Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:29:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật về Adolf Hitler và các chiến hữu  (Đọc 27941 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:40:57 pm »


        Thậm chí các tín đồ Thiên chúa giáo cũng được lợi khi Hitler cầm quyền, họ như đã nhìn thấy ở bọn Quốc xã một công cụ giải phóng thế giới khỏi “dân tộc đã đóng đinh vào chân vào tay Chúa”. Họ thì thào với nhau.

        - Sau chiến tranh chúng ta sẽ dựng tượng Adolf về việc này!

        Bảy mươi ngàn người Do Thái Hungary bị dồn vào Getto ở Peshta trên bờ sông Đanuyp. Trong thảm kịch này có hai nhân vật lịch sử tham gia - Adolf Eihman - người chịu trách nhiệm về “quyết định cuối cùng vấn đề Do Thái” và nhà ngoại giao Thụy Điển Raul Vallenberg - người đã thử cố cứu người Do Thái.

        Những người Do Thái Hungary bắt đầu bị đưa vào các trại giết người của bọn Quốc xã sau khi bọn phát xít địa phương lật đổ người đứng đầu đất nước Miklosh Horti - người đã định phá bỏ liên minh với Hitler và đàm phán với các nước đồng minh về đình chiến vào tháng 10 năm 1944. Dưới thời Horti, những hành động bài Do Thái rất hãn hữu. Khi ông biết tin là những người Do Thái ngay sau khi bị đưa ra khỏi đất nước sẽ lập tức bị giết, ông liền ra lệnh chấm dứt việc đuổi người Do Thái ra khỏi Hungary... Những người cầm quyền mới ở Hungary sốt sắng bắt tay vào việc.

        Sau này tại phiên toà ở Jerusamlem, Eihman kể rằng bọn phát xít Hungary hoạt động hiệu quả hơn Gestapo: chúng đưa vào các trại tập trung của Quốc xã sáu trăm ngàn người Do Thái chỉ trong vòng năm tháng. Còn bảy mươi ngàn người không bị đưa vào trại mà để lại ở Getto cũng chết dần vì đói và rét. Việc tiêu diệt Getto được chấm dứt vào tháng 1 năm 1945 khi xe tăng Liên Xô tiến vào Budapesh.

        Rất nhiều điều phụ thuộc vào tính lương thiện của cấp chính quyền địa phương. Tuy cũng là đồng minh của Hitler nhưng Bulgari từ chối giao những người Do Thái của mình vào các trại tập trung để đưa đi lưu đầy, và đã cứu sống được năm mươi ngàn người...

        Sau chiến tranh người ta đã tìm kiếm Adolf Eihman mười lăm năm trời. Trong suốt thời gian đó trong sự hình dung của nhiều người thì hắn đã biến thành một con quái vật thực thụ. Các nhân viên viên tình báo Israel, những người đã mang được hắn về từ Arhentina đã ngạc nhiên khi nhìn thấy một con người rất bình thường thậm chí còn đáng thương hại. Phải chăng đó là kẻ đã giết sáu triệu người?

        Rất nhiều nhà bác học nổi tiếng ở Jerusalem - họ muốn hiểu hiện tượng Eihman. Trong số đó có bà Hanna Arendt - nhả xã hội học và triết học Đức nổi tiếng nhất. Bà đã đi đến một kết luận mà hồi đó có vẻ như không ai ngờ tới.

        “Trong thời gian xử án mỗi người đều có thể thấy rõ ràng con người này- không phải là quái vật. - Bà Hanna Arendt viết. - Về mặt thống kê học đó là một nhân vật trung bình, không ngu si, về hệ tư tưởng không bị bào mòn, không phải loại vô liêm sỉ”.

        Eihman không phải là quỷ sứ, không phải người cuồng tín, không phải người ngông cuồng, không phải là người hung bạo. Ông ta là một quan chức Đức điển hình. Có đến nửa tá bác sĩ tâm thần khắng định rằng Eihman hoàn toàn bình thường.

        Kết luận này đã được khẳng định bởi một thử nghiệm tâm lý nổi tiếng được thực hiện trong những năm sáu mươi ở thành phố đại học Niu - Heiven dưới sự lãnh đạo của nhà xã hội tâm lý học Stenli Milgren. Ông muốn hiểu tại sao người Đức lại dễ dàng phục tùng chính quyền Đệ tam đế chế như vậy. Một điếm không thể bắt chước của chủ nghĩa xã hội dân tộc Đức là có rất nhiều người thừa hành ngoan ngoãn.

        Stenli Milgren cho rằng trong con người Đức có cái gì đó đặc biệt, còn những người Mỹ - những con người tự do sẽ xử sự khác hắn và từ chối thừa hành các mệnh lệnh vô nhân đạo.

        Ông mời những người tình nguyện tham gia các cuộc thử nghiệm về huấn luyện bằng các phương pháp bạo lực. Những người tình nguyện có thể trở thảnh “thày giáo” hay “học trò”. Tất cả thích đóng vai “thày giáo”. Họ không nhìn thấy các “học trò” của mình mà chỉ liên hệ qua hệ thống điện thoại.

        Nếu “học trò” đưa ra một câu trả lời không chính xác thì bị trừng phạt bằng một cú điện giật. “Thày giáo” bấm nút điện. Trước khi bắt đầu cuộc thừ nghiệm tất cả những người tham gia được nếm thử điện giật 45V- Tất cả họ đều thây rõ là có thể làm đau thực sự.

        Theo hệ thống điện thoại “thày giáo” đặt ra câu hỏi và đưa ra các phương án trả lời: Trong trường hợp câu trả lời không đúng thì ấn nút điện để hừng phạt “học sinh” bằng điện giật. Sau mỗi lỗi “thày giáo” lại tăng mức điện áp. Dần dần các “học trò” bắt đầu thấy đau thực sự, và “thày giáo” nghe thấy tiếng kêu của họ.

        Kết quả thử nghiệm thật kinh khủng: Hai trong số ba “thày giáo” tự nguyện thấy hứng thú và đã cho các “học trò” của mình một liều chết người nếu đó không phải là một thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:41:27 pm »


        Stenli Milgren tiếp tục thử nghiệm trong diều kiện khi “thày giáo” nhìn thấy “học trò” của mình. “Thày giáo” phải tự cầm tay “học trò” đặt tay lên ghế dẫn điện. Cứ ba “thày giáo” lại có một người bị cuốn hút vào công việc được giao đến mức cứ tiếp tục hành hạ các “học trò” của mình tuy đã nhìn thấy sự đau đớn của họ.

        Stenli Milgren đi đến kết luận gì?

        Nếu người ta tin rằng họ hành động vì lợi ích quốc gia, nếu họ thừa hành mệnh lệnh, thừa hành ý muốn cao cả, nếu “đó là cần thiết" thì họ dễ dàng vứt bỏ tất cả khái niệm đạo đức, biến thành quái vật và sẵn sàng gây ra các tội ác dã man không thể tưởng tượng nổi.

        Nhân dân mọi nước đều có những giai đoạn trong sáng và ảm đạm trong cuộc sống. Winston Chirchill với tính cách không khuất phục của mình là hạnh phúc với nước Anh khi mà số phận ngàn cân treo trên sợi tóc.

        - Khi tôi được cử làm thủ tướng - Chirchill nói - tôi tự nhiên cảm thấy mình tự do: Cuối cùng thì tất cả trách nhiệm sẽ đè lên một mình tôi.

        Người Anh tin rằng có lẽ họ sẽ xử sự trong điều kiện bị chiếm đóng không giống như nhân dân các nước khác ở Châu Âu. Có lẽ họ nhầm. Nếu Tổng thống Ruzơvelt chết sớm hơn, còn Hitler ký hiệp ước với người Mỹ và không tấn công Liên xô mà chiếm nước Anh thì mọi sự có lẽ đều khác bất kể tính dũng cảm của người Anh. Và không loại trừ là nhiều người Anh lại cũng hợp tác với người Đức và đuổi bắt người Do Thái như đã xảy ra tại nhiều nơi ở Châu Âu.

        Phương pháp tự vệ duy nhất chống lại thói quen phục tùng quyền lực - đó là giáo dục cá tính và tính tự chủ nội tâm. Chủ nghĩa tập thể, thói quen đi đều trong hàng ngũ, việc biến nhà nước thành trọng tài trong mọi vấn đề sẽ làm tổn hại sự độc lập cá nhân. Không có điều kiện này con người sẽ dễ dàng chấp nhận hệ tư tưởng và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội dân tộc.

        Con người tồn tại không phải để người khác điều khiển. Không dễ bị điều khiển, không cho phép người khác giật dây, bảo vệ không gian tự do nội tâm - Đó là một bài học rút ra được từ kinh nghiệm Osventsim.

        Nhà triết học Pháp Andre Gluksman viết rằng khi còn bé ông đã chứng kiến cảnh những người họ hàng của mình bị đưa vào Osventsim. Họ cũng có thể bị đưa như vậy vào GULAG.

        Và đây là một phát hiện kinh ngạc: trong mỗi con người đều có sẵn một tiềm năng không chỉ trở thành nạn nhân của các trại tập trung mà còn tự mình xây dựng trại, hoặc ít ra thì cũng không phản đối sự tồn tại của chúng. Faust mù mờ về tự do, khao khát làm thay đổi thế giới, nhưng cuối cùng tự đào huyệt cho mình.

        Người Đức quả thực có xu hướng phục tùng. Nhưng ở đây không phải là vấn đề gen học mà là sử học. Người Đức có ít thời gian hơn so với người Mỹ hoặc người Hà Lan, để hiểu được thê nào là một công dân tự do trong một đất nước tự do.

        Về vấn đề này nhà triết học Đức Teodor Adorno đã viết trong cuốn “Giáo dục sau Osventsừii’: “Sau sự sụp đổ của đế chế phong kiến, về mặt tư tưởng người ta tỏ ra chưa được chuẩn bị. Chính sự sẵn sàng trở thành quyền lực và sự phục tùng kẻ mạnh hơn đã tạo ra hình dáng của những kẻ bạo hành...

        Sức mạnh duy nhất chống lại Osventsim chỉ có thể là sự tự chủ nội tâm, một sức mạnh cần thiết để không tham gia”.

        Điều mà Teodor Adorno coi là quan trọng nhất để không cho phép tạo ra một Osventsim mới là “Sự cần thiết phản kháng sự thống trị của bất cứ tập thể nào... Những người gia nhập các tập thể một cách mù quáng tự biến mình thành một dạng vật liệu và tiêu diệt trong mình khả năng tự quyết định”.

        Chủ nghĩa Quốc xã như sự vẩn đục trí tuệ của cả một dân tộc, như một sự điên rồ có khả năng làm loá mắt cả một xã hội. Một con người nhỏ bé không có điều gì đặc sắc, một con người bình thường khi mắc chứng điên rồ đó có thể gây ra các tội ác mà lịch sử chưa hề biết đến. Trên thực tế đó không phải là sự điên rồ.

        Những “điều ác tầm thường” - đó là công thức của Hanna Ardendt. Sự giải thích này cho phép hiểu được điều không thể giải thích: Theo góc độ của các bác sĩ thần kinh, con người bình thường mà trong suốt nhiều năm giết người một cách có hệ thống và coi đó là nghĩa vụ của mình.

        Adolf Eihman đã sẵn sàng chấp nhận cách giải thích này và cho rằng cách lý giải tương tự đối với các hành động của hắn đồng nghĩa với với việc giải phóng hắn thoát khỏi trách nhiệm.

        - Các ngài phải tin tôi. - Eihman thuyết phục những nhân viên Israel bắt hắn. - Tôi chỉ đơn giản thực hiện nhiệm vụ được giao. Tôi chưa bao giờ là người bài Do Thái. Tôi thậm chí còn thích người Do Thái. Ớ trường tiểu học tôi từng có một người bạn Do Thái. Trước chiến tranh khi đến Palestin, ở Haif tôi đã thuê một lái xe tắc xi người Do Thái chứ không phải người ả rập. Tôi thích người Do Thái hơn người ả rập.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:41:53 pm »


        Lúc đó, có lẽ hắn thậm chí là đã tin vào điều mình nói.

        - Ngài là lính, các ngài thực hiện mệnh lệnh - hắn thuyết phục viên sĩ quan Israel - tại sao ngài lại ngạc nhiên khi thấy những người khác cũng làm như vậy? Ý tưởng là ở chỗ nhằm tạo ra một quốc gia không có người Do Thái. Thoạt tiên chúng tôi muốn trục xuất tất cả người Do Thái. Nhưng không một quốc gia nào đồng ý chấp nhận tất cả người Do Thái. Ai có lỗi trong cái chết của họ - nước Đức hay thế giới phương Tây?

        Tại toà, Eihman không phủ nhận sự tham gia của mình vào “quyết định cuối cùng vấn đề Do Thái”, nhưng thẳng thừng từ chối coi mình là kẻ giết người:

        - Tôi chưa bao giờ giết một ai. Tôi thậm chí làm công việc tìm người Do Thái và đưa họ vào các trại. Đó là lệnh của Quốc trưởng và tôi phải chấp hành - tôi không có sự lựa chọn nào khác.

        “Việc thi hành mệnh lệnh là quan trọng nhất đối với tôi. Có thể đó là bản chất của một người Đức.” - Adolf Eihman viết trong tường trình của mình và có giải thích tại sao hắn đóng vai trò này trong việc tiêu diệt dân Do Thái ở Châu Âu.

        Hắn mô tả mình như là một người thừa hành nghĩa vụ công tác chứ hoàn toàn không bị chế ngự bởi cảm giác căm thù. Khi ở trong nhà tù Israel, Eihman đã viết một ngàn hai trăm trang. Năm 1999 tài liệu này được Bộ tư pháp Israel chuyển cho các nhà khoa học Đức để nghiên cứu và công bố:

        “Ngay từ thuở thơ ấu, tính chấp hành là một bản chất cực kỳ quan trọng đối với tôi. Lúc hai mươi bảy tuổi khi tham gia quân ngũ tôi phát hiện ra rằng sự cần thiết phải phục tùng đối với tôi có vẻ như chăng có gì phức tạp. Đối với tôi việc không chấp hành mệnh lệnh là không thể tưởng tượng nổi... Khi nhìn lại quá khứ tôi hiểu rằng cuộc sống dựa trên cơ sở thói quen phục tùng và chấp hành mệnh lệnh là một cuộc sống tiện lợi. Điều này dẫn đến nhu cầu tư duy tối thiểu.”

        Adolf Eihman sinh ở Zoliugen thuộc vùng Rein. Khi cậu con trai mới sáu tuổi thì bố cậu - một nhân viên kế toán được điều đến Lints một thành phố của nước Áo, nơi Hitler đã lớn lên. Gia đình ở lại Áo. Bố của Eihman thành lập một công ty công nghiệp mỏ ở Zaltsburg nhưng công việc kinh doanh của ông không thành.

        Chàng Eihman trẻ buôn bán dầu hoả và hy vọng sẽ buôn bán dầu mỡ bôi trơn. Người bố đối với anh rất nghiêm khắc. Bản thân Adolf cũng coi rằng mình là “đứa trẻ vâng lời”.

        Tháng 4 năm 1932 anh ta gia nhập đảng chủ nghĩa xã hội dân tộc và xung phong vào SS. Bố anh quen thân với bố của Emst Kaltenbruner - thủ trưởng tương lai của Tổng cục an ninh đế chế.

        Kaltenbruner con đã dẫn dắt Adolf Eihman đến với phái Quốc xã. Viên sĩ quan Kaltenbruner cấp cho Adolf Eihman thư giới thiệu khi hắn quyết định chuyển đến đế chế 1933. Eihman ngay lập tức được đưa vào phục vụ ở quân đoàn SS Áo. Quân đoàn này được thành lập với mục tiêu lâu dài là đào tạo cán bộ để làm việc trên lãnh thổ Áo sau khi sáp nhập Áo vào nước Đức. Sau đó hắn bày tỏ nguyện vọng được chuyển sang cơ quan an ninh đế chế SD và được chấp thuận.

        Eihman bắt đầu công việc từ việc xem xét tủ phiếu của hội Tam điểm dưới sự lãnh đạo của viên sĩ quan Gregor Shvarty Bostunich. Sau đó Eihman được điều về phòng “Do Thái” của SD và được giao nhiệm vụ thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến người Do Thái Đức và các tổ chức của họ. Eihman bắt đầu nghiên cứu các cuốn sách nói về Do Thái, về những hội viên hội Tam điểm, các âm mưu của hội phục quốc Do Thái thế giới do bọn Quốc xã xuất bản.

        Sau khi thành lập cơ quan an ninh đế chế năm 1939, Adolf Eihman được điều vào Gestapo. Bốn chi cục chịu hách nhiệm về các vấn đề nhà thờ. Chi cục thứ nhất về “Thiên chúa giáo chính trị”, Chi cục thứ hai về “Cơ đốc tân giáo chính trị”, Chi cục thứ ba - các nhà thờ khác và hội Tam điểm.

        Eihman trở thành thủ trưởng chi cục IVB4 - “vấn đề Do Thái, làm sạch đế chế, tịch thu tài sản của các cá nhân thù địch với nhân dân và nhà nước”.

        Hắn điều hành việc đưa người Do Thái vào các trại tập trung. Nếu không có chữ ký của hắn thì không một toa tàu nào được chuyển bánh. Một điều đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh khi mà mỗi đoàn tàu, mỗi đầu máy đều có ý nghĩa đối với lực lượng vũ trang Quốc xã nhưng Eihman chưa bao giờ bị từ chối. Việc chuyển người Do Thái đến địa điểm tiêu diệt được tiến hành theo chế độ “vận chuyển quân sự tối quan trọng”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:42:25 pm »


        Hắn coi mình không có tội bởi vì suốt đời hắn chỉ thực hiện mệnh lệnh. Tại cuộc hỏi cung hắn nói với viên thẩm phán Israel:

        - Nếu thời đó người ta nói với tôi: “bố anh là kẻ phản bội” và tôi phải giết ông, thì có lẽ tôi cũng làm điều đó. Bởi vì chỉ có một điều: mệnh lệnh của cấp trên - đấy là mệnh lệnh. Gót chân chụm vào nhau, mũi chân tách xa và trả lời “Xin tuân lệnh”.

        Vậy thì Eihman là ai? Người “bình thường” với những biến chất do các điều kiện xã hội, tù nhân của tình trạng không lối thoát hay là một kẻ đê tiện, hèn hạ?

        Có một thời toà án Jerusalem đã yêu cầu bác sĩ tâm thần xác định xem bị cáo về mặt thần kinh có tỉnh táo hay không và có khả năng ra trước toà hay không. Trong số những thứ linh tinh khác người bác sĩ tâm thần Israel đề nghị hắn vẽ một số hình để qua đó có thể thấy tính cách của con người.

        Hai mươi năm sau khi diễn ra phiên toà, dựa vào các hình vẽ đó người ta lại tô chức một cuộc thử nghiệm. Người ta cho năm bác sĩ tâm thẩn nổi tiếng của Mỹ xem các hình vẽ đó và không nêu tên tác giả.

        Và đây là kết luận của họ:

        - Đó lả một con người rất năng nổ - một con người đã từng hiếu chiến còn giờ đây không còn quyền lực để tiếp tục cuộc chiến tranh đó...

        - Đó là con người gây ra nỗi khiếp sợ. Bản chất tàn bạo. Trong con người này có cái gì đó hoang dã, và người này tựa như đang đóng một vai trong phim kinh dị...

        - Người đó năng nổ như một con quái vật, sự tức giận của người đó không có giới hạn...

        - Đó là con người như đang sôi lên vì tức giận nhưng cố che giấu nó...

        - Một dạng tàn bạo được thể hiện rõ. Một kẻ gây gổ, có thể trở nên rất tàn nhẫn.

        Việc phân tích các tranh vẽ có vẻ như là một phương pháp nghiên cứu không tin cậy lắm nhưng trên thực tế đã từ lâu nó trở thành một công cụ của các bác sĩ tâm thần và cho phép xác định các khả năng trí tuệ, mức độ phát triển thông minh và những nét điển hình theo bản năng. Các kinh nghiệm lâm sàng tích luỹ nhiều năm cho phép các bác sĩ tâm thần đưa ra một chẩn đoán chính xác. Dễ xúc động, tàn nhẫn không chịu nổi sự phản đối - đó là những gì các bác sĩ nhìn thấy ở Eihman. Các tính cách khác của hắn là: lạnh lùng, hoài nghi, tự kỷ, không có khả năng kết bạn.

        Các hình vẽ - như các bác sĩ tâm thần khẳng định - chứng minh rằng trong ngôi nhà của cha mẹ hắn lớn lên không có niềm vui và sự ấm áp. Thay cho tình thương là kỷ luật. Sự trừng phạt hà khắc đã tạo nên nỗi sợ hãi trước cấp trên. Nhu cầu và mối quan tâm của bản thân hắn bị đè nén. Điều này đã làm cho Eihman trở thành người suy nhược thần kinh dễ mắc bệnh thần kinh mãn tính.

        Bị ám ảnh bởi nhiệm vụ được giao, hắn theo dõi tỉ mỉ sự thực hiện từng chi tiết của mệnh lệnh, nghĩ một cách hèn hạ làm sao được lòng cấp trên và điều sợ hãi nhất là không hoàn thành nhiệm vụ...

        Các bác sĩ tâm thần - những người đã nghiên cứu vài trăm tội phạm chiến tranh Quốc xã cho rằng cá tính của Eihman là điển hình cho chê độ mà hắn đã phục vụ rất trung thành, một chế độ của sự chấp hành máy móc tuyệt đối và sự tàn nhẫn của những tâm hồn trống rỗng.

        Bản thân khái niệm “độc ác bình thường” đã cho thấy rất nhiều điều để hiểu được cái cơ chế của một nhà nước cực quyền Quốc xã. Tuy nhiên cách giải thích này có vẻ như chưa đầy đủ.

        Việc tiêu diệt người Do Thái đối với Eihman không chỉ đơn giản là chấp hành mệnh lệnh mà là sự nghiệp của cả cuộc đời. Dường như trời sinh ra hắn để làm việc đó. Hắn không nghĩ đến điều gì khác.

        Cựu chỉ huy Osventsim đã kể về Eihman ở toà án Nuremberg. Trong con mắt của ông ta Eihman là một kẻ giết người lý tưởng:

        “Hắn hoàn toàn tin rằng nếu hắn thực hiện được việc tiêu diệt cơ sở sinh học của người Do Thái ở phương Đông, thì do cú đòn đó dân Do Thái nói chung không thể hồi phục lại được. Hắn hoàn toàn bị ám ảnh bởi sứ mệnh của mình.

        Hắn nhất quyết đòi thực hiện việc tiêu diệt người Do Thái và phản đối việc điều chuyển khỏi các toa tàu những người Do Thái có khả năng làm việc. Hắn coi đó là sự cản trở để giải quyết dứt điểm vấn đề Do Thái mà vấn đề này cần phải thực hiện càng sớm càng tốt vì không thể lường trước được kết cục của cuộc chiến tranh.”
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2018, 07:43:10 pm »

   
        Eihman tiếp tục tiêu diệt người Do Thái cả vào thời diêm cuối cùng của chiến tranh khi mà nhũng người lãnh đạo đế chế vội vã tìm cách thoát thân và thậm chí khi cả Himler cũng chỉ thị phanh dần việc thực hiện “giải pháp triệt để”.

        - Himler muốn tôi dừng lại, Eihman thú nhận với người Israel, ông ấy cho rằng đã đến lúc chúng tôi phải cứu đời mình. Nhưng tôi vẫn tiếp tục hành động. Nếu một người được giao làm việc gì thì người đó phải làm đến cùng...

        Viên sĩ quan Eihman cho phép mình ngạo mạn nhìn Quốc trưởng - người dã thể hiện sự yếu đuối không được phép có.

        Tháng 9 năm 1940, Henric Himler huấn thị một nhóm sĩ quan thuộc một trong những trung đoàn SS:

        - Tôi muôn nói rằng chúng ta phải, trong đó có cả các đơn vị SS, mơ mộng và tôn trọng hoạt động của cơ quan an ninh và cảnh sát và hiểu rằng những người trong các bộ quân phục đen cũng xứng đáng điều đó như các bạn. Công việc của một nhân viên SD hoặc Gestapo tạo thành một bộ phận quan trọng sống còn trong sự nghiệp chung của chúng ta. Trong nhiều trường hợp việc cùng với đại đội mình xung trận còn dễ dàng hơn nhiều so với cùng đại đội đó chống chọi một cách có văn hoá đối với lũ đám dân chúng lạc hậu, ghê tởm, thực hiện hành quyết, đưa các phương tiện vận tải đầy chật người và khử bỏ những phụ nữ kêu thét và gào khóc...

        Nhưng bản thân Himler cũng suýt ngất khi người ta cho hắn xem quy trình tiêu diệt người Do Thái ở trại tập trung. Còn Eihman không hề hấn gì.

        Toà án Jerusalem ngày 10 tháng 12 năm 1961 tuyên án: Eihman có lỗi trong các tội ác chống loài người. Adolf Eihman là người duy nhất bị kết án tử hình ở quốc gia Israel. Bản án tử hình không thể gây vui mừng. Và lịch sử chủ nghĩa bài Do Thái không chấm dứt ở Eihman. Nhưng nếu nghĩ về sự chiến thắng của chính nghĩa thì ý nghĩ về việc gần nửa đêm ngày 31 tháng 5 năm 1962, Adolf Eihman bị treo cổ ở Jerusalem gợi ra một sự hài lòng ảm đạm.

        Tháng 5 năm 1995 - ba mươi hai năm sau khi hành quyết hắn, Ricardo Eihman được phong giáo sư khảo cổ học của trường Đại học Tiubengen ở tây nam nước Đức.

        Ông tập hợp sinh viên và nói:

        - Tôi là Ricardo Eihman - Tôi nghĩ là các anh biết rằng tôi có liên quan đến cái tên Eihman. Adolf Eihman là cha tôi. Nếu các anh nghĩ rằng tôi là người Quốc xã thì tốt hơn hết là các anh hãy rời khỏi giảng đường ngay bây giờ, bởi vì tôi không phải người Quốc xã.

        Ricardo Eihman sinh ra ở Arhentina năm 1955. Ông là đứa trẻ hiếm muộn. Bà Vera Eihman mẹ ông lúc đó đã bốn nhăm tuổi. Bố ông - Adolf Eihman dưới cái tên Ricardo Klement đã ngoài năm mươi.

        - Tôi nhớ lúc ông cầm tay tôi - Ricardo hồi tưởng lại. - Tôi nhớ lúc ông dắt tôi vào cửa hàng bánh kẹo và mua sô-cô-la. Và tôi cũng nhớ mỗi buổi chiều tôi đã ngồi trên bậc thềm và nghĩ: đến lúc nào bố mới về nhà?

        Năm 1995 ở Luân Đôn con trai của Adolf Eihman, Ricardo đã gặp Tsvi Aaroni - cựu nhân viên tình báo Israel, một trong những người đã bí mật đưa cựu thủ lĩnh chương trình Quốc xã tiêu diệt hàng loạt người Do Thái từ Arhentina về Israel. Liệu Ricardo có thấy căm thù người này không?

        - Không. - Ông trả lời dứt khoát. - Adolf Eihman đáng bị đưa ra toà. Tôi đã nhìn thấy những mệnh lệnh lưu đầy mà cha tôi đã ký. Tôi không bao giờ hoài nghi rằng chính ông đã làm điều này. Tồi là người phản đối hành quyết nhưng tôi hiểu rằng tại sao họ treo cổ ông.

        Ông nói về bố mình như nói về một người nào đó hoàn toàn xa lạ. Ricardo chỉ mới năm tuổi khi người ta bắt được bố ông và đưa về Israel. Và khi ông bảy tuổi thì bố ông trở thành kẻ phạm tội đầu tiên ở Israel bị tuyên án tử hình.

        Bà Vera Eihman để hai con trai lớn ở lại Arhentina còn những đứa nhỏ mang về Cộng hoà liên bang Đức.

        - Tôi biết rằng bố tôi đã chết, nhưng không biết ở đâu và vì sao. Mẹ tôi cất giữ tất cả những mẩu báo nói về ông ở dưới gầm giường. Và tôi đã tìm thấy chúng ở đó. Tôi hiểu loáng thoáng từng mẩu nhưng không hiểu toàn cảnh bức tranh. Khi tôi hỏi mẹ thì bà nói: “Lass das” - đừng động đến chuyện đó. Đề tài này là điều kiêng kỵ cho đến khi bà qua đời.

        Ricardo không chia sẻ cảm xúc của mình với các anh trai và nói chung chỉ giữ quan hệ với một trong số đó mà thôi. Người anh cả Horst khi còn hai trẻ rất thích ướm thử bộ quần áo SS. Ricardo ghen tỵ với những đứa trẻ khác có cha bị chết hoặc do tai nạn ô tô hoặc do bệnh tật.

        - Khi tôi mười ba hay mười bốn tuổi tôi nhìn thấy trong một tạp chí bức ảnh chụp giá treo cổ mà bố tôi đã bị hành quyết trên đó. Một lần cô giáo ở trường kể về Eihman. Sau đó cô giáo nói với tôi rằng khổng có ý làm mếch lòng tôi. Tôi thường đỏ mặt mỗi khi có mặt tôi người ta nhắc đến bọn Quốc xã và SS.

        Ông không căm ghét một ai, cả đối với người Israel và cả đối với mẹ - người đã không kể sự thật cho ông.

        - Tôi rất tiếc là không có cha, nhưng tôi yêu mẹ tôi và bà yêu cha tôi.

        Những cựu đảng viên Quốc xã gọi điện chia buồn. Ngược lại những cựu tù nhân các trại tập trung lại coi rằng chủ nghĩa phát xít di truyền theo gen.

        - Tôi chẳng thể làm được gì. - Eihman con nói một cách đau khổ. - Thay đổi tên ư? Để làm gì? Không thể chạy trốn khỏi bản thân, khỏi quá khứ của mình.

        Suốt đời ông sống với cái nhãn: con trai Eihman. Khi còn niên thiếu ông nói gì với bạn bè về người cha của mình?

        - Rằng cha mình đã chết do chiến tranh. Có lẽ là chúng đã tưởng tượng ra một bức tranh anh hùng gì đó. Khi tôi làm quen với cô vợ tương lai thì cỏ biết nhiều hơn về người cha so với tôi, vì cô nghiên cứu chuyên nghiệp về lịch sử Đệ tam đế chế.

        Ricardo Eihman mơ ước trở thành phi công. Nhưng trong một buổi lên lớp về vũ khí hoá học có ai đó ra lệnh “và bây giờ đi vào phòng hơi độc mang tên Eihman”. Ông đã ra khỏi ngành hàng không và trở thành nhà khảo cổ. Đối với các con mình hai đứa con trai thì Eihman còn dạy chúng tính chịu đựng và kể cho chúng về những kẻ đê tiện trong bộ đồng phục nâu. Ông không nghĩ rằng bọn Quốc xã sẽ lại lên nắm chính quyền ở Đức. Nhưng đề phòng bất trắc ông luôn có sẵn một chiếc va li nhỏ để ngay lập tức có thể chạy khỏi đất nước cùng với những đứa con.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:12:04 pm »


        THIÊN THẨN CHẾT (LOZEF MENGELE)

        Con người này đi vào lịch sử như một trong những biểu tượng của đế chế Quốc xã. Nụ cười và cử chỉ nhẹ nhàng của hắn làm cho tất cả tù nhân ở trại tập trung Osventsim phải gọi hắn là “thiên thần chết”.

        Trong ký ức của các nạn nhân hắn luôn rẽ ngôi gọn gàng, bộ quần áo xanh đậm là phẳng, chiếc mũ SS đội nghiêng, đôi ủng đánh bóng nhu gương hơi dạng ra. Ngón tay cái đặt trên thắt lưng với bao súng lục. Hắn đón các đoàn tàu chở tù nhân mới và ra lệnh cho họ đi hoặc sang trái hoặc sang phải.

        Sang trái - cái chết, sang phải - sự sống. Sống hay chết là do bác sĩ Iozef Mengele quyết dịnh. Hắn quyết định cuộc đời những người khác một cách thản nhiên. Đốm lửa quan tâm chỉ chợt loé sáng trong mắt hắn khi hắn nhìn thấy những người sinh đôi.

        Bác sĩ Mengelc là một nhà di truyền học. Hắn tiếp tục nghiên cứu khoa học của mình cả ở Osventsim. ơ trong trại tập trung đối với hắn đại để như một dạng đi công tác khoa học. Mengele đưa những người sinh đôi lên bàn phẫu thuật và mổ xẻ họ như một vật liệu thí nghiệm lý tưởng - vì mục đích khoa học mà hắn phục vụ. Có thể mổ xẻ thỏ, mổ xẻ khỉ. Bác sĩ Mengele làm việc với một vật liệu có ích hơn về ý nghĩa khoa học.

        Một trong những tù nhân Osventsim cũng từng là bác sĩ, đã nhớ về Mengele như sau:

        - Không biết bao nhiêu giờ đồng hồ hắn cúi người trên kính hiển vi, làm việc bên máy ấp, bên các mẫu thí nghiệm của mình. Trong chiếc tạp dề bắn đầy máu, với đôi tay cũng đỏ vì máu hắn đứng một cách kiên nhẫn bên bàn giải phẫu của mình luôn tìm kiếm và nghiên cứu một cái gì đó như một kẻ mất trí...

        Người ta kể những câu chuyện ly kỳ nhất về Mengele, nhiều cuốn sách và thậm chí cả các bộ phim truyện cũng được đề tặng hắn.

        Trên thực tế, những bức tường trong phòng làm việc của hắn không được trang trí bởi bộ sưu tập các cặp mắt của hàng trăm đứa trẻ bị giết - Những con mắt cũng không làm hắn quan tâm. Câu chuyện đáng hoài nghi nói rằng Mengele ném đứa trẻ mới sinh vào lò hoặc rạch bụng một phụ nữ đang mang thai để lấy ra cái thai còn đang sống. Hắn có lẽ cũng không ngần ngại làm việc này nhưng khoa học không cần điều đó.

        Iozef Mengele xuất thân từ một gia đình Thiên chúa giáo. Trong thành phố Hiunburge không lớn trên sông Danuyp có một nhà máy lớn nhất thành phố là của gia đình Mengele. Trong thành phố có con đường mang tên Karl Mengele - người sáng lập nhà máy và là bố Iozef.

        Bố hắn nhanh chóng hiểu ra rằng đã đến lúc phải gia nhập đảng khi Hitler đến thành phố của họ và đọc diễn văn chính trị tại nhà máy của Mengele. Dưới thời Quốc xã nhà máy đã nhận được nhiều đơn đặt hàng hời.

        Người ta cho rằng con trai cả của Iozef sẽ tiếp tục sự nghiệp của gia đình. Nhưng ngay từ nhỏ cậu bé đã có nhiều tham vọng. Một lần cậu nói với một người bạn:

        - Đến một lúc nào đó mày sẽ nhìn thấy tên tao trong bách khoa toàn thư.

        Hắn đã thi tốt nghiệp trung học năm 1930 và đầu tiên là muốn trở thành bác sĩ nha khoa - trong thành phố không có một ai là bác sĩ nha khoa và điều này hứa hẹn một tương lai xán lạn. Nhưng sau hắn lại cho rằng nha khoa là một chuyên ngành quá hẹp và do đó đến Munic để tiếp tục học.

        Mengele nghiên cứu y học nhưng ngay lập tức hiểu rằng nguồn gốc con người làm cho hắn quan tâm hơn so với việc sửa chữa các khuyết tật của nó. Hắn đã ở trong số các nhà khoa học, những người tin rằng có một số sinh vật sống hoàn toàn không xứng đáng được sống. Hắn theo học bác sĩ Ernst Rudin - người đã cho rằng các nhà y học phải giải phóng chúng tộc loài người khỏi những cá thể không xứng đáng. Rudin sau này đã tham gia vào việc soạn thảo các bộ luật về triệt sản, có hiệu lực vào tháng 7 năm 1933.

        Emst Rudin kháng định rằng mình có thể xác định được ai là người có máu Do Thái, thậm chí chỉ qua ảnh chụp. Dưới sự hướng dẫn của ông, Mengele đã bảo vệ luận án trong đó chứng minh rằng có thể xác định được nguồn gốc chủng tộc của một người theo xương hàm của người đó. Đồng thời hắn thi và vào làm việc ở bệnh viện y học thực hành thuộc trường đại học Lep-zik.

        Trong bệnh viện này có những bác sĩ đã giải thích với các nhà lãnh đạo đảng rằng những đứa trẻ mù, què bấm sinh hoặc không hoàn hảo về thần kinh cần phải bị tiêu diệt, Hitler đã đưa việc trừ diệt thành luật ngày 1 tháng 9 năm 1939 - đúng vào ngày bắt đầu Thế chiến II.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:13:15 pm »


        Ở Lepzig, Mengele làm quen với người vợ tương lai. Khi xác định nguồn gốc không phải Do Thái của bà, cũng như sự việc đã xảy ra với Hitler, đã xuất hiện câu hỏi liên quan đến một trong hai người ông. Bà không thể chứng minh được ràng người ông đó có thực là một người Đức hoàn hảo hay không. Cuối cùng thì các nghiên cứu kỹ càng về vấn đề chủng tộc và lời khai của các bạn đã xác nhận được tính chất Bắc Âu của bà, và cuộc hôn nhân đã được cứu thoát.

        Nhưng Iozef Mengele không được ghi tên vào “sổ chủng tộc” mà ở đó chỉ có tên của những người có thể khắng định được sự xuất thân phi Do Thái hoàn hảo từ 1750. Điều này cũng tước bỏ không cho con cái của Mengele những chiếc thìa bằng bạc mà Himler tặng cho mỗi đứa trẻ thuần khiết phi Do Thái.

        Những hoài nghi về xuất thân của bản thân Mengele cũng không xuất hiện tuy chính hắn trông giống một người Zigan hơn là một người phi Do Thái thực thụ. Hắn có nước da ngăm ngăm và tóc đen. Theo sự phân loại chủng tộc thì Mexigele được liệt vào chủng tộc đông Đina - nghĩa là người Đức phương nam.

        Ngày 1 tháng 1 năm 1937, Mengele vào làm việc ở một trường đại học nổi tiếng về di truyền, sinh học và sự tinh khiết chủng tộc thuộc Viện đại học Frankfurt. Hắn làm việc dưới sự hướng dẫn của một trong những nhà gen học nổi tiếng nhất Châu Âu - giáo sư nam tước Otman fon Fershuer - người rất quan tâm đến những người sinh đôi.

        Giáo sư ca ngợi Hitler như “nhà chính trị đầu tiên đánh giá xứng đáng sinh học di truyền và vệ sinh chủng tộc”. Dần dần giáo sư thuyết phục Mengele nhận phần công việc ở Osventsim. Trong thời kỳ chiến tranh ông trở thành giám đốc viện nghiên cứu nhân chủng học, sự di truyền của con người và gen học mang tên hầu tước Vilhelm ở Berlin.

        Trong cơ quan khoa học này người ta cho rằng có thể làm trong sạch chùng tộc khỏi những tạp chất xấu và chỉ để lại trên trái đất những phôi thai mà cuộc sống của chúng xứng đáng được tiếp tục.

        Luật “về bảo vệ dòng máu Đức và danh dự Đức” thông qua hồi tháng 9 năm 1935 đã biến các quan hệ tình dục giữa những người “máu không đồng nhất” thành hành động bị trừng phạt.

        Các quan hệ tình dục với người Do Thái dù có giá thú hay ngoài giá thú đều bị phạt tù khổ sai. Người đứng đầu cộng đồng Do Thái Nuremberg Leman Katsenberger đã bị kết án tử hình vì đã công khai hôn bà Iren Zaider người Đức.

        Mengele và giáo sư của mình với cương vị là các chuyên gia đã phát biểu về một trong các vấn đề đó: một người mà bố của anh ta là Do Thái, đã bị buộc tội do quan hệ yêu đương với một cô gái Đức.

        Người bị buộc tội chứng minh rằng trên thực tế anh ta là người Đức trăm phần trăm vì đã sinh ra do quan hệ ngoài giá thú giữa bà mẹ người Đức của mình với một người Đức thực thụ. Hai nhà di truyền học sau khi nghiên cứu sự việc theo quan điểm nhân chủng học của mình đã đi đến kết luận rằng người này là Do Thái. Một điều kỳ lạ là toà án không nghe kết luận của họ mà lại biện minh cho bị cáo. Bị phật ý, nhà khoa học trẻ lozef Mengele đã làm đơn khiếu nại rằng các ý kiến khoa học không được tôn trọng.

        Năm 1933 khi lên nắm chính quyền, Hitler tuyên bố tạm ngừng bốn năm không kết nạp đảng viên mới vào đảng. Quốc trưởng sợ rằng có nhiều người tràn vào đảng - những người có khuynh hướng tự do hơn và có thể làm thay đổi đường lối của đảng. Khi việc tạm ngừng kết thúc, Mengele viết đơn xin gia nhập và đã nhận được thẻ đảng viên vào tháng 5 năm 1937. Năm sau Mengele còn gia nhập SS, đồng thời nhận được hàm tiến sĩ y học.

        Là một người yêu đời và ái mộ các nữ thư ký của viện, Mengele tin rằng mình đang phục vụ một sự nghiệp vĩ đại là giúp Hitler cứu chủng tộc Đức thoát khỏi sự tự diệt vong.

        Khi Thế chiến II bắt đầu, tiến sĩ Mengele được gọi vào quân ngũ, được phong hàm sĩ quan SS và được điều sang Ba Lan bị chiếm đóng làm việc ở phòng gen học thuộc Tổng cục SS về vấn đề chủng tộc và dân số. Cùng với các bác sĩ SS khác ông xác định giá trị chủng tộc của những người Ba Lan tự khẳng định rằng mình có dòng máu phi Do Thái.

        Bị yếu về thể xác, Himler ca ngợi các chiến công thần kỳ của các bậc tổ tiên Bắc Âu và ao ước về sự tạo ra một con người hoàn hảo.

        Uỷ ban đế chế về bảo vệ sức khoẻ dân tộc đã công bố một cẩm nang cho các cặp vợ chồng tương lai:

       Hãy nhớ rằng bạn là người Đức. Tất cả những gì mà bạn có - đó không phải là công của bạn mà là của nhân dân mình. Vì vậy, trong bất cứ việc gì bạn làm hãy nghĩ xem việc đó có lợi cho nhân dân mình hay không.

        Là một người Đức hãy chỉ chọn bạn đời của mình có cùng dòng máu. Ở đâu vợ chồng giống nhau, ở đó có hoà thuận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:14:26 pm »


        Ở đâu các chủng tộc không giống nhau bị pha trộn, ở đó thường xảy ra xích mích, bất hoà. Giống lai của các chủng tộc khác nhau sẽ dẫn đến huỷ hoại và suy tàn. Hãy bảo vệ mình khỏi sự suy tàn, hãy tránh xa nhũng kẻ không hoàn hảo.

        Chủng tộc Bắc Âu, như các nhà nghiên cứu cho thấy, là chủng tộc có giá trị nhất của loài người. Mỗi người Đức ở một mức độ cao hay thấp đều được ban cho dòng máu Bắc Âu. Nhiệm vụ thiêng liêng là giữ gìn và nhân rộng món quà đó. Ai trộn lẫn dòng máu của mình với các chủng tộc không hoàn hảo sẽ trở thành kẻ phản bội nhân dân mình.

        Khi chọn bạn đời hãy hỏi về tổ tiên. Khi kết hôn bạn không chỉ kết hôn với bạn đời của mình mà ở một mức độ nhất định, còn với cả tổ tiên người đó. Hậu thế hoàn hảo chỉ có thể có được nếu có tổ tiên hoàn hảo.

        Hãy yêu-cầu bạn đời tương lai của mình đi kiểm tra y học xem có phù hợp cho hôn nhân hay không, và tự mình hãy làm điều đó.

        Bạn phải chúc cho mình có thật nhiều con cái. Ý nghĩa của hôn nhân là phát triển hậu thế. Người nào không có lý do chính đáng để không kết hôn hoặc không có con tức là người đó đã dứt đứt mắt xích dòng giống. Cuộc đời của bạn chỉ là hiện tượng nhất thời. Dòng giống và chủng tộc là vĩnh cửu. Những đứa trẻ hoàn hảo sẽ nâng cao giá trị của nhân dân và là vũ khí tốt nhất trong cuộc đấu tranh cho sự tồn tại của nhân dân”.

        Trong hành dinh của thủ lĩnh SS có một tổ chức gọi là Lebensborn hoạt động; tổ chức này phải chăm sóc cho sự xuất hiện một số lượng đầy đủ trẻ em Arian. Himler kêu gọi những thành viên SS có thái độ nghiêm túc đối với hậu thế của mình. Hắn chỉ thị không đưa ra mặt trận những lính SS không con cái trước khi người đó có được hậu thế, và yêu cầu các cơ quan chỉ huy quân sự dành cho lính SS khả năng này. Có khoảng mười ngàn trẻ mới sinh trong các nhà hộ sinh của tổ chức Lebensborn - nơi sinh ra các đứa trẻ của những phụ nữ Đức không chồng với các tính chất chủng tộc phù hợp.

        Ở khắp Châu Âu người ta bắt đi những đứa trẻ nguồn gốc phi Do Thái và đưa đi giáo dục ở các gia đình SS để trở thành những người lính tương lai. Himler đặc biệt đánh giá cao dòng máu Na Uy, “dòng máu Vinking”. Vài ngàn đứa trẻ được sinh ra do kết quả sự “pha trộn” cố ý giữa những người lính Đức thuộc các đội quân chiếm đóng và phụ nữ Na Uy. Các nhà hộ sinh Lenbensborn xuất hiện ở Pháp, Bỉ Luxemburg.

        Tháng 6 năm 1941, Iozef Mengele được điều đến Ucraina, ở đó hắn được thưởng huân chương Thập tự sắt hạng nhì. Tháng 1 năm 1942, hắn được điều vào đội y tế của sư đoàn SS “Vinking”. ơ đây hắn được thưởng Huân chương Thập tự sắt hạng nhất do đã cứu được hai lính tăng bị thương mà hắn đã lôi được họ ra khỏi chiếc xe tăng bị trúng đạn.

        Cuối năm 1942, hắn được điều về bộ máy trung tâm của Tổng cục Hitler phụ trách vấn đề chủng tộc và dân số. Nhờ vậy hắn có thể quay lại công việc ở viện nghiên cứu nhân chủng học, sự di truyền của loài người và di truyền học mang tên hầu tước Vilhelm ở Berlin.

        Giám đốc viện thuyết phục Mengele nhận nhiệm vụ ở Osventsim. Giáo sư cấp tiền cho các nghiên cứu khoa học của Mengele ở Osventsim, còn Mengele gửi về viện các báo cáo khoa học của mình.

        Trước chiến tranh ở Osventsim có các trại lính Ba Lan. Bên canh đó, ở Birkenau, tư lệnh SS Hendric Himler cho xây dựng các lều mới - trại được gọi là Osventsim - Birkenau. Ở đó có năm lò thiêu và phòng hơi độc. Trong những ngày trời quang thì cột khói bốc lên từ các ống khói lò thiêu có thể nhìn thấy được từ khoảng cách trên ba mươi cây số.

        Công suất tối đa mà các phòng hơi độc đạt được vào mùa hè 1944: chín ngàn người một ngày đêm. Lính trơn SS ở khu vực giết người được bổ sung khẩu phần: mười điếu thuốc lá một ngày, một phần tư lít vodka, nửa cân giò. Bộ phận sĩ quan SS được ăn uống tốt. Và đây là hồi ký của một trong các sĩ quan của trại: “Hôm nay bữa ăn trưa chủ nhật tuyệt vời - súp cà chua, nửa con gà với khoai tây và củ cải đỏ, kem vani rất ngon”. Phục vụ nhu cầu giải trí, thư giãn cho các nhân vật SS cao cấp, trong trại tập trung có các hoạt động của sân vận động, thư viện, nhà hát, bể bơi, dàn nhạc giao hưởng và nhà chứa.

        Tiến sĩ Mengele như thăng hoa trong trại. Tất cả những người khác chỉ làm những gì thuộc trách nhiệm của họ, còn Mengele nghiên cứu hết dự án mới này đến dự án mới khác. Thậm chí người ta đã nhầm khi coi hắn là bác sĩ trưởng của hại. Trên thực tế bác sĩ trưởng của tại là tiến sĩ Eduard Virst, người đã cử Mengele làm bác sĩ phụ trách các lều phụ nữ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:14:52 pm »


        Mengele bắt đầu từ việc chặn đứng dịch sốt thương hàn. Hắn đưa hơn một ngàn người Zigan trong số đó có một số bị phát hiện là mắc bệnh vào phòng hơi độc. Cuối năm 1943 ở một khu khác lại xuất hiện bệnh sốt thương hàn. Và hắn lại đưa cả khối sáu trăm phụ nữ vào phòng hơi độc. Có thể hắn sẽ không làm điều này nếu hắn có thể tìm ra phương pháp nào khác.

        Có lần Mengele đã nói với một trong những đồng nghiệp là trên thế giới chỉ có hai dân tộc tài ba - người Đức và người Do Thái - và nhiệm vụ đặt ra là loại bỏ tất cả người Do Thái.

        Tháng 8 năm 1943, vợ hắn là Irena đến thăm hắn ở Osventsim. Năm 1944 họ sinh được con trai và đặt tên là Rolf.

        Ở Osventsim không chỉ có một mình Mengele tiến hành công việc nghiên cứu. Một số quan chức Quốc xã cao cấp cho rằng không nên ngay lập tức giết tất cả người Do Thái, mà tốt hơn là trước tiên bắt chúng làm việc, và để đề phòng chỉ cần hoạn hoặc triệt sản họ. Công việc này do một nhóm các nha y học đặc biệt thực hiện - Họ triệt sản các tù nhân bằng tia X- quang. Nhóm này do tiến sĩ Horst Shuman đứng đầu.

        Hai bác sĩ được cử trực nhật nhận đoàn tàu trở tù nhân tiếp theo. Họ quyết định đưa ai vào ngay phòng hơi độc còn ai vào lán - cái chết của họ được hoãn lại khoảng ba tháng. Một vài bác sĩ SS căm ghét công việc này và sau phiên trực thường uống rượu cho đến bất tỉnh. Mengele làm việc này với một sự thích thú rõ rệt. Đôi khi hắn còn mỉm cười và huýt sáo một đoạn nhạc hài kịch. Những kẻ song sinh! Những tù nhân mới đến Osventsim thường nghe thấy những lời này mỗi khi hắn nhìn thấy những người mà hắn quan tâm hơn cả.

        Sau chiến tranh Mengele mơ trở thành giáo sư, hắn chỉ nghĩ về bước thang khoa học tương lai. Người ta đã xây dựng cho hắn một phòng thí nghiệm thuộc lò thiêu số 2 ở Birkenao mà ở đó dự định tiến hành mổ xác những người tù vừa mới bị giết. Phòng thí nghiệm được trang bị các thiết bị hiện đại.

        Đảng đã đặt ra trước khoa học một nhiệm vụ - tăng tỷ lệ sinh đẻ. Một trong những cách tăng số lượng các trường hợp sinh đôi, sinh ba là phương pháp nhân tạo. Tuy nhiên là chỉ trong trường hợp nếu hậu thế sẽ là người Âu - mắt xanh và tóc vàng. Tuy nhiên việc nghiên cứu những người song sinh để tìm ra điểm nào là di truyền, còn điểm nào được tạo ra cần nhiều thời gian theo dõi những người song sinh. Trong điều kiện của Osventsim thì đây là điều không thể. Vậy Mengele đã nghĩ ra cái gì?

        Những người song sinh được bố trí vào lán số 14 ở Birkenao ở đó có kê các giường bình thường. Những người song sinh được ăn uống rất tốt. Mengele còn mang bánh kẹo cho họ. Khó mà biết được đã có bao nhiêu cặp song sinh qua tay hắn. Theo một vài tính toán cùng một lúc trong tay hắn có khoảng hai trăm cặp.

        Những người giúp việc của hắn tiến hành việc đo đạc nhân chủng học rất cẩn thận đối với những người song sinh và tìm kiếm các chi tiết nhỏ nhất về những điều giống nhau và khác nhau trong họ. Sau đó bắt đầu sự đau đớn. Hắn tiêm vào những người song sinh tác nhân gây bệnh thương hàn, cưa cắt các bộ phận, tạo ra vết thương - và thường không có bất kỳ một chất gây mê nào. Hắn muốn nhìn thấy sự khác biệt trong các phản ứng của những người song sinh đối với sự can thiệp này hoặc sự can thiệp khác. Hắn truyền máu từ người này sang người kia.

        Sau khi giết những người song sinh, hắn nghiên cứu tỉ mỉ các cơ quan nội tạng của họ. Chỉ có ở Osventsim mới có thể tạo được các điều kiện có một không hai cho công việc của hắn: Những người song sinh bị giết cùng một lúc. Một lần tự Mengele đã giết mười bốn cặp song sinh Zigan để chuẩn bị nghiên cứu. Đầu tiên hắn tiêm thuốc mê, và tiêm Cloroform vào thắng tim họ.

        Mengelg muốn làm rõ xem hắn có thể thay đổi được màu mắt hay không. Hắn chọn ra ba mươi sáu đứa trẻ và tiêm cho chúng những mũi tiêm gây bệnh. Sau khi thí nghiệm những đứa trẻ đã bị mù và trở nên không cần thiết đều bị đưa vào phòng hơi độc. Các kết quả thí nghiệm được gửi về Berlin cho người lãnh đạo khoa học của Mengele. Trên bì hàng gửi có chữ: “Tài liệu có ý nghĩa quân sự - Khẩn”.

        Mengele đã chú ý đến hai anh em, một trong số đó hát rất tốt, còn người kia không có giọng. Mengele đã cắt dây chằng thanh quản của cả hai đê xem chúng khác nhau ở chỗ nào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:15:12 pm »


        Mengele đã chú ý đên cái chân bị tật của một trong những người song sinh, cả hai bị giết. Mengele ra lệnh nấu các xác để da tuột khỏi xương sau đó bộ xương được rửa bằng xăng để chúng trở nên sạch và trắng. Mengele rất thích các bộ xương này. Hắn mời một số đồng nghiệp đến. Họ xem xét tỉ mỉ các bộ xương và trao đổi với nhau điều gì đó. Các bộ xương cũng được đóng gói cẩn thận và gửi về Viện nghiên cứu mang tên hầu tước Vilhelm.

        Hắn được đánh giá cao ở Osventsim. Bác sĩ trưởng của trại nhận xét hắn là “một cán bộ năng lực và kiên quyết trong những điều kiện khó khăn nhất đã đấu tranh với dịch bệnh và đã chứng minh là có thể hoàn thành nhiệm vụ trong bất kỳ tình huống nào”.

        Bác sĩ trưởng nhận thấy rằng “Mengele đã dùng thời gian rỗi của mình để tiếp tục tự học bằng việc sử dụng các tài liệu khoa học mà Mengele có để tiến mạnh lên phía trước trong các nghiên cứu nhân chủng học của mình”.

        Mengele đối xử với những người tù như một nhà nghiên cứu bình thường đối với những con chuột thí nghiệm. Hắn không thấy mệt mỏi vì công việc. Là một người tham vọng vô tận hắn cho rằng sau khi giải quyết dứt điểm với người Do Thái hắn sẽ sờ đến người Ba Lan.

        Phải chăng hắn đơn giản chỉ là kẻ tàn nhẫn cảm thấy sự cảm khoái bệnh hoạn trước những đau khổ của người khác?

        Hắn thực hiện nhiệm vụ của mình trong trại giết người một cách chính xác và điều này làm cho hắn cảm thấy tự hào, giúp hắn đè bẹp mọi xung động chống đối chống lại sự giết người.

        Có vẻ như lòng tin vào chủ nghĩa xã hội dân tộc đã cho phép hắn làm việc hết sức và không bị tổn hại tinh thần trong các công việc mà hắn đã tiến hành ở Osventsim. Với việc nắm bắt các phương pháp mới hắn có thể giải phóng được một số tù nhân khỏi một căn bệnh đặc biệt, và sau khi chắc chắn rằng đã tìm ra cách chữa thì lại đưa những người tù vừa khỏi bệnh vào phòng hơi độc.

        Có thê là hắn thích cảm giác của một người mà cuộc sống và cái chết trong tay mình. Trong hắn sự khác biệt đã đạt đến tột đỉnh - một sự khác biệt luôn tồn tại giữa những bác sĩ nhìn mọi vấn đề với góc độ khoa học thuần tuý và những bác sĩ muốn chữa các con bệnh khỏi bệnh.

        Các nhà nghiên cứu Tây Đức đã thu thập được rất nhiều bằng chứng về sự tàn nhẫn tột độ của Mengele thậm chí dưới con mắt của một nhân viên SS.

        Có cả những bằng chứng được đưa ra bởi những cựu tù nhân là bác sĩ - những người đã quan sát Mengele trong phòng thí nghiệm. Họ kể rằng hắn không phải bao giờ cũng giữ lại được mặt nạ của một người lạnh lùng bình thường đứng nhìn những sinh vật chưa thành người thảm hại. Tối thiểu thì hắn cũng tự tay đánh tù nhân. Trước sự ngạc nhiên của các đồng nghiệp, Mengele tự mình trích các mũi tiêm chết người, và đôi khi ném vào phòng hơi độc các bình chứa khí độc chết người và đứng xem những người tù chết như thế nào.

        Cuối tháng 7 năm 1944, Mengele ra lệnh tiêu diệt cả một trại Zigan ba ngàn người vì họ không còn cần đến nữa. Tất cả đều bị đẩy vào phòng hơi độc.

        Hắn nói với vợ ràng coi công việc ở Osventsim như phục vụ ngoài mặt trận. Hắn thực hiện nghĩa vụ như một người lính. Trên thực tế hắn chỉ quan tâm đến bước đường công danh khoa học. Có lẽ hắn cũng có thể giết mẹ mình nếu điều đó giúp hắn leo lên được nấc thang danh vọng.

        Giữa lúc chiến tranh quyết liệt nhất người ta đã tổ chức một hội nghị khoa học ở Osventsim. Báo cáo viên chính là Iozef Mengele. Chủ đề của báo cáo “Các công việc trong lĩnh vực nhân chủng học và sinh học di truyền trong điều kiện một trại tập trung”.

        Cuối năm 1944, tâm trạng của Mengele trở nên xấu đi. Có lẽ hắn đã hiểu rằng chiên tranh đã thất bại. Hắn sợ rằng tất cả các phát minh khoa học của hắn sẽ rơi vào tay những người chiến thắng.

        Lần thứ hai Irina vợ hắn đến thăm. Họ sống trong một ngôi nhà nhỏ riêng biệt, hắn được phép có người hầu gái. Họ đi dạo và lượm hái quả phúc bồn tử rồi mang về để Irina nấu. Bà không hề hỏi một câu hỏi nào thừa, cũng như Mengele cũng không kể thừa điều gì cả.

        Ngày 17 tháng 1 năm 1945, dưới tiếng gầm đại bác của Hồng quân đang tấn công, Mengele rời Osventsim. Người ta đã ra lệnh huỷ toàn bộ tài liệu về các cuộc thí nghiệm tiến hành ở Osventsim. Các giấy tờ quan trọng nhất thì Mengele mang theo người.

        Những người lính Xô Viết đầu tiên đã tiến vào Osventsim trưa ngày 27 tháng 1 và phát hiện thi thể của sáu trăm năm mươi tù nhân bị bọn SS bắn chết.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM