Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:03:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yamamoto và những trận đánh quyết định  (Đọc 12120 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:25:59 am »

 
CHƯƠNG VI

CHIẾN LƯỢC MỚI

        Chiến thắng của Hoa Kỳ trên đảo Guađalcanal đã đưa mặt trận xa về phía đảo Rabaul, nơi quân Nhật dang đóng đại bản doanh tại Thái Bình Dương.

        Hòn đảo này trước đây do người Úc chiếm, nhưng sau đó phải bỏ đi vì núi lửa trên đảo hoạt động trở lại. Khi xảy ra chiến tranh, quân Nhật đã tới lập doanh trại. Trên đảo toàn là rừng rú, mưa lũ ngập lụt, ướt át, ẩm thấp quanh năm. Muỗi, vắt, bò cạp, nhện độc lớn bằng chiếc dĩa và vô số các loại rắn rít khác.

        Đặt căn cứ tại đây, Yamamoto vẫn còn hy vọng cắt đứt đường tiếp tế của Đồng Minh và tiến đánh Úc châu. Kể từ mùa Xuân, căn cứ Truk đã được củng cố chu đáo. Yamamoto hình như muốn tới thăm Rabaul để xúc tiến cuộc phản công đã bị trì hoãn từ lâu nay. Lúc này là thời gian thuận tiện, các phi cơ đã được bổ sung đẩy đủ. Lần đầu tiên trong chiến tranh, Nhật sản xuất tới 500 máy bay trong một tháng. Tokyo ra lệnh cho Isoroku tiến xuống phía Nam.

        Yamamoto cho rằng chính vì sự chỉ huy thiếu thống nhất trong quân đội nên Guadalcanal đã bị mất. Sự kèn cựa giữa Bộ binh và Hải quân càng ngày càng ráo riết. Bộ binh lo đóng riêng lấy các hải vận hạm và tàu ngầm của mình. Hải quân lập xưởng chế tạo động cơ riêng. Phe nào cũng muốn nắm quyền kiểm soát các kỹ nghệ. Quân đội lúc này có ba đài khí tượng riêng cho bộ binh, không quân và hải quân, Sự thiếu thống nhất về đường lối chiến lược tổng quát có thể dẫn tới những sụp đồ trầm trọng.

        Yamamoto có một niềm vui nhỏ, khi bạn cũ là Trung Tướng Imamura ghé thăm ông trên đương đi nhậm chức Chỉ huy trưởng Lộ Quân 8 tại Rabaul. Imamura gặp Yamamoto trên Soái hạm Musashi neo tại Truk, và báo tin mừng Bộ binh sắp gởi hai Sư đoàn mới xuống phía Nam Thái Bình Dương. Nhưng Yamamoto thúc ông phải đòi Tokyo gởi thêm nữa mới đủ. «Chúng ta đã bị thiệt hại nặng. Không lực địch đang cắt đứt các đường tiếp tế của ta. Chừng nào tới Rabaul, tôi nhờ anh nghiên cứu sự chênh lệch giữa Không lực của ta và địch. Và chắc chắn thể nào anh cũng thấy mình cần thêm nhiều phi cơ nữa.»

        Hai người dùng cơm với các sĩ quan Tham mưu trên Soái hạm, và sau đó ngồi nói chuyện riêng. Nét mặt Yamamoto đầy vẻ nghiêm trọng : « Tình hình đã thay đồi nhiều. Lúc chiến tranh mới khởi sự, một phi công của ta sức chiến đấu ngang với năm phi công địch. Nhưng hiện nay ưu thế đó không còn nữa. Trong trận Midway ta đã bị thiệt nhiều phi công giỏi, và cho tới nay cũng vẫn chưa được bổ sung. »

        « Bây giờ phi công địch giỏi hơn hay sao ? »

        Yamamoto không muốn ca tụng địch : « Dĩ nhiên càng huấn luyện thì càng tiến bộ. Nhưng vấn đề khó khăn của chúng ta là về kỹ thuật chế tạo và trang bị phi cơ chiến đấu. Những phi công điêu luyện của ta hiện đang phải đem tài sức khéo léo để đối phó với các loại phi cơ tối tân của địch. »

        Trước khi chia tay, Yamamoto nói thêm : « Hiện nay tỷ lệ tương đương giữa ta và địch là một chọi một hoặc hai. Nhưng số bổ sung hàng ngày của địch gấp ba lần của ta. Vì vậy trong tương lai sự tương quan lực lượng sẽ cách biệt rất lớn. Tình thế thật là khó khăn cho ta. Về phương diện Khoa học, hình như người mình không tiến thêm được bước nào. Kỹ thuật sản xuất vũ khí và trang bị cũng quan trọng không kém gì tinh thần của binh sĩ, nhất là đối với Không quân. »

        Lúc Tướng Imamura rời tàu, Yamamoto vẫn can đảm hứa với ông sẽ nỗ lực yểm trợ để đánh đuổi quân địch về phía Tây qua quần đảo Solomon.

        Vào tháng Ba năm 1943, sau trận thất bại quá nặng nề tại vùng biển Bismarck, Không quân Nhật ở Thái bình dương chỉ còn tất cả chừng 300 chiếc, trong đó hết 200 chiếc là của Hải quân. Tokyo không tăng viên bổ sung các tổn thất của Tướng Imamura. Phi cơ Đồng Minh hầu như bay tự do trên doanh trại của ông.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:26:29 am »

       
        Cuối tháng Ba năm 1943, Yamamoto đề nghị vói Đề đốc Kusaka, chỉ huy trưởng tại Rabaul, đem 300 máy bay từ bốn hàng không mẫu hạm của Đệ Tam Hạm Đội căn cứ tại Truk họp với các phi đội của Bộ binh để đánh phá các vị trí Đổng minh tại quần đảo Solomon và New Guinea, đồng thời tiêu diệt không lực Hoa Kỳ trong vùng này. Ông gởi các sĩ quan tham mưu đi Rabaul trước, và ông sẽ tới sau với các chi tiết của kế hoạch, được mệnh danh là cuộc Hành quân I, đánh phá các hải cảng và phi trường tại Tulagi và Guadalcanal.

        Yamamoto bay tới Rabatil ngày 3 tháng Tư, một ngày trước khi cuộc Hành quân khởi sự. Ông nhận thấy Rabaul thật là một căn cứ vĩ đại, còn hơn cả ở Truk, với năm phi trường và một hải cảng trải rộng với khoảng 100.000 binh sĩ đồn trú trong các doanh trại san sát. Ngoài ra, Rabaul còn nổi tiếng vỉ có 600 quân điếm gồm các phụ nữ Triều Tiên và Nhật để hộ lý cho các sĩ quan và binh lính trên đảo.

        Yamamoto tới đảo được các sĩ quan tham mưu đón ngay về Tổng hành dinh của Đô đốc Kusaka. Hai người bắt tay mừng rỡ và bàn ngay tới cuộc Hành quân ngày mai. Nhưng hôm sau đó cả vùng bị mưa dông tầm tã ba ngày liền khiến cuộc hành quân cũng phải dời lại.

        Tư thất dành riêng cho Yamamoto ở ngay cạnh Bộ Tư Lệnh, nhưng ông rất ít ở nhà. Thường thường người ta thấy ông ở tại các phi trường để thăm hỏi binh sĩ, hay trong bệnh viện, an ủi thương bệnh binh.

        Trước rạng đông ngày 7 tháng Tư, các oanh tạc cơ cất cánh bay nhập với các đoàn máy bay đông đảo ở Ballale để mở cuộc tấn công. Yamamoto đứng ở phi trường vẫy chào các phi công cho tới chiếc chót.

        Đợt tấn công đầu tiên gồm tất cả 188 chiếc, trong số có 117 chiến đấu cơ Zero và 71 oanh tạc cơ, nhắm thẳng hướng Guadalcanal và Tulagi bay tới đánh phá. Họ bất chấp các đợt phi cơ Đồng minh từ dưới bay lên chận đánh, cứ việc nhào xuống các chiến hạm và phi trường địch bắn phá, oanh tạc. Trận không chiến gần phi trường Handerson dữ dội nhất. Hàng trăm phi cơ quần thảo, rượt đuổi nhau trên một vùng trời rộng 400 cây số vuông, trong suốt ba giờ đồng hồ.

        Sau khi trút hết bom, đạn các phi công Nhật trở lai phi trường ở Rabaul và nhận thấy Yamamoto đã đứng chờ sẵn ở đó để đón họ. Mọi người có cảm tưởng như suốt từ sáng tới giờ ông vẫn đứng chờ yên một chỗ. Kết quả trận đánh đầu tiên được báo cáo: hai mươi sáu chiến hạm Đổng minh bị đánh chìm. Phía Nhật mất hai mươi mốt phi cơ. Tổn thầt hơi cao, nhưng so với thiệt hại của địch như vậy, Bộ Tham mưu cũng tạm hài lòng. Yamamoto cho rằng đánh Guadalcanal như vậy đủ rồi, và ông hạ lệnh tấn công các căn cứ khác của Đồng minh. Các phi công tập họp ở phi trường, Trước mặt họ có một tấm bảng ghi tên từng người và từng tên chiến hạm hay máy bay địch họ đã hạ được. Họ nghiêm chỉnh đưa tay chào khi Yamamoto xuất hiện trong bộ đồ trắng của một vị Đô đốc Hải quân, Ông dùng những lời lẽ hùng hồn, cảm động khuyến khích mọi người.

        Ngày 11 tháng Tư, một phi đội gồm chín mươi bốn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ đánh vào vịnh Oro, ở New Guinea khiến sáu chiến hạm và hai mươi mốt phi cơ đồng minh bị phá hủy. Phía Nhật chỉ bị mất có sáu chiếc.

        Ngày 12 tháng Tư, Yamamoto phái 174 phi cơ tới bắn phá hải cảng ở New Guinea, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Tướng MacArthur và Kenny, phá hủy hai mươi tám phi cơ địch, đánh chìm một hải vận hạm và làm hư hại nặng phi trường.

        Những thắng lợi trên đã khiến Yamamoto và mọi người đều lên tinh thần. Ngày 13 tháng Tư, Kusaka mở tiệc họp mặt các cựu sinh viên sĩ quan Trường Hải quân Etajima. Yamamoto mang tới hai chai johnny Walker để góp vui.

        Hôm đó, tại căn cứ thủy phi cơ ngoài khơi Bougainville, tin tức về lộ trình thị sát các căn cứ tiền tuyến được loan báo cho tất cả các Bộ Chỉ huy trong vùng. Đô đốc sẽ rời Rabaul lúc 6 giờ sáng để tới thăm Ballale, Buin và Shortland. Điện văn được mã hóa và xếp vào loại tối mật, có mang chữ ký của Đô đốc Samejima, Chỉ huy trưởng Không đoàn 8.

        Ngày 14 tháng Tư, các phi công đánh phá vịnh Milne và một phi trường gần đó. Kết quả có mười hải vận hạm Hoa Kỳ bị chìm, bốn mươi bốn phi cơ bị hạ. Đây là trận oanh tạc cuối cùng, kết thúc cuộc Hành quân I. Ngày 16 tháng Tư, các phi công họp mặt, mở tiệc mừng chiến công.

        Tổng kết kết quả cuộc hành quân I đem lại là: một thiết giáp hạm, hai khư trục hạm, hai mươi lăm hầi vận hạm của Hoa Kỳ bị đánh chìm, 134 phi cơ bị hạ. Phía Nhật bị thiệt hại 54 máy bay.

        Theo lòi Đô đốc Ưgaki, kết quả to lớn không ngờ đó đã khiên mọi người phấn khởi, và tăng thêm uy tín của Yamamoto rất nhiều. Hôm sau, Ban Tham mưu,bắt đẩư phát họa các cuộc hành quân khác trong tương lái, và Chù Nhật thì Yamamoto lên đường thị sát các căn cử tiền tuyền để ủy lao và ăn mừng chiến thắng với binh sĩ.

*

        Sáng 17 tháng Tư, Yamamoto chủ tọa các cuộc họp tại Bộ Tồng Tư Lệnh trên đảo Rabaul để nghe báo cáo về cuộc hành quân I vừa qua, cân nhẳc các tổn thất và nhu cẩu bổ sung của từng đơn vị. Một vài báo cáo về tinh thần binh sĩ tại tiền đồn khiên ông không được hài lòng. Cuộc họp kéo dài từ sáng cho tới tối. Sau đó, ông trở về tư thầt dùng cơm một mình.

        Hồi trưa, "trong khi ăn cơm, Tướng Imamura đã khuyên ông hoãn chuyến đi thị sát ngày mai lại, vì những tiền đốn đó rầt nguy hiềm, có thể bị máy bay Hoa Kỳ phục kích bầt ngờ. Ông kể chính õng đã bị một lần như vậy, và may mắn thoát được vì phi công đã bay lần vào mây.

        Yamamoto trả lời : «Đúng. Địch đã tới gần pnòng tuyến của ta. Chính vì vậy mà ngày mai tôi phải tới đó.»

        Vào lúc xế trưa, Để đốc Joshima, chỉ huy trưởng phi đoàn II ở Bougainville tới nhấn mạnh thêm những nguy hiềm và yêu cầu đình hoãn chuyền bay. Ông nói với giọng khấn trương : «Nhận được điện văn thông báo lộ trình của Đô đốc, tôi không thể nào nghỉ được chúng ta hành động sơ sót như vậy Làm như vậy có khác gì mời địch tới phục kích cuộc thị sát của Đô đốc.»

        Lúc gặp Yamamoto, Joshirna năn nỉ : «Xin Đô đốc hoãn chuyến đi này lại, vì quá sức nguy hiểm, Hiện nay chúng ta không còn hậu cứ nào ở vùng đó.»

        Yamamoto mỉm cười : «Anh định âm mưu với Imamura cầm chân tôi ở đây sao ? Không sao đâu, đừng lo, Mà dù cho nguy hiểm đi nữa tôi cũng không thể đình hoãn vì anh em ở tất cả những nơi đó đang chờ đợi tôi.»

        Rồi ông quàng tay qua vai Joshima nói tiếp : «Đừng lo, Sáng mai khởi hành, chiều mai là tôi lại ngồi đây ăn cơm với anh chớ có gì đâu.»

        Hay tin Yamamoto nhất định không hoãn chuyến đi ngày mai, Kusaka nói với Kuroshima : «Nếu ông ta nhất định đi vào chỗ nguy hiểm đó thì mình phải tăng cường thêm máy bay hộ tống. Nếu có chuyện xảy ra thì sáu chiếc không ăn thua gì đâu. Anh làm ơn nói với Ugaki lo vụ đó dùm tôi.»

        Nhưng sau đó, Kuroshima cũng bận họp, không gặp được Ugaki để nhắn lại lời của Kusaka.

        Sáng sớm ngày hôm sau, một đoàn gồm sáu chiếc chiến đấu cơ và hai oanh tạc cơ cất cánh vọt lên nền trời vào lúc rạng đông, Đó chính là máy bay chở Yamamoto và đoàn hộ tống.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:34:38 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:36:24 am »

   
CHƯƠNG VII

« TIÊU DIỆT VỚI BẤT CỨ GIÁ NÀO »

        Ngày 1 tháng Tư, Halsey cử Đô đốc Mitscher tới Guadalcanal chỉ huy các lực lượng không quân trong vùng Solomon. Ra đón ông tại phi trường có Đô đốc Mason, và tất cả sĩ quan trong Bộ Tham mưu, trong đó có Trung tá không quân Viccellio và Thiếu tướng TQLC Harrls.

        Mitscher là một trong những vị Đô đốc thuộc loại dữ. Chính vì vậy mà Halsey đã cử ông tới Guadalcanal, là nơi hiện đang có áp lực nặng nề của địch. Ông là người kinh nghiệm hơn bất cứ ai về các hạm đội không lực. Chính ỏng đã xin đi mặt trận Thái Bình Dương trở lại, khi thấy các tiền đồn ở đây đang sôi động và nhiều vị Đô đốc trẻ không muốn đi.

        Vừa tới Guadalcanal, Mitscher đã đi xem xét khắp nơi, từ phi trường, Bộ chỉ huy, cho tới bệnh xá. Điện văn đầu tiên ông gởi cho Halsey ngay đêm đó là yêu cầu cung cấp thêm các tiện nghi cho bệnh xá.

        Ông có thái độ luôn luôn bình thản, dù nghe bất cứ tin vui hay buồn tới đâu cũng vậy. Hồi này Viccellio sáng chế ra một kiểu thả bom mới để đánh các chiền hạm địch. Ông bảo các phi công lái P-38 : «Nếu gặp tàu địch mà thấy còn đủ xăng; trở về thì cứ việc thả bình xăng phụ ở cánh xuống tàu và sau đó bắn đạn vào cho phát hỏa là xong việc.»

        Một hôm Lanphier, Canning và Goerke trên đường trở về căn cứ sau một phi vụ, và chợt nhận thấy một tàu vận tải của địch. Họ liền ào tới, Lanphier và Canning nhào xuống thả các bình xăng phụ lên boong tàu. Goerke bay đàng sau, bắn vào những bình xăng đó, thế là cả chiếc tàu bị thiêu rụi.

        Mitscher đặc biệt khen ngợi sáng kiến trên của Trung tá Viccellio.

*

        Quân Nhật mở trận không tập ở Guadalcanal vào ngày 7 tháng Tư một cách ác liệt nhất. Các trạm quan sát đọc theo bờ biển đã phát hiện phi cơ địch đầu tiên : bốn đợt máy bay địch thẳng tiến vế hướng Cactus, tất cả gồm có 67 oanh tạc cơ Val và 110 chiến đầu cơ Zero. Bộ Chỉ huy cửa Mitscher đưa 67 chiến đấu cơ lên ngăn địch, trong đó có những chiếc Mèo hoang tức loại P-39, Ánh sáng P-38 và Rằn trơi P-400. Ngoài ra còn thêm một số phi cơ loại Giặc biển và Ó biển. Các phi cơ chia nhau bay quần trên độ cao từ 10.000 thước trở xuống, sẵn sàng đợi địch tới. Dưới biển, các chiến hạm vội vã quay đầu chạy trốn ra khơi, có các chiếc Honolulu, Helena, St. Louis và một vài khu trục hạm. Trong cảng chỉ còn lại một vài tàu dầu và những tàu nhỏ,

        Lúc 2 giờ chiểu, màn ảnh ra đa hiện lên dày đặc những phi cơ địch. Lệnh báo động Đỏ được ban ra, và sau đó đổi thành Rất Đỏ, rồi Khẩn cấp. Một đoàn máy bay địch như đám mây đen ào ào bay tới trên đảo Savơ Lập tức các máy bay của Mitscher đợi sẵn từ trên cao nhào xuống và phi cơ Nhật bắt đầu bị rớt lả tả. Trận quần thảo giữa hai không lực Nhật-Mỹ khi ở trên cao, khi sà xuống thấp, lúc đuổi nhau ra khơi, theo nhau vào sâu trong đảo, những chiếc máy bay chiến đấu xoắn xít gầm gừ, cắn xé như một đàn chó sói đói tranh mồi giết nhau. Trên phi trường Henderson và hải cảng Tulagi, các oanh tạc cơ địch cũng đang len lỏi, liều chết nhào xuống bắn phá. Chiếc tàu dầu Kanmvha bốc cháy, mười chín thủy thủ trên tàu bị chết. Hai khu trục hạm Moa của Tân Tây Lan và Aaron Ward của Hoa Kỳ cũng bị chìm, nhưng phi cơ địch không tìm thấy lực lượng chánh của Hạm đội đã chạy trốn được ra khơi.

        Phía địch cũng phải trả một giá đắt. Trung úy phi công TQLC Swett một mình hạ được bảy chiếc Val trước khi trúng đạn, phải hạ cánh khẩn cấp xuống biền. Phi đội của Viccellio từ trên cao 10.000 thước nhào xuống từng cặp một đâm thẳng vào hàng ngũ địch, hạ luôn một hơi bảy chiếc. Lanphier bắn trúng ba, Barber hai, Moore và McLanahan mỗi người được một. Phía Hoa Kỳ mất bảy chiếc, một phi công chết. Sáng ngày 11 tháng Tư, phi cơ địch đánh vịnh Oro ở New Guinea, do đó Cactus được một ngày nghỉ yên,
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:41:46 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:37:37 am »

       
*

        Sáng Thứ Ba 14 tháng Tư, trong lúc Mitscher đang cặm cụi xem các báo cáo với cặp mắt kiếng xệ xuống gần mũi, trông như một ông chủ tiệm tạp hóa, thì bức điện của Halsey đưực đưa tới. Nội dung báo cho Mitscher biết Đô đốc Yamamoto sẽ tới Bougainville vào ngày Chủ nhật. Nếu những phi cơ P.38 căn cứ ở Guadalnacal có thế bay tới hạ phi cơ của Tướng địch, thì yêu cầu cho biết ngay.

        Không ngần ngại, Mitscher trả lời cho Halsey ngay là những phi cơ của ông có thế hoàn tầt sứ mạng đó. Ông rất tin tưởng vào loại P.38 và chắc chắn phi đội 399 có thể làm xong việc này.

        Ông nhìn lên tấm bản đồ lớn trên tường để nghiên cứu vị trí đảo Bougainville rộng lớn nằm ở phía Tây Bắc Guadalcanal với khoảng cách chừng 500 cây số. Trên đảo có vô sô chấm đỏ, đánh dấu những căn cứ và phi trường địch,

        Có vẻ bị khích động, thích thú với sứ mạng nầy, nên không cần đợi thêm lệnh của Halsey, Mitscher đem ngay chuyện thi hành công tác bàn với Viccellio và Đại tá Pugh. Tất cả đều đồng ý, P.38 có thể thi hành công tác, và người chỉ huy nhất định phải là Đại úy Mitchell,

        Sáng hôm sau, điện văn tới tấp bay đến, báo cho biết kế hoạch Yamamoto đã được Hoa Thịnh Đốn và Trân Châu Cảng phê chuẩn với ưu tiên số một, Lệnh được ban ra bởi chính Ông Bộ Trưởng Knox. Kèm theo đó là bảo sao điện văn của địch đã được mở mã khóa và phiên dịch tại Trân châu cảng :

        06 giờ khởi hành tại Rabaul ... 8 giờ tới Ballale. Khởi hành liền sau đó để đi Shortland bằng tiểu đỉnh... tới nơi lúc 08 giờ 40. 09 giờ 45 khởi hành ở Shortland bằng tiểu đỉnh, tới Ballale lúc 10 giờ 30. 14 giờ khơi hành tại Buin bằng oanh tạc cơ, tới Rabaul lúc 15 giờ 40... Trường hợp thời tiết xấu, cuộc hành trình sẽ hoãn lại một ngày.

        Các sĩ quan trong Bộ Tham mưu của Mitscher bàn với nhau không biết Yamamoto sẽ xử dụng loại oanh tạc cơ nào. Nếu là phi cơ kiếu Betty thì từ Rabaul tới Bougainville sẽ phải bay hết hai mươi phút. Liệu thời gian này có chính xác không, hay có thể bị ảnh hưởng bởi sức gió bất ngờ. Cũng có thể Yamamoto sẽ thay đổi thời giờ khởi hành. Như vậy việc đón bắn ông ta ở Bougainville thật là khó. Phải canh giờ làm sao để máy bay bay tới Bougainville vừa đúng lúc phi cơ của Yamamoto xuất hiện, Sau đó tấn công chớp nhoáng và bay trở về liền thì mới đủ xăng. Nếu tới Bougainville mà còn phải bay lòng vòng để chờ đợi thì không đủ nhiên liệu trở về căn cứ.

        Có người còn nghi ngờ đây là tin tức ngụy tạo do địch tung ra để nhử mình lọt vào một cuộc phục kích bất ngờ. Cuối cùng giả thuyết đó bị đánh đổ và mọi người đi tới kết luận : Yamamoto là người rất đúng giờ nên không có vấn để thay đổi giờ giấc bất thường. Đây không thể là kế của địch vì tin này đã được Bộ Tư Lệnh Tối Cao tại Thái Bình Dương xác nhận. Ban tham mưu của Mitscher ấn định những điểm chánh trong kế hoạch hành quân như sau : Xử dụng loại phi cơ P.38 với bình xăng phụ cỡ lớn. Công tác được giao phó cho Phi đội 399 do Mitchell chỉ huy. Những phi công tham dự cuộc hành quân nầy gồm có : Canning, Jacobson, Goerke, Lanphier, Holmes, Barber, Hine.

*

        Mitchell đang ngồi nói chuyện với Viccellio trong lều thì điên thoại reo. Nghe xong, Viccellio bảo bạn : « Tới Bộ Chỉ Huy đợi lệnh ngay».

        « Chuyện gì vậy ? »

        « Thì chắc là chuyện hành quân ở đâu đó chớ gì. » Bước vào phòng hành quân Bộ Tư Lệnh, hai người nhận thấy trong phòng đầy chật các sĩ quan, từ Chỉ huy trưởng trở xuống. Hình như tất cả sĩ quan trên đảo hôm nay đều tụ tập ở đây hay sao mà đông thế !

        Một thiếu tá Hải quân trao cho Mitchell và Viccellio coi bức điện khẩn. Những chữ lớn ở trên đầu tờ giấy màu xanh « Tối Mật » đập ngay vào mắt hai người. Nội dung diện văn nói về lộ trình của Yamamoto từ Rabaul tới Bougainville và cuối cùng là mệnh lệnh hành quân : PHI ĐỘI 399 VỚI CÁC MÁY BAY P.38 CÓ NHIỆM VỤ CHẬN BẮT VÀ TIÊU DIỆT PHI CƠ CHỞ YAMAMOTO VỚI BẤT CỨ GIÁ NÀO. Điện văn mang chữ ký của Bộ Trưởng

        Knox thừa lệnh Tổng Thống Hoa Kỳ.

        Mitchell hỏi Viccellio: «Yamamoto là ai ?»

        «Người đánh Trân Châu Cảng.»

        Sau đó, Đại tá Ring, Trưởng phòng hành quân, kêu Mitchell lại đứng cạnh bản đồ, chỉ cho anh biết lộ trình của Yamamoto và đưa ra hai kế hoạch hành quân: một là chận bắn phi cơ của Yamamoto trên không phận Bougainville, hai là bẳn vào tiểu đỉnh khi ông đang di chuyển trên mặt biển từ Bougainville tới shortland. Sau một hồi suy nghỉ, Mitchell và Lanphier đã chọn kế hoạch một, vì hai người cho rằng nếu bắn vào thuyền máy thì không biềt chiếc nào chở Yamamoto, hơn nữa ông ta có thể bơi thoát vào bờ.

        Đại tá Ring hỏi Mitchell có cần gì nữa không. Anh trả lời :

        «Yêu cầu cung cấp một địa bàn tốt của Hải quân, vì những chiểc địa bàn của không quân gắn trên phi cơ, nhiều khi không được chính xác lắm. » Trong trường hợp này, Đại tá Ring trước đó có cho các phi công biết cần phải bay tới mục tiêu thật chính xác và đúng giờ. Nếu không sẽ không gặp được máy bay của Yamamoto hoặc sẽ không đủ xăng bay trở về căn cứ. Đồng thời phải bay sát mặt biển để tránh ra đa.

        Đô đốc Mitscher xoa tay hài lòng : «Nếu có ai bị rơi vào tay địch thì đừng để chúng hỏi cung.» Nói xong, ông ta đưa ngón tay lên cắt ngang cuống họng ra hiệu. Mitehell gật đầu không nói gì.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:39:48 am »


*

        Thiếu tá Trưởng Phòng Tình báo Hải quân đã gởi một sĩ quan tình báo tới để cùng với Mitchell nghiên cứu các chi tiết của cuộc hành quân.

        Sau một hồi thảo luận và nhận xét cẩn thận vị trí các đảo trên một bản đồ lớn, hai người đồng ý ấn định lộ trình cho chuyến bay công tác đặc biệt này như sau :

        Đường chim bay từ phi trường Henderson tới Bougainville là 500 cây số. Nhưng các phi công không thể bay thẳng như vậy, vì sẽ lọt vào mắt các trạm quan sát của Nhật đặt trên các đảo rải rác giữa hai địa điểm.

        Cất cánh từ phi trường Henderson, trước hết phải bay về hướng Tây để ra cách xa bờ biển khoảng 100 cây số. Muốn như vậy, máy bay phải bay về hướng 265 độ trong vòng 55 phút, tốc độ 400 cây số giờ. Sau đó hướng máy bay lên phía Bắc theo hướng 290 độ bay trong vòng 27 phút, tốc độ giữ nguyên như trước. Kế tiếp lấy thêm về hướng Đông 305 độ, giữ nguyên tốc độ 400 cây số giờ và bay trong vòng 38 phút. Cuối cùng bay theo hướng Đông 20 độ trong vòng 5 phút nữa là tới ngay bờ biển Bougainville, nơi máy bay của Yamamoto hạ cánh. Tới địa điểm này, họ sẽ bay lên cao để chờ phi cơ Nhật tới là nhào xuống tấn công bất ngờ. Thời gian bay từ căn cứ tới mục tiêu hành quân như vậy là 2 tiếng 5 phút. Họ có thể đi sớm hơn 5 phút nữa để phòng hờ phi cơ của Yamamoto tới trước thời biểu. Máy bay chở Yamamoto cất cánh tại Rabaul lúc 6 giờ, nếu bay với tốc độ 350 cây số giờ thì tới Bougainville vào lúc 9 giờ 45 phút. Lúc đó máy bay còn cách phi trường Bougainville khoảng từ 50 tới 60 cây số. Giờ khởi hành của Mitchell sẽ là 7 giờ 35 phút và tới mục tiêu vào khoảng 9 giờ 40 phút.

        Bàn định xong kế hoạch với đầy đủ chi tiết, Mitchell trở về lều vào lúc khuya gần nửa đêm. Không ngờ anh em đã hay tin chàng có một cuộc hành quân đặc biệt, và ai cũng muốn xin đi theo.

*

        Mitchell bắt đầu thuyết trình các chi tiết hành quân với các phi công vào lúc nửa đêm. Chàng nhìn mọi người lên tiếng : «Tôi muốn mọi người cùng đi trong chuyến này, nhưng công tác chỉ hạn chế cho một số tham dự mà thôi. Sau đây là toán tấn công gồm có : Lanphier, Barber, McLanahan và Moore. Toán yểm trợ do tôi dẫn đầu gồm có Jacobson, Holmes, Hine, Canning, Goerke, Kittle, Strat- ton, whỉttaker, Graebner, Long, Anglin, Smith, Ames. »

        Mitchell chiếu đèn bin lên bản đồ. « Chúng ta tới đây để đón bắn hạ Yamamoto. Nhưng không chắc có gặp mục tiêu hay không. Tuyệt đối tránh mọi đụng độ dọc đường trước khi mục tiêu xuất hiện. Tiêu diệt xong mục tiêu, phải trở về căn cứ ngay. Đường bay hành quân như sau : Chặng một hai trăm sáu mươi lăm độ trong năm mươi lăm phút, bốn trăm cây số giờ,.. » Các phi công cắm cúi ghi chép cần thận lên bản đồ cá nhân.

        Mitchell lên tiếng tiếp:« sau đây là các tiêu lệnh hành quân đặc biệt : Khởi hành bảy giờ mười phút, bảy giờ hai mươi lăm sắp xong đội hình. Thời gian bay tới mục tiêu là hai giờ mười phút. Toán tấn công gồm bốn chiếc do Lan- phier dẫn đầu. Trường hợp bất trắc, Holmes và Hine ở Toán sau sẽ lên thế vào toán trước để giữ đủ số bốn người. Theo dự định Yamamoto sẽ tới Bougainville vào khoảng chín giờ bốn mươi lăm ngày mai bằng oanh tạc cơ kiểu Betty, có chừng sáu chiếc Zero hộ tống. Nhiệm vụ chúng ta là tiêu diệt chiếc phi cơ chở ông ta. »

        Một phi công hỏi : «Yêu cầu cho biềt cao độ.»

        «Vào khoảng hai ngàn thước. Cũng có thể lên tới ba ngàn thước. Theo dự đoán, máy bay địch sẽ bay ở độ cao dưới ba ngàn thước để khỏi xử dụng dưỡng khí, và lúc này phi cơ địch sắp sửa hạ cánh.

        «Dù ở độ cao nào thì Toán tấn công cũng nhào vô, trong khi Toán yểm trợ sẽ bay lên độ cao bảy ngàn thước để canh chừng và nhào xuống các phi cơ bay hộ tống của địch. Khi nào máy bay chở Yamamoto bị tiêu diệt thì lập tức cả hai toán quay về căn cứ, không được ham chiến, sẽ không đủ nhiên liệu. Tuyệt đối giữ im lặng vô tuyến cho tới khi tìm thấy mục tiêu.»

        Đêm đó, nằm ở giường chờ sáng, Mitchell suy nghĩ vẩn vơ. Ngày mai đây, có thể sau khi bay xa căn cứ gần sáu trăm cây số, chàng sẽ không thấy máy bay chở Yamamoto đâu hết. Biết đâu ông ta chằng tới sớm hay muộn hơn vài ba chục phút. Những tính toán đều căn cứ vào địa bàn, đồng hồ, đồng hồ tốc độ. Nhưng tất cả các dụng cụ đó đều có thể sai chạy cả. Và chỉ cần sai một ly là kể như cuộc hành quân thất bại.

        Ngoài phi trường, các chuyên viên đã gắn xong các bình xăng phụ và kiểm điểm máy móc lần chót cho các phi cơ công tác đặc biệt quan trọng sáng mai.

        Cảnh vật đêm khuya chìm trong im lặng để chờ đợi những biến cố sắp xảy ra do những tính toán của con người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:43:18 am »

 
CHƯƠNG VIII

GẶP NHAU VÀO LÚC 9 GIỜ 24 PHÚT

        SẮNG nay trời thật đẹp, bầu trời quang đãng, trong sáng, thỉnh thoảng một đám mây mỏng trôi qua, đúng như đài khi tượng đã loan báo, các phi công vui vẻ vô nhà ăn dùng điểm tâm, Như thường lệ, bữa ăn sáng gồm có bánh mì, trứng gà ốp la, cà Phê sữa, Mọi người ăn trong im lặng. Ngồi đối diện với Mitchell là Moore. Chàng phi công trẻ này có vẻ hồi hộp trong chuyến đi đặc biệt hôm nay. Thấy vậy, Mitchell trấn an anh ta : « Không có gì đâu. Cứ theo sát người đi trước và đừng bay chạm mặt nước là xong. »

        Mặc dầu nói vậy, nhưng trong thâm tâm, chính anh cũng cảm thấy thắc mắc về chuyến bay quá xa này.

        Ăn sáng xong, Mitchell trở về lều thay quần áo phi hành và ra phi đạo. Việc kiểm điểm ở đường bay diễn ra như thường lệ. Chàng vui vẻ trao đối vài câu chào hỏi thường lệ với các chuyên viên cơ khí, và các trường phi hành đoàn.

        Trước khi bước lên phi cơ, chàng đưa tay vẫy các bạn lại gần dặn dò lần cuối cùng. Không có máy bay thay thế. Trong trường hợp toán tấn công có người gặp trục trặc phải trở về thì Holmes hay Hine ở Toán yểm trợ sẽ lên thay thế. Vô tuyến im lặng. »

        Ngồi vào phòng lái, Mitchell kiểm điểm lại dù, đồ cấp cứu, tất cả đều đầy đù. Chàng tưởng tượng trong gói cấp cứu có cả một đồng tiền Anh để đưa cho dân địa phương trong trường hợp máy bay bị bắn rớt, để nhờ họ dẫn trở về vùng không có quân Nhật.

        Bốn chiếc phi cơ bắt đầu nổ máy. Chúng ho lên vài tiếng hộc hộc, nhả mấy bụm khói đen, và sau đó động cơ rồ lên, tiếng máy nổ ẩm ầm. Mitchell dẫn đầu trên đường ra phi đạo, và sau đó lần lượt từng chiếc một chạy nhan dần và cất bổng lên trời ở cuối đường bay. Chưa bao giờ máy bay mang nhiều xăng như hôm nay. Vì quá nặng, họ phải chạy tới cuối phi đạo và xử dụng cả quãng phòng hờ mới cất cánh được. Theo sát sau Mitchell là Jacobson, Cauning, và Goerke.

        Đô đốc Mitscher ngồi ở xe Jeep cạnh phi đạo đưa tay vẫy từng người khi máy bay của họ chạy qua.

        Tiếp theo đó là các phi cơ trong Toán tấn công gồm có : Lanphier, Barber, McLanahan và Moore. với Lanphier dẫn đầu. Hôm nay anh đeo thêm một khẩu súng lục 38 ở nách, cũng không biết để làm gì vì một trái dừa cách hai thước anh bắn cũng chưa chắc trúng. Anh cảm thấy hơi đau bụng, nhưng lên cao thì bắt đầu hết. Lanphier bay rượt ngang Barber, anh này nhe chiếc răng cửa bị gãy ra cười khiến chàng nhớ lại tai nạn ở Fiji ngày nào. Barber theo sát Lanphier, kế đó là Moore.

        Phi cơ của McLanahan chạy tới gần cuối phi đạo, đáng lẽ sắp cất cánh thì đột nhiên bị chao đi và chạy xéo qua một bên. Anh cố gắng lấy lại tay lái và hãm phi cơ lại. Một bánh xe đã bị nổ. Không có thì giờ chờ đợt. Arh đành phải ở lại. Toán tần công bây giờ chỉ có ba chiếc. Lanphier dẫn toán mình vào hàng đội sau bốn chiếc của Mitchell.

        Những chiếc còn tại trong toán yểm trợ, trong tổng số mười chiếc bay phía sau bộ phận dẫn đầu của Michell. Holmes và Hine dẫn đầu bộ phận này gồm có những chiếc thuộc phi đội 12 là Kittle, Whittaker, Ames, Graebner, Anglin, Smith, và Long. Tất cả sắp xong đội hình vào đúng 7 giờ 25 phút như đã dự tính.

        Mitchell lấy đúng hưởng 265 độ và dẫn đầu phi đội. Chẳng mấy lúc họ đã bay xa khỏi đất liền. Phi công bắt đầu cho máy chạy bằng bình xăng phụ. Tất cả đều tốt, trừ chiếc của Moore. Xăng trong bình phụ không chịu xuống. Sau cùng anh ta lại phải chạy bằng bình xăng chánh, và thông báo cho Lanphier hay. Lanpbier liền ra dấu bảo anh trở về, vì không có cách gì sửa được. Moore tách ra khỏi đội hình quay trở lại. Vậy là toán tấn công bây giờ chỉ còn hai chiếc. Lanphier rời đội hình bay vọt lên trên báo cho Mitchell hay. Mitchell quay lại, đưa tay vẫy Holmes và Hine lên điền vào hai chỗ trống đó.

        Tám chiếc khác do Kittle dẫn đầu bay theo xa xa đàng sau. Đoàn máy bay ngon trớn bay đều trên mặt nước khoảng 50 thước với tốc độ 400 cây số giờ. Hôm nay là vừa đúng một năm trong cuộc chiến Nhật-Mỹ.

*

        Trong lúc đó, những tin tức khác về Cuộc Đại Chiến cũng dồn dập xảy tới cho dân chúng Mỹ: Quân Đức đã chọc sâu vào nội địa Nga ở dãy núi Caucasus. Nga sô phản công tạo được vài thắng lợi nhỏ. Thiết giáp Đức đánh vào liên quân Anh Pháp ở Tunisia. Không quân Mỹ bắn phá nhà máy chế tạo phi cơ tại Bremen, bị mất mười sáu máy bay. Không quân Anh oanh tạc nhà máy Skoda ở Tiệp khắc, năm mươi chiếc bị cao xạ bắn hạ. Nhật củng cố các vị trí ở quần đảo Aleutian.

        Ngoài ra, một vài tin khác cũng được mọi người chú ý nhiều như : Đại úy Không quân Hoa Kỳ Clark Gable đã tới Luân đôn đế huấn luyện tác xạ cho phi công Anh. Tổng Thống Roosevelt kêu gọi phữ nữ tham gia nổ lực chiến tranh. Chiến phí một tháng hiện nay đã lên tới 7 tỷ Mỹ Kim.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:44:07 am »


*

        Đoàn phi cơ Sầm Chớp P.38 bay đều đều trên mặt biển phẳng lặng. Mitchell cố gắng giữ cho phi cơ bay cách mặt nước 10 thước, nhưng nhiều khi máy bay xuồng thấp chi còn cách mặt nước ba thước, có lúc lại lên cao tới 20 thước. Ngoảnh lại phía sau, thỉnh thoảng chàng thấy có chiếc chạm mặt nước bọt tung lên trắng xóa, nhưng sau đó phi công đã bốc lên cao.

        Canning trông thấy một con cá mập bên dưới máy bay, rồi nhiều con khác nữa, anh đếm được tất cả bốn mươi tám con, Holmes thấy một đàn rất đông, không đếm xuể.

        Mặt biển bao la, không một bóng cây hay nhà cửa. Chân trời thật gần, bầu trời như một chiếc chén khổng lồ úp chụp xuống. Ở về phía tay phải họ lúc này là các đảo Santa Isabel và New Georgia, với các trạm quan sát của Nhật, sẵn sàng báo cáo mọi động tĩnh về Bộ Chỉ Huy.

        Michell nhìn đồng hồ : Tám giờ đúng. Vậy là đã bay được ba mươi lăm phút, cách xa căn cứ gần hai trăm cây số. Còn phải bay bốn trăm cây số nữa mới tới mục tiêu.

*

        Trong lúc đó, tại Rabaul, phi cơ của Yamamoto cất cánh khỏi phi trường Lakunai đúng 6 giờ sáng.

        Sáng hôm đó, Yamamoto đã dậy sớm và sửa soạn nhanh chóng cho chuyến đi. Trời đẹp, cây cối xinh tốt, tiếng chim hót ngoài cửa báo hiệu một ngày nắng ấm của mùa Xuân. Sĩ quan hầu cần khuyên ông nên mặc đồ kaki thay vì đồ trắng như mọi khi để đề phòng nếu có bị tấn công thì địch không thể nhận ra ông. Yamamoto chỉ mỉm cười. Nhưng khi xuất hiện tại Bộ Chỉ huy, mọi người thấy ông trong bộ y phục ka ki, ngang lưng đeo trường kiếm.

        Tham mưu trưởng của ông là Đô đốc Ugaki, hôm nay cũng bận đồ ka ki. Tại Bộ Chỉ huy, ông hơi ngạc nhiên khi thấy Yamamoto xuất hiện dưới bộ y phục ka ki, trông ông có vẻ khác hẳn ngày thường trong bộ y phục Đô đốc màu trắng. Hai Đề đốc Takata và Kitamura, y sĩ trưởng Hạm đội và sĩ quan tài chánh cùng đi trong chuyến bay đều bận đồ trắng. Mọi người lái xe ra phi trường và vội vã lên máy bay.

        Đô đốc Kusaka là người cuối cùng đã nói chuyện với Yamamoto hôm đó ở phi trường. Yamamoto trao cho Kusaka hai cuộn giấy nhờ trao lại cho Đô đốc Samejima. Đó là những bài thơ của Minh Trị Thiên Hoàng mà Yamamoto. đã sao lại để tặng bạn. Một bài như sau :

        Lửa khói lưng trời, tiếng gọi ai Giục bước lên đương thỏa chí trai Thân nam nhi dọc trời chinh chiến Mộng ước công thành hẹn một mau

        Thực là định mệnh trớ trêu, vì chính Sanaejima, là người đã gởi điện văn đi các nơi thông báo lộ trình cuộc thị sát của Yamarnoto và gây ra cuộc phục kích mưu sát của đồng minh. Sau này Samejima giữ mãi bài thơ đó.

        Ba sĩ quan tham mưu ngồi chung máy bay với Yamamoto là Takata và Đại tá Ishizaki, bí thơ của ông, sau cùng là Đại tá Toibana, tùy viên không quân. Tất cả đều là phi công kỳ cựu.

        Chiếc oanh tạc cơ thứ hai chở Ugaki và Đại tá Imanaka thuộc Cục Truyền tin, Đại tá không quân Muroi và Trung úy khí tượng Unno.

        Hai chiếc phi cơ Betty này thuộc Phi đội oanh tạc 705 do hai phi công chuẩn úy Hayashi và Kotani lái. Ngoài ra, có sáu chiếc Zero thuộc Phi đội chiến đấu 309 hộ tống.

        Một số sĩ quan ra phi trường tiễn ông, trong đó có Trung Tướng Imamura và Đô đốc Joshima, là hai người đã hết sức can thiệp đình hoãn chuyền bay không được. Hai người nhìn theo máy bay của Yamamoto với nét mặt rầu rĩ, lo ngại.

        Tám chiếc phi cơ kẻ ngang nền trời, bay trên những ngọn núi lửa còn đang bốc khói, và vịnh Blanche với ngọn hải đăng ở mũi New Ireland.

        Nói về chuyến đi hôm đó, sau này Ugaki kể lại : «Vừa ngồi vào chỗ xong là máy bay chạy ra phi đạo cất cánh ngay. Khi lên cao, tất cả dàn thành đội hình thẳng tiến theo lộ trình đã định. Các máy bay khu trục hộ tống chia nhau ba chiếc bay phía trên và ba chiếc phía dưới phi cơ của chúng tôi.»

        Hai chiếc oanh tạc cơ bay gần sát cánh nhau. Chiếc của Chỉ huy trưởng hơi nhích lên trước và cao hơn một chút. Ngồi bên này, Ugaki có thể nhìn rõ từng ngươi ở chiếc bên kia. Phi cơ bay ở cao độ khoảng 3.000 thước hầu như lao thẳng về hướng mặt trời mọc. Ông cũng nhìn rõ máy bay của Yamamoto mang số 323 trên thân tàu.

        Những chiếc Betty mới của Nhật thật là tuyệt hảo. Nó có thể bay xa tới 4.000 cây số. Cách đây một tuần, quân Mỹ nhìn thấy nó xuất hiện ở đảo Gilbert, một nơi cách xa tất cả mọi phi trường, và đã tưởng rằng nó cất cánh từ hàng không mẫu hạm. Hãng Mitsubishi chế tạo ra nó đã dụng ý không chế thân tàu bằng thép để nó có thể bay được xa hơn. Nhưng chính đó cũng là một yếu điểm của loại phi cơ này, vì hễ trúng đạn là kể như bị bốc cháy. Các phi công Nhật đặt cho nó cái tên «Kamaki» nghĩa là «Điếu xi gà bay». Động cơ của nó lên tới 3.000 mã lực, vận tốc trung binh là 400 cây số giờ.

        Ugaki ngồi mơ màng nhìn xuống phía dưới. Một sĩ quan trẻ chỉ chỏ một hòn đảo nào đó. Phi cơ bay êm xuôi, không hề gặp một trục trặc nào. Chẳng mấy chốc đã tới mỏm phía Tây của đảo Bougainville và lượn dọc theo bờ biển xuôi về hướng Đông Nam. Lúc này phi cơ đã bay được một tiếng rưỡi.

        Đoàn máy bay lúc này xuống thấp 700 thước dọc theo bờ biển Bougainville với những bãi lầy và dừa nước bên dưới. Xa về phía Bắc là rặng núi Hoàng Đế với ngọn Baibi cao 3.000 thước. Phi công bay dọc theo một hành lang và báo cho Ugaki hay : «Phi cơ sẽ tới phi trường vào 7 giờ 45 phút. Ugaki nhìn đồng hồ, kim chỉ 7g30 (giờ Hoa Kỳ lúc này là 9 giờ 30). Vào khoảng mười lăm phút nữa, họ sẽ ra khỏi phi cơ. Như vậy là tới sớm được mươi lãm phút.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2018, 07:49:28 am »


*

        Mặt trời chói chang chiếu qua khung cửa kính của chiếc P-38 khiến phòng phi công nóng kinh khủng. Mitchell đoán chừng có lẽ nhiệt độ lên tới 37 độ. Loại phi cơ này được chế tạo để bay ở độ cao nên không có máy lạnh.

        Mitchell liếc mắt nhin các đồng hồ kiểm soát trước mặt, nhiệt độ cao, địa bàn. Sau cùng anh liếc nhìn vào bản đồ ở đầu gối, trên có vạch rõ đường bay.

        Anh đã đổi hướng bay lần đầu tiên vào lúc 8 giờ 20 phút. Nhìn lại, anh thấy cả đoàn máy bay phía sau cũng nghiêng cánh đi theo mình. Lần đổi hướng này được thực hiện sau khi bay 200 cây số. Lần đổi hướng thứ hai vừa cách đây vào khoảng nửa giờ. Và bây giờ là lần đổi hướng thứ ba, nghiêng phi cơ về phía Tây Bắc để bay trong vòng ba mươi tám phút nữa. Lúc này phi cơ đang bay ngang đảo Lavelb. Họ đã bay được hai tiếng đồng hồ với khoảng đường khoảng 500 cây số, và chỉ còn cách mục tiêu chừng năm mươi cây nữa. Mitchell nghiêng phi cơ trở lại hướng Đông Bắc,

        Các phi công hình như khó chịu khi bị giữ im lặng vô tuyến trong một chuyến bay quá lâu như thế này. Lúc Mitchell cho máy bay nghiêng theo hướng 20 độ Đông, Lanphier bắt đầu phá tan bầu không khí im lặng trong máy nghe : «Không thấy gì cả, ngoài sóng biển và phi cơ của mình !»

        Lần đối hướng cuối cùng này sẽ đưa họ tới bờ biển phía Tây của Bougainville. Phi công cho phi cơ lên cao lần lần và bắt đầu bắn thử súng. Từng tràng đạn khạc ra giữa không trung kèm theo những tia lửa. Họ chỉnh đồn lại đội ngũ, vì chỉ khoảng mười phút nữa là phải bắt đầu chiền đấu.

        Mitchell tính thầm trong đầu : Không nên đi quá sâu vào trong đảo. Sau khi qua bãi biến, mình sẽ vòng về hướng Tây, và nếu không thấy gì thì lại tiếp tục vòng trở lại hướng Đông.

        Anh tưởng tượng ra tại phi trường Kahili trên đảo lúc này, chắc các phi công đang sắp hàng trước máy bay để đón Yamamoto. Nếu hay tin máy bay Đô Đốc bị tấn công, chắc chắn họ sẽ nhảy vào máy bay và vọt lên trời ngay. Máy bay lúc này vẫn còn ở cao độ dưới 300 thước và đang từ từ ngóc lên cao hơn. Lanphier nhìn đổng hồ đeo ở tay : 9 giơ 33 phút. Còn hai phút nữa thì Yamamoto phải xuất hiện nếu sự tính toán của Bộ Tham mưu chính xác, và nếu ông ta đi đúng giờ. Bầu trời vẫn trống trơn, không một vật gì xuất hiện.

        Trời hôm nay thật quang đãng, ít mây. Mitchell có thể nhìn thấy cả những ngọn núi trên đảo cách đó tới 30 cây số. Đúng lúc này, theo lệnh của Mitchell, đoàn máy bay tất cả mười sáu chiếc cùng vọt lên cao, xa dần khỏi mặt biển, và quang cảnh Bougainville chợt hiện ra bên dưới đúng hệt như sự tính toán của đường bay trên bản đồ không sai một ly nào,

        Mitchell nhìn xuống dưới, cảnh vật vẫn im lỉm. Từ xa một làn hơi trắng bốc lên ở sườn dãy núi Hoàng Đế.

        Lanphier nhìn quanh quất, bầu trời vẫn trồng trơn đến tận chân trời ở phía xa, ngoại trừ một đám mây lơ lửng bao quanh sườn núi.

        Nhiều phi công trong toán tấn công đã từng hộ tống các oanh tạc cơ tới thả bom ở vùng này, nên tất cả đều nhận rõ địa thế bên dưới. Lanphier và Barber đã đánh chìm một khu trục hạm ngoài khơi đảo Fauro và bắn phá phi trường ở Shortland, cả hai đia điếm này đểu nằm về phía Tây Bougainville. Mươi sáu chiếc máy bay lúc này xếp thành đội ngũ sát nhau, ở cao độ 700 thước. Hai toán đầu, mỗi toán bốn chiếc do Mitchell và Lanphier dẫn đầu. Tám chiếc của Kittle ở phía sau. Tất cả tiến về phía đảo, qua bãi biển. Đổng hồ lúc này chỉ 9 giờ 34 phút.

        Mitchell nghĩ thầm : Theo kế hoạch thì còn một chút nữa là địch xuất hiện. Có lẽ chúng đang từ hướng Tây bay tới. Anh nhìn qua phía đó, nhưng vẫn không thấy gì. Ngay lúc đó, tiếng của Canning vang lên trong máy vô tuyến, «Địch xuất hiện mười một giờ». Giọng anb có vè hơi run và nhỏ, hình như sợ địch nghe thấy.

        Mitchell nhỉn theo và nhận thấy đoàn máy bay phía trước rặng núi. Anh đếm được tất cả tám chiếc, trong đó có hai chiếc oanh tạc cơ. Anh nghĩ thầm : Như vậy là tới hai oanh tạc cơ chớ không phải một như trong kế hoạch đã dự liệu. Mitchell trả lời Canning trong máy : «Thấy rồi». Anh phân vân không biết toán tấn công của Lanphier có hạ được cả hai chiếc oanh tạc cơ không ? Không biêt Yamamoto ngồi ở chiếc nào trong hai máy bay đó? Anh cảm thầy hồi hộp, dù sao thì địch cũng đã xuất hiện đúng như kế hoạch tiên đoán, thật là kỳ diệu, họ xuất hiện chỉ trước có một phút ở đúng vị trị đã dự liệu. Anh đếm lại : có sáu chiếc Zero tất cả.

        Mitchell cho máy bay lượn về hướng Đông; bay song song với đoàn máy bay địch. Anh nhìn sang và thấy chiếc Betty mới tinh, sáng óng ánh như vừa ở xưởng chế tạo bay ra. Anh ngạc nhiên thấy chiếc máy bay thiệt quá lớn, và bên trong toàn là sĩ quan. Mitchell nghĩ thầm : Phen này bắt được một mẻ toàn cá lớn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2018, 07:50:35 am »


        Canning nhìn thấy máy bay địch trước tiên. Anh bình tĩnh nhận xét. Những tia sáng phản chiếu ánh mặt trời của đoàn phi cơ địch tia ra lóng lánh từ phía trước rặng núi. Khoảng cách chừng hai cây số, nhưng anh không phân biệt được oanh tạc cơ và chiến đầu cơ.

        Tiếng anh báo cho Mitchell vang lên bên tai. Quá cảm động nên anh cũng không nghe thấy Mitchell trả lời nữa. Tất cả tư tưởng của anh tập trung vào đoàn phi cơ Nhật trước mặt.

        Những phi công khác ở hai toán đầu cũng đã nhận thấy đoàn phi cơ địch. Lanphier nhìn về phía trước, hơi nhích sang mé trái và nhận thấy những chiếc máy bay địch phản chiếu mặt trời lấp loáng như thể đang bị cao xạ bắn xung quanh vậy. Khoảng cách vào độ hai cây số và, ở phía trên máy bay của anh chừng 700 thước. Lanphier gia tăng tốc độ và đếm kỹ hai oanh tạc cơ, có sáu chiếc Zero vây quanh. Anh im lặng cho máy chạy bằng bình xăng chánh, và ấn nút cho bình xăng phụ rớt khỏi cánh phi cơ.

        Barber nhìn thấy những chiếc máy bay địch ở ngay sườn núi trước mặt. Anh kiểm điểm lại hàng đội của phía mình và thấy rất chính xác : anh và Lanphier bay liền nhau Holmes và Hine ở phía sau. Những chiếc phi cơ Nhật sáng như bạc, nhất là hai oanh tạc cơ.

        Holmes nhìn những chièc máy bay địch lầm lũi phía trước. Anh cảm thầy hồi hộp, thật không ngờ mình đã được chọn đi để hạ Yamamoto, và bây giờ máy bay của ông ta đã xuất hiện. Tay anh ghì chặt cần lái và kiểm soát lại các đồng hồ điều khiển phi cơ trước lúc tấn công.

        Mitchell ra lệnh cho cả phi đội : «Mọi người cho thùng xăng phụ rớt khỏi phi cơ».

        Holmes trả lời : « Tôi không thể nào cho của nợ đó rớt đi được. Có lẽ một bộ phận bị hư». Không nghe Lanphier trả lời, anh gọi tiếp : «Chờ một chút đi». Nhưng vẫn không nghe Lanphier nói gì.

        Mitchell đầy hềt cần tốc lực về phía trước và vừa lượn vòng vừa cho phi cơ bốc lên cao để ở vào vị trí yểm trợ cho toán tấn công. Jacobson nghiêng cánh đi theo, nhưng vì chưa tăng tốc độ kịp, nên bị bỏ lại phía sau khoảng 70 thước. Sau đó anh ta cố gắng leo lên cho kịp, vì không muốn bị bỏ rơi lại đàng sau.

        Mitchell cũng đang nóng lòng về việc bỏ rơi thùng xăng phụ ra khỏi phi cơ. Trong lúc đang vọt lên thế này, anh không dám làm vì sợ nó rơi trúng phi cơ bạn bên dưới. Anh đành phải chờ một chút nữa.

        Phía sau Mitchell và Jacobson, Canning cũng đang vọt máy bay lên theo sát nút. Anh thắc mắc tại sao không theo phía sau phi cơ địch, nhưng vẫn bay theo bạn.

        Tám chiếc kia của Kittle cũng vọt theo ngóc lên cao theo toán của Mitchell. Theo đúng kế hoạch, tám chiếc này sẽ phải bay lên cao độ 7.000 thước để canh chừng, yểm trợ cho toán tấn công. Hiện giờ chỉ còn bốn chiếc trong toán tấn công của Lanphier ở lại bên dưới.

        Hoạt động vô tuyến lúc nầy bận rộn. Mitchell hét vào máy gọi Lanphier: «Rồi, con mồi đó, nhào vô đi.» Bốn chiếc phi cơ của toán tần công vọt thẳng vế phía đảo để cắt ngang đoàn máy bay của Yamamoto. Nhưng một lát sau Holmes tách ra, quành lại phía Tây một mình bay dọc theo bờ biển. Thầy mé sườn của Holmes bị trồng, Hine bay theo để bảo vệ bạn trong khi anh này đang cố gắng nhào qua, nhào lại để làm cho binh xăng phụ sút khỏi phi cơ. Thế là toán tấn công lúc nầy lại chỉ còn có hai chiếc : Lanphier và Barber.

        Đoàn phi cơ Nhật vẫn vô tình bình thản bay về phía Đông. Họ không thể ngờ sắp bị địch tấn công.

        Lanphier và Barber vọt lên thật gấp, cố bắt độ cao của hai chiếc oanh tạc cơ trước khi bị chúng phát giác. Lúc gần lên cao bằng những chiếc oanh tạc cơ đang bay phía trước vào khoảng hơn một cây số và cách bờ biển khoảng ba cây, Lanphier chợt nhận ra những chiếc Zero với chiếc bụng sáng óng ánh. Họ đã bị những chiếc phi cơ Nhật trông thấy. Cả đoàn Zero chúi mũi nhào thẳng xuống. Chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu vọt lên cao thật gấp, còn chiếc thứ hai quặt về phía bờ biển, đâm thẳng vào vị trí của Lanphier và Barber. Nhìn lại các bạn đồng đội, Lanphier chỉ thấy có Barber theo mình, còn Hotmes và Hine đã lạc đâu mất.

        Lanphier nhìn những chiếc Zero đang lao về phía mình và nhận thầy chúng sẽ bắt được anh trước khi anh kịp tới gần chiếc oanh tạc cơ. Vì vậy anh vội vàng hướng mũi phi cơ về phía những chiếc Zero và bắt đầu bắn. Giá những chiếc Zero khai hỏa trước thì chắc chắn phi cơ của Lanphier đã bị trúng đạn rồi. Hai chiếc máy bay vút qua gần chạm vào nhau, Trước khi vọt lên, Lanphier nhận thấy anh đã bẳn trúng một bên cánh máy bay địch, Anh quay lại nhìn và thấy nó đang bốc cháy, quay tròn rớt xuống dần, kéo theo một vệt khói đen dài giữa bầu trời.

        Từ trên cao, Mitchell gọi xuống cho Lanphier bên dưới : «Tần công ngay chiếc oanh tạc cơ, đừng đuổi theo mấy chiềc Zero, kệ nó.»

        Mitchell không nhìn thấy gì bên dưới. Anh đâu có biết hiện giờ chỉ còn hai chiềc P-38 phải đương đầu với sáu chièc Zero.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2018, 07:52:25 am »


CHƯƠNG IX

KHÓI ĐEN TRONG RỪNG GIÀ

        MỘT SĨ quan ngồi trong máy bay chở Yamamoto đã trông thấy các phi cơ Mỹ đầu tiên. Ông thấy chúng từ trên cao đang lao xuống nhắm thẳng vào chiếc oanh tạc cơ, nên vội vàng la lên : «Máy bay địch đang nhào về phía mình !» Nghe tiếng la, phi công kịp thời phản ứng chúc mũi máy bay thẳng xuống đất tránh thoát. Sau đó anh cho máy bay ngóc lên và bay sâu vào trong đất liền. Địa điểm này đúng là chỗ phi cơ của Trung Tướng Imamura đã bị tấn công cách đây một tháng.

        Ngồi ở phi cơ bên này, Ugaki tự nhiên thấy máy bay của chỉ huy trưởng đâm nhào xuống đất. Ông chưa hiểu nguyên do tại sao và ngoái đầu ra cửa nhìn theo, thấy máy bay của Yamamoto bay sâu vào đất liền có lẽ chỉ cách ngọn cây vài ba chục thước, rồi sau đó đột nhiên quẹo trái thật gắt, hướng về phía Buin.

        Mọi người trong máy bay Ugaki đều nhốn nháo, nhìn lên cao để tìm kiếm máy bay địch, vì họ chắc phi cơ của chỉ huy trưởng vừa bị tấn công nên mới nhào xuống như vậy. Ugaki nhìn thấy một chiếc Zero bay theo máy bay của Yamamoto. Ngay lúc đó, một sĩ quan ngồi cạnh ông kêu lớn : «Máy bay Mỹ !» Lập tức phi công chúc mũi tàu đâm thẳng xuống đất để tránh, Ugaki nghe tiếng động phía sau liền quay lại và thấy xạ thủ đang mở cửa ổ súng đại liên. Sau đó ông nghe tiếng đạn nỗ và biết rằng phi cơ đang bị tấn công. Trưởng phi hành đoàn cũng đã ngồi vào vị trí chiến đấu. Nhìn ra ngoài, Ugaki thấy những chiếc Zero đang bay lượn xoắn xít chiến đấu dữ dội với các phi cơ địch. Ông nhận ra đó là những chiếc P-38 của Hãng Lockheed chế tạo, và nghĩ thầm có lẽ phải tới hơn hai chục chiếc.

        Máy bay quẹo gắt chín chục độ, người Ugaki bị ép hẳn về một bên. Ugaki nhin theo bóng chiếc oanh tạc cơ chở Yamamoto mất hút tận đàng xa. Trưởng phi hành đoàn la gọi viên phi công : « Mau lên, chúng đang đuổi theo đàng sau !»

*

        Barber vừa vọt lên tới cao độ 800 thước thì nhận thấy hai chiếc oanh tạc cơ của Nhật đang nhào xuống. Anh vội vàng ấn cần điều khiển về phía trước lao xuống rượt theo. Phi cơ của anh đã qua bãi biền trong khi những chiếc oanh tạc cơ Nhật vẫn tiếp tục xuống thấp. Lúc này đang bay nhanh quá, anh biết có bắn cũng không thế nào trúng mục tiêu. Trong lúc đó, những chiếc Zero đang ở phía trên khoảng 300 thước, và Lanphier đang vọt lên đuổi bắt. Lúc Lanphier ở giữa đám máy bay Nhật thì Barber đã bay ở phía trên chiếc canh tạc cơ chở Yamamoto. Sau này anh kể lại như sau : «Tôi vội vàng giảm hết tốc độ, và khi thấy mình vẫn vượt qua chiếc oanh tạc cơ, tôi vội vàng lộn ngược phi cơ để quay trở lại phía sau chiếc máy bay địch»

        Khi đã trở lại được phía sau, Barber nhận thấy một trong hai chiếc oanh tạc cơ của Nhật đang bay phía trước ngay phía dưới phi cơ của anh, còn chiếc oanh tạc cơ nữa thì không thấy đâu. Lức này anh không dám nghĩ gì nữa, vì còn mải chú ý tới khẩu đại liên đặt ở đuôi chiếc oanh tạc cơ địch, và nhận thấy ở góc độ vị trí này anh chưa thể bắn trúng mục tiêu được.

        Một lát sau, Barber đã điều khiển phi cơ của mình ở đúng vị trí tác xạ thuận tiện nhất, và anh bẳt đầu khai hỏa các khấu đại liên vào chiếc máy bay Nhật. Đạn trúng buồng máy phải, và chiếc Betty bắt đầu bốc cháy. Barber bắn rà tiếp từ đầu máy xuống thân phi cơ, và đuôi chiếc Betty lúc này bị đứt lia. Máy bay bắt đầu phun khói đen mù mịt, ngọn lửa cháy lớn ở cánh và thân, máy bay đâm đầu rớt xuống giữa rừng cây bên dưới. Máy bay Barber vượt qua, lúc ngoảnh đầu trở lại, anh chỉ còn thấy một đám khói đen bốc lên giữa rừng già. Lúc này máy bay của anh bay chỉ cách ngọn cây vài chục thước. Vừa lúc đó thì ba chiếc Zero ở trên cao nhào xuống. Barber hoảng hồn, chúi mũi phi cơ xuống để tránh loạt đạn của địch. Tuy thoát chết, nhưng phi cơ anh chút xíu nữa thì đâm xuống đất. Khi ba chiếc máy bay địch vượt qua rồi, anh từ từ cho phi cơ mình ngóc lên. Anh trông thầy hai chiếc P.38 từ trên cao nhào xuống đuổi theo phía sau ba chiếc Zero. Thế là chỉ trong vòng khoảng ba mươi giây đồng hồ, Barber đã bẳn hạ được chiếc oanh tạc cơ. Anh nghiêng cánh, bay vòng ra phía biển.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM