Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đền tội  (Đọc 32952 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2018, 05:57:24 am »


SỰ THẬT VÀ CHỈ CÓ SỰ THẬT

        Một đoàn dài nhân chứng gồm những công nhân thuộc các quốc gia khác nhau, những người có các nghề khác nhau, có trình độ trí tuệ khác nhau được lần lượt mời ra trước Toà án quân sự. Qua những lời khai thường là mộc mạc, thật thà của họ, bộ mặt của chủ nghĩa quốc xã hiện ra thậm chí còn rõ nét hom là qua những tài liệu khủng khiếp mà vẫn tiếp tục được xếp lên bàn các quan toà.

        Cuốn sử biên niên về vụ án sẽ không đầy đủ nếu không có sự có mặt của các nhân chứng đó. Tôi xin kể về một vài nhân chứng trong số những người do đoàn công tố Liên Xô mời đến. Và những ghi chép về các nhân chứng ấy còn giữ lại được trong sổ tay của tôi.

        Theo yêu cầu của công tố viên Liên Xô, huân tước Lôrenxơ đã cho mời một nông dân Nga ở làng Cugiomexôvô, huyện Porơkhốp thuộc tỉnh Porxcốp. Nhân chứng chậm rãi và thong thả đi qua hội trường rồi bước lên diễn đàn dành cho các nhân chứng. Hội trường im phăng phắc. Toà án được nghe nhiều về những chuyện quân Đức đã thản nhiên tàn phá Vácsava, Nốpgôrốt, Porxcốp, hàng trăm thành phố và hàng nghìn làng xóm, có khi đã biến cả một vùng thành "khu chết". Tất cả những vụ việc đó đều có trong biên bản của toà án. Nhưng kìa, nhân chứng Iacốp Grigôrép ở làng Cugiơnexôvô đã khoan thai kể câu chuyện của mình. Ngày 28 tháng 10 năm 1943 một toán lính say ruợu đã xông vào làng ông vốn nằm sâu trong hậu tuyến của quân Đức rồi đốt làng từ bốn phía. Chúng dồn dân làng vào nhà ban quản trị nông trang, bịt kín các cửa ra vào rồi phóng hoả. Toà cũng đã biết vụ những người Pháp bị thiêu sống trong nhà thờ của thành phố Ôrađua, làng Liđixe bị xoá sạch trên đất nước Tiệp Khắc. Nhưng câu chuyện chất phác của Iacốp Grigôrép đã làm cho các vị thẩm phán cũng phải roi nước mắt.

        Grigôrép chậm rãi kể về việc những tên đao phù mặc áo nhà binh đã sục vào từng nhà bắt được mười chín người rồi đem ra bắn cạnh vựa chứa cỏ khô như thế nào:

        -  Chính tôi và hai con trai của tôi đã đứng sát tường tại đó. Thằng con trai lớn bị giết ngay từ loạt đạn đầu tiên. Thằng bé thử hai bị đạn bắn vào chân khuỵu xuống. Còn tôi thì viên đạn trúng vào đây, - ông giơ tay chỉ vào vai, - tôi cũng ngã xuống và những người khác ngã đè lên tôi. Những người chết nằm thành một đống. Tôi tĩnh dậy thấy mình nằm dưới họ. Đềm đến, bão tuyết nổi lên. Tôi gạt các xác sang một bên chui ra, bế đứa con út rồi băng qua cánh đồng. Sau đó, chúng nhìn thấy vết chân trên tuyết và đuổi theo bố con tôi. Thậm chí chúng mang cả chó để đánh hơi. Nhưng bố con tôi đã vào tới rừng mà ờ trong khu rừng của mình thì khác nào ờ nhà, hoạ có thánh mới tìm thấy, - ông kết thúc câu chuyện, đưa mắt nhìn về dãy ghế bị cáo.

        Bác sĩ Giôn Ginbéctơ, bác sĩ tâm thần của Mỹ có nhiệm vụ theo dõi trạng thái thần kinh của các bị cáo, có quyền vào các xà lim và trò chuyện với chúng, kể lại rằng Câyten và Iốtiơ - những kẻ đã tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch tiến công vào các nước khác nhau kể cả Liên Xô, đã thản nhiên giết chết hàng triệu người - tỏ ra đặc biệt bối rối và trầm uất sau buổi nhân chứng Grigôrép tố cáo trước toà.

        Trên diễn đàn của nhân chứng xuất hiện Épghêni Côvensơ, bác sĩ quân y người Ucraina, thể trạng như một lực sĩ. Anh còn rất trẻ, nhưng nếu nhìn thật kỹ vào mắt thì thấy anh là một ông già. Anh bị bọn phát xít bắt làm tù binh, đã trải qua những cực hình man rợ và giờ đây, theo lời anh, anh chỉ cần sống để kể cho mọi người nghe về những tội ác của chủ nghĩa quốc xã.

        Trước toà, người thanh niên có đôi mắt của ông già đó, một đôi mắt thông minh nhưng đượm vẻ u buồn, đã nêu lên những chứng cớ không thể chối cãi được về việc bọn phát xít đã thủ tiêu hàng loạt tù binh một cách có tính toán kỹ càng nhằm trừ khử đối thủ ở dạng tiềm năng. Bởi lẽ, như một tên phát xít trong trại của Cônvensơ đã tuyên bố: "chỉ có tử thi của người Nga mới không nguy hiểm đối vón quân đội của chúng ta".

        Và đây là nhà thơ Abơram Xuxkêvéc, người dân của thành phố Vinniút. Ông có bộ mặt hốc hác của kẻ tuẫn giáo trong bức tranh thánh cổ của Nga, trên khuôn mặt đó các thớ thịt co giật liên hồi. Mới đây cuốn sách "Khu Do Thái Vilen" của ông đã được xuất bản tại Pari. Hiện nay nó đang được dịch ra tiếng Nga và tiếng Anh. Ông cũng kể cho toà nghe những sự khủng khiếp của cái nhà máy giết người đó. Giọng của nhà thơ run rẩy, thình thoảng ông lại hét lên như người bị bệnh thần kinh. Ông lảo đảo và phải vịn vào bục đang đứng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2018, 05:57:54 am »


        Ông không nêu lên những con sổ, mà chi nói về số phận của gia đình mình, về đứa con nhỏ bị bắn chết ngay trước mắt hai vợ chồng. Và sau đó chính người vợ lại bị bắn ngay trước mắt ông. Mặt đường ô khu Do Thái đôi khi nhuộm đỏ máu những người bị bắn chết. Máu chảy từ trên vỉa hè xuống rãnh, rồi theo rãnh chảy xuống cống thoát nước. Bọn Giétxtapô dùng người làm bia để tập bắn. Những cái bia sống, chúng bảo hãy chạy đi để thoát thân rồi "pằng" một phát. Chúng bắt người tù liếm bùn trên ủng, ăn cứt của mình. Bọn đao phủ bạo ngược đã lấy việc đó làm trò tiêu khiển.

        Nữ văn sĩ Ba Lan Xêvêrina Smáclépxcaia đã từng sống hai năm ở một trong những trại tập trung khủng khiếp nhất -  trại Biacơnao, phân nhánh của trại Ôt xvenxim. Tôi vẫn nhớ cái trại mà chị đã kể. Tôi đã đến đó trong ngày vùng này được giải phóng và đã viết một bài đăng trên báo Sự thật dưới đầu đề "Những cuộn khói từ Biacơnao". Đó là một nhà máy giết người rùng rợn, không kém gì Ôt xvenxim. Nữ văn sĩ Ba Lan đã nói đúng, khi chị tuyên bố trước toà án rằng chính ở đó chủ nghĩa quốc xã đã đi tới một trong những hành động đê tiện tinh vi nhất của nó. Ở đó số người bị giết không phải là hàng chục, hàng trăm mà là cả một đoàn tàu. Để làm điều này, chúng xây một ga đầu mối giả trên khoảng đất trống mênh mông. Có cả nhà ga, có hệ thống tàu khởi hành từ đó đi Béclin, Viên, Praha, Muyních, Budapet, Milăng,.. Thực ra thì những đường ray này không dẫn đi đâu cả. Chúng dừng lại ngay ở chỗ ngoài tầm mắt nhìn của con người. Đó là những đường xe lửa cụt. Biacornao là một trại khổng lồ với hàng trăm lán gỗ. Nhưng trại này nằm cách xa nhà ga và dường nhu không liên quan gì tới nó cả.

        Những đoàn tàu lèn chặt người trong những toa chở hàng đóng kín mít từ Hunggari, Rumani, Ba Lan tới. Mọi người bị ngạt thở và bí hơi. Họ ngủ vạ vật trên sàn và trên những dãy ghế hai tầng. Không khí đi qua phổi nhiều lần nên rất nặng mùi. Và cuối cùng đã đến ga Biacơnao. Xem ra đây là một ga đầu mối lớn. Ra đón đoàn tàu có những quân nhân nhanh nhẹn, niềm nở. Lại có cả đội nhạc binh. Mọi người được thông báo rằng những nỗi gian khổ ở dọc đường đi đã chấm dứt. Bây giờ nhà tắm đang chờ đợi họ. Phải tẩy uế quần áo rồi từ đây họ sẽ được chở trong những toa hành khách tới chỗ làm việc. Như ngọn cỏ hướng tới mặt trời, con người dù có sự gì xảy ra chăng nữa, bao giờ cũng hướng tới cái tốt đẹp, bao giờ cũng muốn tin vào điều tốt đẹp ấy.

        Từ ga xe lửa, mọi người được hướng dẫn tới những ngôi nhà lớn chạy dài có biển đề trên cửa: "NHÀ TẮM NAM", "NHÀ TẮM NỮ VÀ TRẺ EM".

        Họ bước vào một phòng rộng rãi. Đó là "PHÒNG GỬI HÀNH LÝ". Ở đây, người ta nhận va ly, tay nải, ba lô và trao cho người gửi những tấm biển số xinh xắn bằng thép. Tiếp theo là "PHÒNG GỬI QUẦN ÁO" và người ta lại trao cho những tấm biển số chu đáo như vậy. Sau đó các "hành khách" bước vào một phòng rộng rãi tường ốp gạch men, không có cửa sổ nhưng đủ ánh sáng. Những dãy vòi tắm hoa sen nước lạnh và nước nóng. Những người phải chịu sự dơ dáy suốt bao ngày đường bắt đầu tắm rửa kỳ cọ mà không hay rằng những cánh cửa ra vào ở phía sau họ không những được đóng lại mà còn được bịt kín. Rồi từ phía trên, một chất bột màu xanh nhạt được rắc xuống qua một cái lỗ có nắp đậy và mùi thuốc độc nhanh chóng lan khắp phòng. Thoạt tiên cảm thấy buồn buồn ờ cổ họng, tiếp theo là sự đau đớn khủng khiếp dường như phổi bị nứt toác ra. Các nạn nhân đã vỡ lẽ bèn lao đến những cánh cửa đã bị khoá chặt! Họ lạy van, kêu gào thảm thiết, lấy tay đấm thùm thụp vào thành bê tông trơ trơ vô tri vô giác. Vô ích. Sau mười lăm phút tất cả đều chết trong những cơn co giật quằn quại mà không biết rằng chúng đã theo dõi nỗi đau đớn của họ bằng cách nhìn qua các lỗ nhòm đặc biệt. Bấy giờ những chiếc quạt máy cực mạnh mới lùa hơi độc ra ngoài, những tốp tù nhân bước vào dùng móc kéo các xác chết ra và dùng những vòi rồng rủa sạch sàn nhà. Một toán khác vào thu lượm nhũng tấm biển số bằng thép rồi nộp lại để phát cho chuyến tàu sau. Một đội chuyên môn làm nhiệm vụ lột nhẫn, vòng tay của các nạn nhân, nhổ những chiếc răng vàng và hàm răng giả bằng kim loại quý. Chỉ sau khi có sự kiểm tra kỹ lưỡng xác minh rằng trên các xác chết không còn gì cả, chúng mới được đưa vào lò thiêu. Năng suất của cái nhà máy liên hợp đó là một nghìn, có khi nghìn rưởi người trong một ngày. Khi nào các lò thiêu ngốn không xuể khối "nguyên liệu" khổng lồ đó mặc dù chúng nhả khói suốt ngày đêm, các từ thi liền bị quẳng vào những cái hố bê tông đồ sộ, được xếp thành từng đống rồi tưới dầu hoả và bị đốt bằng phương pháp lộ thiên như vậy. Để đẩy nhanh quá trình đó, một tốp người cầm những chiếc gáo có cán dài bằng kim loại, đi dọc trên bờ hố và dùng gáo hứng mỡ chảy ra từ những xác đang cháy rồi tưới lên đống lửa. Làm như thế thì việc đốt xác sẽ nhanh hơn và kỹ hơn...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2018, 12:27:12 pm »

       
        Khi tôi cùng với Xécgây Crusinxki tới Biacơnao thì những toà nhà của cái ga đầu mối giả mạo đó và những phòng hơi độc đã bị phá huỷ. Chỉ còn lại một số đường ray lộn xộn cong queo. Và từ trong cái đống bê tông đổ nát lộ ra một tấm bảng chi giờ tàu chạy thông thường "Đoàn tàu đến Viên", "đến Bêôgrát", "đến Pari", "đến Milăng"...

        Một du kích Ba Lan mặc quần áo công nhân đường sắt đầu đội chiếc mũ lưỡi trai bốn cạnh, nói thạo tiếng Nga, anh đã kể cho tôi nghe tất cả nhũng chuyện xảy ra ở đây. Anh dẫn tôi đi xem những "NHÀ TẮM" bị phá sập, anh chi cho tôi những đống cao lù lù màu xám giống như tro than đá, trong đó nhô lên những mảng như đá vụn trăng trắng. Đó là tro của các lò thiêu: tro người. Thứ tro này kêu răng rắc nghe thật lạ, dường như nó rên rỉ dưới chân ta.

        Chị Xêvêrina đã sống trong trại tập trung đó hơn hai năm, đã hít thở không khí của các lò thiêu người ở Biacơnao, đã đi trên tuyết rắc đầy một thứ bồ hóng đen nhờn. Đứng trước toà, chị nhớ lại những chi tiết mà mùa xuân năm ngoái người công nhân đường sắt Ba Lan không kịp hoặc không thể kể hết với chúng tôi. Chị đã nhìn thấy từng đoàn trẻ em bị dẫn vào "phòng hơi độc" như thế nào:

        - Đối với bọn SS, việc giết trẻ em là một thứ thể thao, một trò giải trí thú vị. Trong bọn này, có một tên là Ađônphơ vốn rất thích bắn trẻ con trước mặt bố mẹ các em. Khi nào "Phòng hơi độc" làm không xuể, chúng dẫn các em tới thẳng các lò thiêu và bắn ngay tại đây. Đồ ác ôn, lũ ác ôn chính cống!

        Người nữ nhân chứng gần như thét lên. Đôi mắt chị rực lửa, dường như ở đây, trong sự im lặng trang nghiêm này, trước mặt chị hiện ra những trẻ em đang bị bọn SS xả súng bắn gục. Và. quay về phía các bị cáo, chị hỏi với giọng thều thào vì kiệt sức, nhưng nghe trong máy rất rõ:

        - Thay mặt tất cả những phụ nữ đã từng sống trong các trại giam, tôi hỏi các người: con cái của chúng tôi đâu?

        Trong phút ấy, mọi người đều thấy những tên ác ôn phát xít vốn đã quen với diễn biến phẳng lặng và khá yên tĩnh của các phiên toà, đã lặng người đi, mắt cụp xuống, đầu rụt vào giữa đôi vai.

        Cả hội trường im phăng phắc khi một ông lão có cái đầu rất đẹp của nhà tiên tri trong kinh thánh và bộ râu bạc phơ như cước, bước lên bục nhân chứng. Đó là viện sĩ Iôxíp Abơgarôvích Oócbêli. Ông tuyên bố một cách tự hào rằng ông đã sống ở Lêningrát trong suốt những năm thành phố này bị bao vây. Ông phát biểu vừa với tư cách là nhân chứng, vừa với tư cách là công tố viên. Ông lên tiếng nhân danh khoa học và nhân danh nền văn hoá.

        Bời lẽ bằng chính mắt mình, ông đã nhìn thấy quân Đức dùng đại bác hạng nặng pháo kích Lêningrát một cách có phương pháp và ném bom xuống thành phố này để thực hiện mệnh lệnh của Hítle: "Huỷ diệt Pêtécbua" như thế nào. Viện sĩ Oócbêli đã chứng kiến cảnh từng khu phố nối đuôi nhau sụp đổ, hơn nữa, những công trình nghệ thuật và kiến trúc được chọn là những mục tiêu đặc biệt để pháo kích như thế nào.

        Là giám đốc viện bảo tàng Écmitagiơ, Oócbêli ở luôn tại toà lâu đài đó. Pháo binh Đức đã nã hết quả đạn này đến quả đạn khác vào cái kho tàng gìn giữ những kiệt tác nghệ thuật nổi tiếng toàn thế giới. Nhằm xua tan những ấn tượng do bài phát biểu của Oócbêli, bên bào chữa bèn lập tức phản công:

        - Thưa ngài viện sĩ, chẳng lẽ ngài là pháo thủ hay sao? Nếu không phải là pháo thủ chuyên nghiệp thì ngài làm thế nào có thể khẳng định được quân Đức đã nã đại bác và giội bom xuống chính diện Écmitagiơ của ngài chứ không phải nhằm vào những cây cầu nằm cạnh đó vốn là mục tiêu chiến lược như mọi người đều biết?

        - Tôi không có trình độ chuyên môn về pháo binh, - viện sĩ Oócbêli ung dung đáp, - nhưng tôi bằng chính mắt mình đã nhìn thấy ba mươi ba quả đạn đại bác bẳn vào Écmitagiơ và cung điện Mùa đông. Nếu không có đội dân phòng dũng cảm, thì những toà nhà lịch sử ấy đã bị cháy trụi. Tôi xin nhắc lại, - viện sĩ Oócbêli hướng về các vị thẩm phán, - có ba mươi ba quả đạn đại bác rơi trúng Écmitagiơ và chỉ có một quả rơi trúng cây cầu lớn tại đó. Tôi có thể quả quyết nói rằng bọn quốc xã đã ngắm vào đây. Trong phạm vi này, rõ ràng tôi là một pháo thủ.

        Nếu như có thể vỗ tay ở toà án thì hiển nhiên hội trường đã tặng cho viện sĩ Oócbêli một tràng vỗ tay hoan hô như sấm. Thậm chí huân tước Lôrenxơ lần này cũng hơi thay đổi cách nói thông thường của mình, và để thay cho câu "các ngài có cảm thấy đã đến lúc phải tuyên bố giải lao chưa", ông ta nói:

        - Các ngài có cảm thấy rằng sau bài phát biểu tuyệt vời như vậy của nhân chứng, đã đến lúc phải tuyên bố giải lao chưa?

        ... Trước khi bước lên bục, các nhân chứng, theo thủ tục được quy định, phải đặt một tay lên pho kinh thánh, còn tay kia giơ hai ngón và nói một câu công thức thiêng liêng như sau:

        - Tôi xin thề sẽ nói sự thật. Chỉ nói sự thật. Sẽ không nói gì ngoài sự thật.

        Các nhân chứng của Liên Xô được miễn sự thề thốt đó, nhưng sự thật trong những lời buộc tội của họ đã giáng xuống các bị cáo như ngọn lửa địa ngục thiêu đốt những trái tim của chúng đã chai lại vì tội ác. Các bạn bè của tôi được bác sĩ Ginbéctơ cho biết rằng đến ngay Gơrinh, một tên háu ăn và thích ngủ, bây giờ ăn cũng mất ngon, ngủ cũng không yên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2018, 12:28:34 pm »

           
KẾ HOẠCH "BÁCBARÔXA"

        Trên một cái giá ở phòng xử án, trước nền đá cẩm thạch xanh bao quanh khung cửa chính, có bày một bức phù điêu bằng đồng đen: Ông Ađam và bà Êva. Cạnh đó là mấy chiến binh dường như bảo vệ hai người khỏi tai hoạ dưới trần gian, những chiến binh này đã không làm tròn nghĩa vụ của họ. Có thể quả quyết rằng chưa bao giờ đông đảo con cháu của ông Adam và bà Êva sống trên trái đất này lại gặp mối hiểm hoạ ghê gớm như mười năm gần đây, khi mà Diêm vương ở dưới địa ngục, lần này không đội lốt xà tinh mà đội lốt Hítle, đã mở đầu cuộc tiến công chống cả loài người.

        Từ trên diễn dàn của Toà án quân sự quốc tế đã vang lên những tiếng nói của nhiều dân tộc: người Nga, người Mỹ, người Anh, người Pháp, người Tiệp, người Tây Ban Nha, người Hà Lan, người Nauy. Ngay cả người Đức cũng bước lên diễn đàn như những nhân chứng với bao chứng cớ không thể chối cãi được, vạch trần một âm mưu quái gở do một dúm ác ôn đẻ ra, mà ngôn ngữ toà án đã gọi một cách lịch sự là những tên tội phạm chiến tranh đầu sỏ.

        Hôm nay trong hội trường lại vang lên tiếng nói mãnh liệt của nhân dân Liên Xô. Công tố viên trưởng Liên Xô R.A.Ruđencô lại bước lên diễn đàn. Khi lắng nghe qua ống nghe những âm thanh của tiếng nói thân thuộc, chúng tôi bất giác nghĩ rằng đang đứng trên diễn đàn chính là nhân dân Xô viết hùng mạnh và vĩ đại mà một mình đã bẻ gãy xương sống của con thú quốc xã trong một cuộc đọ sức tay đôi cực kỳ gian khổ.

        Chủ nghĩa quốc xã dường như bị tử thương đang nằm sõng soài trước Toà án quân sự và đồng chí công tố viên Liên Xô làm nhiệm vụ giải phẫu cái con quái vật nhiều đầu ấy. Ông không chỉ cho mọi người xem nanh vuốt của nó mà còn phanh phui cái dạ dày quái đản đã chuẩn bị nghiền nát tất cả các dân tộc nào không thuộc giống nòi Ariăng. Ông đã mổ xẻ những nếp cuộn bí mật trong bộ não khủng khiếp của nó, mà ở đó đã hình thành tất cả những kế hoạch mới, âm mưu mới chống lại loài người, đã bộc lộ những dây thần kinh tiềm ẩn từng làm cho toàn bộ cái cơ thể quái dị đó hoạt động.

        Mặc dầu toà án có rất nhiều tư liệu, nhưng tôi cảm thấy rằng chưa bao giờ bức tranh về chủ nghĩa quốc xã lại được miêu tả trước toà án đầy đủ như thế. Và chúng tôi, những người có mặt trong các buổi xét xử lại thấu hiểu một cách sâu sắc mối nguy cơ trầm trọng mà Hồng quân đã trừ được để cứu sống nhân dân chúng ta và toàn thể nhân loại, qua bài phát biểu của đồng chí công tố viên Liên Xô hôm nay tại hội trường.

        Ngay từ khi bắt đầu bước lên hoạn lộ đầy tội lỗi, trước cuộc chiến tranh thế giới nổ ra khá lâu, Hítle đã mơ ước chinh phục châu Âu và toàn thế giới. Vào những giây phút cởi mở, hắn tâm sự với bạn hắn tên là Raosơningơ:

        "Chúng ta phải phát triển kỹ thuật giảm dân số. Nếu anh ! hỏi tôi quan niệm thế nào là giảm dân số thì tôi xin trả lời rằng ! tôi muốn nói tới việc loại trừ những đơn vị chủng tộc trọn vẹn.

        Và đó là điều tôi muốn thực hiện. Nói một cách nôm na, đó là nhiệm vụ sống còn của tôi. Thiên nhiên trong việc chọn lựa của nó rất tàn nhẫn. Bởi vậy chúng ta cũng phải tàn nhẫn. Nếu tôi có thể phái bộ phận ưu tú nhất của nước Đức vào chốn hoả ngục của chiến tranh mà không mảy may thương xót dòng máu quý giá của người Đức đã đổ ra thì lẽ cố nhiên tôi có quyền thủ tiêu hàng triệu sinh mệnh trong số những chủng tộc hạ đẳng đang sinh sôi nảy nở như sâu bọ".

        Tiêu diệt hàng triệu con người. Tiêu diệt những quốc gia trọn vẹn. "Giảm dân số" của trái đất để dành chỗ cho chủng tộc Đức, đưa số người còn lại của các dân tộc bị tiêu diệt xuống hàng gia súc canh tác - đó là học thuyết chính thống của chủ nghĩa quốc xã. Và trong các trường học Đức, người ta dạy cho bọn trẻ con bài hát như sau:

       "Nếu như toàn thế giới sẽ nằm trong đống gạch vụn.
        Thì chúng ta cần quái gì nó
        Chúng ta vẫn tiếp tục tiến bước
        Bởi vì hôm nay nước Đức thuộc về chúng ta
        Còn ngày mai toàn thế giới cũng sẽ thuộc về chúng ta"


        Cùng với bài hát mà lời lẽ phản ánh toàn bộ cương lĩnh của đảng Quốc xã, những bầy quân phát xít đã lao vào cuộc tiến công sang các nước châu Âu theo lệnh Hítle và một dúm bộ hạ của hắn hiện đang ngồi trên dãy ghế bị cáo. Đó là cuộc xâm lăng có chuẩn bị chu đáo. Toà án có trong tay kế hoạch chi tiết, soạn thảo một cách chính xác về các cuộc xâm lược. Hítle đã chia kế hoạch đó ra làm bảy giai đoạn. Năm giai đoạn đầu tiên được dành cho việc đánh chiếm những quốc gia ở lục địa châu Âu trừ Liên Xô. Giai đoạn thứ sáu là việc thực hiện cái gọi là kế hoạch "Bácbarôxa" - tức là cuộc tiến công vào Liên Xô theo mật hiệu của bọn kẻ cướp phát xít. Còn giai đoạn bảy, giai đoạn kết thúc thời kỳ xâm lược lần thứ nhất là vượt eo biển Măngsơ đột nhập vào quần đảo Britan.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2018, 12:29:50 pm »

   
        Trước khi cuộc chiến tranh thế giói nổ ra khá lâu, chính phủ Liên Xô đã nhiều lần từ trên các diễn đàn quốc tế và bằng các con đường ngoại giao đã báo trước cho các chính phủ phương Tây về âm mưu đó của Hítle. Nhưng các chính phủ ấy không nghe theo lẽ phải. Và hôm nay, qua bài phát biểu của công tố viên Liên Xô, chúng tôi được biết rằng vào đúng thời hạn được ấn định trong bản kế hoạch của Hítle, đối với một vài trường hợp cá biệt, thậm chí còn sớm hon thế, quân đội phát xít đã thực hiện năm giai đoạn xâm lược đầu tiên của chúng.

        Do thiếu sự chuẩn bị, do phân tán và có khi do sự phản bội của những người cầm quyền hèn nhát và tội lỗi, các quốc gia, kể cả những nước được coi là thành trì của Tây Âu, đã ngã xuống dưới gót giày của chủ nghĩa phát xít mà không chống cự được chút nào.

        Cỗ xe chiến tranh của Hítle càng ngày càng mạnh và bon bon lao nhanh về phía trước, không gì kìm hãm nổi. Đã có lúc ngay cả những chính khách rất thông minh và có kinh nghiệm của phương Tây đã hoang mang và bắt đầu nghĩ rằng không có một sức mạnh nào có thể kìm hãm hoặc bắt cỗ xe đó dừng lại được. Ở tít bên kia đại dương, tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, trên các diễn đàn chính trị đã có tiếng nói cho rằng: "Hítle xem chừng là vô địch. Vậy ta có nên thoả thuận với hắn, chừng nào còn chưa muộn, và nhường cho hắn cai quản châu Âu hay không?"

        Nhưng sau khi bóp bẹp các nước Tây Âu để rồi chiếm đoạt những nguồn tài nguyên thiên nhiên và nắm trong tay tiềm lực công nghiệp của những nước đó, sau khi tăng cường quân đội của mình bằng những tập đoàn quân và sư đoàn cùa các nước đồng minh và các nước chư hầu, Hítle đã quay sang phương Đông, sang Liên Xô và bắt tay vào việc thực hiện kế hoạch "Bácbarôxa". Kế hoạch "Bácbarôxa" đã được soạn thảo thật tỉ mỉ trong những cuộc họp kín tại nhà Hítle, với sự tham dự của các bị cáo Câyten, Iốtlơ và tướng Véclimôn. Việc lấy tên Bácbarôxa đặt cho kế hoạch đó không phải là sự ngẫu nhiên. Phriđích Bácbarôxa có biệt danh là "Lão râu hung", là một trong những hoàng đế tàn ác và khát máu nhất của nước Đức ở thời xa xưa. Ông ta đã sống ở đây, tại Nuyrembe, trong một toà lâu đài cổ xây trên núi, và đến nay những pháo đài do vị hoàng đế hiếu chiến đó xây dựng lên, vẫn còn đứng trơ trơ ra đó. Trong khi những tên cướp mặc quân phục nghiên cứu làm rõ thêm kế hoạch này thì tên cướp mặc lễ phục ngoại giao Ribentơrốp đã ký với chính phủ Liên Xô hiệp ước không tiến công nhằm che đậy sự chuẩn bị chiến tranh của chúng.

        Văn bản của kế hoạch "Bácbarôxa" không chỉ chứng minh một cách hùng hồn cuộc tiến công có chủ định trước của Đức vào lãnh thổ Liên Xô. Nó còn chứng minh rõ rằng để thực hiện điều đó, Hítle đã tập trung và áp sát biên giới Liên Xô toàn bộ lực lượng thiết giáp, toàn bộ không quân chiến đấu và các đơn vị mô tô. Hắn chi để lại ờ châu Âu và các mặt trận khác một số đơn vị yểm hộ chủ yếu gồm những tên lính già nua và được trang bị bằng vũ khí chiến lợi phẩm.

        Trong bản hướng dẫn việc thực hiện kế hoạch "Bácbarôxa", Hítle đã viết như sau:

        "Những lực lượng vũ trang của Đức cần phải được chuẩn bị để thắng nước Nga Xô viết bằng một chiến dịch chớp nhoáng, thậm chí trước khi cuộc chiến tranh chống nước Anh kết thúc. Để đạt được mục đích đó quân đội phải sử dụng tất cả các lực lượng hiện có của nó, trừ những lực lượng cần thiết để bảo vệ các lãnh thổ chiếm đóng khỏi chuyện bất ngờ... Cuộc chiến tranh này ở phương Đông cần được giới hạn ở sự cần thiết phải bảo vệ chu tất lãnh thổ cho các chiến dịch và cho việc sản xuất vũ khí".

        Và tiếp theo, trong khi triển khai kế hoạch chiến tranh chớp nhoáng, Hítle đã hạ lệnh:

        "Đại bộ phận quân đội Nga tập trung ở miền Tây nước Nga, phải bị tiêu diệt bằng những chiến dịch táo bạo: những mũi nhọn xe tăng cần được đưa tất lên phía trước. Việc rút lui của những đội quân có khả năng chiến đấu trên lãnh thổ rộng lớn của nước Nga cần được ngăn chặn.

        "... Tuyến cuối cùng của những chiến dịch đó là việc tạo ra một hàng rào phòng vệ chống lại nước Nga Á châu trên tuyến Vônga - Áckhanghenxcơ".

        Đó là những kế hoạch của chủ nghĩa quốc xã được phanh phui đầy đủ trước toà và được xác nhận bằng tài liệu. Chính từ đây, nơi các dân tộc đang lên án những thủ phạm đầu sỏ của những âm mưu, quỷ kế đó, người ta càng thấy rõ hơn chiến công vĩ đại của Hồng quân. Kế hoạch chiến tranh chóp nhoáng của Hítle đã bị phá tan ngay từ vùng biên giới, trên những thước đất Xô viết đầu tiên. Quân đội xâm lược của Hítle đã hao mòn sức lực yếu dần trong những trận chiến đấu liên tục. Ngọn lửa của cuộc chiến tranh du kích bùng cháy trong hậu phương của chúng, trên những tuyến đường giao thông, sự chống trả quyết liệt của các sư đoàn quân đội Xô viết bị bao vây nhưng không hạ vũ khí đã tiêu hao sinh lực địch. Những mũi nhọn xe tăng "được tung lên phía trước" theo kế hoạch của Hítle, đã bị chặn đứng và nhiều khi bị hết nhiên liệu, đạn dược. Và sau khi vấp phải sự chống cự kiên cường trên hướng tiến công chính ở Xmôlenxcơ, "đội quân bách chiến bách thắng" của Hítle đã dừng lại. Bộ tổng tham mưu, theo chỉ thị của Hítle, phải tức tốc thay thế kế hoạch "Bácbarôxa" bằng một chiến dịch khiêm tốn hon mang tên "Cơn bão" nhằm thực hiện nhũng nhiệm vụ hạn chế hon.

        Bài phát biểu của Ruđencô rất đanh thép và có trọng lượng. Bời lẽ ông là người đại diện một dân tộc vốn là kẻ thù không đội. trời chung của chủ nghĩa quốc xã, một dân tộc đã mang trên vai gánh nặng chù yếu của cuộc đấu tranh với chủ nghĩa quốc xã và đã bị tổn thất hơn hai mươi triệu người con ưu tú để bẽ gãy xương sống của con thú phát xít.

        Bằng những dẫn chứng về Ba Lan, Tiệp Khắc, Nam Tư và những vùng bị chiếm đóng thuộc lãnh thổ Liên xỏ, Ruđencô đã chứng minh rằng bọn quốc xã trên thực tế đã thực hiện kế hoạch "giảm dân số" tàn bạo như thế nào. Những vụ bắn thường dân hàng loạt... Những phòng hơi độc... Những chiếc xe giết người... Những lò thiêu xác với năng suất rất cao. Những hố chôn người. Những vụ thả thuốc độc xuống giếng. Việc tổ chức tiêu diệt con người bằng nạn đói và nạn dịch. Việc huỷ diệt những làng mạc và thành phố...

        Các quan toà, công tố viên, luật sư bào chữa, các vị khách đều hồi hộp lắng nghe những lời buộc tội của công tố viên trưởng Liên Xô. Ngay đến các phóng viên là những người đã nhìn thấy tất cả và không quen ngạc nhiên, hôm nay đã ngồi yên lặng và cố ghi lại bài phát biểu như những chú học sinh chăm chỉ. Trong khoang lô dành cho báo chí, lúc thì ở chỗ này, lúc thì ở chỗ khác luôn có nhũng cánh tay giơ lên để gọi liên lạc viên đến chuyển giúp những bức điện khẩn.

        Trong giờ giải lao, quán rượu vắng tanh vắng ngắt, thế nhung từ phòng báo chí lại vọng ra tiếng đánh máy chữ lách tách không ngừng.

        Bài phát biểu cùa Ruđencô cũng gây nên sự phản ứng dữ dội trên hàng ghế bị cáo. Rôdenbéc vốn biết tiếng Nga, đã bỏ ống nghe để nghe trực tiếp. Gơrinh giận dữ giật ống nghe ra khỏi tai sau khi Ruđencô đã trích dẫn câu nói của y: "Tôi chủ tâm vơ vét và vơ vét có hiệu quả" rồi lại run rẩy đeo ống nghe vào và cho đến hết phiên toà không bỏ ra nữa. Câyten thò một ngón tay vào cổ áo và nới ra: dường như vòng dây thòng lọng đã siết chặt lấy cổ y. Duy chỉ có Hexơ trong ngày hôm đó vẫn giữ vê thản nhiên và bình tĩnh. Bằng thái độ đó, y dường như nhấn mạnh rằng y không hề tham gia vào việc khởi thảo kế hoạch "Bácbarôxa" cũng như trong chiến dịch "Cơn bão" và y không muốn chịu trách nhiệm về những thành công và thất bại của quân đội Đức.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Ba, 2018, 07:13:29 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2018, 07:14:42 pm »

 
NHỮNG NGƯỜI CHẾT TRÊN DIỄN ĐÀN

        Hôm nay những mặt trời nhân tạo trong hội trường của Toà án quân sự đã được tắt đi. Hội trường chìm trong bóng tối, và dưới ánh sáng lung linh mờ ảo, những người chết đã xuất hiện ở vị trí dành riêng cho các nhân chứng. Đó là những người từ lâu đã bị thiêu thành tro trong các lò ở Maiđanhéc, Ôt xvenxim Bukhenva, Đakhao, những người đã mục nát trong các hố chôn người ở Babi lắc và Kháccốp, những người đã an nghỉ dưới các nấm mồ vô danh tại nghĩa trang Pixcarép ở Lêningrát.

        Tài nghệ của những người làm phim thời sự dũng cảm Liên Xô đã làm cho những người chết đó sống lại và dẫn họ về gian phòng xử án này. Dường như đúng bật dậy từ dưới mồ, họ ném vào mặt các bị cáo những lời buộc tội không gì có thể bác bỏ được.

        Nói cho đúng, phiên toà bắt đầu như thường lệ. Phụ tá của công tố viên trưởng Liên Xô Xmiếcnốp với phong thái điềm tĩnh vốn có đã đọc một bài phát biểu. Ở phần cuối bài phát biểu đó, ông đề nghị Toà án quân sự xem một bộ phim thời sự về những tội ác của bọn quốc xã trên đất nước Liên Xô. Đúng lúc ấy hội trường mới chìm trong bóng tối, và chỉ có khuôn mặt của các bị cáo được những ngọn đèn từ phía dưới hắt lên nên chúng nom có vẻ như đang trôi bập bềnh giữa đêm đen. Đối với riêng tôi, sự xuất hiện của bộ phim này trên màn ảnh không phải là điều mới lạ. Rôman Cácmen, một chiên hữu cũ của tôi, nhà quay phim thời sự, nhà quay phim chính luận, người ngay từ hồi đầu chiến tranh đã biết chắp nối những đoạn phim thời sự riêng lẻ, những mảng đời được ghi trên phim nhựa thành những bộ phim lý thú, đã nói với tôi rằng các anh đang chuẩn bị "đặt một quả bom nhỏ" dưới hàng ghế của các bị cáo, một quả bom nhỏ bằng phim mà tiếng nổ sẽ làm cho nhiều người phải nhớ đến.

        Trong khi Cácmen cùng những đồng chí của anh đang làm phim ở đây, tại toà án này, thì ở Matxcơva dựa theo kịch bản của anh, người ta đã lắp ráp một bộ phim từ những trường đoạn quay trong thời gian chiến tranh. Tôi đã biết nội dung của cuốn phim và nhiều cảnh mà hôm nay được chiếu, tôi đã chính mắt mình nhìn thấy trước đây, thế nhưng bộ phim vẫn làm tôi sửng sốt. Tôi viết những dòng chữ này dưới ấn tượng của bộ phim ấy.

        Xin tường thuật lại như sau: trong bóng tối loé lên một luồng ánh sáng xanh dịu và trên màn ảnh hiện lên dòng chữ "Phim tài liệu về những tội ác của phát xít Đức xâm lược". Bộ phim tài liệu này do công tố viên trưởng Liên Xô giới thiệu. Tiếp đó chúng tôi đọc được trên màn ảnh:

        "Chúng tôi, những nhà quay phim ngoài mặt trận Vôrônxốp, Ghicốp, Đôbrônítxki, Êsurin, Deniakin, Cácmen, Cutúp Dađê. Lêvintan, Micôsa, Mukhin Panốp, Pôxenxki, Xêgan, Xôlôvép, Xôlôgubốp, Tơrôiannốpxki, Stalan, xin long trọng xác nhận rằng vào thời kỳ từ năm 1941 đến năm 1945, trong khi công tác ở những đơn vị bộ đội chiến đấu của Hồng quân, chúng tôi đã quay được những cánh quay khác nhau của cuộc chiến tranh vệ quốc. Những trường đoạn được đưa vào bộ phim này là sự tái hiện chính xác những gì mà chúng tôi đã phát hiện thấy trong khi đi đến các miền khác nhau của đất nước sau lúc quân đội phát xít Đức bị tống cổ ra khỏi những nơi ấy".

        Xuất hiện những cảnh quay đầu tiên. Trong ống nghe bằng bốn thứ tiếng vang lên giọng người thuyết minh: Thành phố Rôxtốp, ngày 29 tháng 10 năm 1941.

        Chúng tôi nhìn thấy một đường phố ở Rôxtốp còn mang dấu vết của những trận chiến đấu. Thi hài của các thường dân. Từ bức tranh toàn cảnh chết chóc, ống kính của nhà quay chĩa vào một em bé nằm trên tuyết. Trong đôi tay đã cứng đờ của em là một con chim bồ câu. Một con chim bồ câu còn sống, con chim còn giãy giụa, nó nhắm mắt lại. Thế là thế nào nhỉ? Làm sao có thể xảy ra chuyện đó được? Có lẽ em bé không muốn nộp cho bọn lính con chim và thế là chúng đã bắn chết em.

        Quảng trường trước nhà ga. Một đống xác chết cạnh toà nhà. Các tù binh Hồng quân chăng? Chúng đã bắn họ rồi xếp cẩn thận thành từng đống như đống củi nhưng chưa kịp đốt chăng? Ông kính của nhà quay phim dịch gần lại, chúng tôi thấy tay chân và đầu của những người chết được băng bó. Không, đây không phải là những tù binh mà là những thương binh bị bắn chết. Và trên màn ảnh hiện lên một tài liệu đó là mệnh lệnh của viên chỉ huy sư đoàn xe tăng Đức: "Theo chỉ thị của bộ tư lệnh, một lần nữa tôi xin báo cho các đơn vị biết rằng từ nay trở đi, mỗi một sĩ quan theo sự suy xét của mình, trong trường họp cần thiết, có quyền bắn các tù binh".

        Trường họp như vậy đa xảy ra ở Rôxtốp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2018, 07:15:56 pm »

     
        Chúng tôi dường như đi theo dấu vết cuộc tiến công của quân ta trên các mặt trận rộng lớn: Kécxơ, Đônbát, Kháccốp. Kháccốp - thành phố đó đối với tôi cũng quen thuộc. Tôi lập tức hồi tưởng lại cái đêm tôi cùng với Paven Côvanốp, phóng viên đài phát thanh, tới chỗ con hào được miêu tả trên màn ảnh, khi người ta bắt đầu đào nó lên. Đó là cái hào chống xe tăng cỡ lớn, trong đó, dưới một lóp đất mỏng là hàng nghìn xác người đã bắt đầu rữa. Chính chúng tôi đã đến đây với những cán bộ của Uỷ ban điều tra nhà nước về tội ác của bọn phát xít. Và chúng tôi cũng đến chỗ viện quân y mà bọn Đức đã đốt cùng với những thương binh đang điều trị trong đó khi chúng rút lui. Uỷ ban điều tra nhà nước xem xét những bộ xương bị thiêu cháy, trên đó vẫn còn lại các dấu vết bó bột. Một cái hố được khai quật giữa sân, trong đó những xác người mặc áo bờ lu trắng đã mục nằm với những tư thế đáng sợ. Nhà văn Alếcxây Tônxtôi, uỷ viên Uỷ ban điều tra nhà nước, một người đẫy đà, chậm chạp, trán cao, ngồi trên một phiến đá nét mặt rầu rầu.

        - Khó mà cắt nghĩa được điều đó, - đột nhiên ông nói với chúng tôi bằng một giọng nhỏ nhẹ, đứt quãng. - Đó là chủ nghĩa Phát xít. Không thể nào tìm được những từ đồng nghĩa khác với nó được đâu.

        Rồi nhìn xuống hố, ông nói thêm:

        - Chủ nghĩa phát xít, đó là bản chất của thói tham lam, của sự đê tiện, đểu giả và hèn nhát. Tại sao chúng lại giết những thương binh? Tại sao chúng lại tiêu diệt hàng nghìn thường dân? Phải nhằm một mục đích gì chứ? Chính là để cho không ai biết rằng nó không phải là một tay khổng lồ mà chỉ là một tên bị mắc bệnh tâm thần hèn hạ, và để cho mọi người luôn luôn sợ nó...

        Những nhà quay phim ở ngoài mặt trận càng ngày càng dẫn chúng tôi đi xa hơn theo con đường tiến công của Hồng quân Liên Xô. Hàng trăm, hàng nghìn người chết xếp thành từng hàng im lặng đi qua hội trường đang chìm đắm trong bóng tối. Ngồi ở đằng trước tôi là bộ ba Cucrưnítxư. Mấy chiếc cặp vẽ của họ được mở ra. Những cây bút chì đưa nhanh trên giấy. Tôi không rõ là vẽ trong bóng tối như thế nào. Nhưng tôi thấy đầu họ lúc thì ngước lên màn ảnh, lúc thì quay sang dãy ghế bị cáo. Đúng, cũng cần phải theo dõi cái dãy ghế ấy nữa. Gơrinh co rúm người lại, đầu rụt giữa hai vai, Câyten ngồi cau mày cắn môi. Iốtlơ mắt không rời màn ảnh. Sáctơ nhắm nghiền mắt lại. Ribentorốp đưa hai tay ôm lấy đầu. Tất cả bọn chúng đều rất sợ phải gặp lại những nạn nhân đã chết rữa từ lâu của chúng. Và trên màn ảnh lại xuất hiện một hình ảnh quen thuộc. Người thuyết minh gọi tên: Kiép, còn tôi thì nghe là "Babi Iắc"1. Cái địa điểm hồi đó được đặt tên như thế vào trước ngày lễ Quốc khánh mồng bảy tháng mười một năm 1943, khi trên đường đi Matxcơva, chúng tôi từ phương diện quân thứ hai Ucraina bay đến đây, đến thủ đô của Ucraina vừa được giải phóng. Cuộc sống thực sự ở thành phố này chưa bắt đầu. Ngôi nhà thờ cổ bị phá sập chỉ còn trơ một đống gạch vụn nằm nhô lên trên nền những hàng cây còn đọng những hạt sương muối. Dân chúng đang gỡ bỏ những tấm biển đáng ghét của bọn Đức để lại. Chúng tôi nói chuyện với bất kỳ một ai cũng đều nhất thiết được nghe cái tên "Babi lắc". Chúng tôi bèn ra vùng ngoại ô phía tây bắc. Những gò mả tôi đã nhìn cho đến bây giờ vẫn không quên và sẽ không bao giờ quên được. Nó sổng trong tôi và chắc sẽ sống cho đến hết đời. Đó là sườn dốc dụng đứng của một cái khe lớn, và ở chỗ mặt cắt của con dốc lộ ra những thây người kết thành một lớp dày chừng hai mét giống như một tầng địa chất.


        Đúng lúc ấy các chiến sĩ công binh đang khai quật nó. Mặt họ được quấn bằng những chiếc khăn mặt ướt, mặt dù thời tiết rét buốt, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Và ngay cả chúng tôi những người đã từng nhìn thấy con hào ở Kháccốp và những đống xác người bị bắn chết ở ngoại ô Pôntava, chúng tôi vẫn lặng đi vì bàng hoàng trước cảnh tượng đó. Ở đây còn có một người đàn bà tóc bạc, quần áo tả tơi, chắc là bị mất trí, nửa khóc nửa cười đi lang thang và một cô bé con mặt mũi đen đủi đang cố lôi bà ta đi.

        Lúc ấy tôi không có thì giờ để hỏi cặn kẽ vì ngay hôm đó chúng tôi phải viết rồi bay về Matxcova. Chúng tôi chỉ có thể trò chuyện với một vài người dân. Có người bảo bảy mươi lăm nghìn người bị giết. Có người bảo một trăm nghìn, cũng có người nói một trăm năm mươi... Nhưng ai mà có thể đếm được số tử thi nằm chen chúc trong cái vỉa đó! Và chúng tôi nghĩ rằng rồi đây tại địa điểm khủng khiếp này sẽ được dựng lên một đài kỷ niệm để nó nhắc nhở lớp con cháu sau này để họ biết mà trả thù và đề cao cảnh giác...

        Giờ đây, tất cả những cảnh đó đã hiện lên trên màn ảnh. Những người chết, rất nhiều người chết dường như ùa vào hội trường tĩnh mịch để nhắc mọi người nhớ lại quá khứ.

-------------------
       1. Babi lắc: tên một cái khe nằm ở vùng ngoại ô Tây bắc của thành phố Kiép, nới phát xít Đúc giết hơn 10 vạn người Do Thái và tù binh Xô viết vào năm 1941- 1943-(N.D).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2018, 05:53:33 am »


        Cuốn phim dẫn chúng ta đi tiếp về phía tây: Látvia, Êxtô- nia, Lítva. Còn đây là chính nước Đức.

        - Trại tập trung các tù binh Liên Xô tại Lemxđoócphơ, - người thuyết minh hướng dẫn.

        Và lại những xác chết. Hàng trăm xác chết. Những người còn sống cũng trông giống như những xác chết, như những bộ xương đang cừ động.

        - Đan xích. Toà nhà của viện nghiên cứu công nghệ học. Tại đây đã được nghiên cứu những phương pháp và quy trình công nghệ của việc tận dụng thể xác con người, - tiếng người thuyết minh nói chậm rãi bên tai.

        Về chuyện này, chúng tôi cũng đã biết. Chúng tôi đã nhìn thấy ờ toà án những hiện vật, đã nhìn thấy sản phẩm của cái công xưởng đó, nhưng vẫn thấy rùng rợn. Tôi muốn nhắm mắt lại, muốn vùng dậy và chạy ra khỏi hội trường. Nhưng tôi lại nghĩ cần phải kinh qua tất cả những thứ đó, cần phải nhìn vào tận đáy của chủ nghĩa quốc xã, cần phải biết tường tận là nó đã đem lại cho nhân loại những gì.

        Đây là hầm nhà, lại vẫn những xác chết xếp thành từng đống gọn gàng như nguyên liệu trong kho nhà máy. Mà đúng đó là nguyên liệu trong kho nhà máy được phân loại theo độ béo của thi thể. Những cái đầu bị chặt nằm riêng ở một góc. Đó là đồ phế thải. Chúng không dùng được vào việc nấu xà phòng. Còn đây là thân thể con người đã được chặt rời xếp vào thùng nhưng chưa kịp nấu.

        Bất giác tôi nhìn tên Câyten. Chính hắn đã cho phép và ra lệnh giết các tù binh. Nhìn chung, khi các công tố viên của Liên Xô và Mỹ đọc tài liệu thì Câyten trông vẫn còn khá cứng cỏi trên lập trường của hắn: hắn là một người lính, người lính chỉ biết thi hành mệnh lệnh. Nhưng giờ đây, tôi nhìn thấy hai tay hắn run rẩy bám vào rào chắn.

        Đèn bật sáng. Những bóng ma từ dưới mồ hiện lên đã biến mất, mọi người ngồi bàng hoàng trong sự im lặng nặng nề. Chỉ có các hoạ sĩ Cucrưnítxư và Bôrít Êphimốp vẫn tiếp tục làm việc ráo riết để cố ghi lại trên giấy những hình ảnh vừa mới nhìn thấy. Nicôlai Giucốp ngậm trong miệng nắm bút chì và cục tẩy. Anh không nghe và không nhìn thấy gì ngoài hình vẽ xuất hiện dưới cây bút của anh.

        Trong lúc chiếu phim, tôi đã nghĩ ra được một kế. Giờ giải lao tôi đến nắm tay Anhia - cô phiên dịch mới thay thế cho "chú lính chì" đi Matxcơva, một cô gái đáng mến, bẽn lẽn và trông rất trí thức, rồi vội vã đi cùng cô đến bác sĩ tâm thần Ginbéctơ. Trong buổi chiếu phim, ông khiêm tốn ngồi trong hội trường cùng với đoàn tuỳ tùng của công tố viên Mỹ, và tôi rất muốn biết ý kiến của những người được ông bảo trợ sau khi họ xem phim xong.

        Bác sĩ Ginbéctơ dang hai tay ra. Bởi lẽ ông cũng chưa kịp trao đổi vói họ. Ông chưa quan sát nét mặt của họ. Theo ý kiến của ông, tất cả đều sửng sốt ở một mức độ này hay mức độ khác: Nâyrát ngồi quay mặt không nhìn màn ảnh; Sáctơ nói lẩm bẩm; Phuncơ hình như đã khóc. Vả lại không có gì đảm bảo cho điều đó cả. Nói tóm lại, hãy tìm tôi vào ngày mai, ngày mai có thể tôi sẽ kể cho biết một vài điều gì đó...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2018, 05:55:10 am »


BĂNG ĐÃ CHUYỂN

        Bác sĩ Ginbéctơ có một cái nghề đặc biệt. Ông là bác sĩ tâm thần kiêm nhà hình pháp học và, như mọi người thường nói, trong lĩnh vực này ông là một nhà khoa học chân chính. Người Mỹ nói chung là những người cởi mở và không đến nỗi dửng dưng đối với giới báo chí. Nếu biết cách đối xử thích họp thì phỏng vấn họ không phải là chuyện khó. Nhưng khác với những đồng bào của mình, bác sĩ Ginbéctơ là một người ít cởi mở. Ông ta hầu như không nói chuyện với cánh nhà báo - trừ một vài cây bút sừng sỏ nổi tiếng từ Niu Yoóc bay sang đây ít hôm - mặc dầu đối với tất cả chúng tôi. ông ta là "một miếng mồi ngon", theo như cách nói của anh chàng Êrích vui tính. Chứ gì nữa, ông ta là người duy nhất có thể vào xà lim các bị cáo bất cứ lúc nào, có thể trò chuyện với chúng về mọi vấn đề và theo dõi phản ứng của chúng đối với tất cả những gì xảy ra ở toà án.

        Đại tá Enđruxơ vốn đã từ lâu quan sát công việc của ông ta, kể lại rằng: bác sĩ biết cách tranh thủ được lòng tin của các phạm nhân. Ngay đến tên Hexơ kín như bưng, tên Câyten và Iốtlơ vốn luôn luôn cảnh giác cũng vui lòng trả lời những cân hỏi của bác sĩ. Lúc này Ginbéctơ dường như có thiện cảm đối với tôi. Hôm nay chúng tôi đã ăn sáng với nhau. Ginbéctơ tỏ ra rất đáng yêu, thậm chí còn hấp dẫn là đằng khác, nhưng điều đó chẳng giúp ích gì cho tôi cả. Ông ta không hề nói rằng về cơ bản ông ta chống lại cánh nhà báo, nhất là các nhà báo Nga. Nhưng ông ta từ chối cuộc phỏng vấn với hai lý do sau đây:

        Thứ nhất, ông ta là bác sĩ, và những điều ông ta quan sát hiện đang còn là bí mật nghề nghiệp ở một chừng mực nhất định; thứ hai, sau vụ án này ông ta định viết một cuốn sách1. Đúng thế, hàng ngày ông ta đã ghi biên bản rất tỉ mỉ về những cuộc nói chuyện của mình đối với các bị cáo. Ông ta làm việc đó không chỉ để cho công tác khoa học mà còn để cho cuốn sách tương lai của mình.

        - Nếu như tôi vung phí những tài liệu này cho các báo thì rồi đây tôi sẽ lại phải sưu tầm những mẩu tin của các ông, -  ông ta nói và dẫn ra một câu tục ngữ Anh thích hợp trong trường hợp này.

        Đối với yêu cầu trực tiếp của tôi về việc xin ông ta cho biết tác động do bộ phim hôm qua đã gây ra cho các bị cáo, ông ta chỉ trả lời rằng những ấn tượng thị giác mà hôm qua ông ta cho tôi biết, nói chung đã được xác nhận. Các bị cáo đã xúc động một cách lạ thường. Thế thôi. Rồi ông ta nói thêm: "Thế chẳng nhẽ ông không xúc động hay sao?"

        Tất nhiên tôi không phải là kẻ hay quấy rầy. Xét cho cùng, mỗi người đều có bí mật nhà nghề. Tôi uống nốt tách cà phê, thân mật bắt tay bác sĩ và xin cáo lui mặc dầu tôi biết rằng ở ông ta, tôi không thể khai thác được một điều gì cụ thể cả.

        Nhưng ngày hôm đó trôi qua không phải là vô ích. Công tố viên trường Liên Xô trong khi hỏi Gơrinh về một chuyện riêng đã khéo léo dồn hắn vào chân tường.

        - Bị cáo, ông có thừa nhận rằng bằng việc tung quân đội sang phương Đông, vi phạm hoà ước và mở cuộc chiến tranh chống Liên Xô, Bộ tổng tham mưu của các ông đã phạm một tội ác cực kỳ to lớn mả xét cho cùng đã dẫn nước Đức đến chỗ thảm hoạ không?

        - Đó không phải là tội ác, đó là một sai lầm. - "Nhân vật số hai" của nước Đức trả lời bằng một giọng trầm trầm. - Tôi chỉ có thể thừa nhận rằng chúng tôi đã hành động hấp tấp, bời lẽ, như diễn biến của chiến cuộc cho thấy rõ, chúng tôi có nhiều cái không chú ý tới và nhiều điều không thể ngờ được. Cục tình báo của chúng tôi hoạt động không phải là tồi, và chúng tôi đã nắm gần đúng quân số của Hồng quân, số lượng xe tăng, không quân, chúng tôi đã biết công suất các nhà máy quốc phòng của các ông. So sánh sự tương quan lực lượng, chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ thắng. Song chúng tôi không biết những người Nga Xô viết. Đối với phương Tây, con người phương Đông bao giờ cũng là một điều bí ẩn. Napôlêông đã phạm sai lầm. Chúng tôi mắc lại sai lầm ấy. - Và ngước đôi mắt màu sáng lên trời, hắn thốt lên: - Đó không phải là tội ác, đó là định mệnh.

        Định mệnh? Thú thực tôi bị hẫng khi nghe cái lời thú nhận miễn cưỡng ấy. Định mệnh! Tôi liền sực nhớ tới người phi công cụt đôi chân mà tôi chưa viết chữ nào. Chính anh ấy, cái "định mệnh" ấy đã kết thúc cuộc chiến và đưa mi ra trước vành móng ngựa, hỡi tên Hécman Vinghen Gơrinh kia!

-----------------
        1. Cuốn sách này, bác sĩ Giôn Ginbéctơ đã viết xong và đã cho xuất bản ("Nuremberg Diary", New York, 1947). Đó là một cuốn sách lý thú và trong khi chinh lý những tập nhật ký để đưa in, tôi đã dùng cuốn sách đó để kiểm tra lại một số ghi chép của mình trước đây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2018, 05:56:12 am »

        
TIẾNG LÓNG CỦA CHÚNG

        Vào những ngày xử án đầu tiên, những tên đầu sỏ  quốc xã đã phật ý, thậm chí đã phẫn nộ khi người ta gọi chúng bằng từ "bị cáo". Ngài bộ trưởng, ngài thống chế, ngài đô đốc - đáng nhẽ phải suy tôn chúng như vậy. Bây giờ thì chúng đã quen dần vói từ "bị cáo" và không thấy bị xúc phạm nữa.

        Nhưng hôm nay tôi phải lục lọi cái đống biên bản và ghi chép về các cuộc họp bí mật của chúng, trong đó tất cả những nhà hoạt động quốc gia và quân sự ấy xuất hiện trong môi trường của chúng. Vả từ mớ tài liệu đó, tôi trích ra những đoạn đáng chú ý nhất làm bộc lộ rõ chân tướng của cái đám người ấy.

        Hãy nghe xem chúng nói chuyện với nhau như thế nào.

        Khi mới đặt chân lên con đường công danh, Hítle đã tâm sự với Raosơningơ một cách hết sức cởi mở:

        "Tôi cần những người có quả đấm mạnh mà không một nguyên tắc nào làm chùn lại khi cần phải thịt một kẻ nào đó và nếu như khi làm việc này, họ lột đồng hồ hoặc đồ trang sức quý thì tôi cũng cho qua".

        Đấy, Hítle đã dùng thứ ngôn ngữ như vậy để nói lên cái lý tưởng của nhà hoạt động quốc xã khi hắn chưa phải là đức quốc trưởng "hùng mạnh" mà chỉ là tên cầm đầu một bọn lưu manh chuyên đi phá phách và cướp bóc các cửa hàng của người Do Thái và đi giải tán các cuộc mít tinh, biểu tình của công nhân, tất nhiên là hắn được trả công với giá phải chăng.

        Sau đó Hítle trở thành người đứng đầu nước Đức quốc xã. Quy mô hoạt động của hắn đã lớn lên gấp bội, nhưng nguyên tắc mà hắn dùng để cất nhắc và thu nạp những kẻ tuỳ tùng vẫn không thay đổi. Đó, bao giờ cũng là những tên có "quả đấm mạnh", không biết danh dự, lương tâm là gì và đối với chúng, trên đời này chẳng có gì là thiêng liêng cả. Mặc dầu chúng được gọi là bộ trường, thống chế, đô đốc... nhưng về thực chất, chúng vẫn là những tên lưu manh của cái thời đảng Quốc xã được thành lập trong quán bia ô Bavari. Và khi chúng tụ tập lại với nhau trong một phạm vi rất hạn chế thì chúng vẫn dùng tiếng lóng như xưa.

        Công tố viên Liên Xô đã đưa ra trước toà bản báo cáo ghi bằng tốc ký về cuộc họp giữa Gơrinh với viên bộ trưởng phụ trách các lãnh thổ bị chiếm đóng cùng các đại diện của bộ chỉ huy quân sự cao cấp và chính phủ từng hoạt động trên những lãnh thổ ấy. Bán báo cáo này sẽ mãi mãi là một trong những tài liệu vô cùng quan trọng để vạch trần bản chất ăn cướp của chủ nghĩa quốc xã.

        Sau khi tuyên bố rằng nước Đức hiện nay chiếm được những vùng đất đai tốt nhất và trù phú nhất - từ Đại Tây Dương đến sông vônga và Cápca, quân đội dũng cảm của nước Đức đã chinh phục hết nước này đến nước khác, Gơrinh nói thêm rằng hắn yêu cầu các chiến hữu hãy nhanh chóng bắt đầu vơ vét của cải những nước đó. Hắn dùng đúng từ "vơ vét" và thấy không cần thiết phải tìm một từ đồng nghĩa thích hợp.

        "Trước đây, - hắn nói, - mọi chuyện đều đơn giản hơn nhiều. Công việc này hồi đó gọi là cướp bóc. Điều đó phù hợp với cái công thức cũ - tước đoạt những gì đã chiếm được. Bây giờ những công thức trở nên nhân đạo hơn. Tuy vậy tôi vẫn chủ tâm vơ vét, đúng là vơ vét và vơ vét một cách có hiệu quả".

        Và hắn đã chỉ thị cho những vị đại diện của chính phủ và các tướng lĩnh dưới hình thức "tao nhã" như sau:

        "Các vị phải hành động như những con chó săn. Ở nơi nào còn một cái gì đó có thể cần cho người Đức chúng ta thì các vị phải đánh hơi và chiếm lấy. Những thứ ấy lập tức phải được thu lượm từ các kho và chuyển về đây".

        Gơrinh đòi hỏi sao cho tất cả những thứ còn lại trên các quầy hàng ở các cửa hiệu của Pháp, trong các kho lúa hoặc trong các kho thực phẩm cửa những nước bị chiếm đóng phải được tịch thu nhanh chóng và vận chuyển về Đức.

        Vẽ lên cái viễn cảnh về sự cướp bóc trên toàn châu Âu đó và càng nói càng say sưa, Gơrinh tuyên bố rằng các vị chỉ huy không được đếm xỉa tới nạn đói, thậm chí tới sự chết dần chết mòn của các dân tộc bị cướp bóc.

        "Chúng ta không có nhiệm vụ nuôi sống các dân tộc mà trong lòng tất nhiên là chống lại chúng ta. Các vị nên biết rằng nếu những lời chửi bới từ các nước bay đến tai chúng tôi, thì chúng tôi sẽ biết rằng các vị đã hành động đúng".

        Trong khi lạnh lùng đòi phải vơ vét nhẵn mọi thứ, Gơrinh đã hứa hẹn một cuộc sống hết sức phong lưu cho những tên ăn cưóp. Bởi lẽ - như hắn giải thích - người Đức là chủng tộc của các ông chủ và cái chủng tộc được tuyển lựa này có quyền hưởng mọi thứ.

        "Tôi sẽ giận các vị nếu như chẳng hạn ở Pari lại không có những khách sạn thượng hạng để cho người Đức chúng ta, những kẻ chiến thắng, có thể đánh chén thoả thích. Nhưng tôi sẽ không hài lòng để cho bọn Pháp bén mảng tới đó. Nhà hàng Mác xim1 cần phải làm những món ăn thật ngon chỉ để cho các sĩ quan Đức và những người Đức, chứ tuyệt nhiên không phải để cho bọn Pháp mà tôi không thèm đếm xỉa tới. Chúng ta cần có những khách sạn sang trọng như thế ở Pháp, nơi chỉ dành riêng cho người Đức. Bọn Pháp không được lui tới đó. Chúng không cần những món ăn như vậy".

----------------
       1. Tên một khách sạn sang trọng ở trung tâm Pari mà đến nay vẫn còn.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM