cho hai người nghe: Đầu năm 1957, tớ được cử đi học lái xe ở trường Tiến Bộ. Trường ở gần chùa Hang Dơi, trên đường đi Trại Cau, Bố Hạ. Ban đầu các học viên phải ở nhờ nhà dân. Tại Đồng Bẩm khi có mới có tổ đổi công. Ban ngày cánh tớ đi tát nước cho bắp cải, su hào. Trời không mưa. Lạnh cóng tay, nứt môi. Đúng là “rét Thái Nguyên”. Tối ra nằm chơi bờ sông với mấy anh câu cá chép. Cách câu cá không mồi ở quê cậu thật lý thú. Đúng là câu chơi ăn thật... Cậu Tiến hỏi chen vào: “Câu kiểu gì mà không cần mồi?” Tôi kể tiếp: “Người đi câu dùng một sợi dây làm triêng giăng từ bên này sông qua bên kia sông. Trên dây triêng từng đoạn khoảng 30cm buộc một dây câu có lưỡi câu chùm, không có ngạnh nhưng rất bén. Một đầu dây triêng buộc vào cọc mềm. Trên cọc treo một ống bơ rỗng chứa mấy hòn đá bi. Xong việc là nằm đó tán dóc. Vào mùa cá đẻ. Bụng tức trứng. Bờ sông cao không có cỏ rác. Cá đi tìm chỗ để cà bụng để cho trứng xịt ra. Gặp dây câu, chúng cà vào và mắc phải lưỡi câu, vẫy vùng làm giật dây triêng, rung cọc, rung lon, ta chèo ghe ra cầm vợt xúc lên. Cá bắt được con nào cũng đầy bụng trứng.”

        Thật không ngờ ngay ở chiến trường xa xôi này, tôi lại được gặp hai chiến sỹ là những người con của những vùng quê mà tôi có nhiều kỷ niệm. Tôi coi các đồng chí ấy thân thiết như ruột thịt. Tôi cũng cảm nhận tình cảm các đồng chí ấy đối với tôi như người anh thân thiết, từng trải.

        Bất ngờ cậu Hỷ hỏi:

        - Suối này là suối gì, anh Đang?

        - Trong bản đồ là suối Húc Giang. Nhân dân gọi là suối Lạc Sơn, vì nó chảy qua thôn Lạc Sơn, còn bộ đội ta gọi là suối Máu Lửa. Cái tên Máu Lửa được gọi từ mùa hè năm 1968. Năm đó, sau Tết Mậu Thân, Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 173 Mỹ ra phản kích. Hàng năm, sáu chục chiếc xe tăng, xe bọc thép dàn hàng ngang tiến vào khu vực này, bắn pháo, DKZ 90 li lên vách núi, hang đá. Máy bay trực thăng hai chong chóng mang hàng chục phi xăng thả vào các cửa hang, sau đó máy bay HU1A phóng tên lửa cho xăng cháy. Tiếp đến dùng máy bay phản lực ném bom, triệt hạ cây cối, công sự, hang đá. Chúng chà đi xát lại mấy lần, lửa khói ngút trời. Lúc đó xe tăng và bộ binh Mỹ mới tràn lên như vào chỗ không người. Nhưng chúng không biết rằng, con suối này mùa mưa thì nước lũ, mùa khô thì hết nước. Lòng suối sâu tới hai mét, trở thành đường hào tự nhiên từ trong núi dẫn ra đồng bằng. Khi địch đánh phá rìa núi thì bộ đội ta đã cơ động theo suối, bí mật tiến ra. Khi xe tăng, bộ binh địch tiến sâu vào núi thì các đơn vị từ lòng suối vọt lên đánh vào sau lưng chúng, dùng B40, B41, DKZ 57, DKZ75, bắn cháy 36 chiếc xe tăng, xe bọc thép. Địch bị thất bại thảm hại và ta cũng bị tổn thất một tiểu đoàn. Bãi chiến trường khét lẹt, đen thui khói đạn, máu chảy đỏ lòng suối. Suối này có tên Máu Lửa từ đó. Cũng từ đó, khu vực này luôn là chỗ dòm ngó, đánh phá của địch. Còn chúng ta, với tư tưởng chỉ đạo: “Chỗ nguy hiểm chính là chỗ bất ngờ và an toàn nhất” nên thường đặt trạm tại đây. Mấy tháng qua, chúng đổ quân phục kích liên tục mọi ngả đường. Nhưng đối với ta, đường là do mình tạo ra. Ta muốn đi đến đâu thì cứ mở bản đồ, xem chỗ nào không có địch thì mở đường ta đi. Những con đường không có trong bản đồ. Rừng núi là của ta. Ta có thể đi sát nách chúng, ở sát nách chúng. Trạm Trung chuyển của Trung đoàn tồn tại được ở khu vực này là bởi như vậy.

Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005       
N.V.Đ                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2017, 08:31:03 am »


MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

        Những mẩu truyện trích Hồi ký của Đại tá Vũ Quang Dũng,
        Thầy thuốc Ưu tú, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân y
        Sư đoàn 3- Sao Vàng (1965-1975)


THỜI KỲ GIAN KHỔ NHẤT

        Tại Bình Định trong năm 1969 chỉ có Trung đoàn 12 hoạt động ở cánh Nam, nên những nơi khác địch gây khó khăn cho ta nhiều hơn. Quân số Sư đoàn thiếu, nhiều đại đội chỉ còn 20-25 tay súng. Kinh tế rất khó khăn, đơn vị đã tự sản xuất nuôi mình 2-3 tháng. Hoạt động vừa thiếu quân vừa thiếu đạn, chỉ còn nửa cơ số nên đánh ít hơn. Tháng 2/1970 Trung đoàn 22 phải giải thể, phân tách các tiểu đoàn cho các tỉnh đội ( Tiểu đoàn 7 về tỉnh Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 8 về tỉnh Bình Định, Tiểu đoàn 9 về tỉnh Phú Yên). Cuối năm, Sư đoàn 3 cũng giải thể chỉ còn Trung đoàn 2 và Trung đoàn 12. Đồng chí Mai Nhẫn làm Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 2. Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 60 nhập thành Bệnh xá 305 của Cục Hậu cần Quân khu 5.

        Hôm Trung tá, bác sỹ Cát Huy Dương, Trưởng Phòng quân y Quân khu 5 tổ chức Bệnh xá Khu vực thì Tiểu đoàn 60, 70 đang chỉnh đốn quân số. Các đồng chí ốm, bị thương, tuổi cao được đề nghị rời chiến trường, một số đi học. Đội trưởng, bác sỹ Thi đã ra Bắc vì bị trĩ nội. Đời sống gian khổ, ác liệt nên một số người mệt mỏi, muốn rời khỏi chiến trường giữa lúc Cách mạng niềm Nam khó khăn nhất. Những người “Cơ hội” tìm mọi cách để được ra Bắc. Những người ở lại cũng mong họ đi sớm để khỏi ảnh hưởng đến công việc của đơn vị. Tôi được lên Đại úy trong 2 năm, điều ấy cũng xác nhận sự đóng góp cá nhân (vì sớm hơn 2 năm). Tôi được bổ nhiệm làm Bệnh xá trưởng Khu vực, bác sỹ Quảng nhiều tuổi, sức yếu hơn, là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 2 về làm cấp phó. Anh là người Tày, hiền hâụ, thật thà. Quân số đơn vị được biên chế 220 người, trong đó có Đại đội Vận tải 70 người, còn 150 nhân viên khác. Tôi vui mừng được gặp số anh em Tiểu đoàn 70 xưa kia, những người ở lại là những người thật tốt.

        Bệnh xá 305 có đội ngũ chuyên môn giỏi, quen công việc, sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì của đơn vị. Đại đội Vận Tải là những cựu binh quen chiến trường, có 70 khẩu tiểu liên AK và trung liên. Họ có thể chiến đấu tốt, mang vác tốt, họ mạnh hơn 2 đại đội của đơn vị bộ binh. Các cán bộ chỉ huy nhiều kinh nghiệm, họ đi cõng gạo 5 ngày một chuyến, kết hợp cõng các hàng hóa khác, nộp kho bình quân 50-60kg gạo/người. Họ đã từng phục kích đánh đuổi bảo an dân vệ. Những cán bộ Tiểu đội vận tải được bổ sung xuống đơn vị, sau 1 năm đã làm cán bộ Đại đội, năm nữa là Tiểu đoàn phó. Họ làm việc bằng 3 tân bình, lại thành thạo chiến trường, quen chịu đựng gian khổ ác, liệt. Họ là nòng cốt trong việc cung cấp lương thực, bảo vệ thương binh, xây dựng cơ sở, cho nên trước một đội ngũ hùng mạnh, tôi cảm thấy sung sướng, yên tâm. Anh em tiểu đoàn 70 gặp lại nhau thì mừng vui khôn xiết, nhất là gặp lại người chỉ huy cũ đã từng đưa đơn vị giành nhiều thắng lợi lớn trong những ngày đầu. Anh em kể lại rất nhiều chuyện về Tiểu đoàn 70 vừa qua khi tôi chuyển về Quân khu. Họ hi vọng tôi sẽ dìu dắt đơn vị tiến bộ xa hơn. Anh Trường, chính trị viên Tiểu đoàn 70, năm 1970 cũng ra Bắc vì tuổi cao. Khi ra đi, anh cũng buồn vì khi vào chiến trường là Thượng úy, khi ra Bắc vẫn vậy, có lẽ anh mắc phải một khuyết điểm là đã từ chối không nhận một đồng chí nữ có mang gần tháng đẻ, cho về quê để chị ấy đẻ giữa đường. Đó là thiếu sót về quan điểm, mà anh lại là chính trị viên.

        Từ ngày đầu, tôi đã  giáo dục cho đơn vị phải thương yêu đồng đội, thông cảm với ai đã đến với mình, phải châm chước trong chiến tranh, nhận vô điều kiện, ngay cả thương binh nặng không muốn chuyển viện cũng phải giữ lại tiếp tục điều trị cho tới khi nào họ đồng ý đi mới cho đi. Trong cuộc chiến tranh này, ở Sư đoàn có bao nhiêu số phận éo le, ví dụ như những phụ nữ có mang, rồi đẻ, rồi những người có con nhỏ, những người sức khỏe kém, già yếu, kém năng lực cũng đến với chúng tôi. Biết rằng mình cũng quá khổ, nhưng vẫn thông cảm để cưu mang. Công việc của chúng tôi làm là cứu chữa đồng đội. Có thể khó khăn hơn cho chúng tôi, nhưng không nỡ nhìn thấy họ gặp khó khăn mà không giúp đỡ. Chả thế, có người bảo Tiểu đoàn Quân y 60 như một túi chứa bao cảnh đời khó khăn: người có thai chưa đến tháng đẻ cũng muốn đến bệnh xá trước cho yên tâm, đẻ xong lại muốn ở lại nuôi con cho cứng cáp, con nhỏ sẽ được chúng tôi che chở. Họ đều là lính, vợ con cán bộ, không thể làm chức năng bố mẹ như thời bình, cũng cần giúp đỡ. Cán bộ già yếu đưa về bệnh xá cũng có lý do vì không ai nhận, về bệnh xá yên tĩnh làm công tác nhẹ hơn. Cũng may những người đó biết điều không quấy phá mà chịu làm việc phục vụ cho thương bệnh binh. Chúng tôi không phàn nàn mà lãnh đạo anh em đơn vị thông cảm, việc này không phiền mình nhiều, vả lại mọi người không nhận, ta không thương thì họ còn cách nào khác để khắc phục? Cũng là giúp bạn lúc khó khăn thôi. Mấy chục năm sau hòa bình các chị đó vẫn còn biết ơn chúng tôi, nói với con cái họ rằng: “Không có các bác, con cũng khó sống đến ngày nay”. Tôi vui vì thấy gia đình họ đã toàn vẹn vượt qua khó khăn trong chiến tranh.

        Năm 1970 việc thu nhận, cứu chữa thương bệnh binh ít hơn, cả hai Trung đoàn có 1434 thương bệnh binh, chữa khỏi về đơn vị giảm xuống còn 50%, tử vong cao hơn (hơn 3%) vì số bệnh binh chết tăng (năm 1969 là 1.7%, năm 1970 là 3.7%). Năm 1970, nhận 150 ca suy kiệt nặng vì đói 3 tháng của một tiểu đoàn tân binh hành quân từ Bắc vào Nam, trên đường bom địch phá hết kho gạo, thực phẩm không có phải kiếm rau rừng ăn để hành quân. Đây là số ca nặng nhất được khiêng tới đơn vị. Những người còn lại phải chuyển xuống đồng bằng bồi dưỡng 1 năm mới hồi phục.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM