Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:33:29 pm » |
|
HEBBELS RÚT LUI
Thủ tướng tương lai của Cộng hòa Liên bang Đức, Helmut Shmidt trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ Hai là sĩ quan trong lực lượng vũ trang Quốc xã mặc dù một trong những người ông của ông là Do Thái. Trong gia đình điều này được giữ bí mật tuyệt đối.
Helmut Shmid cho rằng những người như mình trong quân đội có khoảng mười lăm, hai mươi người. Trên thực tế số lượng các sĩ quan có một phần máu Do Thái hoặc lấy vợ Do Thái còn lớn hơn nhiều.
Sau khi tiêu diệt hết người Do Thái bọn Quốc xã dự định sẽ triệt sản và sau đó tiêu diệt những người nửa Do Thái. Người lãnh đạo văn phòng Đế chế Lammer ngay từ 20 tháng 2 năm 1936 đã thông báo cho các cấp dưới của mình rằng mục đích của Quốc trưởng là làm sao cho “tạp chủng” biến mất.
Tháng 3 năm 1941, Valter Gross - người phụ trách bộ phận chính trị - chủng tộc thuộc bộ máy của đảng tuyên bố rằng đã đến lúc phải coi tất cả những người nửa Do Thái không khác gì những người Do Thái hoàn toàn và phải tiêu diệt họ vì họ cũng thuộc loại “không được mong muốn” trong xã hội Đức. Nếu không triệt tiêu họ thì các phần tử chủng tộc Do Thái sẽ vẫn còn lẩn quất trong xã hội.
Ngày 2 tháng 10 năm 1941, Valter Gross thoả thuận với Lammers về việc cần phải triệt sản tất cả những người một phần tư Do Thái. Đó là bước đầu tiên dẫn đến sự tiêu diệt. Gross muốn cấm các “tạp chủng” kết hôn để không cho dòng máu Do Thái được truyền lại.
Nhưng ngày 11 tháng 6 năm 1942, Frants Rodemacher - người lãnh đạo vụ Do Thái thuộc Bộ nội vụ thông báo rằng việc triệt sản tất cả những người nửa Do Thái cần cho họ gần một triệu ngày trên giường bệnh. Điều này là không thể vì toàn bộ tiềm năng y tế của đất nước cần cho quân đội.
Sau một tháng, Chánh văn phòng Quốc trưởng Bouiler viết cho Borman rằng ông rất lo lắng trước tình hình có một số lớn trẻ con ra đời từ những “tạp chủng”. Ông ta phàn nàn rằng từ lâu đã kiến nghị các biện pháp cần thiết, nhưng đảng đã bỏ qua các cảnh báo của ông. Cần phải nói rằng Borman không thể chịu đựng được Bouiler, nhưng cả hai đều cho rằng đơn giản nhất là tiêu diệt tất cả những “đại diện chủng tộc pha tạp”.
Đệ tam đê chế bắt đầu tiêu diệt hàng loạt người Do Thái và số lượng các “tạp chủng” bị đưa vào trại tập trung cũng tăng lên. Bọn Quốc xã cũng thấy rằng trong hoàn cảnh này chúng có thể thoát khỏi các “tạp chủng” một cách tốt hơn. Trong quân đội, những người dù chỉ có một chút ít máu Do Thai cũng bị đẩy vào các tiểu đoàn bị phạt - những đơn vị luôn chịu các tổn thất rất lớn.
Người ta chỉ cho phép ở lại trong quân ngũ những ai đã được chính Quốc trưởng công nhận là người Đức.
Ngày 17 tháng 3 năm 1943, Richard Hildebrandt - người chỉ huy tổng cục SS về vấn đề chủng tộc và dân số, đã báo cáo với Himler rằng các cấp dưới của mình đề nghị trong tương lai sẽ tiến hành kiểm tra tất cả các “tạp chủng loại hai” để làm rõ mức độ không hoàn hảo về mặt chủng tộc của họ. Ngày 22 tháng 5, Himler viết cho Borman rằng một phần tư máu Do Thái là quá nhiều; những người có các dấu hiệu của chủng tộc khác, rõ ràng, cần phải bị triệt sản.
Nhưng bọn Quốc xã chưa kịp thông qua quyết định tiêu diệt “đại diện chủng tộc pha tạp” thì đã bị thất bại trong chiến tranh.
Một số sĩ quan mãi sau chiến tranh mới biết được gốc rễ Do Thái của mình. Heints Dicman - thượng sĩ lực lượng vũ trang Quốc xã, người được thưởng nhiều huân chương mãi tới khi chiến tranh kết thúc mới được người ta kể cho biết rằng anh có một người ông là người Do Thái.
Sau chiến tranh những con người như vậy cũng không cảm thấy thoải mái hơn. Họ là ai - người Do Thái hay người Đức? Họ phải chia sẻ tội lỗi cùng với tất cả những người khác hay họ thuộc con số nạn nhân của chế độ Quốc xã?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:33:51 pm » |
|
Trong một số sách giáo khoa của Đức có mục: “Cuộc kháng chiến không có nhân dân”. Vấn đề ở chỗ là ở các nước khác, phong trào chống phát xít dựa vào sự ủng hộ của nhân dân nhưng ở Đức không như vậy. Những người chống phát xít trẻ như Hans và Sofia Sholl đều đơn độc và âm mưu ám sát Hitler ngày 20 tháng 7 năm 1944 cũng không nhận được sự đồng cảm của các tầng lớp nhân dân trong nước.
Nhà sử học Deniel Houldchegen viết một cuốn sách lớn về việc người Đức hạng hai tham gia vào các tội ác của chê độ Quốc xã. Không phải vì họ sống khổ, không phải vì đất nước bị khinh rẻ sau thất bại trong chiến tranh thế giới thứ nhất, và cũng không phải dưới tác động của một yếu tố tâm lý dặc biệt nào đó mà chỉ đơn giản là do họ căm ghét “kẻ khác”. Họ không muốn nhìn thấy bên cạnh mình người Do Thái và tự giác ủng hộ đường lối chính trị của những người chủ nghĩa xã hội dân tộc. Vì vậy họ đã giết hại những người Do Thái không có vũ khí, phụ nữ và trẻ con, đã tiêu diệt hàng triệu người vô tội một cách hệ thống và không thương tiếc...
Về bản chất, nhà sử học gọi dân tộc Đức là “dân tộc của những kẻ giết người”. Ấy vậy mà một điều rất ngạc nhiên là cuốn sách lại có được tiếng vang rất lớn ở chính nước Đức. Rất nhiều người Đức hưởng ứng tác phẩm của ông. Người ta đã xuất bản cả một quyển sách gồm các bức thư của độc giả gửi Deniel Houldchen. Người Đức biết được sự thật về bản thân, và trong chừng mực nhất định điều đó làm cho họ cảm thấy nhẹ nhõm, giống như tại các buổi tư vấn của bác sĩ tâm thần khi ta phát hiện ra xung quanh mình có vô số người “đồng cảnh tương lân”.
Tất nhiên nhiều nghiên cứu của các bác sĩ tâm thần cho thấy trong một số hoàn cảnh nhất định nhiều người có khả năng trở thành tội phạm. Nhưng ở đây bộ máy tuyên truyền của Quốc xã đóng vai trò lớn trong việc châm ngòi thù ghét đối với người Do Thái và nói chung đối với “người xung quanh”, đối với những gì không phải là của mình.
Chỉ có một số ít người Đức trong thời kỳ Quốc xã tìm được cho mình lòng dũng cảm tuân theo tiếng gọi của lương tâm và các nguyên tắc đạo đức của mình.
Một chuyện khó có thể tưởng tượng đã xảy ra ở Rozenshtrass không xa Alexanderplan giữa trung tâm Berlin vào tháng 2 năm 1943. Józef Hebbels với cương vị thủ lĩnh tổ chức đảng ở thủ đô ra lệnh làm “trong sạch” Berlin khỏi những kẻ Do Thái cuối cùng. Thủ đô của Đệ tam đế chế phải trở thành Judenfrei, “không một bóng Do Thái”. Hebbels hài lòng: “Cuối cùng thì chúng ta cũng đã thoát khỏi chúng!”.
Một số ít người Do Thái còn lại là chồng các phụ nữ Đức - những người đã trải qua bao đau khổ tưởng chừng không trụ nổi nhưng cuối cùng cũng đã giữ gìn được gia đình. Tất cả những người chồng bị dồn đến Rozenshtrass - toà nhà trước đây của cộng đồng Do Thái nay đã bị biến thành trạm trung chuyển. Từ đây bắt đầu cuộc lưu đầy vào các trại tập trung. Bỗng nhiên một điều không thể tưởng tượng được đã xảy ra. Vợ những người bị lưu đầy - vài trăm phụ nữ Đức đã tụ tập ở Rozenshtrass và yêu cầu trả lại chồng họ. Cùng với họ là con cái và họ hàng thân thích. Họ đứng đó cả ngày, suốt từ sáng sớm. Khu phố nhỏ hẹp chật kín người.
Cảnh sát và lính SS được điều tới. Nhưng các chị em chăng hề sợ chúng và hét to “quân giết người”. Đối với bọn Quốc xã thì đây là một sự sỉ nhục, một điều không được phép xảy ra. Suốt một tuần lễ các gia đình không chịu giải tán.
Điều kinh ngạc nhất là khi vấp phải sự phản kháng của phụ nữ, chính quyền Quốc xã đã đầu hàng. Hebbels chỉ thị thả những người đang chờ bị lưu đầy. Một số người thậm chí còn được phóng thích từ Osventsim. Bọn Gestapo chỉ kiểm tra để đảm bảo sao cho những người đã ở trong trại giết người sẽ im lặng về những gì họ kịp trông thấy. Tất cả phải trải qua một cuộc thẩm vấn ngắn để kiểm tra xem họ đã sẵn sàng cho những câu trả lời với mục đích che giấu hay chưa.
- Người ta cho ăn ra sao?
- Tốt.
- Anh có bị đánh đập không?
- Không.
- Anh có thấy ai bị đánh không?
- Không!
Câu chuyện này có vẻ như lời bào chữa cho người Đức rằng không phải tất cả trong Đệ tam đế chế là Quốc xã. Nhưng trên thực tế điều này đã xoá bỏ suy nghĩ của mọi người rằng không thể chống lại được chế độ cực quyền.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:34:49 pm » |
|
GIÁO DỤC Ở JERUSALEM (ADOLF EIHMAN)
Tháng 6 năm 1941, ranh giới số phận của Adolf Eihman cắt ranh giới cuộc sống của vài triệu đồng bào chúng ta (dân tộc Nga). Những người còn sống sót đã được cứu sống vào tháng 12 vì ranh giới mặt trận đã dừng lại ngay sát Matxcơva, và sau đó lùi về phía Tây một cách không lực nào cản nổi. Tháng 5 năm 1945, đến lượt y tránh gặp những người mà bao nhiêu năm y săn đuổi.
Sau khi bọn Quốc xã bị đánh bại thì y lâm vào sự khủng hoảng nặng nề - làm sao sống được trên thế giới nơi không còn ai chỉ huy mình.
- Tôi cảm thấy mình hoàn toàn không có khả năng sống độc lập và rơi và sự sầu uất nặng nề.
Sau khi nước Đức bị đánh bại, y xoay sở được hồ sơ giả và nhiều năm sau chiến tranh y làm việc ở trang trại và nuôi gà. Sau khi tích được một món tiền y sang Italia năm 1950. Ở đó người ta đã chuẩn bị sẵn cho y một hộ chiếu mang tên Ricardo Klemen. Tổng lãnh sự Arhentina ở Henue còn sẵn sàng giúp đỡ một cựu đảng viên Quốc xã nhận được visa nhập cảnh với hy vọng trốn tránh ở châu Mỹ la tinh.
Thời thế đã thay đổi. Giờ đây người ta tìm bắt y. Cuộc tìm kiếm kéo dài mười lăm năm và người ta đã tìm thấy y ở Arhentina - nơi mà y sống một cuộc sống khiêm nhường dưới tên người khác. Người ta bí mật đưa y về Jerusalem và cho ngồi lên chiếc ghế bị cáo.
Phiên toà công khai kéo dài bốn tháng. Và còn bốn tháng để các chánh án bàn bạc. Họ hiểu rằng bản án về vấn đề này phải hoàn hảo và không thiên vị. Theo dõi các chánh án không chỉ có hàng triệu dân thường trên khắp thế giới mà còn rất nhiều luật sư chuyên nghiệp và các nhà bác học.
Lịch sử luật học từng biết đến những bị cáo với những cái tên và các chức vụ cao hơn. Một người mà ba mươi năm trước đây bị xử án tại Jerusalem chỉ có chức vụ khiêm tốn - trung tá và đứng đầu một ban bệ không lớn trong một cơ quan khổng lồ. Có thể hắn sẽ chỉ là một nhân viên không tên tuổi trong bộ máy Quốc xã nếu không nói đến kết quả hoạt động của y.
Viên trung tá SS Adolf Eihman chịu trách nhiệm về “quyết đinh cuối cùng vấn đề Do Thái” trong Tổng cục an ninh đế chế. Y ao ước trở thành đại tá, nhưng về chức vụ thì hàm trung tá là tột trần. Trong tay chỉ có một số cấp dưới nhưng y đã vận hành cả một bộ máy không lồ mà trong một số năm đã tiêu diệt sáu triệu người.
Đối với những người còn sống sót thì Adolf Eihman là hiện thân của độc ác và là quỷ sứ bằng xương bằng thịt. Ít ai trông thấy y. Những người tù khổ sai trong các trại tập trung chỉ biết những kẻ trực tiếp hành hạ mình - những viên cai ngục. Eihman không đánh đập một ai, không dồn họ vào lò thiêu, nói chung rất ít xuất hiện ở các trại tập trung. Nhưng mỗi người Do Thái, người mà trước tiên bị bắt bởi Gestapo và sau đó bị đưa vào trại giết người đều biết chính Adolf Eihman đã tìm thấy mình và đưa vào đó.
Người ta cho rằng thoạt đầu Hitler chưa có một kế hoạch rõ ràng về tiêu diệt người Do Thái. Kế hoạch được đắp xương đắp thịt dần dần. Và cũng cần phải nhồi sọ người Đức cho họ hiểu rằng rằng những người sống bên canh họ phải bị tiêu diệt.
Năm 1933, ở Đức ước tính có nửa hiệu người Do Thái. Trong một trăm ngày đầu tiên cầm quyền, chính phủ Quốc xã đã thông qua một số luật “để bảo vệ chủng tộc và quốc gia”. Thoạt đầu nhà nước Quốc xã cấm người Do Thái đứng trong các cơ quan nhà nước và kết hôn với người Đức. Chỉ mất vài năm mà ở Đức đã thành lập được cả một hệ thống miệt thị và truy đuổi cả một dân tộc.
Một thanh niên trẻ có tên là Feliks Frankfuter chuyên nghiên cứu y học ở thành phố Bern - Thụy Sĩ, với ý định trả thù cho người Do Thái đã hy vọng giết Hitler nhưng đã nhận ra rằng khó có thể thực hiện được và ngày 4 tháng 2 năm 1936, chàng hai này đã bắn chết đại diện của Đảng chủ nghĩa xã hội dân tộc ở Thụy Sĩ, Vilheml Gustlov.
Đê tỏ sự kính trọng đối với viên quan chức bị giết, người ta đã lấy tên ông ta đặt cho con tàu mà người sĩ quan tàu ngầm Xô Viết nổi tiếng Alexandr Ivanovich Marinesko đã đánh chìm nó vào giai đoạn cuối cuộc chiến...
Ban đầu người ta đuổi ra khỏi Đức những người Do Thái có gốc rễ Ba Lan láng giềng. Đêm ngày 27 tháng 10 năm 1938, mười tám ngàn người Do Thái công dân Ba Lan đã bị chở đến biên giới và buộc phải rời khỏi lãnh thổ Đức. Nhưng giờ đây lại đến lượt các cấp chính quyền Ba Lan từ chối tiếp nhận họ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:35:15 pm » |
|
Được biết về những nỗi khổ của đồng bào mình bị đẩy vào giải phân cách giữa hai nước, chàng thanh niên mười bảy tuổi, Hershel, đã đến đại sứ quán Đức ở Pari ngày 7 tháng 11 năm 1938. Anh dự định bắn chết viên đại sứ - Nam tước Iokhanes fon Velchek nhưng lại bắn vào nhân viên đại sứ quán đầu tiên mà anh ta nhìn thấy.
Số phận thật trớ trêu, đó chính là bí thư sứ quán Emst fon Rat - người mà Gestapo đã để ý đến vì bị tình nghi là có quan điểm chống Quốc xã. Ông ta bị thương nặng và đã chết sau đó không lâu.
Việc ám sát Ernst fon Rat được bọn Quốc xã sử dụng cho hành động tổng lực chống lại Do Thái trên toàn nước Đức. Đêm rạng ngày 10 tháng 11, tư lệnh Himler, viên chỉ huy cơ quan an ninh quốc gia của SS Reinchard Heidric và chỉ huy Gestapo Hendric Miuler đã tổ chức các cuộc tấn công hàng loạt vào những người Do Thái, các cửa hàng và các nhà thờ Do Thái. Cuộc triệt hạ này đi vào lịch sử dưới cái tên “đêm pha lê”.
Trong mệnh lệnh cho các toán xung kích ngày 9 tháng 11 nêu: “Các thành viên SA mặc đồng phục phải phá huỷ tất cả các cửa hàng của người Do Thái. Sau đó đặt các trạm gác để những loại hàng hoá quý không bị đánh cắp. Tất cả các nhà thờ Do Thái phải bị thiêu cháy ngay lập tức”.
Hơn một ngàn người đã chết. Hai trăm sáu mươi nhà thờ bị phá hoại. Đây là khởi đầu cho sự tiêu diệt người Do Thái.
Sau “đêm pha lê”, tất cả người Do Thái được lệnh phải đeo ngôi sao vàng. Nếu ai đó cả gan xuất hiện trên dường phố mà không có ngôi sao sẽ bị đưa vào trại tập trung.
Ban đầu vấn đề chỉ là đuổi hết người Do Thái. Thậm chí cả những đảng viên Quốc xã giàu tưởng tượng nhất cũng chỉ hiểu các từ “quyết định cuối cùng vấn đề Do Thái” như sự lưu đầy.
Vào dịp kỷ niệm thường niên “cuộc bạo động quán bia” mồng 8 tháng 11 năm 1938, Tư lệnh SS Himler tuyên bố:
- Cần phải đuổi cổ người Do Thái, đầu tiên là ra khỏi Đức, sau đó là ra khỏi Italia và Ba Lan. Rồi khỏi các nước khác sao cho trên trái đất không còn chỗ cho người Do Thái.
Người Do Thái không còn chỗ nào để chạy.
Theo đề nghị của Tống thống Mỹ Franklin Delano Russevelt, tháng 7 năm 1938 tại Evian đã tổ chức một hội nghị quốc tế nhằm giúp đỡ những người Do Thái chạy khỏi Đức. Đại diện các nước lần lượt giải thích rằng hoàn cảnh chính trị và kinh tế không cho phép họ tiếp nhận người tị nạn.
Người Do Thái chạy sang các nước láng giềng. Nước Pháp (lúc đó chưa bị chiếm đóng) đã tiếp nhận họ. Còn Thụy Sĩ đóng cửa biên giới.
“Sonderfall Schweiz” - Thụy Sĩ - đây là trường hợp đặc biệt. Câu này được các nước đồng minh nghĩ ra trong những năm chiến tranh. Người ta nói về những người Thụy Sĩ với sự khâm phục: Đó là những người được bọn Quốc xã vây quanh từ mọi phía, những người có cử chỉ anh hùng. Trên thực tế Thụy Sĩ đã phải hy sinh hầu như tất cả các nguyên tắc của mình chỉ để không làm nước Đức Quốc xã nổi giận.
“Das Boot 1st veil” - thuyền đã quá đầy. Người Thụy Sĩ nói như vậy và khoanh người Do Thái ở biên giới cũng như định trước sự diệt vong của họ. Thụy Sĩ đã từ chối không cho nhập cảnh khoảng ba chục ngàn người Do Thái - những người sau này đã bị bọn Quốc xã đưa vào các trại tập trung.
Huyện Turgai nằm bên hồ Konstans, phía bên Thụy Sĩ, phân cách Thụy Sĩ với Đức. Hồ rộng, nhưng năm 1942, khi biên giới bị đóng thì những người tỵ nạn đã cố vượt qua hồ sang bờ bên kia trong khi mặt hổ bị băng phủ kín. Cảnh sát đã đuổi họ trở lại và những người đó rơi vào tay Gestapo.
Sau thất bại của quân Đức Quốc xã ở huyện Turgai, người ta quên ngay rằng mới không lâu trước đó họ còn cảm tình với bọn Quốc xã. Ngày 9 tháng 5 năm 1945, người đứng đầu chính quyền huyện đã huỷ tất cả những tài liệu có thể làm hại mình. Giờ đây người Thụy Sĩ vẫn giận dỗi mỗi khi người ta nhắc họ về chuyện cũ.
Nhiều năm sau chiến tranh, một người Đức Do Thái đã buộc tội chính phủ Thụy Sĩ về cái chết của cha mẹ mình.
Ngày 14 tháng 8 năm 1942, cha mẹ anh, bản thân anh và em gái bị cảnh sát Thụy Sĩ bắt trong một thành phố nhỏ gần biên giới, nơi mà họ chạy đến từ nước Bỉ bị chiếm đóng, và bị trục xuất ra khỏi đất nước.
Trước chiến tranh, cha anh thường sang Thụy Sĩ công tác. Ở đó ông có những đối tác và người quen. Liên hiệp công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ đã ủng hộ đề nghị của ông về tỵ nạn chính trị và đã sẵn sàng cung cấp bảo đảm tài chính. Nhưng việc này chẳng giúp ích được gì. Đúng vào trước ngày họ đến Thụy Sĩ thì viên cảnh sát Hendric Rotmunđ ra lệnh cho lính biên phòng trục xuất tất cả những người Do Thái tỵ nạn...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:35:39 pm » |
|
Nhưng một cảnh sát Thụy Sĩ tên là Paul Griuninger không chấp hành mệnh lệnh của chính phủ. Anh phục vụ ở biên giới Thụy Sĩ - Áo mà Thụy Sĩ đã đóng cửa đối với người Do Thái ngày 19 tháng 8 năm 1938. Anh hiểu rằng cái chết đang chờ đợi những người Do Thái bị đuổi ngược trở lại nước Áo. Theo lương tâm của mình, anh đã đóng dấu cũ vào hộ chiêu của ba ngàn người Do Thái Áo làm như họ nhập cảnh vào Áo trước ngày đóng cửa biên giới.
Cấp trên giận dữ buộc tội anh làm giả giấy tờ. Anh buộc phải công nhận là có lỗi và bị mất việc. Đến lúc chết, anh mặc dù bị suy sụp hoàn toàn nhưng vẫn luôn nói rằng sự “từ chối tàn nhẫn không cho những người nhập cư đó vào không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản về nhân văn và đạo Tin lành”.
Chỉ một phần tư thế kỷ sau cái chết của anh, tháng 11 năm 1995, toà án ở Thụy Sĩ mới xem lại phán quyết năm 1940 và minh oan cho anh. Các luật sư Thụy Sĩ cuối cùng đi đến kết luận là người cảnh sát đó có quyền làm giả hồ sơ nhập cảnh để cứu người những người vô tội khỏi bọn Quốc xã...
Trong Thế chiến II, báo chí Anh và Mỹ hầu như không thông báo gì về những tội ác hàng loạt do người Đức thực hiện ở các lãnh thổ bị chiếm đóng. Các nhà chính trị cấp cao phương Tây cũng biết chuyện nhưng im lặng. Và kết quả là chẳng có động thái nào được thực hiện nhằm chặn đứng những tội ác đó. Các chứng cớ thực thậm chí cũng không được sử dụng trong tuyên truyền, mà có lẽ vũ khí này cũng có thể đóng vai trò kiềm chế. Hitler phản ứng một cách bệnh hoạn đối với các thông báo của báo chí nước ngoài chứ không phớt lờ như người ta có thể nghĩ.
Ở Anh có hai đảng viên đảng xã hội người Ba Lan Do Thái đã tự sát do thái độ dửng dưng mà các nước đồng minh bày tỏ đối với số phận của cả một dân tộc. Thái độ dửng dưng này là chủ ý và có lý do chính trị.
Bộ máy tuyên truyền của Hitler luôn khắng định: đây là cuộc chiến tranh chống Do Thái. Vì vậy giữa các đồng minh hình như tồn tại một sự thoả thuận sẽ im lặng về số phận của người Do Thái ở các lãnh thổ bị chiếm dóng. Đã xuất hiện một dạng vô cảm về tinh thần.
Một vài nhà sử học cho rằng Hitler có lẽ không dám giết hại sáu triệu người nếu Shirshill và Russervelt cứng rắn nói với người Đức: “Các ngài sẽ phải trả giá khủng khiếp về việc giết hại người Do Thái”. Hitler cũng lo ngại về phản ứng của phương Tây nhưng tiếc là không có chuyện gì xảy ra. Và Quốc trưởng tin rằng mình không bị trừng phạt.
Không có “phát khai hoả” nào. Đó là một quá trình mà trong suốt thời gian diễn biến, ban lãnh đạo cao nhất của Quốc xã luôn cổ vũ, ủng hộ và phát triển sáng kiến của các cấp dưới.
Hitler bổ sung các nỗ lực của cấp dưới bằng những chỉ thị càng ngày càng triệt để. Y cố tránh đưa ra các mệnh lệnh bằng văn bản. Nhưng những người được y tin tưởng mà trước hết là Himler đã tinh tế nắm bắt được ý muốn của Quốc trưởng và ngay lập tức thực hiện chúng.
- Tôi không làm một cái gì mà Quốc trưởng không biết. - Viên tư lệnh SS nói với các tướng lĩnh lực lượng vũ trang Quốc xã, những kẻ đồng phạm SS và cảnh sát an ninh.
Cả Hitler và Himler đều có thái độ căm ghét chủng tộc như nhau. Tư lệnh SS luôn thúc giục Hitler. Ví dụ như tháng 5 năm 1940, sau chiến dịch quân sự thắng lợi ở Pháp, hắn đã khôn khéo chuyển cho Hitler bản ghi nhớ của mình về “đối xử với các dân tộc xa lạ ở phương Đông” và đã nhận được sự nâng đỡ của Quốc trưởng. Ví dụ, Herman Hering nói với các cận thần của mình:
- Đối với chúng ta, việc thắng trong chiến tranh quan trọng hơn rất nhiều so với việc tiến hành chính sách chủng tộc.
Năm 1939, trên lãnh thổ Đức chỉ còn lại khoảng hai hăm ngàn người Do Thái và chủ yếu là người già. Kết quả đánh chiếm dược Ba Lan là ngay lập tức lại có thêm hai triệu người Do Thái rơi vào tay người Đức. Và cùng với mỗi sự chiếm đoạt các lãnh thổ mới thì dân cư Do Thái dưới chính quyền Quốc xã lại tăng lên và làm tăng sự cuồng tín của những tên Quốc xã đầu sỏ. Ngoài ra, ở phương Đông, chính quyền Quốc xã dự định dọn sạch đất cho các bộ tộc người Đức sống ngoài lãnh thổ Đức.
Như một quyết định tạm thời, cuối năm 1939 bắt đầu việc lưu đầy người Do Thái sang lãnh thổ Ba Lan bị chiếm đóng ở các khu xóm ở Lodzi, Vác-xa-va, Krakov, Radom Liublin. Các nhà lãnh đạo biết rõ ràng là dần dần các khu xóm chật ních, nơi mà người ta chết vì đói và bệnh tật, cũng sẽ phải biến mất. Nhưng biến như thế nào và bao giờ thì chưa một ai biết. Tuy vậy không một ai hoài nghi về kết cục đang chờ những người Do Thái.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:39:55 pm » |
|
Địa phận Ba Lan bị sáp nhập vào nước Đức được gọi là Varteland và người đứng đầu chính quyền Quốc xã ở đây là viên tướng SS Artur Greizer - đảng viên Quốc xã từ vùng Dantsig (Hdansk). Tướng Greizer - người sau này bị treo cổ ở Ba Lan vào năm 1947, đã giải thích cho các cấp dưới rằng số phận đang chờ đợi những người Ba Lan, Do Thái và Zigan nằm trong tay họ:
- Trục xuất. Bóc lột. Tiêu diệt.
Trên địa phận Ba Lan, bọn Quốc xã cũng đề nghị phải dứt điểm với dân Do Thái. Địa phận này đã bị biến thành “phòng thí nghiệm khổng lồ đầu tiên cho các cuộc thử nghiệm của chủ nghĩa xã hội dân tộc”.
Bước chuẩn bị cho “quyết định cuối cùng là” các cuộc tàn sát trong khuôn khổ chương trình diệt trừ. Cuộc tàn sát đầu tiên diễn ra vào tháng 8 năm 1941. Người ta đã dùng hơi độc giết bảy mươi ngàn người tàn tật Đức điều trị trong các trại an dưỡng.
Cuộc tiêu diệt tổng thể được bắt đầu sau khi tấn công vào Liên Xô. Việc coi người Do Thái như những đảng viên Bolshevic chỉ làm tăng cường chủ nghĩa bài Do Thái của các đơn vị quân đội Đức đang tấn công. Những tuần đầu tiên người ta còn nhân nhượng phụ nữ và trẻ em mà chỉ giết những người đàn ông Do Thái như đối với “du kích”. Ngày 15 tháng 8 năm 1941, đội quân tiễu trừ thông báo từ thành phố Kaunas (Litva) về việc bắn chết một nhóm lớn trẻ con. Viên sĩ quan Quốc xã Karl Iager - người chỉ huy lực lượng SD địa phương và cảnh sát an ninh kiêu hãnh báo cáo về Berlin rằng một trăm bốn mươi ba đứa trẻ Do Thái đã bị giết ở Kaunas, và năm trăm năm mươi chín đứa bị đưa vào rừng và bị bắn chết: “Để làm được việc này chúng tôi sử dụng tám mươi người Litva - sáu mươi - trong vai trò lái xe và lính canh, còn hai mươi cùng với người của tôi bắn chúng”.
Karl Iager là một đảng viên già và tham gia SS từ trước khi phái Quốc xã lên nắm chính quyền. Từ 1935 hắn phục vụ trong các trại tập hung. Chiến tranh đã cho hắn cơ hội vùng vẫy.
“Vấn đề Do Thái ở đây hầu như đã được giải quyết. - Iager báo cáo ngày 1 tháng 12 năm 1941. - Thực tế ở Litva không còn người Do Thái. Những người Do Thái được giữ lại để làm việc sẽ bị giết vào mùa đông. Tạm thời thì những người đàn ông Do Thái cần bị triệt sản. Nếu một phụ nữ Do Thái có mang thì cần phải giết người đó.
Viên tướng Iager ngay sau chiến tranh đã chạy trốn để khỏi bị bắt. Hắn lẩn trốn và làm việc ở một trang trại. Năm 1959 hắn bị phát hiện và bị bắt. Trong tù hắn đã thắt cổ tự tử...
Mùa hè 1941, Hitler phát tín hiệu soạn thảo một chương trình tiêu diệt người Do Thái mà chương trình này phải được thực hiện sau chiến thắng nước Nga tưởng như gần tới. Hering giao việc soạn thảo chương trình này cho Reinchard Heitiric.
Ba tháng sau khi tấn công vào Liên Xô, tư lệnh Tổng cục an ninh đế chế Reinchard Heiđric gọi Eihman lên và giao nhiệm vụ:
- Quốc trưởng đã ra lệnh tiêu diệt người Do Thái.
Ở các nước bị chiếm đóng, việc này được thực hiện bởi các nhóm Ainzats được thành lập và gồm những nhân viên thuộc Tổng cục an ninh đế chế và lực lượng SS.
Thành phần tiêu biểu của nhóm này như sau: binh lính thuộc lực lượng SS - 340 người, lái xe máy - 172, nhân viên hành chính - 31, cảnh sát hình sự - 41, Gestapo - 89, cảnh sát hỗ trợ (tình nguyện địa phương) - 87, cảnh sát canh giữ - 33, phiên dịch - 51, Phụ trách máy điện báo - 3, nhân viên điện đài - 8. Tổng số - 890 binh lính và sĩ quan, một tiểu đoàn được tăng cường.
Một số lượng lớn người lái xe máy đã làm cho nhóm Ainzats rất cơ động. Chúng có phương tiện vận tải riêng và di chuyển nhanh trên vùng lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng. Chúng chia ra thành những đội thăm dò với quân số từ hai mươi đến ba mươi người và thực hiện trực tiếp việc bắn giết. Các đội này chỉ phục tùng ban chỉ huy của mình, và ban này gửi báo cáo trực tiếp lên Himler. Về sau khi các lãnh thổ bị chiếm đóng được chia thành từng vùng thì các đội này dưới quyền viên chỉ huy cảnh sát an ninh địa phương.
Adolf Eihman cố không phàn nàn nhưng lại nói với các đồng chí trong đảng rằng hắn đang thực hiện một nhiệm vụ nặng nề. Trước tiên hắn tìm hiểu tỉ mỉ xem bao nhiêu người cần phải tiêu diệt, sau đó lập các bản đồ chi tiết về sự phân bổ dân Do Thái ở Châu Âu, và tiếp theo là danh sách cụ thể. Hắn khăng khăng lập trường bắt người Do Thái phải đeo sao vàng để dễ nhận biết họ, chuyển vào Gestapo - và từ đó đơn giản là đưa vào các trại tập trung.
Người Do Thái bị bắn và bị treo cổ nhưng tiến độ của công việc này không làm Eihman và cấp trên của ông ta hài lòng tuy rằng các đội đặc nhiệm của SS - các nhóm Ainzats được thành lập từ năm 1941 ngay trước khi tấn công Liên Xô, đã hoạt động rất tích cực, và cùng với bước tiến của lực lượng vũ trang Quốc xã cần phải thực hiện việc tiêu diệt người Do Thái.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2018, 08:40:32 pm » |
|
Eihman lại băn khoăn: liệu các đội đặc nhiệm đó làm việc có đủ hiệu quả không? Hắn tổ chức kiểm tra tại một nơi không xa thành phố Minsk đã bị chiếm. Một đoàn người Do Thái bị dồn trước miệng hố. Bọn SS bắn vào gáy họ.
Eihman vô ý đứng quá gần một người phụ nữ đang bế đứa bé trên tay. Bọn Quốc xã bắn người mẹ trước rồi đến đứa trẻ. Eihman kinh ngạc về sự ẩu đoảng của lính SS: máu và óc từ đầu đứa trẻ bị bắn thủng phọt ra và làm bẩn chiếc áo choàng da của hắn làm người tài xế phải đem giặt.
Bắn không phải là phương pháp Eihman ưa: quá chậm, quá lề mề và tốn kém. Nước Đức cần phải tiết kiệm đạn cho mặt trận. Hắn báo cáo cảm nghĩ của mình lên chỉ huy Gestapo - tướng SS Henric Miuler. Người này như mọi khi, vẫn ít lời nhưng đồng ý với cấp dưới. Heidric khuyên Eihman đến gặp tướng SS Odilo Globochnic - người mà sau này khi xâm lược Ba Lan đã được cử làm chỉ huy SS và cảnh sát ở vùng Liublinsk. Tháng 7 năm 1941, Globochnic được cử làm đại diện riêng của Quốc trưởng về việc thành lập các trại tập trung trên địa hạt của Ba Lan bị chiếm đóng.
- Quốc trưởng đã cho ông ta các chỉ thị tương ứng - Heidric giải thích. - Hãy xem công việc của ông ta tiến triển ra sao, xem ông ta sử dụng cái gì để tiêu diệt người Do Thái.
Trong cơ ngơi của Globochnic, Eihman lần đầu tiên nhìn thấy chiếc xe giết người bằng hơi độc, các ô tô tải với các khoang bị đóng kín mít. Các khoang bị nhồi chật ních người và hơi độc được phun vào. Sau khi Đức bại trận, Globochnic bị bắt và hắn đã tự sát trong tù.
Người phụ tá chính của hắn là Hermann Hiofle cũng xuất thân từ Áo đã trốn thoát sự xét xử. Mãi đến năm 1961 hắn mới bị bắt. Hiofle cũng tự sát trong trại giam.
Sau khi thử tiêu diệt các tù binh Xô Viết vào cuối tháng 10 năm 1941, trong trại tập trung Zakenhaozen, bọn Quốc xã đã đặt mua ba mươi ô tô tải và trang bị lại thành các “xe giết người bằng hơi độc”.
Nhưng lực lượng vũ trang Quốc xã cũng thiếu ô tô tải. Bản thân công việc cũng diễn ra quá lâu, và việc lôi xác chết ra cũng có hại cho sức khoẻ. Nhiều lính SS than phiền về những cơn đau đầu sau khi thực hiện việc hành quyết.
Và khi đó xuất hiện ý tưởng xây dựng các phòng hơi độc ngay trong trại tập trung. Eihman cho rằng mình đã tìm ra một giải pháp lý tưởng. Người ta xua từng đoàn người từ các đoàn tàu vào thang các phòng hơi độc, còn xác của họ bị thiêu tại đó, ngay trong các lò thiêu của trại tập trung.
- Đây mới là năng suất! - Eihman tự hào nói với viên chỉ huy Osventsim, người đầu tiên đánh giá cao tính hiệu quả của hơi độc “khí xoáy B”.
Khi các phòng hơi độc bắt đầu hoạt động, Eihman cảm thấy thật tự hào và mãn nguyện. Hắn hiểu rằng sẽ có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bọn Quốc xã nổi tiếng trong việc tạo ra ngành công nghiệp để tiêu diệt cả một dân tộc. Chúng không phải là những người cuồng. Chúng coi việc giết người Do Thái như một công việc bình thường hàng ngày và cần phải thực hiện tốt.
Ngày 20 tháng 1 năm 1942, tại một địa điểm ngoại ô của cơ quan an ninh bên hồ Vanzee ở Berlin, Reinchard Heidric - Tư lệnh Tổng cục an ninh đế chế báo cáo với các quan chức cao cấp của Đệ tam đế chế về nhiệm vụ của đảng và nhà nước phải tiêu diệt tất cả người Do Thái. Eihman cung cấp cho Heidric các số hiệu và ghi biên bản cuộc họp.
Tháng 8 năm 1944, hắn báo cáo với với Heidric và Miuler rằng bốn triệu người Do Thái đã bị tiêu diệt và và còn lại hai triệu đang nằm trong tay người Đức.
Hắn không mệt mỏi đi khắp Châu Âu để tìm kiếm những người Do Thái chưa được tính đến, đồng thời đàm phán với các cơ quan vận tải và chính quyền địa phương về việc đưa người Do Thái vào các trại giết người. Chính quyền hầu như luôn ủng hộ hắn. Chỉ có ở Đan Mạch và Hà Lan, Eihman gặp khó khăn: những nơi này không muốn tố giác người Do Thái.
Adolf Eihman tức tối phản ứng với bất kỳ một hành động nào nhằm cứu người Do Thái, nửa Do Thái và một phần tư Do Thái. Hắn coi đó như sự xúc phạm cá nhân tựa như người ta tước đoạt của hắn điều quý nhất trên đời.
- Khôn ngoan hơn nhiều nếu tiêu diệt tất cả bọn chúng. - Hắn giải thích cho các người đồng chí lầm lạc.
Hắn bực mình về các hành động của một vài người Đức cứu người thân Do Thái và không hiểu các quan chức khác của Đệ tam đế chế đã không thể hiện sự hăm hở tiêu diệt người Do Thái mà lại bắt hắn ký những giấy tờ thừa.
Nhiều năm sau khi đã ở vai trò kẻ bị đưa ra toà, hắn đã than phiền với dự thẩm viên Israel - người xét xử vụ án của mình, về sự vụng về chậm chạp của bộ máy quan liêu Đức.
- Mỗi cơ quan trung ương đều bảo vệ mạnh mẽ lĩnh vực hoạt động của mình. Nếu không phải là thứ tự ngôi thứ thì tất cả những giấy tờ viết lách đó chẳng để làm gì. Nghiêm chỉnh theo hướng dẫn, với tất cả sự can thận và chính xác, họ cứ viết và viết. Và do đó đã có hàng tấn giấy tờ, hồ sơ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:38:59 pm » |
|
Eihman thường xuyên báo cáo cấp trên về sự chậm trễ trong việc vận chuyển người Do Thái vào các trại giết người cũng như bao nhiêu phức tạp gặp phải trên mỗi bước. Tuy vậy hắn cũng phát hiện ra rằng có ai đó tự giải quyết được mà không cần sự giúp đỡ của hắn. Đặc biệt là ở vùng Bantic. Những người Litva, Latvi và Estoni tự tiêu diệt người Do Thái của mình. Tính ra có đến bốn mươi ngàn người Latvi đứng về phái Đức Quốc xã, trong đó hai chục ngàn trong các quân đội tình nguyện SS. Mười ngàn người Latvi được bộ chỉ huy Đức thưởng huân chương Thập tự sắt hạng nhất và hạng nhì.
Đã có mười lăm ngàn người Estoni tình nguyện gia nhập đội quân SS. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là họ hoàn toàn tình nguyện. Tất cả những kẻ hủ lậu đần độn và lười biếng hình như đã chờ đón lực lượng vũ trang Quốc xã.
Còn Hitler hoàn toàn không định cho Litva, Latvi và Estoni sự tự chủ quốc gia. Những ai có mặt đều thấy điều này và hiểu bọn Quốc xã sẽ đối xử với các quốc gia vùng Bantic ra sao. Vậy điều gì đã buộc những người Litva, Latvi và Estoni gọi mình là đổng minh, ủng hộ Hitler và ca ngợi chủ nghĩa Quốc xã?
Những người Bantic đứng về phía nước Đức Quốc xã không phải vì họ đã kịp căm ghét uỷ ban an ninh nhân dân và Hồng quân sau khi sáp nhập ba nước cộng hoà này vào Liên bang Xô Viết. Họ cảm thấy sự giống nhau về tinh thần và tư tưởng đó đối với phái Quốc xã Đức, sự đồng nhất về mục tiêu và lý tưởng đã gắn kết họ.
Những người Litva, Latvi và Estoni đồng ý phục vụ những kẻ chiếm đóng Đức đã trở thành đồng phạm tội ác chiến tranh của chế độ Hitler chống lại nhân dân mình và nhân dân các nước khác.
Khi quân đội Đức còn chưa kịp tiến vào các thành phố vùng Bantic thì dân đìa phương đã giết hại những đảng viên cộng sản và tổ chức tàn sát người Do Thái. Ở Bantic, người Do Thái cảm thấy như mình ở sa mạc. Họ chăng có nơi nào để trốn. Những người láng giềng còn đáng sợ hơn quân Đức.
Ngày 4 tháng 7 năm 1941, ở Riga, người ta đốt Đại thánh đường Do Thái - nơi khoảng ba trăm người Do Thái Latvi và Litva bị dồn vào trong đó. Ở Latvi khoảng một trăm ngàn người Do Thái đã bị giết hại. Cảnh sát địa phương Latvi đã giúp đỡ quân Đức.
Nhà sử học Marger Vesterman chuyên nghiên cứu lịch sử tiêu diệt người Do Thái ở Latvi, tháng 5 năm 1994 đã giảng bài ở Viện hàn lâm khoa học Latvi về vấn đề cảnh sát địa phương Latvi tiến hành tiêu diệt người Do Thái trong thời kỳ Đức chiếm đóng. Khi ông kết thúc bài giảng, cả giảng đường im lặng. Sau này bài giảng của ông bị gọi là “làm nhục danh dự của Latvi”. Cha mẹ, các anh và chị em của Vesterman đã chết trong trại giam của Gestapo ở Riga.
Ở Litva từ 1941 đến 1944 tính ra có khoảng hai trăm hai mươi ngàn người Do Thái bị giết, tương đương với khoảng chín mươi tư phần trăm dân số Do Thái của nước cộng hoà. Điều này chủ yếu do các lực lượng địa phương thực hiện, cảnh sát Litva không chỉ trung thành thực hiện các chỉ thị của người Đức mà còn thể hiện sáng kiến - cảnh sát tự lục soát khắp nơi để tìm bắt người Do Thái, các đảng viên cộng sản và những ai giúp họ. Sau đó hoặc là chúng tự tay giết hoặc chuyển cho người Đức.
Và chúng không ngượng mồm gọi bọn SS vùng Bantic là các chiến sĩ đấu tranh cho nền độc lập dân tộc.
Các cựu chiến binh của lực lượng tình nguyện SS ở Bantic giờ đây vẫn nhận được lương hưu do chính phủ Đức cấp. Không có ai trong số ít những người Do Thái sống sót ở Bantic nhận được bất kỳ một khoản trợ cấp nào.
Năm 1991, khi Litva giành lại độc lập đã ân xá cho tất cả những người bị chính quyền Xô Viết bỏ tù, trong đó có cả những người đã tham gia tiêu diệt người Do Thái. Họ còn được trợ cấp như đối với những người vô tội bị hại... Khi có những lời phản đối thì những trí thức Litva tức giận:
- Sao những người đó lại dám buộc tội chúng ta về một điều gì đó? Chúng ta là nạn nhân chứ không phải họ!...
Dân địa phương ở Ucraina và Croatia cũng tiêu diệt người Do Thái một cách tàn nhẫn tương tự. Năm 1941, khi quân Đức tiến vào Lvov, những người Ucraina có khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc đã tuyên bố thành lập quốc gia của mình và công việc đầu tiên là xúc tiến tiêu diệt người Do Thái.
Cuối năm 1943, người Đức thành lập một chính phủ bù nhìn ở Minsk - Hội đồng trung ương Belarus gồm mười bốn người dưới sự lãnh đạo của Radoslav Kazimiarovich Ostrovski. Sự tham gia tiêu diệt người Do Thái là thước đo lòng trung thành đối với người Đức. Đã có những kẻ giúp đỡ các đội Ainzaits - chúng ném trẻ con xuống hố và tung lựu đạn xuống đó, dùng đá đập vỡ sọ trẻ nhỏ. Chủ tịch hội đồng, Radoslav Ostrovski muốn có quân đội riêng của mình và đã có ba mươi ngàn người tình nguyện phục vụ bọn Quốc xã.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:39:58 pm » |
|
Người Ba Lan cũng sẵn sàng tẩy chay người Do Thái. Trên thực tế tất các trại giết người đều được xây dựng trên lãnh thổ Ba Lan. Phải chăng là người Đức đã hiểu rằng: đại bộ phận người Ba Lan sẽ không phản đối?
Giữa những năm chín mươi, tôi đã có cuộc mạn đàm vài tiếng đồng hồ ở Varsawa với nghệ sĩ Daniel Olbryhski. Khi nói về đời mình, ông buồn rầu nói:
- Tuổi thơ của tôi trôi qua ở phía đông Ba Lan - nơi không chỉ có người Ba Lan sống. Chúng tôi có ba thánh đường Thiên chúa giáo và một nhà thờ Chính thống giáo. Mỗi chủ nhật đầu tiên là chuông thánh đường vang lên và sau đó bắt đầu âm vang chuông nhà thờ Chính thống giáo. Tiếc rằng không còn lại một nhà thờ Do Thái nào - những người Do Thái hoặc bị giết chết hoặc bị đuổi đi.
Trước chiến tranh ở Varsawa có khoảng nửa triệu người Do Thái sinh sống. Sau khi chiến tranh bùng nổ có thêm khoảng hai trăm ngàn người tị nạn. Tất cả họ đều bị dồn vào Getto - khu vực bị bao vây bởi những bức tưởng cao tới bốn mét và họ bị giết dần.
Ngày 16 tháng 2 năm 1943, Tư lệnh SS Himler ký một mệnh lệnh bí mật: “Vì lí do an ninh phải xoá bỏ khu tập trung Varsawa. Cần sơ bộ kiểm kê toàn bộ quỹ “sống” còn có giá trị và các giá trị vật chất các loại”.
“Loại không có giá trị” cần phải tiêu diệt chính là bốn trăm ngàn người Do Thái đang còn sống ở Getto.
Ngày 17 tháng 4, viên chỉ huy mới của cơ quan an ninh và cảnh sát - tướng SS Jurgen Shtrop đến Varsavva. Viên cựu quan chức bộ máy điều hành địa phương ở thành phố Detmóld đã gia nhập SS vào mùa thu 1932. Có lẽ hắn cũng chẳng thành đạt được trong SS nếu không gặp may. Bản thân Hitler đã đến vùng hắn ở. Trong khi “Quốc trưởng đi dạo ở nông thôn các sĩ quan SS cao cấp đã để mắt đến Shtrop nhanh nhẹn và háo danh. Và hắn bắt đầu thăng tiến”.
“Luôn sẵn sàng hành động, tháo vát về hình thức và bản chất, vì vậy có khả năng giữ bất kỳ chức vụ nào” - đó là nhận xét về hắn sau khi kết thúc khoá học của SS ở Dachao. Shtrop được dùng đến ngay sau khi chiến tranh bùng nổ. Hắn đảm nhiệm công việc “làm sạch” các lãnh thổ bị chiếm đóng khỏi loại người Slavơ và Do Thái “chưa thành người”; lãnh đạo cơ quan an ninh ở Lvov, Kừovograd và Kherson.
Ngày 19 tháng 4 năm 1943, Shtrop bắt tay vào thực hiện mệnh lệnh của Himler. Hai tiêu đoàn SS xông vào Getto. Chúng phải đưa tất cả người Do Thái vào trại tập trung. Viên sĩ quan Shtrop dự định hoàn thành công việc trong ba ngày.
Nhưng ở Getto, Do Thái tại Varsawa khởi nghĩa đã bùng lên. Những người bị giam ở Getto chống đối quyết liệt. Những chiếc chai chứa chất cháy nổ bay tới tấp vào lính Đức. Những người Do Thái chiến đấu giữ từng nhà, từng mét đường phố.
Thoạt đầu bọn SS rút lui nhưng sau đó chúng bắt đầu tấn công khu vực với sự yểm hộ của pháo binh và súng phun lửa. Nhiều người bị thiêu sống. Những người còn sống sót bị bọn SS xếp thành hàng đoàn dài và giải về Treblinka.
Iosef Rakover - người đã chiến đấu ở Getto Varsawa đã để lại di chúc đề ngày 28 tháng 4 năm 1943: “Getto Varsawa chết với trận đánh, với những phát súng, trong ngọn lửa nhưng không có tiếng kêu gào. Người Do Thái không kêu vì sợ hãi”.
Cuộc chiến đấu ở Getto kéo dài gần một tháng.
“Một hành động lớn - Iurgen Shtrov báo cáo về Berlin - chỉ đến ngày 16 tháng 5 năm 1943 mới kết thúc vào hồi 20 giờ 15 bằng tiếng nổ nhà thờ Do Thái Varsawa.”
Hắn ra lệnh đóng gáy da cho ba tập báo cáo chi tiết về việc tiêu diệt Getto. Một cuốn gửi cho Himler còn giữ được danh cho các nhà sử học và các chánh án mà sau chiến tranh viên tướng Shtrov phải trình diện trước họ.
Những người tham gia kháng chiến cuối cùng đã lẩn trốn trong các đống đổ nát đến đầu tháng 6. Sau cuộc khởi nghĩa ở Varsawa, Hitler ra lệnh xoá bỏ tất cả các Getto. Iurgen Shtrov được điều đến Athen. Hắn được giao nhiệm vụ tổ chức chuyển những người Do Thái Hy Lạp về Osventsim. Vào giai đoạn cuối cuộc chiến hắn được phong hàm cao nhất trong SS và phục vụ ở Visbaden. Trước cửa nhà hắn có hai xe lớn trực sẵn. Hắn mang kính một mắt. An ninh trong khu vườn bao quanh dinh thự của hắn do những người nô lệ bị chở vào Đức đảm nhiệm.
Sau chiến tranh hắn bị người Mỹ bắt và năm 1947 bị tuyên án tử hình. Nhưng bản án không được thi hành vì chính quyền Ba Lan yêu cầu trao trả. Một người cùng buồng giam hỏi tên cựu SS:
- Ông có trực tiếp đến Getto không?
- Dĩ nhiên, Shtoop trả lời - tôi đã phải ngửi cái mùi hôi hám Do Thái kinh tởm đó. Buổi chiều tôi trở về nơi ở, tắm rửa và dùng nước hoa bôi khắp người.
- Thế ông không cho rằng những người khởi nghĩa đã bảo vệ phẩm giá con người và danh dự của đồng bào họ?
- Do Thái - Shtoop nói một cách tin tưởng - không phải là loại người hoàn chỉnh. Chúng không có danh dự, không có phẩm giá - Do Thái - loại chưa thành người. Chúng có dòng máu khác.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:40:31 pm » |
|
Ở thời điểm đó người Đức này cũng đã ngồi tù được vài năm. Toà án Mỹ đã tuyên án tử hình đối với hắn. Người ta đưa ra hàng ngàn tài liệu, hàng chục nhân chứng khăng định các tội ác của hắn. Nhưng chăng có gì động chạm đến được lương tri hắn. Hắn vẫn tiếp tục khăng định là những gì đã xảy ra là đúng và không thể nào là không đúng. Hắn thực hiện mệnh lệnh của chính quyền hợp pháp Đức.
Năm 1951 Shtrop lại một lần nữa bị tuyên án tử hình ở Varsawa và bị treo cổ.
Thế giới chỉ biết sự thật về việc giết hại người Do Thái sau khi quân đội Xô Viết giải phóng Mautakhaizen. Một câu hỏi luôn được đặt ra: liệu bản thân người Đức có biết về các trại tập trung và hành quyết không?
Con gái của người thợ ảnh riêng của Quốc hưởng, Henriesta Hoffman (cô lấy chồng là thủ lĩnh phong trào thanh niên Quốc xã Đức Baldur fon Shirakh) kể rằng một lần cô đã cả gan nói với Quốc trưởng về những gì đang xảy ra ở các vùng bị chiếm đóng.
Tháng 4 năm 1943, cô đến thăm bạn ở Amsterdam và nhìn thấy cảnh lưu đầy người Do Thái. Cô sợ hãi trước cảnh các phụ nữ bất lực bị dồn vào các toa tàu để đưa vào các trại tập trung. Khi trở về cô gọi điện cho Hitler và xin được gặp ông ta ở Obeizaltsberg. Khoảng mười hai giờ đêm bữa tối được mang lên. Hitler không ngủ được và không muốn ở lại một mình. Ông ta xuất hiện trong trạng thái không vui sau khi đọc các báo cáo từ mặt trận gửi về. Bước vào phòng, lau mắt bằng khăn tay và ngồi xuống giữa Henrietta Hoffman và Eva Braun. Hitler hôn tay cô và lơ đãng hỏi:
- Cô vừa ở Hà Lan?
- Vâng, vì vậy tôi muốn nói chuyện với ngài. Tôi đã trông thấy những cảnh khủng khiếp. Tôi không thể tín nổi rằng ở đó người ta đang thực hiện ý muốn của ngài.
Quốc trưởng nhìn cô với vẻ ngạc nhiên:
- Chiến tranh đã xảy ra.
- Vâng, đó là những phụ nữ bất lực, tội nghiệp mà người ta đưa vào trại tập trung. Họ bị tước hết đồ đạc, gia đình họ không còn tồn tại. Tôi hiểu rằng họ không bao giờ có thể quay lại cuộc sống cũ được.
- Cô thật đa cảm đấy, cô Frau foil Shirah ạ. - Hitler miễn cưỡng đứng dậy - ở Hà Lan những người Do Thái đó đã làm gì với cô?
Cô cũng đứng dậy. Hitler nắm tay cô:
- Cô hãy hiểu rằng mỗi ngày hàng chục ngàn người của tôi bị chết - những con người tốt nhất, những con người không thể thay thế được! Còn họ, những người không giết người khác. Họ sẽ sống sót thậm chí trong các trại - những sinh vật không hoàn chỉnh. Cán cân không nghiêng về phía chúng ta. Điều gì sẽ xảy ra với Châu Âu sau một trăm năm? Tôi chỉ chịu trách nhiệm trước dân tộc mình. Cô cần phải học căm ghét! Còn tôi đã học được rồi...
Ở mọi cấp xã hội Đức đã thế hiện sự đồng tình và sẵn sàng giúp đỡ thực hiện việc lưu đầy và tiêu diệt người Do Thái. Nhiều người thể hiện một cách nhiệt tình với các sáng kiến cá nhân và đã được thưởng hậu hĩnh. Trong việc đuổi người Do Thái, không chỉ các thị trưởng và cảnh sát kiếm được lời mà cả những bà quét rác thực hiện việc khám xét phụ nữ Do Thái cũng nhận được các khoản tiền lương bổ sung. Còn hàng xóm thì đơn giản là chiếm căn hộ của những người bị lưu đầy và lấy tài sản của họ.
Viên sĩ quan Adolf Eihman ở đâu cũng tìm được những người cùng chí hướng: Họ giúp hắn đưa người Do Thái lại gần các phòng hơi độc. Rất hiếm hường hợp có ai đó muốn giúp đỡ người Do Thái. Chỉ sau này trong thời gian xử án Eihman ở Jerusalem nguyên cớ này mới xuất hiện mà thôi.
Hàng trăm ngàn người sống cạnh các trại giết người. Họ đi bộ đến nơi làm việc và phải ngửi mùi thịt người cháy. Khi nhìn về phía đó họ thấy những đám khói không ngớt bốc lên trời.
Có bao nhiêu nhân chứng của thảm kịch này! Họ đứng và nhìn những người Do Thái bị đánh đập, bị dùng lưỡi lê dồn vào các toa tàu. Họ trông thấy những người như đã chết một nửa, lờ mờ tỉnh, dính đầy máu và phân bị bắt chạy vào “buồng thay quần áo”, và từ đó - vào buồng hơi độc mà bọn cai tù gọi là “đường lên thiên đàng”.
Những nhân chứng của sự khủng bố đó đã nghĩ gì? Trừ một số nhỏ ngoại lệ còn họ thường là dửng dưng với những gì đang xảy ra, hoặc thậm chí còn cảm ơn bọn SS.
- Người Do Thái tự họ có lỗi về mọi mặt. Phải chăng họ chưa từng giàu có, phải chăng họ chưa từng kiểm soát tất cả tiền của? Phải chăng họ chưa từng bóc lột chúng ta?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|