Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2017, 03:32:36 pm » |
|
Điều đó đáng làm cho chủng ta suy nghĩ. Đại chiến, ngàn đời vẫn đơn giản, không thể học được qua các tác phẩm thông thái mà vô giá trị của các Bộ Tổng tham mưu, mà (như người ta đã quên mất ở Pháp, tiếc thay !) là nhờ sự tiếp xúc với những bộ óc quân sự lớn của mọi thời đại. Hitler là một bài học. Bằng cách thúc đẩy các tướng lãnh quen làm việc chiếu lệ và đã sống với những kỷ niệm choáng váng của cuộc bại trận 1918 hơn là người ta tưởng, anh chàng tài tử Hitler đã hun lại chiến tranh, ông là một trong những người đã hiểu trước tiên về cái ưu thế trong thế tấn công của chiếc "pháo đài di động" tức chiến xa và "đoàn đại pháo phi hành" là máy bay. Ông đã tìm lại được nguyên tắc hành quân mà các Bộ tham mưu đã làm mất. Ông đã xây dựng trên một vài tư tưởng xác đáng và đơn sơ, cải toàn bộ của các chiến dịch mà lịch sử quân sự chắc chắn sẽ liệt vào loại cổ điển như các chiến dịch Ba Lan, Na Uy, Pháp và vùng Ba nhĩ cán.
Rồi, vì ông điên, ông đã mất ý thức về cái gì có thể làm được. Ông đã mất cả ý niệm về cái tính chất hơi giả tạo của lực lượng quân sự mà ông đã tạo nên. Ông đã bị trận ngập và đè bẹp bởi những lực lượng lớn có thực của hoàn cầu mà ông đã khiêu khích, làm thức tỉnh và chinh phục.
Về phương diện quân sự, trong cách điều khiển chiến tranh, ông đã phạm phải nhiều lầm lỗi tầy đình, tất cả đều được giải thích bởi một điều, đó là một bộ óc như ông không thể nào chấp nhận một thất bại để tránh một thảm họa. Trường hợp này không phải mới mẻ gì. Ví dụ cuối cùng trước Hitler là Napoléon.
Cái thiên khiếu về quân sự của Hitler là một yếu tố bất khả vô để hiểu các biến cố. Ông không thể thoát khỏi chiến tranh vì trót mang trong mình năng khiếu khốc hại về chiến tranh, ông chỉ tìm sự nẩy nở trong con người ông trong chiến tranh, ông tự cảm thấy mình sinh ra để chỉ huy các đạo quân. Ông nói (tài liệu 1918 P.S.) : "Tôi đã chẳng tạo nên quân cụ với ý định không dùng đến nó". Ồng thuộc giòng giống bất hạnh, và có lẽ ngàn đời bị nguyền rủa của những tên đao phủ trên thế giới. Người ta cạn lời chúc dữ ông. Có lẽ chỉ đành nói : ông là một đại nguyên soái, như vậy đầy đủ hơn. Câu đó chứa đựng tất cả.
Ông ta nghĩ gì về mình ?
Trong hồ sơ vụ Nuremberg có biên bản của hai bài thuyết trình Hitler đọc trước các tướng lãnh trọng yếu trong quân đội của ông ta, một bài đọc ngày 22-4-1939, trước khi khởi binh đánh Ba Lan (tài liệu số 798 P.S.), một bài đọc ngày 23-11-1939 trước cuộc hành quân vào đất Pháp (tài liệu số 789 P.S.).
Trong hai bài diễn văn này Hitler đã tự mô tả. Ỏng đã nói hôm 22 tháng 4 :
"Một cách cốt yếu, tất cả căn cứ nơi tôi, tất cả thuộc về sự hiện hữu của tôi. Có lẽ sẽ chẳng bao giờ có ai được dân Đức tin cậy như tôi. Có lẽ trong tương lai sẽ chẳng có một người nào có uy thế bằng tôi. Vì vây sự có mặt của tôi là một nhân tố chính trị có giá trị nhứt, nhưng tôi có thể bị loại trừ bất cứ lúc nào bởi một kẻ điên hay một thẳng ngốc".
Bài thuyết trình thứ hai, ngày 23 tháng 11 là một lời khiển trách. Hitler không kìm hãm được cơn thịnh nộ. Những người mà ông nói với không tin ông. Vì vậy ông đã rất dài dòng kể lể về chính ông, về cái thiên tài của ông. Ông bắt đầu bài diễn văn :
"Mục đích của câu chuyện ngày hôm nay là cho các ông một ý niệm về ý muốn của tôi. Khi tôi bắt đầu sư nghiệp chính trị vào năm 1919, lòng tin tưởng vững vàng của tôi vào thắng lợi cuối cùng dựa trên sự quan sát các biến cố một cách chăm chú và trên sự nghiên cứu các hậu quả của cảc biến cố đó. Vì vậy không bao giờ tôi mất lòng tin tưởng ở giữa những thất bại mà tôi phải gánh chịu. Thượng đế đã an bài tất cả và đã đưa tôi tới thành công. Trên tất cả mọi sự, tôi đã có một ý niệm rõ ràng về diễn tiến của các biến cố lịch sử và có một ý chí để có những quyết định tàn bạo. Lúc nào tôi cũng cầm chắc là mình sẽ đạt được mục đích.
Khi tôi 1ên cầm quyền vào năm 1933 tôi đứng truớc một thời kỳ tranh đấu cam go. Tôi đã phải tổ chức lại hết, bắt đầu với đám quảng đại quần chúng và tiếp tục với quân đội. Đồng thời tôi đã lo giải thoát Đức Quốc khỏi xiềng xích. Tôi đã rời bỏ Hội Quốc Liên và tố cáo Hội Nghị Tài Binh. Quả là một quyết định khó khăn. Nhiều người tiên đoán kết cục miều sông Rhin (Rhénanie) sẽ bị quân Pháp chiếm lại : chỉ một số rất ít người tin ở tôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2017, 09:46:55 am » |
|
"Rồi đến quyết định tái võ trang. Lại thêm một lần nữa, những người tiên đoán thảm họa chiếm đa số; rẩt hiếm người tin tưởng. Sau đó tôi đã quân sự hóa trở lại miễn sông Rhin, một thành quả được coi như không thể nào đạt được vào thời ấy. Số người tin tưởng vào tôi vẫn còn rất ít”.
Ông cứ thế tiếp tực kể, và lý luận như bị ám ảnh : "Tôi đã muốn, và người ta đã không, tin, nhưng tôi cỏ lý". Điều mà Hitler tự phụ nhứt đó là sự không sai lầm.
Ông tiếp:
"Trong số những nhân tố thuận lợi của tình hình hôm nay, tôi phải kể chính cá nhân tôi và khiêm tốn bào rằng: Không ai có thể thay thế tôi được. Không có một nhân vật nào dù quân sự hay dân sự có thể thay thế tôi được. Tôi ý thức được sự thông minh của tôi và sức mạnh trong quyết định của tôi. Tôi chỉ chấm dứt chiến tranh bằng cách tiêu diệt đối phương. Tôi không chấp nhận một sự dung hòa nào. Tôi sẽ đánh và sẽ không đầu hàng. Số phận Đức Quốc xã lệ thuộc vào tôi và chỉ một mình tôi", Không còn lời nói nào soi sảng về con người của Hitler một cách sâu sắc hơn : "Số phận Đức Quốc xã lệ thuộc vào tôi và chỉ một mình tôi".
Bộ óc u ám đầy những ý tưởng trừu tượng ghê gớm của ông đã diễn tả lại cho ông một cuộc chiến tranh khốc liệt, không thế tránh giữa những lực lượng lớn và những đam mê lớn đương tranh nhau bá chủ thế giới. Và ông đã cho rằng chỉ có ông có khả năng lãnh đạo nước Đức trong cuộc thử lửa sắp tới.
Goering nói :
"Fuhrer thường hay nói đến một cuộc chiến tranh không thể tránh được giữa chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa Bôn Sơ Vích. Thỉnh thoảng ông nhận là cuộc xung đột này có thể đợi nhiều năm và ông cũng nhìn nhận là ông có thể, trong thời gian đó, đem lại được cho 1 nước Đức những lợi thể căn bản một cách hòa bình. Nhưng ông thường nói : "Chiến tranh cần phải xảy ra khi tôi còn sống".
Nhưng Hitler lại dị đoan. Keitel nói :
"Ông tự bào chữa về điều đó, nhưng người ta có thể thấy rõ, chẳng hạn, ông rất dễ bị ảnh hưởng bởi câu tục ngữ Đức thời xưa "Anh làm gì ngày thứ sáu thì sẽ chẳng giữ làu được cả tuần". Ồng còn tin vào lả sổ của ông hơn nữa. Các ngôi sao chiếu mạng và những đường lằn trên bàn tay của ông đều đồng tiết lộ rằng ông sẽ đạt một thành công rực rỡ, ông sẽ leo lên đỉnh cao ngất, nhưng sự nghiệp của ông sẽ đột nhiên bị đứt đoạn và gián đoạn sớm. Từ đó ông kết luận rằng ông sẽ chết sớm; điều đó cứ ám ảnh ông.
Các nhà tiên tri đã phải trả giả đắt cho lời tiên đoán. Nghề bói toán bị cấm ở Đức, và những thầy tướng số, không chịu giải nghệ, bị lùa vào những trại tập trung cùng với những tên tù tái phạm, những tên đồng tính luyến ái, những tên cộng sản và những "tên trí thức". Nhưng những biện pháp nghiêm khắc đó không xóa nổi khỏi trí óc của Hitler cải ấn tượng đen tối do lá số của ông đã tạo nên. Ông biết rằng thời gian mà ông có trước mắt để thực hiện cái mưu đồ bao la của ông đương được đo lường một cách tàn nhẫn.
Hơn nữa, không phải chỉ cần chiến tranh xảy ra khi ông còn sống là đủ, mà phải xảy ra trước khi ông đã quá già.
Ông lẻn cầm quyền vào năm 44 tuổi. Công cuộc cải tổ nội bộ đã ngốn của ông mất sáu năm trong cải thời hạn quả ngắn ngủi mà số mệnh đã quy định cho ông. Ông còn phải đem lại cho lãnh thổ Đức một khoảng không gian đủ sống và cho dân tộc Đức một ngôi bá chủ thế giới. Ông quả quyết rằng những mục tiêu đó chỉ có thể đạt được bằng võ lực. Đã gần năm mươi tuổi, ông còn phải chạy đua cho sự nghiệp chiến đấu và chinh phục mà Charles XII đã bắt đầu vào lúc tuổi mới 17, Alexandre 20, Frédéric II và Napoléon 26.
Thời gian thôi thúc nhà độc tài. Nhiều lần, những tài liệu về vụ Nuremberg đã nói đến nỗi lo sợ của Hitler là bị tuổi tác vượt qua. Ngày 5 tháng 11 năm 1973, khi ông trình bày với các tướng lãnh kế hoạch xâm lăng rộng lớn mà chúng tôi sẽ nói tới, ông đã bảo họ : "Có một điều cần lưu tâm, cần phải xét đến là sự già nua của đảng và của lãnh tụ đảng".
Người ta không cần phải tìm kiếm đâu xa lời giải thích tại sao ông lại vội vàng hấp tấp lao mình vào chiến tranh. Và ông đã coi nhẹ những lợi thế quan trọng mà đáng lý ra ông có thể chiếm được nếu kiên nhẫn hơn, mưu lược hơn, ông đã tái võ trang quá mau và, như tôi sẽ chứng minh, quá hời hợt. Ông đã dấn thân vào những sự thù nghịch trước khi làm cho nước Đức đủ mạnh, khoảng năm năm trước giờ phút thuận lợi nhứt mà những chuyên gia giỏi nhứt đã chỉ cho ông và chính ông cũng nhận thấy.
Ông đã phạm vào những lỗi lầm căn bản vì ba lý do :
Thứ nhứt, vì ông tự coi mình như người duy nhất có khả năng đưa nước Đức tới chiến thắng ;
Thứ hai, vì cái thiên tài quân sự mà ông cảm thấy ở trong ông đã thúc đẩy ông một cách không thể cưỡng lại được, tới chỗ muốn chỉ huy như một thủ lãnh ;
Thứ ba, vì ông sợ chết trước khi hoàn thành vận mệnh của ông, hay, ít ra, sợ ông thì còn là một cụ già vào một lúc quyết định.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Tám, 2017, 06:17:18 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2017, 06:21:08 am » |
|
*
* * Những tài liệu và lời cung khai trong vụ Nuremberg đã cho thấy Hitler đã nghĩ về mình thế nào thì cũng cho thấy ông đã nghĩ gì về thế giới. Những tài liệu và chứng ngôn đó đã cho thấy cách thức nhà độc tài xét đoán, nghiên cứu các Đồng minh và đối phương, và ông đã làm lỡ những dịp may chiến thắng như thế nào. Trước hết ông có một ý niệm bao la về nước Đức. Đối với một trí óc như trí óc của ông, mà xét đoán, so sánh nào cũng kết cục, bằng những danh từ quân sự, thì giá trị chiến tranh của dân tộc Đức là ở trên hết. Ông nói : "Không những chúng ta đông người nhứt, mà cá nhân mỗi người chúng ta cũng tốt nhứt, giỏi nhứt. Bất cứ người bộ binh Đức nào đều hơn bất cứ tên lính bộ binh nào của Pháp. Cuộc bại trận hồi 1918 chỉ là một tai nạn mà Hitler bảo là hậu quả của sự nhu nhược và ngu xuẩn của chế độ hoàng gia. Ông chẳng bao giờ nói đến Guillaumell và những nhân vật chính trị của ông ta, "những tên bá láp", mà không nhếch mép tỏ vẻ khinh bỉ. Nhưng nước Đức, tăng cường bằng Hitler, có thể đủ khả năng chiến thắng hoàn cầu. Ông coi những thế lực phụ Âu châu như không có hay gần như không có, kể cả Ba Lan. Ngày 12 tháng 4 năm 1939 ông nói với Bá tước Ciano (tài liệu số 1871 P.S.) : "Quân đội Ba Lan chỉ có vài sư đoàn để biểu diễn và một đám quân yếu kém. Cuộc phòng thủ chống chiến xa và chống máy bay không đáng kể, và cả Pháp lẫn Anh đều không thể giúp gì Ba Lan về phương diện đó. Cũng cần phải xét đến cơ cấu quốc gia Ba Lan nữa. Trong số 31 triệu dân, 2 triệu rưỡi là người Đức, 4 triệu là người Do Thái và 9 triệu là người Ukraine. Trải ngược với những tay cuồng nhiệt ở Varsovie, dân tộc Ba Lan, nói chung, lãnh đạm và vô tình". Hitler nghi ngờ Nhựt Bổn. Ông nói : "Không nên trông cậy vào Nhựt quá. Cần phải đề phòng sự phản bội của Nhựt". Ông chỉ có một chút tin tưởng giới hạn nơi phẩm chất của quân đội Nhựt, ông đã khuyên Nhựt tấn công Tân Gia Ba. Ồng còn nói : "Nhựt Hoàng là một người nhu nhược, không có uy quyền và không quyết đoán, chẳng khác gì vị Nga Hoàng cuối cùng, và có thể sẽ chịu chung số phận". Ông quá trọng nước Ý. Người ta sẽ thấy tại sao, và những hậu quả của sự lầm lẫn đó khốc hại như thế nào. Ông không đám khinh thường thế lực của Nga. Trái lại, đất đai rộng lớn và quyền lợi to tác của Nga khiến ông cảm kích. Nhiều phen ông đã nói: "Mối nguy chính ở trong cái khối (người và đất) khổng lồ của Nga". Ông đã hiểu rất rõ : cái lợi thế của Nga trong sự chống trả các trận không chiến là khoảng cách và sự rải rác của các mục tiêu. Ngược lại, ông sợ một cuộc tấn công ồ ạt bằng không quân xuống các nhà máy và thành phổ san sát ở Trung Âu, nhứt là xuống Bá Linh và những kho dầu hỏa của Lỗ Ma Ni. Ông nói: "Nếu chỉ có Lục quân thì Nga không đáng sợ lắm, nhưng còn Không quân thì đó là mối nguy càng ngày càng lớn. Nhưng, Hitler để thế lực Nga cho tương lai. Năm 1937, Staline loại bỏ Thống chế Toukhatchevsky, vì ông này âm mưu với Đức, và cũng thanh toán luôn hàng trăm Tướng tá khác 1. Do đó Hitler kết luận là Hồng quân đang bị khủng hoảng. Ông đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần : "Nga còn bất lực mấy năm nữa". Còn Pháp thì Hitler tin là yếu vô cùng. Ông quan sát những biến động trong nước, ghi nhận sự tiến bộ của cộng sản. Ông đã theo dõi với một sự vui mừng đầy oản ghét cơn khủng hoảng xã hội kẻo dài vào năm 1936, những cuộc đình công tiếp diễn, và những cuộc chiếm đóng các nhà máy. Ông thấy các đảng xâu xé nhau, các chính phủ suy sụp. Ổng đã nói tiên tri: "Nước Pháp đang đi tới cách mạng". Ỏng biết sự suy yếu của quân đội Pháp hơn các tướng lãnh của ông nhiều, ông nhấn mạnh cuộc khủng hơảng quân số tiếp theo những "lớp lính trống", và sự giảm sút sinh đẻ. Ông cũng biết sự trì trệ và già nua của Không quân Pháp. Ông cũng biết sự sa sút tinh thần của Bộ tham mưu, sự thắng thế của một chiến lược thụ động, trái ngược hẳn chiến lược mà ông bắt các tướng lãnh dưới quyền phải theo. Ông nỏi : "Nước Pháp đã để Lục quân suy đồi, chỉ có Hải quân là được canh tân". Ngoài ra, Hitler ước lượng là nước Pháp đã mất sự tự trị trong chính sách quốc tế và đã trở thành một lực lượng phụ thuộc. Goering đã thuật lại: "Fuhrer đã thường nói là nước Pháp sẽ không bao giờ làm gì mà không có phép của nước Anh và Ba Lê đã trở thành một chi nhánh ngoại giao của Luân Đôn. Do đó chỉ cần thương lượng với Anh là có thể giải quyết mọi việc ở phía Tây". Hitler đã nghĩ gì về nước Anh mà ông coi trọng đến thế ? Ông rất trọng dân tộc Anh. Đã nhiều lần ông nói - đáng kể là vào ngày 5-11-1937 (tài liệu 1871 P.S.) : "Dân Anh dẻo dai, can đảm, kiên trì. Đó là một đối thủ nguy hiểm, nhứt là trong thế thủ. Họ có ý thức tổ chức, thích mạo hiềm và nguy hiểm. Đó là một dân tộc Nhật Nhĩ Man, mang những đức tính của dòng máu chúng ta". --------------------- 1. Đọc "Hitler, người phát động thế chiến thứ hai". Sông-Kiên xuất bản - Sách đã phát hành.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2017, 11:09:17 am » |
|
Các phiên tòa ờ Nuremberg đã chứng minh rằng Hitler trung thành với những nguyên lý của cuốn "Mein Kampf" đã tìm cách kéo dài không đụng tới mặt trận Anh. Goering nỏi: "Fuhrer đã cố gắng nhiều nhất trong năm 1936 đề đạt được một thỏa hiệp với Anh". Ribbentrop thuật lại câu chuyện sau đây :
"Vào khoảng tháng hai hay thảng ba năm 1933, trong câu chuyện đầu tiên về chính trị với ông, Hitler bảo tôi : "Ribbentrop này, yếu tố chính của nền chính trị Âu Châu là tình hữu nghị Anh-Đức". Tôi gặp ông lần cuối cùng vào tháng Tư năm 1945, một tuần trước khi ông chết dưới hầm trú ẩn của ông ở Bá Linh, ông đã nhắc lại nguyên văn những lời nỏi trên và thêm : "Vậy anh hãy xem có cách nào làm một cái gì đề dàn xếp với người Anh không ?"
Hitler, theo Jodl, đã sẵn sàng hòa với nưởc Anh trên sỏi cảt của Dunkerque. Ông còn sẵn sàng hòa với nước Anh ngay trên điêu tàn của Bá Linh !
Mùa thu năm 1940, một nhân vật lỗi lạc Đức, Adolf Galland, nổi tiếng là người nói thẳng, được Fuhrer tiếp kiến. Ông thuật lại như sau : "Tôi không dấu sự ngưỡng mộ thán phục của tôi đối với đối phương mà chúng tôi phải đương đầu, cũng như tỏ vẻ bực tức vẽ luận điệu mà báo chí và truyền thanh nói về Không lực Hoàng Gia Anh. Tỏi tưởng thế nào cũng bị Hitler la mắng. Nhưng trái lại, ông tán thành ý kiến của tôi và nói ông quý trọng nhứt giống người Anglo-Saxon, và lấy làm tiếc là đã phải gây chiến với họ, và khi nào chiến thắng ông sẽ giữ không phá hủy lực lượng của Anh Quốc, hầu tránh tạo ra một "lỗ trống" không gì "lấp được".
Theo Goering và Ribbentrop, Hitler nghĩ rằng Anh Quốc cuối cùng sẽ hiểu quan điểm của ông. Độc giả sẽ thấy chi tiết về ý nghĩ của Hitler trong bản tường thuật về sứ mạng của Rudolf Hess, mà tôi sẽ nói tới sau. Đại cương, ông cho rằng quyền lợi của Đức và của Anh phù hợp nhau. Ông không muốn phá hủy Đế quốc Anh vì ngoài chủ nghĩa quá khích (của nhóm đa số) ra, kiến trúc chính trị rộng lớn đó đang nắm được những đám người cùng khồ, đói khát của Á Châu. Nhưng ông nhứt định đòi Anh, đáp lại, phải thừa nhận để ông nắm độc quyền cải tổ Trung âu, tự do cắt xén cho Đức Quốc khoảng đất cần đề đủ sống và khả năng thanh toán các món nợ với Nga,
Ribbentrop quà quyết:
"Tôi đã mất công vô ích cảnh cáo ông là Anh Quốc sẽ không dung tha sự lấn chiếm của chúng ta một cách vô hạn định".
Hitler đã tìm cách liên minh với Anh. Goering nói : "Để đạt được sự liên minh đó, ông ta sẵn sàng bảo đảm một cách tuyệt đối sự toàn vẹn lãnh thổ của Hòa Lan, Bỉ và Pháp. Ỏng tinh bỏ vùng Alsace-Lorrainc. Ông không thích có thuộc địa lắm, và có thể bỏ hẳn ý định lập một Đế quốc thuộc địa. Cuối cùng, ông đã sẵn sàng ký một hiệp ước Á Châu, bảo đảm cho Ấn Độ chống lại cuộc xâm lăng của Nga".
Những điều kiện đó đổi với Fuhrer xem ra rất là độ lượng. Được bình yên Tây Âu, củng cố ở Châu Á, lại được bảo đảm là không phải đương đầu với Đức trên mọi đại lộ của thế giởi, thì nưởc Anh, theo ông nghĩ, sẽ chẳng có lý do gì đề chống lại sự bành trướng và phát triển của nước Đức. Hơn nữa cuộc liên minh Anh-Đức này nằm trong trật tự của sự vật, vì chính nước Anh cũng cần nó.
Chính ở đây là chỗ Hitler phân tích Đế quốc Anh một cách rất kỳ lạ và điên cuồng, sự phân tích đó một phần lớn là hậu quả của bài diễn văn ngày 5-11-1937 mà tôi đã nói đến và sẽ còn trở lại vấn đề này.
Hôm đó ông đã nói:
"Tôi không đồng ý là Đế quốc không thể lay chuyển. Cái mối nguy của nó do sự hiện hữu của những địch thủ hơn là do sự chống cự của các dân tộc bị trị. Đế quốc Anh và Đế quốc La Mã không thể so sánh với nhau được, xét về phương diện chúng có thể tồn tại lâu hay chóng. Sau cuộc đại chiến giữa La Mã và Carthage, thì Đế quốc La Mã không còn địch thủ chính trị quan trọng nào, và điều đó là sự bảo đảm đề nó tồn tại lâu ngày. Chỉ có ảnh hưởng bại hoại của Thiên Chúa Giáo và tác dụng của sự già nua đã cho phép những người Nhựt Nhĩ Man xưa chế ngự được cổ La Mã.
"Trái lại, chung quanh Đế quốc Anh hiện nay, có những quốc gia hùng mạnh hơn. Mẫu quốc Anh chỉ đù khả năng bảo vệ những vùng chiếm lãnh với sự trợ giúp của các thế
lực khác, chứ không thể chỉ bằng lực lượng của mình. Chẳng hạn, một mình nước Anh làm sao có thể bảo vệ quyền lợi của họ ở Viễn Đông chống lại một cuộc tấn công của Nhật, hay là Gia Nã Đại chống lại một cuộc tấn công của Hoa Kỳ?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2017, 08:53:06 am » |
|
"Vì vậy kết luận : Phải nhận rằng nếu chỉ có một mình lực lượng chính trị của 45 triệu dân Anh - dù cho họ đoàn kết và có lý tưởng mãnh liệt đến đâu chăng nữa - thì Đế quốc Anh không thể tồn tại mãi được".
"Do đó, Anh quốc cần có một cánh tay quân sự. Đồng minh mạnh nhứt, thuận lợi nhứt phải là nước Đức, vì chẳng khi nào Đức là đối thủ của Anh.
Ribbentrop nói: "Ông ta tính đưa vào trong hiệp ước liên mình với Anh một đoạn nhằm đặt thuộc quyền thường xuyên xử dụng của nước này một phần ba hạm đội Đức, cộng thêm 12 đơn vị, để bảo vệ Đế quốc Anh Món quà khôi hài! Nhưng người ta không thể nghi ngờ, sự thực là như vậy. Ông còn mặc cho nó một hình thức mở rộng hơn vào lúc xảy ra các cuộc thương nghị cuối cùng trước khi bắt đầu chiến tranh, Hitler đã đề nghị Anh bảo vệ Gia Nã Đại chống lại Hoa Kỳ, coi đó như một miếng mồi tối hảo, như một thứ tiền đổi chác vô cùng hấp dẫn.
Những ước muốn liên minh với Anh đã gặp những khó khăn ghê gớm do sự thiếu hiếu biết của người Anh. Họ từ chối sự chia đôi thế giới mà Hitler đã đề nghị một cách rộng lượng. Mỗi lần gặp một người biết về Anh Quốc, ông lại hỏi : "Hãy giải thích cho tôi nghe, tại sao tôi không làm sao đi tới chỗ thỏa thuận với người Anh ?" Sự giận hờn có vẻ mê sảng : "Nếu nưởc Anh nhứt định không chịu hiểu, ta sễ làm họ phải quỳ lạy".
Tuy vậy, Hitlcr vẫn nuôi hy vọng là nước Anh sẽ không đánh. Ông chịu bỏ ý muốn có Anh làm Đồng minh, nhưng không chịu nhận là phải đương đầu với Anh như kẻ thù.
Trong lúc xảy ra vụ Tiệp Khắc, ông nói : "Cái viễn tượng phải chịu đựng một lần nữa một cuộc chiến tranh lâu dài sẽ làm nước Anh không dám can thiệp. Các biện pháp tái võ trang do chính phủ Luân Đôn ban bố và cả việc trưng binh cũng không làm ông lo ngại vì ông coi đó chỉ là một sự biểu dương chứ không phải là bằng chứng của một quyết tâm.
Năm 1939, ông vẫn còn nghi ngờ về sự can thiệp của nước Anh, và, Keitel nỏi : "Phải 15 ngày sau Hitler mới coi lời tuyên chiến của Anh là nghiêm trọng".
Hitler nghĩ: Người Anh đã tính sổ về cuộc can thiệp của mình vào năm 1914 và đã thấy nó rất là tiêu cực. Họ đã thoảng nhận ra là họ đã làm lợi cho Đế quốc Pháp. Họ đã trở nên nghèo vì đó. Họ đã để cho Hoa Kỳ qua mặt. Đế quốc của họ đã bị lung lay, họ đã mất Ái Nhĩ Lan, họ lại mất Ai Cập. Họ đang bị đe dọa có thể mất luôn Ấn Độ. Một cuộc chiến tranh mới sẽ làm sự sa sút rõ rệt hơn và càng khơi rộng thêm những rạn nứt. Đế quốc Anh đương tan rã. Nam Phi chắc chắn, còn Úc và Gia Nã Đại thì cỏ lẽ, sẽ từ chối theo mẫu quốc trong một cuộc phiêu lưu mới, trong đỏ người ta sẽ kêu gọi họ đổ máu một cách vô ích. Người Mỹ cộc cằn, háu ăn, thủ lợi sẽ thu lượm hết. Người Anh biết điều đó, vì vậv họ sẽ không tham chiến trừ phi bị bó buộc.
Bằng chứng là họ đă giải giới. Đối với một bộ óc như của Hitler, giải giới đồng nghĩa với thoái thác. Ông biết rõ về hạm đội Anh hơn bất cứ ai khác. Ngoài hai chiến hạm lớn và Nelson, chế tạo theo một quan niệm đã lỗi thời, hạm đội Anh không có láy một chiếc tàu lớn tối tàn nào, những chiếc tuần dương hạm thuộc Hải quân Anh quá ít và đã mệt mỏi. Quân đội đã sa sút, không còn một giá trị nào. Không quân đã lỗi thời. Súng phòng không chưa có. Điều đó có nghĩa gì ? Nếu không phải là Anh Quốc đã quyết định một cách chín chắn để chọn sự trung lập.
Còn Mỹ ?
Ít khi Hitler nghĩ tới. Trong khi Nga Sô đồ sộ ám ảnh ông, thì sự rộng lớn của Mỹ không có một hình ảnh nào trong trí tưởng tượng của ông. Một đôi khi trong những câu chuyện rộng rãi trước những người thân thiết, ông đã tính khơi lại một cuộc chiến tranh chia rẽ mới giữa người Hoa Kỳ gốc Nhật Nhĩ Mãn với người Hoa Kỳ gốc Mỹ. Nếu toàn thắng Âu Châu, chắc chắn ông đã hướng sang Tân Thế Giới với mưu định đòi lại cái chất liệu người và sức lao động Đức là cái đã làm cho Bắc Mỹ cũng như Nam Mỹ phì nhiêu. Nhưng đó là một tương lai u ám. Thực ra, Hoa Kỳ lúc đó hầu như vắng mặt trong cái thế giới Hitler : Đó là một nước lớn, lạ lùng và vô giá trị, bị tư bản dày vò, bị bọn người Do Thái làm thối nát, bị tê liệt bởi chủ nghĩa duy vật, bị đần độn vì chiếu bóng, thú vui, dã cầu và được cai trị bởi một kẻ thủ của Đức Quốc, cuồng nhiệt nhưng bất lực.
Ông nói :
"Mỹ Quốc vào năm 1917 đã trải qua một kinh nghiệm chẳng ra gì về chiến tranh nên không muốn thử can thiệp một lần nữa vào cuộc xung đột ở Âu Châu".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2017, 09:00:55 am » |
|
Goering thuật lại ; "Tôi đã thường nói với Fuhrer ngay trước sự chứng kiến của người khác rằng nếu nước Anh tham chiến chống lại Đức thì Mỹ Quốc sớm muộn gì cũng sẽ tiếp ứng ngay cho Anh. Fuhrer không đồng ý. Ông quả quyết là Mỹ sẽ không tham chiến bất cứ trong trường hợp nào, trừ phi trực tiếp bị đe đọa. Ổng căn cử trên một câu chuyện mà ông đã nói với Lloyd George, khiến ông có một ỷ niệm hoàn toàn sai về thái độ và trạng thái tinh thần của giống người Anh-Mỹ. Ông cũng rất lầm về ảnh hưởng của nhóm người chủ trương đứng biệt lập ở Mỹ". Con người rất am tường về các vấn đề quân sự Âu Châu đó, chỉ có một ý niệm rất mù mờ về tiềm năng chiến tranh của Hoa Kỳ. Những cuộc chuẩn bị tái võ trang của nước này đã hoàn toàn ở ngoài tầm nhận xét sắc sảo của ông. Sự chậm trễ trong việc khởi công cung cấp các đồ phụ tùng cho Anh Quổc càng làm ông tin rằng Hoa Kỳ bất lực. Ông cứ tương một dân tộc bị kích thích bơi nền dân chủ và sự giàu có thì trên căn bản phải bất lực trong việc tự đặt cho mình những hy sinh cần thiết để theo đuổi cuộc chiến - nhứt là sẽ không đủ khả năng tìm ra những kẻ sẵn sàng chết. Do đó ông nhứt định quả quyết một cách thực ngu là không có gì nguy hiềm. Những, tài liệu trong vụ Nuremberg đã đưa ra rất nhiều bằng chứng. Đây là một ví dụ : Ngày 21- 1-1941, ông nói với Mussolini (Tài liệu C.134): "Dù cho Hoa Kỳ tham chiến chúng ta cũng không có gì phải sợ". *
* * Một nhận xét khác đè nặng lên sự phán đoán của Hitler là sự xét người. Thế giới Hitler là một thế giới anh hùng. Những người cương cường lãnh đạo và nhào nặn đám đông thụ động. Chỉ có họ làm lịch sử. Đức tính cốt yếu của họ là ý chí và nghị lực. Họ bất chẩp luật lệ tôn giáo, luân lý và nhân đạo, áp đặt trên đám dông bị khuất phục như những xiềng xích trói buộc. Họ chỉ phải trả lời về những hành động của mình trước một "Đấng An Bài" vu vơ và bao dung đối với các lãnh tụ, một Đấng An Bài dành cho những "Bán Thượng Đế". Hitler đã tự liệt mình vào số những nhân vật ngoại lệ đó. Cô độc, xa những kẻ đương, thời, ông sống với những bóng mờ khổng lồ. Người ta có thể tin rằng ông đã nói với những cái bóng mờ đó trong những giấc mơ u ám. Ngoài ra, chính ông lựa chọn, ông không "ở chung" với Napoléon, mặc tất cả những gì tương tự giữa hai người. Nhưng ông ít khi lìa xa Bismarck và nhứt là Prédéric II. Ông nói : "Những nguy hiểm mà tôi chấp nhận cũng chính là những nguy hiểm của Frédéric đại đế, khi tiến chiếm Silésie. Cũng như Frédéric, tôi nắm trong tay quyền dân sự và quyền quân sự ; tôi là hiện thân quốc gia". Bên trên những bậc đế vương nổi tiếng nhất của xử Phổ, Hitler tìm lại được một vài kẻ ngang hàng với mình, trong những thời kỳ man rợ, và chính những người này làm ông say mê. Ông ham thích thực sự được "giao tiếp" với Thành Cát Tư Hãn. Ông tán thưởng những bài học, và chấp nhận những nguyên tắc của họ Thành. Ông đã nói với các tướng dưới quyền, khi tung họ ra bãi chiến : "Máu không đáng kể đối với những người sáng lập Đế quốc. Thành Cát Tư Hãn đã cố tình hạ sát hàng triệu đàn bà trẻ con. Ai nhớ chuyện đó ?" Trong số những chính khách đương thời, Hitler tìm những siêu nhàn. Ông xét đoán các dân tộc theo các lãnh tụ mà họ có. ông nói : "Đời ta chỉ có 3 chính khách : Mussolini, Staline và ta". Trong số 3 người được chọn đó ông còn phân làm 2 loại : "Mussolini là người kém nhất vì đã không thể thắng được sự chống đối phản động của nhà vua và giáo hội. Chỉ có Staline và ta hoàn toàn làm chủ những quyết định của mình và có thể nhìn tương lai". Hằng ngày Hitler vẫn ca tụng Staline. Nhưng - lạ một điều - là ông đã nhìn thấy ở những đức tính phi thường của nhà lãnh đạo Nga những lý lẽ làm ông yên dạ chứ không phái là cớ khiến ông lo ngại, ông biết rằng Stailne sợ Đức và muốn thỏa hiệp hơn là xung đột. Đã nhiều lần ông nói : "Staline thông minh, khôn ngoan và xảo quyệt - Hắn sống lâu chừng nào càng không có gì nguy hiềm. Tình hình sẽ đổi khác nếu chẳng may hẳn chết, vì những tên Do Thái, hiện nay bị dìm xuống hàng thứ hai, thứ ba sẽ tiến lên chiếm địa vị hàng đầu". Năm 1939, ông cũng nói : "Khi nào Staline chết, tôi sẽ đánh hạ Liên Sô".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2017, 08:45:49 am » |
|
Cuộc đời Mossolini bảo đảm cho sự liên minh với Ý. Cuộc đời của Staline bảo đảm cho sư khôn ngoan của Nga. cả hai đều là những lãnh tụ và những bậc sư. Họ lãnh đạo dân tộc họ theo quyền của thiên tài. Hạ không bận bịu vì sự đối lập dân chủ hay những người hiến kế. Họ ảp dụng một luật lệ nghiêm khắc và quyết liệt. Hitler nhìn nhận nơi họ, không phải là những kẻ bằng vai mà là đồng trang đồng lứa.
Ngoài hai người đó ra, kề từ khi Kemal Ataturk chết, chẳng còn gì cả.
Không thủ lãnh, không các bậc thầy. Chỉ có những nhân vật hạng nhì, hay hạng ba. Những hình nộm dân chủ. Những kẻ cai trị mềm yếu lệ thuộc vào "sự tiêu hóa đều vào của những dân tộc mệt mỏi của họ", những kẻ này dễ dàng sụp đổ trước cơn giỏ của một cuộc đầu phiếu tại nghị trường hay một cuộc tuyền cử. Và nhứt là những người vô tâm tính vô tì vị. "Dalađier... Chamberlain... những kẻ bả láp, những con sâu bọ bẻ bỏng". Họ không đủ khả năng trải qua một nỗi hiểm nguy. Họ không thể nào cỏ một quyết định kiên cường. Và nhứt là chẳng bao giờ họ sẽ đánh giặc. Hoặc ít nhất chẳng bao giờ họ đánh giặc thực sự.
Những tài liệu vụ Nuremberg chửng tỏ sự khinh miệt các đối thủ của ông đã là một trong những mãnh lực tiếp tay nhiều nhất vào việc lôi cuốn Hitler. (Mặc dầu cỏ những bài học của cuộc chiến tranh trước, của Clémen- ceau và Lloyđ George). Không bao giờ ông ngờ những chế độ dân chủ có thể có những người trừ bị trong những giai đoạn bình thường dễ bị đánh bại và ngăn cản, nhưng có thể trở thành những thủ lãnh, cũng đủ uy quyền như các nhà độc tài. Ông không biết Churchill. Ồng không hiểu Roosevelt.
Ông không thể nào biết được, vì ông không biết những dân tộc đã đào tạo nên họ.
Ở đây chúng ta đụng tới tri thông minh và khả năng phân tích của Hitler.
Ông sinh ra ở Trung Âu, trong khuôn khổ Đế quốc Áo-Hung, bị xâu xẻ bởi những vấn đề dân tộc, trong một vùng mà tất cả các giống dân sống chung đụng nhau. Ồng đã sống ở Vienne, thủ đô tạp chủng của một quốc gia cỏ nhiều màu sắc.
Ông đã nghèo khổ, hơn thế nữa, đã khốn cùng. Ông là người Đức, ông đã tìm kiếm cuộc đời ông tại những công trường tràn đầy những người thợ nề Ba Tây, những người phu xi măng Tiệp Khắc... Ông đã đợi tởi lượt mình bị đuổi ra khỏi nơi tỵ nạn đêm ở Meimling với hai chục giống dân đang nảy nở.
Ổng đã đọc, ông đã khám phá ra những anh hùng: Frédéric II, Bismarck. Những địa chủ, những dân đại lục, những người có sự nghiệp trải giữa sông Vistule và sông Rhin, có cái nhìn thiển cận, chưa hề vượt quá bờ sông nhưng lại có nghị lực để "nhồi lại cái bột" của các sắc dân Âu Châu.
Hitler cũng như họ, là người đại lục, ông hiểu rất rõ những vấn đề sắc dân, ông đã bắt đầu học những điều đó khi mới sanh ra, và ông đang tiếp tục học suốt cuộc đời.
Không có gì chứng tỏ Hitler có giòng máu Đức thuần túy. Trái lại, có những ý kiến trái ngược, dòng giống của ông, không gia phả, không ràng buộc với một mảnh đất nào, cái dòng giống lang thang của kẻ vô sản, hầu như chắc chắn là một thứ tạp chủng và rất có thể có chút máu Do Thái trong huyết quản của người chống Do Thái manh liệt nhứt từ trước tới nay. Nhưng nói tiếng Đức, ông đã dính chặt với cộng đồng sắc dân Đức, là sắc dân đông người nhứt và chặt chẽ nhứt, ông đã tiêm nhiễm cái kiêu ngạo của sắc dân này và làm cho nó càng ngạo mạn hơn.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Tám, 2017, 07:33:36 am gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2017, 07:32:48 am » |
|
Trong phạm vi Âu Châu, Hitler là một bậc thầy. Óc tưởng tượng của ông, sự gian ngoan của ông, ý chí man dại của ông hợp với kiến thức chính xác của ông về các dân tộc biến ông thành một chính trị gia lỗi lạc. Ông biết chia rẽ các sức đề kháng, nuôi dưỡng các xung đột và làm cho chúng thêm kịch liệt. Ông là người có tài vô song trong việc khiến người Thụy Điền chống người Tiệp Khắc, khiến người Tiệp Khắc chống người Slovaque, người Slovaque chống người Hung, người Hung chống người Lỗ. Ồng có thể đánh lạc hưởng người Ba Lan, rồi cô lập họ, rồi triệt hạ họ, thỏa hiệp với nước Nga, rồi tấn công nước Nga,. Ông có thể biết đánh giá trị suy yếu của nước Pháp. Ỏng có cái nhìn nhanh, rắn, và sáng, không bị suy yếu bởi một bóng mờ của sự ngại ngùng dè dặt.
Nhưng có một sự bao la hoàn toàn vượt quá sự phân tích của ông, đó là thế giới Anglo-Saxon.
Ông không biết một ngoại ngữ nào, ông không có một chút văn hóa. Đại học của ông đã chỉ là một cái mẹt của người bán hàng rong buôn sách cũ. Trong thời gian đào tạo tư tưởng của ông, ông đã không tới gần một người Anh hay người Mỹ nào.
Bản tính của sức mạnh Anh và Mỹ, những sức mạnh không binh lính này đã hoàn toàn vượt khỏi tầm hiểu biết của ông. Cái cơ cấu của một tập thể quyền lợi rộng bao la như Liên Hiệp Anh đối với ông không thể nào hiểu nổi. Tổ chức của bộ não Anh hay Mỹ đối với ông hoàn toàn xa lạ. Và trên hết, ông không có lấy một kiến thức nhỏ nhoi nào về lý tưởng Anglo-Saxon. Ông cho là không có cái lý tưởng đó.
Nơi mà những mệnh lệnh tôn giáo và luân lý đỏng một vai trò quan trọng đến thế mà ông cũng chỉ nhìn thấy chủ nghĩa duy vật thuần túy một cách khờ dại.
Hitler đã áp dụng vào thế giới Anglo-Saxon cái định luật tương quan lực lượng quá giản lược mà ông có trong trí. Những hậu quả mà ông rút ra thực là khôi hài : Hoa Kỳ tấn công Gia Nã Bại hay Anh Quốc nhận sự giúp đỡ của hạm đội Đức đề bảo vệ Nam Phi !
Ông đã tin là Anh Quốc sẽ không đánh. Ông đã tin là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp. Ông tưởng Anh sẽ đề ông chiếm Varsovie và trị vì ở Nga, với điều kiện là phải hứa để cho Anh vẫn giữ Ấn Độ, cần cho các nhà buôn ở Kinh thành. Ông còn nghĩ là người Mỹ đã bị lôi cuốn bời trò dã cầu và các minh tinh Hô Li Vọng đến nỗi họ sẽ nhắm mắt để khỏi trông thấy ông phá hủy Luàn Đôn là đầu và mẹ của nền văn minh Mỹ.
Quản niệm của Hitler về thế giới giải thích tại sao ông đã lao mình vào chiến tranh một cách vô ý thức như vậy. Vì ông cũng là một người thực tế - theo cách của ông, và chắc chắn ông đã không cầm khí giới, nếu ông ước lượng được phần nào về sự thất trận của ông
Ông nhìn Trung Ẳu chia rẽ và phân nửa bằng lòng ; nưởc Pháp bị lệ thuộc và đã bị suy yếu, nước Nga thiếu tổ chức và mất quyền lực ; nước Anh trung lập hoặc dễ thoái thác ; Hoa kỳ ở xa và lãnh đạm.
Mối nguy hiểm của ông không lớn. Năm 1939 ông tin rằng khi đã thu xếp để làm những gì ông đã định năm 1937 thì ông sẽ đạt được mục đích với một giá rẻ nhứt.
Ông đã không lấy tất cả để chọi tất cả như người ta tưởng, trái lại, ông tin mình khôn ngoan. Ông nói với tướng Halder: "Tôi sẽ là thằng điên nếu trong một vấn đề như vấn đề Dantzig mà tôi lao mình vào một cuộc thế chiến như những kẻ mất trí hồi 1914". Ổng tường tượng rằng sự chinh phục hoàn cầu được thực hiện với một giả rẻ hơn.
Nhưng ông không biết rõ người Anh và người Mỹ, ông đã chết vì thế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2017, 08:09:54 am » |
|
HITLER ĐÃ TÁI VÕ TRANG VÙNG SÔNG RHIN (RHÉNANIE) VỚI BA TIỂU ĐOÀN Hitler đã ký bản khai sinh quân đội mới của nước Đức ngày thứ bảy 11 tháng ba năm 1935 vào lúc 10 giờ sáng, sắc lệnh này cho tái lập chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc và ấn định số Sư đoàn ngay trong thời bình là 36. Tướng Jodl khi khai trước tòa án Nuremberg đã chứng nhận rằng những vị Tư lệnh trong quân đội Đức đã hoảng hốt : họ cho con số 36 Sư đoàn do Hitler dự liệu là không khôn ngoan và có vẻ khiêu khích. Theo họ, như vây là vô ích vì họ thấy còn lâu mới cần phải lập một quân đội quan trọng như vậv. Jodl nói : "Von Fritsch xin Fuhrer bằng lòng với 24 Sư đoàn, nhưng Hitler từ chối Vị Tư lệnh tối cao quân đội thời ấy là Thống chế Werner von Blomberg. Vị sĩ quan Phổ gày nhom này là hiện thân của quân đội cũ. Ông 58 tuổi, đã phục vụ tại bộ Tổng tham mưu từ 1911. Năm 1918 ông làm Tham mưu trưởng Đệ bát Lộ quân. Blomberg có thể được coi như một thứ sách ước sống về quân sự của vị Thống chế già mà cả nước Đức tôn kính. Blomberg chết ít lâu sau Thế chiến. Trước khi chết, ông đã có thì giờ khai nhiều điều trước các dự thẩm của tòa án Nuremberg. Ông thuật lại như sau : "Vài ngày sau khi tái lập chế độ quân sự cưỡng bách, Hitler họp các ông Goering, Raeđer, Fritsch và tôi lại và nói : "Thưa quí vị, những phiêu lưu quân sự của tôi đã hết. Bây giờ quí vị có thể bình tĩnh hết lòng lo công việc bình thường về tổ chức, cho các lực lượng võ trang của chúng ta". Vững tâm vì lời đoan kết đó, Bộ tham mưu đã lập kế hoạch tái võ trang nước Đức. Điềm khỏi đầu là Quân Đội Tự Vệ Đức do thỏa ước Versailles quy định. Bảy Sư đoàn Bộ binh mà quân đội Tự Vệ này hiện có, phải được tăng gấp đôi, rồi gấp ba. Trình độ này phải đạt được vào năm 1939. Như vậy sẽ phải lập thêm 15 Sư đoàn mới để có được con sổ 36 sư đoàn như luật định. Lục quân sẽ hoàn tất vào năm 1943, nhưng Thủy quân và các công sự chỉ hoàn tất vào năm 1945. Nỏi cách khảc, để tái võ trang nước Đức, Bộ tham mưu xin 10 năm, và trong 10 năm đó Bộ tham mưu đòi có hòa bình. Jodl nói: "Không có một áp lực hiếu chiến nào về phía các Tướng lãnh đối với Hitler. Trái lại, Blomberg, Fritsch, Beck và Brauchitsch đã lần lượt van xin Fuhrer như bổn phận của họ phải làm, chúng tôi, những quân nhân, chúng tôi chống lại mọi chính sách có thể dẫn tới chiến tranh. Chúng tôi đồng một lòng như vậy". Vào năm 1937, để bày tỏ ý kiến, chúng tôi đã nói với Fuhrer : "Thưa Fuhrer, Fuhrer có thể làm điều gì ngài thích, nhưng chúng tôi không thể nào tinh chuyện chiến tranh trước bảy hay tám năm". Blomberg nói : "Tất cả chúng tôi đều biết rằng vấn đề biên giới phía Đông bị bỏ ngỏ và cần phải giải quyết ngày một ngày hai. Nhưng chúng tôi không định có một hành động nào trước khi sẵn sàng về quân sự". Thống chế Milch, Tổng Thanh tra Không lực Đức, đã tuyên bố nhiều điều trước cử tọa và các dự thẩm. Ông nói : "Không quân chỉ được thành lập vào năm 1935. Bộ Tư Lệnh Không Quân đã đề 18 tháng huấn luyện đề lập đoàn khu trục và hai năm để lập đoàn phóng pháo. Nhưng gần như thiếu hẳn các sĩ quan có kinh nghiệm đề giữ các chức vụ Chỉ huy trưởng các không đoàn, không đội và các bán đội. Phải cần 10 năm làm việc để các sĩ quan trẻ tuổi có đủ khả năng chỉ huy trung cấp và cao cấp trong Không lực". Mười năm, các nhựt kỳ phù hợp nhau, và tất cả đều quy kết vào năm 1945. Chính Goering trong một hội nghị các Chỉ huy trưởng Không quân ngày 2-12-1936 (tài liệu 347 PS) đã tuyên bố : "Một thời kỳ yên tĩnh kéo dài tới năm 1941 là điều đáng mong ước". Nhưng mười năm đối với sự thiếu kiên nhẫn của Hitler là cả ngàn thế kỷ. Blomberg đã thuật lại: "Vào tháng hai năm 1936, vận động hội mùa đông khai diễn ở Garmisch Partenkirchen. Hitler kẻo tôi ra một chỗ và bảo : "Tôi đă quyết định tái chiếm vùng Rhénanie bằng võ lực. Đó sẽ là một bất ngờ lớn". Những điều khoản về vùng Rhénanie, được củng cố bởi Hòa ước Locarno, đã tạo cho nước Pháp một bảo đảm an ninh quan trọng. Những điều khoản đó đã được Đức chấp nhận, Anh và Ý ủng hộ. Quyết định của Hitler là một sự thách đố táo bạo đối với trật tự toàn thể Âu Châu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2017, 10:57:50 pm » |
|
Blomberg nói : "Tôi sợ thất kinh. Tôi thấy hiển nhiên là nước Pháp sẽ không để tái chiếm vùng Rhénanie mà không có phản ứng quân sự. Raeder và Goering đều chia xẻ sự lo âu của tôi, và Goering nhận can thiệp với Fuhrer để thuyết phục cho ông thay rằng lúc đó chúng tôi chưa được chuẩn bị để chấp nhận mối nguy chiến tranh. Nhưng, trong câu chuyện tiếp theo đó, Hitler làm Goering đổi ý theo luôn ý kiến của ỏng.
"Fuhrer quả quyết với chúng tôi rằng nước Pháp sẽ không tiến quân. Ngoài ra, ông nói thêm, nếu điều chúng tôi sợ là đúng thì ông sẽ lui quân rồi sẽ vượt sông Rhin lại".
Mệnh lệnh thi hành rất đơn giàn. Chiều ngày 10 tháng ba, năm trung đoàn thuộc các quân đoàn 6, 9 và 13 lên xe lửa. Ai nấy đều mang theo đầy đủ đạn dược, nhưng họ cứ tưởng mình đi tham dự một cuộc thao diễn và cả về tinh thần lẫn về quân sự, họ không được chuẩn bị để giao chiến. Khi các Đại tá đã lên tàu rồi mới mở lệnh niêm kín mà họ mang theo ra coi, và mới biết họ đi đề chiếm lại cho nước Đức cái hố, cái ụ của vùng sông Rhin.
Đoàn tàu lăn bánh về hướngTây. Hầu hết đều ngừng lại ở hữu ngạn đối diện với các thành phố Gologne, Coblence và Mayence. Chỉ có ba chiếc, mỗi chiếc chờ một tiểu đoàn, vượt qua sông. Chiếc thứ nhứt hướng tới Aix-la-Chapélle, chiếc thứ hai tởi Trèves, chiếc thứ ba tới Sarrebruck,
Ngày hôm trước, một hội đồng chiến tranh họp ở Bá-linh. Các quân nhân trong lòng lo sợ. Jodl nói :
"Fritsch đề nghị với Fuhrer ra một bản tuyên bố, theo đó ông bảo đảm không tăng cường các phần đất thuộc, vùng Rhénanie. Hitler nhún vai không đáp". Blomberg nói :
"Nhưng người ta hiểu rằng nếu có bất cứ một phản ửng nào thì những đơn vị mạo hiểm bên tả ngạn sẽ rút ngay. Chúng tôi xin Fuhrer cho biết phải hiểu thế nào về mấv tiếng "phản ứng của người Pháp". Ông xác định: phải hiểu là phản ứng quân sự kèm theo một cuộc vượt biên giới, bất kể hình thức và tầm quan, trọng. "Trải lại, ông nói, những lời phản đối ngoại giao dù mạnh mẽ đến đâu cũng sẽ không khiến tôi lui bước".
Điều đó cỏ nghĩa là nếu một đại đội quân Pháp xuất hiện ở cái mốc giữa ranh giới hai nước thì quân Đức sẽ tức khắc rút lui và có lẽ sẽ làm cho Hitler phải đổ. Nhưng trước hội đồng Tổng trưởng Pháp, Tướng Gamelin, để hành động, đã đòi gọi tái ngũ những cựu quân nhân, đòi đóng cửa biên giới và, nếu gặp bất cử một kháng cự nhỏ nào, thì tổng động viên. Ông ưởc lượng có tới 295.000 quân Đức có mặt ở vùng Rhénanie (tương đương với 21, 22 Sư đoàn).
Ông đã đạt tới con số tổng cộng kếch sù đó bằng cách đếm bừa bãi, lẫn lộn quân chủ lực với quân phụ lực, 30.000 người của Lục quân Wehrmacht chỉ có trong óc tưởng tượng của các sĩ quan phòng nhì Pháp, 30.000 người thuộc lực lượng cảnh sát, 30.000 người thuộc sở lao động võ trang toàn bằng xẻng cuốc. 30.000 người thuộc Đoàn Xe Hơi quốc gia phụ trách chuyên chở những người tham dự các cuộơ tập họp của Hitler và 175.000 cận vệ quân (cảnh sát võ trang đặc trách bảo vệ an ninh cho Hitler mà người ta thường gọi là SS và đoàn xung phong SA), có lẽ những người này cũng cuồng nhiệt thật, nhưng vào thời đó họ cũng không có phong cách của người lính hơn các hường đạo sinh.
Chì có bốn Tổng trưỏng đồng ý có Tổng tư lệnh: là các ông Sarraut, Mandel, Paul Boncour và Flanđin. Những người khác đã lầm, nhưng trước bảng liệt kê mà họ thấy trước cặp mắt kém tin tường, họ tin rằng can thiệp vào vùng Rhénanie thì chiến tranh bùng nổ. Về phía Đức không bao giờ có vấn đề đó. Jodl nói: "Chúng tôi ở trong hoàn cảnh của một tay cờ bạc đặt cả gia tài tùy thuộc vào những con xúc xắc. Quân đội Đức lúc ấy yếu kém hơn bao giờ hết vì mấy trăm ngàn quân của Quân Đội Tự Yệ theo thỏa ước Versailles đã được tung đi rải rác để huấn luyện quá nhiều đơn vị và không còn tiêu biểu cho một lực lượng có tổ chức nữa".
Và Blomberg nói :
"Chúng tôi tin chắc là người Pháp sẽ chống trả. Trong trường hợp đó, chúng tỏi sẽ không còn cách gì tốt hơn là cố chống lại việc vượt sông Rhin. Lục quân quá yếu, không trông cậy được gì nơi Không quân, chiếc máy bay duy nhứt có thể chở bom là chiếc Ju52 và nó bay quá chậm".
Những mối lo âu của người Đức kéo dàỉ một tuần lễ. Sau đó Hitler có thể quay lại nhìn các tướng lãnh của ông và bảo họ :
"Ai có lý ?".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|