bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 08:57:19 pm » |
|
Chương năm Dùn vừa ra khỏi thị trấn Phòng Tô đã thấy Sắn đứng đợi từ bao giờ. Anh giật mình, từ ngày gặp Sắn trong lễ cấp sắc cho con, anh đã cố tránh con người nửa rắn nửa quỷ này, nhưng lần nào ra khỏi xã là anh gặp hắn, hoặc gặp người của hắn đợi sẵn. Dùn sợ Sắn. Sợ thực sự. Ban đầu nỗi sợ còn vu vơ, sau anh luôn phải sống trong cảnh ám ảnh, bứt rứt, khó chịu. Nỗi sợ len lỏi ngày, len lỏi đêm, cuối cùng biết không thoát nổi sự kiềm tỏa, lôi kéo của Sắn, lúc nào anh cũng thấy mình đang chênh vênh bên bờ vực thẳm. Mỗi lần bước ra khỏi nhà anh lại hốt hoảng trông trước trông sau như bước trong rừng hổ. Hổ còn sợ người, người còn biết lối tránh hổ, còn người sợ người thì cái án chết lơ lửng trên đầu, bất cứ lúc nào cũng có thể làm mồi cho chết chóc. Dùn lẽo đẽo theo Sắn vào cái nhà tuềnh toàng như cái lều ruộng ở đầu bản. Thấy hai người, chủ nhà vội vã bảo ba đứa con chia nhau chạy ra rừng nghe ngóng, còn mình lặng lẽ nhóm lửa. Sắn bảo: - Không phải cơm rượu gì đâu, bọn tao làm một tảo xong là đi thôi. Như theo thói quen, chủ nhà lặng lẽ vào cái buồng tối như hũ nút thu xếp bàn đèn, tẩu, thuốc, rồi quay ra thủng thẳng: - Xong rồi đấy. Sắn bảo: - Tốt rồi, mày ra cửa nghe ngóng, có động thì đánh tiếng, chúng tao sẽ chuồn ra cửa sau. Chủ nhà lẳng lặng làm theo lệnh Sắn, hắn cầm dao ra đầu hồi ngồi tỉ mẩn vót nan song tai mắt để cả ra rừng, ra ngõ. Dùn lụt cụt đi theo Sắn, hai người trèo lên cái phản gỗ, nằm châu đầu vào cái đèn mỡ lợn. Mùi khói, mùi ẩm mốc, mùi của bóng tối lưu cữu quyện vào nhau, mới gặp thì lờm lợm, nặng nề, quen rồi thấy ngòn ngọt, dễ chịu. Sắn vê vê mồi thuốc, ném phập vào miệng tẩu rồi đưa cho Dùn: - Hút đi. Không cướp lại được chính quyền thì không còn được hút nữa đâu. Dùn không cưỡng được hương vị ngầy ngậy quyến rũ của điếu thuốc phiện bén lửa, không cưỡng được lệnh của Sắn, anh lặng lẽ bập mồm vào chuôi tẩu. Dùn đang đắm chìm mình trong khoan khoái, thỏa mãn thì Sắn hỏi: - Vừa lên châu nhận chỉ tiêu thu thuế hả? Dùn uể oải: - Ừ, năm nay bắt thu căng lắm, năm ngoái được mùa còn trầy vẩy, năm nay không biết thu thế nào đây! Sắn thong thả rít thuốc, thong thả thả lời nói vào chỗ không người: - Đấy mới là cái đích của ta. Chính quyền thu thuế nhẹ hơn chúa đất nhưng lại thu một lần vào sau mùa thu hoạch. Chết là chết ở chỗ ấy. Ngô thóc về chưa ấm sàn, lợn gà vừa mới trơn lông đỏ da đã bị san vợi non nửa, đã thế phải lo chuyện tết nhất, cưới xin, ma chay, toàn những việc trọng đại, việc cần có cái cho vào nồi vào chảo mà bị rút ruột thì ai mà không xót. - Nhưng dân đen giờ vẫn yêu, tin, hy vọng vào chính quyền, tôi thấy việc mình đang làm như lấy cát bịt mỏ nước. - Cát gì, nước gì, dân chúng đang yêu, tin, hy vọng vào chính quyền không phải từ lòng thực, mà là đang yêu, đang tin cái bánh vẽ. Chính quyền đã có gì để mà yêu, mà sống chết, nhưng cái bánh vẽ của nó thì hấp dẫn đấy. Nào thì độc lập tự do này. Nào thì không có áp bức, bóc lột này. Nào thì ông nông dân có thể ngồi lên đầu ông vua bà chúa này... Trâu bị bỏ đói ba ngày dắt ra ruộng mạ non con nào chẳng lao đến chí chết nhưng giải phóng mấy năm rồi mà chúng đã làm được gì? “Đúng là mừng giận, buồn vui, tốt xấu ở cả nơi miệng lưỡi, thổi vào tai lời tốt thì được tốt, thổi vào tai lời xấu thì được xấu” - Dùn thầm nghĩ. Như đọc được ý nghĩ của Dùn, Sắn thủng thẳng: - Tôi biết ông đang nghĩ gì, tôi không phải là thần thánh, tôi là con người, tôi đang ở giữa vòng tục lụy, tục lụy bao giờ cũng đặt cái lợi lên bàn thờ, mà muốn lợi thì phải xóa đi giới hạn của phải trái, tiến tới cái đích cần đạt. Dùn nhìn Sắn e ngại rồi thốt lên: - Nhưng khi qua thác phải tính đến thuyền, đến mảng. Mình quân không, tướng không, có mấy thằng sống chui sống lủi mà chống lại cả một chính quyền thì khác gì lấy trứng chọi đá. - Nhưng ta có dân. Có dân là có tất cả. Với dân đen ta lấy yêu, lấy lợi nhử là tất theo; lấy khen lấy chê mơn trớn là tất ngủ; giả lấy đức làm trọng, lấy hòa làm gốc, lấy dọa nạt làm sợ hãi, dẫn được vào mê hồn trận rồi thì đánh một tiếng trống chỉ xuôi là chạy xuôi, chỉ ngược là chạy ngược. - ... - Bọn tôi đã chuẩn bị cả rồi. Có cương lĩnh, chính sách, có tập hợp lực lượng đàng hoàng, không gì thu hút con người bằng cách bắt chúng đổ xô vào cái danh, cái lợi. - ... - Cái danh, cái lợi có thứ sờ thấy được, bắt lấy được, có cái lơ lửng trên đầu, có cái làm cho người ta vui sướng đến điên loạn. Ta đưa ra chiêu bài ai cũng có phúc có phần, kẻ ham hố hứa cho quyền lực, tiền bạc, kẻ đói cơm, đói chữ hứa cho cơm áo, học hành, kẻ khát tình cho tự do nam nữ... - ... - Còn nữa, ta sẽ đưa độc chiêu dân tộc, tín ngưỡng lên hàng đầu, toàn những cái bọn chính quyền đang cố công cố sức thực hiện. Nghiệp chúng đeo đuổi lớn như rời núi lấp sông, nhưng gốc không, rễ không, việc, cái mới nghe bằng mắt, cái mới thấy bằng tai, nên càng cố chúng càng như thả muối xuống sông. - ... - Tôi nhắc lại: Phải học bọn Việt Minh. Chúng cố công lợi dụng bọn cùng khổ, ta cũng phải cố công giữ lấy bọn cùng khổ. Chúng bảo bọn cùng khổ: Đứng lên chiến đấu giành tự do, nếu mất chẳng mất gì, nếu được được tất cả - Chúng đồng lòng như ruốc cá trên suối; Làm thay đổi cuộc sống ở đất này là thay đổi cuộc sống của chính mình - Chúng hăng hái như mổ lợn tết; Phải thấy cuộc sống hiện nay là tù đày, giam hãm - Chúng lăm lăm đánh phìa tạo, chúng làm được thế, tại sao ta không làm được thế. - ... - Phàm là người dẫn dắt phải nhớ điều cốt yếu là làm sao cho cả thiên hạ lao theo hướng mình chỉ. - ... - Trong cuộc đi săn tập thể dù có thú hay không có thú song hễ có tiếng súng nổ là cả chó lẫn người đều bị hút vào chỗ đùng đoàng. Lấy nhân nghĩa làm phương tiện, tục lệ làm nền móng, lợi lộc để mua chuộc, dọa nạt, cảnh báo để lừa bọn người quanh năm mặt dòm đất, đít dòm trời có khó gì... - Nhưng nịnh nọt lấy được lòng dân chúng một lúc song lại nuôi cái vạ ỉ lại mai sau - Dùn phản kháng yếu ớt. - Giời ơi là giời! - Sắn kêu lên sảng khoái - Khi được chính quyền trong tay thì làm gì hay không làm gì là ở mình. Khi ấy đám dân đen, giặc cỏ không súng ống, không quyền thế trong tay, cho sống được sống, cho chết được chết. Thôi, ta làm tảo nữa rồi bàn tới những việc phải làm. Dùn bị Sắn thuyết phục hoàn toàn, anh đâu biết từ nay mình chỉ là cái gậy trong tay quỷ dữ mà thôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:00:29 pm » |
|
Chương sáu Mặt trời từ từ xuống núi. Đã đến giờ gà tìm chuồng, chim tìm tổ, người kết thúc một ngày cực nhọc trở về hang ổ của mình. Đã đến giờ cụ giáo Triệu trèo lên cái sàn đầu hồi điểm người, điểm trâu ngựa. Nhà cụ giáo ngũ đại đồng đường. Ở cái vùng loạn lạc liên miên, canh tác nương rẫy theo kiểu hưu canh như Sín Chải thì nhà cụ giáo độc nhất vô nhị. Người Dao đỏ sinh sống nhờ rừng, nhờ nương rẫy là chính. Một mảnh nương làm được bốn năm vụ là đất bị khô cằn, màu mỡ bị mưa gió bóc dần, đá mọc cao, lúa ngô lười cho hạt, lúc đó chủ cho nương nghỉ vài vụ, khi cây cối xanh tươi trở lại, độ mùn, độ xốp cao họ mới quay trở lại trồng cấy tiếp. Canh tác hưu canh kéo theo người hưu canh. Nơi ăn chốn ở tạm bợ. Chăn nuôi, trồng trọt tạm bợ. Con cái mười bốn mười lăm tuổi là dựng vợ, gả chồng, làm cho một cái nhà nhỏ, cắt cho mấy mảnh nương rồi khóa to chìa to, khóa bé chìa bé, cứ thế mà tự lập, mà sinh sôi nảy nở. Nhà họ Triệu khác, thêm người chỉ được phép thêm buồng, thêm giường, thêm bát, thêm đũa. Cây cột cái Triệu Giáo Choong còn sống thì người và vật nhà họ Triệu chỉ được phép cộng vào chứ không được phép chia ra. Chính vì thế mà nhà họ Triệu bề thế, đông đúc, giàu có nhất vùng. Người: già trẻ lớn bé hơn bảy chục; Ruộng nương: mấy trăm cân giống chưa quãi kín đất; Trâu ngựa: chật cả hai dãy chuồng dựng đối mặt với nhau như trại lính; Gà vịt: quãi thúng ngô quay đi quay lại đã không còn một hạt. Cả vùng: được mùa dân bản mang ngô lúa đến nhà họ Triệu đổi chác, mua bán; mất mùa mang tải đến nhà họ Triệu vay mượn. Nhà họ Triệu có hơn hai mươi người đàn ông ở tuổi gánh vác được việc nhà việc bản thì cả hơn hai mươi người đã qua lễ cấp sắc. Về mặt âm: người ít nhất cũng có ba mươi sáu âm binh. Về mặt dương: người nào cũng được công nhận đã qua tu luyện để làm tròn được bổn phận với mình, với gia đình, cộng đồng. Trên cái sàn lát gỗ sến dựng giáp cái cổng đá dẫn vào nhà họ Triệu, cụ giáo ung dung tự tại như con hổ đầu đàn chờ điểm con cái cháu chắt về hang. Trên ba ngả đường rừng chụm lại, những con ngựa hớn hở gõ móng cồm cộp bước qua cái cổng đá. Tiếp theo sau chân ngựa là những con trâu béo nục đủng đỉnh từng bước, từng bước, những con chó lăng xăng chạy trước, chạy sau. Đằng sau trâu, ngựa là mấy chục con người lớn có, bé có, già có, trẻ có lục tục nối đuôi nhau. Cũng như những người Dao khác, người nhà họ Triệu có thói quen sáng đi mang trên người những thứ giúp cho việc vào rừng, lên nương, xuống ruộng; chiều về mang những thứ về nuôi bếp lửa. Trên lưng, trên vai, trên tay người nào cũng có thứ gì đó, hoặc là bó củi, hoặc là gùi rau lợn, gùi măng. Trên lưng con ngựa nào cũng lặc lè cái mã làn ngô, thóc hoặc cỏ ngựa... Bốn mươi sáu người nhà họ Triệu đã chui qua cái cổng đá, còn lại một người duy nhất là Dùn chưa thấy mặt. Cụ Triệu như thấy cái gai nhoi nhói xói vào lồng ngực. Từ ngày thằng cháu nội gặp lại cái thằng lê la mồm nhọn, lời ngon ngọt lòng lá ngón Triệu Tá Sắn, cụ cảm thấy nó đang tuột khỏi tay cụ để lao vào vòng u tối. Cụ không hùng tâm tráng chí gì nhưng đã trải qua gần một trăm mùa sấm đẻ, nhìn giời biết giời nóng giời lạnh, nhìn đất biết đất trôi, đất ở, nhìn cây biết cành sâu cành khỏe. Bao năm làm cây cột cái của nhà này, bản này cụ luôn luôn là chỗ dựa, là ngọn đèn cho trẻ già, trai gái trông vào. Nghe cụ thì có con đường sáng, tuột khỏi cụ là đi vào mê muội, khổ ải. Năm một chín bốn tám, tuột khỏi cụ, thằng Dùn cùng hơn chục con cháu nhà họ Triệu theo mấy thằng thổ ty người Thái tranh cướp thiên hạ khiến cả nhà này bị coi là nhà hủi. Năm một chín năm ba, tuột khỏi tay cụ, đàn ông trai tráng bản này nghe theo bọn Pháp, bọn đặc vụ Tàu Tưởng đã cùng gần một ngàn tên phỉ người Mông, Dao, Thái, Phú Nả cầm súng rùng rùng đánh chiếm Lở Thàng, Tam Đường, Phin Chải, Sùng Phài..., tưởng một sớm một chiều nghiền nát Việt Minh như nghiền ngô, nghiền gạo, ngờ đâu vấp phải một loạt boong ke du kích và bộ đội địa phương phải chững lại, đến khi phải đối mặt với bộ đội chủ lực thì thành bọt trong thác. Là người ăn cơm nhiều mâm, uống nước nhiều bản, chỗ trong chỗ đục, chỗ ngọt chỗ tanh cụ giáo đều hiểu. Triệu Tá Sắn là ai cụ quá hiểu. Trong lúc thời cuộc đêm chưa qua, mặt trời chưa tỏ, thằng Dùn gặp gỡ, nhỏ to với Sắn, trước là họ Triệu mất người, sau là mất nhà, mất bản. Vạn vật đều cần phải có giềng mối, trên dưới. Không giềng mối, trên dưới thì hổ quét đuôi, liếm mép giữa chợ. Không giềng mối, trên dưới, mỗi năm giời làm đôi trận lũ, mỗi vụ một lần loạn cào cào châu chấu thử hỏi người có còn là người, vật có còn là vật. Cụ giáo cố nén tiếng thở dài. Như hạt cái lựa chiều từ lâu cụ đã xa hẳn bụi trần, thoát khỏi vòng danh lợi, lấy dung nạp là việc trọng, lấy lòng thương người mà làm người trải chiếu khắp chợ. Với lối sống này cụ đã tránh được hệ lụy, tránh được nóng lạnh ở đời. Nhưng còn sống thì còn phải làm, phải ngẫm nghĩ, thấy việc phải mà không theo thì không thể coi là biết, thấy việc trái mà không can thì không phải là người. Người Dao đỏ luôn có một ý niệm lấy chữ tâm, chữ đức làm trọng, không muốn va chạm đến người khác, và ngược lại người khác va chạm, gây sự với mình thì tìm mọi cách để lánh xa ra hoặc di dịch sang nơi khác, tính cách ấy đã thành dòng, thành dõi, truyền từ đời này sang đời khác. Thời buổi nhộn nhạo, thấy hổ gầm hươu nai cũng nhảy cẫng, chúng muốn thay đổi xã hội ư? Thay đổi là tốt rồi, nhưng thay đổi thế nào? Người Pháp bao năm trời chia ra để trị đã làm cả vùng trong cảnh nồi da nấu thịt. Người Nhật đuổi người Pháp, ngỡ Phòng Tô được ngẩng mặt với giời, ngờ đâu quan, lính da vàng cũng cùng một duộc với quan, lính da trắng. Sau người Nhật đến Quốc dân đảng Tàu, Quốc dân đảng ta. Cứ tưởng cái sau hay hơn cái trước, cuối cùng thì đều là những con sói tham ăn tranh nhau một miếng mồi. Mấy năm qua, chính quyền dẫu còn có nhiều điều chưa hợp lẽ, nhưng họ đang cố công làm yên người, yên rừng, yên núi, giờ bọn thằng Sắn, thằng Dùn lại định thay đổi bằng cách đưa Phòng Tô trở lại thời kỳ loạn lạc, người không ra người, thú không ra thú, đúng là hoang đường, chỉ lo thắng người thắng giời thì làm sao nhà yên, bản yên... Cụ giáo nặng nhọc tụt xuống tảng đá. Đến cữ ngày bàn giao sang đêm, giá rét từ trên trời đã bắt đầu buông xuống, ruột núi bắt đầu phả ra làn hơi buốt giá. Từng vệt mây mỏng tang dùng dằng nửa đi nửa ở choàng lên dãy Pu Sam Cáp làm cho ngút ngát của rừng, của núi chìm trong một màu xanh đen mờ nhạt. Bóng tối từ chân núi đang từ từ bò ngược lên. Đã cuối mùa thu, cây cối giữ lửa, nuôi sức bằng cách tích nhựa, tích nước, thải dần những chiếc lá già; những con vật tích trữ sức lực bằng cách lười vận động, con người lo xa bằng cách tích trữ thức ăn, củi lửa, rau cỏ... Trong mùa hoang vu tất cả đang âm thầm đón đợi một mùa rét buốt. Cụ giáo nhìn khắp mênh mông.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:03:16 pm » |
|
Lũ ống, lũ quét đi qua, trong các loài chịu nạn đau nhất là mẹ Núi. Mẹ đang yên lành nuôi mình, nuôi người, nuôi cây cối, muông thú, dòng sông, con suối, đùng một cái mưa gió, sấm chớp và những dòng nước hứng chí đua nhau ào qua, từng tảng da, tảng thịt của mẹ bị bóc ra, cuốn theo đứa con ngạo ngược. Nhưng mẹ Núi là thần, mỗi một phần nhỏ trong mẹ đều có hồn, nên da thịt của mẹ dù có bị bóp nát ra thành đất, thành cát, thành sỏi thì vẫn là da thịt của mẹ. Những phần của da của thịt ấy không tan vào dòng sông mà lựa chiều để chống chọi sau đó lớn dần thành bãi, thành bờ. Còn con người? Những kẻ trôi theo dòng lũ có cưỡng lại được với giời đất hay thịt nát xương tan? Những kẻ sống sót liệu có níu kéo được chỗ che thân, giữ được miếng cơm bỏ vào mồm hay thân tàn ma dại? Làng bản sau lũ nuôi nấng, gây dựng đến bao giờ mới cho hoa cho quả? Tại sao chúng chăm chắm vào tham, sân, si đến thế? Chúng không còn nghĩ đến trần thế xô bồ, trắng đen lẫn lộn mỗi con người cần phải dùng trí lực để tu luyện, để luôn coi trọng điều thiện, xoá đi điều ác hay sao? Cụ giáo lại nén ục ức dâng lên trong lồng ngực. Cụ thấy trước mắt, sau lưng, bên phải, bên trái mình toàn những việc vừa phải, vừa không phải. Cách mạng đã khuấy lên ở lòng thúng Phòng Tô này một hồi, xong rồi mọi việc lại yên vị như cũ. Con đường về Sín Chải vẫn những dây gai mọc trùm lối. Những đám mây đen vẫn làm cái khăn quấn lưu cữu trên đỉnh Phan Si, đỉnh Pu Sam Cáp. Đêm đêm bên bếp lửa, đám đàn ông luẩn quẩn ôm cái điếu và rì rầm chuyện mùa vụ, săn bắn. Ngày ngày đám đàn bà vẫn túm tụm xe lanh, quay sợi, đám trẻ con vẫn tự mua vui bằng những trò chơi từ thủơ ông giời làm nên đất, nên nước. Con người mong được tích trữ của cải, tích trữ nhân đức nhưng cũng mong được đổi đời, được thể hiện chí mình, lực mình, liệu cách mạng có làm được như lời họ hứa hay chỉ để vui tai vui mắt mà thôi? 1 Triệu Tá Dùn len lén đẩy cửa bước vào nhà. Nhà họ Triệu làm theo kiểu nhà truyền thống của người Dao đỏ. Nhà nửa sàn nửa đất, lưng dựa vào núi, mặt trông ra suối, vững chãi và bề thế hơn bất cứ ngôi nhà nào trong vùng. Nhà có hai cửa. Cửa chính đi vào đầu đốc phía Tây, cửa phụ đi ra đầu đốc phía Đông. Từ đầu hồi này sang đầu hồi kia dài hơn bảy chục bước chân. Cột, kèo, xà dọc, xà ngang làm bằng lõi gỗ lý, mái lợp bằng gỗ pơ mu, vách lịa ván gỗ dổi, toàn loại gỗ mối mọt mài mòn răng ngồi khóc, mưa nắng bám ngoài. Ngôi nhà đến đời Dùn là đời thứ bảy, tức tuổi của nó đã hơn gấp ba lần tuổi Dùn. Già, nhưng càng già càng khỏe. Cột, kèo, xà dọc, xà ngang, ván vách ăn hơi người, khói bếp, ăn ngày, ăn đêm đen bóng như sừng. Trên mái gỗ rêu bò lan từ tấm lợp này sang tấm lợp khác. Rêu, mái giữ mùn, giữ đất. Những hạt cỏ, hạt cây gió đưa, chim, chuột thải như dương xỉ, tàu bay, cỏ, lau lách mọc um tùm khiến ngôi nhà tùm hum như quả núi. Xuyên dọc ngôi nhà, nửa phía ngoài là sàn gỗ, dùng để tiếp khách, dạy học của cụ giáo, ăn uống của những người đàn ông; nửa phía trong là nền đất, gồm ba gian giữa đặt bàn thờ, các gian còn lại chia ra làm buồng, làm bếp; một dãy cửa sổ dọc theo sàn gỗ nhìn ra suối, ra ruộng. Gian nhà đầu hồi phía Đông ngày đêm đón nước từ năm cái lần(1) như năm con rồng rút nước từ ruột núi chảy vào năm máng gỗ như năm con thuyền mắc cạn. Nhà kín, đóng cửa, ngoài trời mưa rào trong nhà chỉ nghe tiếng rì rầm như trò chuyện. Mùa hạ, bên ngoài trời nắng như đổ lửa, trong nhà mát lịm như hang đá. Mùa đông, ngoài trời phủ đầy băng tuyết, trong nhà bảy cái bếp nổi lửa là cả ngôi nhà thành cái lò sưởi. Nhà lâu đời, đông người đi lại nên nền đất nhẵn như mài, mỗi góc cột để một chồng ghế rơm cao ngang mặt người. Mấy cái bếp lửa giữa nhà chỉ dùng để đun nước tiếp khách. Lửa bếp thay đèn, thay mặt trời, thay lòng người, nhìn nhau qua ngọn lửa con người đỡ mưu mô hơn, cởi mở hơn, gần nhau hơn. Sự bề thế, cổ kính của ngôi nhà đã góp phần làm nên danh, nên giá nhà họ Triệu. Dùn giật mình. Bên cái bếp đang tàn ông nội anh ngồi bó gối. Trong chập chờn sáng tối cái bóng to lớn lặng phắc của ông như tảng đá mồ côi, như cây cổ thụ đơn lẻ trước cơn giông. Dùn nem nép vào bếp tìm cái ống thổi. Củi nỏ, than hồng được gió, ngọn lửa bùng lên. Khuôn mặt quắc thước, cặp mắt nghiêm khắc của ông nội hiện ra rõ ràng làm cho Dùn chờn chợn. Nhìn thấy bầu rượu bên cạnh ông nội, Dùn lặng lẽ rót đầy một cái bát, kính cẩn nâng đưa ông. Cụ giáo đỡ bát rượu, đặt xuống nền đất: - Nghe nói bên Tả Chải tổ chức cúng bái, đặt ra lệ cấm bản rồi treo cờ vải đỏ ghi dòng chữ “Vua mới sinh” phải không? Dùn lại giật mình, anh giấu sự lúng túng vào bát rượu. Cụ giáo chậm rãi cảnh cáo: - Mê muội không chỉ làm đổi tính, đổi nết một người mà còn kéo theo cả nhà, cả vùng vào bến mê đấy! Dùn cúi đầu, im lặng. - Con người phải biết lấy phận mình, ở cành này với sang cành khác không gẫy cành thì cũng rơi xuống đất đấy. - ... - Đừng như con rùa mượn mai nữa, đang yên đang lành, xới xáo lên anh có nghĩ đến sau, đến trước, được gì, mất gì không? - .... - Phàm là dân chúng đói khổ thì chỉ mong khắc làm, khắc ăn, việc của nước có vua quan, việc cướp giật có đồng đảng. Trước đây thổ ty, phìa tạo làm mưa làm gió, dân chúng quanh năm nem nép sợ hãi quan trên quan dưới đã đành, được mấy năm nay giời yên, núi yên, người sinh sôi, vật sinh sôi các anh còn muốn gì nữa? - .... - Lấy cái hư, cái hỏng của người để thấy mình đã lớn khôn không phải là người lớn khôn. Lấy cái thời buổi rối ren để đục nước béo cò càng không lớn khôn. Cháu nên bình tĩnh suy xét, thấy cái chưa được đã vội coi thường kẻ khác, lấy đánh giết để cầu lợi, đem bạo để thay loạn, thời thế rối lại càng thêm rối, rồi lại xảy ra cảnh nồi da nấu thịt thôi. - ... - Ta biết can gián nhiều thì trái tai, trái mắt, nhưng ta không cam tâm chờ ngày cả nhà này, dân bản này, Phòng Tô này ngửa bụng như cá trong vũng bị ruốc... Dùn buột miệng: - Cứ dao sợ gỗ rắn, gỗ rắn sợ dao mãi thì làm được cái gì. Cụ giáo ngớ người. Dùn sinh ra đã là kẻ bướng bỉnh, thích kéo rào ngược dòng, không có phép tắc, luật tục, gia pháp ràng buộc, níu giữ thì nó đã là con sói hoang, con hổ dữ rồi, nhưng cãi lại cụ thì giờ mới thấy ở mồm nó lần đầu. Cụ giáo dằn bát rượu xuống nền đất, gằn lên: - Mày phải biết ong có độc đến mấy nhưng gặp sừng trâu cũng phải chừa ra... - Nhưng sừng trâu, sừng bò nào. Mưa gió bão bùng cuốn vạn vật vào cơn lũ ống thì đành chịu, đằng này một nhúm người, bên ngoài không có chỗ che, bên trong rỗng như ống sậy, suốt ngày chỉ nhăm nhăm vào việc có đoạn cuối chứ không thạo đoạn đầu thì con nghe thế nào được. Cụ giáo gầm lên: - Lý sự, lý sự. Từ một nhúm người mà họ đánh đuổi được bọn Pháp, bọn Nhật, giành lại độc lập cho nước Nam này. Một nhúm người mà họ đã dập được nhiều đám cháy, đã xây dựng được chính quyền, nuôi được dân, còn chúng mày, chúng mày... chúng mày thử nhìn ra Lào Cai, sang Sơn La, về Điện Biên xem, nhìn chỗ nào cũng thấy.... mà thôi, những kẻ lấy mồm làm cánh mà muốn che cả bầu trời, lấy tay làm vây mà định bơi qua bốn biển thì đúng thực là một lũ rồ. - Nhưng chúng cháu... - Lửa không nóng mà tro nóng, cái gì có thì bảo có, cái gì không thì bảo không, coi trái, coi phải, nhìn trước nhìn sau cho rõ. Ông hỏi cháu, cháu a dua, chạy theo những kẻ chuyên châm lửa đốt nhà để rồi mình cũng thành kẻ đốt nhà, giết người có nên không? Quây quần, bè đảng để làm cướp mà là phải ư? Tụ họp, khích tướng để biến cái thung lũng này thành nơi chém giết là đúng ư? - ... - Ông già cả lẫn cẫn, lời nói của ông khó vào tai cháu, nhưng cháu ơi, khỉ già biết cành cây khô, thấy cháu đang từ con đường sáng đi vào con đường tối thì ông nhắm mắt làm ngơ sao được, cháu đừng để ngõ cụt chôn vùi cả nhà này, bản này, dân tộc này... Cụ giáo lặng lẽ đứng dậy đi vào buồng, để lại một mình Dùn bàng hoàng, ngơ ngác...
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:06:10 pm » |
|
Cuộc ra hàng Việt Minh cuối năm 1953 của Triệu Tá Dùn không dễ dàng như nhiều người lầm tưởng. Lúc này quan thầy nước Pháp đang ở thế cùng đường, những kẻ sống dựa và quan thầy cũng cùng đường luôn. Đói! Đói kinh khủng. Bọn phỉ có ba nguồn tiếp tế. Một của người nhà giời, tức là những máy bay của quan thầy thì tiếng súng mạn Điện Biên hút hồn những con chim sắt thành ra cả ngày chỉ vài lần có tiếng ì ầm lai vãng. Một rút trong ruột dân bản thì vòng vây của bộ đội Việt Minh, hoạt động của các liên gia ngày càng thắt chặt, có lọt được rau cỏ, ngô gạo ra rừng thì cũng nhỏ giọt. Một mua của bên Trung Quốc thì phải có tiền, mà tiền bạc trong thời buổi loạn lạc kẻ nào cũng khư khư như đười ươi giữ ống thì lấy đâu ra. Ba nguồn tiếp tế hầu như bị cắt, cái ăn của phỉ phải trông vào rừng, tìm được gì ăn nấy. Củ nâu thái mỏng, cho vào sọt mang ra suối ngâm ba bốn ngày cho hết nhựa rồi cho vào đồ, cẩn thận như làm lễ tế giời vậy mà khi ăn chẳng khác gì cho củ chuối chưa luộc vào mồm. Củ mài ăn quên chết nhưng lôi được từ ruột núi lên cực nhọc vô cùng. Thú rừng nghe tiếng súng xua đuổi dai dẳng sợ hãi chạy tút sang tận bên Lào, bên Miến Điện... Đói khổ làm người ta như con thú hoang. Nhóm nọ trấn lột, cướp bóc nhóm kia, thù hằn, chém giết lẫn nhau, máu mủ chia lìa. Phỉ sợ bộ đội, nhưng phỉ sợ đồng bọn hơn. Một lần trung đội của Dùn tập kích bắt được ba con ngựa thồ muối của Chính phủ lên tiếp tế cho đồng bào. Muối chưa kịp về đến hang, người chưa kịp hân hoan đã bị một cánh quân bịt mặt cướp trắng. Với người miền núi, muối là vàng. Muối là phương tiện để giao dịch, trao đổi. Muối để phân biệt lòng dạ con người. Muối để tỏ rõ ai mạnh hơn ai. Không có muối, thận không đẩy được nước ra nên dẫn tới phù nề. Đàn ông phù từ chân, phụ nữ phù từ mặt, đội quân toàn những thằng mang đôi chân phù thũng như hai cái vại thì còn di chuyển, đánh đấm gì nữa. Trước đây bọn phỉ đã lấy số muối còn tồn lại để khống chế dân, mua chuộc lòng người. Bao ngày chui lủi, đói gạo, đói thịt, đói muối làm cho cả bọn mắt trắng dã, mồm miệng nhạt thếch, chân tay bải hoải, thân mình còn ngắc ngoải nói gì đến khống chế, mua chuộc.
Giữa lúc cả bọn đang lử lả vì đói khát, sợ hãi thì Sắn điều Dùn về nhà gặp ông nội. Dùn nửa nhận lời, nửa không. Gạo ngô, trâu ngựa Dùn không sợ. Kho cót chất chồng sức mấy mà khuân với vác. Trâu ngựa cả đàn, vơi vài con quá lắm cũng như vơi vài muôi nước trong chảo thắng cố. Nhưng Dùn biết Sắn nhằm vào Dùn không chỉ nhằm vào kho của cải, mà là nhằm vào ông nội của anh. Được ông nội của anh là Sắn không chỉ được Sín Chải mà còn được lòng dân cả vùng. Từ khi biết làm người, Dùn đã biết ông nội là cây cột cái cho cả Sín Chải trông vào. Các nhà trong bản, từ việc học hành, đẻ con, đón con dâu, con gái đi lấy chồng đến việc đặt tên con, xem tuổi, bấm số, xem giờ đặt nóc nhà đều nhờ cậy đến cụ. Oan ức, kiện tụng, tới tới cửa quan phải nhờ cụ dàn xếp. Ở cái nơi sức mạnh là luật bất thành văn như Phòng Tô, chuyện xưng hùng, xưng bá, tranh giành, cướp giật nổi lên thường xuyên, chỉ cần cái cớ bằng móng tay cũng có thể động tay động thủ. Được thì trèo lên đầu, lên cổ nhau. Thua thì hoặc cho kiềng lên lưng ngựa đi tìm vùng đất mới, hoặc đem thân làm trâu ngựa tôi tớ, đem vợ con làm cái giẻ lót nồi cho nhà kẻ thắng. Song với cái thế lưng dựa vào dãy Pu Sam Cáp điệp trùng, mặt nhìn xuống thung lũng Tam Đường trù phú, Sín Chải luôn vững như bàn thạch, luôn đứng ngoài các cuộc giao tranh, nhòm ngó. Phòng ngự ư! Phía sau, rừng núi bạt ngàn hoang dại, cây che chở cho người, người dung dưỡng cho cây. Tiến công ư? Mở cửa là đất nhà, rừng nhà, là có thể thiên biến vạn hóa. Dù trộm dù cướp gì cũng đều sợ lạ nước lạ cái, đều tránh đối đầu với chủ nhà, nhất là chủ nhà thông thạo từng nhánh cây ngọn cỏ của đất mình. Lẩn trốn ư? Ra sau nhà là có thể như con rắn xanh mất hút vào rừng, vào núi...
Từ bao đời nay sống giữa rừng núi bao la, lòng người hiểm độc, người Sín Chải lấy sự khắc làm khắc ăn, khắc tự bảo vệ mình làm phương thức sống. Bên ngoài Sín Chải có động rừng, sập đất, đường vào Phòng Tô có tắc nghẽn từ mùa gặt này sang mùa gặt khác thì trâu ngựa Sín Chải vẫn sinh sôi nảy nở; bếp người Sín Chải vẫn đỏ lửa mỗi ngày ba lần; sàn nhà người Sín Chải vẫn có ngô, có thóc. Từ tự nhiên, từ hun đúc mà thành, mà từ lâu đất, người Sín Chải là cái pháo đài cho tiến thoái, là kho lẫm dự trữ của Phòng Tô. Vật đổi sao dời, đất nước biến loạn liên miên, nhưng kẻ nào nổi lên nắm quyền hành, nắm dân cũng phải coi trọng Sín Chải, nhất là người thông hiểu sách vở, thông hiểu lý lẽ, lại đứng đầu dòng họ, đứng đầu bản như cụ giáo. Và nữa, với cái thế vào rừng hổ yêu, xuống nước thuồng luồng quý nhưng cụ giáo không tham lam, nghiêng ngả, luôn lấy sự trung dung làm gốc. Chính từ trung dung, khôn khéo lựa chiều, cụ và cả họ Triệu ở Sín Chải đã chiều và đã sống được qua mấy chế độ xã hội. Tri châu họ Đèo mời cụ làm tổng quản, cai quản năm xã trong vùng, cụ từ chối. Để đáp lại nhã ý của quan trên cụ cho con cháu mang tặng nhà họ Đèo năm con ngựa đực, năm con trâu cái. Bộ đội Việt Minh giải phóng Phòng Tô, cụ cùng mười hai con cháu cưỡi ngựa đi dự mít tinh mừng chiến thắng, sau mít tinh, mười ba con ngựa ở lại với bộ đội còn mười ba người cưỡi ngựa đi bộ về. Phỉ nổi lên khắp Phòng Tô, cụ cho tặng chúng năm con trâu, năm bong bóng trâu rượu. Phỉ ép con cháu cụ phải theo, không giữ nổi con nổi cháu, nhưng trước khi chúng đi, trước bàn thờ tổ tiên, cụ dặn dò cặn kẽ từng đứa. Cụ cho rằng phỉ là tàn bạo, là nhất thời, song trong tình thế này muốn còn dòng còn giống thì phải theo chúng. “Thời thế buộc phải tính đến chuyện bấc đến đâu dầu đến đấy, nhưng làm gì thì cũng phải tránh việc ác, việc ti tiện, bỉ ổi. Làm sao khi bước ra ngõ còn nhìn thấy nhau, về với tổ tiên còn có kẻ đưa người đón.”. Lời cụ dặn như đánh đục vào cột, mười mấy con cháu họ Triệu cầm súng theo phỉ mà đứa nào cũng tâm sạch, lòng sạch như suối nguồn.
Lần ấy Dùn về nhà lấy đồ tiếp tế đúng lúc Bí thư châu ủy Đoàn Văn Long đang thực hiện “ba cùng” tại nhà mình. Thoạt biết tin Long trong nhà Dùn định trở lại rừng ngay, nhưng cái máu ngang ngạnh nhà họ Triệu đã giữ chân anh lại “xem ong độc đốt sừng trâu, nọc rơi, ong rơi thế nào?”.
Đêm ấy nấp trong cái khe nhỏ ép lại nhờ hai bức vách cạnh bếp Dùn được chứng kiến hai người, một con hổ của rừng sâu, một con rồng đang vần vũ ngồi uống rượu nói chuyện thời thế. Và cũng đêm ấy Dùn mới vỡ vạc nguồn gốc, cội rễ của dân tộc mình.
Ẩn cư - Nỗi đau truyền đời của những người Dao. Mọi thứ đều có ngọn có nguồn. Giống như các loài biết nóng, lạnh, mừng vui, sợ hãi phải trải qua nạn đại hồng thủy dẫn đến tuyệt diệt nên nghĩ đến nước là sợ, là tránh. Người Dao cũng vậy, từ trời hành, người hành, mưa dồn gió đuổi tưởng như đến tuyệt diệt người Dao buộc phải ra đi rồi âm thầm nối nhau tạo nên cộng đồng người Dao ở đất này. Con chim bị tên gặp làn cây cong đã giật mình nhắm mắt huống hồ cả một tộc người tưởng như không còn đường sống. Những “sơn tử” (con của núi rừng), người đến trước, người đến sau, người bản địa, người nhập cư, dẫu quây quần sớm tối, giúp nhau khai khẩn, trồng trọt, săn bắn, song họ vẫn ẩn ức trong mình tâm trạng ăn nhờ ở đậu. Dẫu có lập bản, lập trại, tạo dựng cho mình một lãnh địa riêng nhưng canh cánh lo ăn, lo mặc, lo tồn tại khiến cho trẻ già, trai gái co mình trong cái thế cam chịu. Người sống quần cư đông đặc, quấn lấy nhau để dễ lo cho mình, lo cho người, mình thì làm nhà rải rác, chọc lỗ bỏ hạt, nay đây mai đó. Người khoe sừng khoe vuốt, mình đi cầu lựa cầu, đi đường lựa đường. Bao năm cố quây quanh mình lớn, nhỏ, sang, hèn, trong, ngoài, trên, dưới, gặp ống theo ống, gặp bầu theo bầu vậy mà nào có yên thân, mở mắt là thấy kẻ chèn ép, lợi dụng, nhắm mắt là có kẻ dẫn xuống vực.
Những lời gan ruột buột ra từ miệng hai người làm cho Dùn bất ngờ. Chưa bao giờ ông nội Dùn đưa mình vào vòng giam nhốt hay mềm lòng với kẻ khác màu áo, vậy mà bây giờ!...
Cuộc trò chuyện bên ngoài vẫn vọng vào lúc to, lúc nhỏ. Tiếng ông nội:
- Ta biết thế nào cán bộ cũng đến tìm ta. Ta biết quấn lấy nhau thì sống, chia nhau ra thì chết, nhưng thời buổi loạn lạc, mạng người nhẹ hơn mạng dê, mạng chó, nên ta coi thỏa hiệp để tồn tại là tốt nhất.
Tiếng Long:
- Nhưng thưa cụ, như thế có phải là quạt thóc chờ gió. Thực tế đám mây ở giữa không cùng, ngẫm đi chẳng làm hại ai, ngẫm lại chẳng ai hại mình, nhưng quanh năm nổi trôi, biến hóa, cuối cùng cũng vẫn buộc phải rõ ràng, hoặc là làm lợi cho mùa màng, cây cối, hoặc gây lũ lụt làm khổ cho muôn loài.
Ông nội:
- Nhưng từ lâu ta đã thoát khỏi vòng danh lợi.
Long:
- Dạ thưa cụ, xin cụ cho cháu nói thật. Cụ nói từ chối danh lợi chỉ đúng một phần, cốt lõi là cụ ngại động chạm, ngại phá vỡ. Cụ coi sự hỗn loạn không có sự góp mặt của cụ ư? Cụ ơi, một con ngựa đau cả tàu ngựa có ăn nổi cỏ không? Lòng thiện bao trùm là một việc tốt, song trong lòng cái ác đang hoành hành thì lòng thiện chưa đủ.
Ông nội:
- Anh đến thuyết phục ta có điều kiện gì chăng?
Long:
- Dạ thưa cụ, điều kiện cháu không dám, song đường đi của cụ với đường đi của cách mạng là một, vậy tại sao cụ cứ đứng ở bờ bên này còn cách mạng cứ ở bờ bên kia?
Ông nội:
- Nói gì thì nói, tục lụy bao giờ cũng đặt cái lợi lên bàn thờ, ta không muốn thế, ta muốn mãi là ta. Đời ta, những cái đã qua ta đã không làm được, những cái hiện tại ta đang cố lấy tâm, lấy thiện để cứu rỗi. Còn ngày mai ư! Ta sửa mình còn chưa xong còn mong đứng về phía nào để dạy dỗ, tu sửa.
- Cháu biết. Cụ không muốn đứng về bên này hay bên kia, nhưng bóng của cụ sáng che hướng Đông, chiều che hướng Tây, một lời cụ nói ra thành gió trải khắp rừng, một việc cụ làm là cả bản làm theo.
- Cụ ơi! Cây cỏ sống chỗ nào biết chỗ ấy, nhưng con người khác, một nhà không thể là một bản, một bản không thể là một vùng, một vùng không thể là một nước. Làm sao cụ có thể ngồi nhìn đất đai dân chúng của mình bị chúng chia cắt nát tan mà không động tâm suy nghĩ.
Rỉ rả, rỉ rả, hai dòng nước đang nhập làm một khiến cho Dùn không thể không suy ngẫm. Chế độ mà đồng bọn Dùn ra sức bôi đen dẫu chưa làm được gì nhiều, song qua nghe bằng tai, nhìn bằng mắt, anh thấy những con người gây dựng lên chế độ ấy không xấu như những lời đồn thổi. Nghĩ người lại nghĩ đến mình. Cái ân nghĩa lớn nhất của dân tộc Việt là sẵn lòng đùm bọc thương yêu những kẻ hoạn nạn. Bao đời qua những người lưu vong cùng những người bản địa luôn chung tay, chung sức chống chọi thiên nhiên, đánh đuổi xâm lăng, giữ yên nhà, yên nước, bây giờ nồi da nấu thịt nên chăng? Bao mâu thuẫn lớn, nhỏ, nặng, nhẹ đều có chung cái nguồn lợi danh, chính kiến.
Lợi danh, chính kiến ư?
Dùn lại áp tai vào vách để thu nhận những tiếng nói từ bên ngoài.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:17:37 pm » |
|
Tiếng ông nội vọng vào tai Dùn mồn một:
- Ta đã uống nước nhiều nguồn, trèo qua nhiều ngọn núi, ta biết sẽ khó có chế độ nào tốt bằng chế độ các anh đang gây dựng. Những gì ta, con cháu ta đã làm, trái thì bỏ đi, phải thì cố giữ, kẻ kéo nước vào thuyền, đưa hổ về bản đâu, ra ta bảo.
Nghe ông nội gọi, Dùn không thể không ra.
Nhìn thấy Dùn, Long không thay đổi nét mặt, anh với cái túi da dê rót đầy một bát rượu đưa cho Dùn:
- Anh uống đi. Sống giữa cái vùng giết người không mắc tội, cướp giật không ai ngăn cấm, muốn sống thì phải tìm chỗ dựa là phải thôi.
Câu khích của Long chạm vào lòng tự ái của Dùn, anh đỡ bát rượu rồi đặt mạnh xuống mâm:
- Có những cái chưa chế ngự được thì phải theo. Theo thế là theo tạm thời, là tận dụng cơ hội để nuôi lớn mình, thế chưa phải là biết hay sao?
Long nâng bát rượu lên nhấp một chút rồi đặt nhẹ xuống mâm, ôn tồn:
- Người ta có thế xả thân vì chính kiến, lợi lộc, nhưng anh xả thân vì cái gì?
- Vì... vì chưa tâm phục, khẩu phục... Thế thôi.
Long vẫn từ tốn:
- Tôi biết anh chưa tin vào Việt Minh. Tôi biết sự thành kiến dễ lấp mắt con người, nhất là những thứ mới nhìn thấy bằng tai, song ta cứ bày lên trước bếp lửa để tính rõ phải trái nhé.
- ...
- Theo anh Việt Minh là gì?
- Là, là...
Long:
- Là những người đi cướp đất, cướp người chẳng khác gì bọn lính khố đỏ, bọn Quốc dân đảng chứ gì?
Dùn:
- Cũng không hẳn thế, nhưng rừng có chủ của rừng, biển có chủ của biển, ai có phận nấy rồi, sao các người lại đến xáo tung lên.
Long:
- Nhưng ai đã làm chủ đất này, người Pháp, người Nhật, họ Đèo, Triệu Tá Sắn hay các anh?
- ...
- Ai thì các anh quá biết rồi, vậy mà không hiểu tại sao các anh vẫn như con ếch cứ thấy động là nhảy, bất kể trước mặt là đất bằng hay vực sâu.
- Nhưng các anh cũng phải hiểu cho chúng tôi, một bên là hổ, một bên là gấu, được lòng gấu thì chết với hổ, được lòng hổ thì chết với gấu, ngồi trên chảo lửa thì phải tìm đường nhảy ra thôi.
- Nhưng nhảy ra đâu. Đi theo khẩu hiệu cướp châu, cướp muối, cướp thóc, diệt cán bộ của bọn phỉ ư? Từ đi theo, từ tiếp tay cho phỉ các anh đã làm cho đâu đâu cũng cha mẹ xa con, vợ xa chồng, đói khát, ốm đau, bệnh dịch tràn lan, như thế đúng hay không đúng?
- Biến loạn chưa chắc đã từ đói khát, nhưng biến loạn chắc chắn bắt đầu từ chính kiến, từ gắng thắng được người...
- Thôi đi, đừng lấy dao chặt trong sọt nữa - Cụ giáo gầm lên - Ta nói cho ngươi biết trời đã sáng, mưa đã khắp, người đã có đường có lối, các ngươi hãy quay súng trở về đi, đừng có làm cái việc bắn giết vô nghĩa nữa.
- Dạ nhưng...
- Giữ cửa có nhiều cách, song dù cửa lim cửa sến, chốt sắt khóa đồng gì cũng không chắc chắn bằng cách hợp lực cùng người tốt đâu.
Kiên quyết của ông nội cùng sự thuyết phục của Long làm Dùn xiêu lòng. Cuộc gặp gỡ với Long đã thay đổi đời Dùn, anh đã cùng mười hai anh em họ Triệu mang súng ra hàng, đã được đứng vào hàng ngũ và mang sức gấu, sức hổ ra làm việc cho cách mạng, cho dân tộc mình. Mấy năm làm việc chính quyền là mấy năm, một bên ngưỡng mộ trời đất, núi non, sông nước, tôn kính tổ tiên và các bậc thần linh, một bên một lòng phụng sự công việc, muôn lời nói ra đều thuận tai, muôn vật làm ra đều thuận mắt, vậy mà... tay Dùn đã vấy máu rồi biết rửa sao đây?
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:19:29 pm » |
|
Chương bảy Đợi cho Vương ngủ say, Đàu sẽ sàng ngồi dậy. Cô khẽ khàng thổi cho ngọn lửa bùng lên. Trong sương mù, ngọn lửa không thành hình, thành dạng mà toẽ ra như bị đè vỡ, những sợi khói ngoằn ngoèo bay lên lơ lửng mãi không tan. Trong ánh lửa bập bùng ánh mắt Đàu ánh lên sự khát khao, thèm muốn. Bên kia đống lửa Vương đã ngủ ngon lành. Với vóc dáng cao lớn, các thớ thịt vồng lên cuồn cuộn, nước da màu đồng hun dạn dày sương gió, lúc thức Vương là con hổ giữa rừng, lúc ngủ Vương như con trăn lười sưởi nắng. Trăng giữa tháng trèo qua đỉnh núi rờ rỡ như mặt người đàn bà đang kỳ khai hoa mãn nguyệt. Khắp bầu trời mênh mông hàng vạn vì sao chi chít. Thỉnh thoảng từng đám mây lãng đãng khỏa lấp ánh trăng, ánh sao rồi ông giời lại vén mây cho muôn vật rõ ràng. Xa xa, những dãy núi đuổi nhau mơ màng, lặng lẽ. Đâu đây tiếng gà eo óc báo hiệu sự hiện diện của con người. Mặc dù mệt, rất mệt, nhưng Đàu không muốn thiếp đi trong giây phút hiếm hoi bên cạnh người cô yêu dấu, nhất là khi sự bao bọc của màn đêm không tạo nên sự yên dạ mà trái lại nó càng khuấy lên sự phấp phỏng, chập chờn. Nhìn Vương ngủ ngon lành lòng cô dâng lên nỗi niềm thương cảm. Thương cảm cho anh, cho chính mình, cả hai đang vẫy vùng giữa vòng vây của hai nhà mà không sao thoát ra được. Đêm làm bạn với đống lửa dài như cả một đời người. Cái được, cái mất của những lần mặt trời đi qua phơi ra trước chập chờn củi lửa, như bát rượu suông trước mặt Đàu. Đàu gặp Vương như định mệnh. Vào những ngày đầu mùa thu một con bệnh quái ác làm cho Đàu nằm liệt giường, hết sốt nóng lại sốt lạnh. Mẹ Đàu mất sớm, hai bố con một cây một cọc nuôi nhau, Đàu ốm, bố cô lật đật chạy ngược chạy xuôi khắp rừng, khắp bản. Bố mời thày thuốc. Đàu hết phải nhắm mắt uống những bát thuốc đắng như mật thú đến nằm chết giả cho thày châm cứu, bấm huyệt mà người ngợm vẫn như bếp lửa đang cháy. Bố mời thày cúng. Thày cúng cúng ba ngày ba đêm, đến sáng thứ tư tự nhiên Đàu bật dậy, mọi thứ trước mắt Đàu mờ ảo, thật giả. Mờ ảo trong ánh lửa chập chờn từ cái đĩa đèn đốt bằng mỡ lợn, mờ ảo trong sự lo lắng, căng thẳng của những người đàn ông, đàn bà ngồi lố nhố quanh bếp, mờ ảo về thân phận của mình... Tất cả những gì quanh cô, trong cô đều mờ mờ ảo ảo nhưng lời phán quyết của thày thì rõ ràng, tàn nhẫn: - Nước xa không cứu được lửa gần rồi! Lời của thày như lời của Diêm vương làm cho mọi người rụng rời, ngơ ngác. Bố Đàu đang quỳ trước bàn thờ nhổm lên nắm lấy tay thày hỏi dồn: - Sao? Thày bảo sao? Mặt thày vẫn lạnh tanh. Lời thày vẫn như thả vào tai người không sống ở thế gian này: - Nó không ở trong bản được nữa, nó đang gây tai hoạ cho cả bản đấy. Mọi người lặng đi rồi tiếng rì rầm nổi lên: - Con ma theo nó nhập vào làm hại cả bản rồi. - Năm sáu người trong bản bị ma làm theo nó rồi. - Phải đưa nó ra khỏi bản thôi, để ở đây cả bản chết hết đấy... Bố Đàu lặng đi, ông đau khổ níu kéo, cầu cứu từng người: - Cây sắp đổ sao lại dồn nhát thế này các ông, các bà ơi! - Cháu mồ côi mồ cút từ bé các ông các bà ơi! Mọi người lao xao: - Ông hiểu sai ý thày rồi, đưa cháu ra khỏi bản chữa bệnh để tránh tai hoạ cho bản chứ ai đẩy cháu đến cùng đường. - Thày nói đúng đấy, bác cứ cho cháu ra nhà coi nương chạy chữa, đừng để nước chảy kéo theo đá lở. Phụ hoạ cho lời mọi người, tại một nhà trong bản đang cúng ma cho một thằng bé đang bị sốt mê man. Tiếng chuông, tiếng cúng của thầy trong đêm sâu càng làm cho không khí ảm đạm, ma quái. Bố mẹ, chú bác, anh em thằng bé nét mặt căng thẳng, thành kính quỳ sau lưng thầy, mỗi lần thầy lắc chuông cả nhà lại cúi rạp xuống xuýt xoa. Thầy vùng đứng dậy, miệng thầy cúng, chân thầy nhảy lò cò, tay thầy cầm roi đánh ma vụt quanh giường, rồi vụt túi bụi lên người thằng bé. Thằng bé kêu thét lên rồi lịm đi. Mọi người trong nhà đều nhắm nghiền mắt, cúi rạp xuống cầu khấn. Tại một nhà khác. Trong nhà bà chủ nhà đang nằm sốt run, trên cái sàn dựng trước cửa chủ nhà đang làm lễ đuổi ma. Ông thành kính cúng bái. Sau một hồi cúng dồn dập ông vùng đứng dậy vung gạo muối lung tung rồi sụp xuống. Tại một nhà khác. Trong căn nhà tồi tàn, vách nứa trống huếch trống hoác, mái cọ thủng lỗ chỗ, bên ngọn đèn dầu một thiếu phụ đang bế đứa con bị sốt quặt quẹo đi đi lại lai. Chị lo lắng, đau khổ gào lên: “Hỡi giời đất, hỡi thần rừng, thần núi, nhà con có tội tình gì mà nỡ đầy đọa con con thế này hở giời?”, “Hỡi con thần nanh đỏ mỏ sao mày không chết dấm chết dúi ngoài rừng, ngoài suối mà lại mang ma, mang quỷ về bản hại con tao thế này?”, “Con ơi, con bị làm sao thì mẹ cũng theo con. Không, trước khi theo con mẹ sẽ làm cho đứa nào gây tai họa cho bản không còn đường sống con ơi!”. Trong tĩnh lặng, tiếng kêu gào đau khổ của người đàn bà rót vào tai mỗi người, mỗi nhà từng tiếng, từng tiếng một cách tàn nhẫn. Đàu gục xuống, hồn vía cô trả hết cho giời, cho đất.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:27:11 pm gửi bởi bodoibienphong »
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:21:25 pm » |
|
Đàu không biết bố và dân bản tống tiễn mình ra khỏi bản bằng cách nào, cô chỉ biết khi tỉnh dậy đã thấy mình bơ vơ trong cái lều nằm chơ vơ giữa nương lúa đã thu hoạch. Bốn bề quanh lều trống trải, hoang vắng, sương giăng mù mịt, cây cỏ, chiếu chăn ướt át hơi sương. Đàu thầm cảm ơn sự chu đáo của bố. Lều tuy nhỏ, lợp tranh, vách nứa, song được làm chắc chắn, cẩn thận. Trong lều có giường kên bằng vầu đập dập, bốn cái chân giường cũng bằng vầu chôn chắc chắn, cánh cửa bằng vầu được cài từ bên trong. Trên vách lều treo lủng lẳng những túi gạo, rau. Ngoài cửa lều cắm cành bang báo trong nhà có người ốm cấm người lạ vào. Bếp lửa ở sát ngay lối ra vào, cạnh bếp là cái ấm sắc thuốc. Trên gác bếp thòng xuống mấy tảng thịt cán bá ám khói. Với những thứ đang có trong lều, nếu không bị con bệnh lôi đi Đàu có thể tự kéo dài đời mình ra dăm bẩy ngày.
Đàu gắng gượng lần ra ngồi bệt trên tảng đá trước cửa lán.
Trời sang trưa. Bầu trời ong ong như trong chum. Dòng nước trên con suối trước mặt trong xanh như lọc qua một biển cát song sự nổi giận của núi rừng vẫn ăn chặt vào da thịt của hai bên bờ, của cây cối. Cảnh vật lặng lẽ, đìu hiu. Giữa nương, một cây cơi cổ thụ với những dây leo chằng chịt, dấu tích của thời khai thiên lập địa còn sót lại đứng chơ vơ, lạc lõng. Không có gió, không có nắng, những mắt lá, mắt cây, mắt giời chết lặng cùng cây.
Đàu nhìn ra mênh mông. Màu xanh của rừng, của núi khuấy lên trong cô sự náo nức, ham sống. Đã lâu, lâu lắm rồi Đàu có thói quen đón bình minh ở trong rừng. Còn gì sung sướng hơn mỗi buổi sáng, trời đất, cây lá, ý nghĩ tinh khôi lại được từng làn gió mang hơi thở của rừng thấm vào da thịt, lại được ánh nắng ban mai luồn vào hâm nóng từng mạch máu. Trong rừng không có con vật nào tồn tại biệt lập, mỗi loài đều được giời đất ban tặng cách thể hiện sự tồn tại, thể hiện sự hòa đồng. Tiếng hót quyến rũ của những con hoạ mi làm cho khu rừng vang lên những âm thanh vui nhộn, tha thiết. Những con cú cụp bộ áo tơi xuống song không quên rúc lên những tiếng dài gọi bạn...
Đàu nghĩ tới thân phận mình. Cô như muốn phanh ngực áo ra mà thề thốt với trời xanh. Cái án oan nghiệt mà mọi người gán cho cô khiến cô uất ức, muốn giãi bày mà không giãi bày nổi, muốn chôn vùi cũng không xong, nó cứ lơ lửng, mông lung đến chính cô cũng không biết thật hay giả. Cô giơ hai tay ôm lấy mặt, hai bàn tay bịt không kín khuôn mặt thành ra hình ảnh múa may quay cuồng của ông thầy cúng già cứ hiện lên mồn một. Trời ơi! Đâu rồi con bé Đàu, đám mây của giời vô tư, trong sáng, mũm mĩm như bắp ngô căng sữa. Đâu rồi hai chân sáo lúc nào cũng nhảy tâng tâng, giọng nói lúc nào cũng nhí nhảnh, hồn nhiên...
Đàu vò võ đếm ngày đếm đêm, đếm mưa đếm nắng suốt cả tuần cùng siêu thuốc, cùng những đồ tiếp tế của bố. Cô những tưởng ngoài người bố tội nghiệp cô vĩnh viễn không được tiếp xúc với con người thì Vương đến.
Hôm đó trời đất như hai kẻ yêu nhau đang hờn đang dỗi.
Hôm đó trời thoắt mưa, thoắt nắng làm con bệnh quỷ ám trong người trỗi dậy bắt tình bắt tội Đàu.
Hôm đó không đúng ngày mang gạo mang thuốc của bố nên Đàu tự do lột quần lột áo một sống một chết với con bệnh.
Giữa lúc Đàu hết sốt lạnh đến sốt nóng thì cánh cửa bật mở, một chàng trai khỏe mạnh, người đầy máu me, vai vác con gấu như con lợn tạ quẳng ịch xuống giữa nền lều rồi ngồi bệt xuống thở dốc.
Sau ngỡ ngàng đến hoảng sợ, Đàu co rúm vào trong cái chăn chiên, cái chăn quá nhỏ nên Đàu kéo chỗ này chỗ kia hở, khiến cô lúng túng, run rẩy.
Chàng trai định hình được mọi vật trong nhà, anh luống cuống lùi dần ra cửa.
Đàu run run mặc quần áo rồi cơn sốt lại ập đến. Cô lịm đi không biết bao lâu, khi tỉnh dậy cô thấy con gấu vẫn nằm chềnh ềnh trên nền đất còn chàng trai đang lúi húi sắc thuốc cho cô. Tủi nhục, đau khổ dằn vặt trong suốt những ngày bị bỏ rơi hòa quyện với rưng rưng của con tim lá gan trào lên khiến cô run lên trong tiếng nấc.
Ái ngại, thương cảm cho cô, chàng trai đến bên cô vỗ về, an ủi, cô cảm động, bày ra trước mắt anh thân phận bèo bọt và bệnh tật của mình. Đáp lại sự chân thành của cô, anh hào hứng kể về mình.
Ngày ấy, đêm ấy, đêm sau, đêm sau nữa chàng trai ở lại bên cô. Anh lấy mật gấu cho cô uống, chặt bốn cái chân gấu ninh cháo bồi bổ cho cô. Thấy cô ngại ngùng anh cho cô là trẻ con, hổ ốm còn gọi đàn huống chi là con người, anh bảo khi khỏi bệnh cô trả ơn bằng cách giữ cho bếp lửa nhà anh cháy ngày cháy đêm là được. Lời ngọt chết kiến của anh làm cho tim cô như nhảy khỏi ngực. Gia đình anh danh giá, giàu có, bản thân anh vạm vỡ, khỏe mạnh, tài giỏi, thông thạo cả chữ Nôm Dao lẫn chữ Quốc ngữ, còn cô bị ma làm, bị cả dân bản đuổi ra rừng, vậy mà anh vẫn thương cô, lo lắng cho cô, vậy mà... Lòng say lòng, lửa bén củi, cô ngả vào lòng anh tin cậy, cô đã trao cho anh thứ quý nhất của đời mình, mãn nguyện rồi cô vừa say sưa ngắm anh, vừa mơ tưởng tới ngày được sống trong cái thiên đường do hai người tạo dựng.
Đàu tưởng cả nhà Vương sẽ hân hoan đón cô, bố cô sẽ cám ơn giời đất đã xe duyên cho hai người, nào ngờ, ngày bố đưa gạo, rau, thuốc lên cho cô là ngày anh và cô gặp sóng gió. Cô không biết tại sao cuộc nói chuyện giữa anh và bố đang thuận như nước chảy bỗng bố cô nổi giông nổi bão khi biết bố anh là chủ tịch xã Sín Chải. Và bố anh nữa. Anh vừa nói đến tên bố cô là bố anh đã gầm lên cấm cửa. Sự quyết liệt rẽ duyên của hai ông bố khiến cô và anh như Ngưu Lang Chức Nữ. Ngưu Lang Chức Nữ còn một năm đàng hoàng gặp nhau một lần, còn anh và cô muốn gặp được nhau phải lận đận qua bao nhiêu dối lừa, khổ ải.
Nước lạnh thổi mãi vẫn không thành nước nóng, chống không chống được, níu kéo, vụng trộm biết được bao lâu. Trái tim phản kháng mãi không thành, cố hóa đá mà không được khiến cô và anh phải co vào mình trong sự thầm lặng, xót xa. Tình yêu là gì? Là ngọn gió làm quẩn chân người, chân ngựa? Là sợi dây thừng buộc vào cổ con nghé non tơ? Là cái mà người ta cố quên nhưng răng cứ đè nhầm lưỡi, bước chân làm nhỡ bước chân? Là lúc mê mải bay nhảy trên chín tầng mây, lúc chống chếnh như ba ngày không có gì bỏ vào bụng?... Nhiều lúc Đàu phải úp mặt vào đống quần áo mốc sì thổn thức cho vợi bớt thống khổ. Nhiều đêm không ngủ, trèo lên mỏm đồi chờ mây ăn trăng cô chỉ muốn cho nắm lá ngón vào mồm cho xong tội. Trời ơi! Nếu mọi cái người lớn đều bí hiểm, đều đúng, cô và anh chỉ là cây gậy trong tay họ thì anh và cô còn sống làm gì.
Đã mấy lần cô và anh chẻ nhỏ sự cấm đoán của hai ông bố khắc nghiệt ra để tìm rõ nguyên do, nhưng lần nào cả hai cũng đều như con kiến leo phải cành cụt. Họ hàng hang hốc ư? Anh họ Triệu, cô họ Phàn - Người Dao ở đất này mười đời thì mười đời hai họ chưa một lần xe duyên, lấy số. Môn đăng hộ đối ư? Chưa một lần hai nhà đưa danh giá, giàu có ra để ngăn cản. Xứng đôi vừa lứa ư? Anh đẹp trai, khỏe mạnh, nhanh nhẹn như con báo thì cô cũng vóc dáng, tính nết trời cho. Vậy thì từ cái gì? Vì cái gì? Phải chăng hai họ ghét bỏ nhau từ kiếp trước? Phải chăng hai ông bố gây thù chuốc oán nhau từ thời làm lính họ Đèo? Làm con suối, con sông đổi dòng khó như với tay tới trời nhưng quyết tâm là có thể làm được, làm thay đổi ý chí của người đánh đục vào cột có gắng đến mấy cũng cầm như cái lá trôi sông.
Đêm chầm chậm chuyển dần về sáng, bầu trời toác dần trong sương mù, không khí lạnh lẽo, giá buốt vẫn úp chụp lên mặt đất nhớp nháp, bẩn thỉu, song bóng ngày tràn tới thì bóng đêm lui, những phấp phỏng hun hút của đêm dần dần được xóa nhòa.
Đàu lặng lẽ thở dài, sau canh giờ nữa cô lại phải chia tay anh, biết đến lúc nào anh và cô lại thoát khỏi vòng cương tỏa. Cô nhẹ nhàng nằm ghé sát bên Vương. Vụng trộm, đau khổ làm cả hai rộc rạc. Lo lắng, mất ngủ làm cho Vương như đang mỡ màng, sức lực thành cái cây bị bứng khỏi đất. Đàu cũng sa sút không kém, da dẻ cô sạm lại, hai mắt quầng sâu. Cả hai cố nén lòng chờ đợi ngày mai, dẫu biết ngày mai chẳng dẫn đi đến đâu cả.
Đàu đưa tay vuốt những sợi tóc lòa xòa trên trán Vương. Những ngón tay thơm mùi sữa tươi làm cho Vương tỉnh giấc, một cảm giác dễ chịu, rạo rực lan tỏa khắp cơ thể, Vương quài tay kéo Đàu nằm xuống nệm lá. Trong vòng tay của người chung da chung thịt, Đàu ngước nhìn lên bầu trời trinh trắng một cách mãn nguyện. Ông giời, bà đất đã sinh ra người đực, người cái, đã cho mỗi người có cái để mê nhau, hút nhau, đưa nhau lên chín tầng giời, tại sao cô và anh lại không tận hưởng những gì giời đất ban tặng mà lại cứ đeo hòn đá nặng vào cổ.
Nhìn Đàu đang chuẩn bị chui vào thác, Vương nhẹ nhàng trườn lên người cô, hôn lên cái mũi hếch ngây thơ của người yêu, cậu hỏi:
- Con rái cá bé nhỏ ơi, em nghĩ ngợi gì thế?
Đàu nhắm mắt, lắc đầu.
Tưởng người yêu đang nghĩ về những tảng đá cản đường, Vương an ủi:
- Đừng nghĩ ngợi gì nữa, anh không tin cả hai nhà sắt đá mãi được.
Câu an ủi của Vương kéo tuột Đàu về thực tại, cô thở dài, nói không ra hơi, một động thái không hợp với một bông hoa mới hé:
- Nhưng em lo lắm, mình biết làm thế nào bây giờ hả anh?
Vương cũng nén tiếng thở dài, mắt cậu nhắm nghiền, người thả lỏng, các ngón tay chết cứng trên cơ thể người yêu. Đàu lo lắng hỏi Vương:
- Nếu bố mẹ hai bên kiên quyết bắt con suối đổi dòng thì anh tính sao?
Vương vùng lên, hai mắt đỏ đọc như mắt con thỏ bị dồn tới cùng đường:
- Không tính gì cả, sống cùng sống, chết cùng chết.
Chợt thấy mình nổi nóng vô lý, nhất là vào cái lúc giời đất giao nhau, lòng người giao nhau, Vương nằm xuống, luồn cánh tay đỡ lấy đầu Đàu:
- Em cứ yên tâm đi, anh tin nước chảy đá mòn...
- Nhưng...
- Đừng nhưng nữa, em hãy cho ngày cho tháng đi, không làm được việc lấp bể rời non anh cũng phải làm được nước chảy xuôi dòng.
Đàu se sẽ gật đầu, cô dụi dụi cái đầu chim ngói vào nách Vương.
Phấn hứng dâng lên, Vương nhẹ nhàng cởi bỏ mọi vướng víu trên người, nhẹ nhàng làm cái việc mà người đàn ông nên làm.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:26:51 pm gửi bởi bodoibienphong »
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:29:18 pm » |
|
Chương tám Cuộc họp Ban Chấp hành Châu ủy mở rộng bàn về việc tiễu phỉ đang kỳ gay cấn. Sự ác liệt từ các nơi dồn cả về châu ủy làm cho phòng họp như muốn nổ tung. Lãnh đạo các xã, các ngành thi nhau báo cáo, tình hình ngày càng phức tạp, Khu đã dồn hết lực lượng tại chỗ để dẹp yên những đám cháy, nhưng việc tác chiến đầy khó khăn, bọn phỉ không cần đồn bốt, cất dấu lực lượng, tập trung quân khéo léo khiến ta lúng túng, luôn từ thế chủ động bị đẩy sang bị động. Bí thư Châu ủy Đoàn Văn Long rùng mình. Đúng là nước mềm sợ hơn đá cứng, sự việc rối lên đến nỗi Long không còn đánh giá được thực lực của châu ra sao nữa. Những ngày qua cả Châu ủy như cung lên dây, các cấp chính quyền, đoàn thể rải ra chỉ đạo việc bảo vệ cơ quan, kho tàng, biên giới, các cơ sở quần chúng, trưởng các dòng họ được củng cố tinh thần, bọn tề ngụy đã qua cải tạo được mời đến tuyên truyền, giáo dục, mọi việc, từ giáo dục cho đến răn đe, giúp đỡ, thuyết phục, trừng phạt, việc gì làm được thì bộ đội đã làm, châu đã làm, vậy mà... Long ôm đầu thất vọng. Phòng Tô còn đâu mơ cảnh giời đất nguyên sơ, dung dưỡng khiến cho vạn vật cũng nguyên sơ như giời đất. Đâu còn cảnh: người, bên trong sự thô ráp là hân hoan thỏa mãn, đất đai thả hạt giống xuống là chỉ việc chờ gặt, đeo dao, cầm nỏ vào rừng là có cái bỏ nồi, chó không biết cắn người, trâu ngựa lông da láng bóng, mặt mũi phởn phơ, bốn mùa đực cái... 1 Mọi người lục tục ra về, phòng họp chỉ còn lại Long và Phó Bí thư Châu ủy Tẩn Diêu Siểu. Long bảo Siểu: - Hôm nay có việc mẹ con nó bồng bế nhau về bên ngoại rồi, anh về tôi uống rượu đi. Thấy Siểu ngần ngừ Long xởi lởi: - Gật đầu đi, tự nhiên hôm nay muốn uống cho say, mà mình còn có nhiều việc phải nói với nhau mà. Siểu cười: - Anh lúc nào cũng tìm được lý do, còn tôi thì chẳng bao giờ cưỡng nổi cả. Long vỗ vai Siểu: - Thì hôm nào cưỡng, hôm nay về mình khắc làm khắc ăn thôi, không nhanh thì trời bịt mắt đấy. Siểu xiêu lòng. Long vui vẻ dẫn Siểu về nhà. Tới nhà, tiện có con gà sống đang nhốt Long bảo: - Lấy con gà kia làm rau thôi, anh có biết làm tiết canh không? - Tôi người miền rừng mà, anh cứ lấy rau, nấu cơm đi, con gà để tôi lo. Nói đoạn Siểu hăng hái xắn tay áo, bắc nước, bắt gà, cắt tiết, làm lông. Nhìn Siểu, Long không giấu nổi niềm tự hào. Siểu khoẻ mạnh, vâm váp, nước da đen sẫm, mắt sáng, đầu cao, trán rộng, vừa có cái dáng lừ lừ của con gấu, vừa có cái tinh anh của con hổ. Những thớ thịt trên cơ thể Siểu nổi lên những múi là múi. Làn da bánh mật gồ ghề, săn chắc phô ra sức lực, từng trải, sóng gió. Bước vào tuổi mười lăm Siểu đã mồ côi cả bố lẫn mẹ. Người khác ở cái tuổi này đã mất gốc, mất ngọn không chết khô cũng làm mồi cho lửa hay mối mọt, mộc nhĩ. Siểu khác người. Siểu là cây mai mọc trong hốc đá, những tháng ngày bám rễ vào kẽ đá, uống sương đá lớn lên đã hun đúc Siểu thành một chàng trai người Dao có thể đương đầu được với mưa đá sấm rền. Siểu là một trong ba người từ cái nôi Phòng Tô đi kháng chiến, vì cái nôi Phòng Tô trở về và được giao trọng trách ở lại gánh vác công việc. Siểu thẳng thắn, nghiêm khắc, luôn lấy việc công làm trọng, lòng tự trọng lúc nào cũng ngùn ngụt như lửa cháy, chính từ người thẳng, lòng thẳng của Siểu mà những công việc chồng chất khó khăn của châu được nhanh chóng giải quyết, nhưng cũng chính vì người thẳng, lòng thẳng mà Siểu gây ra không ít khó khăn cho chính mình, cho phong trào. Cơm đã chín, mâm đã bày, hai người háo hức vào cuộc. Nhưng rượu ngon, gà béo, rau ngọt đến đâu thì hai người vẫn không dứt khỏi chuyện thế sự. Sau hai tuần rượu, Long hỏi Siểu: - Anh là người sinh ra và lớn lên giữa vùng rừng, chảy trong anh là dòng máu người miền rừng, anh nghĩ gì khi những người miền rừng lạc lối ngay chính trên quê hương của mình? Siểu lẳng lặng nâng bát rượu lên uống cạn rồi đặt bát xuống mâm: - Việc này khó nói lắm. Trong rừng, săn mồi và làm mồi cho con thú khác là lẽ của tự nhiên, có lẽ con người cũng nghĩ thế chăng? - Vậy anh nghĩ thế nào về phỉ? - Trên đã xác định rõ rồi, phỉ có ba tính chất: giai cấp, quần chúng và dân tộc. Có lẽ không còn định nghĩa nào hơn thế, bởi gốc của ngọn lửa phản loạn dấy lên từ bọn giai cấp bóc lột. Nó quần chúng, nó dân tộc bởi những người cầm súng cho nó là dân, chiêu bài lừa người của chúng là vì dân, vì dân tộc. Long nâng bát rượu lên: - Anh nói trúng bụng tôi quá, xin uống với anh bát này. Siểu chạm bát rượu vào bát của Long, uống cạn. Siểu đặt bát xuống nhìn đăm đăm vào bếp lửa: - Nhìn dao sắc thấy thương cây, đánh phỉ là đánh giết người Dao, người Mông, người Phú Nả... đánh giết những đứa con dứt ruột của rừng. Nhưng không đánh thì bọn người mê muội kia sẽ đưa các tộc người đến tuyệt diệt mất. - ... - Uớc vọng lớn nhất, duy nhất của người miền rừng là yên lòng mình thì nhà yên, yên lòng người thì làng bản yên, rừng núi, đất nước yên. Bao năm nay cái ước vọng, khát khao nay bị chính ngay những người con của rừng châm lửa thiêu cháy. Đau, đau lắm anh ơi! Siểu đặt bát xuống, những giọt rượu còn vương trên đám râu bắt ánh lửa óng ánh như viên ngọc nhũ. Anh lấy tay chùi những giọt rượu, những ngón tay giống như những cái thìa cong lên vê vê những sợi râu cứng như những sợi dây thép, anh thốt lên: - Anh không biết tôi yêu vùng rừng này đến thế nào đâu. Mỗi sáng mở mắt thấy rừng, thấy núi là lòng tôi chộn rộn chỉ muốn làm con chim hót lên ríu rít. Mỗi chiều nhìn thấy ông xanh nuốt chửng ông mặt trời là hồn tôi lâng lâng như người ngậm ngải chờ người yêu. Mỗi đêm thức thi với giời, nghe lòng đất, lòng rừng cựa quậy là những dự định giống như ấm nước no lửa. Người miền núi thô vụng, thật thà, cả tin song tinh tế không kém bất cứ người dân vùng nào đâu anh ạ. Long nắm lấy tay Siểu siết chặt. Bàn tay to bè, thô ráp của người đàn ông vùng rừng ấm nóng trong bàn tay anh: - Mình hiểu, hiểu lắm Siểu ơi, dẫu không sinh ra ở vùng rừng nhưng mình nguyện sống chết với vùng rừng, bình thường còn giọt gianh rơi đâu anh em đấy chả là cùng vào sinh ra tử. Siểu nâng bát rượu lên uống một ngụm rồi đặt xuống, thốt lên: - Cám ơn anh, những lời gan ruột anh nói trong cuộc họp tôi thấm, thấm tới tận con tim, lá gan này này. Anh hỏi phương án phá phỉ thế nào ư? Phỉ gian ngoan, ngoắt ngoéo, tàn bạo, lại lẩn khuất trong dân để chống phá cách mạng nên việc tiễu phỉ không thể hoàn toàn dùng quân sự mà phải kết hợp giữa vận động, phân loại những tên đầu sỏ. Trong bọn đầu sỏ cũng phải phân loại ra để bắt, để cải tạo, lấy tác chiến lâu dài làm trọng điểm, làm điểm nào dứt điểm ấy, xong tản ra như vết dầu loang thì việc lớn chắc thành. Đúng. Đúng quá. Long cảm thấy mình như bắt được vàng, anh nhoài sang nắm chặt lấy tay người cộng sự đắc lực của mình: - Ý anh hay quá. Đúng, ta sẽ phá phỉ theo vết dầu loang. Phá chứ không diệt. Đúng, đúng..., mời anh. Hai bát rượu lại thay lời tri kỷ, hai người càng uống càng tỉnh, trong tri kỷ, trong rượu, trong chăm chắm vào việc lo bình yên cho làng bản, kế hoạch tiễu phỉ ở Phòng Tô hình thành, khi tiếng gà gáy báo hiệu đã sang ngày mới hai người hài lòng dắt nhau vào giường, nhanh chóng thả hồn thả vía vào chín tầng mây.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:46:10 pm » |
|
Bí thư Châu ủy Đoàn Văn Long gắn bó với Phòng Tô như một định mệnh.
Gốc gác Long sinh ra tận cái rốn của đồng bằng Bắc Bộ, trận đói năm 1945 làm nhà Long phiêu tán, sáu con người thành sáu chiếc lá trôi dạt khắp nơi. Cha mẹ, anh chị sống chết thế nào anh không rõ, riêng anh được người của đoàn thể nhặt được bên vệ đường rồi cho tham gia vào Vệ Quốc đoàn. Năm 1946 Long vào bộ đội, thuộc quân số của Trung đoàn 171. Tháng 10 năm 1947, được sự nội ứng của bọn thổ ty phản động, quân Pháp từ Bình Lư tiến đánh Sa Pa rồi nhanh chóng chiếm được các huyện phía Tây Lào Cai, ta phải rút về Lục Yên để bảo toàn lực lượng. Trong những ngày luyện tập và củng cố trung đoàn ở Lục Yên, Long đã gặp và yêu Liên, cô gái Thái quê ở Phòng Tô chạy giặc cùng với bố mẹ. Tình yêu sét đánh của hai người làm bố mẹ Liên nổi giận, họ không những quyết liệt ngăn cản mà còn đùng đùng lôi cả nhà hồi cư.
Cuối năm 1950 bộ đội ta ào ạt tiến lên giải phóng Phòng Tô. Thổ phỉ vốn là một đội quân ô hợp, lại được tập hợp vội vàng nên khi gặp cơn lũ tràn vào cả bọn nhanh chóng thành bèo bọt. Nôn nóng tiêu diệt tàn quân phỉ, bộ đội tập trung vào việc lùng sục, coi nhẹ việc giác ngộ nhân dân. Cơn lũ đi qua, bộ đội chủ lực chuyển qua địa bàn hoạt động khác, lực lượng quân sự địa phương đã mỏng lại bị rệu rạo trong trận nổi phỉ, dân chúng chưa thật hiểu về ta thì lại quá rành về những thủ đoạn thâm độc, tàn ác do phỉ gây ra. Khai thác những cơ hội trên, bọn trùm phỉ ra sức giữ dân, giữ đất và chuẩn bị cho việc nổi dậy lần thứ hai. Mọi việc nóng lên khi đại đội Âu Phi của Pháp bất ngờ đột nhập chiếm Phòng Tô, bộ đội phải rút vào rừng. Bộ đội vừa rút lập tức súng ống đạn dược từ các đống rơm, mái bếp do đội quân thất trận trước đây cất giấu được tuồn ra, được vào tay chủ. Cả ngàn tên phỉ tiếp tay cho các thế lực phản động uy hiếp khiến cho chính quyền, đội du kích phải tan rã, phải rút ra vùng tự do.
Việc Pháp quay lại chiếm Phòng Tô, phỉ nổi lên thành lập chính quyền làm cho tình hình vốn căng thẳng lại càng căng thẳng, ta phải bí mật xây dựng lực lượng, cài cắm cơ sở, chuẩn bị lực lượng vũ trang để cướp lại chính quyền, những tổ xung kích trong đó có tổ của Long được cử vào Phòng Tô làm công tác khó khăn này.
Vào Phòng Tô, Long không có ý định lợi dụng Liên. Nhà Liên tọa lạc ngay đầu chợ. Bố mẹ Liên lợi dụng vị trí đắc địa của mình để thu gom sản vật từ rừng, từ ruộng của dân chúng quanh vùng để đổi muối, đổi dầu, đổi bạc trắng của người Pháp, người Nhật rồi từ muối, dầu, bạc trắng có được, nhà Liên lại cho chảy vào dân để bắt sản vật từ rừng từ ruộng đua nhau trèo ngược trở lại. Vòng quay khép kín đó đã làm cho nhà Liên nên đủ nên đầy. Dẫu lấy việc buôn bán làm gốc, làm ăn chính đáng, không hà hiếp, bóc lột ai, song thớt tanh ruồi bu, chảo mật kiến đến, thấy bố mẹ Liên có của nả, quan hạch sách đằng quan, lính hạch sách đằng lính, kẻ du thủ du thực đe dọa rình rập kiểu du thủ du thực. Thấy khó sống nổi bố mẹ Liên bốc cả nhà theo chân bộ đội đi tản cư, những mong mai danh ẩn tích tìm cơ hội làm nên ăn ra. Mải lo chuyện chạy giặc, giữ của, ông bà không để ý đến cô con gái duy nhất đã đến tuổi khao khát yêu đương. Và một việc tày trời ông bà không ngờ tới là cô đã phải lòng anh chàng vệ túm. Biết không thể dứt được Liên ra khỏi anh chàng trên không chằng, dưới không rễ, nay đây mai đó, sống chết như trở bàn tay bố mẹ Liên đau đớn khổ sở. So đo tính toán của kẻ suốt đời lấy buôn bán, đổi chác làm mục đích đã khiến hai người quyết định thà ngược dòng nước lũ để nuôi sự chắc chắn còn hơn thả con lên bè nứa trôi sông. Họ đâu biết Phòng Tô đang là chảo lửa, ba người vừa về tới nhà lập tức thành mồi cho bọn phỉ. Thôi thì đủ mọi cớ để moi tiền, để hành hạ. Đang yên đang lành sao phải bỏ nhà bỏ cửa theo bọn ngoại lai? Tại sao đang ở vùng tự do không ai động đến lông chân lông tay lại dắt díu nhau trở về? Đang nơm nớp lo sợ lại phải căng đêm căng ngày ra đối phó với lòng tham, lòng thù hận của bọn phỉ nên cả nhà Liên chui vào giữa bụi gai, động cựa kiểu gì cũng toạc da, máu đổ. Tiền của hết, sự nghiệp buôn bán theo mây khói, tối lửa tắt đèn xa lánh, phỉ, Pháp hằm hè, tính mạng như trứng để đầu đẳng..., khổ ải, cực nhục dồn vào gia đình Liên, để rồi Liên đương nhiên thành là cái túi để bố mẹ trút bực bội, uất ức lên đầu. Long bấu víu vào Liên lúc này, bọn phỉ chưa kịp hành hạ thì bố mẹ Liên đã chôn sống Liên không biết chừng.
Biết là tiếp cận với dân không đơn giản song tổ xung kích của Long không ngờ nó lại khó khăn đến thế. Trong những ngày này người dân Phòng Tô sợ nhất là cách khuếch trương thanh thế của bọn phỉ. Đêm đêm tiếng tù và rúc vang rừng, vang núi. Cộng hưởng với tiếng tù và là tiếng la hét, tiếng chó sủa, tiếng súng nổ. Ngày ngày từng khu rừng bị đốt cháy rầm trời, từng bản làng bị lùng sục, dân chúng bị tập trung để tra hỏi, tra tấn, từng người, từng nhà bị gọi riêng ra để gây nghi kỵ, chia rẽ lẫn nhau. Do bị bọn phỉ o ép, bắt bớ, tra tấn, bắn giết vô tội vạ, nên dân chúng hoang mang, lo sợ, họ không dám gặp gỡ, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, không dám tin tưởng lẫn nhau, buộc phải cầm súng cho phỉ.
Công việc của tổ xung kích đòi hỏi phải có gốc rễ, có cơ sở song con đường đến được với dân như đường đi lên trời, các tốp tìm đủ mọi cách song họ vẫn phải khựng lại bên ngoài bức tường lửa. Không được dân ủng hộ, không được tiếp tế, cả tổ rã rời vì đói cơm, đói muối, cộng vào đó là những cơn sốt rét hành hạ làm cho ai cũng da xanh tái, mắt trắng dã, đi còn không vững nói gì đến đánh đấm.
Rồi tổ của Long cũng có cơ hội.
Chu Phùng là một bản hẻo lánh, bọn phỉ ít nhòm ngó, dân chúng hiền hậu, chất phác, tối ngày gắn với rừng, với nương rẫy, là nơi tổ xung kích quyết định một ăn một thua trong giành đất, giành dân.
Người mà tổ chọn để tiếp cận móc nối gây cơ sở là ông Triệu Văn Đại.
Ông Triệu Văn Đại thuộc vào người giàu có ở Chu Phùng. Giữa lúc thế cuộc tranh tối, tranh sáng mà nhà ông Đại lúc nào cũng có người làm ra vào tấp nập, trâu ngựa chật chuồng, gà lợn đầy sân, lúc nào trong nhà cũng có mươi cái bàn đèn làm thoả mãn các con nghiện. Từ giàu có và hiểu biết xã hội ông Đại từng được người Pháp và họ Đèo giao cho làm kỳ mục. Tuy làm kỳ mục, nhưng khác với những chức dịch khác, ông Đại sống theo kiểu "gió chiều nào che chiều ấy". Dân chúng trong bản ông chăm lo, bảo vệ như chăm lo bảo vệ người trong nhà. Thổ ty phản động đến ông đón tiếp chu đáo, không để kẻ nào mếch lòng. Cán bộ, bộ đội đến nhà, ông mổ gà, mổ lợn tiếp đón tử tế. Cách cư xử kiểu "hai mang" và vì dân của ông Đại làm Long đặc biệt chú ý, nếu tranh thủ được ông, anh vừa tránh được sự nghi ngờ của bọn phản động, vừa có điều kiện tốt để thăm nắm tình hình.
Long đóng vai người đi buôn lỡ độ đường vào nhà ông Đại xin được nhón tay làm phúc, ông cho người nhà mang cơm, mang thịt ra cho ăn nhưng không cho ngủ lại.
Long cho Quấy đóng vai người đi buôn đến bản để làm quen, ông Đại không tiếp.
Long đón gặp con đường này ông Đại rẽ con đường khác.
Không nản lòng, Long cho người thay nhau phục trên cánh rừng gần cối gạo nước nhà ông. Ngày thứ nhất, vợ ông ra mang gùi ra lấy gạo. Thấy cối gạo bị vơi, lại thấy những đồng bạc Đông Dương, bạc trắng buộc vào cần cối, bà nhớn nhác nhìn quanh rồi bỏ gùi, bỏ gạo chạy như ma đuổi làm cho tổ của Long phải rút vội vào rừng sâu.
Ngày thứ hai Long quay lại thám thính, xung quanh yên tĩnh, không có dấu vết của lùng sục, mai phục, cối thóc đã được thay, cần cối vẫn kiên nhẫn đón nước, cái chày vẫn nhịp nhàng, cần mẫn bổ xuống cối. Biết chủ nhà thấy có dấu hiệu người lạ lấy gạo mà không báo cho các chức dịch vây bắt là coi như gặp tín hiệu tốt lành. Long cho Quấy lấy đi già nửa số gạo, sau đó buộc tiền kèm theo một lá thư xin gặp rồi rút vào rừng nghe ngóng động tĩnh.
Ngày thứ ba... Ngày thứ tư... Ngày thứ năm....
Đến lúc cả tổ mệt mỏi, thất vọng, định bỏ cuộc thì ông Đại chủ động ra cối nước gặp Long. Ông khen cán bộ Việt Minh là người tốt, lo cho dân, không lấy không gạo của dân, Việt Minh đang cần sự giúp đỡ ông sẽ giúp đỡ. Long được dịp lôi hết cả kiến thức dân vận, hiểu biết về ta, về địch ra để vận động, thuyết phục.
Ông Đại ngẩn người ra trước viễn cảnh Long vẽ ra, ông quyết định đưa cả tổ về nhà nuôi giấu rồi lợi dụng uy tín của mình vận động khắp dòng họ, khắp bản hướng về Việt Minh, làm theo Việt Minh.
Thuận thuyền, thuận nước, tổ xung kích của Long tranh thủ mọi cơ hội để tuyên truyền, vận động, xây dựng lực lượng, song cũng chính từ sự sốt sắng của ông Đại, sự hăng hái đến thái quá của tổ đã gây ra một thảm kịch kinh hoàng. Đó là lần chạm trán với địch và bị tổn thất nặng nề, ông Đại và bốn đội viên hy sinh ngay trong loạt đạn đầu, hai người dân bị thương nặng, ba ngày sau bọn phỉ quay lại bản càn quét, khủng bố dã man, năm ngôi nhà bị trong bản chúng thiêu rụi, ba người trong bản bị chúng phanh thây, tổ chỉ còn Long và Quấy, hai người buộc phải chui sâu vào trong rừng. Đau đớn không chỉ dừng có vậy. Mất mát quá lớn, quá bất ngờ làm thay đổi hẳn tâm tính của Quấy. Quấy suốt ngày sống trong hoảng loạn. Vừa mới mấy hôm trước còn hùng dũng hét ra lửa như hiệp sỹ, vậy mà sau trận đụng độ tâm thần Quấy đã bấn loạn, người ngợm nem nép như rắn mồng năm, chân lúc nào cũng chỉ chực chạy, tay lúc nào cũng muốn bắt chuồn chuồn, nói đến Pháp, đến phỉ là nói đến chuyện thối lui.
Rồi Quấy ra hàng. Trước khi ra hàng Quấy nói thẳng với Long chuyện không chịu nổi sự căng thẳng, muốn trả súng để đổi lấy sự yên thân.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2017, 09:53:00 pm » |
|
Long ngẩn người. Gian khổ, chết chóc, quyết liệt anh đã lường, nhưng người đồng đội thân yêu trong lúc nước sôi lửa bỏng mà bỏ bạn, bỏ tổ chức để làm cái việc đốn mạt nhất trần đời thì anh chưa nghĩ tới. Long bảo Quấy:
- Cậu nói thật hay nói đùa, mất mạng đấy không phải chuyện chơi đâu.
Quấy không nói không rằng lượm một khúc củi lăng mạnh lên không trung.
Long nhìn Quấy, ngẫm ngợi. Sợ chết luôn luôn là nỗi ám ảnh của người yếu đuối như Quấy, nhưng trái với mấy hôm trước, Quấy bình tĩnh, rõ ràng, cứ như việc đảo ngũ, phản bội là việc đương nhiên, là cần thiết phải vậy. Con người hơn con thú ở chỗ ngã rồi phải biết cách đứng dậy, phải tìm trong bĩ thấy thái, trong mất thấy còn thì mới nên người.
Đọc được ý nghĩ của Long, Quấy bảo:
- Tôi nghĩ kỹ rồi, đừng cản đường tôi.
Cái bụng lửa làm mặt Long phừng phừng màu lửa, cục ức ở cổ nâng lên, hạ xuống một cách khó nhọc. Long siết hai vai Quấy hét lên:
- Tại sao cậu lại có ý định điên rồ ấy? Tại sao? Tại sao?
Quấy bình thản gỡ tay Long ra, bình thản thả lời nói vào chỗ không người:
- Đánh nhau tôi được cái gì? Mất cái gì?
Nhìn Long mấp máy môi định nói, Quấy cười khẩy:
- Tôi biết anh định thuyết phục tôi thế nào rồi, anh đừng dối mình nữa, cứ bày lên trước mặt tôi xem nào?
Long giơ tay kêu trời, lý lẽ của người nông dân vùng cao này đơn giản. Đơn giản đến tội nghiệp.
- Tôi đi chiến đấu cũng chỉ mong được no cơm ấm áo, cơm áo cao quá không với được thì tôi về rau cháo qua ngày thôi.
Thật trớ trêu, nhưng đó là sự thật.
- Tôi về, tôi không hàng. Tôi bỏ về. Tôi chưa làm hại ai, bàn tay tôi chưa nhuốm máu, nên cả ta, cả phỉ chắc không ai hại tôi.
- Trời ơi! Mày có biết bỏ đội ngũ là mày làm con mồi cho chúng nó thịt không?
- Anh yên tâm, người nhìn thấy mặt trời mấy chục năm như tôi phải biết mình đang làm gì.
Long rên lên:
- Mệnh người, danh dự con người có nghìn vàng cũng chẳng mua nổi đâu Quấy ơi!
Quấy bướng bỉnh:
- Anh đừng cản tôi nữa, mong sau nay chúng ta còn nhìn thấy nhau.
Long vò đầu bất lực:
- Rồi mày sẽ mồi cho quỷ dữ thôi Quấy ơi.
Quấy không giả nhời Long, lùi lũi bỏ vào rừng.
Biết không thể giữ được Quấy, Long đau xót như chính mình bị cắt da cắt thịt. Long có một ngàn sáu trăm hai mươi ngày trong quân ngũ thì có một ngàn hai trăm linh ba ngày gắn bó với Quấy. Trong ác liệt của chiến tranh quân số của đại đội lúc hao hụt, lúc thuyên chuyển, song do duyên giời, do hợp người mà hai người vẫn bên nhau như hình với bóng. Hơn thế nữa, Quấy không chỉ cùng vào sinh ra tử, cùng ăn núi, ngủ rừng, mà còn là ân nhân cứu mạng của Long. Trong trận công đồn ở Pú Ngu, khi đơn vị đánh vào chỉ huy sở của địch, Long vừa vung kiếm chém tên Quan Hai Pháp thì bất ngờ từ phía sau một thằng Tây đen lăm lăm lưỡi lê lao tới. Theo phản xạ Long tránh được, thằng Tây mất đà ngã chúi xuống. Long lao vào vật lộn với nó, song do sức yếu nên chỉ một lát sau hai cánh tay của thằng Tây đã như gọng kìm siết chặt lấy cổ anh. Giữa lúc Long cầm chắc cái chết trong tay thì Quấy kịp thời lao tới. Đường kiếm dứt khoát của Quấy xuyên qua bụng thằng Tây làm cho máu của nó phun ồng ộc vào người Long. Quấy nhanh chóng đạp thằng Tây ngã ngửa, dịt vết thương do mũi kiếm chạm vào người Long rồi dìu anh ra khỏi đồn địch. Sau trận đó Quấy được trung đoàn khen thưởng, còn Long thì suốt đời biết ơn hắn... Vậy mà... Vậy mà... Quấy đã vấy bẩn chính mình, và có thể hắn sẽ mất mạng vì sai lầm của mình.
Đúng như cảnh báo của Long, Quấy ra hàng hôm trước thì hôm sau bị bọn phỉ bắt vào rừng chỉ chỗ Long trốn. Quấy phản bội bản thân chứ không chịu phản bội bạn khiến bọn phỉ điên cuồng mổ bụng vứt xác ở cửa rừng.
Quấy mất rồi còn lại một mình Long bơ vơ giữa rừng như một kẻ lạc loài. Anh nằm vật ra nệm lá nhìn lên bầu trời rỗng không. Anh cả nghĩ quá chăng? Thua trận này bày trận khác, cứ về đơn vị chờ cơ hội rồi trở lại “đánh một trận sạch không kình ngạc/ đánh hai trận tan tác chim muông”(1) như ta đã đánh, đã thắng là xong tất. Một cục ức dâng lên chẹn ngang cuống họng làm cho Long nghẹt thở. Trở về đơn vị ư! Cái chết của đồng đội, của dân chúng Chu Phùng còn đó. Anh trở về, có thể tổ chức hiểu anh, đồng đội hiểu anh, hiểu... hiểu... và hiểu, nhưng đấy chỉ là đáy nước hiểu dòng sông không vẩn đục, song đôi bờ vẫn có quyền nghi ngờ những gì đã sảy ra với dòng sông, anh không thể trở về trắng tay như kẻ bại trận được.
Lúc cùng đường là lúc Long nghĩ tới Liên nhiều nhất.
Anh và Liên tài sắc tự thành đôi. Chiều vào đêm ấy Long đi lấy măng về cập mảng nứa ngay trên vụng nước của bản. Vụng nước ấy chính là nơi những người đàn ông, đàn bà đằm mình sau buổi làm mệt nhọc; là nơi những người trong bản cập bến, những đôi trai gái hẹn hò, bịn rịn trên bóng nước.
Chiều vào đêm ấy cả vùng đang mùa phát lộc. Trong ánh trăng rờ rỡ những tán lá xanh rờn, những chùm hoa trễ nải ngời lên muôn sắc, mặt vụng như tấm gương phản chiếu những lấp lóa của ánh trăng, của cây cối.
Trong ngời ngợi ánh trăng, ngời ngợi bóng nước, Liên quấn áo lên đầu đi thẳng xuống suối như một nàng tiên cá. Liên không biết Long đang như trời trồng trên mép nước, cô thả ra mặt suối tiếng cười trong trẻo, thả lên trời tiếng hát bổng trầm như mời gọi, như giãi bày, tiếng hát lọt vào tai ai, tai người ấy thủng: “Suối bé lắm cá sỉnh vẩy mỏng/ Suối nhỏ nhiều cá măng vẩy thưa/ Cá lượn lờ vảy nghiêng vẩy vàng óng ánh/ Gái chê chồng cũng về than thân ở suối này/ Gái kén được chồng cũng về mừng ở suối này/ Gái hái được rau cũng về rửa ở suối này/ Gái kiếm củi, kiếm lá cũng về tụ tập ở suối này/ Gái sắp về nhà chồng cũng về qua suối này”.
Tiếng hát níu chân người đi. Tiếng hát buộc lòng người ở. Giữa tĩnh mịch của núi rừng, trước khát khao của chàng trai khao khát, tiếng hát của Liên lại trong trẻo cất lên: “Mười tuổi em đang thành gái lớn/ Anh cũng lớn thành trai/ Mười ba tuổi em biết bắt cá suối/ Mười bốn tuổi biết nhuộm răng đen làm duyên/ Biết may áo che vú/ Biết dành tóc làm độn/ óng ả lên sàn nhóm lửa”...
- Trời ơi! - Long rên lên thích thú. Sống chụ xon xao là đây. Câu chuyện tình bất hủ, một kiệt tác bằng thơ - Truyện Kiều của người Thái là đây. Dòng máu người trai có gốc gác từ những chiếu chèo bốc lên rừng rực. Người đã thể hiện cho mình thấy thì mình cũng phải thể hiện cho người thấy. Điệu chèo Tình thư hạ vị, điệu chèo Long mang từ cây đa bến nước sân đình, điệu chèo trữ tình, đằm thắm, gửi gắm nỗi lòng làm nức lòng người hát, hút hồn người nghe tha thiết cất lên: “Bóng quế dãi thềm - Mái tranh êm đềm/ Rượu đào tay rót chén này mời em - Chén này mời em. Chén đào tiên đượm mối lương duyên/ Trăng thề đó soi chung đôi bóng/ Lúc này đây giáp mặt soi chung”...
Trường ca Sống chụ xon xao lại được tiếng hát trong trẻo thả lên trời: “Yêu nhau như nắm xôi nén chặt/ Trái tim này nỡ xẻ làm đôi/ Chặt cây sợ ngả không đúng hướng/ Đẵn gỗ sợ ngả không đúng chiều/ Đan sọt sợ không đúng mắt/ Yêu nhau nhưng sợ “then” không gả/ “Then” gả nhưng sợ giời không ưng.”. Điệu chèo Tình thư hạ vị nối lời, nối lòng: “Nhịp cầu Ô Thước - Một dải Ngân Hà/ Gần chẳng nên gần - Xa chẳng nên xa/ Can cớ gì xâm thương đôi ngả/ Rầy anh trông mai anh lại đợi/ Ngày đợi, tháng nhớ, năm trông”.
Cứ thế tiếng hát miền rừng cất lên.
Cứ thế tiếng hát miền đồng bằng Bắc Bộ cất lên.
Tiếng hát đối đáp, tình tứ. Tiếng hát cởi mở nỗi lòng. Tiếng hát thành ma lực kéo hai người lại gần nhau. Bến trên giăng lưới, bến dưới quăng chài, hai con cá nhỏ nhanh chóng chìm vào lưới tình. Cuộc giao hoan đầu đời của hai người dẫu không chiếu hoa ba sải trải, không gối hoa đặt đầu giường, song mãnh liệt, nồng nàn như nước vào ruộng ải, như than đỏ gặp gió.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
|