Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:52:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường của quỷ  (Đọc 24397 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 03:59:28 pm »

Chương hai

Sau khi tiễn thầy, tiễn khách, Triệu Tá Dùn buộc phải đối mặt với ông bạn kết nghĩa. Đang phừng phừng men rượu lại mong muốn dứt được kẻ đeo bám mình như đỉa bám háng trâu, Dùn thả ra một thôi một hồi lời lẽ, kết tội có, mơn trớn có, dụ dỗ, thuyết phục có.

Sắn ngồi im chịu trận. Cho đến khi hơi rượu từ mồm Dùn phả ra đã nhạt hắn mới thủng thẳng kể lại lần hắn cùng Dùn đi vây bắt, tra tấn, thủ tiêu cán bộ ở Mường So; lần cùng Dùn càn quét, đốt nhà, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái ở Tam Đường. Cuối cùng hắn nói đến chuyện kết nghĩa vườn đào đã ám vào hai người như bồ hóng ám vào thịt cán bá. Bao ngày chui lủi đói khát trong rừng mà hắn vẫn đội chữ tín lên đầu, vẫn cố giữ lấy thân thể cha mẹ, trời đất ban cho là vì còn anh còn em, còn nghiệp lớn chưa thành. Chưa hết, hắn còn bộc bạch việc chơi với hắn là phải chấp nhận sự lắt léo, khó chịu. Bọn hắn như con vắt trong rừng nứa mùa mưa, người đi rừng lúc nào cũng căng ra cảnh giác những cái vòi êm ái, xong giết chẳng giết xuể, cho qua cũng chẳng xong, nhoáng một cái đã thấy lủng lẳng ở bụng chân, khuỷu tay, nhất là ở những chỗ kín.

Dùn lặng người, đất Phòng Tô này cả Việt Minh lẫn Pháp, phỉ đều rõ Sắn. Năm 1950 Sắn được tri châu giao quyền chỉ huy năm trăm quân phỉ, đánh đâu, đốt nhà nào, bản nào, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái đều cho hắn tùy ý. Ngày ấy dân chúng trong vùng hắn bảo theo, đi theo, bảo nộp gà, nộp gà, bảo nộp rượu, nộp rượu, bắn được hổ nộp bộ xương, bắn được gấu nộp cái mật và bốn cái chân... Ngày ấy dân chúng sợ hắn hơn sợ cọp thành tinh, nghe thấy hắn có mặt ở vùng nào là người vùng ấy hồn một nơi người một nẻo. Chỉ huy phỉ đánh úp bộ đội ở Lùng Chín là hắn. Tàn sát họ Thào ở Nậm Mả là hắn. Tạo ra các toán phỉ dân tộc này đến cướp phá, hãm hiếp người của dân tộc khác là hắn... Bộ đội, dân quân, công an truy lùng hắn như truy lùng con hổ thọt trong rừng sâu nhưng hắn thần thông biến hóa, nhiều lúc tưởng như chui xuống đất không thoát, bay lên trời không xong, vậy mà hắn vẫn điềm nhiên thách thức cả giời, cả đất.

Như đọc được cảnh gà mắc tóc của ông bạn kết nghĩa, Sắn thủng thẳng đưa Dùn vào vòng ma trận. Sắn nói:

- Tôi cứ chẻ hoe thời vận để ông suy xét. Ông cứ ngẫm mà xem, đời ông tội lỗi đầy mình mà được như thế này là coi như xong, nhưng còn con ông, dòng giống nhà ông. Triệu Phú Vương... Hừ! Ngay khi đặt tên dòng họ Triệu nhà ông đã trông mong, khát vọng về nó. Nó sinh giờ Thìn, ngày Thìn. Sự trùng hợp ngẫu nhiên hay giời đất sắp đặt. Có lẽ cả hai. Chân mệnh của nó là nhân ái, nghị lực, kiên cường bao trùm, là quý nhân phù trợ, làm việc gì được việc ấy, là tiếng thơm để lại muôn đời. Nó sinh ra giời đất đã cho nó một cơ thể khỏe mạnh. Nó trán cao, sơn đình rộng, mắt xếch, lông mày rậm, miệng rộng, tướng đi chậm rãi, ăn to nói lớn, ra dáng người đứng đầu thiên hạ, mười bảy tuổi đã thông hiểu lý lối như thày cúng, tuổi vừa tròn đôi mươi nó đã vượt qua cửa ải cấp sắc bảy đèn, thần Hòi Phan đã hiện thân trong nó. Ông thừa biết, đêm đến mặt trời lặn thì trăng sao tiếp tục soi sáng. Ông rồi sẽ già, rồi sẽ về với tổ tiên, song ông có quyền hy vọng vào nó, người Dao Phòng Tô có quyền mong mỏi một ngày nào đó nó sẽ đứng đầu thiên hạ. Trong chính quyền của Việt Minh ông đã làm được khá nhiều việc cho mình, cho người Dao, ông đã lót đường khá kỹ cho con, cho cháu, nhưng ông nên biết cái quá khứ nhuốm chàm sẽ khiến cho ông sẽ bị rơi hố bất cứ lúc nào. Ông hãy hình dung một ngày nào đó người ta biết ông đã từng bắt, giết không dưới năm người Mông, Dao, Kinh; biết ông từng cùng quân lính đốt phá, triệt hạ cả một làng người Pú Nả, lúc ấy họ có để yên cho ông không? Một ngày nào đó họ chợt nhận ra bên trong dáng vẻ tận tụy, hết mình vì dân, vì nước là kẻ có nợ máu với họ, lúc đó ông sẽ ra sao? Họ Triệu nhà ông sẽ ra sao? Một trong những tuyệt chiêu hạ bệ người mình không thích của Việt Minh là đào bới quá khứ. Khi ông thành quả chanh vắt hết nước, họ sẽ lộn trái đời ông, con đường đang đưa ông lên giời sẽ đưa ông vào nhà giam, con đường ông mở sẵn cho con cho cháu sẽ dẫn con cháu xuống địa ngục, ông là người thức thời, là người hiểu biết, ông biết phải làm gì bây giờ...

Làm gì? Làm gì?... Dây to dễ cởi, dây bé khó cởi, sợi dây bện bằng tơ đã thít vào cổ gỡ được nó chẳng khác gì chui ra khỏi miệng con thuồng luồng.     

Tôi biết ông từ bé đã được ướp trong cái bể đạo lý, nhưng ông ơi, đạo lý, tấm lòng mà không trải ra được dưới trời cũng giống như miếng ngon trong mồm, không nuốt, không nhả được tất nó sẽ thối, sẽ thành bệnh. Ông là con hổ sống giữa rừng quen, việc gì ông phải rón rén, lấm lét, phải ngậm cái chí ở trong mồm, ông phải trổ cái tài của mình cho thiên hạ biết, ông phải làm rạng danh mình, rạng danh thầy.

Dùn rùng mình, anh không cãi nổi cái mồm con rắn độc này. Nhà họ Triệu đánh đuổi ma quỷ, làm trong sạch bàn thờ tổ tiên nhưng chưa làm trong sạch được chính mình. Vậy là một lần nữa anh, cả nhà anh lại bị một thế lực đen tối vây hãm, đe dọa. Chúng xỏ mũi, dắt anh đi chốn nào, chống lại nó ra sao, câu trả lời còn nằm cả trong búi gai lùng nhùng chưa biết cách nào gỡ được.

1

Rời nhà Dùn, Sắn mang theo tâm trạng day dứt, tiếc nuối. Với ông bạn “năm cùng” thì không nói làm gì, cá trong bể, thú trong lồng, luyện thế nào, mổ thịt ra sao là ở người nuôi nhốt, song việc cụ giáo không những cản trở mà còn cấm cửa đã làm cho hắn thấy mình bị đánh sập một cây cầu.

Mặc dù trong đời Triệu Tá Sắn có rất nhiều chiến tích, song điều Sắn tự hào nhất là từng là học trò của cụ giáo Choong - ông nội của Dùn.

Cụ giáo Triệu là linh hồn, là tấm gương sáng về Nhân, Nghĩa, Đức, Trí cho cả vùng Sín Chải noi theo.

Cụ giáo có một lai lịch khá phức tạp. Vùng Sán Chải là mảnh đất xa xôi ngàn dặm, “tay vua với tới khó khăn, ngựa quan đi qua chẳng kịp dừng”. Con người ở đất này có mấy trăm năm thì mấy trăm năm tự bảo nhau làm, tự bảo nhau ăn. Động đến quyền lợi thì tự chém giết, chèn ép lẫn nhau. Gặp tai ương thì thành ngọn đèn hàng xóm, hết tai ương thì đèn nhà ai nhà nấy sáng, khôn, ngu, tối, sáng tự hưởng, tự chịu, không phụ thuộc, chằng rễ với đâu. Năm 1887, thực dân Pháp phá được tuyến phòng thủ Tây Bắc, đánh tan đội nghĩa quân của Đèo Văn Toa chiếm Phòng Tô, thành lập chế độ quân quản, biến từng vùng thành khu biệt lập, thành xứ tự trị. Sán Chải trở thành tâm điểm của tỉnh. Con đường đi qua Sán Chải nối từ Lào Cai, Than Uyên đi Lai Châu, Điện Biên, đi Kim Bình - Vân Nam - Trung Quốc trở thành con đường huyết mạch. Mỏ vàng sa khoáng được phát hiện hút hồn cả các thổ ty lẫn các quan thầy Pháp quốc. Rồi những sản vật từ rừng, từ núi, những mối lợi rút ruột từ những người nông dân lam lũ... Nong mật bày ra, ruồi, ong, kiến, gấu bu vào, Sán Chải biến thành nồi thắng cố đang sôi.

Sự tranh tối, tranh sáng làm khốn khổ cho cả vùng nhưng lại là lợi thế cho những kẻ đục nước béo cò, trong đó có gia tộc họ Triệu ở Sín Chải. Ông nội cụ giáo, tức ông trưởng họ Triệu vốn gốc lấy vật đổi vật kiếm lời. Lợi dụng chút vốn liếng, sự khôn khéo và chính sách mua chuộc dụ dỗ của người Pháp, ông đã chạy được chân độc quyền mua bán vàng khai thác từ mỏ Sán Chải và bán dầu muối cho cả vùng. Ở cái lòng thúng Phòng Tô này dầu, muối đã là vàng rồi, được độc quyền mua bán dầu, muối lại được mua bán vàng thật nữa thì quả là giàu có song hành. Phàm ở đời, nhất là trong vùng đất kỷ cương thả lỏng, sáng tối đè nhau thì giàu có luôn sóng đôi với ghen ghét, thù hận cướp bóc, triệt hạ. Để bảo vệ và mở rộng con đường buôn bán của mình, ông trưởng tộc họ Triệu đã tuyển mộ, huấn luyện được một đội quân bảo vệ dũng mãnh, tinh thông võ nghệ. Đội quân ấy đã nhiều năm lừng danh cả về trung thành lẫn tàn bạo khiến hầu hết những thổ ty, những nhóm giang hồ có máu mặt trong vùng vừa ghen ghét, căm thù, vừa kiềng ông như kiềng hổ.
Không cưỡng được với thời gian, bệnh tật ông trưởng họ Triệu phải về với tổ tiên để lại việc cai quản họ tộc, công việc làm ăn cho con trai cả, tức là bố cụ giáo.

Bố cụ giáo là người ngang tàng, nóng nảy, lòng tham ngùn ngụt, tính tình sục sôi, bạo tàn, mưu mẹo đủ để lật phải thành trái, lật trái thành phải, ông nối nghiệp bố mấy năm là mấy năm cả vùng nằm ngồi trên chảo lửa.

Gieo gì gặt nấy, cuối năm Canh Ngọ, trong một chuyến áp tải đoàn ngựa thồ dầu, muối từ Lào Cai về Sín Chải, ông trưởng họ Triệu sa vào ổ phục kích của bọn cướp. Cuộc tàn sát đẫm máu đã làm ông cùng phần lớn tay chân bị kết liễu bằng đao kiếm. Tin dữ vừa bay đến Sín Chải thì cả nhà ông đã bị những kẻ theo đóm ăn tàn rùng rùng bao vây, đập phá, cướp của, giết người.

Sự can thiệp kịp thời của quan đồn trú Sán Chải đã cứu nhà họ Triệu khỏi một cuộc triệt hạ tận gốc song không dập tắt được mối thù của những kẻ lấy đao búa làm sức mạnh. Đỉnh điểm của cuộc trả thù là cuộc đào mộ tập thể. Không biết do may mắn, do biết trước kết cục, hay dòng máu anh hùng còn theo về tận thế giới bên kia mà khi những quan tài bật nắp là đồng loạt thây ma dưới mộ mắt mở trừng trừng, hai tay ngó ngoáy như muốn vớ lấy gươm đao. Mấy kẻ hung hăng, rượu vào, tính anh hùng hảo hán nổi lên vừa giơ tay ấn đầu các hình nhân xuống đã rú lên, máu mồm hộc ra rồi chúi đầu xuống mộ chết tươi khiến bọn cướp mấy ngày sau hồn vẫn chưa về nhập xác.

Sau trận kinh thiên động địa ấy các thổ ty có thế lực, bọn cướp và cả quan quân đồn trú Sán Chải đều kính phục, nể sợ, không ai dám động đến nhà họ Triệu.

Cụ giáo Choong được đón về, tiếp nhận, cai quản gia tộc, cai quản nghiệp nhà trong cảnh nửa khóc nửa cười. Mẹ cụ giáo là con của một thày đồ sinh sống và dạy học ở nơi hai con sông lớn gặp nhau. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình dòng dõi, chữ nghĩa truyền đời không may sa chân vào ngôi nhà được xây lên từ sự lừa lọc, tàn bạo, bà đã sớm nhận ra kết cục có vay có trả. Khi cụ giáo đến tuổi học hành bà đã gửi con về nhờ ông ngoại nuôi dưỡng. Trong những năm tháng bên cạnh ông ngoại, được tắm gội trong đạo lý thánh hiền đã cho cụ giáo cách nhìn nhận về con người, về cuộc đời khác với những người trong gia tộc. Cụ học đòi hạt cát cố nguyện lựa chiều, xa hẳn bụi trần, thoát khỏi vòng danh lợi. Cụ đã rời hẳn nghiệp nhà như lời nguyện ước của người mẹ nhìn thấu trời xanh. Cụ bằng lòng với những cái mình đang có. Thay việc làm cho của cải chìm nổi của ông cha còn sót lại sinh sôi nảy nở cụ nuôi sự thanh thản bằng cách trị bệnh cứu người, mở lớp dạy học. Trong khi người đời chỉ chui chúi vào lo cho mình có một người bỏ tâm sức, tiền của ra lo cho người như cụ là quả hiếm. Giữa một vùng lấy cái lam lũ làm cơm mà lúc nào cụ cũng quần áo kiểu vua ban còn lớp pha ra phin láng bóng, cái triện vuông nổi rõ trên lưng áo dài; tóc búi tó, cài trâm; mặt mũi toát ra vẻ đôn hậu, thư thái, thanh nhàn. Sự bệ rạc, bê tha như ngọn gió rải khắp vùng vậy mà nhà cụ lúc nào cũng khói trầm nghi ngút, bước qua cổng là gặp không khí trang nghiêm, vừa lâng lâng e ngại, vừa gần gũi, vừa chân chất thật thà thì làm sao mà không phục, không kính trọng. Đạo học suy, khắp nơi chìm trong cảnh binh đao, cướp bóc, song cụ giáo vẫn là chỗ cho người ta trông vào. Cụ không chỉ là thầy học, là ân nhân mà còn là cây cầu, bến đỗ, là nơi chốn có thể sẻ chia, nương tựa của nhiều người.

Sắn là học trò bất đắc dĩ của cụ giáo.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 04:00:45 pm »

Bó tay trước những việc làm ngỗ nghịch của Sắn, ông Châu đoàn đã đến xin cụ cho thằng con trai ngỗ nghịch được làm học trò. Ông thưa với cụ: “Nó hư hỏng. Nó vuột khỏi tay tôi mọi đường, mọi nhẽ. Nó sẽ làm những điều có tội với giời, với đất, với người. Tôi hiểu biết như con suối mùa cạn, không dạy được nó, phải nhờ thầy thôi.”. Sau một hồi ngẫm ngợi cụ giáo nói với bố Sắn: “Không có gì không giáo hóa được”.

Sắn được làm học trò cụ giáo.

Cũng như nhiều người, lần đầu tiên được gặp hắn đã ngưỡng mộ cụ giáo. Song củ rìu khó mài, bản tính khó sửa, ngày ngày nhìn gương cụ giáo, trông gương bạn bè, nhét chữ thánh hiền vào đầu mà cái tính ngang tàng, luôn kéo rào ngược dòng trong máu Sắn vẫn không phai nhạt. Nó làm học trò mấy năm là mấy năm nó làm cụ giáo ngồi trên chảo lửa. Sắn ngang tàng song khí phách. Sắn đánh nhau với bạn, cụ giáo bắt quỳ một canh giờ, Sắn quỳ ba canh, đến lúc tự mình đổ kềnh mới thôi. Bị bắt lỗi không thuộc bài, Sắn tự nguyện quỳ trên đống quả dẻ gai chịu tội. Bị bắt lỗi không kính trên nhường dưới, Sắn tự đập đầu vào tường đến toé máu... Không việc gì Sắn không làm.

Rồi Sắn chui vào vòng xoáy của bả quyền lực. Hắn đăng lính khố xanh và leo lên đến chức Đội. Hắn tự dẫn người vào rừng nổi phỉ. Hắn còn cả gan đến gặp cụ, thuyết phục cụ làm ngọn cờ tập hợp lực lượng.

Lần ấy xảy ra một cuộc tranh cãi quyết liệt giữa hai thầy trò, đúng ra là sự va đập giữa cơn lũ và tảng đá. Biết không cản được đường quỷ, cụ giáo khuyên Sắn lấy dung hòa làm gốc. Cụ bảo cái cũ cương lên hao tổn đến dân chúng, cái mới tràn qua cũng hao tổn đến dân chúng, sao không lấy cái cũ cái mới hòa nhau, đắp đổi cho nhau, cùng nhau gìn giữ, gây dựng lấy sự thanh bình. Cụ bảo:

- Lâu nay ta tích đức, tích của chia cho người, dẫu thánh chẳng đến lần, hiền chẳng đến lượt, nhưng ta đã nuôi được sự thanh thản trong lòng, ta không muốn dây vào việc tranh giành.

Đáp lại sự điềm tĩnh của cụ, Sắn bảo:

- Con biết việc mời thầy ra làm việc bây giờ chẳng khác gì đun lửa trên nước, song thầy vẫn dạy Mệnh và Nghĩa là hai việc ở đời không thể trốn tránh. Rừng núi, tổ tiên bị bọn chúng đưa người về dày xéo thầy có thể nhắm mắt được chăng?

- Nhưng anh nên biết chỉ vì thay đổi mà đẩy mọi người vào cảnh nồi da nấu thịt thì sẽ đến lúc tuyệt diệt cả giống nòi.

- Thầy vẫn dạy thấy nhà cháy thì phải dập, thấy người chết đuối thì phải cứu, giờ đất nước trong cơn binh lửa, dân chúng trên thuyền giữa thác, thầy khoanh tay đứng nhìn, như thế hợp với đạo trời chăng?

- Hợp đạo trời là phải thấy cái lớn trong cái nhỏ, lấy cái cộng vào nuôi dưỡng cái sinh sôi. Thử hỏi một đất nước mà chia ngàn chia vạn, mỗi vùng đất, mỗi tộc người đều như con nhím xù lông, không ai nghe ai thì còn gì là đất nước.

- Nhưng thầy ơi, trong trời đất luôn luôn có kẻ mạnh, kẻ yếu. Kẻ mạnh dồn kẻ yếu vào vách đá tất kẻ yếu phải vùng lên. Kẻ yếu không thể ngồi chờ kẻ khác bóp chết mình được.

- Nhưng anh phải thấy được cái tầm, cái thế của mình chứ. Trước sự mất còn, tôi mong anh hãy xem lại việc mình sẽ làm. Số phận của đám mây trước giông bão là thế nào anh thừa biết rồi.

- Dạ thưa, con đang vì đất này, vì dân tộc này, được mất thế nào ngoài trông vào vận giời còn phải trông vào lòng người, mà lòng người thầy thấy đấy, đám đông đang ngả về phía chúng con.

Cứ thế nước mềm đối nước mềm, đá cứng đối đá cứng, cụ giáo đã không cãi được Sắn, Sắn cũng không thuyết phục được cụ giáo, cuối cùng đành phải “nước chảy nước cứ chảy, đá đứng đá cứ đứng”.

Sắn không mời được cụ giáo làm ngọn cờ tập hợp song trong suốt tháng ngày hoành hành ngang dọc, lúc thành, lúc bại, không lúc nào Sắn không khát khao có được cụ giáo. Còn lần này... Mặt trận Phòng Tô tự trị cần cụ giáo như cây non cần nước. Cụ giáo kiên quyết chối từ buộc Sắn phải nghĩ đến cách giăng bẫy để lôi kéo, ép buộc Dùn. Khi cả họ Triệu vào bến mê rồi cụ giáo có còn ngoài cuộc được không.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 04:02:17 pm »

Chương ba

Dùn hầm hầm ra khỏi trụ sở Khu vực, vọt lên lưng ngựa ra roi.

Đét, đét...

Con ngựa bị bất ngờ lồng lên, qua cơn hoảng hồn, nó phầm phập lao xuôi, nửa muốn hất chủ khỏi lưng, nửa cam chịu thân phận.

Đét, đét...

Sau mỗi ngọn roi là gió rít qua tai người, tai ngựa, là mọi vật lùi lại phía sau vùn vụt.

Đét, đét...

Cảm giác của một chiến binh, gió rừng, cây cối không xả nổi cuồng nộ đang sục sôi trong lòng Dùn.

Đét, đét...

Cái thằng vắt mũi chưa sạch, cái thằng... cái thằng. Trâu đực đến đất nhà người còn phải hạ mình thành trâu cái, nó - con ngựa non đến đất nhà người mộng làm con hổ. Nó... nó...nó... Uất ức làm cho nước bọt phè ra mép Dùn, hệt như mép con ngựa đang lồng lộn bực tức vì bị đánh đau mà không rõ tại sao lại bị đánh.

Đét, đét...

“Cấp sắc là mê tín dị đoan, là tàn dư của chế độ cũ?...”. Hừ!... Cấp sắc là việc làm không thể thiếu được của người đàn ông người Dao. Cấp sắc là nghi lễ tín ngưỡng gắn con người riêng lẻ với cộng đồng, tạo cho con người niềm tin, hướng con người tới điều thiện, ghét bỏ điều ác, sống vì mọi người. Cấp sắc dạy cho con người biết thương yêu gia đình, dòng họ, thương yêu cộng đồng, đất nước, giúp con người nhớ về tổ tông... vậy mà nó dám bảo là mê tín dị đoan, là phản dân, hại nước.

Đét, đét...

“Tốn kém, lãng phí. Giữa lúc giáp hạt, sàn các nhà sạch như trứng dốc ruột, trẻ con bỏ học hành, người lớn bỏ nương ruộng, tất cả đổ xô vào rừng đào bới để lấy cái cho vào mồm mà người đứng đầu xã đổ cả đống của, hút cả trăm con người vào việc làm cấp sắc...”. Hừ!... Hai con trâu, mười hai con lợn, bốn mươi vò rượu, ba mươi thồ gạo có là gì trong núi của cải nhà họ Triệu. Mà có là gì đi chăng nữa thì việc đánh dấu bước tu luyện trưởng thành cho tương lai và linh hồn một con người, nhất là người nhà họ Triệu thì dẫu có vét rỗng gác, rỗng chuồng thì nhà họ Triệu cũng phải làm, người Dao cũng phải làm.

Đét, đét...

“Khắp các bếp đang thổi vào tai nhau chuyện ai có công có việc gặp chủ tịch xã chí ít cũng phải mang theo con gà chai rượu thì nước mới chảy xuôi, việc mới thành. Anh không thấy việc làm của anh là bóc lột, là thổ ty đời mới à?”. Hừ!... bóc lột!!! thổ ty!!! không biết ai bóc lột ai, ai thổ ty ai. Khách huyện, khách tỉnh, rồi ngay cả chính mày đến làm việc với chủ tịch xã cũng phải ăn, phải ngủ. Chủ tịch xã lấy gì mà tiếp? Chủ tịch xã bỏ công bỏ việc đi huyện, đi tỉnh họp hành ai trả công? Chủ tịch xã bỏ ngày bỏ tháng đi nắm dân, dạy bảo dân mang cơm nhà đi ăn, rượu nhà đi uống mãi được không? Làm chủ tịch mà quanh năm phải dốc bồ đãi khách, bỏ ngày bỏ tháng lo việc không công thì làm chủ tịch làm cái đếch gì!...

Đét, đét...

“Đã sống trong chế độ dân chủ cộng hòa năm năm rồi mà đường đường là chủ tịch xã ông vẫn còn nuôi ước vọng con mình sau này xưng vương xưng vua thì điên, điên thật rồi”. Ừ điên. Không biết tao điên hay mày điên. Ở nơi nào có cách thắp hương của nơi ấy, ở vùng Dao cả chục năm rồi mà một chữ Nôm Dao bẻ đôi không biết, làm cái gì cũng tát lấy cạn, bắt lấy được, không còn biết đến trên, đến dưới, đến trong, đến ngoài thì còn thua cả đứa trẻ trong tuổi mụ mà biết lý biết lối. Mày quyền, mày thế, mày đè tao như đá đè trứng, nhưng mày không được phép miệt thị khát vọng của một tộc người...
Con ngựa thuận đường phóng về phía Nậm Khánh.

Dùn ngập ngừng dừng roi. Đầu bản Nậm Khánh là nhà Lý Văn San.

Lý Văn San có một quá khứ phức tạp. Tháng mười một năm 1950 Phòng Tô được giải phóng, chính quyền mới của Việt Minh được thành lập từ châu đến xã. San được mấy chục tàn binh phỉ đang lẩn trốn trong rừng tin tưởng cử ra uỷ ban kháng chiến hành chính châu thương thuyết xin đầu hàng, nộp vũ khí. San không ngờ chủ tịch ủy ban lại là cựu Tri châu Đèo Văn Hen. Từ khi nước Pháp thành lập Liên bang Thái đến nay có mấy chục năm thì mấy chục năm Phòng Tô nằm trong sự cai quản của họ Đèo. Sự thật hiển nhiên này San biết, cả vùng Tây Bắc biết, nhưng việc người họ Đèo cai quản chính quyền của Việt Minh thì San nằm mơ cũng không nghĩ đến. Biết đem chuyện đầu hàng nói với chủ tịch Đèo Văn Hen là hỏi gỗ mục lấy rắn rết, nhưng tên ra khỏi nỏ, không còn cách nào khác San đành phải cắn răng dẫn tay chân thân tín của Hen đi nhận người, nhận súng, và để rồi cả bọn nghiễm nhiên phải đầu quân cho Đèo Văn Hen. Năm 1951 Đèo Văn Hen làm phản, những người theo Hen trong đó có San buộc phải quay súng chống phá cách mạng. Năm 1954 San bị bắt, sau một năm cải tạo San được tha về.

Lý lịch của Lý Văn San là vậy. Với người khác chìm nổi thế chứ chìm nổi nữa thì cũng lòng thẳng, người thẳng, xuôi tới bến, ngược tới nguồn, San không làm được như thế. Sau cuộc trốn ma gặp quỷ hắn chui vào con đường tối. Mấy năm vừa rồi hắn cố làm cho mọi người biết mình đang là sóc lo ổ, chim lo tổ, song Dùn biết, nhiều người biết hắn vẫn thậm thụt buôn bán thuốc phiện. Ở tù ra mà ngày ba buổi thì ba lần dùng đến bàn đèn, ngày ba bữa thì ba bữa thịt cá, mỗi con trăng dăm lần xin phép ra khỏi bản, không buôn lậu, không có người rót tiền rót của thì cơ nghiệp nhà hắn được mấy nả.

Ngọn gió mồ côi thốc lên từ lòng khe nong rỗng những lỗ chân lông làm cho Dùn như mê man trong khoái cảm. Cũng như mọi lần đến cái ngã ba này Dùn không cưỡng nổi bước chân. Có hai lý do Dùn với San như ké dính bờm ngựa. Một là San tự trồng, tự chế ra loại thuốc phiện ngon đến nỗi đã bập vào một lần là chẳng khác gì trâu nhớ đường. Hai là cũng như Sắn, San là người biết rõ những ngày Dùn trong tiểu đoàn Thái. Với hai cái lý do chết người ấy nên dẫu biết, dẫu hiểu San đang là con rắn trong đêm Dùn vẫn bị hắn mê hoặc, dắt mũi.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 04:04:35 pm »

Con ngựa đã đưa Dùn đến cửa nhà San.

Cửa vẫn mở song trong nhà tịnh không có tiếng động.

Dùn ngoắc hờ chạc ngựa vào cái ngoãm sàn đầu hồi rồi bước vào nhà.

Tiếng e hèm trong căn buồng mé Tây làm Dùn giật mình. Biết San đang “nằm bẹp”, Dùn bỗ bã:

- Lại “vương quốc ngẫm ngợi” rồi, sao mà nhập thế sớm thế?

Không có tiếng trả lời.

Dùn bước qua cửa buồng.

Trên cái giường gỗ nghiến, San đang điệu nghệ vê thuốc, điệu nghệ ném phập mồi thuốc vào dọc tẩu rồi ghé dọc tẩu vào cái đĩa đèn mỡ lợn, mồi thuốc gặp lửa phồng lên, toả ra mùi thơm ngầy ngậy.

Dùn bực bội quay ra ngoài, “Hắn không cần biết chủ tịch xã đang vào nhà?”, “Ngươi coi trọng “thiên đường ngẫm nghĩ” hơn cả ta ư? Rồi ngươi sẽ biết thế nào là làm ma có đất”.

Dùn vừa với tay vào sợi dây cương thì giọng của kẻ no thuốc ngọt như khúc mía chui ra từ bếp than hồng đuổi theo thổi vào tai:

- Kìa chủ tịch, đang kỳ hoan lạc mà. Vào đi, thuốc ủ đúng cữ đấy!

Dùn chưa kịp nói gì thì San đã chạy ra xun xoe:

- Kìa chủ tịch, vào đi, thuốc, bàn đèn đã bày sẵn rồi mà.

Nhìn cái thân tướng hội tụ đủ cả sự bần tiện, ma mãnh của San, Dùn khinh bỉ:

- Tưởng không còn biết mặt trời mặt trăng ở chốn nào nữa?

Không để ý tới những lời giận dỗi của Dùn, cái mồm no thuốc dẻo quẹo:

- Cây có gốc, làm sao em dám bỏ tình anh em, chủ tịch bỏ quá cho, đang cơn thèm mà.

Dùn thoáng lưỡng lự, cái bụng chứa lửa dịu đi.

San được thể kéo tuột Dùn vào buồng.

Cơn thèm thuốc làm lục phủ ngũ tạng của Dùn bắt lửa, anh sẽ sàng nằm xuống giường, lim dim tận hưởng sự chăm sóc của kẻ nắm tóc mình.

Thuốc ngon. Quá ngon. Trong việc gieo trồng, lấy nhựa thuốc phiện, San là người cẩn thận nhất vùng. Ở cái nơi mưa gió thuận hòa, hạt đất như hạt mỡ trồng thuốc phiện dễ như trồng rau cải. Người trồng chỉ cần chọn mảnh nương tụ màu, tụ ẩm, cày bừa, rắc hạt thuốc phiện xuống là có thể ung dung chờ ngày lấy nhựa. Năm được mùa quả thuốc to như cái chén, rạch dao vào là nhựa thuốc ứa ra như rạch vào vỏ cây sung cây ngái. Năm mất mùa quả thuốc vẫn vói lên thách thức, nhựa thuốc không nhiều nhưng cũng rịn ra hơn cả mồ hôi, nước mắt của người giàu. Thuận thời tiết thuốc thơm ngon, không thuận thuốc vẫn giữ được hương vị chết người. Đời này, đời nọ, nhà này, nhà nọ, vụ trước, vụ sau đều gặt hái dễ dàng như thế cả. San còn hơn thế. Hắn vừa lợi dụng ưu thế giời cho để trồng cấy, vừa lấy cái tính cẩn thận ra bồi đắp bổ béo cho cây thuốc. Đất trồng thuốc của San phải là tràn ruộng giữa hai chân đồi doãng ra như háng người đàn bà. Trên đồi có rừng cây giữ đất, giữ nước, có độ dốc vừa đủ để màu mỡ trôi xuống bồi đắp cho ruộng. Dưới ruộng có lạch nước giữ độ ẩm, làm mát cho cây. Đất trồng được cày bừa, để ải, làm cỏ hai ba lượt. Phân bón phải ủ kỹ như ủ ngô làm rượu. Do chọn đất, chọn giống tốt, phân gio cày bừa, cỏ rả kỹ càng nên vụ nào nương thuốc của nhà San cũng như một thảm hoa rực rỡ. Các màu tím, hồng, trắng luôn phấp phới rộn rã trên nền lá xanh rờn. Khi cái mùi ngai ngái, ngầy ngậy quyến rũ đến mê hoặc của dòng sữa náo nức lẩn dần vào những quả thuốc to tròn như quả lựu cũng là lúc tự tay San thu hoạch nhựa.

Cây thuốc phiện dễ trồng nhưng khi lấy nhựa phải thận trọng, khéo tay, cần mẫn như người thợ chạm bạc. Dao sắc, khía hơi nặng tay là quả rời khỏi cuống. Dao không sắc, khía nhẹ tay là quả không ứa nhựa, khía hơi sâu là nhựa chảy vào trong. Khía dính vào những ngày mưa là nhựa đen kịt, dính những ngày trời đổ lửa thì nhựa khô quánh lại, thu được chỉ đáng phân nửa. San thu nhựa thuốc như lấy vợ cho con. Trước khi đi lấy nhựa, San xem nương thuốc, xem thiên văn. Biết trời thuận, đất thuận, quả thuốc vừa đủ độ cho nhựa hắn mới mang chăn chiếu lên ở lì trên ruộng thuốc rồi từ sáng sớm đến tối dùng chùm dao sắc lẻm chế từ mảnh đồng nhẹ nhàng vuốt ngược từng quả, từng quả. Qua ba ngày, ba đêm tẩm sương, tẩm nắng dòng nhựa trắng đục từ da quả thuốc chuyển sang màu mật ong, San mới tỉ mẩn dùng cật nứa gạt dòng sữa đặc quánh ấy vào cái bát, ấp vào mo nang mang về cất lên gác bếp...

Một tảo, rồi hai tảo, ba tảo chui qua dọc tẩu.

Dùn lim dim mắt tận hưởng sự thư thái giãn ra trong từng mạch máu chảy trong cơ thể.

Giọng nói của San thoảng qua tai Dùn:

- Nghe nói việc thu thuế năm nay làm gắt lắm?

Dùn yên lặng không trả lời, anh biết chắc câu chuyện của San sẽ dẫn anh đi đến đâu.

Tiếng thì thào của San vẫn chạy qua tai Dùn:

- Cứ cho cái thung lũng Phòng Tô này là cái thúng của cải đi, nhưng cái gì có trong thúng để nguyên thì còn, ra ngoài thúng thì coi như mất. Từ trước tới nay các thổ ty họ Đèo bóc lột bằng cách mà Việt Minh gọi là phát canh thu tô, bằng chế độ bảo na đi chăng nữa thì của cải từ rừng, từ ruộng, từ sông, từ suối đổ vào nhà họ Đèo vẫn là hạt gạo cần trong mùa giáp hạt, gáo nước cần cho cơn khát của người Phòng Tô. Giờ Việt Minh thu liền một lúc. Bồ cạn chuồng rỗng, thử hỏi con trâu, bồ thóc, con lợn của Phòng Tô trèo qua dãy Hoàng Liên rồi liệu có còn quay trở về được nữa không?

Dùn cay cay sống mũi, sao mà lời lẽ từ mồm con ma ốm này sắc như dao chém quỷ thế không biết.

- Hôm trước lão Sắn có ghé thăm tôi...

Dùn giật mình, nhỏm dậy.

San ấn Dùn nằm xuống như ấn đầu trẻ:

- Đừng làm như bị ong đốt thế, ông theo chúng tôi thì theo, không theo thì thôi, nhưng ông nên biết trước sau cái mà bọn Kinh gọi là đảng, là chính quyền sẽ thành bèo gặp lũ, lúc đó ông có quay đầu lại cũng không có chỗ dung thân đâu.

Dùn nóng nảy:

- Đừng có mà hồ đồ, các ông sức mấy mà kéo rào ngược dòng mùa lũ.

San vẫn thủng thẳng:

- Đã bảo đừng như bị ong đốt mà. Tôi đang nói đến sự sẽ tan rã phải không? Tôi nói đúng đấy, chúng sẽ tan bắt đầu từ sự hô hào suông như: Hăng hái tham gia sản xuất này; Tinh thần quốc tế muôn năm này; Làm chủ quê hương, làm chủ núi rừng này...., toàn những lời có cánh cả. Những lời ngọt như mía lùi dễ làm người ta sướng tai, những việc làm ví dụ dễ làm người ta vui mắt, song sau no tai vui mắt là sẽ đến bòn rút. Bòn được một lần rồi là bòn mãi. Người nghe, người xem đến lúc kiệt sức rồi mới giật mình tỉnh ngộ, lúc đó họ mới biết mình bị lừa, bị bóc lột, đến cơ sự ấy ta không cần đánh chúng cũng tan.

Dùn nhắm mắt, nửa chối bỏ, nửa không. San vừa gại gại dọc tẩu vào miệng Dùn vừa kích:

- Sao mà như con trâu tự nuốt mất lưỡi thế?

Dùn nhắm mắt đi tiếp tảo thuốc nữa song đầu óc vẫn để cả vào hình ảnh trâu tự nuốt mất lưỡi mà San vừa ví. Hay, hay thật. Trâu tự nuốt mất lưỡi. Ngươi không làm cho ta nuốt lưỡi thì chính ta cũng phải tự nuốt lưỡi rồi. Ngươi khăng khăng cái có được, cái nhìn thấy, nghe thấy để mê hoặc, dẫn dắt ta. Ngươi không biết trời bên ngoài Phòng Tô đã yên, biển bên ngoài Phòng Tô đã lặng, không ai để cho các ngươi làm khổ mãi đâu. Ta đã như con trâu tự nuốt mất lưỡi, ta không thể không nghe mi, nhưng ta sẽ có cái cách của ta, rồi đến lúc chính sợi dây ngươi buộc vào cổ ta sẽ chuyển sang buộc vào cổ ngươi.

Trời đã quá chiều, nắng đã nhạt, núi đang màu xanh từ từ chuyển sang màu tím sẫm, từng đàn mây lững lờ trôi qua khiến cho chim nghĩ để đường về tổ, người nghĩ đến đường về ổ. Dùn uể oải ngồi dậy, chào San rồi lững thững dắt ngựa ra khỏi cổng.

San tựa vào cái cổng đá nheo mắt nhìn theo bóng Dùn, bóng ngựa. Hắn chợt bật lên cười ha hả: “Ha ha... Bao nhiêu cái được đưa mày lên tận giời, bây giờ ta sẽ đưa mày xuống âm ty địa ngục. Rồi mày sẽ nếm mùi khổ ải suốt những đốt đời còn lại, ta sẽ bắt chính mày đạp đổ cái trật tự mà mày đang cố công gây dựng... Ha ha...”.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 04:09:27 pm »

Chương bốn

Chủ tịch xã Triệu Tá Dùn đùng đùng đập bàn quát tháo, đùng đùng rời khỏi trụ sở khu vực quất ngựa xuôi về phía Sín Chải thì cán bộ phụ trách khu vực Đoàn Phương Bắc cũng đùng đùng không kém, anh hét lên:

- Đứng lại!

Tiếng hét của Bắc khựng lại, vuốt theo bóng con ngựa đang vun vút phóng xuôi.

- Đứng lại!

Chân Bắc lồng theo chân ngựa, miệng Bắc đuổi theo bóng người.

- Đứng lại!

Bóng người bóng ngựa mất hút sau những khúc cua, còn lại một mình Bắc chơi vơi giữa vùng rừng vắng lặng.

- Đứng lại!...

Tiếng quát của Bắc thả lên trời một cách vô vọng. Uất ức, bất lực, cay đắng vò xé, anh vuốt những giọt mồ hôi túa đầy mặt, ngửa cổ tru lên những tiếng dài. Trên đầu Bắc ông mặt trời đứng khựng giữa đỉnh giời đang cố thả hết những bực dọc xuống trần gian qua ánh nắng chói chang. Dưới chân anh đất cát bỏng giãy, con đường như vừa được rải than hồng. Nóng từ trên trời hun xuống, nóng từ dưới đất nung lên, cây cối, người ngợm chết lặng, vạn vật nặng nề như bầu trời trước bão. Anh lắc đầu, thập thễnh quay về trụ sở, đi đến chỗ con thác tung bọt trắng xóa, anh mệt mỏi vật mình xuống tảng đá, mọi ý nghĩ trong đầu luẩn quẩn, bức bối.

Bắc không sinh ra và lớn lên ở cái nơi sáng tối đè nhau này. Anh người Kinh, quê gốc Phú Thọ, năm 1946 anh vào bộ đội, thuộc quân số của trung đoàn 171. Cuối năm 1947 Khu 10 - Khu quản lý hành chính, quân sự vùng Tây Bắc mở Mặt trận Tây tiến, trung đoàn 171 được giao nhiệm vụ tiến đánh Phòng Tô. Trong chiến dịch này, tiểu đội của anh phối hợp với dân quân du kích địa phương đánh tan vị trí đóng quân của địch ở Nậm Xe, rồi cùng các đơn vị khác tiến lên giải phóng Phòng Tô.

Phòng Tô được giải phóng song bọn địch, kẻ công khai chống đối, kẻ núp bóng chính quyền cách mạng để củng cố lực lượng, kẻ chơi trò hai mang, bí mật chỉ lối đưa đường cho Pháp quay trở lại tái chiếm. Việt Minh, do đánh theo kiểu rải mành mành, chưa tính đến kế hoạch phòng ngự nên khi gặp địch đánh gọng kìm không trụ được, phải rút. Rút rồi lại phản công, phản công rồi lại rút, cho đến lúc cả vùng nổi phỉ thì khắp vùng nước sôi lửa bỏng. Trông vào chính quyền thì phần đa cán bộ chính quyền là chức dịch cũ của Pháp nên sẵn sàng bắt tay với Pháp. Kêu gọi nhân dân thì phần nhiều nhân dân là ruột thịt của phỉ. Lòng bàn tay cũng da, lưng bàn tay cũng thịt nên ai cũng lừng chừng, nửa muốn giúp cách mạng, nửa không. Kêu gọi lực lượng thì lực lượng bị dàn ra khắp các chiến trường không đủ sức tiếp viện, mà dẫu có tiếp viện đi chăng nữa thì cũng như cõng nước đi chữa lửa, lửa tắt rồi lại phải đi chữa nơi khác. Áp lực từ nhiều phía khiến ta như gà mắc tóc để rồi chính ta bị Pháp, phỉ bao vây, vô hiệu hóa ngay trong chính vùng đất của mình. Không thể nhùng nhằng mãi được, cấp trên quyết định cử các tổ, nhóm, cá nhân bí mật vào sâu tác chiến theo phương án nở hoa trong lòng địch. Trong chiến dịch này Bắc đóng vai người thầy giáo vùng xuôi được điều lên vùng cao dạy học. Anh đến thẳng nhà họ Đèo ăn ở, mở lớp. Từ nhà họ Đèo anh đã góp phần chặn đứng được cuộc nổi dậy lần thứ hai của chúng ở Phòng Tô. Nhưng đó là thời chiến, mọi việc dù có lộn xộn nhưng địch ta khá rõ ràng, bọn phỉ dù có thâm độc, ngoắt ngoéo, lẩn khuất trong dân, trong rừng song cũng lộ rõ cái đuôi phản động, hại dân, hại nước. Còn bây giờ... Bắc cố nén luồng hơi uể oải dâng lên trong lồng ngực, tình thế đang trong chảo lửa mà đường đường là chủ tịch xã, Dùn lại đứng ra làm cấp sắc cho con to hơn cả xã mừng ngày độc lập. Trong cái vùng đói khổ năm nọ cộng năm kia thì có cộng thêm đói khổ vài năm nữa cũng chẳng sao, nhưng giữa đói khổ, rơi rụng lại trồi lên một cuộc ăn uống hoang phí, mê tín dị đoan, không là tâm điểm cho những kẻ đang nhăm nhăm lật đổ chính quyền thì cũng đi ngược với tư chất cán bộ. Đốt lửa nóng vách, thắc mắc của dân chúng, của cán bộ trong xã chạy lên châu, châu gọi Bắc lên kiểm điểm, kiểm thảo, cực chẳng đã anh phải gọi Dùn lên làm việc. Những tưởng trước cái sai thì phải nhận, phải sửa sai, ai ngờ... “Ghen ghét, đặt điều dèm pha là cơm ăn, nước uống của những kẻ ghen ăn tức ở, chấp với họ thì chấp cả đời.”, “Ở nơi nào có cách thắp hương của nơi ấy”... toàn những lời ngụy biện, bảo thủ, coi thiên hạ là trẻ con. Điên, điên thật rồi.
Nắng đã nhạt dần, những làn gió nhè nhẹ lướt trong không gian yên tĩnh. Bắc nhìn xuôi theo dòng suối, nơi dòng chảy cuồng loạn trong mùa lũ giờ đang thu nhỏ, mảnh mai, hờ hững. Trong dòng nước trong xanh như lọc, những con cá mánh cỡ ngón tay đang vô tư le te ngược dòng, dường như chúng không cần biết đến hạn, đến lũ. Bắc ngước nhìn giời. Bầu trời trong xanh không một gợn mây, cái thăm thẳm của không cùng lấy lại cho anh cái cảm giác thư thái, nhẹ nhõm, anh đứng dậy, lững thững đi đến trước thác, chần chừ một lát rồi để nguyên cả quần áo chui sâu vào trong dòng nước đổ từ lưng chừng trời xuống. Nguồn sữa mát lạnh của mẹ núi nhanh chóng làm nguội bớt những bức bối trong lòng.

1

Pham bật ra khỏi nhà như một mũi tên.

Nhà Pham nằm đơn độc ngay đầu bản. Trước cửa nhà là con đường ngập phân trâu, phân ngựa, là con suối uốn lượn quanh sườn đồi. Phía sau là rừng. Lớp lớp cây to mấy người ôm lòa xòa, quanh năm đứng lặng, dây leo, địa y quấn quanh, mây mù bảng lảng gây nên cảm giác ngưng trệ, tù túng. Chạy sâu vào trong bản là những ngôi nhà chon von, cẩu thả, tiện hướng nào quay hướng ấy.

Con đường dưới chân Pham ngập ngụa những phân trâu ngựa tươi, phân lưu cữu, bùn non ngày ngày nhào trộn, chồng chất lên nhau làm cho con đường chẳng khác gì cái chuồng phân nối từ đường cái vào bản, từ nhà này sang nhà khác. Mặc phân, mặc lầy thụt, rút được chân này chân kia lại dấn sâu vào nghiêng ngả. Mặc cho phía sau tiếng hét, tiếng rền rĩ của chồng đuổi theo xoi xói vào xương, vào thịt, Pham cứ bước trầy bước trật trong dòng sông cứt đái, và chính dòng sông cứt đái làm cho nỗi thống khổ trong Pham vợi đi, những đau khổ, tan nát cứ mỏng dần sau những bước chân.

Pham đã ra tới đường cái, ồn ào, gào réo đã bị chìm nghỉm trong thăm thẳm núi rừng. Chạy thêm một đoạn nữa, mệt quá Pham ngồi phệt xuống vệ đường, người rũ xuống như cây cải héo.

Trời ơi!... Người ta lấy chồng để nương tựa vào nhà chồng, còn Pham lấy chồng thành cái ghẻ bắt nồi, thành cái đầu trọc cho ong đốt.

Trời ơi!... Pham chưa đến hai nhăm mùa sấm đẻ mà đã đinh chốt khóa mõm chó, đinh tre khóa mỏ gà, sủa không được sủa, gáy không được gáy, đến làm con trâu con ngựa cũng không xong.

Trời ơi!... Vẫn biết lấy chồng là đem thân phận khốn khổ của người đàn bà vùi vào tro bếp nhà người. Lửa nóng tro nóng, lửa lạnh tro lạnh, mọi động tâm, khắc khoải đều dựa vào nóng lạnh nhà chồng, vậy mà sự vô tâm, vô tình của ông bố chồng, sự ác tâm ác tính của chồng đã bao lần làm cho Pham muốn nghiến răng làm cái lá xanh rời cuống, cái cây không còn gốc, không còn ngọn.

Trời ơi!...

Pham uể oải đứng dậy lê bước về hướng nhà mẹ đẻ.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 04:11:30 pm »

Trời quá chiều hư hư, thực thực. Nắng chiều nhộm nhoạm, mọi thứ cứ rối tung, tất bật mà chẳng cái nào vào cái nào. Mùa gặt, mùa chim gọi bầy, mùa chuột rửng mỡ vừa qua. Những búp lá thoát thai từ đau đớn thân cành run rẩy, e ngại nép vào những nách lá đang khô đét trên những cành cây mốc meo. Ánh nắng mặt trời đang soi mói từng kẽ lá bỗng chốc bị mây mù ùn ùn kéo đến phá phách làm cho cả vùng chìm trong biển mây. Một trận gió ào qua tất cả lại rõ ràng trước thanh thiên bạch nhật. Trong nóng lạnh thất thường như giận yêu, hờn ghét của giời, của đất, bóng Pham lòng khòng như chiếc câu liêm níu giữ chiều hiu hắt.

Pham thập thững tới chân thác. Cô ngập ngừng trước con thác mải mê tung bờm trắng xóa. Ý nghĩ bất cần lóe lên, Pham từ từ đi vào cái mê cung giời cho, dòng thác trắng xóa gột rửa bùn đất phân gio, gột rửa những uất ức, trả lại sự thanh thản cho cô.

Chừng thấm lạnh, Pham chui ra khỏi bụng thác, cô giật mình khi thấy trước mắt cô là một người đàn ông trông chẳng khác gì một xác chết đang nằm sấp trên tảng đá cạnh thác. Cô nhìn ngược nhìn xuôi. Cả vùng rừng núi mênh mông không một bóng người. Thấy không bấu víu vào đâu được, Pham tới bên cạnh người đàn ông. Cô bỗng rên lên, người đàn ông đó chính là Bắc - cán bộ phụ trách khu vực, người đã từng giằng cô khỏi miệng hà bá rồi đưa cô về nhà. Cây bị dao búa chém rời gốc, mầm cây mọc lại, người chết là hết, chiều hôm ấy không có Bắc thì Pham không còn được hít thở, ăn uống, khổ ải trên cõi đời này. Không chần chừ Pham lật ngửa cái cơ thể mê man, vật vã, kê cho Bắc nằm ở thế thoải mái, rồi bẻ cái lá vả khum lại, cố rặn chút nước giải, rót vào miệng anh.

Bắc đã hơi hồi hồi, tiếng thở của anh còn nặng nhọc, đứt quãng song da dẻ đã đỡ tím tái, mạch đập trong lồng ngực rõ dần. Pham vội tháo cái vòng bạc ở cổ tay, dứt vội mấy cái lông ở chỗ kín, lấy cái khăn gói lại, dùng hết sức lực miết khắp người Bắc.

Bắc từ từ hé mắt. Trời đất vàng vọt, loáng nhoáng, bóng chiều nặng nề trườn theo triền núi, tiếng suối rên rỉ dai dẳng như kêu cứu, như thù hận.

Bóng người phụ nữ chập chờn thật ảo làm Bắc ấm lòng, anh cố cựa quậy song đầu óc, người ngợm như năm ngày không có gì cho vào bụng, mồ hôi túa ra, phồng dần thành từng giọt, anh rùng mình, thở dốc, cặp môi khô khốc mấp máy:

- Nước, cho xin hớp nước.

Tiếng kêu cầu sự sống của Bắc làm cho Pham vui sướng, cô thích thú reo lên:

- Cán bộ tỉnh rồi, cán bộ tỉnh rồi!

Bắc ngạc nhiên, lúng túng:

- Cô... cô...

Pham náo nức cướp lời Bắc:

- Cô... cô là người cứu cán bộ. Cán bộ nằm yên để mình đi lấy nước cho cán bộ uống.

Pham ríu rít như đứa trẻ, cô bẻ cái lá vả khum lại làm cái gầu múc nước suối đem lên cho Bắc.

Bắc run rẩy vục mặt vào gầu nước uống ừng ực. Dòng sữa mát lạnh chui ra từ ruột núi lấy lại nhanh sức lực, anh thều thào hỏi:

- Có phải cô là...

Pham khoác cái áo vào cái cơ thế đỏ rực của Bắc cười:

- Đúng rồi, mình là Pham, người được cán bộ vớt lên ở vực thuồng luồng, cán bộ chóng quên thế.

- Thì ra cô là Pham, nhưng sao cô lại...

- Mình vừa đi ngang qua, thấy cán bộ người một nơi hồn một nẻo nên... - Pham chợt đỏ mặt, lúng túng nhìn cái lá vả nằm tênh hênh cạnh Bắc, chút nước giải còn dính lại trên lá ánh lên trong nắng chiều.

Bắc không để ý tới sự lúng túng của Pham, anh gật gù mãn nguyện:

- Thì ra cô đã cứu tôi. Tôi cứu cô, cô cứu tôi, đúng là giời đất sắp đặt, nhưng mà...

Pham khỏa lấp bối rối trong lòng bằng cách săm sắn đứng dậy, ra lệnh cho Bắc:

- Nhưng mà gì, bây giờ cán bộ phải về nhà thôi. Cán bộ phải bám vào vai mình mới về được nhà đấy!

- Làm thế không được đâu, người ta...

- Thả cái người ta xuống suối đi, lúc cứu người cán bộ có sợ cái người ta không?

- Nhưng tôi... tôi...

- Không tôi gì cả, mạng người là quan trọng, tiếc là mình không đủ sức cõng cán bộ. Cán bộ bám vào vai mình, thế thế... nào ta đi.

Bắc như đứa trẻ ngoan, anh bối rối quàng tay qua bờ vai bé nhỏ của cô sơn nữ, cả hai thập thững tha lôi nhau về trụ sở khu vực.

1

Trụ sở khu vực Sín Chải là một ngôi nhà ba gian nằm trên sườn một quả đồi thấp. Trước đây ngoài nhà trụ sở ra còn có năm nhà quần tụ, một người đốt nương sơ ý làm cho hai nhà trong xóm bị thần lửa liếm sạch. Cho là thần rừng, thần đất không dung mình nên cả năm nhà cho gia tài lên lưng ngựa đi tìm vùng đất mới chỉ còn lại cái nhà trụ sở chơ vơ trên sườn đồi.

Ngôi nhà vắng lặng như nhà hoang. Tiếng là nơi thay mặt châu quản lý, chỉ đạo các hoạt động của dân chúng trong tám xã rộng lớn nhưng thực ra cán bộ phụ trách khu vực Sín Chải chỉ là cái cầu nối trung gian giữa tám xã với châu, giữa châu với tám xã. Cũng như thế, nhà khu vực chỉ là nơi dừng chân của các cán bộ có công việc. Cán bộ châu, tỉnh xuống cơ sở làm việc: Gặp gỡ, báo cáo nội dung, xin ý kiến của phụ trách khu vực rồi lại tất tả xuống xã. Không gạo nước mắm muối mang theo mà nằm ở nhà khu vực thì chỉ có đường uống nước lã trừ cơm. Cán bộ xã lên phụ trách khu vực làm việc, họp hành túi dết nào cũng có nắm cơm, xâu thịt, ống rượu. Họp hành, báo cáo, nhận chỉ thị xong là lôi cơm, rượu, thịt ra chia sẻ với phụ trách khu vực rồi lại ngật ngưỡng ra về. Ông châu ủy viên phụ trách khu vực to chỗ nào không biết nhưng với sáng với tối chỉ như người coi cái nhà hoang. Giữa vùng nóng lạnh thất thường, trong ngoài bất nhất mà sống trong cảnh cô lập, không dân, không quân, thiếu cả tiếng người sớm tối là không nên, song Bắc kiên quyết không dọn vào ở với dân. Việc không vào ăn ở trong nhà dân của anh có nhiều lý do. Sợ bị phiền hà, bị mua chuộc, dụ dỗ có. Sợ dân bị liên lụy có. Sợ không có nơi họp hành, làm việc có... Nói chung Bắc sợ nhiều thứ, nhưng cái anh sợ nhất là bị dân làm phản. Năm 1953 anh được điều về phụ trách khu vực Tả Ngảo. Lúc đó trên báo cáo của xã, của khu vực và bộ đội thì lực lượng phỉ ở khu vực Tả Ngảo đã bị đánh tan, nhưng trên thực tế mấy trăm tên phỉ bại trận đang núp bóng dân, bóng rừng, hội này, hội nọ chờ thời. Sự mai danh ẩn tích của chúng khéo léo đến nỗi ta không còn biết đâu là thực, đâu là giả. Ngày Bắc về Tả Ngảo có cán bộ xã, cán bộ thôn mang ngựa ra tận châu đón. Không cờ giong trống rước, không khẩu hiệu chăng dọc đường, không hoan hô mỏi miệng nhưng Bắc vẫn giống như vị tướng giữa đám tùy tùng. Anh lên ngựa có người đỡ chân, mỗi chặng nghỉ có cơm rượu dọn mời. Mỗi câu hỏi, mỗi cái nhíu mày của anh đều có người xun xoe giảng giải. Choáng hơn nữa là nơi ăn, ở, làm việc anh được xếp vào nhà Giàng Cồ Pao, một địa chủ lớn trong vùng. Tiệc đón mừng anh có cả món Tây, món Tàu, rượu ngâm hổ cốt. Rồi bữa nào cũng như ăn cỗ. Rồi buồng ngủ thoáng mát, yên tĩnh, đầu giường có bàn đèn, thuốc phiện... Đang lo sốt vó chuyện thân cô thế cô, không biết tiếng địa phương, không am hiểu phong tục, bỗng chốc được ăn ở như ông tướng ai mà không mừng, không cảm ơn giời đất. Anh đâu ngờ bước vào nhà Giàng Cồ Pao là anh bước vào hang hùm. Có được anh ở trong nhà, được anh nhận làm anh em kết nghĩa, Pao ngang nhiên phô trương thanh thế, áp đảo chỗ này, nạt nộ chỗ kia, khiến cho dân chúng trong vùng hoang mang, sợ hãi, cái đầu rùa vừa thò ra lại rụt lại. Có anh làm bình phong, bọn phỉ ngang nhiên đi lại, bàn bạc, gây dựng lực lượng. Việc này nối tiếp, chồng lên việc kia, việc kia phản lại việc nọ, lúc thật, lúc giả, lúc biết, lúc không, làm cho anh như cuộn lanh rối, đúng, sai, phải trái tùng phèo, nhiều lúc anh cảm thấy mình như đang chờ lên thớt. Mà anh phải lên thớt thật. Ngày Tả Ngảo nổi phỉ chính Giàng Cồ Pao bắt anh mang xuống thung lũng hành hình. Mãi mãi anh không thể quên được cảnh mình bị trói như bó giò vào cái cọc giữa bãi. Trước mặt anh là bốn cái bếp lò cháy rừng rực. Trên bốn cái bếp là bốn cái chảo đại. Mỗi cái chảo chứa đầy thịt, lòng ngựa. Từ bốn phía người nườm nượp đổ về thung lũng. Súng ống, côn, gậy, dao quắm, giáo mác nghênh ngang, bao tải, địu, sọt loằng ngoằng, ngựa phi rầm rập. Ô hợp, lổn nhổn, man rợ... đủ mọi loại người, lành có, rách có, đi giày, đi dép, hải sảo có, chân đất có... nhìn vào cả bọn không biết đây là cuộc đi cướp hay đi hôi của.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 04:13:31 pm »

Giữa giờ Thìn, Giàng Cồ Pao nét mặt hầm hầm nhảy lên cái bàn cao, lập tức mười mấy người cầm súng quây quanh hắn lấy uy.

Pao nhìn khắp lượt rồi dõng dạc:

- Ta gọi các người đến đây, cho các người mặc sức ăn no uống say rồi mời các người theo ta đi đánh, đi cướp. Các người đừng sợ, nước Pháp hùng mạnh đang tiếp sức cho ta cho bằng người, bằng của. Đạo quân lớn Tưởng Giới Thạch sắp tràn qua đây. Nhiều nơi đã nổi lên cùng ta, vậy các người có tuân lệnh ta không?

Lời của Giàng Cồ Pao vừa thả ra khỏi miệng lập tức những tiếng hô, tiếng hú hét ủng hộ vang lên như thác lũ.

Giàng Cồ Pao lại dõng dạc:

- Tốt, tốt. Tuân lệnh ta các người xuống châu cướp được cái gì của các người cái đó, không tuân lệnh ta, dù ta có đau lòng ta cũng phải giết hết. Trước tiên ta sẽ giết tên Việt Minh này để làm gương cho các ngươi thấy sự kiên quyết của ta.

Theo lệnh Pao một tên ra dáng đao phủ bê cái chậu, trên mặt chậu đặt ngang con dao dài sáng loáng. Rất may, Giàng Cồ Pao chưa kịp lột da mặt rồi cắt tiết Bắc như hắn tuyên bố thì tiếng súng giải vây của bộ đội kịp đưa anh thoát khỏi tử thần. Từ lần chết hụt đó, dù công việc thế nào Bắc cũng sắp xếp để không ngủ qua đêm trong bất kỳ một nhà dân nào.

1

Pham dìu Bắc vào trong giường, đặt anh nằm xuống rồi tất tả thắp đèn, lần tìm xuống bếp nổi lửa, lấy gạo nấu cháo, ra vườn nhổ hành mang về rửa. Cô quên mình đang trốn chạy khỏi địa ngục trần gian mà thấy mình đang là người chị cả đang chăm sóc đứa em út bị ốm.

Cháo chín, Pham bê lên, nhẹ nhàng đánh thức Bắc dậy. Mùi thơm từ bát cháo hành có đập mấy quả trứng tỏa ra đánh thức cả lục phủ ngũ tạng, Bắc ngoan ngoãn húp hết bát cháo, uống cốc nước nóng pha mật ong rồi lại thiếp đi trong mệt mỏi, dễ chịu.

Pham ngồi canh cho Bắc ngủ.

Nhìn Bắc thiêm thiếp ngon lành lòng Pham như có lửa. Mẹ Pham sinh ra Pham vào mùa đực cái, lại rơi đúng vào đêm trăng rằm. Trong khoáng đạt của rừng núi bao la, trăng là nước chảy tràn trên mặt đá, là lửa hâm nóng từng mạch máu các loài vật ăn thịt, ăn cỏ, nhìn trăng là thấy sự sinh sôi, nhìn trăng là thấy mơ thấy mộng.

Pham lấy trong túi ra cái gương con. Cái gương phản chiếu khuôn mặt rạo rực của Pham.

Phải nói là Pham đẹp. Sinh ra giữa rừng, được ánh trăng nhuộm thỏa thuê từ lúc chui ra khỏi bụng mẹ nên Pham được thừa hưởng khá nhiều lộc của chị Hằng Nga. Ngày sinh Pham, bố Pham lặn lội lên tận đầu con suối thiêng mang về hai ống bương nước. Từng gáo nước thiêng cùng với lời khẩn cầu của người cha thấm vào, tan chảy trong da thịt Pham. “Gáo nước này do thần rừng ban tặng sẽ làm cho da con gái ta như phấn của hoa, như hương của đất”; “Gáo nước này là nguồn sữa của thần suối ban cho, nó sẽ làm cho tóc của con gái ta đen như gỗ mun, mượt, dài như dòng chảy của thần”; “Gáo nước này là ánh trăng soi qua kẽ lá, nó sẽ làm cho mắt con ta lóng lánh như mắt nai, tinh anh như mắt chồn, trong sáng như giọt nước mắt sung sướng của thần núi mỗi khi đón ánh bình minh.”.... Mỗi gáo nước là một lời khẩn cầu, một ước muốn cháy lòng. Những gáo nước cùng những lời khẩn cầu của bố Pham đã được giời đất, các thần cho thỏa nguyện. Pham xinh đẹp như người giời. Da dẻ cô mát rượi như da rắn, trắng như vớt ra từ thùng bột gạo nếp. Đôi mắt cô lúc nào cũng lọc hết bụi bặm, cực nhọc, trong veo như sương mai. Mái tóc đen mượt thả dài tới khoeo bồng bềnh như dòng suối chảy giữa rừng thưa. Chạm tuổi mười ba các chàng trai quanh vùng đã bu lấy cô như ong bu hoa, kiến bu mật.

Nhưng người đẹp là gốc của tai họa. Tai họa từ trong ra, từ ngoài vào. Cái đẹp giữa nhầy nhụa, bẩn thỉu lại càng tai họa, càng giống như bông hoa cắm lên bãi phân người.

Trong thế giới của phân gio giòi bọ mà nổi lên trong sáng, thanh khiết thì trong sáng, thanh khiết liền trở thành tâm điểm của sự ganh ghét, ham muốn. Pham biết điều đó. Cô gắng vượt qua điều đó, song muôn sự tại giời, cô tránh được tai họa ngàn lần, đến lần thứ một ngàn linh một thì cô bị bố chồng làm nhục.

Lần ấy Pham đi lấy củi về. Những thanh gỗ sến nục nạc như những thanh giò, chắc, nặng như những thỏi sắt đè nặng lên cái cơ thể vốn sinh ra để làm trò tung hứng đã làm cho cô mệt đứt hơi. Về đến đầu hồi cô lựa thế, mắm môi mắm lợi ghệ gùi củi lên tảng đá rồi ngã ngửa, thả lỏng người ra nằm thở mặc mặt trời, kẻ thù truyền kiếp xối những tia nắng chói chang xuống mặt đất làm da thịt đỏ như con tôm luộc.

Xả hơi được một lúc Pham mở cửa vào nhà.

Không có ai ở nhà, mà dẫu có ai thì cái nhà này lâu nay vẫn vắng vẻ như nhà mồ. Theo thói quen Pham vào buồng tắm chỗ đầu hồi lột bỏ quần áo rồi từ từ thả mình vào cái máng chứa nước. Dòng nước mát lạnh xối xuống lòng máng hình con thuyền nhanh chóng xua tan mệt nhọc, dâng lên trong cô một cảm giác lâng lâng, dễ chịu.

Pham đang nhắm mắt ngâm mình trong máng nước thì bên ngoài bất chợt một luồng gió mát lạnh đến rợn người ào tới. Cô hốt hoảng nhìn qua kẽ vách trống hoác. Trước mắt cô, cả chân trời phía Tây là một biển mây đen ùn ùn đùn lên che lấp. Từ trong biển mây đó những cái lưỡi thần sét loằng ngoằng như lưỡi rắn bổ xuống núi, xuống rừng. Một chiếc vòi màu xám khổng lồ bỗng bốc vọt lên cao để lại một khoảng hẫng rồi bất ngờ chụp xuống. Cây cối, thú vật, nước, cá, bùn đất từ rừng, ruộng, sông, suối được cái vòi cuốn tròn rồi theo vòng xoáy của nó tạo nên cái vòi rồng khổng lồ.

- Thần Rồng - Tiếng hét bật ra khỏi miệng Pham.

- Thần Rồng - Cùng với tiếng hét của Pham là tiếng hét của những người đàn ông, đàn bà trong bản.

- Thần Rồng - Tiếng rên của người già chìm nghỉm trong tiếng quang quác hốt hoảng của ngỗng kêu, lợn hộc, ngựa hí, của nháo nhác bầy chim bay rợp đất.

- Thần Rồng - Cả rừng, cả bản chết lặng. Hổ gầm ngoài ngõ, chó cụp đuôi chui vào gầm sàn run rẩy, gà táo tác bay nhảy khắp nơi, con người nhanh chân tìm chỗ thoát thân cho mình.

Đã thành lệ, cứ năm năm, mười năm lại một lần thần Rồng trườn qua cái thung lũng Phòng Tô khốn khổ. Đi theo vệt trườn của thần Rồng là đất cát, cây cối, nước nôi, nhà cửa tan hoang. Hoảng sợ trước sự tàn phá của thần, lo cho sự sinh tồn của mình, các nhà trong vùng đều đào cho mình một cái hang tránh nạn ngay vách núi sau nhà.

Pham sợ hãi vọt ra sau nhà, lập cập mở cửa chui tọt vào hang tránh thần Rồng.

Cùng lao vào với cô cơ man là rắn. Rắn đỏ, rắn xanh, rắn đen, rắn trắng, con to như bắp tay, con bé như đầu đũa, tất cả rào rào chen nhau, ngơ ngác. Bình thường loài săn mồi máu lạnh này luôn là mối nguy hiểm của các loài vật biết đi, biết bò, biết bay trên mặt đất, nhưng trước cơn thịnh nộ của thần Rồng, trước sống chết liền kề thì sợ hãi làm chúng cụp đầu, tá hoả, nọc độc từ những răng chuyên giết mồi tan ra, toát hết ra vẩy, ra cứt đái, chúng rào rào lao theo nhau tìm chỗ ẩn nấp.

Pham chưa kéo sập được cửa hang thì đàn rắn đã lớp lớp cuống cuồng ngọ nguậy dưới chân. Cô sợ cuống lên, chân tay run rẩy, mắt lồi ra, người cứng như khúc củi, song tuyệt vọng, cùng đường đã cho cô sức mạnh, làm cho người cô hừng hực một sống một chết. Cô nghiến răng vơ đại cổ một con rắn quật mạnh vào vách hầm, miệng hét lên:

- Chết này!...

Sau tiếng bốp, tiếng “chết này” là toàn thân con rắn nhũn như dọc mùng thối, máu ứa ra từ mũi, từ mồm.

- Bốp - Chết này - Một con nữa đi chầu ông vải.

- Bốp - Chết này - Con nữa nằm chảy thượt.

- Bốp - Chết này!...

Bốp - Chết mở cho Pham đường sống, dồn lũ rắn vào đường chết.

Bốp - Chết làm cho Pham sức mạnh, cảm giác được sát sinh dâng lên ngùn ngụt.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 06:29:02 pm »

Pham đang hứng khởi đến man dại với trò chơi bốp - chết thì một người đàn ông cởi trần đóng khố ào vào. Người đàn ông đó là bố chồng Pham, lão đang quăng chài bên bờ suối, thấy thần Rồng bò đến, lão cuống cuồng quẳng chài, quẳng giỏ chạy ngược lên. Đôi chân chó thuận đường nhanh chóng đưa hắn chui vào hang tránh thần của nhà mình. Vào trong hang, lão rùng mình khi nhìn thấy bầy rắn lúc nhúc ngóc đầu dưới chân còn con dâu lão đang hăng hái chiến đấu với bầy rắn. Theo bản năng của kẻ cùng đường và được bản anh hùng ca bốp - chết của con dâu tiếp sức, lão tựa lưng vào Pham rồi quào tay vớ đại một con rắn vung tay ném mạnh.

- Bốp - Chết này - Một con rắn bị quật vào vách hầm chết tươi.

- Bốp - Chết này... chết này...

Cũng như Pham, sau mỗi tiếng gào của lão là một con rắn hồn lìa khỏi xác.

Bên ngoài hang, thần Rồng đang thích thú với việc chầm chậm bò qua rừng, núi, sông, suối.

Bên trong hang, có thêm người chiến đấu với bầy rắn, Pham càng vững tin hơn, bạo liệt hơn, trò bốp - chết càng mau hơn.

Bên ngoài, nước suối, nước sông, cây cối, cát sỏi, những con vật không kịp chạy bị thần cuốn vào bụng quay tròn như trong cối xay lúa, vạn vật chưa kịp tiêu hóa đã tuột khỏi bụng thần rơi rào rào xuống đất, ngổn ngang thành vệt.

Bên trong, bản hòa tấu bốp - chết làm cho nền hang ngập trong xác rắn, máu rắn, dớt rắn lùng nhùng.

Khi bầy rắn không còn con nào cất đầu lên được, hai người hứng khởi quay mặt lại với nhau.

- Trời ơi! - Pham kêu lên thành tiếng. Bây giờ cô mới nhận ra người đứng giáp mặt với cô là ông bố chồng. Như như một chiến binh vừa chui ra khỏi cuộc chiến giáp lá cà, trên người lão chỉ mặc độc một cái khố sờn, máu rắn, dãi dớt rắn phủ khắp những mảng da trần đen bóng.

- Trời ơi! - Bố chồng Pham cũng ớ người trước vẻ đẹp lộng lẫy của con dâu. Lão biết Pham đẹp. Có đẹp lão mới lấy về làm dâu, nhưng lão không ngờ con dâu lão đẹp lộng lẫy đến thế này. Và nữa, cũng như lão, Pham vừa chui từ trong trận chiến với bầy rắn ra, hào khí của chiến thắng còn phừng phừng trong mắt, trong da. Con rắn hổ mang chúa trong người lão trỗi dậy đòi quyền sống. Cái đầu rắn, thân rắn lực lưỡng, cứng như thép của hắn đội lên dứt đứt dây khố, bật ra như cái bẫy cần. Lão thoáng ngần ngừ rồi hai mắt trợn ngược, hai hàm răng nghiến chặt, hai tay kẹp cứng cái thân hình nõn nà còn loang lổ máu rắn của con dâu.

Bất ngờ làm cho Pham chết lặng người. Cô cố vùng vẫy, nhưng càng vùng vẫy người cô càng lún sâu vào lầy thụt. Hai đùi cô khép chặt chống đỡ song dãi rắn trên đùi, trong cái hang thăm thẳm cứ dần dần dẫn đường cho con rắn chúa chui sâu vào trong da trong thịt.

Pham run rẩy lả đi.

Bố chồng Pham đỡ Pham nằm xuống cái nền hang ngập trong xác rắn, bản anh hùng ca bốp - chết tiếp tục tấu lên cho đến khi cô lịm đi trong đau đớn và tội lỗi.

Pham nằm lịm đi giữa đống xác rắn không biết đến bao lâu cho đến khi một luồng ánh sáng chiếu vào cô mới bừng tỉnh. Cô rùng mình, quanh cô xác rắn, máu rắn, nhớt rắn tanh tưởi ngập ngụa.

Định hình được những việc đã trải, Pham như người vừa chui ra khỏi địa ngục, cô lảo đảo ra khỏi hang trong đau đớn, tủi hổ, ngượng ngùng bóp nghẹt. Trong nhập nhòa, chới với, cô hoa mắt. Trước mắt cô là mấy cái sào dài treo đầy rắn. Hàng trăm con rắn bị treo cổ. Con chảy thượt như sợi dây thừng bện bằng tơ. Con báo hiệu sức tàn của mình bằng cách vặn vẹo, ngọ quậy. Con, hai mắt lồi ra như căm hận, như không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chui vào giữa cả trăm con rắn bị treo cổ ấy là bố chồng cô. Đôi mắt lão sáng rực, toàn thân chỉ che hờ cái khố sờn, thân thể bị kích động như lên đồng. Lão cầm con dao sắc nhọn lách lách lách từng con rắn để đo độ sống chết. Thấy cái đuôi nào ngoe nguẩy là lão túm lấy, sau nhát xoẹt của con dao nhọn sắc ngọt là cái mồm tham lam bập ngay vào mút lấy mút để. Máu rắn phè ra hai bên mép lão. Máu rắn vẽ rồng vẽ rắn con trên cổ, trên ngực lão. Máu rắn biến nước da màu chì của lão đỏ rực. Ai uống được tiết một trăm con rắn thì sẽ thọ một trăm tuổi, ngần kia con rắn đã chết một lần lại phải chết thêm lần nữa để cho lão kéo dài tuổi khốn tuổi nạn bao nhiêu năm nữa...

Mắt Pham hoa cà hoa cải. Trời đất, rừng núi quay cuồng, cô bỗng thấy nhói lên ở bụng dưới. Cô sụm người, cúi gập mình, máu rắn, dãi rớt rắn, dãi dớt từ của quý của lão bố chồng khốn nạn hòa vào máu của cô thành từng cục máu đỏ lòm, nhầy nhụa, nhớt nhèo trôi xuống đùi làm cô giật mình. Vậy là đứa con trong bụng cô đã theo dãi dớt rắn trôi ra. Con trẻ là cục vàng giời ban sau trận mưa đá, là sợi dây rừng nối từ sự sống này đến sự sống khác. Cô và bố chồng cô đã đang tâm ném cục vàng xuống vực, đã nhẫn tâm chém đứt sợi dây nối đời nhà họ Lý. Tội này voi dày, thuồng luồng nuốt...

Pham lảo đảo vào nhà, chui vào máng nước kỳ cọ cho đến khi người ngợm rực lên mà mùi rắn, mùi nhục nhã vẫn ám vào da vào thịt. Pham vào buồng nằm vật ra. Với người Dao, sinh nở là duy trì nòi giống đời đời, kiếp kiếp, là trong nhà có thêm người gánh vác công việc, là rìu nối thêm cán cho họ tộc, làng bản. Dẫu là con nghiện thả ba phần tư tính người cho chó ngao nhai nuốt nhưng khi Pham thủ thỉ chuyện giọt máu đọng lại trong người, chồng cô như phát rồ. Hắn ấn vội cơn nghiền xuống đáy ruột, chạy vội đi bắt gà làm lễ thông báo với tổ tiên rồi coi Pham như quả trứng. Từ mầm sống đọng lại tổ tiên họ Lý mới nhòm ngó đến cô. Có mầm sống nữ thần Phình Miền(1) mới mỗi tháng một lần nhập vào cô làm bạn. Có mầm sống cô mới biết thế nào là kiêng không đốt củi đằng ngọn, không bước qua chạc buộc trâu, không được nói tục, không khâu vá quần áo cũ... Mấy năm giời làm chó làm trâu cho nhà họ Lý đến lúc này cô mới được trở lại làm người, vậy mà bây giờ...

Trong căn buồng chật hẹp Pham một mình vật vã tức tưởi, day dứt, ân hận, cô chỉ mong chồng trở về để trút vợi nỗi xót xa, uất ức. Vừa nhìn thấy cái bóng liêu xiêu của chồng từ dưới suối lên Pham đã vùng dậy chạy lại ôm chặt lấy chân hắn, nước mắt tuôn, lời tuôn như nước vỡ phai. Chồng Pham bị bất ngờ, hắn ngây người không hiểu. Hắn đá cô như đá cái thúng rách, nhưng cứ đá ra cô lại nhoài vào làm con vắt bám háng trâu.

Rồi thì kẻ nghiện ngập cũng kết nối được những lời lẽ lộn xộn. Những tưởng đau đớn của vợ sẽ kéo tuột hắn vào dòng sông nước mắt, nhưng không, hắn hết nhìn cô như nhìn con chuột chù phải bả đến nhìn người mà hắn gọi là bố đang điềm nhiên nhắm rượu với thịt rắn luộc. Hắn chợt hiểu. Đau đớn, nhục nhã bùng lên, cái máu vũ phu được nuôi dưỡng trong cam chịu, bực dọc, khinh bỉ cùng máu điên vì mất đứa con nối dõi nhập vào hắn. Hắn lồng lộn đấm đá mọi thứ trong tầm tay, tầm chân. Hắn tru lên những tiếng dài bất lực. Hắn vồ lấy Pham, nhấc cô lên như nhấc cái giẻ rách, miệng gầm lên:

- Đồ ống điếu thối tha, mày, mày làm mất con tao rồi!

- Mày là đồ rắn độc... tao... tao phải giết mày...

Pham oằn mình chịu trận đòn thù. Cô liếc ra gian bàn thờ, bố chồng cô vẫn lẳng lặng ngồi uống rượu, coi như câm, như điếc, như vô can.

Đau đớn trên cơ thể bầm tím, rách nát không đau đớn bằng nỗi đau từ con tim lá gan trào ra, cô điên tiết đẩy thằng nghiện ngã ngửa xuống nền nhà, gầm lên:

- Tao làm gì nên tội? Làm gì nên tội?...

Sự vùng lên của con chó cùng đường càng làm con hổ chui sâu vào cơn điên, tiếng rỉa rói nuôi dưỡng sự chết chóc phun ra re ré:

- Mày làm gì à! Đồ chó cái. Chó cái không cong đuôi lên thì chó đực nào xiên vào được. Mày... mày làm bại hoại cái nhà này... Mày... Mày...

Lời lẽ độc địa của chồng thành con dao nhọn nhằm vào tim, vào gan Pham mà đâm, mà ngoáy, cơn giận trào sôi, cô lao ra chỗ bố chồng, hét lên:

- Tao đâu phải là con chó để chúng mày muốn làm gì thì làm? Kiếp trước tao nợ nần gì nhà mày thì hôm nay tao đạp đổ! Đạp đổ...

Pham hùng hổ bê mâm thịt ném qua cửa sổ rồi quay lại đá tung ống rượu.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 06:32:27 pm »

Bố chồng Pham lặng đi. Chồng Pham lặng đi, cả hai không nghĩ tới tình cảnh này, cả hai đều quen với cái việc coi cô là cái giẻ rách, chùi chân hay lót nồi đều cấm được ho he, động đậy. Sau phút ngớ người, chồng Pham vơ lấy khúc củi còn đang cháy dở trong bếp nhằm vào đầu cô bổ xuống. Cô tránh được, khúc củi đập vào chân hắn cháy xèo xèo, mùi da thịt cháy bốc lên khét lẹt. Hắn đau đớn rú lên, quờ vội con dao dài ném mạnh, con dao xẹt qua mang tai cô. Nhìn con hổ bị cắt dái lồng lộn, cô sợ hãi, nhớn nhác trốn tránh. Con hổ đuổi theo, vừa đuổi hắn vừa cầm thanh củi phang bừa, mấy cây cột vừa là vật chịu nạn, vừa đổ thêm dầu vào lửa.

Pham chạy quanh cho đến lúc chồng kiệt sức cô mới vọt được ra ngoài. Cô chạy thẳng ra bờ suối, coi đôi chân là đôi cánh bay vèo xuống vụng nước sâu. Vừa may, vừa không may, đúng lúc cô đang giã gạo thì Bắc khoác túi dết đi ngang qua, anh vội quẳng xà cột, lao xuống túm tóc người bị nạn kéo lên bờ.
Bắc luống cuống vác ngược Pham chạy một thôi dài mà nước trong bụng cô vẫn không chịu ra. Anh đặt cô xuống, trèo lên bụng ra sức dận mà thủy thần vẫn ngoan cố. Một tia sáng lóe lên, Bắc vội tụt quần, quấn ngón tay vào chùm lông đen mượt dứt mạnh, cả một mảng da, lông bật ra, da thịt ứa máu. Bắc lấy những cái lông quý giá ngoáy vào lỗ mũi Pham. Cách chữa người chết đuối từ thủy tổ truyền lại thật hiệu nghiệm, không biết sự ngứa ngáy, cách chữa mẹo hay cái mùi đặc trưng của người đàn ông khác giới làm cho Pham nhăn mặt, hắt hơi liền mấy cái. Theo sự hắt hơi, nước trong bụng Pham ộc ra từng đợt.

Khi dạ dày bị lộn trái Pham như lôi được quái thai nằm lì trong bụng năm năm, mười năm. Người cô nhẹ nhõm, dòng máu trong cô sôi réo, cô ôm lấy Bắc, trút thống khổ vào anh như đổ đó cá vào giỏ. Cảm thông với nỗi khổ của Pham, Bắc động viên cô, đưa cô về nhà, anh bắt chồng và bố chồng cô lập giấy cam kết không được làm nhục cô nữa.

Pham biết ơn Bắc như một vị cứu tinh. Từ biết ơn đến ngưỡng mộ, đến mê mệt bùa yêu chỉ lằn qua sợi tóc. Cô như bị anh bắt mất hồn, đêm ngày bị hình ảnh anh ám ảnh đến khổ sở. Song cô xa biệt, không dám mon men đến gần trụ sở khu vực. Cán bộ nói hủ hóa ngang với tội trộm cướp. Trộm cướp với vùng này như cơm bữa, nhưng hủ hóa chưa thấy cán bộ nào mắc phải. Nếu cô và anh yêu nhau, mối tình ngang trái lộ ra, cái chài rách vất cạnh đường như cô thì không nói làm gì, nhưng với anh! Anh không đi tù thì cũng phải vĩnh viễn thay trâu thay ngựa. Cô thương anh thực lòng, ngàn lần cô không muốn anh phải khổ.

Còn bây giờ... Pham lặng lẽ thở dài. Trong gang tấc là anh! Anh chững chạc, phong thái, là anh hùng tiễu phỉ, là người đứng đầu tám xã rộng lớn với mấy ngàn dân. Cán bộ tỉnh, châu xuống xã không có cái dấu có chữ “Bắc” trên góc giấy tờ thì có vào nhà chủ tịch xã nói vã bọt mép cũng chỉ uống nước suối rồi về. Cán bộ xã lên khu, lên châu không gặp Bắc thì coi như đi ruốc cá phải ngày nước lũ... Bắc đã liều mình lao xuống dòng nước xiết lôi cô khỏi miệng hà bá. Bắc... Bắc... Bắc...

Càng nghĩ đến Bắc, Pham càng xót xa cho thân phận của mình. Nhà chồng có hai người thì hai người nghiện. Bố chồng và chồng cô kết với nhau thành hai thớt cối ngày đêm nghiền Pham như nghiền ngô, nghiền đậu. Năm năm cô làm dâu là năm năm luấn quấn, đói khổ. Cho đến chiều nay... Trong nhộn nhạo người, nhộn nhạo sáng tối, những đau đớn riêng tư dễ bề khuất lấp, nhưng đối diện với tĩnh lặng, đối diện với chính mình thì nó lại thành những mũi dao khoét vào thịt, vào da. Pham đưa tay chùi mắt. Cái quạt trong tay Pham đưa Bắc vào giấc ngủ sâu bao nhiêu thì lòng cô lại đau đớn bấy nhiêu. Là con một nhà có tiếng trâu ngựa đầy chuồng, thóc lúa đầy gác, cô tưởng như đời mình quanh năm chỉ gặt hái những mùa vui, vậy mà một phiên đi chợ, một lần đi theo cái tiêu rỗng, một lần ngang bướng không cần biết đến lời già, lòng trẻ cô đã chui vào địa ngục trần gian. Trong nhà người Dao ở Phòng Tô mọi thứ nuôi sống người đều do đàn ông quản lý còn quanh năm suốt đời công việc cứ nhằm vào những người đàn bà mà thòi ra. Muốn yên chuyện không còn cách nào khác người đàn bà phải gồng lên dọn việc như dọn cứt. Pham còn hơn thế. Năm năm trời trong cái vỏ bọc lạnh lẽo, khô cứng, ngày tháng, công việc, khổ đau cứ lặp đi lặp lại, khát khao trong cô luôn phải ngủ vùi trong cô độc, không biết chia sẻ cùng ai. Mà cô có chim mồi cá cảnh gì. Sau ngày cưới hoàn cảnh nhà chồng buộc cô phải thích nghi với lam lũ như lũ ếch nhái thích nghi với vũng lầy. Việc nhà, việc nương ruộng là lửa, là khói, ám mãi vào rồi thành quen, thành phận sự, nhưng hầu hạ hai ông nghiện trong cái nhà rỗng thì đúng là không sức nào chịu nổi.

Đã có lúc Pham nghĩ tới cái chết. Chết thì dễ thôi. Cho một nắm lá ngón vào mồm, ực một cái là xong. Ra bờ vực nhắm mắt, bịt tai, co chân lên là tan xương nát thịt. Vào rừng, thò cổ vào một trong muôn cái thòng lọng rủ sẵn là hồn về giời, xác về đất... Biết bao cách để chết, nhưng người chết rồi có được giải thoát khỏi miệng thế gian hay không? Chết không hợp lẽ, không chúa trời, tổ tiên chấp nhận, hồn ma sẽ suốt đời lang thang, đói rét, không được bay lượn trên vương cung thánh đường, không được đầu thai kiếp khác. Và nữa, những người thân như bố mẹ, anh em, cháu chắt người chết suốt đời phải day dứt ân hận. Và nữa... Và nữa... Chuyện chồng vợ đã mọc rễ trong người thì đành phải nương theo nó suốt đời. Những day dứt, nghĩ trước, nghĩ sau đã nuôi giữ Pham, đã cho cô sức lực để cộng ngày cộng tháng, chính lần bột phát chết không thành cùng sự ngưỡng mộ hướng về người cứu mình đã neo giữ cô trong cuộc đời này.

Pham lại lặng lẽ thở dài. Sau buổi Bắc cứu cô, đưa cô về nhà. Trước uy lực, rõ trắng rõ đen của anh, bố chồng, chồng cô hậm hực ấn cái máu vũ phu, ti tiện vào xó bếp. Những ngày sau đó, dẫu chưa được làm con chim sổ lồng song cô đã trở lại chính mình, cô không phải chịu những cú đấm, cú đá vô tội vạ.

Đêm đã về khuya. Trong rừng chim từ quy đang tự cắt gan cắt ruột thả vào đêm một cách nhẫn nại. Ngay cạnh Pham, người đàn ông thường ngày cô chỉ dám nhìn từ xa đang chui sâu vào giấc ngủ. Hơi thở của anh đều đều quyến rũ. Da thịt của anh nồng nàn mê hoặc. Bóng đêm, sự vắng vẻ đến rợn người đồng lõa với sự nổi dậy của con tim lá gan..., tất cả cứ thúc lên đòi cô nổi loạn. Con gái thường bị mặt trời đốt từ bên ngoài, đàn ông đốt từ bên trong, sự nung đốt theo đuổi, làm khổ họ cả đời. Con gái sinh vào đêm trăng rằm còn hơn thế. Cái nóng trong người không chỉ dâng lên theo độ nóng của mặt trời mà còn dâng lên theo độ nóng của mặt trăng. Pham sợ những mùa trăng như cây non sợ lửa. Đêm trăng nào cũng vậy, khi ánh sáng trắng ngời ngợi phủ lên khắp núi khắp rừng là da thịt cô cựa quậy đòi bật tung áo quần. Mặt trăng càng tỏ, càng đĩ thõa thì cô càng phải chống đỡ vất vả. Nóng từ bên trong bung ra, bên ngoài táp vào làm cho người ngợm cô rần rần, chân tay muốn đập vỡ, đạp nát một cái gì đó. Từ khi biết đến hơi đực cái thì nó càng bùng lên, thiêu đốt cô dai dẳng. Nhà cô ngăn cách với ngoài giời bằng phên vách. Phàm là đan phên nong mốt thì phải dùng loại nứa mỏng, nứa già, nhỏ mới kín, song bố chồng Pham lại đan vách bằng cây mai già đập dập. Thân cây mai dày cả đốt ngón tay nên cố ken đến mấy vẫn rỗng rễnh. Ban ngày, ánh nắng chan hòa, trong nhà cũng như ngoài sân. Ban đêm, cứ đến mùa là ánh trăng tung hoành khắp ngõ ngách. Mỗi khi cái bánh xe ánh sáng trắng lạnh bò lên khỏi đỉnh núi là ngực Pham lồng lên, càng lên cao, bánh xe càng chà xát, càng làm cho người ngợm cô nhức nhối.

Pham nhìn trăng, nhìn Bắc, rùng mình. Bên ngoài cửa sổ trăng rừng hoang dã tung hoành không cần biết làm khổ ai, sướng ai làm cho cô rạo rực như lên cơn sốt. Mùi của những sợi lông lấy từ một phần cơ thể của anh ngoáy vào mũi cô hôm nào lại dâng lên ngầy ngậy. Pham run lên, cô muốn lột phăng quần áo anh ra để xem mảng lông anh dứt ra chữa cho cô khỏi chết nước đã mọc lại chưa. Cô nghe nói cái đó của người Kinh quanh năm được ướp trong mấy lượt vải nên lúc nào cũng đỏ như da em bé, lông lá xanh đen, mượt mà như nước suối. Giá mà bây giờ... Giá mà... Trời ơi! Nếu không bị con ma nhà chồng gắn chặt, nếu không bị luật tục bịt kín đường về thì cô sẽ rũ bỏ tất cả, cô sẽ làm con đại bàng giữa bầu trời cao rộng.
Pham lại lặng lẽ thở dài.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 06:35:45 pm »

Ngày Pham lên ngựa về nhà chồng, cái khăn màu đỏ đang đội trên đầu cô rơi xuống vũng trâu đằm. Như có ma trêu quỷ kéo, vừa rơi xuống vũng cái khăn đã chìm nghỉm trong bùn, trong cứt đái. Cùng với tiếng kêu thảng thốt, lo sợ của mọi người là tiếng chim lợn kêu như như xé vải, mặt trời đang tươi như hoa chui vội vào đám mây đen như đổ chàm. Chẳng biết ông mặt trời đánh nhau với mây gió thế nào mà chỉ một khắc sau chui ra đã thành một cái nong máu. Mọi người nhìn giời, nhìn đất lo sợ. Một thanh niên được sai xuống vũng mò khăn. Chiếc khăn được mò lên nhưng cả khăn lẫn người đều không sao gột được màu đen kịt như nhựa bám. Cái khăn màu lửa trên đầu đàn bà con gái người Dao là tượng trưng cho cái đẹp, cho sự sinh sôi, cái khăn biến thành màu chết chóc cảnh báo điềm báo điềm gì? Ma rừng, ma núi, quỷ sứ ám vào khăn để hại ai đây? Cả nhà trai, nhà gái tím mặt lo sợ. Một đống lửa được đốt lên, từng người, từng người luồn cái khăn qua háng đuổi vía, người cuối cùng chưa kịp cho cái khăn đi qua chỗ ô uế thì một con quạ sà xuống quắp lấy rồi bay vụt lên trời xanh khiến ai nấy thất kinh, ai cũng linh cảm tai họa đang ụp xuống đầu mình.

Pham lặng lẽ bỏ ra ngoài.

Trời se se lạnh. Hơi ẩm toát ra từ da thịt của rừng hòa quyện với muôn giọt nước li ti từ trên trời sa xuống làm cho núi rừng chìm trong một màu trắng đục. Cảm giác bình yên luồn lách qua tĩnh lặng, sương khói làm lòng Pham dâng lên cảm giác dễ chịu, cô hít hà hơi sương như trẻ nhỏ.

1

Bắc tỉnh dậy thì trời đã tảng sáng. Không gian trong trẻo, tĩnh lặng dịu dàng, những ngôi sao mờ dần rồi tắt hẳn. Mặt trăng nhợt nhạt, buốt lạnh như được vớt lên từ lòng suối rơi dần xuống đỉnh núi phía Tây. Phía Đông bầu trời vừa hồng lên đã bị những núi mây ùn ùn kéo tới che lấp, phá phách, song những ánh sáng vẫn lọt qua kẽ liếp, tràn qua khung cửa sổ soi tỏ căn buồng.

Bắc chợt giật mình, trên cái giường đối diện, Pham đang nằm trễ nải. Anh ngỡ ngàng rên lên. Trời ơi! Pham! Người trước đây anh đã một lần chạm da chạm thịt, người đã làm anh mất ăn mất ngủ bao ngày đang trong tầm tay với. Pham ơi! Cái buổi chiều sơn cước chết người ơi! Pham có biết từ hôm anh cứu em, sau nghĩa vụ, phận sự chở che là dư âm của khát khao được chung đụng thân xác với em không? Pham ơi! Pham có biết da thịt, hơi hướm của em ám ảnh anh đến mức mấy lần anh đã định bắn chết hoặc chí ít cũng bỏ tù cái gã gia trưởng độc đoán mà em gọi là chồng rồi lấy em về nuôi bếp lửa không?

Bắc lắc lắc cái đầu, cố đuổi cái ý nghĩ náo loạn ra khỏi trí não, song cặp mắt không rời nổi hai bầu vú như cái bát tô đầy căng trong lớp vải chàm đang phập phồng mời gọi.

Nàng kia! Nàng đã lôi ta ra khỏi miệng của gã thần chết chết tiệt, suốt đêm qua nàng đã săn sóc ta như người mẹ chăm sóc con.

Nàng kia! Vậy là ta cứu nàng, nàng cứu ta. Tình cờ hay định mệnh? Duyên số từ kiếp trước hay khổ ải, đày đọa đưa nàng đến với ta? Dù ngẫu nhiên hay sự sắp đặt của tạo hóa thì ta cũng cám ơn trời đất dun dủi cho ta được gặp nàng.

Nàng kia! Người nàng tựa cái bếp ủ than hồng, tựa quả núi lửa đang ủ.

Nàng kia! Cặp môi nàng mấp máy một cách vô thức, hơi thở nàng run rẩy như cơn gió sớm mềm mại.

Bắc nôn nao như người trúng gió. Sự khoái cảm của đàn ông dễ đánh thức nhất về ban sáng. Lúc đó đất trời tinh khôi, phần dương trỗi dậy dần dần lấn át phần âm. Tiềm tàng sức lực cùng với sự ấm lên của trời đất, của con người được nhân lên trong từng mạch máu, nhất là khi được sự vắng vẻ, tiếng chim hót, tiếng gió ru, tiếng cây rừng đồng lõa. Đầu óc Bắc mụ mị, bàn chân Bắc lẩy bẩy lết dần về phía Pham. Hương thơm từ da thịt Pham toả ra ngầy ngậy, đẩy sự khát khao dâng lên ngùn ngụt, Bắc từ từ gục mặt vào bàn tay xinh xinh, lịm đi.

Pham từ từ tỉnh giấc, từ từ cảm nhận sự êm ái, cô chờ đợi giây phút này từ kiếp trước mất rồi. Trong đê mê cánh tay phải của cô cử động rồi kết hợp với cánh tay trái vít đầu Bắc vào bộ ngực nóng sực của mình. Hai bầu vú cô động đậy, hai cái nhũ hoa ngỏng lên hút hồn Bắc, anh lóng ngóng lần giở từng nút áo cô rồi vục mặt vào giữa hai khe vú. Những giọt nước mắt sung sướng trào ra, vỡ oà trên miền da thịt mềm mại, phấn hứng dềnh lên, Pham lựa chiều cởi bỏ những gì vướng víu trên người, phơi bày những gì có thể được ra trước mắt Bắc.

Bắc lặng người, lần đầu tiên mắt anh được chiêm ngưỡng tòa thiên nhiên tuyệt mỹ. Lần đầu tiên anh ngộ ra lâu nay mình chui trong vũng bùn giờ mới được ngoi lên mặt nước. Hay lâu nay anh đang lần mò giữa sa mạc khô khát giờ mới được chui sâu vào mạch nước ngầm trong mát.

Pham đẹp, cái đẹp lồ lộ trong từng nét dáng, cử chỉ. Cơ thể hoàn mỹ của Pham không chỉ khuấy đảo thị giác, khứu giác, mà nó còn làm tê liệt mọi cử động của Bắc. Trong tình ái, mê muội và sôi sục song hành, nó dẫn con người vào trạng thái chông chênh, hút nhau như nam chân hút sắt, hai người nhẹ nhàng dẫn nhau đi sâu vào miền cực lạc.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM