Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:27:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3  (Đọc 46520 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #80 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2017, 11:03:06 pm »


        Tin đồn lính Bình Định giỏi võ nên ngày hôm sau chúng phân tán tù Bình Định. Tôi về trại Đ9-trại tàn phế. Trại có 9 nhà khoảng 900 người, chia thành 2 bộ phận:

        -   Trại trí thức: y, bác sỹ và sỹ quan cấp Đại tá trở lên.

        -   Trại lính gồm: trại Bắc Việt và trại Cộng sản nằm vùng.

        Tiêu chuẩn ăn hàng ngày chúng nói mỗi người 7 lạng gạo và 25 đồng thức ăn (tiền Nguỵ). Thực tế chỉ có cá ươn hoặc cá khô đã mục. Người nấu là anh em tù khoẻ mạnh. Buổi tối, mỗi phòng chúng đặt 2 thùng nhựa để tù đi cầu. Sáng ra, những tù binh là chiến sỹ đến khênh phân và nước tiểu đi đổ. Anh em thông tin với nhau bằng cách nhét giấy (tài liệu) vào đòn khênh.

        Để đấu tranh đòi chúng bảo đảm đúng chế độ ăn và cấp đủ thuốc cho người bệnh, chúng tôi tổ chức một cuộc đấu tranh bằng tuyệt thực. Hàng ngày chỉ uống nước và một ít muối. Tới ngày thứ 7 thì chúng phải chấp nhận đề nghị của anh em.

        Một lần, tôi đi dạo, tình cờ gặp Hạnh, môt tù binh bị bắt năm Mậu Thân (1968). Anh ta trước đây ở miền Bắc, là chiến sỹ của tôi. Hạnh nói với giám thị rằng tôi là thủ trưởng của anh ta chứ không phải giao liên. Mấy tuần liền, chúng gọi tôi lên thẩm vấn và nói rằng: Nếu tôi phản cung thì sẽ được đối xử tử tế. Tôi bảo: Kẻ Bắc người Nam, chắc anh ta lộn (nhầm lẫn) chứ tôi không biết anh ta. Bọn địch chịu thua. Trong tôi, lúc nào cũng nhớ 10 lời thề danh dự của một quân nhân Cách Mạng, trong trường hợp này là lời thề: Khi bị địch bắt dù bị đánh đập tra tấn quyết không khai báo. Lần thẩm vấn này khá lâu, tôi nhìn thấy trên bảng danh sách của chúng ghi có có 30.000 tù quân sự, chia 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu, mỗi phân khu có 4 nhà, mỗi nhà 100 người, có lối đi ở giữa, hai bên là sạp gỗ thông. Nó phát màn, anh em xé làm võng, nó phát mền (chăn chiên), anh em xé làm vải đi vệ sinh. Đi xong đem giặt rồi dùng lại.

        Đầu năm 1973, dịp Tết Âm lịch, anh em lập bàn thờ, mua quà, lễ vật và đề nghị giám thị cho đi viếng nghĩa trang (có 3 nghĩa trang khoảng 3000 mộ). Anh em bàn nhau phải ghi nhớ để sau này về báo cáo với tổ chức.

        Gần ngày trao trả, trung tâm điều hành tiến hành thẩm vấn một số tù quân sự, trong đó có tôi. Chúng hỏi:

        - Nếu được ra tù, ông có theo Cộng Sản nữa không?

        Tôi trả lời thẳng thắn:

        - Người xưa đã từng nói: Làm dân chỉ thờ 1 vua. Theo đạo nào chỉ thờ 1 đạo. Đó là lẽ thường tình.

        Ngày 18-3-1973, chúng tôi được thông báo sẽ ra tù và trao trả cho phía bên kia tại Lộc Ninh. Máy bay vận tải đi từ Phú Quốc về Thành phố Sài Gòn, rồi lên trực thăng về Lộc Ninh. Ngồi trên máy bay nhìn thấy rừng cao su bạt ngàn. Thời gian như chậm lại, hồi hộp tự hỏi: Sao lâu thế, hay là chúng đưa đi thủ tiêu? Mãi tới khi thấy cổng chào, cờ đỏ xanh, băng-rôn và người đi lại tấp nập trên sân bay, chúng tôi sung sướng đến chảy nước mắt.

        Máy bay hạ xuống đã có người của mình chờ sẵn. Bọn nguỵ đọc tên từng người. Khi đến Ngô Văn Hiền, tôi bước ra. Trong lòng thầm bảo: Chấm dứt kiếp tù đày.

        Tất cả chúng tôi được đưa về lán cấp phát quân trang, tắm giặt. Sau đó tiến hành khai lại tên, chức vụ thật. Phân từng bộ phận: chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Cán bộ trung, cao cấp ở một khu riêng.

        Sau khi viết tự thuật cho Cục An ninh Miền, tôi được cử làm trưởng đoàn dẫn anh em Khu 5 (khoảng 5000 người) từ Lộc Ninh về. Dọc đường đến tỉnh nào, tỉnh đó nhận. Trạm cuối cùng là Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu, đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Cục trưởng Cục Chính trị Quân khu trực tiếp gặp tôi, khen ngợi tinh thần kiên định lập trường Cách Mạng. Đồng chí Nam Khánh nói đại ý: Cậu là Phó Ban Tác chiến của Sư đoàn 3, biết lược đồ chiến dịch Xuân 1972 của Quân khu. Nhưng bọn địch không phán đoán được gì về ta, chứng tỏ đồng chí đã giữ được bí mật cho Đảng, cho quân đội. Anh Nam Khánh còn cho biết, sau khi tôi bị bắt, đồng chí Trần Bá Khuê, Tham mưu trưởng Sư đoàn 3 suốt mấy đêm liền ra lệnh cho trinh sát kỹ thuật theo dõi tin tức và nghe đài địch. Khi thấy mọi việc không có gì khác thường ông mới yên tâm. Mấy ngày sau, tôi nhận được quyết định khen thưởng Huân chương Chiến công Hạng 3 và quyết định giữ nguyên liên tục tuổi Đảng, tuổi quân. Được ra Bắc an dưỡng một thời gian, tôi xin trở lại chiến trường.

        Tháng 6-1976, tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn huấn luyện của Quân khu, được phong quân hàm Trung tá và năm 1981 nghỉ hưu.

        Qua những tháng năm tù đày, lúc đầu đêm nằm luôn tự vấn: Có quân, có lính mà để bị bắt, thật nhục nhã. Nhưng rồi hàng ngày liên tục đối mặt với những khó khăn, mới hiểu, để giữ vững khí tiết quả không dễ dàng gì. Thông tin bên ngoài không có, thông tin từ phía địch thì bị bóp méo. Nếu không có lòng tin sắt đá vào Cách Mạng, và không nhạy bén phân tích tình hình thì sẽ mất nhuệ khí. Một lần chỉ nghe bọn quân cảnh nói: “Bọn bay đi tù còn bọn tao cũng đi đày”. Thế là tôi biết ngay địch đã bất mãn với chế độ của nó. Từ đó mà bắt mối với bọn này để lấy thông tin chiến thắng của ta. Tôi luôn nói với chúng: Các ông làm gì thì làm, hãy nhớ tới đường về quê khi Cách mạng thắng lợi. Bởi vậy, cuối năm 1972, một lần thấy tôi đập vỡ chiếc cà mèn lấy một mảnh đem mài lên nền xi măng để làm dao cạo râu, máu chảy túa ra. Bọn chúng đã cho phép tôi mỗi tuần lễ được tới phòng giám thị 1 lần để cạo râu.

        Đối với tôi, lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của Cách Mạng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để giúp tôi vượt qua mọi cửa ải trong những tháng năm bị giam cầm tại nhà tù Quân sự địch. Giao động lòng tin là dần dần sẽ mất hết. Bài học đó cho đến nay, trong cuộc sống hiện tại, tôi thấy vẫn còn tác dụng.

Hà Nội, tháng 8-2007       
Nguyễn Văn Tích ghi       

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #81 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 05:57:47 am »



        Đại tá Trần Hữu Biền,
        Nguyên Chính ủy Cục Hậu Cần Quân đoàn 14,
        Nguyên Chính uỷ Trung đoàn 12, Chính ủy Trung đoàn 2,
        Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 3- Sao Vàng.


TẢN MẠN NHỮNG KỶ NIỆM SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU Ở SƯ ĐOÀN 3 -  SAO VÀNG

NHỮNG NGÀY Ở TIỂU ĐOÀN CÔNG BINH

        Tiểu đoàn Công Binh Sư đoàn 3 Sao Vàng vốn là Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 325 – Quân khu 4. Tháng 2 năm 1965 hành quân vào Nam. Một đại đội đi với Trung đoàn 101 vào miền Đông Nam Bộ. Một Đại đội đi với Trung đoàn 95 vào Gia Lai và một Đại đội đi với Trung đoàn 18 vào Bình Định. Tôi là Chính trị viên Đại đội 2 đi với Trung đoàn 18 (tức Trung đoàn 12- Sư đoàn 3 – Sao Vàng).

        Tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 3 - Sao Vàng được thành lập, Đại đội 2 của tôi nhập với Đại đội 1 Công Binh của địa phương và Đại đội 3 của Trung đoàn 22 thành Tiểu đoàn Công Binh của Sư đoàn, do đồng chí Nguyễn Phi Hồng, người Bình Định làm Tiểu đoàn trưởng. Sau đồng chí Hồng là đồng chí Lê Xuân Chi và tôi – Trần Hữu Biền, Phó Chính trị viên phụ trách chính trị Tiểu đoàn.

        Sau khi thành lập, Sư đoàn xác định hậu cứ của Tiểu đoàn là huyện An Lão và huyện Hoài Ân, có nhiệm vụ xây dựng lực lượng, độc lập tác chiến, đánh cắt giao thông trên trục đường số 1 ở hai huyện Hoài Nhơn và Phù Mỹ.

        Ban Chỉ huy Tiểu đoàn bàn bạc, hạ quyết tâm tự túc lương thực, thực phẩm để nuôi bộ đội đủ sức đánh giặc. Trên tinh thần đó, đơn vị được chia làm 3 bộ phận:

        - Một bộ phận chuyên tìm bom, đạn lép để lấy thuốc nổ làm bộc phá, thủ pháo, lựu đạn.

        - Một bộ phận đi thu vén lúa của dân bị địch dồn vào ấp chiến lược, đưa về kho dự trữ.

        - Một bộ phận chuyên sản xuất lúa và hoa màu.

        Địch rải chất độc, dừa bị rụng quả, anh em thu gom đem về chất đầy các hang đá để làm thực phẩm lâu dài.

        Đầu năm 1966, địch mở cuộc càn lớn do Sư đoàn Không vận Số 1 Mỹ tiến hành để “Tìm diệt” Sư đoàn Sao Vàng. Nhân dân An Lão vốn là vùng giải phóng từ tháng 12-1964 nên bị liệt là Cộng sản. Chúng dùng trực thăng chở xuống vùng địch kiểm soát, biến An Lão thành vùng trắng. Một số bà con chạy thoát đi theo cán bộ, bộ đội. Tôi nhớ ở xóm Mít, gần núi có chị Lăn, chồng tập kết ra Bắc, 1 con nhỏ 12 tuổi, đã được Tiểu đoàn thu nhận, chuyên lo việc sàng sảy lúa gạo và đi tìm những nơi có dừa, có mắm để thu gom cho đơn vị. Bộ đội, theo hướng dẫn của địa phương đưa cối xay, cối giã lên núi để xay, giã, chặt tre đan dè, cót đựng gạo, lúa. Mỗi dè đựng 1 tấn, mỗi cót đựng 5 tạ. Tiểu đoàn định tiêu chuẩn ăn mỗi người một ngày 1 lon gạo (2,5 lạng). Phụ trợ thêm thì chà sắn tươi, vắt khô, cho nhân cùi dừa vào gói thành bánh hấp chín.

        Sống kham khổ nhưng vẫn duy trì các trận chiến đấu theo mệnh lệnh của Sư đoàn. Tôi nhớ nhất là trận phục kích ở đèo Bình Đê, giáp ranh tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Lúc đó sau tổng tiến công Mậu Thân (1968) ta bị tổn thất nặng phải rút lên núi. Địch bủa vây bốn phía, đánh sâu vào hậu cứ của Sư đoàn nhằm “đuổi chủ lực ta ra Bắc”. Một hôm đồng chí Lư Giang, Tư lệnh Sư đoàn đến giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn phải đánh một trận giao thông để cắt tiếp tế của địch từ cảng Quy Nhơn ra Quảng Ngãi. Trận đánh còn có ý nghĩa củng cố lòng tin cho dân. Báo cho dân biết, bộ đội ta không “Tập kết ra Bắc lần 2” như bọn nguỵ tuyên truyền. Bộ đội Giải phóng vẫn còn tồn tại và đánh thắng địch. “Diệt được bao nhiêu thì diệt nhưng phải đánh thắng” – Đồng chí Tư lệnh kết luận. Ban chỉ huy Tiểu đoàn quyết định chọn những đồng chí tiêu biểu nhất, cả cán bộ, chiến sỹ, do đồng chí Nguyễn Hữu Quang – Tham mưu trưởng Tiểu đoàn chỉ huy. Trước khi xuất phát, Tiểu đoàn làm lễ tuyên thệ dưới cờ, sẽ chiến đấu đến cùng, nếu bị bắt thì tự sát, không để làm tù binh.

        Được cán bộ địa phương giúp đỡ, dẫn đường, bộ đội hành quân vượt đường số 1, tập kết ở phía Đông đèo Bình Đê. Biết rõ quy luật địch khi xảy ra trận đánh là phản ứng về phía Tây vì nghĩ rằng ta rút lui lên núi nên đồng chí Quang cho anh em bố trí đánh từ phía Đông. Bốn khẩu B41 và 4 AK đánh chính diện, 2 khẩu B41 và 2 AK chặn đầu. 2 B41 và 2 AK khoá đuôi. Khi đoàn xe địch lọt vào khu chiến, ta đồng loạt nổ súng. Trận đánh diễn ra lúc 6 giờ sáng, thời điểm địch không ngờ tới, ở một địa bàn chúng không ngờ tới nên đoàn xe địch đã bị phá huỷ hoàn toàn, trong đó có 6 xe bọc thép. Chúng gọi trực thăng bắn phá, bộ phận trung liên đánh trả thu hút địch về phía Tây. Bộ đội ta rút về phía Đông, ven biển, không có ai bị thương vong.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #82 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 06:01:58 am »


DỌC ĐƯỜNG XUÂN 1975

        * Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Quy Nhơn giải phóng. Trung đoàn đang ở Phú Phong. Trung đoàn trưởng Đới Ngọc Cầu lệnh cho Tham mưu trưởng dẫn đoàn cán bộ 3 cơ quan vào Quy Nhơn để lấy bản đồ và một số phương tiện thông tin phục vụ chiến đấu.

        Ngày hôm sau (2-4), đồng chí Lê Anh Sáng, trợ lý kế hoạch ban hậu cần báo cáo với tôi (lúc đó là Chính uỷ Trung đoàn), anh em vào kho quân tiếp vụ địch ở Quy Nhơn thu được 1 xe đường (khoảng 4 tấn). Tôi bảo:

        - Mặc dù lấy từ kho của địch nhưng nay đã là chiến lợi phẩm, không được vi phạm, phải trả cho địa phương.

        Đồng chí Sáng lúng túng bảo:

        - Nhưng bộ đội đang thiếu đường.

        Tôi trả lời:

        - Thiếu đường thì báo cáo Sư đoàn cấp. Chúng ta không được tự động sử dụng hàng chiến lợi phẩm.

        Đồng chí Sáng vâng lệnh và đem xe đường đi trả tại kho Quy Nhơn.

        * Ngày 30 tháng 4 năm 1975, thành phố Vũng Tàu được giải phóng, Trung đoàn 12 làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự thành phố (cùng Trung đoàn 2)

        Ngày 15 tháng 5 năm 1975, Trung đoàn cử Tiểu đoàn 6 đi tham gia diễu binh ở Sài Gòn (Tiểu đoàn 6 là đơn vị duy nhất của Sư đoàn cùng với Hải quân đi giải phóng Côn Đảo ngày 1-5-1975 nên được vinh dự này). Lúc đó, chiến lợi phẩm do Trung đoàn thu được nhiều vô kể, từ súng đạn, phương tiện chiến đấu đến lương thực, thực phẩm. Tôi đề xuất với đồng chí Nguyễn Duy Thương, Tham mưu trưởng Sư đoàn đang trực tiếp chỉ huy ở Vũng Tàu:

        - Hôm nay mừng chiến thắng nên cho mỗi người 2 hộp sữa và 1 bao thuốc lá.

        Đồng chí Thương đồng ý. Và đơn vị triển khai ngay trong buổi sáng.

        12 giờ trưa, đồng chí Mai Tân, Chính uỷ Sư đoàn điện xuống mời tôi và anh Cầu (Trung đoàn trưởng) về gặp Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Chúng tôi không nghỉ trưa, vội đánh xe Jep lên Vạn Kiếp (nơi đặt Sở chỉ huy Sư đoàn). Ai cũng nghĩ: chắc có nhiệm vụ đột xuất.

        Ngồi vào bàn làm việc, anh Mai Tân hỏi ngay:

        - Nghe tin các đồng chí đã lấy chiến lợi phẩm, cấp sữa cho bộ đội. Đó là lệnh của ai?

        - Chúng tôi đã báo cáo xin ý kiến anh Thương, Tham mưu trưởng – Tôi trả lời.

        - Hàng chiến lợi phẩm ai được quyền ra lệnh sử dụng, các đồng chí có biết không? - Anh Mai Tân nghiêm khắc hỏi.

        Tôi và anh Cầu lúng túng chưa trả lời thì anh Trần Bá Khuê, Sư đoàn trưởng nói:

        - Đã đụng tới chiến lợi phẩm là phải thi hành kỷ luật. Nhưng lần này không thi hành kỷ luật, thay vào đó các đồng chí về lấy tiền của trung đoàn mua sữa, thuốc lá trả bù vào.

        Hai chúng tôi trả lời sẽ chấp hành nhưng trong tâm tư quả thật không vui với ý nghĩ: Bộ đội chiến đấu vất vả, gian khổ hai tháng nay, chỉ bồi dưỡng cho họ vài hộp sữa mà bắt phải đền.

        Đoán biết tâm trạng của chúng tôi, anh Khuê nói:

        - Phải phân biệt giữa tình cảm và thực hiện chính sách. Nếu đơn vị nào cũng coi mình có công thu chiến lợi phẩm mà tự ý sử dụng thì sẽ như thế nào. Các đơn vị bộ binh có công lớn đánh địch, nhưng chiến thắng là công của tất cả mọi người. Chiến lợi phẩm là của chung toàn Sư đoàn, toàn dân. Việc sử dụng nó đã được phân cấp quyết định. Chuyện đã qua không nên suy nghĩ nhiều. Hãy vì nhiệm vụ, vì đại cục.

        Anh Cầu có vẻ còn ấm ức nói:

        - Vâng. Chúng tôi sẽ chấp hành lệnh của Chính uỷ. Coi đây là một bài học, cũng là kỷ niệm đối với Sư đoàn.

        Lúc đó, Trung đoàn làm gì có quỹ, chúng tôi phải ra lệnh cho tài vụ trừ tiền phụ cấp của quân nhân. Mỗi người 5 đồng để mua sữa, thuốc lá trả kho chiến lợi phẩm.

        Giờ đây nghĩ lại, những năm tháng chiến đấu, mỗi người luôn sẵn sàng hy sinh bản thân mình nhưng đối với chấp hành chính sách chiến lợi phẩm quả là trong sáng vô tư, quyết không tơ hào một đồng công quỹ. Đìều này đã thấm sâu, thành bản năng, tạo nên phẩm chất cao quý của mỗi cán bộ chiến sỹ.

        Tôi còn nhớ, năm 1972 khi giải phóng Bồng Sơn, Đệ Đức, các đơn vị thu được số vàng đựng đầy một mũ cối, gồm vàng thỏi, lập lắc, dây chuyền ... không cân kéo gì nhưng không hề suy suyễn. Đồng chí tài vụ báo cáo tôi xin chữ ký để chuyển về Sư đoàn. Anh nói:

        - Thủ trưởng lấy 1 cái để làm kỷ niệm.

        Tôi bảo:

        - Đây là chiến lợi phẩm, là xương máu của anh em, không được vi phạm.

        Tôi nghĩ, thời đó, ý thức kỷ luật đã đành, nhưng điều quan trọng, điều quyết định là cái tâm trong sáng. Điều lệnh kỷ luật có thể lách, nhưng cái tâm con người đã trong sáng thì tình huống nào, hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn vững vàng xử trí, không sai phạm.
        Bài học đó, thiết tưởng vẫn còn giá trị trong cuộc sống hiện nay.

Thanh Cát, Thanh Chương, Tháng 6 năm 2008       
Nguyễn Văn Tích ghi                         
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #83 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 06:12:04 am »

      
        Trung tá PhạmThái Lai
        Nguyên cán bộ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22, Sư đoàn 3-Sao Vàng

        Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 141, Sư đoàn 3-Sao Vàng.

CHUYỆN EM BÉ VÀ BÀI THƠ “NÍN ĐI EM”

        Cho đến tận bây giờ, 45 năm trôi qua, từ một chàng trai chưa vợ, nay đã có cháu gọi bằng ông; từ cái tuổi “Bẻ gãy sừng trâu”, nay bước sang thời “Thất thập cổ lai hy”, vậy mà trong tôi vẫn vang vọng tiếng gào, thét thất thanh thấu gan, thấu ruột của một đứa trẻ trong chiến tranh chống Mỹ. Cảnh tượng bi thương này không hiếm trong suốt 10 năm ở chiến trường miền Nam. Nhưng không hiểu vì sao, câu chuyện mà tôi sắp kể sau đây lại làm tôi da diết đến như vậy!

        .... Hồi ấy, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22 chúng tôi được giao nhiệm vụ tiến công hướng chủ yếu, cùng với Tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 9 của Trung đoàn tiêu diệt Chi khu quận lỵ Minh Long.

        Đêm 29 tháng 12 năm 1965, các hướng, các mũi của Trung đoàn đồng loạt nổ súng tấn công và tiêu diệt gọn các mục tiêu trên giao, góp phần cùng Sư đoàn 3 giải phóng huyện Minh Long, một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

        Sau khi đơn vị rút khỏi trận địa để chuẩn bị trận khác, anh Nguyễn Quang Tuyển, trợ lý bảo vệ và tôi, trợ lý Quân lực Tiểu đoàn được phân công ở lại trận địa giải quyết chính sách. Tiểu đoàn 7 chúng tôi đánh nhanh, diệt gọn, làm chủ trận địa nên thương vong không đáng kể, các Đại đội tự giải quyết được.

        Trời sáng rõ, tôi và Tuyển tiếp tục bương qua lớp rào bằng tre, qua những ngôi nhà đang cháy và những lô cốt đổ sập để đi sâu vào trung tâm quận lỵ. Tất cả ở đây vẫn đang còn bốc khói nghi ngút. Không một bóng người, không một tiếng gà gáy sáng; quang cảnh hoang tàn, ngột ngạt đến ngẹt thở sau cơn bão lửa đêm qua. Nhận thấy không còn sót thương binh, tử sỹ trong trận địa, tôi và Tuyển quay trở ra đường cũ. Bỗng nhiên, tôi giật mình nghe tiếng gào khe khé, chờn chợn như từ âm ty vọng lên. Định thần lại, tôi xác định đó là tiếng khóc của một trẻ thơ. Chúng tôi nhảy qua đoạn tường đổ, nhà sập tìm đến nơi có tiếng khóc. Thì ra, đó là một em bé chừng một tuổi, không rõ trai hay gái, máu me bê bết đầy mình đang gào thét, quờ quạng trên xác người đàn bà mang sắc phục dân tộc Hơ-Rê. Tiếng khóc của đứa trẻ lúc đầu nghe còn rõ, sau nhỏ dần, mảnh dần như sắp lịm vào trong im lặng lạnh lùng của trận địa.

        Chúng tôi, một người bế cháu ra khỏi xác người mẹ, một người vào kho “Quân tiếp vụ” (kho quân trang, quân dụng) lôi ra nào cờ ba sọc (cờ chính quyền Nguỵ), vải trắng, quần áo lót của Nguỵ v.v... lau cho cháu bé. Ôi chao! Một bé gái có nước da ngăm ngăm . Một lúc sau, người bé ấm dần và ngủ say. Cũng rất may, dù là mùa đông, nhưng ở miền Trung  không lạnh cóng như miền Bắc, trời chỉ se se lạnh, chỉ cần quấn kín cho cháu là ổn. Nhìn trước, nhìn sau, chung quanh chẳng còn ai, chúng tôi quyết định đưa cháu về đơn vị rồi tính sau. Chả là người dân tộc ở đây bị chính quyền Nguỵ Sài Gòn tuyên truyền: Cộng sản, Việt Cộng man rợ, Việt cộng trả thù, Việt cộng cướp của giết người v.v.... làm dân sợ hãi chạy dạt vào rừng khi chúng tôi tới.

        Tiều đoàn rút khỏi trận địa, đóng giữ ở khu vực gần sân bay để sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không và chặn quân từ đồng bằng lên chiếm lại Minh Long.

        Tôi và Tuyển chưa anh nào có vợ, nói gì đến có con, vì vậy khi đưa cháu bé về đơn vị mới thấy hoảng, nuôi cháu bé thế nào đây? Anh nọ trao bé cho anh kia một cách vụng về lúng túng, tay chân có lúc như thừa thãi ... Ngủ được một lúc, cháu bé tỉnh dậy và khóc rất to. Chắc nó đòi ăn rồi, tôi đoán thế. Thật là may, nghe tiếng trẻ khóc, anh Thuyết, lính trinh sát-quê Ninh Bình, anh Thưa-quê Hà Nam, anh Kiểm-quê Hải Hưng, anh Tuyển quân giới-quê Hà Tây và một vài anh nữa đã băng qua đoạn giao thông hào đến với chúng tôi. Trong số các anh, nhiều người đã có con nên biết cách chăm sóc cháu.

        Chừng nửa giờ sau, hầm của chúng tôi có rất nhiều sữa “Ông thọ”, sữa “Con Chim”, đường phổi, đường phèn, chiến lợi phẩm của các anh mang đến. Anh Tuyển quân giới ở Hà Tây, khi vào chiến trường cách đây 6 tháng cũng có đứa con trạc tuổi bé ở đây, nên anh cứ bế ẵm, hôn hít, vuốt tóc, xoa đầu cháu trông thật cảm động. Uống sữa xong, cháu bé lại ngủ. Bất giác tôi lại nghĩ, có lẽ cháu biết thân, biết phận nên chẳng đòi hỏi gì hơn. Chúng tôi thay nhau bế ẵm, cho ăn, thay tã lót và trông cháu ngủ suốt 2 ngày 2 đêm.

        Địch không dám tiếp viện nên phương án đánh địch không xảy ra, chỉ có pháo và bom của chúng ở các nơi dội tới ngày một nhiều.

        Sang ngày thứ 3, có lệnh hành quân. Lúc ấy, Tiểu đoàn cử tôi giao cháu bé cho Đội công tác của tỉnh Quảng Ngãi (đội công tác này đã cùng phối hợp trong đội hình “Ba mũi giáp công” của đơn vị). Biết tôi đưa cháu bé đi, anh em đơn vị tranh thủ đến chia tay với cháu. Các anh, người xoa đầu, người cầm bàn tay bé bỏng của cháu áp lên môi, lên má mình. Anh Tuyển-Hà Tây, anh Kiểm-Hải Hưng và mấy anh có con nhỏ còn quàng vào vai tôi cái túi đựng đầy sữa hộp “Ông thọ” và nói là “Lương khô của bé”. Bế cháu đi một đoạn, nhìn lại, tôi vẫn thấy các anh vẫy vẫy nhìn theo.

        Đến nơi, tôi giao lại cháu bé cho các đồng chí trong Đội Công tác. Khi đặt cháu xuống tấm chăn thô trên sàn nhà, hai bàn tay cháu níu bám lấy tay tôi như thể không muốn xa rời. Tôi ứa nước mắt gỡ nhẹ những ngón tay nhỏ bé ra khỏi tay mình rồi vội vã về đơn vị. Các đồng chí trong Đội công tác biết không thể giữ lại chúng tôi, cũng bịn rịn nắm tay tôi và chúc hoàn thành nhiệm vụ.

        Nhìn lại cháu bé lần cuối, tôi đi nhanh về phía đơn vị cho kịp giờ hành quân. Tôi thầm nghĩ: Các đồng chí trong Đội công tác tỉnh Quảng Ngãi cũng sẽ như chúng tôi, dành trọn tình thương cho cháu bé.

        Đêm hành quân ấy, hình ảnh của cháu nhỏ cứ ẩn hiện trong đầu tôi, và tôi đã nhẩm ra một bài thơ về cháu. Đến nơi nghỉ chân, tôi đã thuộc lòng bài thơ và chép lại trong cuốn sổ công tác của mình. Biết chuyện, anh em đề nghị tôi đọc bài thơ đó.

        Bài thơ có tựa đề:

                                                      NÍN ĐI EM

                                                      Nín đi em, nín đi em!
                                                      Đừng khóc nữa
                                                      Cha mẹ em đã chết trong đồn
                                                      Em vẫy vùng gào thét từng cơn
                                                      Bé em ơi, đạn bom không có mắt
                                                      Không nể người theo ta hay theo giặc
                                                      Không biết người Kinh
                                                      hay người Thượng, Hơ-Rê
    
                                                      Nín đi em!
                                                      Nín đi em, đây anh - Quân Giải phóng
                                                      Bồng em trên tay bằng tấm lòng nhân hậu
                                                      Anh thương em nhiều, thôi nín đi em
                                                      Bé em ơi, bé em ngoan nhé
                                                      Các anh đi hẹn ngày quay trở lại
                                                      Núi rừng Minh Long rộn tiếng chim ca
                                                      Giữa bầu trời xanh thẳm bao la.
                                                      Ninh Bình, tháng 6 năm 2009


P.T.L        
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2017, 06:17:49 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #84 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 06:17:19 am »


TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG CỦA TÔI

        Kính tặng anh Nguyễn Văn Luyện,
        Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22, Sư đoàn 3 – Sao Vàng,

                                                      Trận đánh đồi Thạch Trụ (Quảng Ngãi), tháng 11 năm 1965.
                                                      Ngày Anh về tiểu đoàn
                                                      Ở Thạch Thất, Sơn Tây.
                                                      Thao trường Hòa Lạc đây
                                                      Nhiều đồng đội nhầm Anh
                                                      “Lính Tái ngũ”
                                                      Lúc nô đùa nói năng hòa cùng trang lứa.
                                                      Buổi làm lễ nào Nam
                                                      Biết Anh “thư sinh” xứ Huế.
                                                      Ba hai tuổi, đại úy trẻ măng
                                                      Giáo viên Lục quân, nay làm tiểu đoàn trưởng.
                                                      Cái cao hơn cấp chức
                                                      Là luôn sống tình người
                                                      Tài ba trong chỉ huy
                                                      Đức độ trong cuộc sống.
                                                      Mọi người tin Anh với niềm tin chiến thắng
                                                      Lúc gian nan, lúc hiểm nguy Anh có mặt
                                                      Với Sư đoàn, Anh là tiểu đoàn trưởng đi đầu.
                                                      Chiều chiếm lĩnh Thạch Trụ
                                                      Trời trong xanh hòa cỏ cây và đất
                                                      Bất thần sấm sét mưa giông
                                                      Lũ quét Ba Tơ, Núi Lớn đổ về
                                                      Nước ngập mênh mông chẳng biết lối đi
                                                      Người lội, người bơi
                                                      Đến giờ G nhằm mục tiêu nổ súng...
                                                      Trận đánh không thành
                                                      Bao đồng đội ngã xuống
                                                      Một ngày dài trong bom đạn tối tăm
                                                      Không còn người chuyển thương
                                                      Tiểu đoàn trưởng ghé vai khênh chiến sỹ
                                                      Nước ngập cáng, cáng nằm trên nước
                                                      Người đi chạng vạng trong đêm.
                                                      Khênh thương với Anh mà ấm lòng mình
                                                      Động viên nhau trong cuộc đấu tranh
                                                      Có bước vấp để mãi thêm vững bước
                                                      Để thêm nhiều tiểu đoàn trưởng như Anh...
                                                      Đất nước hết chiến tranh
                                                      Sư đoàn 3 trưởng thành
                                                      Người lính già gặp lại
                                                      Ngày thành lập Sư đoàn
                                                      Vẫn nhắc nhở nhau
                                                      Đừng bao giờ quên máu xương và nước mắt
                                                      Đừng bao giờ quên:
                                                      Đồng đội
                                                      Các anh
                                                      Đã hi sinh vì Sư đoàn
                                                      Vì Đất nước.


Ninh Bình, tháng 7 năm 2005       
P.T.L                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #85 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 06:22:43 am »


        Đỗ Thế Chuyền, cán bộ Tổng Công đoàn V.N.
        Nguyên chiến sĩ Trinh sát d4, E141, Sư đoàn 3-Sao Vàng.


ĐỒNG ĐỘI

                                Hai mươi lăm năm, chiến tranh đã đi qua.
                                Vẫn đọng lại trong tôi bao buồn, vui, kỷ niệm.
                                Cứ dữ dội như mưa rừng, gió biển.
                                Về đồng đội, về chiến tranh, về Trường Sơn...
                                Chiến tranh qua rồi, ai mất, ai còn.
                                Về những nơi nào sau thời đánh giặc!
                                Chỉ biết tìm nhau qua những bản tin.
                                Tìm nhau qua chương trình “ Nhắn tìm đồng đội”.
                                Tìm nhau qua bài hát “ Cỏ non thành nội”.
                                Nơi anh nằm là dưới thảm cỏ xanh.
                                Tìm nhau qua bài hát “Cô gái Trường Sơn”.
                                Chiến tranh qua rồi, bây giờ em về đâu!
                                Những người lính cứ mãi tìm nhau.
                                Theo bài hát “Dấu chân tròn trên cát”.
                                Ở miền đất nào? Gần đây hay xa lắc.
                                Cũng chỉ nghe thôi, nhưng chưa gặp nhau.
                                Qua báo, qua đài, ở gần Mũi Cà Mâu.
                                Tôi thấy hình anh, tay vịn trên cán xẻng.
                                Một mắt còn, nhìn về đâu xa thẳm.
                                Một chân còn, dáng đứng vẫn hiên ngang.
                                Dưới lời bình: Thương người vợ đảm đang
                                Nhưng yếu đau, cùng hai con quặt quẹo.
                                Anh đi đào giếng thuê, lấy tiền đong gạo.
                                Nuôi vợ, nuôi con, tháng ngày tần tảo.
                                Và gần đây thôi, cũng qua đài, báo.
                                Bốn chiến sĩ lái xe tăng húc cổng Dinh Độc Lập.
                                Cố ý hay vô tình mà các anh lưu lạc.
                                Để lịch sử đi tìm một dấu hỏi về anh.
                                Rồi ở Thái Bình, một vùng lúa mênh mông.
                                Mấy chục cô Thanh niên xung phong,
                                Sau chiến tranh, đi vào cửa Phật.
                                Ai lý giải, những gì còn và mất,
                                Thì hiểu được: CHIẾN TRANH ĐÂU PHẢI TRÒ ĐÙA!
                                Chiến tranh qua rồi, ngày tháng cứ dần xa.
                                Cái còn lại vẫn còn ở lại.
                                “Thương con đò cắm con sào đứng đợi”,
                                Thương các mẹ già, nước mắt chan canh.
                                Thương đồng đội còn nằm lại Trường Sơn.
                                Vẫn Đông nắng, Tây nưa “Bướm bay lèn đá”.
                                Vẫn những trận lũ đầu nguồn đêm về xối xả.
                                Vẫn chỉ núi và rừng ôm, che các anh.
                                Những người còn lại chúng tôi, luôn nhớ về Trường Sơn.
                                Nhớ những nơi đã qua và những nơi dừng lại,
                                Nhớ từng con đường, dòng sông, con suối.
                                Nơi tuổi Xuân đã gửi lại nơi đây:
                                Nhớ Trạm Lập, Thôn Ba, Rừng Nứa, Suối Đôi.
                                Nhớ ngã ba Sông Tranh, Nước Lía, Trà Gùi.
                                Nhớ đường thồ Lệ Xuân, đồi DK, Dốc Đót...
                                Chưa được trở lại thăm, nên nhớ càng da diết.
                                Nhớ Hòn Bồ, Gò Loi, Đệ Đức,
                                Quy Thuận, Đồi Mười, Bình Đê, Hoài Châu...
                                Gắn liền với cuộc trường chinh là đồng đội có nhau,
                                Sống mãi Mậu Thân, hè Bảy Hai đỏ lửa...
                                Ngoài chúng tôi ra, có ai còn nhớ
                                Về Trường Sơn, về những năm tháng chiến tranh
                                Về những ác liệt, kiêu hãnh , hy sinh
                                 Về những con người đã đi vào lịch sử?
                                Ai “ Uống nước, nhớ nguồn”, ai trồng cây để quả
                                Xin đừng vô tình để trở thành xa lạ
                                Cái mất, cái còn của bao thế hệ
                                Cho hôm nay và cho cả mai sau.
                                Mỗi sự hy sinh là một nhịp cầu
                                Cho ta bước tới ngày mai tươi đẹp.
                                Những người đã và chưa qua Trường Sơn đều biết:


        CHÂN LÝ ĐƯỢC ĐỔI BẰNG MÁU VÀ NƯỚC MẮT HÔM QUA.

Hà Nội, 30 – 4 – 2000.         
Đ.T.C                   
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #86 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 06:28:19 am »


NÓI VỚI NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Nguyễn Mạnh Khải, chiến sĩ Trung đoàn 141.       
(Tặng linh hồn liệt sĩ Phí Văn Đính)             

                                            Chúng mình, lính cùng trung đoàn
                                            Đến đây đón cậu về quê mẹ.
                                            Mấy chục năm rồi.... Đáng lẽ,
                                            Phải vào rước cậu từ lâu.
                                            Đồng đội mình, đứa trước, đứa sau
                                            Rồi tất cả cũng về với đất.
                                            Ôi ! Những linh hồn còn, mất
                                            Hai nghìn, sáu trăm quân chứ có ít gì đâu.
                                            Có đứa nằm tận rừng sâu,
                                            Đứa ở ven đường, đứa bên bờ suối vắng...
                                            Chúng tớ thấy lòng mình không tĩnh lặng
                                            Mỗi khi các cậu chưa về.
                                            Những thằng sống, chúng tớ gặp nhau cười hả hả, hê hê
                                            Nhưng không mời được cậu cùng uống bia, uống rượu
                                            Cũng là lẽ thường thôi mong cậu hiểu...
                                            Ở thế giới bên kia, các cậu hãy tìm nhau
                                            Và nói giùm chúng tớ một câu:
                                            CHO ĐẾN CHẾT CŨNG KHÔNG QUÊN ĐỒNG ĐỘI.
                                            Nếu có sơ suất gì cho chúng mình xin lỗi
                                            Vì dù sao cũng là lính trung đoàn.
                                            Thương các cậu nhiều nên ngày Bắc, đêm Nam
                                            Không phải mình tớ đâu, mà anh nào cũng thế,
                                            Khi nằm xuống rồi cũng về đất mẹ
                                            Sang “Bên kia” nhớ tìm bạn trung đoàn.
                                            Lại hành quân đường dài, lại ra Bắc, vào Nam...
                                            Thôi chúc cậu mãi nằm yên nghỉ!


Ngày 20 tháng 11 năm 2006       
N.M.K                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #87 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2017, 06:30:53 am »


        Trung tá Nguyễn Đăng Hòa.
        Nguyên chiến sĩ Trung đoàn 141


LỜI VĨNH BIỆT

(Thương nhớ Đỗ Xuân Tiềm, tiểu đội 2W, trung đội thông tin,D3, E141)       

        Vậy mà đã bốn mốt năm xa cách.
        Nhớ ngày ấy Đèo Ngang, Dốc Dài, Đồi Gianh (Thượng Đức).
        Những trận đầu, anh em mình đối mặt
        Đánh kẻ thù bạo ngược nhất thế gian.

                        Ôm Anh ngậm ngùi, nước mắt chảy vào tim.
                        Sườn đồi gianh, tôi gửi anh nằm tạm.
                        Chắc anh biết, đây chưa phải là trận cuối.
                        Đơn vị mình lại gấp gáp hành quân.
 
      Bảy năm, sau Đại thắng mùa xuân.
        Chiến công nở hoa cũng từ những hy sinh ấy.
        Ai đếm được khăn tang, ai nỡ ngăn những dòng nước mắt,
        Khóc bạn mình vĩnh biệt ngàn thu.

                         Hôm nay, chúng tôi- Những người may mắn nhất.
                         Đứng trước lễ đài trên đất quê Anh.
                         Nguyện một lòng góp sức chung tay.
                         Xây đất nước mình ngày thêm cường thịnh

        Tiềm ơi ! Vì Nước, vì Dân anh không còn nữa.
        Dừng lại cuộc đời ở tuổi thanh xuân.
        Không chút tơ tình, ra đi thanh thản.
        Góp thêm cho đời một tấm gương soi......


Hà Nội, tháng 9 năm 2009       
N.Đ.H                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #88 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2017, 05:45:55 am »


        Bùi Văn Tâm,
        Nguyên chiến sĩ Trung đoàn 12, Sư đoàn 3-Sao Vàng


TÌNH ĐẤT, TÌNH NGƯỜI

        Được đơn vị cử đi công tác, tổ chúng tôi có 3 đồng chí, tôi làm tổ trưởng, đồng chí Tình và đồng chí Ba là tổ viên. Chúng tôi có nhiệm vụ tìm và đưa các đồng chí bị lạc trở về đơn vị để chuẩn bị cho chiến dịch mới. Đi được một ngày, tối đến nghỉ tạm ở một xóm bên kia sông Kim Sơn, hỏi thăm đồng bào và đã tìm được 2 đồng chí. Định sáng hôm sau đi tiếp, nhưng gặp phải trận càn của quân Mỹ. Tôi nhớ, đó là ngày 27 tháng 3 năm 1966. Từ mờ sáng, máy bay phản lực ném bom, pháo bắn như vãi đạn khắp các thôn xóm. Sau đó, từng đoàn trực thăng các loại bay rợp trời như những đàn châu chấu tới đổ quân từ Nghĩa Điền, Kim Sơn đến Phú Hữu, Ngã 3 Tân Thạnh.

        Khi chúng tôi vượt qua cánh đồng thì bị máy bay trực thăng phát hiện. Chúng phóng rốc-két. Đồng chí Tình bị thương. Tôi và Ba chạy tới băng bó vết thương cho Tình. Vết thương khá nặng, vỡ đầu gối bên phải, máu chảy đầm đìa. Tôi lấy dây thun quấn chặt phía bắp chân để máu khỏi chảy. Giữa ruộng lúa nước, máu hòa lẫn với bùn. Chúng tôi đưa Tình lên đường cái và tìm cách khiêng cáng. Ngó trước, ngó sau chỉ còn 3 chúng tôi. Hai đồng chí vừa tìm về lại chạy lạc đâu mất. Không thể bỏ đồng đội lúc này. Tôi liền chạy vào nhà dân tìm đòn khênh và mang được Tình vào thôn gần đấy. Trời nhá nhem tối. Trong làng chẳng còn một bóng người. Nhà cửa cháy không có người dập. Tiếng tre nứa nổ lốp bốp. Mùi bom na-pan khét lẹt, buồn nôn. Chúng tôi đành cáng Tình đi tiếp.

        Sáng hôm sau, bọn Mỹ lại đổ quân càn quét khu vực Nhơn Thọ, bị lực lượng phòng không của ta đánh trả quyết liệt suốt ngày. Máy bay Mỹ bị bắn cháy hàng chục chiếc. Sẩm tối, bọn bộ binh Mỹ nằm rải rác khắp nơi. Chúng tôi bí mật luồn lách qua các khu vực địch nằm để về phía sau. Có nơi chỉ đi cách chúng độ ba, bốn mét.

        Suốt 2 ngày không ăn uống. Bụng đói, miệng khát nhưng không dám nghỉ, chỉ nhằm hướng núi mà đi. Khoảng 12 giờ đêm, bất chợt tôi phát hiện phía trước có ánh lửa. Mừng quá. Kinh nghiệm cho biết, hễ có ánh lửa là không có địch. Tôi bò tới quan sát, lắng nghe. Không thấy động tĩnh gì, chỉ thấy một cái lều của người chăn vịt. Trong lều có một ông già đang lúi húi nấu gì đó. Tôi nhẹ nhàng bước vào. Ông gìa khẽ giật mình sợ sệt hỏi:

        -   Lạy Chúa ! Các ông là ai ? Các ông cần gì ?

        -   Chào ông Hai – Tôi nói – Chúng con là bộ đội Giải phóng đi công tác, gặp địch càn, một đồng chí bị thương. Chừ phải tìm chỗ nghỉ tạm, rất mong cụ giúp đỡ.

        Tôi và Ba khênh Tình vào trước lều. Ông già cầm chiếc đèn dầu dừa từ trong lều bước ra soi nặt từng người, soi vết thương của Tình, ngắm nhìn quần áo chúng tôi rồi quay vào bảo:

        -   Chắc các chú đã đói, mệt lắm rồi. Trong lều còn ít cơm nguội. Trên bếp có mấy quả trứng luộc, các chú lấy ăn tạm.

        Tôi mừng ran vì biết cụ già đã tin chúng tôi. Mừng hơn là đã có cái ăn. Tôi bưng nồi trứng ra gạn hết nước, thấy 5 quả trứng. Tôi và Ba mỗi người 1 quả, còn 3 quả bóc cho Tình. Ông già từ ngoài bước vào giục:

        -   Các chú tranh thủ ngủ một lát để lấy sức, khoảng 3 giờ sáng, tôi dẫn các chú đi lánh.

        Nghe ông già nói vậy, tôi chỉ muốn đi ngay, nhưng quá mệt và căng thẳng suốt 2 ngày nay nên chỉ ngồi một lát, cả 3 chúng tôi đã ngủ thiếp đi... Đang ngon giấc thì ông già gọi dậy lên đường. Đã có tiếng gà rừng gáy xa xa. Ông già chống gậy, tay xách một chiếc túi, đầu đội chiếc nón cời đi trước. Chúng tôi vượt qua một con lộ lớn rồi tới đường mòn ngoằn ngoèo mấp mô. Trời chưa sáng nên chỉ thấy một vệt mờ mờ, bước thấp, bước cao. Đi khoảng một tiếng đồng hồ thì tới bìa rừng. Để vào được bìa rừng, chúng tôi phải đi qua bãi lầy khoảng bốn năm chục mét. Ông già căn giặn:

        -   Bùn, nước ở ruộng ngập tới cổ, các chú phải đi thật cẩn thận đó nghe. Tôi băn khoăn hỏi:

        -   Đường thế này thì làm sao mà khênh được hở ba ?

        -   Tôi sẽ chỉ cho các chú cách đi. Nói rồi ông đưa cho chúng tôi mỗi người một chiếc gậy khá dài rồi vượt lên trước, nhảy xuống ruộng, đứng trên đầu các cọc tre đã được cắm từ trước. Ông quay đầu, dùng gậy của mình vạch từng đầu cọc đã được phủ kín cỏ dại. Thì ra con đường bí mật của ông là như vậy.

        Trời vừa sáng, chúng tôi vào được trong rừng, lội qua một đoạn suối nhỏ để xóa dấu chân, xóa bùn đất rồi mới tới một chiếc lán nhỏ. Đưa chúng tôi vào lán, ông già giặn đi, giặn lại: Không được nấu ban ngày, không được đi lại. Chỗ này địch nhìn chúng ta rất rõ. Có động tĩnh gì, tôi sẽ vào báo. Nói rồi , ông quay ra, đi thoăn thoắt trên đầu cọc và dùng gậy khỏa lấp lối đi của mình. Trời sáng hẳn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #89 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2017, 05:46:20 am »


        Đàn chim thấy động, kêu “ te te tò hót” làm cho khu rừng huyên náo. Đưa Tình vào nằm trong lán xong, tôi trở ra quan sát thì thấy đây là một khu đất nổi lên trên bãi lầy. Cây cối mọc um tùm nên tưởng là rừng. Một cái lán làm bằng cây que đơn giản, mái lợp cỏ gianh. Trong lán có mấy chiếc cọc để mắc võng. Chung quang lán, dưới các bụi cây có rất nhiều hũ sành đựng gạo, lọ nhựa đựng muối, mắm. Tôi đoán, đây là khu vực lánh càn của nhân dân. Bước thêm mấy bước nữa, tôi phát hiện có một người con gái đang giặt và một cháu nhỏ đang lúi húi lật đá bắt cua. Tôi nhẹ nhàng tới gần, lên tiếng:

        -   Chào cô. Cô gái giật mình quay lại. Tôi nói tiếp như thanh minh: Chả là bọn anh đi công tác, không may một đồng chí bị thương, được ông già đưa vô đây.

        Theo chân cô gái đi vào, tôi nhận ra cô còn rất trẻ, khoảng 20 tuổi. Nước da trắng mịn. Khuôn mặt và đôi mắt giống Đức mẹ Ma-ri-a. Cô hỏi tôi:

        -   Vậy hôm qua, hôm tê...các anh ở đâu?

        -   Ở Bình Sơn, Nghĩa Điền. May gặp được ông già tốt bụng.

        -   Ổng là dượng của em đấy. Thấy cô vui vẻ, tôi gợi chuyện:

        -   Có phải em ở gần nhà thờ Kim Sơn không?

        -   Ủa ! Sao anh biết?

        -   Hình như....anh đã thấy em đi lễ ở Nhà thờ vào các sáng Chủ nhật. Đúng không? Câu chuyện đã tự nhiên hơn.

        -   Vậy quê anh ở đâu? Anh có đi lễ Nhà thờ không?

        -   Quê anh ở Bắc. Xa lắm. Trước kia, ở nhà, anh có đi. Từ khi vào bộ đội thì không có điều kiện...Trả lời cô gái xong, tôi thấy mình có lỗi. Vì những điều tôi vừa nói chỉ là “tán dóc” mà thôi. Thế mà cô đã tin liền. Câu chuyện dừng lại khi chúng tôi vào tới lán. Tình đang lên cơn sốt, người nóng ran, mê sảng, miệng nói lảm nhảm. Cô gái bảo:

        -   Phải thay băng, rửa vết thương cho ảnh. Chắc vết thương đã nhiễm trùng. Tôi gật đầu đồng ý. Tôi khẽ gọi đồng chí Ba. Ba chạy vào, tay cầm một đoạn cây. Thì ra, anh đang chuẩn bị cây làm sạp cho Tình nằm.

        Trưa, chúng tôi đưa Tình lên sạp, đem võng của Tình ra suối giặt. Chiều tối, đun nước sôi, bỏ thêm chút muối để rửa vết thương cho Tình. Tôi lấy chiếc áo cổ vuông xé ra làm băng. Đồng chí Ba vót một đôi đũa để thay panh. Thế là ca sơ phẫu bắt đầu. Cô gái có tên Liên lấy khăn mùi xoa bịt miệng thay khẩu trang, tay cầm đũa gỡ băng. Mùi hôi từ vết thương bốc lên nồng nặc. Gỡ đến vòng băng cuối cùng, lộ rõ dây thun tôi ga-rô ba ngày trước. Thịt bị thối. Hàng trăm con dòi nhô đầu ngo ngoe như những mũi kim đang di động...Vừa rửa vết thương, cô đưa mắt nhìn tôi bảo:

        -   Phải đưa ảnh đi bệnh viện thôi. Không thể để lâu được nữa.

        -   Muốn đi, phải ra ngoài bám địch. Liên có biết bệnh viện ở đâu không?

        -   Ủa, sao anh biết tên em?

        -   À, chú bé giới thiệu chị của nó với bọn anh từ sáng.

        Liên là con cùng mẹ, khác cha với chú bé. Ông già là dượng của cô. Liên không chịu để địch dồn vào ấp chiến lược nên cô bỏ học, trốn vô núi sống với cha dượng.

        Đã 3 ngày. Địch vẫn càn quét ráo riết khắp các thôn xóm. Chúng tôi không ra được và ông già cũng không thấy vào. Tôi và Liên cùng lo cho ông già. Chiều tối, thấy êm êm, tôi xác định phải ra bám địch. Liên xin đi với tôi vì cô quen thuộc địa hình. Trời tối hẳn thì chúng tôi tới lều vịt. Nhưng lều đã bị đốt cháy trụi. Không thấy ông già. Vịt không còn con nào. Những tưởng Liên sẽ kêu thét lên, nhưng cô im lặng, lầm lũi bước lên trước:

        -   Ta đi vào làng thôi anh. Cô nói giằn từng tiếng chắc nịch.

        -   Còn ông dượng, liệu có sao không? Tôi lo lắng hỏi.

        -   Dạ, không sao. Miệng trả lời, chân cô bước gấp như đã dự đoán được điều gì đã xẩy ra.

        Mấy phút sau, chúng tôi vào tới xóm – Cái xóm nhỏ nằm sâu trong hốc núi, có khoảng chục ngôi nhà. Bà con cho biết, hồi sáng, Mỹ càn qua, ngụy càn lại. Bọn “Bình định nông thôn” đưa trực thăng tới, loại 2 chong chóng (H34), lùa hết trâu, bò, khuân hết thóc gạo chở về quận rồi. Vậy là đã rõ, ông già và bầy vịt cũng bị chúng hốt mất rồi.

        Tối hôm đó, anh em trong đơn vị đi tìm chúng tôi cũng tới xóm nhỏ này, có cả đồng chí thủ trưởng. Tôi báo cáo tình hình và đề nghị cho chuyển gấp đồng chí Tình về bệnh xá. Đồng chí thông báo, địch đã rút và hẹn sáng hôm sau cho người đến tải thương. Tôi mừng đến chảy nước mắt. Một lát sau, Liên chạy tới kéo tôi vào ăn cơm với một cụ già. Cơm chỉ có mắm cái với ớt. Liên lấy đâu một quả dưa chuột khá to, thái mỏng cho vào mắm cái. Đó là cách ăn của bà con vùng này. Mặc dù mỗi người chỉ một chén cơm, nhưng lúc này quả là quý hơn vàng. Tôi thông báo cho Liên biết, sáng mai sẽ đưa Tình đi bệnh viện, nhưng gạo không còn, muốn nhờ Liên dẫn đi xin bà con. Liên chấp nhận ngay. Chúng tôi đến từng nhà. Liên kể hoàn cảnh chúng tôi. Bà con tuy vừa bị địch vơ vét nhưng vẫn sốt sắng quyên góp được gần một ruột nghé (bao đựng gạo của bộ đội khi hành quân).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM