Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:51:14 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường của quỷ  (Đọc 24441 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #50 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:35:40 pm »

Chương mười lăm

Thấy rõ việc phỉ nổi ở Phòng Tô ảnh hưởng tới an ninh, chính trị, kinh tế của cả vùng, không dập lửa, đám cháy nó sẽ lây lan tới khắp miền núi của miền Bắc đất nước. Khu 10 điều một lực lượng lớn bộ đội, công an biên phòng, cảnh sát vũ trang lên Phòng Tô sát cánh cùng với lực lượng tại chỗ đánh phỉ. Với phương châm đánh tan bọn phản loạn, đánh đến đâu, cắm chốt đến đấy ta đã khiến Mặt trận Phòng Tô tự trị tan tác như bèo gặp lũ, khắp vùng náo động, không ăn thịt được đối phương thì quay ra ăn thịt nhau. Cảnh tượng luẩn quẩn rắn ăn thịt rắn, người ăn thịt người của đầu những năm năm mươi lặp lại làm cho Sắn điên đầu. Hắn khống chế quân tướng rút sâu vào trong rừng. Trong hiểm nguy hắn tỏ cho cả Mặt trận thấy năng lực của kẻ cầm quân. Bị bộ đội biên phòng, công an truy sát, hắn cho lính chạy lòng vòng. Đối phương trên núi, hắn cho thoát xuống chân núi. Đối phương ở chân núi, chúng chễm chệ trên đỉnh. Biến hóa khôn cùng của hắn khiến quân, tướng rất mệt nhưng toàn vẹn, bĩ nhưng còn chỗ cho lối thoát, cho ý nghĩ không biết kẻ nào thắng kẻ nào bấu víu. Chưa hết, hắn cho tâm phúc phóng ngựa đến từng vùng, kẻ nào cần bạc thả bạc, kẻ nào cần lời thả lời, kẻ nào cần chức thả chức, kẻ nào lừng chừng siết chặt thòng lọng. Chỉ trong nửa tháng giời ra tay những kẻ chung đường đã tỏ ra hồi tỉnh. Mà không hồi tỉnh không được. Ra hàng ư! - Trong cuộc nổi loạn cả bọn đã gây nợ máu, tổn hại cho chính quyền, cho dân chúng quá nhiều. Bộ đội, công an bắt được không mổ thịt, lột da từng thằng thì cũng bắt từng thằng rũ xác trong tù. Muốn trở lại mỗi thằng cát cứ một phương ư! Chưa nói tới việc chính quyền lợi dụng để nghiến từng thằng như nghiến từng hạt ngô, nguyên những cái thòng lọng của Mặt trận Phòng Tô giăng khắp các nẻo cũng đủ cho những kẻ yêng hùng thất thế phải lo cái đầu không còn trên cổ. Tội ác, mưu mô làm cho chúng muốn sống, muốn vùng vẫy thì chỉ có đường quấn lấy nhau. Song quấn thế nào? Cục diện cuộc chiến thay đổi quá nhanh làm cho các thủ lĩnh nửa đời xông pha trận mạc đến kẻ lần đầu cầm súng hoang mang, lo lắng. Vừa mới hùng hổ gào thét, đi đến đâu cũng người theo như nước lũ, nhoằng một cái đã phải trốn chui trốn lủi trong rừng. Vừa mới huênh hoang rừng núi, sông suối của mình, dân của mình, bỗng chốc bị vây chặn đến khốn đốn. Bộ đội, công an giăng thiên la địa võng, cả quan lẫn lính mò ra hướng nào cũng bị đánh, các đầu lĩnh bị xé lẻ ra, mỗi người mỗi phương, nghe tiếng súng nổ mới biết đồng bọn còn sống...

1

Rút quân đến lúc có thể coi là tạm an toàn Sắn điểm lại lực lượng rồi thở phào nhẹ nhõm. Cuộc chơi làm cho hắn thất vọng chứ chưa đến nỗi tuyệt vọng. Chòm sao Tiểu hùng tinh vẫn còn sáu ngôi, Mặt trận Phòng Tô vẫn còn gần hai ngàn chiến binh, đủ cho hắn bày binh bố trận. “Muốn làng dưới tới giúp, làng trên lại đỡ thì cái cổ phải cứng, cái lưng phải vững, cứ mang sức mang lực mang rìu ra chặt cây đi rồi sẽ khắc có gió đẩy.”, cái lý có chân của những kẻ được nuôi dưỡng trong tự lập, tự vượt đã ngáng họng những kẻ trông ngóng vào cái bánh vẽ người Mỹ tiếp tay. “Ta sẽ lập căn cứ kháng chiến, từ căn cứ hắn tỏa ra, nhân rộng lên toàn vùng. Việt Minh đã lập căn cứ đánh Pháp, đánh Nhật thắng lợi, tại sao hắn không làm được!”. “Ta không tin mấy ngàn con người, tài ba có, ra sống vào chết có mà đến đây lại cụt đường sống. Phải đánh, phải thắng, đánh cho kỳ cùng, đánh cho đến khi đất này, dân này vào tay ta. Trong chiến trận cốt lõi của mạnh yếu là địa hình, quân hình. Địa hình ta thông thạo, quân hình nhất nhất tuân theo thì tại sao ta phải sợ. Nước không cần hình nhất định, binh không cần thế nhất định, ta cứ biến hóa khôn lường thì Việt Minh có mang đến đây cả một quân đoàn cũng như thả muối xuống suối”... Sắn hùng hồn đem những so sánh lên dây cót đám quân tướng bại trận, tập hợp lực lượng, cùng chòm sao Tiểu hùng tinh ra ba kế sách cứu tinh cho Mặt trận Phòng Tô tự trị.

Kế sách thứ nhất là tập trung huấn luyện cho quân lính cách sử dụng các loại súng, cách đánh ngày, đánh đêm, đánh trong rừng, đánh bao vây, phục kích và làm các loại bẫy. Cho do thám đóng giả dân thường đi lấy củi, lấy măng, mộc nhĩ để dò la động thái của đối phương. Cho phép quân lính liên hệ với người nhà để có nguồn tiếp tế lương thực và cung cấp tin tức..., đặc biệt là tổ chức canh phòng cẩn mật. Trong mênh mông, hiểm trở của núi rừng Pu Sam Cáp ai chiếm được rừng, được núi người đó là chủ. Việc trước mắt, việc lâu dài là phải canh phòng cẩn mật, là thiên biến vạn hóa, cố thủ đến cùng rồi từ đó sẽ kháng chiến trường kỳ. Tâm đắc với kế sách này Sắn cho canh phòng, xây dựng các căn cứ như một chiến lũy. Từ cửa rừng dẫn vào căn cứ những cây cổ thụ cao vút được đóng đinh làm thang vút lên tận chạng ba, chạng tư. Trên chạng ba chạng tư chúng làm một cái sạp đủ cho hai người ăn nghỉ, cố thủ. Tiếp tế hai ngày một lần. Bốn ngày một lần thay phiên lính. Từ những cái đài quan sát bí mật, an toàn những tên lính giống như những đứa trẻ được thỏa mãn hiếu động, thỏa mãn tò mò, mạo hiểm. Chúng có thể trần truồng, thoải mái ngắm trời, ngắm đất, ngắm cây và thu gọn mọi động tĩnh bên dưới để báo về “chỉ huy sở”. Trong suốt những ngày qua bộ đội vây kín mà cả bọn vẫn “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, bình yên vô sự, công đầu từ những vọng gác tiền tiêu.

Kế sách thứ hai là trấn an tinh thần binh lính. Mặt trận Phòng Tô vốn là những dòng suối hợp lại. Cuộc chiến bắt đầu, các dòng suối ùn ùn cộng nước vào làm cho dòng sông trở nên cường tráng, hung dữ, đủ sức cuốn đi cả rác rưởi lẫn bờ đập. Cuộc chiến lâm vào bế tắc, các dòng suối cạn nước phô ra sự bất lực, bẩn thỉu. Trong chiến thắng những nanh vuốt ma lanh, xảo quyệt bị ấn xuống tận đáy dòng, vấp thất bại, những cái gai ấy trồi lên khiến cả sông lẫn suối lổn nhổn, ngầu đục. Trong tình cảnh hiện tại, giống như bầy thú đang bị vây hãm, muốn tồn tại, muốn giành giật con mồi không còn cách nào khác là phải làm cho những con “thú người” tạm quên đói khát, tạm quên toan tính, nghĩ suy để tập trung vào con mồi. Sắn đã trấn an thuộc hạ bằng hai cách:
Cách thứ nhất bắt toàn quân mặc quần áo màu chàm. Điều này dễ. Màu chàm, màu đen đã ám vào người miền rừng từ khi biết lấy vải che da che thịt. Thời buổi nghèo đói, có gì mặc nấy, học đòi, lai căng làm cho màu chàm phai nhạt ít nhiều nhưng chỉ cần kích vào tinh thần dân tộc, chỉ ra cái lợi, cái tiện dụng của màu chàm là từ quân đến tướng răm rắp như vào mâm cỗ tám món. Chòm “Tiểu hùng tinh” tự hào với “sáng kiến vĩ đại” này. Toàn quân, áo chàm, quần chàm, mũ chàm. Rừng núi ngút ngàn xanh, mây mù, lúc bảng lảng như đùa giỡn, làm duyên, lúc ngùn ngụt trùm lên như úp chài, lúc doãng ra như vén tấm màn màu xám. Đội quân màu chàm hòa vào núi vào rừng. Núi rừng hòa vào đội quân màu chàm. Nhắm mắt là nghĩ về màu lá. Mở mắt màu lá vây quanh. Màu lá ôm chặt, che đậy, bảo vệ thân thể. Màu lá cho sự dịu ngọt, ấm áp. Màu lá gợi lên sự bình yên. Màu lá tạo nên hình, nên khối, che giấu, bảo vệ... Cái xanh thẫm của màu chàm làm cho lòng chiến binh thấy mình vẫn đang trong giữa lòng rừng, lòng quê hương, xứ sở. Chiến đấu trong đội quân màu chàm là bảo vệ màu xanh của rừng, bảo vệ yên bình của gia đình, làng bản...

Cách trấn an thứ hai là coi khỉ như kẻ thù, như những kẻ phản bội. Khỉ trong núi rừng Pu Sam Cáp nhiều vô kể. Ban ngày chúng chuyền cành rào rào như gió cuốn. Ban đêm chúng tựa vào nhau ngủ vô tư như trẻ nhỏ. Sự khôn ranh vốn có cùng sự ỉ lại vào số đông làm cho chúng mạnh bạo, coi các loài không là gì. Loài con cháu cụ Tôn Ngộ Không, khôn thì khôn thật song hay mắc tật bắt chước, hay tỏ vẻ ta đây. Nắm được điểm yếu này bọn Sắn cho người ra ven rừng, bỏ thuốc mê vào cơm rượu, giả ăn xong bỏ đấy. Bọn khỉ trúng kế, hàng trăm con từ các mỏm đá, cành cây chăm chú theo dõi từng động tác ăn uống của người. Người bỏ đi là chúng xông ra bắt chước. Cũng chạm bát chạm chén. Cũng bẻ cơm lấp cái dạ dày. Cơm chưa kịp trôi, rượu chưa kịp say mắt chúng đã lờ đờ, chân tay đã mềm nhũn, giấc ngủ kéo đến nhanh hơn cơn gió. Các đồ đệ của sự ma lanh, tàn bạo chỉ việc tới trói lại, vẽ lên thân khỉ tên một kẻ phản bội nào đó rồi mang về hang tống vào cũi.

Cứ năm ngày các thủ lĩnh lại tập trung binh lính “tổng kết” việc săn bắt và “xử án” một lần. Việc “tổng kết”, “xử án” được làm theo đúng trình tự, thủ tục của một phiên tòa. Đúng giờ, những “bị cáo” được đưa ra. Từng “bị cáo” được nhét vào một cái lồng chật hẹp. Dùi, dao, rượu, muôi sẵn sàng. Rồi thì cáo trạng dõng dạc vang lên. Rồi thì “luật sư” yếu ớt lên tiếng bào chữa. Rồi thì bị hại tố ác, tố khổ, tiếng hú, tiếng hét, tiếng đả đảo của “công chúng” rít lên man rợ. Rồi thì “tòa” tuyên án. Sau cái vẫy tay của “chánh án” là những cái dùi sắt nhằm vào háng, vào nách “bị cáo” xiên chọc như xiên chọc kẻ thù. Những “bị cáo” sợ hãi, tức tối, cuồng loạn, chúng giãy giụa kịch liệt, điên dại, hai mắt lồi ra, chân tay cào cấu loạn xạ, miệng hú hét, sùi bọt. Những tiếng hú mang đẫm âm khí ghê rợn, đau đớn như những mũi dao xiên vào rừng, vào núi nhưng không lách được vào tim, vào gan những khát máu vây quanh. Cảm thấy các tội phạm đã điên loạn đến đỉnh điểm, “chánh án” gật đầu, lập tức phạt... phạt... phạt... Sau những tiếng ghê rợn từ những nhát dao sắc lẻm phạt ngang qua những chóp đầu “bị cáo” nhô lên khỏi lồng là tiếng rú rùng rợn, là máu chảy luễ loãi, là những tảng óc phòi lên. Những óc khỉ mang tên phản bội còn đang giẫy giẫy thì bọn khát rượu, khát thịt gầm gừ, điên đảo xông vào múc ăn ngon lành. Máu, óc, dãi dớt pha lẫn rượu chảy ròng ròng kích động, thúc vào trí não khiến bọn đứng ngoài ào vào ăn theo như ăn cướp.

Ngày ngày tính hiếu sát chìm sâu trong máu mỗi cá thể được khơi dậy, nảy nở trong cộng đồng hiếu sát. Bọn phỉ tìm đủ mọi cách bắt khỉ. Loài khỉ vãn, chúng bẫy người, bẫy thú. Bẫy được giăng, phục khắp rừng. Mỗi con thú mang về được thưởng bộ tim gan, thú cái được thêm bộ dạ con, thú đực thêm bộ ngẩu pín. Mỗi cặp tai người được thưởng một cái óc khỉ, mười đồng bạc trắng, một ống muối. Người người đua nhau làm bẫy, lùng sục. Bẫy hổ có kiềng. Bẫy hươu, nai có đào hố, bẫy dây. Bẫy bộ đội, du kích có bẫy đá, bẫy đòn, bẫy cần, các loại mìn, chông. Bẫy đá lơ lửng, cập kênh dọc đường đi, chỉ cần hất nhẹ vào cần bẫy là cả chục sọt đá ầm ầm đổ xuống. Bẫy cần tìm nơi ít ngờ nhất thả thòng lọng xuống đón lõng. Bẫy đòn chờ người chạm vào dây là vụt ngang tầm hạ bộ... Có bẫy đơn lẻ, có bẫy liên hoàn. Có kẻ bẫy quanh khu căn cứ, có kẻ trèo đèo lội suối tới tận nơi hoang vu rậm rịt, ít dấu chân người. Kẻ lầm lì bẫy theo kiểu lầm lì, người hiếu động bẫy theo cách hiếu động. Thu hoạch từ bẫy làm cho các khu rừng đóng quân lúc nào cũng bốc khói, cũng sì sụp ăn uống, tâng bốc nhau, tôn nhau lên làm đại ca, anh hùng. Thu hoạch từ bẫy, từ phục kích đã làm cho thần chết rình rập khắp rừng, khắp núi, kẻ chết bất đắc kỳ tử ngày càng nhiều. Những cái chết ghê gớm gieo sự sợ hãi, khiếp đảm khắp vùng bao nhiêu thì Mặt trận Phòng Tô. lại hân hoan sôi réo bấy nhiêu. Trong không khí nơm nớp, sợ hãi, buồn tẻ, hoang vắng thì hiếu sát, rùng rợn cũng tạo nên cảm giác bình yên.

Kế sách thứ ba là tỏ rõ sức mạnh.

Điểm yếu nhất của kẻ chiến thắng là chủ quan khinh địch, tổ chức một đội cảm tử đánh thẳng vào đội hình của chúng là chúng khắc nao núng, tan rã. Kế sách này trước mắt không thành. Sau trận bị bất ngờ đồng khởi bộ đội, chính quyền căng ngày căng đêm cảnh giác, quân tướng của Tiểu hùng tinh thò ra chỗ nào là bị chặn lại chỗ ấy nên đành phải co cụm chờ thời.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #51 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:37:27 pm »

Chương mười sáu

Đã nửa tháng nay, ngày nào cũng như ngày nào, mỗi buổi sáng đám quân tướng của Hoàng Seo Lùng cho vào bụng bát cháo loãng xong là kéo nhau ra cái bãi trước cửa hang luyện tập. Để tránh đụng độ truyền kiếp của các tộc người, Lùng chia quân cán của mình ra thành các đội độc lập. Người Dao, người Mông có hai trăm người, chia làm tám đội, mỗi đội hai nhăm người, còn lại người Thái đen, Thái trắng, Phú Nả, Kinh, Phù Lá, tổng cộng hai mươi chín người dồn vào một đội. Chỉ khi phối hợp canh gác, tuần tra, phục kích, chiến đấu người của các đội mới tập trung, còn ăn uống, ngủ, nghỉ, luyện tập riêng rẽ. Buổi sáng các đội tập trung điểm danh, rồi đội nào về vị trí luyện tập của đội ấy. Bãi tập, bài tập cũng phù hợp với cách đánh, thông thạo của từng tộc người. Người Mông dũng mãnh, giỏi võ, thông thạo núi cao - lấy mỏm núi đá tai mèo làm bãi tập. Người Dao giỏi mưu mẹo, coi rừng là nhà - lấy rừng làm nơi quần thảo. Người Thái, người Phú Nả, Kinh, Phù Lá giỏi sông nước, giỏi đánh tập kích, phục kích - cắt từng con suối, mỏm đồi, con đường ra để mật phục, đặt bẫy... Các đội tự giác luyện tập, những món võ cổ truyền như võ gậy, võ côn, võ kiếm, những cách chế tạo vũ khí bí truyền như rèn súng, rèn gươm, làm thuốc súng..., những kinh nghiệm lừa người, lừa thú như bẫy chông, bẫy đòn, bẫy đá... được khuyến khích, được luyện tập một cách hào hứng. Hoàng Seo Lùng và đội quân của hắn là điểm tựa, là tấm gương cho cả Mặt trận Phòng Tô trông vào.

Triệu Tá Sắn đi gặp Hoàng Seo Lùng. Lũn cũn sau Sắn là Vàng Seo Hùng. Cái thằng đẻ ra để làm vệ sỹ này chẳng cần biết đến ai ngoài chủ, nhất là lúc cái chết rình rập khắp rừng, khắp núi. Ẩn náu trong khuôn mặt lạnh lùng, vô cảm, trong cái dáng lừ lừ như dáng gấu là mọi thính nhậy căng ra, toàn thân là sợi dây cung có thể bật tên bất cứ lúc nào. Suốt dọc con đường, Sắn đi trước, Hùng đi cách hắn ba bước. Thỉnh thoảng Sắn lại liếc sang Hùng vẻ hài lòng. Đôi chân chồn của Hùng nhẹ lướt, đôi mắt cáo sục sạo bên trái, bên phải, đằng trước, đằng sau, bàn tay phải luôn chạm hờ lên báng khẩu súng lục cài ngang bụng... Cách đây ba hôm, Sắn có Hùng hộ vệ đi Tả Gia về. Cả hai vừa đến con suối cạn thì phía trước có tiếng loạt soạt, Sắn chưa kịp phản ứng thì thì khẩu súng trong tay Hùng đã nổ hai phát. Sắn và Hùng thụp xuống nghe ngóng, thở phào, hóa ra một con chồn đi ăn lẻ không may bị tính cảnh giác cao độ cùng tài nghệ của Hùng bắt chết.

Không khí vào xuân làm dịu đi những bức bối, lo ngại cả bên này lẫn bên kia. Những làn mưa xuân mỏng mảnh trùm, ướp lên khắp rừng, khắp núi, gợi lên không khí náo nức xen lẫn day dứt, phấp phỏng. Những cành cây khẳng khiu đang náo nức bật mầm. Lạch nước von lại nhưng cũng đủ róc rách chảy xuôi xuống chân núi. Trên những vũng nước, những con nòng nọc bình thản, tung tăng. Trên cành cây, những con quạ kiên nhẫn đậu kín ngọn cây chờ xác chết...

Hai người đã đến hang của Hoàng Seo Lùng. Giữa bãi rộng trước cửa hang ba đội lính Mông của Lùng đang luyện tập. Những tấm bia hình người, hình thú đang hút hồn những họng súng, dây cung.

Sắn chào đám lính rồi chui vào hang. Trong hang, trên cái sạp kê chắc chắn Lùng và San đang nhồm nhoàm gặm thịt. Mỗi thằng nửa con gà béo luộc, vừa gặm vừa tợp rượu. Mỡ gà vàng óng nhoe nhoét quanh miệng, đầy tay, chảy ròng ròng xuống bộ ngực đầy lông lá. Kẻ đói khát thường lấy ăn uống làm đầu, bệnh này đã ngấm vào máu rồi nên kể cả lúc ba ngày không có gì nhét bụng đến thừa mứa thả thịt thả rượu xuống sông, chúng cứ gặp nhau là ăn uống. Trong lúc đói khát ăn uống càng được đặt lên đầu, hai đứa không gầm ghè, không chuyện trò, không chạm bát, cả hai tự ngập mình trong khoái khẩu. Đứng coi cho hai thủ lĩnh ăn uống là mấy tên hầu cận, mỗi thằng ghìm nén thèm thuồng, đói khát theo cách mình. Góc khác một thằng đang ngồi ôm lấy bếp lửa. Sức nóng từ bếp lửa hâm nóng da thịt, mạch máu làm cho da hắn căng lên, bề mặt da bị cáu bẩn, ghét kết lại thành mảng rạn ra, bắt ngứa buộc hắn phải ra sức gãi, càng gãi càng sướng, càng thấy mình được giải thoát...

Thấy Sắn và Hùng đến Lùng, San vẫn không nói không rằng. Lùng bê bát rượu trong vắt lên ngửi ngửi một cách thích thú. Rượu trong bát ánh khuôn mặt lì lợm, ngang tàng, bất cần.

Sắn ngồi xuống cạnh Lùng, đưa tay với cái túi da dê rót đầy rượu vào một cái bát tàu, bê lên uống cạn rồi khà lên một cách sảng khoái. Cả bọn mắt tròn mắt dẹt. Rượu ngô của Lùng là loại đặc biệt. Thứ để nấu ra loại rượu này vẫn là ngô, men, nước, củi, song phải được lấy, được nấu ngay tại Bản Phố, vùng đất thuộc miền đông bắc Lào Cai, nơi toàn núi đá cao ngút trời, nguồn nước hiếm, khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa và ánh nắng mặt trời thuận lợi chủ yếu vào mùa hạ. Điều kiện tự nhiên đã gây khó khăn rất nhiều cho việc trồng lúa, song bù lại, khí hậu, đất đá nơi đây lại phù hợp với cây ngô. Ngô dùng để nấu rượu của đồng bào là loại ngô vàng thuần chủng, được gieo trồng trên những mảnh nương cheo leo trên núi đá, rễ bâm vào hốc đá, thân, lá uống sương đá lớn lên. Ngô vàng có thời gian sinh trưởng dài tới sáu tháng, thích nghi với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, phù hợp với chất đất, bắp ngô có vỏ bi kín, hạt mềm, bùi, chất dinh dưỡng cao. Khi nấu rượu những người Mông Bản Phố lấy những bắp ngô đã được bảo quản trên gác tẽ lấy hạt, sau đó vo sạch, cho vào chảo bung khoảng nửa ngày. Khi ngô nở bung hết người nấu rượu đổ ra nền đất cứng san đều. Đợi cho ngô bớt nóng họ rắc men được làm từ hạt cây hồng my trộn đều, phủ kín lá chuối. Ba đến năm ngày sau, khi mùi thơm sực lên thì cho vào chum bằng ghép bằng gỗ xoan đào, trát gio kín, sau chín ngày thì đem cất. Loại rượu này nấu ra trong vắt, có mùi thơm riêng biệt, nặng, có tính vị quy kinh cay, ngấm vào kinh phế tùy vị, tâm bào..., có tác dụng hành huyết, kích thích thần kinh, tiêu hóa, thông kinh hoạt lạc, uống bốc, say nhanh, nhưng sau khi say không đau đầu, đau bụng. Uống cả bát tàu rượu Bản Phố thế này thì chỉ những anh hùng hảo hán trong Thủy Hử mới làm nổi. Vậy là Tổng tư lệnh vẫn giữ được phong độ của những ngày vận nổi. Vậy là các cột kèo, đòn tay, mái lá vẫn có cây cột cái để dựa.

Thấy Sắn tỏ ra anh hùng hảo hán, Lùng cũng uống cạn bát rượu. Uống xong hắn đặt cái bát xuống tảng đá, hỏi cụt lủn:

- Bên Sán Chải thành con thú cùng đường rồi phải không?

Sắn không trả lời Lùng, hắn cầm khúc củi, từ từ tưới rượu vào rồi châm lửa, lửa bén rượu bốc lên ngọn lửa xanh lét, mùi thơm tỏa ra ngào ngạt. Sắn ném khúc củi vào giữa đống lửa, thủng thẳng:

- Đám cháy của bọn Kinh chẳng khác gì đám cháy đốt bằng rượu đâu. Rượu đâu mà đốt ngày đốt đêm, lửa rượu có bốc cao quá ngọn cây cũng là lửa cháy bên ngoài, sợ gì.

Lùng ngồi lặng, không nói được gì thêm.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #52 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:43:06 pm »

Sắn nói tiếp:

- Gắng gượng nuôi sức lực, gắng nhịn trước tai ương thì việc lớn tất thành, cũng như ông San đây, mấy năm nay ông ấy nhẫn nhịn nuôi sức, nuôi lực giờ ta mới có cái để mà nuôi mồm.

Mặt Lùng đanh lại, còn San hỉ hả ra mặt.

Sắn chuyển hướng:

- Ta đi vào việc chính nhé. Tôi xin bày cả cái khó, cái dễ lên trước mặt các vị. Bây giờ với chúng ta tất cả đều bất lợi. Sau vài trận đối phương đã chiếm được hầu hết các bản làng, đẩy chúng ta vào rừng. Giờ dân, đất trong tay chúng, quân chúng đông, lực chúng mạnh. Còn ta thì sao? Cái này không nói thì các vị cũng rõ như ban ngày. Các thủ lĩnh tản mát, mỗi người mỗi rừng, cả quân lẫn tướng tinh thần rệu rạo như nhà cột bằng cây chuối gặp bão...

Hoàng Seo Lùng uống cạn bát rượu, vật bát xuống nền đá, cái bát vỡ tan, hắn gầm lên:

- Nhổ một cây thì được chứ nhổ thế nào được cả cánh rừng.

Sắn nhẹ nhàng, từ tốn:

- Chúng không nhổ, nhưng chúng đuổi, chúng bứng chúng ta khỏi nhà như bứng cây khỏi đất.

Từ lúc Sắn vào, San lặng lẽ uống rượu, lặng lẽ nghe ngóng, thấy đã đến lúc lên tiếng, San để cái đùi gà xuống bát, tợp một ngụm rượu rồi thủng thẳng:

- Thì cứ cho chúng bứng đi, bao nhiêu lần chúng bứng ta, ta bứng chúng mà đã rõ hổ thắng hay trâu đực thắng đâu.

Câu nói của San gãi đúng chỗ ngứa, Sắn hào hứng:

- Ông San nói đúng quá, hổ thắng hay trâu đực thắng còn phải chờ, nhưng mình phải rõ mình rõ người, mình phải có kế sách của mình...

Lùng sốt ruột cắt ngang lời Sắn:

- Nói nhiều quá, làm thế nào, đánh ra sao Tổng chỉ huy cho biết đi.

Sắn giơ cả hai bàn tay ra xua xua:

- Cứ từ từ, cứ ăn cứ uống thoải mái đã, nào mời các ông!

Sắn nâng bát rượu lên tợp một ngụm rồi cầm cái đùi gà lên xé, nhai ngấu nghiến, ba thằng hào hứng làm theo.

Sắn ném cái đùi gà còn trơ xương vào vách đá, tợp một ngụm rượu rồi thủng thẳng:

- Cách đánh lợi hại nhất của ta lúc này là bóp dái đối phương...

San nhả miếng thịt gà béo ngậy trong mồm ra, tròn mắt ngạc nhiên:

- Bóp dái đối phương?

- Đúng, bóp dái. Bọn chúng bảo là chiến tranh du kích, nhưng du kích cái quái gì, chạy trốn lòng vòng, nhằm nhằm đối phương sơ hở là nhảy vào cắn phá, rồi lại chạy, lại chui rúc, có cơ hội lại thò ra, như thế không phải là bóp dái là gì.

Lùng cười rung cả râu tóc, cười hết trận, hắn vừa nói vừa làm bộ:

- Đúng, bóp dái. Hay, hay, cứ núp trong rừng, trong dân, thỉnh thoảng lại thò tay ra nắm vào bộ cà của chúng, rút dao ra, a lê hấp, thế là được một món nhắm rượu.

Hùng băn khoăn:

- Nhưng....

- Nhưng gì? Chúng không sợ ta nhưng ngại ta. Ngại chúng mới co cụm lại, mới bám sát dân. Cứ kệ cho chúng co cụm, cho chúng bám, trăm chỗ kín phải có môt chỗ hở, ta cứ nhằm vào chỗ hở ấy mà bóp, mà tiêu hao, quấy rối.

San vỗ tay ầm ĩ:

- Đúng, đúng, đánh kiểu ấy thì đầu chúng có bằng sắt cũng thành bùn. Hay hay, phen này ta sẽ cho biết thế nào là người Phòng Tô.

Sắn nâng bát rượu lên:

- Đúng, phải cho chúng thành bùn, nhưng trước khi chúng thành bùn mình phải thành thép đã. Mời các ông, ta uống xong rồi bát này rồi đi điểm lại lực lượng.

Cả bốn cùng nâng bát, những giọt rượu trong vắt chảy vào cuống họng chúng như lửa chảy.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #53 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:46:58 pm »

Chương mười bảy

Bí thư Châu ủy Đoàn Văn Long cùng một đơn vị bộ đội tiến vào Sín Chải. Anh nhìn những đồng đội của mình. Phần lớn anh em trong đại đội là người Tày Cao Bằng. Toàn những con người kiên nghị, tóc húi cua, khỏe mạnh, bắp chân bắp tay cuồn cuộn, da đồng hun, họ là những người con của rừng, thông thạo và yêu rừng, vì trách nhiệm với giang sơn đất nước họ rời làng bản quê hương lặn lội sang đây dẹp loạn. Thung thổ, khí hậu, phong tục miền Tây Bắc khác với vùng Đông Bắc, song rừng ở đâu cùng giống nhau, người ở đâu cũng giống nhau. Cũng những dãy núi đá, núi đất đuổi nhau tới ngút tầm mắt. Cũng rừng, cũng sông, cũng suối, rừng nuôi người, che chở cho người, con người sống chết nhờ rừng. Bọn phỉ đã đẩy người Phòng Tô đối địch với cách mạng nên buộc họ phải cầm súng chống lại những người đáng ra gặp nhau phải tay bắt mặt mừng.

Bầu trời u ám, mưa không ra mưa, nắng không ra nắng, cây cối ướt át, mặt đất ngun ngút hơi nước, bay lên chẳng được, chui xuống không xong, cứ là là rồi dần dần nặng hạt, dần dần quá mù ra mưa. Không khí ong ong, oi nồng, bứt rứt, khó chịu. Cảnh vật hai bên đường vắng vẻ, xác xơ, u ám làm những người gắn bó với Phòng Tô hàng chục năm như Long hay những anh bộ đội lần đầu vượt qua dãy Hoàng Liên đều xót xa, đau đớn. Vậy là sau năm năm, bất chấp nỗ lực của đảng, chính quyền, của nhân dân, bọn phiến loạn lại đưa Phòng Tô chui vào ruột cơn lũ ống. Trước đây bộ đội chủ lực vừa rút thì phỉ nổi. Những khẩu hiệu chống chính quyền, khuếch trương thanh thế Pháp, Mỹ, phỉ, miệng truyền miệng, lời tiếp lời. Phỉ ép dân, dân theo phỉ, đói khát, ốm đau, bệnh dịch tràn lan... Bây giờ nào có khác gì. Nôn nóng, căng thẳng, bất lực, tâm trạng của kẻ dậm chân tại chỗ khiến cho Long bải hoải như người vừa ốm dậy. Cách đây ba hôm, anh cùng Ban chỉ huy chiến dịch đang bàn bạc phương án tác chiến thì một chiến sỹ hốt hoảng vào báo tin ở Tà Thàng bọn phỉ phục kích bắt được một đội viên du kích nữ và một đồng chí bộ đội. Chúng tra tấn hai người suốt đêm rồi hành hình bêu xác ngay trên cây cơi đầu bản. Cả Ban chỉ huy lặng người. Long lệnh cho mọi người lên ngựa phóng tới Tà Thàng. Ai nấy đều rụng rời. Bản Tà Thàng với hơn một trăm nóc nhà, bình thường nhộn nhịp chó kêu, ngựa hí, người khóc, người gọi nhau giờ vắng lặng như bản hoang. Trên cây cơi lủng lẳng hai xác chết. Cả hai trần truồng như nhộng. Một xác bị móc mắt, hai hố mắt sâu hoắm, đen ngòm như đầu lâu của thây ma. Một xác bị mổ bụng, phanh ngực, toàn thân bết máu, ruột chảy lòng thòng, bụng, ngực trống hoác. Có lẽ đôi mắt, buồng tim, lá gan của cả hai đã vào bụng bọn uống máu người không tanh rồi.

Mấy ngày qua đã có lúc Long cố hướng suy nghĩ của mình khỏi bọn phỉ, song giống như người mất ngủ, càng cố nuôi giấc ngủ càng chạy, càng không nắm bắt được. “Thổ phỉ là gì?”, “Phỉ có đặc quyền, thần quyền gì mà khiến mọi người phải theo chí chết?”, “Phỉ thua, phỉ chết khắp nơi vậy mà chúng vẫn đua nhau nổi loạn là tại sao?”, những câu hỏi giằng xé, trở đi trở lại nhoi nhói lên trong trí não mà Long không tìm được câu trả lời. Anh sai chăng? Cách mạng sai chăng? Người vùng cao vốn cụ thể. Những thứ nhìn thấy, sờ thấy tương đương với sự thiêng liêng, vậy mà cái đích của xã hội cách mạng đang xây dựng xa vời quá. Những từ ngữ, viễn cảnh về chủ nghĩa xã hội, về đất nước Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc... anh được học, được biết, rồi lại được truyền dạy nghe thì sướng tai, biết thì rạo rực, nhưng chạm vào sao thấy khó quá. Trước đây, trong suy nghĩ giản đơn của mình, giản đơn trong những bài thuyết giáo được tiếp nhận, anh coi kẻ thù chỉ là giai cấp bóc lột, là giặc ngoại xâm, chạm vào đánh phỉ anh buộc phải đối lập, phải đánh nhau với cả những người mình chiến đấu vì họ, trong đó có cả những người anh từng yêu mến, gây dựng. Cuộc chiến lùng nhùng không có tiền lệ đang ở giai đoạn giằng co âm thầm, quyết liệt. Tổn thất chồng lên tổn thất. Khó khăn chồng lên khó khăn. Bọn phỉ chạy vào rừng rồi song dân quân, du kích phối hợp bộ đội như những kẻ lạc rừng. Các đại đội chia ra tiến vào tiếp quản từng khu vực rồi lại chia ra tiếp quản từng bản. Nói là tiếp quản nhưng thực ra họ đang đi vào chỗ có người mà như không người, tưởng như không nguy hại song hiểm nguy, tai họa rình rập mỗi bước chân. Từng bản, từng bản như sau trận dịch. Từng nhà, từng nhà cửa đóng then cài, cành bang cắm cửa. Để giữ đất, giữ dân bộ đội phải vào rừng chặt cây, cắt gianh dựng lán ngay đầu bản để trụ lại. Mỗi bản một trung đội, tùy theo địa hình mà dựng lán. Mỗi lán một tiểu đội, ba lán có một lán nấu ăn. Kế hoạch ăn ở tập trung, song phần lớn thời gian bộ đội phải vào rừng lùng sục, phục kích, hoặc tỏa ra các bản vận động, thuyết phục nhân dân. Vậy mà kết quả như thả muối xuống suối, thận trọng, cảnh giác, xa lánh cán bộ, bộ đội đang là tâm lý chung của cả vùng. Cả vùng vườn không nhà trống, gặp người như gặp ma, thấy bộ đội, cán bộ là như thấy người đang mang hủi đến nhà. Hơn thế nữa, bọn phỉ thông thuộc địa hình, địa thế, luôn tạo được thế chủ động, nên bộ đội, cán bộ đi lẻ, không cảnh giác là y như bị phục kích, bắn lén...

Long cho bộ đội đóng rải ra trước cửa nhà dân. Mỗi nhà một tổ ba người. Bộ đội khắc làm lều, khắc sắp xếp chỗ ăn, ở, ngày ngày tỏa ra lấy củi, dọn dẹp vườn tược, tu sửa nhà cửa cho dân, đêm đêm tỏa ra tuần tra canh gác. Bảo vệ, kính già, yêu trẻ, nhường đường, ghé vai gánh vác việc khó, đạo lý, thực lòng, nghiêm minh... đủ cả, vậy mà cả tuần giời vẫn không cạy răng được người già, con trẻ. Cả bản không có một người đàn ông trai tráng ở nhà nhưng không ai nhận nhà có người đi theo phỉ. Một tối, bộ đội phát hiện và tấn công bọn phỉ trên quả núi gần bản. Bị đánh rát, chúng sợ hãi tháo chạy, bỏ lại xoong nồi, quần áo. Mọi người hồ hởi mang chiến lợi phẩm về báo cáo thì chính bà chủ nhà khóc ầm lên, hoá ra chồng bà là phỉ, quần áo, xoong nồi chính là của nhà bà.

Thấy cách “tỏa rộng, bám chặt” không thành, Ban chỉ huy chiến dịch tiễu phỉ thay đổi chiến thuật, lấy cốt cán đi vào “bắt rễ”, giác ngộ “rễ”, để từ “rễ” luồn sâu vào trong nội bộ địch.

Long thân chinh đi tìm “rễ”, bắt “rễ”. Anh một thân một mình khoác ba lô đi khắp bản. Gặp cảnh một bà cụ thấy chó cắn ló đầu ra khỏi cửa, thấy anh lại tụt vào, sập cửa lại - anh bỏ qua. Đi qua cái cổng đá nhà họ Triệu anh phân vân. Cụ giáo Choong đã giúp anh rất nhiều trong tiễu phỉ trước đây, giữ gìn an ninh trật tự sau này. Chính anh đã dìu dắt bồi dưỡng Dùn lên làm chủ tịch xã. Lần này Dùn không chỉ phản anh mà còn kéo theo anh em chú bác theo phỉ. Tội tày trời? Mặc cảm tội lỗi? Bị bọn phỉ khống chế hay âm mưu chống phá? Có thể là tất cả tụ lại trong nhà họ Triệu. Từ khi vào Sín Chải, lần nào anh gõ cửa là lần ấy đàn chó mấy chục con xông ra đón tiếp. Còn lần này... Long chậc lưỡi bỏ qua.

Long lững thững đi qua hầu hết các nhà.

Đàn chó gầy thấy người lạ cố lê chân ra sủa. Với người Dao, chó là con vật trung thành, là kẻ giúp ông Tổ Bàn Vương làm nên sự nghiệp. Người Dao nuôi chó chỉ để làm thợ săn, làm kẻ giữ nhà. Người Dao không ăn thịt chó. Con chó trong nhà người Dao, hoặc bị thú vồ, trộm bắt, hoặc tự già mà chết chứ không ai giết. Gặp thời loạn lạc, đói kém, chó các nhà như chó hoang, chúng hau háu chờ người ỉa để dọn phân, sục sạo khắp rừng, khắp nhà để bắt chuột, bắt chim, bắt sóc, mò xuống suối bắt cá, bắt ếch, bắt cua. Dù đói, dù ốm, khuyển mã chí tình, chúng vẫn trung thành với chủ. Chim, thú, cá bắt được chúng luôn tha về rồi ngồi chờ miếng xương, miếng lông chủ thải ra, sớm tối chúng vẫn trung thành giữ nhà, giữ vườn, mặc cho chủ không có gì để mà giữ.

Đến căn nhà cuối bản Long dừng lại. Trước mắt anh là ngôi nhà xơ xác, xiêu vẹo, cổng, dậu đổ tan hoang, trong chuồng con lợn sề trơ xương thấy bóng người rên lên đòi ăn, có lẽ thấy nhầm đối tượng nó lại nằm vật xuống thở dốc. Đầu hồi, con chó đen trũi, gầy ngoẵng nhếch nhác đón anh bằng cách vừa nằm vừa sủa.

Nỗi xa xót, thương cảm dâng lên làm cho Long rưng rưng như chính nhà mình trong cơn hoạn nạn. Nếu không có biến loạn thì chắc chắn ngôi nhà không tàn tạ thế kia, con chó trung thành không phải chịu cảnh đói đến nỗi cắn không ra hơi. Phải bắt đầu từ đây, những nhà nghèo thế này mà theo phỉ, không bị lừa, không theo đóm ăn tàn thì cũng bị bức bách, khống chế. Long hạ ba lô, nhìn quanh, những điều bắt được ở sau lưng, những điều cần tìm hiểu lửng lơ trước mắt, chúng làm anh vừa thấp thỏm mong đợi, vừa e ngại phải chôn mình vào cái việc không đâu. Anh chậc lưỡi rồi lấy dao lại mấy bụi chuối cắt lá khô mang tới gốc lê, mở ba lô xem lại gói muối, bật lửa, rồi đem cà mèn ra suối lấy nước nấu cơm.

Long đã qua bữa trưa sang bữa chiều rồi mà ngôi nhà vẫn không có ai bước qua cổng. Rồi đêm cũng xuống, cả thung lũng Sín Chải chìm dần vào bóng đêm, cái bóng đêm đầy lo âu, phấp phỏng. Long phân vân, rờn rợn, tính về gọi một tổ bộ đội đến ngủ cùng, song ngẫm đi ngẫm lại, mục tiêu đi “bắt rễ” phải để cho “rễ” gần gũi với mình, quân cán súng ống kè kè chỉ làm cho họ càng xa lánh. Anh ngả người vào cái ổ, trùm tấm chăn trấn thủ lên rồi cố nuôi giấc ngủ.

Giấc ngủ mãi không đến. Một mình đối mặt với màn đêm đầu óc Long rối tung. Lạ lẫm, hiểm nguy anh không ngại, cuộc sống thời chiến đã rèn luyện cho anh thích nghi nhanh với mọi hoàn cảnh, vậy mà sao lồng ngực lại đập rộn lên khắc khoải, những suy nghĩ cứ nhảy nhót lung tung như những giọt trăng lọt qua kẽ lá. Anh bỏ ra bờ suối. Đêm xuống, những con chồn hôi bò xuống vũng nước dọc bờ suối ăn nòng nọc gây nên những tiếng sột soạt vừa thích thú, vừa rờn rợn. Trong tự nhiên khắc nghiệt các loài cố ăn, cố uống những gì có thể. Đám nhái vô tư với những tiếng kêu vô hại, cứ hát mãi cái giọng trời cho. Chúng chẳng cần luyện giọng, chẳng cần biết có cần cho ai hay không, chỉ biết kiên nhẫn thể hiện hết mình... Anh lững thững đi dọc bờ suối. Những cơn gió thôi không lang thang mà cứ ngu ngơ ve vuốt những tán lá non tơ. Tảng đá đọng hơi sương ướt rượt như vừa được vớt ở dưới suối lên. Tiếng nai tác gọi mưa, tiếng sấm ì ầm đáp lại. Những cây lau, cây sậy mọc trên mỏm đá giữa lòng suối vươn lên thể hiện sức sống của mình. Long đắng lòng, những cây dại kia dẫu nắng nung đến nứt đá, dẫu nước lũ có réo gào nhưng chừng nào còn mỏm đá, thì cây vẫn sống, lá vẫn xanh, hoa vẫn nở. Cây dại còn vậy chẳng là anh. Không! Một ý nghĩ phản kháng cựa quậy, chèn lên đè nghiến sự suy nghĩ vẩn vơ, ngơ ngác xuống. Cây đợi mưa trái mùa cây héo, trời đợi nắng trái mùa trời rỗng, ta cũng như cây, như trời, ta không thể đầu hàng.

Lại qua một đêm một ngày mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Long như một kẻ mong làm rể gặp nhà cô gái khó tính thử thách, lúc xuống suối mò cá, lúc vào rừng tìm rau cho lợn, tìm măng, mộc nhĩ cho mình, cho chó, đêm về nằm co ro dưới gốc lê nuôi dỗ giấc ngủ.

Đến chiều ngày thứ tư thì một người đàn bà gầy đét, đen sạm, quần áo tơ tướp, lưng địu một đứa bé, tay dắt một đứa bé mở cổng.

Đoán là chủ nhà nằm trong rừng không chịu được nữa phải về lo cái ăn cho con, cho mình, Long mạnh bạo vào nhà chào chị rồi ghé ngồi chỗ góc cột. Chị chủ nhà vừa nhóm bếp, vừa lấm lét, sợ hãi nhìn trộm Long. Anh lấy kẹo ra làm quen với thằng bé, thằng bé ngơ ngác nhìn mẹ, không dám cầm. Long gợi hỏi chuyện chủ nhà, chủ nhà trả lời bằng kiểu ú ớ, hua tay múa chân của người câm. Đúng là cười ra nước mắt. Long chán nản ra gốc lê thu dọn đồ đạc rồi thập thững về chỗ đóng quân.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #54 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:49:35 pm »

Chương mười tám

Trời đã sang chiều. Đám đàn bà con gái nhà họ Triệu uể oải, nặng nhọc bước qua cổng đá. Từ khi Dùn và những người đàn ông họ Triệu bị ép buộc theo phỉ, nhà họ Triệu cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. An thân - chỗ ẩn náu cuối cùng cụ giáo lựa chọn mấy chục năm nay lại tỏ ra đắc dụng. Cánh cổng đá nhà họ Triệu đóng kín, gió đông không lọt được, gió tây không thổi qua, gió quẩn bị chặn lại bên ngoài bờ tuờng đá. Cũng như những nhà khác trong vùng, biến loạn bước đầu làm cho nhà họ Triệu rối lên vì lo sợ, vì đảo lộn, nhưng cuộc sống không thể lúc nào cũng canh cánh mãi được, mỗi người buộc phải thu xếp ăn ở, làm lụng cho hợp với hoàn cảnh, nhất là khi cả bản vắng bóng đàn ông. Nhà họ Triệu cũng vậv, trong bờ tường đá, dưới sự dẫn dắt của cụ giáo mọi việc đã dần dần trở lại bình thường. Sáng sáng những người đàn bà vẫn ai vào việc nấy.

Mấy người lụi hụi múc cám từ cái chảo đại vào cái thùng gỗ rồi lạch bạch xách ra chuồng lợn. Mùi cám, hơi nóng từ những cái thùng gỗ thông đuổi theo những bước chân vừa nặng nhọc, vừa hứng khởi đánh thức đàn lợn. Lợn là loài đẹp mã, thuận cho cúng tế, bồi bổ cơ thể con người hàng ngày, nhưng đó là khi chúng no tuổi ăn, tuổi uống, tuổi giời, còn đang lúc bụng chảy, lông dựng, xương nhô thì chúng là hiện thân của ma đói ma khát. Đến bữa, thấy tiếng người, thấy hơi cám là hai tai chúng vểnh lên, bốn chân lồng lộn, cái miệng đầy răng nhọn trắng ởn ngoác ra, tiếng kêu váng lên như bị chọc tiết. Những người đàn bà thích thú đổ những xô cám vào máng, nán lại mua vui cho con mắt một lát rồi lại tất tả xách xô vào múc cám cho đàn lợn khác.
Trong nhà mấy tốp đang hào hứng thái cỏ ngựa. Một người đưa nẹn cỏ đúng cữ vào cầu dao, một người nắm chắc cán dao ấn mạnh. Cùng với tiếng soạt vui nhộn là những phoi cỏ hứng khởi bung ra. Ngựa vốn là loài thông minh, trung thành, nhẫn nại, dũng cảm. Thủơ còn làm Ngự Mã thiên cung, ngựa vốn có bốn chân, hai cánh, khi chạy, khi bay, có tài, có sức, lại được Ngọc hoàng Thượng đế sủng ái nên sinh kiêu ngạo, càn rỡ, coi giời đất, thần phật chỉ là nơi tập dượt quyền cước, cắn xé. Ngự Mã cả gan náo loạn Long cung, đá chết thần giữ cửa bị Ngọc hoàng Thượng đế nổi giận đày ải đè dưới núi Côn Luân. Thấm nỗi đau đớn, khổ ải suốt hai trăm năm nên sau khi được ông tổ của loài người cứu thoát, Ngự Mã nguyện mang thân xác báo đáp và trở thành con vật chi tình của loài người. Do chi tình, do công lao mà loài ngựa được loài người quý mến, chu đáo. Ở, phải mỗi con một chuồng, nền gỗ, vách gỗ, kín trên, bền dưới. Ăn, phải là loại thóc tốt, ngô mẩy, cỏ phải là loại cỏ na nhung non tơ mềm như rau cải, ngọt như lá mạ, thơm như mật... Cùng với người chăm lợn, chăm ngựa là những người chăm người. Người nấu cơm, người làm rau, người dỗ con... Người Dao nam quyền phân giới rõ ràng, nhà ông giáo cũng không ngoài vòng tròn tập tục. Đàn bà trong nhà họ Triệu không phải suốt ngày co ro cúm rúm trước mặt những người đàn ông, song họ vẫn phải bám chặt vào bổn phận, lấy bổn phận làm trách nhiệm, làm vui thú. May cho họ là cụ giáo ân uy trải đều như nắng, tai họa hòa chung như nước, nên trong nhà dẫu phúc họa có thế nào cũng xuôi dòng, gió bão thế nào cũng không nghiêng ngả. Từ người yên, nhà ấm nhà họ Triệu mới nối đời cộng vào, người họ Triệu mới tươi xanh được như sợi dây mài.

Trong căn buồng quen thuộc, thoáng đãng cụ giáo ngồi tựa vào cái nệm lông chim, mắt để ra phía mông lung, về những người phụ nữ đang tất bật chăm lợn, chăm ngựa, chăm gà vịt, chăm người. Đêm qua Triệu Phú Dung, là chắt nội của cụ giáo về nhà, hắn vừa ra khỏi cửa rừng thì bị bộ đội bắt giữ. Biết Dung là chắt ngoại cụ giáo, lại thật thà kể hết những gì đã thấy trong bọn phỉ, Long bảo người sắp cơm cho hắn ăn rồi thả cho về.

Nghe thằng chắt nội kể về những gian nan mà người họ Triệu đang phải trải trong rừng, cụ giáo bừng bừng căm giận. Cơn kích động làm cho cái dáng điềm tĩnh, ung dung tự tại thường ngày bị vùi trong tro bùng lên, cụ vùng đứng lên, mặt tái xanh, hai hàm răng nghiến chặt, chòm râu rung rung, đôi chân run run đi đi lại lại quanh gian nhà. Thằng chắt nội sợ hãi nhìn cụ. Cụ mà trút sấm sét lên đầu thì coi như đời nó voi dày ngựa xéo.

Chừng đã nguôi cơn giận, cụ giáo hỏi thằng chắt đang mặt xanh như đít nhái, hỏi:

- Chúng có để bọn họ Triệu sống chung một chỗ không?

- Dạ không, chúng phân tán ra làm mấy nhóm, chỉ khi giời đi vắng mới được gặp nhau thôi.

- Thằng Dùn có thể tụ tập được chúng mày không?

- Dạ được ạ, anh Dùn đã mấy lần dùng thắt lưng ám hiệu cho chúng cháu gặp nhau ở trong rừng.

- Thế thì tốt rồi, đi cho cái gì vào bụng đi.

- Dạ... nhưng còn...

Dung ấp úng, nó liều mạng mò về nhà không phải là để trốn mà mong cụ nội tìm cho những kẻ họ Triệu lối thoát. Lối thoát tìm được hay không nó cũng phải trở lại rừng, không trở lại mười mấy anh em, chú cháu nó sẽ bị giun chui vào mũi vót đũa.

Cụ giáo cời cho bếp lửa bùng lên rồi nhẹ nhàng với thằng chắt khốn khổ:

- Không nhưng gì cả, cháu cứ ăn uống rồi quay lại rừng, mọi việc để cụ tính.

Được lời như cởi tấm lòng, thằng Dung giờ mới thấy đói. Nó vụt chạy sang cái bếp đang rực lửa phía đầu hồi. Ở đó mẹ nó đã xào sẵn những món ăn quen thuộc, chỉ một loáng cái bụng đói khát dai dẳng đã được lấp đầy thịt lạp xào, ngọn cải cay, đậu phụ nướng, cơm nếp nương.

Đợi Dung ăn xong cụ giáo dặn dò nó những việc cần làm, chỉ cho nó những thứ cả nhà chuẩn bị cho những người ở rừng. Thằng Dung rưng rưng khoác cái túi vải chứa đầy thứ ăn, bịn rịn chia tay mọi người rồi lủi vội vào rừng.

1

Cụ giáo Choong không ngờ đời mình lại phải rơi vào hoàn cảnh thế này. Trước đây mấy lần phỉ nổi, dưới sự o ép của chúng nhà họ Triệu cũng không ngoài vòng cương tỏa. Nhưng những ngày ấy cụ không lo. Người nhà họ Triệu bọn phỉ nắm giữ nhưng đầu óc, tim phổi, dòng giống họ Triệu cụ nắm giữ. Lần này khác! Thằng cháu nội của cụ đã làm cán bộ trong chính quyền mới, đã leo lên đến chức chủ tịch xã, đứng đầu cả ngàn người, hiểu biết của nó rộng dài hơn trước, nanh vuốt của nó sắc nhọn hơn trước, lời nói, việc làm của nó như mũi tên, bắn vào đâu chết đấy. Từ ngày nó cùng mười tám người họ Triệu bị thằng Sắn ép làm phỉ cụ phải lấy ngày thay đêm, lấy đêm thay ngày.

Cụ Choong giận Dùn. Giận lắm. Nảy nòi ra chuyện tranh cướp, chém giết là nảy nòi ra chuyện mất dòng, mất giống. Những cốt lõi, tâm huyết đúc kết của bao năm ăn cơm gạo của giời, uống nước nhà giời cụ hết nước hết cái lời lôi ra khuyên bảo, dạy dỗ mà nó không chịu tỉnh ngộ. Bây giờ phải chui rúc trong rừng, đói không có cái ăn, rét không có cái mặc, sống chết rình rập từng khắc, đau chưa, khổ chưa, đã nhận ra con đường sáng chưa?

Giận thì giận vậy nhưng nghĩ đến sự khổ ải mà con cháu đang phải chịu trong rừng, cụ không đành lòng. Ngày chúng ở nhà, đàn gà đậu trĩu trịt trên cành lê, cành mận, muốn bắt chỉ cần vỗ hai bàn tay vào nhau, tung rá ngô là có vài con nằm trong chảo. Lợn nhung nhúc đầy sân, muốn ăn chỉ cầm thả nắm ngô vào cửa bao vải là dụ con nào được con nấy. Trên gác mấy cái bếp, bếp nào cũng thịt lợn, thị trâu hun khói treo đầy, cắt tảng nào xào thì cắt, lấy xâu nào nướng thì lấy. Nay chúng chui vào rừng sâu, gạo không, muối không, rau, thịt không, rừng núi bủa vây, giá rét cắt da cắt thịt chúng biết sống ra sao. Tay đứt ruột xót, không làm được gì cho chúng thì cũng chuẩn bị sẵn ít thịt thà, gạo sấy, nó có về còn có cái mà mang đi. Nghĩ vậy, cụ cho con cháu bắt lợn béo, trâu béo ra mổ chuẩn bị thức ăn cho con cháu.

Cụ Choong có cách ướp thịt, giữ thịt đặc biệt. Thịt lợn, thịt trâu, thịt ngựa đã vào tay cụ ướp, giữ là vừa ngon, vừa để được lâu. Thịt lợn mổ ra cụ rửa sạch rồi cho cả khổ mỡ to vào chảo, cho nước xăm xắp luộc cho cạn nước, sau rán thật kỹ, múc cả mỡ lẫn thịt vào chum đậy kín, để sáu tháng không ôi. Xương sống, xương sườn, khuỷu gối lợn cụ băm nhỏ, ướp muối, rang khô bóp với gừng, rượu, cho vào chum bịt kín làm mắm, nấu lên thịt vẫn hồng tươi, ăn vào ngọt mềm cả lưỡi. Lòng lợn non cụ làm sạch, chần nước nóng cho co lại rồi nhồi thịt lợn nạc băm kỹ, ướp hoa hồi, thảo quả, địa liền, quế, muối làm lạp xường treo lên gác bếp, lòng, thịt ăn khói sẽ khô cứng lại, rán hoặc hấp ăn đều đậm đà khó quên. Trâu mổ ra cụ cho chọn thịt nạc lọc từng thỏi dài hai gang tay, to bằng hai ngón tay rồi bóp kỹ gừng muối rồi xiên vào xiên tre, mang phơi cho róc hết nước, đốt than đỏ rực để sấy khô và treo trên giàn bếp. Loại thịt này không chỉ nuôi được vị thơm ngon, để lâu mà còn dễ mang, dễ cất, mỗi người chỉ cần hai cân là có thức ăn ăn cả tháng...

Thức ăn khô, gạo sấy, muối sấy cụ giáo Choong đã đầy cả gác bếp mà không sao đưa ra rừng cho con cháu được. Đã vậy ngày nào cụ cũng bất dắc dĩ thả đàn chó ra đuổi khách, lần này thằng chắt về, cụ hy vọng nó sẽ là sợi dây nối những người họ Triệu ở nhà với những người họ Triệu ở rừng. Cách để cho con cháu ở rừng thoát khỏi tay bọn phỉ cụ chưa nghĩ ra, nhưng những đồ ăn, đồ uống cụ chuẩn bị sẽ phần nào làm vơi đi sự đói khổ mà chúng đang phải gánh chịu.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #55 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:53:53 pm »

Chương mười chín

Trên cái võng dù mắc qua hai cây sến nhặm trước cửa hang, Sắn đang trong tâm trạng của kẻ trên mảng giữa thác. Mặt trận Phòng Tô tự trị đã phải chui lủi trong rừng hơn một tháng ròng. Hơn một tháng chịu đựng biết bao thiếu thốn, đói rét, song hơn một tháng đủ để hắn kiểm nghiệm sự tồn tại của đội quân thề sống chết bên nhau. Cái cần nhất của một chiến binh là thiện chiến, lòng trung thành và ràng buộc củi lửa. Điều này hắn có thể yên tâm. Trong quân có lúc rối lúc nghiêm, cuộc chiến có lúc tĩnh lúc động, song rối, nghiêm, tĩnh, động gì thì quân tướng vẫn một lòng hướng về chủ soái. Thấy hắn cùng các vị trong Mặt trận Phòng Tô bình thản điều binh khiển tướng, bắt đối phương chui vào hết bị động này đến bị động khác, chúng thấy yên tâm. Mà không yên tâm không được, Mặt trận nắm vận mệnh tất cả gia đình các chiến binh. Kẻ nào lung lay, định trốn chạy hôm trước, hôm sau lập tức bố mẹ, con cái không bị đánh đập thì nhà cửa cũng bị thần lửa hỏi thăm. Kẻ nào ra hàng chính quyền lập tức trong nhà có người về chầu tiên tổ... Cái lối giữ mà không giữ, lấy người áp chế người này hiệu quả chẳng khác gì nắm giữ yết hầu từng người.

Một tên lính xô vào chỗ Sắn, mấy tên vệ sỹ lao đến khóa tên lính cứng như khúc gỗ.

Sắn thong thả ngồi dậy, bảo vệ sỹ mở huyệt cho tên lính. Sau phút hoảng hồn tên lính lắp bắp báo tin binh sĩ Đài bị bộ đội phục kích, Đài bỏ chạy bị lăn xuống vực chết mất xác.

Sắn giật mình, Đài là con trai duy nhất của nhà họ Trương. Đài nhà nghèo, tính tình gàn dở, cuồng tín, mười hai tuổi đã bị nàng tiên nâu trói chặt. Vì nó mà ông bố tội nghiệp của nó phải sớm về với tổ tiên. Vì nó mà bà mẹ khốn khổ của nó quanh năm suốt tháng vật vờ như cái xác không hồn. Sắn dùng cái thằng từng đào trộm mả ông chú bị sét đánh lấy bàn tay làm bùa hộ mệnh đi khua khoắng của nả nhà người như dùng con chó đói khát. Muốn cảnh cáo kẻ thò lò hai mặt ư? - Bơm cho nó vài tảo thuốc là hôm sau y như rằng kẻ đó không bị sập chông cũng ngã núi. Cần một nhà trong bản bị cháy ư? - Mang đồng cân thuốc dứ dứ trước mặt thằng mất hết tính người là đêm hôm đó căn nhà ấy bị thần lửa liếm tứ phía. Muốn nắm được nội tình ở bản nào ư? - Cấp cho nó vài đồng bạc trắng là cả tuần giời con chó trung thành, khôn khéo, ranh ma, lỳ lợm chui rúc khắp bản cho đến khi biết rõ ai hắt hơi sổ mũi, ai tắm suối cởi truồng, ai ra khỏi bản thăm thân, người lạ nào vào bản... rồi mới quay về báo cáo, lĩnh thưởng. Từ khi Đài được vào dưới trướng của Sắn chưa bao giờ Đài làm hắn thất vọng. Hôm qua Đài được hắn thân chinh nhét vào tay ba đồng cân thuốc phiện rồi giao việc bí mật thâm nhập vào bản Lúc tìm hiểu bố phòng của bộ đội. Đài chết, hắn mất một kẻ thạo việc, mất một con chó trung thành... Bỗng một tia sáng lóe lên “thuận nước đẩy thuyền”, phương châm, cách sống của người miền sông nước được người Dao hóa thân vào phong tục tập quán, được coi là lẽ sống, là cách ứng xử của những kẻ biết mình, biết người. Tại sao ta không lợi dụng việc thằng Đài chết để thổi gió vào hòn than đỏ ủ trong đống rêu khô, phá tan cái đập làm dồn ứ bao bức bối, khó chịu? Hà Bá mong mùa nước lũ để lấp đầy cái dạ dày, hổ báo mong rừng động để khỏi phải khổ sở rình mồi, còn ta, thời cơ là lực lượng, ta không nắm lấy cơ hội trời cho này thì còn đợi đến bao giờ nữa.

Sắn hỏi kẻ đưa tin:

- Anh em nhà thằng Đài có ai trong quân.

Một kẻ thưa:

- Dạ có, thằng On và thằng Phin, là anh em con chú con bác với thằng Đài.

- Chúng nó đâu?

- Dạ, chúng nó đang chia thù sẻ hận ngoài rừng.

- Gọi chúng vào đây.

Kẻ đưa tin lắp bắp vâng dạ rồi lùi ra.

Sắn sửa lại áo sống rồi ra vẻ đăm chiêu, song trong bụng lại mừng khấp khởi.

On và Phin len lén vào hang Tổng chỉ huy. Dẫu cố giấu những đau buồn, mất mát song dáng vẻ hai người vẫn như tàu chuối trên bếp.

Sắn chỉ cho On và Phin chỗ ngồi rồi đi đi lại lại vẻ bức xúc:

- Ta biết nỗi đau của hai người. Hai người cũng nên biết cái chết của chú Đài là đau đớn của ta, của người Dao Phòng Tô. Một con ngựa đau cả tàu còn bỏ cỏ, huống hồ một con người ra đi không hợp lẽ trời. Nhưng lòng thương xót đâu chỉ có một cách ôm đầu đau khổ. Đau xót phải là bày tỏ, là xả bớt, cách nuốt đau vào trong của hai chú có ích gì cho người chết. Cái mà người chết cần là siêu thoát. Muốn siêu thoát được thì oán thù phải trả, các chú đừng có làm như mấy mụ đàn bà người Kinh ngoài chợ nữa.

On và Phin nhìn nhau, ngơ ngác. Với họ, Tổng chỉ huy là dưới trời, trên muôn người. Tổng chỉ huy có học, đã từng được làm vua, đã được cấp sắc bẩy đèn, đã thông lý thông lối.... Còn On và Phin, cũng như nhiều người khác, trước khi vào rừng cầm súng họ là những kẻ đói khát, rách rưới, chưa một lần bước chân khỏi dãy Hoàng Liên... Tổng chỉ huy coi như anh em, lại khổ cùng nỗi khổ, đau cùng nỗi đau của con tim lá gan hai người thì còn nói được gì nữa. Sắn vỗ vai Phin:

- Ta hỏi hai chú, chú Đài đã được làm lễ cấp sắc chưa?

On lắp bắp:

- Dạ chưa, họ tộc định tập trung làm cho chú ấy, nhưng mấy năm nay loạn lạc liên miên...

- Ta hiểu rồi, cấp sắc là việc quan trọng của đời người. Ta cũng như các chú, cũng đã từng trai giới, phù lục, trừ quỷ, hàng yêu, từng chân công, chân hạnh, tự mình khổ tu, sùng thượng luân lý, đạo đức... Ta đã từng thụ lễ, trải qua mười độ, mười điều nguyện, mười điều răn, đã thề trước tổ tiên mười điều, song cả ta, cả các chú còn chưa dám chắc khi chết có được vào vườn địa đàng. Chú Đài phải đột ngột ra đi. Về phần hồn, chú ấy chưa được một lần thụ lễ kính báo tổ tiên, chưa được tổ tiên công nhận. Sang thế giới bên kia hồn chú ấy sẽ bị Bàn vương lánh mặt, quỷ sứ vơ tóm. Trước khi hóa giải được kiếp nạn chú ấy phải dằng dặc trong khát nước, đói cơm, rách áo... Không nói các chú cũng biết, có khi còn biết hơn ta. Con người ta, về phần xác, khi sống thì gửi thân cho giời, khi chết phải gửi thân cho thổ thần, giờ chú ấy hồn ở đâu? Xác ở đâu? Ở đâu?...

Sắn ôm mặt nức lên. On và Phin ồ khóc theo, tiếng khóc ai oán rúng động lòng người làm ai nấy không cầm được nước mắt.

Một lúc sau On rụt rè thưa:

- Dạ thưa Tổng chỉ huy, vậy thì phải làm thế nào bây giờ ạ?

Sắn xòe hai bàn tay ra rồi nắm lấy vai On, Phin lắc lắc:

- Phải làm thế nào à! Cái này tự ruột thịt các chú phải trả lời chứ, sao lại hỏi ta!

Phin:

- Dạ... Việc này lớn quá mà chúng em mắt không qua khỏi bước chân...

Sắn đi đi lại lại suy nghĩ rồi dừng trước mặt On, Phin quả quyết:

- Phải cho họ hàng, làng bản làm lễ cấp sắc cho chú Đài trước khi làm ma cho chú ấy.

- Nhưng xác em nó đã bị Hà bá lôi đi rồi...

Sắn lại đi đi lại lại vẻ suy nghĩ rất lung rồi xòe hai bàn tay ra:

- Thì làm cho chú ấy một cái xác bằng gỗ. Phàm là kẻ sỹ thường coi tính mạng nhẹ như lông hồng, nhưng lại coi mình là con ngựa thồ đạo lý. Chú Đài đã chết vì nghĩa thì chú ấy phải được làm ma cho đúng lý, đúng lối.

- Dạ, thưa Tổng chỉ huy...

- Thiên - Địa - Nhân là ba tầng vũ trụ mà người Dao ta coi là nghĩa lý để tồn tại ở cõi đời. Trời - Đất - Nước - Dương gian là bốn thế giới dung nạp con người. Bao đời nay người Dao ta đã dung hòa cùng giời đất, cùng chung cái gốc tổ tiên. Trước việc giời không dung đất không tha không ai được phép đứng ngoài, các chú cứ về chuẩn bị đi, ta và mọi người cùng giúp sức.

On và Phin dập đầu đến tóe máu, rồi kéo nhau chạy như bay về chỗ ở của mình. Những dụng cụ tạc tượng được lôi ra mài rũa.

Trong rừng một cây nghiến cỡ một người ôm được Sắn cho người ngả xuống, một khúc gỗ được nhanh chóng cưa cắt, loại bỏ phần giác.

On và Phin được đưa tới chỗ khúc gỗ nghiến màu máu đỏ tươi, to bằng hình người được đẽo vạc khá cẩn thận. Hai người bồi hồi xúc động. Trong quãng đời tạc tượng của mình chưa bao giờ họ có được một cảm xúc kỳ lạ như thế. Tình cảm máu mủ ruột rà từ trong sâu thẳm dâng lên, việc hai người sắp làm vừa là trách nhiệm của người cùng huyết thống, vừa đáp lại tấm lòng tri ân của những người đang mong mỏi mình. Cả hai run run sờ nắn khúc gỗ như sờ nắn da thịt người anh em ruột rà thân thiết. On bồi hồi đưa cho Phin đục, bạt. Phin đỡ đồ từ tay em, từ từ lướt trên khúc gỗ. Thủ lĩnh nói đúng, cấp sắc là cái đích, là nghi lễ bắt buộc với đàn ông người Dao. Cấp sắc có nghĩa là lột xác, là để từ thế giới trẻ con sang thế giới người lớn, là trách nhiệm với thân xác và linh hồn mình. Cấp sắc là công việc thực hiện phong hàm, bổ nhiệm chức vụ để trở thành người chỉ huy, chỉ đạo binh quân nơi cõi Âm. Người nào không được cấp sắc người đó không tu luyện tâm đức, không đủ tư cách để thờ cúng tổ tiên, không được làm lễ đính hôn, khi về thế giới bên kia sẽ trở thành con ma lang thang, không nơi cư ngụ... Anh Đài lúc sống không được làm lễ cấp sắc, làm sống lại hình dáng của người anh thân yêu để trời đất chứng giám sự tu luyện của anh Đài, nhận anh Đài vào thế giới thiên đường đặt cả vào đôi tay tài hoa và tấm lòng tu thân của Phin, anh bắt tay vào làm việc.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #56 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 10:56:20 pm »

Sau bảy ngày tìm kiếm trong tuyệt vọng mà không tìm được xác Đài những người trong bản Tả Phìn, trong họ Trương đành phải ngậm ngùi ai về nhà nấy.
Còn lại một mình trong căn nhà lạnh lẽo, đơn độc ở cuối bản, bà Coi - mẹ của Đài vật vờ như bóng ma. Bà hết ra cửa quay về phía gió rít suối gầm lại quay lại ngước lên bàn thờ lầm rầm khấn vái cầu xin giời đất, các thần, tổ tiên phù hộ cho bà tìm được xác con. Đàn bà người Dao nhu mì, kính trọng, khiêm nhường trong đối nhân, xử thế, “Chín đời đốt đáy nồi nhà chồng”, chồng, con trai là chỗ dựa, là cây cột cái giữ nhà. Chồng bà đã tức tưởi ra đi, bà chỉ có mình nó trên cõi đời. Khi bà sinh ra nó, chồng bà đã đặt nó là Đài. Trương Vạn Đài. Khát vọng của chồng bà, của bà là đời này, đời sau, vạn đời sau họ Trương là dòng sông không tắc nghẽn. Thằng Đài suốt đời đã sống trong vật vờ, lúc chết lại còn mất xác. Về phần dương bà đau một, về phần âm bà đau mười. Phần dương cùng lắm bà mất cây cột cái, cái nhà này sụp thì bà về với đất là cùng. Còn về phần âm, thằng Đài ra đi... Bà Coi nấc lên đau khổ. Thằng Đài chết chưa được cấp sắc, đó là một món nợ lớn nhất của một người đàn ông và cũng là món nợ lớn nhất của một người mẹ như bà.

Đêm ngày thứ chín. Ngôi nhà tuềnh toàng phên vách, không cửa liếp nhà bà Coi đã bớt chìm đắm trong tang thương. Đau khổ, mất mát tưởng như đã lôi bà về cõi âm, song giống như cái ao bị trâu quần, mọi việc rồi cũng nguôi ngoai, lắng đọng.

Bà Coi đang thiêm thiếp trên cái sạp dát vầu bỗng có tiếng gõ cửa. Bà giật mình vùng dậy, qua ánh trăng lờ mờ bà đã nhận ra thằng Phin, bà rên lên:

- Kìa Phin, sao cháu lại về được nhà.

Phin suỵt soạt ra hiệu cho bà Coi im lặng rồi vẫy vẫy. Từ ngoài vườn bốn bóng đen khênh vào một vật gì to, dài, bọc trong một tấm vải đỏ.

Bà Coi giật mình, bối rối nhìn Phin dò hỏi.

Thằng On huơ huơ ngọn đuốc. Thằng Phin tiến lại lột tấm vải bọc, một hình nhân toàn thân đỏ tươi màu máu lộ ra.

Bà Coi rú lên. Bà chạy lại ôm chặt lấy hình nhân rên lên:

- Đúng thằng Đài rồi, đúng con tôi rồi. Trời ơi, sao con tôi cứng như sắt, thân toàn máu là máu thế này, con ơi là con...

Đợi cho bà Coi bớt xúc động, On bảo:

- Bác phải làm lễ cấp sắc cho anh ấy, phải làm ma cho anh ấy, Tổng chỉ huy bảo thế, chúng cháu làm theo lệnh của Tổng chỉ huy.

Bà Coi ngỡ ngàng:

- Nhưng....

Phin vỗ về:

- Phong tục dân tộc mình chưa có lệ này, nhưng thấy đúng lý đúng lối lại không hại gì, ta cứ làm lễ cho anh Đài vui lòng nơi chín suối bác ạ.

Bà Coi vẫn chưa dứt khỏi cơn mê:

- Nhưng như thế có được không cháu ơi?

On:

- Thím cứ lấy quần áo cũ của anh Đài mặc vào cho anh ấy là hồn khắc nhập vào, là làm lễ được.

Ngọn lửa trong lòng bà Coi dịu đi rồi lại bùng lên, nhất là khi những người trong họ Trương, trong bản không hiểu được ai thổi vào tai mà ùn ùn kéo tới, mỗi người một câu song ai cũng nghiêng về việc nên làm lễ cấp sắc đồng thời làm ma cho Đài.

Bà Coi còn biết làm sao được nữa, bà như ngồi trên cái máng trơn, mặc cho những người họ hàng, làng bản đẩy bà trôi đi.

1

Lễ cấp sắc cho Đài được làm đầy đủ thủ tục, nghi lễ như làm lễ cho người còn sống. Niềm mơ ước của bà Coi cho thằng con ngỗ ngược được thực hiện khá bài bản, song khác biệt giữa các đám cấp sắc của Đài với các đám khác là người được cấp sắc không trực tiếp thụ lễ.

Lễ tang ma được làm vào lúc trời gần sáng. Trong mịt mù của đêm, của núi rừng mọi người quây quanh đống củi xếp cao như núi. Trên đống củi là cái quan tài màu đỏ có chứa cái xác giả của Đài.

Sau lễ đưa hồn, những ngọn đuốc phừng phừng chuẩn bị dúi vào đống củi thiêu xác thì từ góc rừng Lý Văn San cùng một đám thuộc hạ ôm hương ra quỳ trước mọi người, nói giọng rưng rưng:

- Thưa các cụ, các ông, các bà! Thổ thần là một trong năm vị thần theo suốt cuộc đời ta, bản ta, dân tộc ta. Thân ta, khi sống thì nhờ giời, khi chết phải trả về cho thổ thần. Cây mài chặt đứt thì mọc lại, cây sến chặt đứt thì mọc mầm, song con người không được thế. Sợi dây nhà họ Trương đang bền vững như sợi dây rừng bò hết từ đời này sang đời khác, nhưng than ôi! Em Trương Vạn Đài ơi! Dòng giống nhà em đến đây bị chặt đứt mất rồi. Em Đài ơi! Cái chết không hợp lẽ đã làm hồn em không được bay lên trời, xác em không được về với đất. Phàm là con người ai chẳng thấu cái lẽ của trời đất, vậy mà ta đã đớn hèn để con cháu anh em chết tức chết tưởi, còn kẻ giết con cháu mình vẫn sống nhơn nhơn. Còn nữa! Nay nó chặt dòng họ Trương, mai nó chặt dòng họ Triệu, dòng họ Bàn, họ Lý... Không! Không thể được, mọi người hãy tỉnh cơn mê đi.

San rút mũi tên độc, giương cung nhằm con chó đang lởn vởn gần đấy.

Phựt - Mũi tên rời khỏi cung cắm phập vào đầu con chó tội nghiệp. Con chó ẳng ẳng mấy tiếng ai oán rồi nằm vật ra giãy đành đạch. San quay lại:

- Phải giết! Phải bắt chúng đền mạng như con chó kia.

- Đền mạng!

Hai tiếng gươm đao loảng xoảng gầm lên trong đôi mắt rực lửa của những người quỳ lạy trước đống củi thiêu xác Trương Vạn Đài.

- Đền mạng!

Hai tiếng chứa đựng hận thù luồn trong mất mát đau thương, trùm lên quan tài Trương Vạn Đài, trùm lên rừng núi, làng bản.

- Đền mạng!

Hai tiếng tách ra từ bài cúng dài lê thê, lơ lửng trong trời đất, biến thành con ma không đầu.

Ngọn lửa đã bùng lên, đập nước đã bị phá, tất cả rùng rùng gậy gộc, giáo mác, súng ống, ai có cái gì cầm cái ấy, tất cả tạo thành một đám cháy, thành dòng nước lũ quây quanh khu uỷ ban xã. Hai anh công an cùng hai anh du kích bị chém chết ngay tại chỗ. Đám người hò reo chạy đến vây trung đội bộ đội. Bị bất ngờ và không dám giết dân, bộ đội phải vừa đánh vừa rút.

Lý Văn San tuyên bố Tả Phìn thành căn cứ địa của Mặt trân Phòng Tô tự trị.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #57 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 11:00:12 pm »

Chương hai mươi

Ban chỉ đạo tiễu phỉ đang bế tắc không sao tiếp cận được với dân thì một phụ nữ quần áo rách tướp, đầu óc hoảng loạn tìm đến cầu cứu.

Người đó là Phàn Thị Pham. Từ khi được tin Bắc bị bọn phỉ bắn chết, bố chồng và chồng, rồi cả bố mình, em mình theo phỉ chống lại chính quyền thì Pham coi mình không phải là người nữa. Cô đóng cửa, đóng cổng, ăn uống tạm bợ, không giao tiếp, không làm lụng, đi đứng vật vờ như chết giả, vô vọng, tuyệt vọng bao trùm lên ngôi nhà hoang vắng, lòng dạ hoang vắng. Bình thường người phụ nữ Dao sinh ra đã ăn phải bả công việc. Sáng ra ông mặt trời chưa kịp chổng ngược cái lược vàng lên trời là đã phải tất bật trên con đường vào rừng, vừa đi vừa lấp đầy cái dạ dày bằng nắm cơm độn sắn. Suốt ngày lầm lũi với nương ruộng, đêm về, không lùi lũi với cái cối xay ngô ăn mòn vẹt cả răng thì cũng bã người với rau lợn, cỏ ngựa. Pham còn khổ hơn thế. Cô vừa phải gồng mình lo cái ăn cái mặc cho cả nhà vừa phải nai lưng làm lụng trả nợ đời nợ kiếp cho chồng, bố chồng. Để làm xong bổn phận, để không than thân, trách phận, không trút bỏ oán hận sang người khác, cô đã nén mọi sự đau đớn, nhức nhối vào sâu trong gan ruột để lùi lũi với công việc. Nhưng trước đây còn có cái để mà chăm, mà bực, sau này còn có Bắc để mà yêu thương, lo lắng, còn bây giờ! Cái giống đàn bà trâu ngựa có dây cương dây chạc thì cày bao nhiêu, thồ bao nhiêu cũng chịu được, không cương không chạc là úi sùi, tạm bợ, cái nhà biến thành cái lều chợ, cái bỏ vào mồm không thành bữa, cái mặc vào người xống xếnh như vừa chạy loạn về.

Một ngày, hai ngày, một tuần, hai tuần trôi qua... Pham những tưởng sẽ được tự hành hạ mình cho đến lúc về với tổ tiên, nhưng không! Đêm qua cô đang trằn trọc, sấp ngửa, dọc ngang trên sạp thì nghe tiếng gõ cửa. Cùng với tiếng gõ cửa đứt quãng là tiếng thở nặng nhọc, đứt quãng. Pham giật mình, cô vơ vội con dao dài ở cuối giường thế thủ. Bên ngoài, tiếng rên của con thú sắp lìa đàn làm cho Pham động lòng, cô đốt đuốc tháo chốt, cửa vừa mở thì bố chồng cô đổ gục vào. Trong ánh đuốc pơ mu rừng rực cái thân hình trơ xương bọc trong bộ quần áo đen tướp táp nằm còng queo ngay bậu cửa, mắt mở trừng trừng, da thịt lạnh dần. Bố chồng cô - con rắn độc khốn nạn làm tan nát đời cô không chịu nổi đói cơm, đói thuốc phiện hay cáo chết ba năm quay đầu về núi đã bò về chết gục ngay trước cửa nhà mình.

Pham sợ hãi rú lên. Cô cầm đuốc lập cập ra khỏi cửa, chạy đến gõ cửa một nhà, hai nhà, ba nhà song ngọn đuốc trong tay cô, thân hình tơi tả của cô chỉ làm cho lũ chó ốm đói được thêm một phen mỏi mồm, bĩ cực của cô, khẩn cầu của cô vuột đi như gió thổi qua mỏm đá. Pham mang nỗi lòng trĩu nặng bước vô định trên con đường rừng, cuối cùng đôi chân trâu nhớ đường, ngựa nhớ chủ lại đưa cô về cửa nhà mình.

Pham huơ huơ ngọn đuốc. Xác con rắn độc nằm còng queo, cái mồm rắn ngoác ra, cứng đơ, đôi mắt vô thần, vô nhãn trừng trừng như muốn cắm vào thịt da cô. Từ hôm con rắn già khốn nạn kia dùng cùng cái củ chuối đẽo dối làm tan nát giọt máu trong cô, cô đã dùng đủ mọi cách mà không tẩy khỏi hơi rắn ra khỏi cơ thể. Nhìn thấy lão là cô nhìn thấy rắn. Lão cười cười nói nói - Cô nghĩ đến khẩu phật tâm xà. Lão há cái mồm đầy răng cải mả cho đũa tiết canh gà vào mồm - Cô thấy cái mồm rắn đang nhai nuốt cục máu của cô. Lão ngồi lặng bên bếp - Rắn đang tính kế ăn thịt người. Lão nằm co ro hút thuốc phiện - Con rắn đang ăn thịt người. Lão nằm ngủ trên cái ổ cạnh bếp - Con rắn đang ngủ đông... Và bây giờ là rắn chết. Tự nhiên cô muốn điên lên, muốn đốt nhà, muốn bóp nát, muốn ỉa đái lên con rắn thối tha kia cho hả. “Chết ở đâu không chết lại quay về chết ngay trước cửa nhà bà” - Cô rít lên, người ngợm như chui vào đống lửa. Hai hàm răng nghiến chặt, bọt mép sùi ra, cô ném cây đuốc ra sân rồi gồng mình lôi cái xác bố chồng ra cạnh hố phân lợn, quay lại nhặt ngọn đuốc leo lét, luồn qua háng chín lần rồi ném vụt ra vườn.

Thỏa mãn được cơn hận Pham vào nhà đóng sập cửa lại. Một mình đối chọi với chính mình, với bóng đêm vật vờ cô mới thấy sợ. Cái sợ táp từ bên ngoài vào, thốc từ ruột gan ra làm cho cô rùng mình, co ro cúm rúm. Cô đóng chặt cửa, song nhà không thành nhà, ngoài trời trăng sao vằng vặc, ánh sáng lạnh trải khắp rừng, khắp núi như trải khăn tang. Ánh sáng lạnh luồn qua những vệt nứt nẻ của thân cây mai đập dập soi mói cộng hưởng với không khí ẩm ướt, lạnh buốt lưu cữu khiến căn nhà như cái nhà mồ. Pham run rẩy lần mò đến cái giường góc nhà, chui vào cái chăn bông gạo xơ xác. Cô cố chôn sự sợ hãi vào cái mớ bùng nhùng hôi hám, nhưng càng chui vào thì mọi thứ càng rõ mồn một. Rõ từ lũ chuột chí chóe trên xà nhà, từ làn gió mang hơi lạnh thổi rát rạt trên mái, từ tiếng cú kêu, tiếng giun dế rên rỉ, tiếng hoẵng hoảng hốt. Cái rõ ấy dằn vặt, hành hạ cho đến khi cô không còn đủ sức chống cự, đành phó mặc cho bóng đêm nuốt chửng mình. Trong mịt mùng của đêm, mịt mùng sợ hãi, mộng mị, thật giả cô thấy thuồng luồng quấn quanh xác bố chồng, thấy hổ tha mình vào giữa rừng kể tội. Rồi cô rơi xuống giữa ngôi nhà bị giời bốc mất mái. Trong ngôi nhà cô thấy mặt trời như một nong máu, mọi vật trong nhà, ngoài nhà nhuộm máu. Cô sợ run lên, mồ hôi túa ra ướt đẫm tóc tai, quần áo. Cô lê lết tới chỗ lần nước. Trong lòng cái máng hình con thuyền chết cạn là cái xác bố chồng bị chặt làm ba, miệng lão cạp cái củ chuối đẽo dối có phất phơ túm lông làm phép. Nhìn ngược lên, cô lại thấy cái đầu lâu của bố chồng treo ngay đầu lần nước. Cô hét lên, cuống cuồng chạy quanh nhà, trong sáng, trong tối, chỗ nào cô cũng vấp phải thân xác bố chồng. Cái xác ấy, chỗ rữa nát, chỗ mối ăn, kiến bu, quạ rỉa, chó gặm xương, mùi máu tanh tưởi bốc lên khiến cô muốn nôn mà không nôn nổi...

Pham đang cuống cuồng trong chín tầng địa ngục thì được những tiếng mở màn cho một ngày mới giải thoát. Cô giật mình bật dậy, hốt hoảng nhìn quanh, mồ hôi mồ kê ướt đẫm quần áo, tai tóc. Cô vùng dậy, bật cửa lao ra chuồng lợn. Chợt cô rú lên, quấn quanh bố chồng cô đủ loại họ hàng nhà rắn. Từ loài cực độc như rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn đỏ, rắn xanh, rắn mào đỏ, rắn sọc xanh, rắn sọc khoanh, rắn hổ trâu đến loài hiền lành không hại người như rắn ráo, rắn săn chuột... Những con rắn đủ màu, con ngủ, con thức, con rúc sâu vào cả đống lùng nhùng, thấy động chúng thi nhau nghển cao đầu lên thị uy.

Cái cảnh nửa canh chừng, nửa hành hạ xác chết của lũ rắn làm cho Pham rùng mình. Cô sợ hãi cho bố chồng, sợ hãi cho chính mình. Sợ hãi vượt lên khỏi sợ hãi là liều mình. Hai hàm răng nghiến chặt, mồm miệng sùi bọt, hai mắt lồi ra, cô vơ vội cái gậy lao tới quật túi bụi vào đống rắn. Trước kẻ điên, lũ rắn đang như những mầm giá đỗ mọc trên mâm cát vội cụp đầu, theo nhau trườn vội ra bờ suối.

Sự rút lui của lũ rắn làm tăng thêm can đản cho Pham, cô quăng cái gậy hì hục kéo xác bố chồng vào cửa nhà, đặt lên cái chiếu bó lại rồi chạy ra đầu bản liều mình húc đổ cánh cửa một nhà, không may cho Pham, đón cô là một người câm.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #58 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 11:11:08 pm »

Ma chay là việc trọng và không thể không làm. Pham thẫn thờ đi dọc cái bản rỗng không. Sự quạnh vắng phủ lên cảm tưởng cô có trút bỏ áo quần chạy quanh bản cũng chỉ nhử được tiếng chó sủa. Cùng đường cô nghĩ tới các anh cán bộ, bộ đội đóng quân ở đầu bản. Từ khi biến loạn nổ ra, nhất là khi biết Bắc bị bọn phỉ bắn chết, chồng và bố chồng theo phỉ cô không dám nghĩ đến chuyện gặp gỡ họ, bây giờ thân cô thế cô, việc lại không đừng được, cô quyết định đến gặp họ kêu cầu.

Long sốt sắng tiếp Pham. Anh cho người mang cơm dẻo canh nóng lên ép cô ăn, mang mật ong ra pha cho cô uống. Long đã làm những gì có thể để làm an lòng cô gái bất hạnh song đề nghị giúp đỡ của cô làm anh lúng túng. Lúng túng nhưng không thể không giúp. Người Dao coi thế giới bên kia mới là cái đích của đời người. Tiễn đưa người quá cố phải theo nghi lễ tín ngưỡng nghiêm ngặt, không phải là người đồng tộc, không phải là thày cúng có uy tín thì không thể dẫn hồn đến vương cung thánh đường, hồn sẽ làm khổ người sống, kẻ chết. “Sinh, tử nhân hồn tầm lưỡng cực/ Ngũ vận tuần hoàn luân với xe.” (Sinh ra là người ở thế giới cực Dương, chết đi là hồn ở thế giới cực âm/ Con người như bánh xe quay vòng qua năm vận). Khi sống bố chồng Pham làm nhiều việc trái với lẽ thường thì khi chết hồn vía phải đối mặt trước Diêm Vương, phải để cho vòng quay luân hồi năm vận chà xiết, nhưng người chết không thể không làm ma, không thể để hồn người chết vất vưởng mãi trên dương gian. Giúp Pham làm ma cho bố chồng là “nghĩa tử nghĩa tận”, là thể hiện cái tâm, cái tình của người cách mạng, nhất là trong lúc đang nước sôi lửa bỏng rất cần thu phục lòng người, giành giật lòng tin. Long cùng Ban chỉ huy bàn nát nước vẫn không ra kế sách gì, cuối cùng phải cho người tỏa đi các thôn bản tìm thầy cúng. Qua một ngày một đêm cả tiểu đội bộ đội lặn lội khắp nơi mới mời được một ông thày cúng già đưa về, rất may có thêm một cán bộ đã được cấp sắc ba đèn xung phong phụ lễ.

Việc tìm thầy coi như tạm ổn. Long cho người về châu mang lên một con lợn, một thồ gạo nếp, gạo tẻ, mười ống rượu. Người chết mới được cấp sắc ba đèn nên đám tang chỉ diễn ra trong một ngày một đêm. Trong muôn vàn thiếu thốn, gấp gáp các lễ vẫn diễn ra trình tự, bài bản. Lễ thông quan cho người chết vẫn được tổ tiên, nhà vua khớp với tên tuổi trước khi cấp sắc. Thày cúng đã mời được vua của người Dao đỏ, vua của đất nước, thần lửa, thần đất, Bàn Vương, người cai quản bản làng, thần phù hộ cây cối, thần khai thiên lập địa, thần cai quản ma quỷ trên thế gian, sư phụ của các thầy... xuống chứng giám, xử án. Theo sự chiêu tập của thày, ba mươi sáu binh quân của người chết về quây quanh tiễn đưa hồn và cùng tổ tiên, nhà vua, các thần hưởng tiệc khao quân...

Đám ma bố chồng Pham diễn ra suôn sẻ đã làm vui lòng người chết, yên lòng kẻ sống, nhưng Pham buồn. Buồn lắm. Việc tâm, việc nghĩa của cán bộ, bộ đội, công an đã lôi nhiều người của bản ra khỏi tổ. Họ đã xúm tay lo chuyện tang ma cho bố chồng cô. Việc đau buồn đi qua, nỗ lực của những người tốt lại giống như đá ném ao bèo, cả bản lại chốt cửa im lìm thở ngắn than dài, cán bộ, bộ đội, công an lại cạy răng không được ở dân bản một lời.

Sự xa lánh, trốn tránh cán bộ, bộ đội của dân bản làm cho Pham day dứt, khó chịu. Đành rằng thân phận đang thoi thóp nổi trôi giữa dòng sông như cô có người giơ tay ra cứu vớt thì việc chịu ơn là đương nhiên. Nhưng làm người phải biết nghĩ, ăn cơm quên ruộng, ăn cá quên sông sao còn gọi là người, họ cứ rơi vào cảnh làm nên thấy cả chín họ, lâm nạn một người cũng không thấy mặt xem có thể nhắm mắt làm ngơ được không. Nhìn những việc làm của cán bộ lo cho mình cô lại cồn cào thương Bắc. Bắc đã bao năm lăn lộn, đã bỏ không biết bao nhiêu tâm sức cho đất này vì cái gì? Bắc chết không hợp lẽ, không cha mẹ, anh em ruột thịt ở bên vì cái gì? Nhiều người nói phỉ tốt, nhưng lần nào nổi phỉ là lần đó nhà nhà tan nát, bản bản tan hoang, ruộng nương cỏ mọc, hổ báo vào tận giữa bản vồ người, bắt lợn. Ở cành này chớ với tay sang cành khác. Thuyền tròng trành dễ đắm...., nhưng cành nào? thuyền nào? ai lo cho ai? ai vì mình, vì người?... Con đường cán bộ rẽ cây vạch lá cho mọi người, mọi nhà là tự mình bay, tự mình đỗ, dẫu còn nhiều ngang tai, trái mắt, nhưng những việc họ đã và đang làm cho dân cho bản đang nảy mầm đâm lá. Những việc tốt lâu dài cũng như trước mắt họ đã làm rõ ràng như ngày với đêm, như lửa với nước, vậy mà... Trước đây lấy tai thay mắt lầm đường đã đành, giờ tai nghe mắt thấy, cùng làm, cùng hưởng mà còn mãi luẩn quẩn tranh giành bắn giết thì còn gì là người nữa.

Pham mang tâm trạng không chung đường với dân bản lên dãi bày với Long, cô mong được làm việc gì đó để tỏ rõ lòng mình, để trả ơn những người đã ra tay cứu giúp. Cô cũng không giấu diếm chuyện cô với Bắc - người đã cho cô hiểu thế nào là tình yêu, là tự do, là phải nghiến răng đi đến mắt cuối của đời người.

Long ngỡ ngàng trước sự thật thà của Pham, anh đưa cô đến chỗ mộ Bắc. Trước ngôi mộ còn nguyên màu đất mới, Pham gục xuống, những uất ức dìm sâu trong tầng tầng vỏ bọc trồi lên, cô khóc như chưa bao giờ được khóc, dường như mọi thống khổ của thế gian dồn cả vào cô mà di mà xiết.

Khóc hết nước mắt, Pham ngồi lặng như tảng đá, hai bàn tay bịt kín khuôn mặt mà hình ảnh Bắc cứ hiện lên mồn một. Pham đau đớn. Giống cây nứa trôi trên dòng sông khổ ải, cô càng dìm vật vã xuống vật vã càng trồi lên. Cô vồ lấy cái áo của Bắc ấp vào lòng. Những tưởng cái áo có hơi hướng của anh làm vợi đi những uất ức, đau đớn cào xé, nhưng cô đã lầm, cái cây còn sót lại sau bão có thể nương tựa che chắn lúc gió trở, nghỉ mát lúc nắng nôi, nhưng trong bão lửa nó lại là vật hiến tế cho thần lửa. Pham vồ lấy tay Long, rên lên:

- Tại sao con người cứ làm khổ nhau mãi thế này anh ơi!

Long rưng rưng xúc động, chính anh cũng không ngờ người phụ nữ nơi rừng sâu heo hút, bị cả một vòng vây luật tục, công việc gia đình bưng bít, đè nén lại có tình yêu mãnh liệt đến thế. Bọn phản động đang cố tình đày đọa, vô hiệu tính thiện, lòng tốt và khả năng vươn tới của con người sao chúng không mở mắt ra mà nhìn cuộc sống đang đòi hỏi sự thay đổi từng ngày. Cây trám kia, thân vừa ngã xuống giáp đất là mọt vù vù đến gặm rỗng cả vỏ lẫn giác, vậy mà nó vẫn có có thể dùng vào việc này việc nọ, đằng này con người có cái đầu, có con tim lá gan, biết sau, biết trước hẳn hoi. Không, bọn chúng có thể lừa lọc, dồn ép được nhiều người đi theo chúng, nhưng cũng giống như Pham, không lâu nữa mọi người sẽ biết mình phải chọn con đường nào, đất này sẽ không luẩn quẩn trong chết chóc, bệnh hoạn.

Những uất ức đau khổ của Pham đã vợi bớt, hai người lặng lẽ dõi nhìn về phía mông lung. Trời đất biến ảo kỳ lạ, mây mù thoắt đến, thoắt bay, cây cỏ thoắt được phun mưa, thoắt được hong khô như đùa, như thật, làm cho lòng người như được, như mất.

Nhìn cái dáng mất hồn của Pham lòng Long như xát muối. Không thể một sớm một chiều mà thay đổi được nếp làm, nếp nghĩ đã ăn sâu vào đời đời, kiếp kiếp. Không thể từ một vài việc làm mà có thể làm vợi đi nỗi đau người phụ nữ này đã nếm trải, nhưng anh, đồng đội của anh không thể nhắm mắt làm ngơ mặc cho cô vùng vẫy rồi chìm nghỉm giữa bể khổ. Phải vực người phụ nữ này dậy, người anh cần tìm là đây chứ là đâu nữa, nhân cốt của cách mạng là đây chứ là đâu nữa, Long lựa lời:

- Chắc cô đã biết chuyện chín anh em của người Mông?

Pham lắc đầu. Long chậm rãi kể câu chuyện chín anh em người Mông tài giỏi biết dùng cái tài của mình để cùng nhau chiến thắng cái ác. Kể xong Long ngồi lặng cho câu chuyện cho ngấm vào Pham rồi nói tiếp:

- Cô có biết tại sao chín anh em lại thắng đươc nhà vua không?

Pham thật thà:

- Dạ không, em không biết!

Long thong thả giơ hai bàn tay lên, giãi bày:

- Là vì chín người biết đoàn kết, biết nghe theo anh cả Tả Thiên Phong, nếu chín anh em mỗi người đều cậy mình tài, làm theo ý mình, đi nhầm đường thì dù có khỏe mấy, tài mấy cũng phải làm mồi cho thần chết.

Pham ngồi lặng, cô bâng khuâng hết nhìn rừng núi, nhìn trời mây mênh mông lại nhìn về phía bản làng lúc ẩn lúc hiện. Cô đã lờ mờ hiểu ra câu chuyện Long vừa kể. Ở đất này không thiếu người tài giỏi, họ cùng nhờ trời, nhờ đất, cùng nương tựa vào thần rừng, thần sông, thần núi để sinh sôi nhưng người nào cũng như cái gai nhọn, trước đâm vào mắt người, sau đâm vào mắt mình nên đất này triền miên loạn lạc. Bản nào, dân tộc nào cũng chăm chắm vào việc đánh nhau thì làm sao có được yên bình. Con sông nuôi được mình, được rừng, được ruộng là từ những ngọt ngào tích góp chứ không phải từ sự cuồng loạn.

Pham xúc động:

- Em hiểu rồi, em... em...

Long thầm thì như nói với chính mình:

- Khi nặn nên con người dù ở hình dáng nào cái tính trời cho vẫn là tính thiện, nhưng qua nhào nặn của kẻ này, kẻ kia, qua sự lãng quên sửa mình mà biến đổi, nhưng biến đổi gì gì con người vẫn ẩn sâu trong lòng gốc gác.

Pham nhìn Long như nhìn người anh, người cha, cô sẽ sàng:

- Vậy em có thể làm gì để chồng em và mọi người trong rừng phơi bày được cái gốc hả anh?

- Phải gọi họ về. Phải làm cho họ trở lại cuộc sống bình thường như bao đời người dân đất này đã sống.

- ...

- Nhưng gọi bằng cách gì đây? - Long cố nén tiếng thở dài dâng lên trong lồng ngực.

Pham thật thà:

- Người khác thì em không biết chứ chồng em thì có khó gì, đem thuốc phiện mà nhử thì về ngay thôi mà.

Long bật cười:

- Thế hết thuốc phiện thì nhử thế nào, nếu chồng cô về mà bọn phỉ đến dọa nạt, đánh đập hay giết chết tại nhà thì cô tính sao?

Pham ngớ người, cô chưa nghĩ tới những sự phức tạp như vậy.

Long sẽ sàng:

- Chuyện đối phó với phỉ chẳng khác gì chuyện chín anh em đối phó với tên vua độc ác đâu cô ạ. Trước tiên phải cho mọi người hiểu được cái đích của bọn phỉ là gì, cái đích của cách mạng là gì, ai mang lại lợi ích cho dân, cho nước. Từ hiểu rồi sẽ biết rõ trắng, rõ đen, sẽ có được lòng tin để mà nghe, mà làm. Trong lúc nước sôi lửa bỏng việc thu phục lòng người là gấp gáp nhưng không thể tát lấy cạn, bắt lấy ngay được, mà phải làm sao như thuốc Bắc ngấm vào xương tủy mới chữa được bệnh.

- Nhưng, nhưng...

- Mọi việc thành hay không thành cốt ở lòng mình, cô hãy về nhà vận động từng người, từng người. Bắt đầu từ mẹ, từ em dâu, cô, dì, rồi người tiếp người, lời tiếp lời, khi mà việc đúng, việc tốt của cách mạng được mọi người hiểu đúng, lời xấu, lời thối của bọn phỉ không còn làm cho mọi người run sợ nữa thì họ khắc có cách gọi cha anh, em họ đang theo bọn xấu về.

Pham không còn biết nói gì nữa. Những giọt máu nóng nhảy nhót trong lồng ngực làm cô muốn bay ngay về bản để làm theo lời chỉ bảo của Long. Đúng rồi! Khát vọng tồn tại, bình yên đầy ứ trong tim, trong óc mỗi người, khơi dậy bật ra, nắn cho xuôi dòng thì sức mạnh trong mỗi con người sẽ vùng lên, sẽ nhập thành một dòng sông đạp cho bằng mọi trở ngại.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #59 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2017, 11:35:37 pm »

Chương hai mươi mốt

Trung đội du kích của Sông đánh tan hoàn toàn đội bảo vệ vòng ngoài của Triệu Tá Sắn. Bức tường vững chắc bị chọc thủng, bọn phỉ hỗn loạn rút sâu vào trong rừng. Sông cho anh em bám sát thì vấp phải đồng bọn của chúng ở vòng trong xông ra tiếp ứng. Những loạt súng máy bắn chặn, những loạt đạn ghém bắn lướt sườn khiến cho trung đội phải co cụm, yểm hộ cho nhau bắn trả.

Hai bên bắn nhau một hồi rồi cả hai đều biết không thể đè bẹp được nhau nên vừa bắn vừa rút. Trung đội của Sông rút ra đến chỗ cánh rừng vừa một sống một chết với bọn phỉ, điểm lại lực lượng, thấy bị thiếu Thong - một đội viên, Sông chia trung đội ra làm hai tốp tìm kiếm. Tốp của Sông tìm dọc lòng suối thì thấy xác của Thong. Thong chết gục dưới gầm tảng đá, hai tay vẫn ghì chặt khẩu súng kíp. Mọi người cáng xác Thong xuôi theo bờ suối được một đoạn thì gặp hai tên phỉ bị thương, một mắc kẹt trên tảng đá giữa suối, một lê lết trên bãi cát. Máu từ vết thương trên đầu, trên ngực tên trên tảng đá rỉ ra làm cho dòng suối tanh ngòm. Tên người Phú Nả cỡ mười bẩy mười tám bị đạn xuyên qua đùi nằm co trên bãi cát rên rỉ, máu từ vết đạn rỉ ra đến đâu bị cát hút khô đến đấy. Thấy tốp du kích của Sông đến gần, tên người Phú Nả quên cả sợ hãi, nghển cao đầu, hai tay chới với, kêu van:

- Cứu... Các anh ơi, cứu... cứu em với!

Đau đớn, thương xót làm tốp du kích đang ngùn ngụt hờn căm, giọng kêu van đau đớn, thê thảm của kẻ vừa giết chết đồng đội của họ càng làm cho hờn căm bốc lửa, không ai bảo ai, tất cả lao ra bãi cát, nhằm vào tên phỉ ra sức đấm đá.

Sông đứng ngây người, sự việc xảy ra quá đột ngột làm cho anh rối lên không biết xử trí ra sao, mãi đến khi tên phỉ thoi thóp anh mới lao được vào giữa đám người cuồng hét lên:

- Không được đánh, không được đánh.

Lời hét của Sông vuột đi theo gió, mưa đấm, mưa đá vẫn trút xuống kẻ thoi thóp. Sông nhớn nhác, anh vội giơ súng lên trời bóp cò.

Đoàng - Tiếng súng nổ chát chúa làm cả đám người cuồng hẫng người, dừng tay. Sông hổn hển:

- Không được đánh... không được giết... chính sách tù binh...

Một người có khuôn mặt râu quai nón quắc mắt, gầm lên:

- Nhưng khi giết người nó có chính sách gì với mình.

Những tiếng hét chứa chất căm thù ùa theo như vỡ đập:

- Đúng đấy, nó giết người mình, nó o ép dân mình.

- Đập chết con chó ấy đi.

- Không giết nó, nó đưa người về giết cả bản đấy.

- Cho nó về với đất đi...

Sông cuống lên, anh chạy quanh, mồm hét, tay xua, song rào nứa không cản được đường voi, bực mình, anh giương súng, chĩa vào cả đám người, đanh thép:

- Ai động đến nó tôi bắn.

Cả đám lặng đi, họ nhìn người chỉ huy như nhìn người rừng.

Song nghiến răng, đanh mặt, từng lời, từng lời rõ ràng như từng nhát búa đóng xuống đầu cọc:

- Nó giết người nó phải đền mạng, nhưng xử nó phải phải trái rõ ràng, phải cho dân bản, cho đồng bọn của nó hiểu rõ chính sách của Chính phủ, không thể muốn đánh là đánh, muốn giết là giết.

Cả đám lùi lũi nhìn nhau.

Thấy đám cháy nguôi nguôi, Sông dấn lên:

- Bây giờ ta phải cứu chữa cho hai tên phỉ, đưa nó cùng xác đồng chí Thong về bãi tập trung rồi cho người về báo cáo cán bộ Long.

Mọi người đang lặng lẽ làm theo sự phân công của Sông thì tiếng hò reo, tiếng súng nổ nhằm vào cả tốp. Ở phía khác tiếng súng cũng nổ ran. Bị bất ngờ, mọi người yểm hộ cho nhau rút dần, rất may họ ra đến cửa rừng thì gặp một tiểu đội bộ đội biên phòng đến ứng cứu, hai bên tập trung đánh trả khiến bọn phỉ không dám mạo hiểm đánh ra.

Sắn cùng đồng bọn quay trở lại nơi vừa xảy ra trận đánh. Chiến trường đã im tiếng súng song sự chết chóc ngổn ngang trước mắt. Xác chết còng queo trên suối cạn. Xác chết túm tụm vào chỗ gốc cây. Máu. Máu từ những xác chết mắc lại làm dòng suối loang đỏ. Máu bết lại trên cát. Máu phun nhuộm đỏ cây cỏ ven suối, chân rừng. Lòng Sắn như nuốt lửa. Sự mất mát làm cho Sắn choáng váng, hắn hiểu những quân tướng trong tay hắn giờ đây là những đồng tiền cuối cùng trong túi. Còn hơn thế nữa! Đồng tiền hết tìm mọi cách còn kiếm lại được, còn quân tướng, mất thằng nào là hết thằng ấy.

Sắn dẫn đám quân bại trận về hang, động viên, úy lạo từng thằng, từng thằng cố nén sự sợ hãi, mệt mỏi, tản ra xả hơi, tắm rửa, Sắn cũng cố giấu tâm trạng đau đớn, bất lực, lững thững vào rừng.

Tại một góc rừng một tốp phỉ đang tụ quanh đống lửa. Tốp phỉ có năm tên mà đã có ba mầu áo khác nhau. Tuy ba mầu áo, ba tiếng nói song chúng cùng chung một tâm trạng rã rời, phấp phỏng, cùng giống nhau ở những bộ da bám chặt vào khung xương. Trong khi ba tên người Giáy, một tên người Mông ngồi quanh, mắt hau háu vào những củ sắn lùi trong than hồng thì tên người Dao đi đi lại lại, vẻ bồn chồn, lo lắng. Trong ánh trăng rừng nhợt nhạt, bóng của hắn lúc tỏ, lúc mờ, khuôn mặt môm cày đẽo hỏng đầy hang hốc lúc rõ, lúc khuất, mái tóc bù xù dính đầy ánh trăng trắng chẳng ra trắng, đen chẳng ra đen.

Tên người Dao đi, nghĩ gì, cả bốn tên dường như không cần biết, cái biết của chúng lúc này là là cái bụng đói lưu cữu đang sôi réo, là mấy củ sắn đang nuôi mùi thơm.

Sắn chín. Bốn tên háo hức cời ra, thằng nào thằng ấy thích thú với trò vừa thổi vừa ăn. Tên người Dao dừng lại trước tên người Giáy đang nhồm nhoàm nhai nuốt, hất hàm hỏi:

- Mày thấy bên Nà Lùng của thủ lĩnh Lò Văn Chung thế nào?

Tên người Giáy ngắc ngứ miếng sắn tơi như bột một lúc mới thốt ra, giọng bất cần:

- Thì cũng như Tả Chải, Tả Gia, Nậm Nung thôi.

- Mày nói rõ xem nào?

- Thì cũng luẩn quẩn trong rừng, bọn Kinh hở cơ lúc nào nhảy ra cắn lúc ấy.

- Mày thấy bọn người Thái thế nào?

- Thì chúng nó với mình khác đéo gì nhau - Bỗng tên người Giáy khùng lên - Mà mày hỏi gì lắm thế, chẳng khác gì mấy thằng lý sự người Mông cả.

Tên người Mông nãy giờ chỉ chăm chắm vào việc cho củ sắn vào mồm thấy tên người Giáy vô cớ chọc vào hông mình, hắn ớ người ra, miếng sắn nghẹn cứng trong họng.

Tên người Giáy cười khẩy:

- Lại cái máu tự ái Mèo Mán nổi lên rồi!

Tên người Mông vớ thanh củi đang cháy, vùng đứng lên:

- Mày... Mày bảo cái gì?

- Tao bảo cái máu Mèo Mán nhà mày ấy. Động một tí là tự ái trồi lên cổ, giữa rừng giữa núi mà cứ như đứng trước bàn thờ nhà mình không bằng.

Tên người Mông đỏ mặt, hắn biết không thể cãi được đồ lươn lẹo chó má này, hai mặt đỏ bừng, hai tay run lên, hắn nghiến răng lao vào tên người Giáy.

Ục, ục... uỵch, uỵch...

Bị quá bất ngờ tên người Giáy không kịp chống đỡ mấy quả đấm thôi sơn phải ngã uỵch xuống như cái bao tải cát bị rơi.

Tên người Mông phủi tay lầm lầm bỏ đi, tên người Giáy vùng lên được đuổi theo:

- Thằng chó chết, đứng lại!

Tên người Mông dừng chân quay lại, vừa lúc tên người Giáy như một mũi tên đâm sầm vào tên người Mông, cuộc ẩu đả một sống một chết làm cả hai bật cả máu mồm máu mũi.

Từ góc khuất một lùm cây chứng kiến sự cảnh chó mèo cắn nhau, Sắn lắc đầu chán nản, hắn ra khỏi lùm cây lũi lũi về hang.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM