Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:25:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật về Adolf Hitler và các chiến hữu  (Đọc 27940 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #60 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:15:31 pm »


        Mengele được điều đến trại tập trung ở Silezia - nơi mà từ đầu năm 1942 người ta đã tiến hành các cuộc thí nghiệm đối với những tù binh Xô Viết để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh vi trùng. Nhưng hắn ở lại đó không lâu. Y đồ ngăn chặn bước tiến của quân đội Liên Xô đã không thể thực hiện được. Mengele di chuyển về phía tây cùng với những đạo quân rút lui. Hắn vứt hết tài liệu cá nhân và thay bộ quân phục SS bằng bộ áo cổ cứng của sĩ quan lực lượng vũ trang Quốc xã.

        Ngày 2 tháng 5, Mengele đến Sudeta - trạm quân y số 2/591. Trong số các bác sĩ hắn gặp một người quen từ trước chiến tranh - tiến sĩ Hans Otto Kaler, người này cũng nghiên cứu đặc biệt về những cặp song sinh cũng dưới sự hướng dẫn của một giáo sư ở Frankfute vùng Mam.

        Cùng ngày này - mồng 2 tháng 5, đài phát thanh thông báo là Hitler đã chết. Mengele nhờ người quen cũ bố trí mình vào đội ngũ của trạm quân y. Tại đây, trong trạm quân y hắn kết bạn với một nữ y tá mà hắn rất tin tưởng. Hắn thậm chí còn chuyển cho cô những ghi chép của mình về trại tập trung. Hắn hiểu rằng người ta sẽ không bắt tù một nữ y tá và những giấy tờ của cô cũng chăng ai quan tâm.

        Trạm quân y chuyển dần về phía tây. Các bác sĩ hy vọng rằng sẽ chang ai chú ý đến họ. Nhưng cuối tháng 6 người Mỹ đã bắt tất cả và đưa vào trại tù binh. Như Mengele đã dự đoán, cô y tá được thả ngay.

        Khi bị bắt làm tù binh, Mengele đã được cứu sống vì ở nách hắn không có vết xăm ghi nhóm máu - dấu hiệu đặc trung của nhân viên SS.

        Xưa hắn đã từng thuyết phục cấp trên rằng vết xăm chăng có ý nghĩa gì: một bác sĩ chuyên nghiệp trong bất kỳ trường hợp nào cũng có thể làm được một xét nghiệm máu đơn giản trước khi tiến hành truyền máu. Tuy nhiên vợ hắn nói rằng chỉ đơn giản Mengele không muốn làm hỏng làn da mềm mại của mình bằng vết xăm. Mengele quý trọng thân thể mình và thường soi gương rất lâu.

        Iozef Mengele - một bác sĩ từ Osventsim bị đưa vào danh sách tội phạm chiến tranh do một uỷ ban của Liên hiệp quốc về tội ác chiến tranh lập. Những người tù ở Osventsim còn sống sót đã viết cho chính quyền Ba Lan, Pháp, Nam Tư, Tiệp Khắc và Anh về tên SS - bác sĩ đã tiến hành thí nghiệm tội ác trên người sống.

        Nhưng trong bối cảnh rối loạn sau chiến tranh, Mengele đã chuồn được. Bản danh sách các tội phạm đang bị truy nã đã được phổ biến trong các trại giam giữ lính Quốc xã, nhưng có lẽ không đến được tất cả các trại, và cũng cần tính đến việc không phải tất cả các sĩ quan đồng minh đều nghiên cứu kỹ danh sách đó.

        Người Mỹ cố gắng nhanh chóng giải phóng các cựu binh lính Quốc xã để làm công việc khôi phục nước Đức. Các bạn cũ cung cấp cho Mengele giấy tờ giả và đưa về thôn quê làm việc vì cho rằng ở đó sẽ chẳng có ai đi tìm hắn. Những người nông dân sẽ sẵn sàng thuê mướn những thanh niên trai trẻ chưa kịp tháo bỏ quần áo lính Quốc xã.

        Cơ ngơi không lớn lắm - trồng khoai tây, lúa mì và nuôi độ chục con bò sữa. Chủ nhân bày khắp nhà các chậu cây thiên trúc quỳ. Mengele sống trong cảnh khắc khổ: trong phòng chỉ có cái giường và chậu rửa mặt. Chủ trại kể lại rằng Mengele là một người ăn hết tất cả những gì bày trên bàn và uống hết cả một lít sữa. Hắn ít nói. Chưa bao giờ hắn làm việc nhiều như vậy. Hắn khoẻ và giải quyết được mọi việc. Chỉ có điều là không biết vắt sữa. Hắn hoàn thành tất cả những gì được lệnh và thường ở trạng thái vui vẻ. Chẳng ai đến thăm hắn và hắn chẳng rời khỏi trang trại. Chủ trại thông cảm với Mengele - một thanh niên hai trẻ phải trốn tránh. Chỉ có một lần duy nhất Mengele cảm thấy bị đe doạ trực tiếp. Đó là lần hai cảnh sát Đức đến trang trại. Hắn trình hồ sơ giả của mình, và cuối cùng thì cũng thoát.

        Năm 1946, Mengele đề nghị chủ trại đặt mua một tờ báo địa phương và thấy tên mình bị nhắc đến trên báo. Viên cựu chỉ huy Osventsim đã khai trước toà án Nuremberg. Người đó kể về các thí nghiệm y học và vai trò của Mengele. Tháng 7 năm 1946, người Mỹ đưa ra xét xử hai mươi ba bác sĩ SS. Bảy người bị tuyên án tử hình, năm người bị tù chung thân.

        Trong số bị treo cổ có tiến sĩ Karl Gebchard thuộc trại phụ nữ Ravenbriuk. Là người tham gia “cuộc phiến loạn quán bia”, sĩ quan SS và bác sĩ riêng của Himler - hắn chữa bệnh cho giới thượng lưu Đức và đồng thời thực hiện các thí nghiệm trên các tù nhân trại tập trung. Hắn đã cấy vào họ các vi rút nguy hiểm chết người, làm tê liệt. Đặc biệt hắn còn kiểm nghiệm hiệu quả của chất sulfanilamid để chữa các vết thương. Để’ thực hiện việc này người ta làm cho người tù bị thương sau đó thử chữa họ. Theo tuyên án của toà án binh Mỹ, Karl Hebchard bị treo cổ.

        Trong lúc đó gia đình Mengele cố chứng minh với chính quyền Mỹ là Mengele không còn sống. Những người thân của hắn nói với mọi người là hắn bị mắc trong khu vực Liên Xô chiếm đóng và chăng có tin tức gì về hắn, rất có thể hắn đã chết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #61 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:15:50 pm »


        Mengele hiểu rằng ở Đức hắn không có tương lai và quyết định chạy sang Mỹ La tinh. Gia đình đã chọn Argentina. Ở đó có các đối tác làm ăn, hơn nữa ở Arhentina người ta không đối xử tồi đối với những người Quốc xã. Mengele tính rằng sau khi hắn thu xếp ổn định thì vợ và đứa con trai sẽ sang theo. Nhưng Irina không muốn rời Châu Âu, bà đã gặp ý trung nhân thứ hai của mình.

        Hắn đến Insburg bằng xe hoả. Những nhân viên hải quan Áo chỉ kiểm tra bằng cách hỏi hắn từ đâu tới. Không một ai để mắt đến giấy tờ của hắn. Ban đêm người ta dẫn hắn vượt biên giới Italia. Đó là những người làm việc ở chi nhánh địa phương của xí nghiệp Mengele.

        Ở Italia, một người bạn học thời nhỏ, cũng làm cho gia đình Mengele mang cho hắn đô la để đi dường và chiếc va li đồ dùng. Người ta mua cho hắn vé tàu thùy xuất hành từ Henui. Ở đó Mengele nhận được giấy tờ thực của Hội chữ thập đỏ quốc tế Thụy Sĩ với cái tên Helmut Gregor. Các nhà lãnh đạo Hội Thập tự đỏ đã giấu hành dộng này gần bốn mươi năm cho đến khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ George Shults yêu cầu trả lời - sau cuộc điều trần tại nghị viện liên quan đến Mengele.

        Mengele đã qua kiểm ưa y tế và nhận được giấy chứng nhận sức khoẻ và trình cho cơ quan tổng lãnh sự Argentina để cấp visa nhập cảnh. Giờ đây hắn chỉ còn thiếu mỗi visa xuất cảnh của Italia. Đúng lúc đó viên quan chức cảnh sát người đã giúp đỡ các bạn của Mengele lại đi nghỉ phép. Chỉ còn ba ngày nữa là tàu rời bến. Mengele thử mua chuộc cảnh sát nhưng hắn đã bị bắt. cành sát đã xác định được rằng giấy tờ của hắn là giả. Nhưng may cho hắn là người hắn cần đã trở về sau kỳ nghỉ phép. Người này giải thích rằng Mengele là người Do Thái chạy khỏi nước Đức, nhờ đó hắn được thả. Hắn đến Argentina bằng tàu thủy.

        Vào những năm đó Argentina là nước đầu đàn ở Mỹ La tinh. Đó là một nước giàu có nhất và có thái độ ủng hộ Quốc xã tuyệt đối. Khác với các nước Mỹ La tinh khác, thậm chí dưới sức ép của Hoa Kỳ, Argentina không muốn cắt đứt quan hệ ngoại giao với nước Đức phát xít.

        Ngay từ trước chiến tranh, một cộng đồng lớn người Đức đã có được ở Argentina những vị trí vững chắc. Trong số mười tám tờ báo hàng ngày được xuất bản ở thủ đô thì có ba tờ bàng tiếng Đức.

        Tháng 6 năm 1948, đại tá Huan Domingo Peron cướp chính quyền. Đại tá trước kia là tuỳ viên quân sự ở Italia và ông ta thích quan niệm của nhà nước phát xít.

        Mùa hè 1945, Peron chỉ thị cấp mười ngàn hộ chiếu chưa đề tên cho những người Quốc xã Đức đang cố chạy sang Arhentina. Người ta cho rằng Peron đã được trả các khoản tiền lớn về việc này. Bốn người Đức thực hiện việc chuyển tiền sang Argentina đã lần lượt bị giết trong các tình huống khó hiểu.

        Ở thủ đô Argentina không ai ra đón Mengele. Hắn lang thang, tìm việc không được cho đến khi làm quen được với những người Argentina cảm tình với Quốc xã và với những người Đức đã lập nghiệp ở đây. Họ đã cố giúp đỡ hắn.

        Hắn đã làm quen với viên cựu sĩ quan SS Adolf Eihman, người đã sống ở Buenos-aires dưới cái tên Ricardo Klement. Dần dần họ gặp nhau ở quán cà phê trong trung tâm thành phố - nhưng không trở thành bạn bè của nhau. Mengele không thích bầu không khí sợ sệt bao quanh Eihman.

        Nhà kiến trúc sư Frederico Haaze nổi tiếng đã giúp đỡ Mengele. Ông này lấy vợ là con gái Bộ trưởng tài chính Paragoay, nơi mà từ năm 1954, Alfredo SpreSS đã cầm quyền một mình. Năm 1959, những người Paragoay có ảnh hưởng đã giúp Mengele nhận được quốc tịch Paragoay.

        Mengele làm quen với đại tá Hans Ulrich Rudel - một phi công Liuftvaffe nổi tiếng nhất. Rudel đã bay trên các máy bay ném bom bổ nhào, đã chiến đâu ở mặt trận phía Đông và đã bị bắn rơi trên bầu trời Liên Xô. Hắn đã bò về được phía mình và lại bị bắn rơi, bị cụt một chân nhưng vẫn tiếp tục bay. Hitler đã nghĩ ra một phần thưởng đặc biệt cho hắn - Thập tự kỵ sĩ với những lá sồi vàng, thanh kiếm và hạt xoàn.

        Năm 1948 hắn sang Argentina. Hans Rudel đã viết một vài quyển sách và mô tả mình như một người dũng cảm, không kể gì đến cái chân giả mà luôn luôn hoạt động: trên sàn tenis, lướt ván nước hoặc vào rừng với bộ đồ nghề leo núi. Hắn muốn chứng minh rằng tinh thần đệ tam đế chế vẫn đang sống.

        Rudel giúp các cựu đảng viên Quốc xã ổn định cuộc sống cũng như hỗ trợ các công ty Đức nổi tiếng kể cả “Siemen” phát triển mạnh ở lục địa Mỹ La tinh với mối lợi lớn cho bản thân. Rudel cho Mengele theo mình sang Paragoay với cương vị người chào hàng các thiết bị sản xuất nông nghiệp cho các chủ trang trại.

        Có hai người đã giúp hắn ở Paragoay. Một trong số đó là Kerner - một thành viên tích cực của nhóm Quốc xã đã hợp tác tích cực với đảng phát xít Paragoay trong suốt thời kỳ tồn tại từ năm 1932 đến năm 1946. Người thứ hai - đại uý quân đội Paragoay, Alexandra fon Ekshtein. Eikshtein là bạn thân của Tổng thống Paragoay, Stressner.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #62 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:16:06 pm »

    
        Ông bố và người em trai Alois cùng vợ đã đến với lozef. Mengele bố có ý định để Iozef cưới người đàn bà goá là vợ đứa con trai khác của mình đã chết năm 1949 khi còn rất trẻ. Mengele bố muốn bảo vệ việc kinh doanh gia đình vì không muốn để những cổ phần rơi vào tay người ngoài.

        Những năm đầu Iozef Mengele sống hoàn toàn tự do, thậm chí còn đi khắp Châu Âu để hỏi thăm họ hàng. Hắn xin được hộ chiếu ra nước ngoài và tháng 3 năm 1956, hắn đã bay sang Thụy Sĩ. Ở Giơ-ne-vơ, lần đầu tiên Iozef Mengele được thấy đứa con trai của mình, và để đề phòng hắn tự giới thiệu là “bác Frist”.

        Hắn kể cho cậu bé những câu chuyện về rừng rậm ở Mỹ La tinh, về việc săn bắt du kích trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ Hai. Cậu Rolf rất thích “bác Frist”, hắn cho cậu bé tiền tiêu vặt - những món tiền đầu tiên trong đời cậu.

        Từ Thụy Sĩ, Mengele sang Đức, về Hiuntsburg quê hương và đã gặp được người thân. Hắn thuê ô tô và lái về Munic. Nhưng một sự tình cờ suýt nữa làm hắn bị vạch mặt. Hắn gặp phải sự cố giao thông và cảnh sát yêu cầu hắn không được rời khỏi Munic chừng nào sự việc chưa được giải quyết.

        Mengele hốt hoảng gọi điện cho họ hàng. Bố Mengele vội vàng đến và đưa tiền cho cảnh sát, Mengele được thả. Ngay hôm sau để tránh tai hoạ hắn đã rời Châu Âu.

        Đã có một thời gian Mengele đã định làm phẫu thuật chỉnh hình nhưng khi vừa mới bắt đầu hắn bảo ông bác sĩ dừng ngay lại khi thấy người này hiểu biết công việc quá kém. Hơn nữa hắn cũng chang cần phải lo lắng điều gì. Năm 1956 chưa ai có ý gì về việc ra lệnh bắt hắn. Hắn có thể yên tâm sống dưới tên thật của mình. Hắn quyết định mua một ngôi nhà kha khá nhưng không muốn đăng ký tài sản của mình dưới tên giả. Hắn đến đại sứ quán Cộng hòa Liên bang Đức và đề nghị chứng thực rằng mình chính là Iozef Mengele. Không một ai trong đại sứ quán nghĩ tới việc đối chiếu danh sách các tội phạm chiến tranh đang bị truy nã.

        Với giấy chứng nhận của đại sứ quán, Mengele nhận được chứng minh thư Argentina dưới tên thật (trước đó hắn sống dưới tên Helmut Gregor). Hắn còn được cấp hộ chiếu Tây Đức hợp pháp. Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức ở Argentina là cựu đảng viên Bemer Iunkes - người đã phục vụ với danh nghĩa đặc phái viên của Bộ trưởng nội vụ đế chế ở Croatia những ngày tháng cuối cuộc chiến.

        Tháng 10 năm 1956, Mengele bắt đầu một cuộc sống mới: cùng với hắn còn có Marta - người đàn bà goá và là vợ của đứa em trai chết sớm với Karl Haints con của người em. Cùng với cựu đại tá Rudel, họ đã sang Chi lê vào tháng 2 năm 1957. Ở đó họ còn gặp Valter Raufl từng phục vụ trong phòng II thuộc Tổng cục an ninh đế chế. Chính hắn đã nghĩ ra “xe hơi độc” với thùng xe đóng kín để giết người hàng loạt bằng hơi dộc.

        Năm 1958, Marta và Mengele kết hôn với nhau. Theo lời khuyên của ông thân sinh Mengele đã mua cổ phần của một công ty dược ở Argentina. Hắn cho rằng những gì tồi tệ nhất đã qua rồi nhưng hắn đã nhầm. Một người Áo tên là Herman Langbain, người đã từng trải qua những ngày tháng ở Osventsim (ông là người ghi chép trong văn phòng bác sĩ trưởng) bắt đầu thu thập hồ sơ về Mengele. Ông không thể chịu nổi việc tên tội phạm quái ác này lại thoát khỏi sự trừng phạt.

        Một tháng rưỡi sau khi Marta và Józef bắt đầu cuộc sống mới thì Langbain gửi các tài liệu mình thu thập được đến Bộ tư pháp Cộng hòa Liên bang Đức với hy vọng là người Đức sẽ ra lệnh bắt Mengele. Trên thực tế ông dã phải mất nhiều thời gian chạy vạy xin xỏ trước khi tìm được một luật sư mới muốn làm công việc này.

        Trong lúc Mengele sang Paragoav, có vẻ như ai đó đã thông báo cho hắn biết rằng ở quê hương hắn đang bị để ý. Hắn quyết định sang hẳn Paragoay. Trong cái nước nghèo và kém phát triển này - nơi mà người dân sống nhờ vào buôn lậu thì bọn Quốc xã cảm thấy tự tin: ở đây mọi thứ đều mua được bán được. Nhà độc tài Alfredo Stressner tiếp nhận tất cả những ai thích cuộc sống như vậy và chỉ cần có tiền.

        Tháng 5 năm 1959, Mengelo đến định cư ở Paragoay, tại một vùng ở phía đông nam giáp biên giới với Argentina - vùng Babaria mới. Ở đây, sau chiến tranh đã có một khu di dân sáu mươi ngàn người sinh sống và cũng như trước đây - vẫn treo ảnh Hitler cùng Thập tự ngoặc.

        Các nỗ lực của Langbain cuối cùng rồi cũng có kết quả: ngày 5 tháng 6 năm 1959 đã có lệnh đầu tiên bắt Mengele do bị buộc tội về một số vụ giết người. Bộ ngoại giao Cộng hòa Liên bang Đức yêu cầu Argentina dẫn độ Mengele. Chính phủ Argentian từ chối với lập luận là tất cả những lời buộc tôi Mengele “mang tính chính trị chứ không phải tính hình sự”.

        Với Paragoay thì Tây Đức không có hiệp định về dẫn độ tội phạm. Chính quyền Paragoay cũng được thông báo rằng nhà cầm quyền Cộng hòa Liên bang Đức yêu cầu dẫn độ Mengele, nhưng điều này chăng thể cản hắn nhập quốc tịch và trở thành công dân Paragoay. Mặc dù vậy hắn đã quyết định bí mật về Đức để dự đám tang bố mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #63 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2018, 08:24:50 pm »


        Cả Israel cũng quan tâm đến vụ việc Mengele. Nhưng năm 1957 MoSSad nhận được tin là Adolf Mengele - mục tiêu số một đang lẩn trốn ở Argentina. Tháng 5 năm 1960, nhóm đặc nhiệm của tình báo Israel đã bắt Eihman ở Argentina. Hắn bị dẫn độ về Israel và bị đặt vào ghế bị cáo.

        Cùng một lúc người ta cũng muốn dẫn độ Józef Mengele về Israel nhưng không tìm thấy hắn. Khi Eihman bị dẫn độ về Israel thì Mengele đang ở Paragoay - hắn cực kỳ hoảng sợ.

        Chính phủ Tây Đức treo giải thưởng hai chục ngàn Mác cho cái đầu của Mengele với hy vọng hấp dẫn ai đó trong số những người Argentina, nhưng không một ai hưởng ứng. cảnh sát Argentina thì hành động hờ hững. Trong các giấy tờ viện kiểm sát Đức gửi các đồng nghiệp Argentina luôn có những sai sót và công việc tiến triển rất chậm chạp.

        Nhưng Mengele biết rằng nhất định người Israel sẽ tìm thấy hắn ở Paragoay. Và hắn bắt đầu nghĩ đến việc di cư sang Brazil. Cựu thủ lính phái theo Hitler ở thành phố Grats nước Áo là Volfgang Herchard đã giúp hắn. Người này đã chạy sang Brazil từ năm 1948 mặc dù ông ta chỉ coi người Brazil là loại nửa khỉ và đại diện chủng tộc loại hai. Thậm chí cả các bạn cũng gọi Herchard là tên phát xít cuồng tín. Vợ hắn là Rut cũng vậy.

        Việc chuyển sang Brazil đã làm đổ vỡ cuộc sống của Mengele. Marta ly dị hắn mặc dù hắn đã kịp gắn bó với Karl Haints con trai của bà.

        Cộng hoà liên bang Đức đã thuyết phục được Tổng thống Paragoay Stressner ra lệnh bắt Mengele. Nhưng người bảo trợ bọn Quốc xã địa phương - Bộ trưởng nội vụ, trước tiên hỏi Rudel xem Mengele đang ở đâu. Sau khi đã biết chắc rằng hắn đã chạy sang Braxin từ lâu ông này mới ký lệnh.

        Không chỉ các luật sư mà cả những người săn đuổi bọn Quốc xã vẫn cho rằng Mengele đang lẩn trốn ở Paragoay.

        Năm 1963, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Komarf Adenaer đề nghị Stressner mười triệu Mác (hai triệu rưỡi đô la) cho việc dẫn độ Mengele. Đại sứ Tây Đức nhận được câu trả lời là đề nghị của Thủ tướng không được chấp nhận.

        Khi viên đại sứ Tây Đức lưu ý Stressner rằng Mengele nhận được quốc tịch là vi phạm luật pháp (lẽ ra hắn phải sống trong nước đó không dưới năm năm trước khi xin nhập quốc tịch), và ngay vì việc này cũng phải tước quốc tịch của hắn thì Stressner nổi giận đập bàn trả lời:

        - Người Paragoay bao giờ cũng vẫn là người Paragoay!

        Dĩ nhiên, điều đó cho người Đức khắng định rằng Mengele đang ở đất nước này nhưng cả tổng thống và những nhà lãnh đạo cấp cao Paragoay đang bảo trợ hắn.

        Sự vụng về của ngành tư pháp Đức và sự chậm chạp của cảnh sát Mỹ La tinh đã thêu dệt nên nhiều huyền thoại về Mengele. Có tín đồn rằng Mengele đang tiếp tục các thí nghiệm của mình ở những vùng hẻo lánh ở Mỹ La tinh, rằng hắn đã thành lập một tổ chức bí mật từ những tên phát xít cũ và mới, rằng hắn đang chuẩn bị khôi phục lại đế chế Quốc xã.

        Trong các phim nghệ thuật và sách, hắn được mô tả như một người không thể bị tổn thương, có nhiều tiền bạc, vũ khí và hộ vệ. Trong bộ phim đã một thời phổ biến mang tên “Những cậu bé từ Braxin” hắn đã được Gregori Pek thể hiện như vậy. Trong các huyền thoại hắn luôn luôn đi trước mật vụ Israel một bước. Năm 1960, ở Arhentina có một phụ nữ bị chết và người ta cho rằng bà đang săn bắt Mengele nhưng hắn đã đi trước. Người ta khẳng định rằng người phụ nữ này đã từng ở Osventsim, rằng Mengele đã thí nghiệm lên người bà và bây giờ đã nhận ra bà trong khách sạn...

        Dần dần xuất hiện các thông tin rằng người ta đã nhìn thấy Mengele ở đâu đó. Một lần cảnh sát Anh đã bắt được một người và người đó tự nhận rằng chính mình là Mengele. Nhưng sau đó phát hiện ra rằng người này hoàn toàn không giống. Người ta còn bắt được một người sống dưới tên người khác do đã từng phục vụ trong SS nhưng không có tên trong danh sách các tội phạm chiến tranh.

        Còn trên thực tế thì Józef Mengele, “thiên thần chết”, bác sĩ từ Osventsim cảm thây mình hoàn toàn cô độc. Mengele chỉ có thể gây nguy hiểm trong bộ quân phục SS và đối với những người không được bảo vệ. Khi chiến tranh kết thúc hắn đã trở thành một kẻ chạy trốn hèn nhát. Và hắn cũng chẳng còn nghĩ gì về việc tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng chủ nghĩa xã hội dân tộc. Hắn chỉ nghĩ làm sao để thoát thân. Hắn rất hoảng sợ khi được tin Adolf Eihman đã bị treo cổ ở Israel theo phán quyết của toà án. Khi hắn đi ra đường bao giờ cũng có cả một đàn chó vây quanh. Hắn xây cả chòi canh cao và hàng giờ quan sát các vùng lân cận và thấp thỏm lo không biết bao giờ người Israel sẽ đến bắt hắn. Hắn cũng không nghi ngờ rằng MoSSad làm nhiệm vụ chống lại các cơ quan đặc vụ Ả-rập cũng chẳng thèm tìm hắn. Những năm cuối đời của hắn trôi qua trong trạng thái cô đơn và luôn phấp phỏng chờ đợi sự trừng phạt khó tránh khỏi. Năm 1964, trường đại học Frankfurt gọi Mengele đến đối chất. Tất nhiên là Mengele không đến, nhưng Marta đã thuê một luật sư - một trong những người bào chữa cho các bác sĩ trong vụ án Osventsim. Luật sư chứng minh rằng không phải tất cả các bác sĩ tham gia thí nghiệm trên người đều phải bị trừng phạt. Nhưng các hiệu trưởng trường đại học Munic và trường đại học Frankfurt đã tước bỏ các học vị của Mengele trong y học và nhân chủng học “vì những tội đã thực hiện ở Osventsim”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #64 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2018, 08:25:21 pm »


        Đối với Mengele học vị tiến sĩ rất quan trọng và hắn rất khoái trá mỗi khi ai đó nói “ngài tiến si’.

        Tháng 5 năm 1977, Mengele nhận dược chứng minh thư Brazhdo Volfgan Herchard - người đã đi sang Áo “thử vận may” trao cho.

        Với sự giúp đỡ của một thợ ảnh lành nghề Megele đã dán được ảnh mình lên chứng minh thư. Năm 1972 hắn bị ốm và phải cần đến bác sỹ. Khi hắn trình chứng minh thư, bác sĩ rất ngạc nhiên vì bệnh nhân rõ ràng là già hơn tuổi ghi trong giấy tờ này. Nhưng Mengele giải thích rằng giây tờ có sai sót và sắp tới người ta sẽ cấp cho hắn chứng minh thư mới.

        Mengele bị trầm uất nặng và bắt đầu phát đủ mọi thứ bệnh: cao huyết áp, đau lưng, đau nửa đầu, dị ứng, mất ngủ, đau thấp khớp tay. Ngoài ra hắn còn cần phải phẫu thuật tuyến tiền liệt. Và hắn luôn bị ám ảnh sợ hãi rằng sớm hay muộn thì người Israel sẽ tìm thấy hắn.

        Năm 1976 hắn bị cơn đột quỵ và đối với hắn - một bác sĩ thì không điều gì còn là điều bí mật.

        Ở lứa tuổi mười sáu, người ta coi Rolf đủ lớn để tiết lộ bí mật lớn nhất của gia đình: “bác Frits” huyền bí chính là Józef Mengele - bổ cậu.

        - Tôi luôn nghĩ - Rolf Mengele nói - rằng bố tôi đã chết trong chiến tranh với nước Nga. Khi người ta nói rằng bố tôi còn sống, rằng ông chính là vị tiến sĩ từ Osventsim, thì tôi cảm thấy kinh tởm. Là con trai của Józef Mengele là một điều tồi tệ.

        Tháng 10 năm 1977, Rolf quyết định đến thăm bố. Cậu đã hoãn chuyến đi này suốt bốn năm. Mengele khăng khăng yêu cầu Rolf sử dụng hộ chiếu giả và quan tâm đến việc giữ bí mật. Rolf không muốn trốn tránh và đã đúng: cảnh sát Tây Đức không theo dõi gia đình Mengele.

        Họ không gặp nhau đã hai mươi mốt năm. Trong cuộc gặp lần trước ở Alpơ cậu Rolf cho rằng trước mặt mình chỉ là một người họ hàng xa. Trong hai thập kỷ đó Rolf được biết rằng bố mình là con quỷ.

        Rolf hỏi hắn về tất cả, kể cả về Osventsim. Mengele bảo vệ quan điểm chủng tộc của mình và không nhận bất kỳ một tội lỗi nào dù là rất nhỏ.

        Trong các câu chuyện với con trai, Mengele nói rằng hắn không nghĩ ra Osventsim và không thể chịu trách nhiệm về tất cả những gì đã xảy ra ở đó. Công việc của hắn chỉ là tách “những kẻ có khả năng làm việc” khỏi những kẻ “không có khả năng làm việc”. Nhưng liệu hắn có thể làm được gì khi chở đến toàn những người gần chết và người ốm? Mengele cố thuyết phục con trai là Do Thái là loại người khác với những người còn lại, rằng trong người họ có cái gì đó không bình thường và nguy hiểm. Nhưng hắn đã không thuyết phục được.

        Mengele tò mò về xuất thân của người vợ thứ hai của Rolf và đưa ra những lời nhận xét nhiều ẩn ý:

        - Lần đầu tiên ai đó trong dòng họ Mengele lấy vợ hoặc lấy chồng từ phương bắc. Ta nghĩ rằng việc kết hợp gen Bắc Âu cần được hoan nghênh - sự kết hợp này có thể cho kết quả tốt.

        Cuối năm 1978 Mengele đã cảm thấy chán sống. Hắn đi lang thang không mục đích. Một lần suýt bị ô tô cán phải. Đầu năm 1979 hắn không ra khỏi phòng trong nhiều ngày. Ngày 7 tháng 2, hắn một mình đi ra bãi tắm và xuống tắm nhưng ngay ở dưới nước hắn bị đột quỵ lần thứ hai.

        Người ta mang hắn lên bờ và cố làm hô hấp nhân tạo, nhưng Józef Mengele đã vĩnh biệt cuộc đời.

        Khi biết tin về cái chết của bố, Rolf Mengele cảm thấy nhẹ nhõm. Đấy là cách giải quyết các vấn đề đạo đức của anh ta. Anh hiểu rằng không thể chọn bố nhưng hình ảnh Osventsim cứ ám ảnh anh.

        Gia đinh Mengele quyết đinh không thông báo cho một ai về cái chết của Józef vì sợ rằng tin này sẽ làm hại các hoạt động tài chính đang phất lên của họ. Mengele mong được hoả táng. Nếu ý nguyện của hắn được thực hiện thì chắc không ai có thể biết được về cuộc sống của hắn ở Brazil. Nhưng người ta đã chôn hắn.

        Một nhân vật có tiếng nữa có thể nói là Anton Burger. Nhân vật này bị liệt vào danh sách mười ngàn tội phạm Quốc xã chủ chốt đã lẩn trốn khỏi sự săn lùng. Bản danh sách do trung tâm hồ sơ Simon Vizentali ở Viên lập 1987. Chỉ có một số ít trong danh sách bị trừng phạt, số còn lại có lẽ đã chết.

        Dù sao thì Burger cũng đã phải sống trong sự sợ hãi và nơm nớp lo bị phát giác. Đấy khác nào một dạng trừng phạt.

        Đầu tháng 6 năm 1943 có hai nhà khoa học trẻ đến Osventsim và thăng tiến rất nhanh: Bruno Berger từ Munic và Hans Fliaishkhaker từ Tiubengen, người mà một ngày trước khi đi khỏi đã trở thành phó giáo sư.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #65 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2018, 08:26:13 pm »


        Ba mươi năm sau họ trình bày với toà án quận Frankfurt rằng họ đến Osventsim đê tiến hành việc đo đạc nhân chủng học đối với các tù nhân để chuẩn bị cho chuyến đi Kavkaz nhằm mục đích đóng góp vào nền khoa học nhân chủng học.

        Trên thực tế họ đã thực hiện nhiệm vụ của tổ chức khoa học SS “Anenerbe”. Chính tổ chức này đã ủng hộ các công trình nghiên cứu của giáo sư nhân chủng học Avgust Khừt.

        Người ta đã giới thiệu giáo sư với thủ lĩnh Quốc xã Henric Himler. Himler đề nghị nhà khoa học trẻ gia nhập SS. Viên sĩ quan SS Khirt đã trở thành người lãnh đạo viện giải phẫu thuộc trường đại học Strasburg.

        Giáo sư Khirt định thành lập bộ sưu tập sọ người để dùng làm hiện vật trong việc tuyên truyền học thuyết chủng tộc. Hắn đề nghị “Anenerbe” chọn cho mình một số lượng lớn tù binh Nga: “Công việc thu thập và bảo quản sọ của các chính uỷ bolshevic Do Thái có vẻ ghê tởm nhưng những thứ ấy lại là điển hình của loại chưa thành người và chúng ta có khả năng có được những tài liệu khoa học trực quan”.

        Giáo sư dự định tiến hành nghiên cứu nhân chủng học đối với các tù binh rồi sau đó giết họ: “Để giữ gìn và nghiên cứu tài liệu sọ người có được bằng hình thức này thì trường đại học Quốc xã mới thành lập ở Strasburg có thể trở thành một địa điểm phù hợp nhất”.

        Từ ý tưởng thu thập “bộ sưu tập sọ người” những nhà khoa học trẻ đến Osventsim chuyển sang ý tưởng “bộ sưu tập các bộ xương”. Cần gì các tù binh khi trong tay mình có các tù nhân trại tập trung? Kếhoạch được ban lãnh đạo “Anenerbe” thông qua.

        Berger và Hiaishkhaker được giao nhiệm vụ chọn trong số tù nhân một trăm năm mươi người đàn ông và đàn bà. Cả hai người làm việc đầy húng khởi. Berger nói tại phiên toà:

        - Lần đầu tiên đến Osventsim tôi trông thấy một nhóm lớn người Do Thái, tôi rất kinh ngạc về sự đa dạng nhân chủng học của nhóm này.

        Vì dịch sốt thương hàn mà họ đã phải ngừng công việc. Những tù nhân đã chọn được tạm đưa vào trại kiểm dịch. Ngày 30 tháng 7 năm 1943, họ bị đưa đến trại tập trung Natsvailer Shtruthof ở Elza, nơi dự kiến hoàn thành “công trình khoa học”. Thật tội nghiệp cho nhũng tù nhân bị đưa đến Elza. Họ vui mừng từ biệt những người ở lại vì nghĩ rằng họ đang rời khỏi trại giết người và sẽ được sống.

        Sau ba ngày, hai mươi chín phụ nữ và năm mươi bảy tù nhân nam đã được đưa đến địa điểm ấn định. Các nhà khoa học của trại chụp X-quang sọ và xác định nhóm máu của tùng người. Sau đó các tù nhân được chuyển cho viên chỉ huy trại xử lý.

        Người ta đã giết tám mươi sáu người trong buồng hơi độc lúc bốn giờ chiều. Cuộc hành quyết kéo dài bốn ngày vì buồng hơi độc nhỏ. Người ta đã trang bị lại một phòng bảo quản lạnh của một khách sạn địa phương để làm buồng hơi độc. Ở đây giáo sư Avgust Khirt tiến hành các thí nghiệm bằng hơi độc của vũ khí mà tính hiệu quả của vũ khí hơi độc đó được kiểm nghiệm trên tù nhân. Hắn đã hoàn thành nhiệm vụ được Himler giao cho là tạo ra các chế phẩm có thể cứu được các binh sĩ đã trở thành nạn nhân của vũ khí hoá học.

        Các xác tù nhân được chở bằng xe tải về trường đại học ở Strastburg và được chứa trong các công-ten-nơ đặc biệt ở viện giải phẫu của giáo sư Khirt. Nhưng việc xử lý xác và biến chúng thành các vật trung bày của bộ máy tuyên truyền Quốc xã bị ngưng trệ.

        Hồng quân và quân đội đồng minh đang tiến vào, tình hình nước Đức xấu đi, thiếu thốn vật chất. Còn phải lo các nhiệm vụ ưu tiên khác. Khi quân Anh - Mỹ tiến gần, từ Berlin đã có lệnh sơ tán trường đại học đế chế ở Tiubingen. Một câu hỏi đặt ra: phải làm gì đối với các xác chết?

        “Có thể tách bỏ thịt và như vậy làm cho chúng không thể nhận dạng được - người phụ trách “Anenerbe” - sĩ quan SS Volfram Zivers báo cáo Henric Himler - đằng nào thì công trình cũng đã trở thành vô bổ”.

        Khirt và các trợ lý của hắn hiểu rằng đang thực hiện việc phạm tội ác. Như tất cả những kẻ giết người chúng cố giấu các vết tích tội phạm và làm cho các thi thể không thể nhận dạng được. Chúng đưa bảy mươi đầu người đã bị cắt vào lò thiêu xác thành phố. Các thi thể không đầu bị cắt nhỏ và trộn lẫn với nhau. Mười sáu xác chưa bị động chạm được chúng xếp vào trong ba cái bể như “cá Sardin” (theo lời những nhân chứng).

        Ngày 23 tháng 11 năm 1944, quân đội đồng minh đã giải phóng Strasburg khỏi bọn Quốc xã. Sau ba tuần bộ máy tư pháp quân sự của Pháp bắt đầu công việc điều tra. Công việc quả là khó khăn nhưng họ cũng đã xác định được địa điểm gây tội ác.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2018, 08:02:07 pm »


        Các câu hỏi về những tù nhân bất hạnh đó chỉ được làm sáng tỏ vào tháng 4 năm 1945, trong buổi hỏi cung viên sĩ quan SS Iozef Kramer. Là cựu chuyên gia về điện, Karmer sớm gia nhập đảng và phục vụ trong các đơn vị SS “cái đầu chết”. Hắn lần lượt làm chỉ huy các trại tập trung Natsvailer, Birkenau (Osventsim số 2) và Berge - Belzen.

        Viêc mổ các tử thi còn lại trong các buồng giải phẫu bắt đầu vào tháng 7 năm 1945 trong thời gian chuẩn bị phiên toà Nuremberg dành cho các bác sĩ.

        Viên chỉ huy trại tập trung - sĩ quan SS Jozef Volfram Ziver bị treo cổ tháng 6 năm 1948.

        Giáo sư Avgust Khirt bị tòa án quân sự ở Metse tuyên án tử hình ngày 23 tháng 12 năm 1953. Bản án được tuyên bố với sự vắng mặt của bị cáo. Người ta cho rằng giáo sư - tội phạm đã trốn thoát sự trừng phạt. Trên thực tế khoảng một tháng sau khi Đệ tam đế chế sụp đổ hắn đã lẩn trốn và ngày 2 tháng 6 năm 1945 đã tự bắn vào đầu.

        Các bác sĩ trại tập trung Bruno Berger và Hans Fliaishkhaker chỉ bị đưa ra toà năm 1970 với tội danh tòng phạm tội giết người hàng loạt. Toà án vùng Frankfurt - trên sông Main nói chung đã tha bổng Fliaishkhaker. Hắn được phép tiếp tục mọi công việc khoa học tại một trường đại học ở địa phương. Còn Berger cũng đã bị xét xử. Do cùng tham gia vào việc giết trại tám mươi sáu người hắn bị kết án ba năm tù giam. Nhưng hắn không phải ngồi tù - người ta đã tính đến thời gian bị giam giữ sau chiến tranh và thời hạn bị tạm giam. Số thời gian còn lại được xoá vì có “thái độ tốt”.

        Suốt những thập kỷ qua, tám mươi sáu tù nhân bị giết mà xương của họ nhẽ ra đã trở thành giáo cụ trong hệ thống giáo dục chính trị và chủng tộc của nước Đức Quốc xã vẫn là những người vô danh. Ở họ không còn lại một thứ gì trừ số hiệu tù nhân trại tập trung.

        Mãi đến năm 1998 sự việc này mới được một nhà báo Đức là Hans Ioahim Lang quan tâm. Nhờ làm việc nhiều thời gian ở các phòng lưu trữ ông đã đối chiếu được số tù nhân trại tập trung và biết được tên họ. Những tù nhân bị đưa đến Osventsim bằng hai đoàn tàu vào các ngày 1 tháng 12 năm 1942 và 19 tháng 5 năm 1943. Đó là những đàn ông, đàn bà quê ở tám nước khác nhau. Mười chín phụ nữ và hai mươi sáu đàn ông bị đưa đến từ Hy Lạp, hai mươi ba đàn ông và ba phụ nữ từ Đức, sáu phụ nữ từ Bỉ, bốn đàn ông từ Ba Lan, hai đàn ông từ Hà Lan, hai từ Pháp và một từ Na Uy.

        “Bọn tội phạm phải không được phép nói lời cuối cùng - Hans Joahim Lang, người đã bỏ ra sáu năm cho việc tìm tòi này, giải thích mục đích của mình - tên của họ nằm sâu trong tủ phiếu của bọn tội phạm; nếu ai muốn thì có thể tìm thấy ở đó. Tôi cần phải tìm thấy và giữ trong ký ức của loài người những người đã bị giết dưới danh nghĩa mục đích khoa học hư ảo và những người bị lấy đi tên tuổi.

        Người thợ điện Paul Krotoshiner bị Gestapo bắt trong thời gian “vệ sinh” xí nghiệp. Cô thợ may Brandel Grub vùng Diusendorfskaya chạy sang Bỉ để tránh bọn phát xít và rơi vào tay Gestapo sau khi nước này bị chiếm đóng. Zanet PaSSman sinh ra ở Fogelzang là vợ goá của một thương nhân cùng Gelzenkirkhen. Frank Zakhnovits - một thanh niên Na Uy mười bảy tuổi. Ikhai Litchi sinh ra ở Hy Lạp và là thợ đóng giày ở Paris, là bố của bốn đứa trẻ: một gái và ba trai, trong đó một đứa tên là Andri.

        Andri hiện vẫn còn sống và đã gần bảy mươi tuổi. Ông không còn kỷ vật nào của cha mẹ: “không ảnh, không thư”.

        Tháng 10 năm 1943 ở Luân Đôn đã thành lập uỷ ban liên hiệp các quốc gia về điều tra tội ác chiến tranh của Đức Quốc xã.

        Nhiệm vụ chính của uỷ ban là lập danh sách các tội phạm Quốc xã. Mỗi nước trong uỷ ban thuộc liên minh chống Hitler đã thông báo cho uỷ ban tên bọn tội phạm hoạt động trên lãnh thổ của mình.

        Uỷ ban đã hoàn thành công việc vào năm 1948. Thời đó trong danh sách có ba mươi sáu ngàn tên. Trong số đó hai mươi lăm ngàn thuộc loại A - nghĩa là có cơ sở xác đáng để đưa chúng ra xét xử. Tuy nhiên đại đa số những tên Quốc xã có tên trong danh sách này lại thoát khỏi sự trừng phạt một cách an toàn. Lợi dụng tình hình rối ren sau chiến tranh ở Châu Âu, rất nhiều tên Quốc xã đã chạy và lẩn trốn ở Mỹ La tinh và Cận đông - những nơi dễ trà trộn. Trong số đó có cả những tên tội phạm như viên sĩ quan SS Aloiz Brunner còn có tên “Eihman thứ hai”. Trong số những tên Quốc xã còn sống sót và trốn được sự trừng phạt thì Aloiz Bruner là tên đê tiện nhất.

        Hắn sinh ra ở Áo và ít giống với hình ảnh nhũng tên SS tóc vàng, mắt xanh được vẽ trên các băng quảng cáo. Hắn không cao, tóc hơi đen - những đồng sự của hắn thường gọi hắn là “gã Do Thái của chúng ta”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2018, 08:03:11 pm »


        Năm mười chín tuổi hắn gia nhập đảng. Sau khi sáp nhập Áo và Đức, hắn gia nhập SS. Hắn được phong hàm hạ sĩ quan nhân dịp ngày sinh Quốc trưởng 20 tháng 4 năm 1940, hàm sĩ quan - ngày 9 tháng 11 năm đó và hàm sĩ quan cao cấp ngày 30 tháng 1 năm 1942 nhân dịp kỷ niệm hàng năm ngày phái Quốc xã lên nắm chính quyền. Đó là sự công nhận công lao trong việc đuổi bốn mươi bảy ngàn người Do Thái ra khỏi Viên. Eihman chuyển hắn về bộ máy trung tâm ở Berlin.

        Bruner chỉ huy việc dẫn độ người Do Thái từ Tiệp, Hy Lạp, Áo và Pháp vào các trại giết người. Sau khi Đế chế thứ ba sụp đổ, hắn làm tài xế xe tải và mang hộ chiếu giả với tên Aloiz Shmaldinst. Năm 1954 khi bị theo dõi hắn đã kiếm đươc visa nhập cảnh Ai Cập và chạy đến Cairo. Ở Cận đông người ta rất cần những tên Quốc xã. Vào cuối những năm năm mươi, hắn tìm được nơi ẩn nấp ở Siri và ở đó hắn được giao việc theo đúng chuyên môn. Nhiều nước đã đề nghị chính phủ Siri trao tên tội pham chiến tranh Brune thế nhưng ở Damask họ luôn trả lời rằng trên lãnh thổ Siri không có con người này.

        Những số khác được thoát khỏi giá treo cổ hoặc khỏi bị tù đầy nhờ có “chiến tranh lạnh”, khi mà phương Tây sợ cộng sản đến mức không còn sợ những tên cựu Quốc xã và bắt đầu thả chúng sang Mỹ, Anh, Canada và Úc. Chúng lập nghiệp ở đó và thậm chí được nhận cả quốc tịch.

        Nền dân chủ mà chúng căm ghét trong thời kỳ Quốc xã thậm chí đã bảo vệ quyền của kẻ thù hung dữ nhất của mình. Trong thời gian chiến tranh ở các nước thuộc liên minh chống Hitler, không ai nghĩ đến việc thu thập nhũng bằng chứng hoàn toàn có cơ sở về các tội ác của bọn Quốc xã. Thường đó chỉ là những lời khai của nhân chứng được ghi chép không chính xác và đôi khi chỉ là nhắc lại lời người khác. Ở những nước có hệ thống luật pháp phát triển thì chỉ căn cứ vào điều đó chưa thể đủ để buộc tội một người. Có thể nói rằng trong cuộc đấu tranh chống các tội phạm Quốc xã thì cán cân công lý đã bị thất bại thảm trại.

        Riêng một thực tế là chúng có thể lẩn trốn đã tạo ra xung quanh bọn Quốc xã một cái gì đó giống như một vầng hào quang anh hùng. Người ta nói, chúng thật can đảm và tháo vát. Nhưng trên thực tế chỉ đơn giản là chăng ai đi tìm chúng cả.

        Bộ phận lưu trữ của Liên hiệp quốc nằm ở tầng cuối cùng của một toà nhà cũ mười hai tầng ở New York. Bên cạnh thang máy người bảo vệ ngồi trong trạm gác chắn kính. Theo yêu cầu của khách anh sẽ gọi các nhân viên lưu trữ liên hiệp quốc. Ở đây lưu giữ hồ sơ của gần ba mươi bảy ngàn tội phạm chiến tranh gồm người Đức, người Áo, người Nhật và những người Đông Âu. Đó là kết quả công việc của uỷ ban liên hiệp được thành lập ở Luân Đôn tháng 10 năm 1943 về tội ác chiến tranh.

        Càng ngày việc tìm kiếm các tội phạm Quốc xã càng trở nên phức tạp. Đối thủ chính của các dự thẩm viên là thời gian. Nhiều nhân chứng đã chết, trí nhớ của họ suy giảm. Và cũng không phải lúc nào họ cũng muốn làm chứng chống lại những đồng chí cũ, một bộ phận nhân chứng cũng chính lại là các cựu đảng viên Quốc xã hoặc kẻ tiếp tay cho chúng.

        Ở một mức độ nào đó thì cũng có thể tự an ủi rằng tuy nhiều tên Quốc xã đã trốn được toà án và nhà tù nhưng dù sao thì chúng cũng đã bị trừng phạt. Chúng bị trừng phạt bằng sự sợ hãi. Trong suốt những năm sau chiến tranh chúng luôn sống trong cảnh sợ hãi bị vạch mặt.

        Người ta cho rằng những tên cựu Quốc xã lẩn trốn ở Mỹ La tính đã thành lập một quốc tế đen, rằng chúng không đầu hàng mà đang tiếp tục chiến đấu cho những lý tưởng của Hitler. Người ta gọi Martin Borman và Iozef Mengele là lãnh tụ của những tên Quỏc xã sống sót.

        Tất cả những điều đó là bịa đặt.

        “Cấm người Dỉ-gan vào cửa’’ (Leni Rifenshtal)

        Những người chủ nghĩa xã hội dân tộc Đức trong mười hai năm không chỉ giết chết sáu triệu người Do Thái mà còn giết sáu trăm ngàn người Di-gan - những người bị chúng gọi là tội phạm bẩm sinh và sản phẩm nguy hiểm của sự pha trộn chủng tộc.

        Từ thuở xưa kia khoảng một ngàn năm trước đây những người Di-gan đã rời bỏ miền bắc Ấn Độ nhưng vẫn giữ trong ngôn ngữ không ít từ chữ Phạn. Họ sống lang thang nay đây mai đó khắp Châu Âu để tìm một chỗ mà họ ưa thích. Để không bị nhầm với “người Ai-Cập (điều này đã xảy ra với người Anh khi gọi họ là “Jersey”) vào thế kỷ thứ XV nhóm đông thành viên nhất đã tự gọi mình là những “người tối đen”, còn ngôn ngữ của họ là “Át-di-gan”.

        Trong những thời kỳ yên bình trong lịch sử Châu Âu, người ta đối xử khoan nhượng đối với những bộ lạc thợ thủ công tài ba và các nhạc công bẩm sinh. Còn vào những giai đoạn khó khăn, loạn lạc, những đám người hung hãn xua đuổi khắp mọi nơi “những tên bịp bợm đó”.

        Tại sao ở nước Đức Quốc xã người Di-gan bị giết?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #68 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2018, 08:03:47 pm »


        Ở góc độ sinh hoạt câu trả lời có vẻ quen thuộc đối với chúng ta. Những người tóc đen với nước da màu ô-liu thường bị hoài nghi trong con mắt của những công dân tử tế.

        Những người Di-gan không chỉ nói bằng tiếng riêng của họ, ăn mặc theo kiểu riêng mà còn cư trú riêng, sống lang thang nay đây mai dó, không đến nhà thờ, không đưa trẻ tới trường. Việc không muốn giống như những người khác là nguyên nhân chính làm những người xung quanh khó chịu.

        - Có thể chờ đợi bất cứ điều gì ở những người Di-gan đó. Chúng ăn cắp trẻ con... chúng là những tên trộm...

        Mỗi khi nhìn thấy dân Di-gan, những bà chủ thường kéo lũ trẻ đi và đóng cửa. Những người đàn ông nói với nhau một cách tức giận:

        - Tại sao đến giờ mà người ta vẫn chưa bỏ tù chúng?

        Nhưng đó chưa phải là nguyên nhân để xua đuổi và giết hại. Những chủ nhân các danh hiệu và học hàm khoa học đã tìm ra nguyên nhân.

        Trong viện nghiên cứu nhân chủng học thuộc trường đại học Tiubingen cách đây không lâu vẫn còn lưu giữ tủ phiếu ghi hai chục ngàn người Di-gan bị giết: Các giá cỡ mười sáu mét chứa đầy các cặp tài liệu với những số đo, ảnh chụp, vân tay, vân chân, với những tấm thẻ và sơ đồ, với danh sách những họ hàng gần xa cũng như các biên bản thí nghiệm gen và chủng tộc thay thế cho những bản tuyên phạt của toà án trong thời kỳ Quốc xã.

        Phán quyết “tử hình” không phải do những luật sư đưa ra mà là do các nhà sinh học Đức - những người sau khi nghiên cứu hồ sơ cá nhân luôn đi đến một kết luận: mẫu vạt này không chỉ không có giá trị đối với xã hội mà còn nguy hiểm đối với nó.

        Các nhà sinh học Đức khẳng định:

        “Người Di-gan là sản phẩm của sự pha trộn chủng tộc, trong đó chủ yếu pha trộn với bọn tội phạm hình sự và dẫn đến việc tạo ra tầng lớp vô sản lưu manh Di-gan. Chúng ta công nhận bọn Di-gan là loại sơ khai nguyên thủy. Sự lạc hậu về phát triển tri thức đã làm cho chúng không có khả năng đối với cuộc sống và xã hội.”

        Cộng tác viên của viện nghiên cứu Frankfurt về sự tinh khiết chủng tộc, Robert Ritter đã đưa ra một “công trình khoa học” về người Di-gan với kết luận sau đây: “Chỉ có chặn đứng được sự nhân giống của các dân tộc pha trộn này thì mới có thể giải phóng được các thế hệ tương lai của nhân dân Đức khỏi gánh nặng đó.”

        Ngày 16 tháng 12 năm 1938, Tư lệnh SS Henric Himler ra lệnh “đăng ký trong cảnh sát tất cả những cá nhân sống theo phong cách lang thang Di-gan, và kiểm tra các dấu hiệu chủng tộc - sinh học của họ”.

        Thực hiện chỉ thị này, người đứng đầu cơ quan an ninh đế chế, Reinchard Heidric đã tiến hành một cuộc hội nghị tháng 9 năm 1939, tại đó đã quyết định đưa tất cả người Di-gan vào các trại tập trung được thành lập trên lãnh thổ Ba Lan.

        Người được uỷ quyền về “giải quyết dứt điểm vấn đề Do Thái” - sĩ quan SS Adolf Eihman đề nghị “móc thêm vài toa tàu chứa Di-gan vào mỗi đoàn tàu Do Thái” chở đến các trại tập trung. Nhưng những đường sắt đế chế đã quá tải vì vận chuyển quân sự, do đó cơ quan an ninh đã phải nhồi nhét dân Di-gan vào các trại tập trung địa phương hoặc xây các trại mới.

        Ngàv 5 tháng 7 năm 1940, cố vấn của cảnh sát hình sự vùng Zaltsburg - sĩ quan SS Biomer báo cáo cho cấp trên ở Berlin:

        “Người chỉ huy cảnh sát bảo vệ và cơ quan an ninh đã chuẩn y việc di cư Di-gan từ Ostmark (người Đức gọi nước Áo như vậy sau khi Áo bị sáp nhập vào đế chế - lời tác giả). Để thi hành mệnh lệnh tốt hơn và liên tục, tôi định tập trung trước tất cả những người Di-gan vào trại tập kết ở Zaltsburg, nếu không có thể bỏ lỡ cơ hội tốt để thoát khỏi bọn họ trong một tương lai gần”.

        Những người Di-gan bị dồn tới đây tự xây dựng trại cho mình trên các dồng cỏ vùng đầm lầy Maksglan, ngoại ô Zaltsburg: họ dựng lều, nhà cho lính canh, hai tháp canh, rào khu vực bằng dây thép gai...

        Sau chiến tranh, toà án Áo xét xử vụ việc của trại tập trung dành cho người Di-gan. Toà đã xác định được như sau: “Người nấu bếp của trại thường xuyên đi xe từ trại đến thảnh phố mua hàng. Hắn ngồi trên xe kéo và buộc những đứa trẻ - tù nhân thay cho ngựa kéo. Nếu chúng kéo xe quá chậm thì hắn vụt chúng bằng gậy hoặc roi. Những tù nhân người lớn dần dần bị chuyển đến Osventsim hoặc Bukhenvald và sau một thời gian nào đó từ đây phát đi tin họ đã chết.”

        Một lần Leni Rifenshtal - một nữ diễn viên nổi tiếng và một đạo diễn còn nổi tiếng hơn đã xuất hiện ở trại.

        Thời trẻ nữ diễn viên này rất thích nhảy múa và nghiên cứu hội hoạ. Cô gái chỉ nhảy có một mùa hè sau đó đầu gối bị hỏng. Khi xem bộ phim của Arnld Frank “Quả đồi như số phận”, nghệ thuật điện ảnh đã thu hút cô hoàn toàn. Năm 1926 lần đầu tiên cô đóng phim “Quả đồi thiêng liêng”, sau đó là “Địa ngục trắng trên đỉnh Paliu”, “Thuốc phiện trắng”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2018, 02:51:18 am »


        Năm 1932 cùng với Bela Balash cô dựng phim “Tia sáng xanh”. Cô dựng các bộ phim và đóng phim. Cũng năm đó cô quyết định đưa vở nhạc kịch D'Albera với cốt chuyện lãng mạn lên màn ảnh. Một cô gái múa xinh đẹp dã rơi vào tay một lãnh chúa tàn ác - người áp bức nông dân địa phương.

        Leni Rifenshtal tự đóng vai cô gái múa. Còn ai đóng vai những nông dân Tây Ban Nha, vai lãnh chúa, vai người hầu? Điện ảnh có khả năng giải quyết mọi vấn đề với việc sử dụng hoá trang, quần áo, bài trí. Khán giả xem phim không phải là các nhà dân tộc học mà là những người bình thường. Nhưng Leni Rifenshtal sẽ không bao giờ thành công nếu cứ di theo đường mòn... Cô quyết định là người Di-gan sẽ đóng vai những người Tây Ban Nha.

        Bất kỳ một đạo diễn nào chắc sẽ khá tốn kém đối với công việc to lớn này: Phải tụ tập dược dược một số lớn người Di-gan, thuyết phục họ đóng phim và đi đến địa điểm quay phim và trả thù lao hậu hĩnh. Bất kỳ dạo diễn nào nhưng không phải là Leni Rifenshtal.

        Ớ đệ tam đế chế, mọi cánh cửa đều rộng mở đối với cô. Sau những phim về đại hội đảng “sự khải hoàn của ý chí và về thế vận hội 1936 ở Berlin không ai từ chối cô về một điều gì. Ban lãnh đạo đất nước đánh giá cao những nghệ sĩ tuân theo các tư tưởng của đảng, của nhân dân trong nghệ thuật của mình.

        Rifenshtal bắt tay vào việc quay phim năm 1940. Công việc quay phim kéo dài nhiều năm. Cuộc chiến tranh đẫm máu với nước Nga đang diễn ra nhưng đảng vẫn không quên Rifenshtal. Trong danh sách các công việc có ý nghĩa quốc phòng năm 1942 có cả bộ phim “Miền thấp” của đạo diễn Rifenshtal, việc “sản xuất phim này được thực hiện theo đơn hàng của Quốc trưởng và với sự hỗ trợ của Bộ giáo dục nhân dân và tuyên truyền đế chế”.

        Cùng trong năm đó thư ký của Quốc trưởng, Martin Borman gửi cho Chánh văn phòng đế chế và Bộ trưởng không bộ Hans Lammers thư của Leni Rifenshtal gửi Hitler:

        “Khẩn, trực tiếp! Cùng giao thông viên!

        Về yêu cầu của “Cóng ty trách nhiệm hữu hạn Rifenshtal” đề nghị cấp ngoại tệ với khoản 450 ngàn Lia Italia”.

        Borman gửi cho Lammers một chỉ thị tương tự cho năm sau:

        “Khẩn!

        Như hôm nay Quốc trưởng đã nhấn mạnh, sau khi hoàn thành bộ phim sẽ hoàn vốn ở nước ngoài và mang lại các khoản ngoại tệ to lớn. Vì lẽ đó Quốc trưởng mong rằng Frau Rifenshtal sẽ được trả 240 ngàn Peso Tây Ban Nha.”

        Được phép của Tổng cục an ninh đế chế, với sự hộ tống của lính SS, Leni Rifenshtal đến trại tập trung Maksglan là nơi giam giữ người Di-gan.

        - Một hôm Leni Rifenshtal đi ô tô đến cùng với lính SS -  Một người Di-gan tên là Iozef Reincharđt nhớ lại - chúng tôi được lệnh xếp hàng. Và bắt đầu chọn người. Bà chọn năm trong số mười chín người trong gia đình tôi. Họ nhốt chúng tôi vào một căn buồng, cửa sổ bịt bằng lưới sắt.

        Leni Rifenshtal chọn cho mình tám mươi người đóng vai phụ - lính canh giải họ đến nơi quay phim.

        Việc quay và lồng ghép bộ phim diễn ra suốt thời gian chiến tranh. Say mê với công việc, Rifenshtal kỳ vọng đạt tới sự hoàn hảo nghệ thuật. Bà giảng đi giảng lại nhiều lần cho những người Di-gan từ trại tập trung là cần phải thể hiện cuộc sống hạnh phúc của nông dân Tây Ban Nha như thế nào.

        Một thanh niên Di-gan là một trong số những người đóng phim lâu nhất đã cả gan đề nghị bà giúp đỡ:

        - Gia đình chúng tồi là một gia đình có danh tiếng. Không một ai trong chúng tôi bị tù tội. Bà có thể giúp chúng tôi chút gì không?

        Leni Rifenshtal chỉ nghĩ về bộ phim và nhẹ nhàng dồng ý giúp đỡ:

        - Tất nhiên, tôi sẽ thử giải phóng cả gia đinh anh, hay tối thiểu là đưa về Berlin.

        Nhưng việc quay phún đã xong. Những người Di-gan -  những người được làm người Tây Ban Nha không lâu lại được trả về trại tập trung. Tháng 5 năm 1943, theo đề nghị của viên sĩ quan cao câp SS Eihman, những người Di-gan được dùng đến. Trại Maksglan bị đóng cửa, người Di-gan bị đưa tới Osventsim - vào trại giết người.

        - Tôi có tình yêu dặc biệt với người Di-gan - sau này bà Leni Rifenshtal nói - tôi luôn dành cho họ sự tôn trọng đặc biệt, có Chúa chứng giám điều đó.

        Cũng có những nhân chứng khác. Ở Osventsim, cũng như đến nơi quay phim của Rifenshtal - người Di-gan bị giải đi cả gia đình. Trong số những người tham gia đóng phim của bà hầu như không có ai sống sót.

        Chỉ có mỗi cậu thanh niên đã cầu xin Rifenshtal giúp đỡ là còn sống sót. Một người trong cả gia đình được tham gia vào nghệ thuật điện ảnh.

        Nhiều năm sau chiến tranh, anh kể rằng tất cả những người dược đóng phim của Rifenshtal đều chờ đợi sự giúp đỡ của bà nhưng họ chẳng được gì. Leni Rifenshtal không đơn giản là một đạo diễn mà còn là một người mẫu mực mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa Đức. Bà là một người phụ nữ rất hạnh phúc, sức khoẻ, phong cách sống đúng mực và việc trẻ hoá tế bào trong một bệnh viện ở vùng núi Al-pơ đã giúp bà sống đến chín mươi tám tuổi và được giải thưởng tại liên hoan phim ở thành phố trước kia mang tên Leningrad - thành phố bị thiệt trại nhiều nhất do bàn tay của các bạn Quốc xã của bà. Hơn nữa giải thưởng lại được trao cho bà ngày 22 tháng 6 năm 2001 ở tại nước Nga tựa như sự nhạo báng đối với cảm xúc của những người còn chưa quên được chiến tranh.

        Bản thân Leni Rifenshtal cũng nói rằng đó là phần thưởng quý giá nhất đối với mình, rằng bà “sửng sốt” về sự đón tiếp ở Nga dành cho bà. Điều đó đúng. Sau năm 1945, những người đứng đắn không chìa tay, hơn nữa không nơi nào ở Châu Âu người ta lại nồng nhiệt chào đón bà như vậy với sự tôn sùng như ở Piter - thành phố đã phải trải qua cuộc bao vây...
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM