Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 19710 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #100 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:33:20 am »

Quân đoàn 2, một cánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu (Sư đoàn 3 Quân khu 5) một cánh đánh Long Thành, qua chiến khu Nhơn Trạch, đặt trận địa pháo 130 ly ở đây và chuẩn bị cho một bộ phận vượt sông Đồng Nai phối hợp với đặc công biệt động tiến vào Quận 9. Cánh chủ yếu đánh vào Sàigòn đi đầu là Lữ xe tăng 203. Đến sông Buông, cầu bị sập. Cả ngày 29-4 Lữ xe tăng 203 không qua được. Đến giữa đêm mới qua khỏi cầu sông Buông và tiến thẳng lên xa lộ Biên Hòa – Sàigòn. Ở đây Lữ xe tăng 203 tiếp xúc được với lực lượng ta đang giữ cầu. Một bộ phận của trung đoàn 116 làm nhiệm vụ chiếm giữ cầu Đồng Nai đã mở rộng chiếm luôn một góc kho Long Bình (giải phóng 2 xã An Hòa và Long Hưng). Trung đoàn 116 liền tổ chức công sự phòng giữ ở đây. Vào lúc quá nửa đêm, Lữ 203 xe tăng ta vừa tiến vừa bắn dữ dội về phía trước. Tưởng địch, chiến sĩ đặc công chốt giữ đã dùng B40, B41 bắn trả. May mà không trúng. Nhưng nhờ ánh lửa của đạn, anh em nhận ra cờ Mặt trận cắm trên xe tăng (lúc đó là 05 giờ ngày 30-4) liền hỏi khẩu hiệu:

- Hồ Chí Minh?

- 19-5 – Trả lời (chiến sĩ xe tăng nhớ lầm khẩu hiệu lúc ở khu 5).

- Hồ Chí Minh? – hỏi lại lần thứ 2.

- Muôn Năm – trả lời.

Đúng rồi. Thôi bắn. Anh em mừng rỡ, phất cờ nhận nhau.

Trên xa lộ này có 3 cầu trọng yếu nhất là cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc và cầu Tân Cảng.

Đêm 26-4 Trung đoàn đặc công 116 đã bắt đầu đánh chiếm cầu Đồng Nai nhưng ngày 27 địch phản kích chiếm lại. Đêm 28-4 đơn vị lại chiếm lại đầu cầu phía đông, đánh sang đầu cầu phía tây và tổ chức chốt giữ phòng ngự. Chiều 29-4 có tiếng nhiều xe di chuyển trên đường 15 từ Long Thành về Sàigòn. Trinh sát báo cáo tất cả có 15 xe địch, đi đầu là 5 tăng và thiết giáp, những xe sau đầy lính có cả phụ nữ, trẻ em và có cả bộ binh đi hai bên đường. Mở máy bộ đàm PRC-25 của Mỹ, chỉ huy Trung đoàn đã nghe một đoạn nói chuyện ngắn vội vã:

- Khi xe máy qua cầu đứt đuôi thì dùng 5 tấn thuốc nổ phá sập luôn cầu.

- Còn đơn vị sau làm sao?

- Không đi đường này nữa. Đó là lịnh chỉ huy. Việt cộng đang đuổi sau lưng mầy. Nổ sập cầu ngay!

Bộ đội ta vẫn giữ kín được trận địa phục kích. Đoàn xe không hay biết tiến đến cách cầu khoảng 1 Km (Đoạn Ngã Ba Bến Gỗ). Lập tức súng B40, B41 và các loại cùng nổ. 5 chiếc xe đầu bị diệt. Một số bỏ xe nhảy hàng rào kho Long Bình chạy bộ, những xe sau quay đầu chạy tắt về hướng Biên Hòa.

Thừa thắng, đơn vị phát triển chiếm luôn một góc kho Long Bình (hướng tây và tây nam). Cầu được giữ nguyên vẹn cho đến cuối cùng.

Còn ở Cầu Rạch Chiếc, cuộc chiến đấu cũng xảy ra rất ác liệt. Đội biệt động Z23 cùng tiểu đoàn 81 đặc công do đồng chí Nguyễn Hoàng Ân, Trưởng, Trần Kim Thinh, Phó và Nguyễn Văn Tư, Chính trị viên, chỉ huy chung có trách nhiệm chiếm giữ cầu này. 3 giờ ngày 27-4 nổ súng, sau 1 giờ chiến đấu anh em đã làm chủ toàn bộ cầu, cẩn thận cắt tất cả giây điện giăng dưới cầu. Cả ngày 27 bộ binh địch kết hợp với tàu dưới sông đã phản kích lại quyết liệt. Mãi đến 15 giờ ngày 28-4, Z23 kiên cường đã có 20 đồng chí hy sinh. Lực lượng ta phải tạm lui vào con rạch nhỏ dừa nước và ô-rô cách đường khoảng 500 mét. Lo trách nhiệm, đêm 28-4, Z23 lại tổ chức tấn công lại. Nhưng không thành công. Đến đêm 29-4, toàn bộ đơn vị mới đánh chiếm lại được cầu lần thứ 2 và giữ cho đến khi xe tăng ta vượt cầu vào 9 giờ 30’ ngày 30-4.

Cầu Tân Cảng thì 28-4 do tiểu đoàn 4 Thủ Đức đánh chiếm không thành công vì ở đây địch mạnh và sát Sàigòn.

Khi Lữ 203 xe tăng của Quân đoàn 2 đến cầu xa lộ Đồng Nai thì bộ binh vẫn còn ở xa chưa đến kịp. Đồng chí Tài, Lữ trưởng đã gặp tại đây các đồng chí Tống Viết Dương anh hùng quân đội, chỉ huy trưởng đặc công biệt động cánh đông (nay là Thượng tá, chỉ huy phó quân sự tỉnh Đồng Nai) và Võ Tấn Sĩ, trung đoàn trưởng Trung đoàn 116 đặc công biệt động (hiện nay là Thượng tá trung đoàn trưởng kiêm chính ủy trung trung đoàn 304 cảnh sát bảo vệ Công an Thành phố Hồ Chí Minh), đồng chí Tài cho biết lịnh quân đoàn phải tiến chiếm nhanh Dinh Độc Lập ngày hôm nay. Nhưng bộ binh chưa đến kịp. Địch ở chỗ nào chưa rõ. Đường đi không rành. Chỉ biết trên bản đồ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #101 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:34:06 am »

Đồng chí Dương nói ngay:

- Đợi bộ binh thì chậm mất. Chúng tôi có cả một trung đoàn đặc công mạnh. Tôi từng là cán bộ tình báo nằm nhiều năm trong Sàigòn. Tôi rành đường lắm. Các khu vực địch tôi đều biết. Biết rõ cả Dinh Độc Lập. Anh cứ quyết tâm tấn công đi.

Đồng chí Sĩ cũng góp bàn:

- Trung đoàn chúng tôi đã phụ trách đánh trong sát ven đô. Mới chuyển nhiệm vụ ra đây. Nhiều cán bộ chiến sĩ quen thực địa. Trung đoàn tôi còn có khả năng tác chiến như bộ binh và có cả kinh nghiệm đánh diệt căn cứ, hậu cứ địch. Đồng chí cứ mạnh dạn hợp đồng tấn công.

Đồng chí Tài, cân nhắc. Đồng ý.

Mất một thời gian sắp xếp đội hình xe tăng và điều động tập trung trung đoàn đặc công.

Trừ hai đại đội ở lại giữ cầu, toàn bộ trung đoàn 116 ngồi lên xe tăng của Lữ 203 cùng hợp đồng chiến đấu, hùng dũng tiến về chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền

Đồng chí Dương ngồi với đồng chí tài và đồng chí Minh (chủ nhiệm chính trị) ở xe chỉ huy của lữ trưởng, chiếc thứ 6 trong đội hình. Đồng chí Sĩ, trung đoàn trưởng trung đoàn 116 ngồi lên xe thứ 3. Đồng chí Phạm duy Đô, quyền đại đội trưởng đại đội 1, tiểu đoàn 19 ngồi lên xe thứ 2. Đoàn xe xuất phát từ cầu Đồng Nai đúng 6 giờ ngày 30-4.

Khi ngang qua Suối Cái Thủ Đức, quân ngụy ở Liên trường huấn luyện sĩ quan địch dùng pháo bắn tới tập vào đội hình quân ta. Một xe tăng trúng đạn, anh em ta hy sinh. Ba pháo cao xạ 37 ly bị hỏng. Theo sự chỉ dẫn của đồng chí Dương, đồng chí Tài ra lịnh 2 mũi xe tăng, một băng đồng, một vòng vào hướng chợ Nhỏ, tiêu diệt ngay trận địa pháo ở liên trường (thuộc xã Tăng Nhơn Phú).

Đoàn xe qua cầu Rạch Chiếc, đồng chí Tư Thinh báo cáo tình hình cầu và địch ở khu vực. Gần đến cầu Tân Cảng, thình lình nhiều đạn bắn vào quân ta từ các dãy nhà hai bên đường. Một xe bị hư, một đồng chí hy sinh, lập tức đơn vị đặc công nhảy xuống xe chiến đấu và lùng sục bắt sống được nhiều địch hãy còn sắc phục “rằn ri”, còn đủ súng ống. Tiếp đó 2 máy bay A37 vòng tới nhào xuống trút 2 loạt bom rồi bay luôn. Ta an toàn, lại tiếp tục tiến.

Xe qua khỏi cầu Tân Cảng, nhân dân đổ ra 2 bên đường, càng gần Sàigòn càng đông, vẫy cờ, vỗ tay hoan hô quân giải phóng. Các nhà báo quốc tế quay phim, chụp ảnh dần cho tới nội thành. Gần cầu Thị Nghè, 3 xe M113 địch xuất hiện, ta bắn, 1 xe cháy, 2 xe khác lính bỏ xe ngay trên Cầu Thị Nghè, chạy bỏ trốn.

Chiếc xe tăng T54 đi đầu húc vô cửa sắt Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30’, xe tiến thẳng vào cột cờ giữa sân. Xe khác rẽ qua trái, phải, dừng lại. Chiến sĩ trung đoàn 116 nhảy xuống xe bao vây toàn bộ khu nhà, lùng xục bắt bọn lính bảo vệ, nhân viên ra ngồi tập trung trước bãi cỏ. Một tổ chiến sĩ xe tăng do đồng chí Bùi Quang Thận dẫn đầu, 1 tổ chiến sĩ đặc công có 2 đồng chí Phạm duy Đô và Phạm huy Nghệ, cùng cắm cờ chạy lên ban công cao phía trước Dinh Tổng Thống Ngụy quyền, đứng phất cờ hồi lâu, rồi cờ được kéo lên cột cờ chính trước ban công. Đúng 11 giờ 30’.

Tổ đặc công lại chạy thẳng các tầng dưới lục soát các phòng. Đến tầng cuối, phòng bên phải, kéo màn qua 1 bên, toàn bộ nội các ngụy quyền đang ngồi đủ mặt ở chiếc bàn hình bầu dục trong phòng họp chính phủ. Đồng chí Đô chĩa súng AK hô to:

“Các ông đã bị vây. Ai có súng bỏ xuống. Đầu hàng”

Không ai nhúc nhích. Không ai thốt một lời.

Đô lại ra lịnh cho đồng chí Nghệ, cầm súng AK đứng ở cửa:

“Đồng chí hãy đứng gác ở đây. Không ai được ra khỏi phòng này!” Xong, Đô chạy ra tìm chỉ huy. Vừa lúc ấy các đồng chí Tùng, chính ủy, Tài lữ trưởng lữ 203, Minh Chủ nhiệm chính trị và Dương, chỉ huy trưởng cánh Đông đặc công biệt động vừa kịp đến cửa. Đô đưa Đoàn cán bộ vào.

Mọi người trong phòng đều đứng cả lên. Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền; đứng đầu bàn phía trong cùng nói:

- “Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao!”.

- “Các Ông không còn gì để mà bàn giao. Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Mời ông ra tuyên bố ở Đài phát thanh: xin đầu hàng vô điều kiên” – Đồng chí Tùng nói dõng dạc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #102 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:37:33 am »

*
*   *

Tại Sở chỉ huy, chúng tôi chăm chú theo dõi từng giừ các mũi tiến quân của từng hướng. Trên bàn to trải bản đồ vùng Sàigòn và xung quanh, mọi người nhìn theo vạch bút chì đỏ mà cán bộ tham mưu, từng lúc, căn cứ vào báo cáo của các cánh về, đánh dấu nơi quân ta đến, mục tiêu ta đã chiếm. Bỗng một đồng chí cán bộ vừa reo mừng vừa xách máy ghi âm vào để lên bàn: tiếng nói của Dương Văn Minh trên đài phát thanh xin đầu hàng vô điều kiện và lịnh cho quân ngụy hạ súng đầu hàng. Tất cả đổ xô đến, im lặng, lắng nghe.

Mọi người nhảy lên reo mừng. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng đều xúc động mạnh, ôm hôn mọi người, bắt tay nhau thật chặt. Có mấy phút giây trong đời ta mà sung sướng đến nghẹn ngào, mừng vui muốn trào lệ. tự nhiên tôi cảm thấy như tâm hồn mình trong suốt, nhẹ lâng lâng, mọi thứ như đọng xuống tận đáy sâu. Chiến tranh sắp chấm dứt hoàn toàn rồi. Một cuộc chiến tranh dài ngày, khốc liệt mà biết bao như đồng chí, đồng bào không còn trong giờ phút này để cùng ta hả hê vui sướng. Đồng chí đồng bào đã ngã xuống cho ta có giờ phút hôm nay.

*
*   *

Sàigòn, ngày 30-4 rực rỡ nắng vàng. Khắp phố phường, cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh, xen kẽ với cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió. Cả thành phố đổ ra đường, hạ cờ ngụy, treo cờ ta, kêu gọi binh sĩ ngụy buông súng đầu hàng, giải tán ngụy quyền, xây dựng chính quyền cách mạng. Tất cả thành phố đứng lên, giữ trật tự, bảo vệ các nhà máy, cơ sở, cho cách mạng, cho bản thân mình. Bao nhiêu năm mới có ngày nay. Nhờ ngày 25 tháng 8 năm 1945 cũng tương tự như thế này, rầm rập bước chân cách mạng. Mừng mừng, tủi tủi nhìn anh bộ đội giải phóng, bộ đội cụ Hồ, nhìn những chiếc xe tăng khổng lồ, những khẩu pháo lớn quá cỡ. Có con ta, có anh mình cùng về trong đoàn quân chiến thắng? Có chú ta, có cô ta ngồi trên xe tăng hay xe kéo pháo hùng dũng tỏa ra khắp nơi? Từng đám đông, phố nào cũng có, vây quanh các anh giải phóng, hỏi han trò chuyện. À, không giống lính ngụy chút nào. Các anh hiền quá, đẹp quá. Các con trẻ quá, thương quá.

Sàigòn một ngày hành động. Đúng ra là đã hành động từ mấy ngày nay. Không phải chỉ là hoan hô, reo mừng, tiếp đón như một đôi ngày lịch sử trước đây. Ngày 31-1-1789, ngày Tết Kỷ Dậu, nhân dân kinh thành Thắng Long đã đổ ra đường mừng vui, tự hào, tin tưởng, nghênh đón đoàn quân chiến thắng của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ tiến vào giải phóng thủ đô. Nhà thơ Ngô Ngọc Du đã tả không khí tưng bừng ngày chiến thắng năm ấy:

            “Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng
            Đầy thành già trẻ, mặt như hoa”.

Ngày nay ở Thành phố Sàigòn, một thành phố lớn nhất trong cả nước, một thành phố đã chiến đấu từ nhiều năm nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, không khí tưng bừng cũng giống như vậy. Nhưng còn hơn như vậy, một không khí sục sôi nổi dậy hào hùng, mà mỗi người có góp phần của mình vào chiến công hiển hách giữ cho thành phố thân yêu nguyên vẹn, cho nhân dân hạnh phúc trọn lành.

Sinh hoạt bình thường ở Sàigòn có gì khác, trước và sau 11 giờ 30’ ngày 30-4? Khác là trước thì súng đạn nổ vang, nhà nhà lo lắng, người hành động. Còn sau đó thì cờ xí phấp phới bay phố phường bỗng trở thành ngày hội. Đóng chặt khắp nẻo nhưng trật tự vui tươi. Điện nước, mọi nhà vẫn đây đó, giòng đời không ngừng một phút. Có cuộc chiến tranh nào kết thúc ở một thành phố cỡ ba triệu rưởi dân như vậy không? Hay đấy là một kỳ công lịch sử hiếm có. Kỳ công đó chính là trí tuệ lãnh đạo của Đảng ta: kết hợp tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, kết hợp đánh từ ngoài vào và đánh từ trong ra. Khác đi thì trạng thái không như vậy được và cũng sẽ không thắng được. Và kết quả thực tế đã rõ.

Nhà máy cung cấp nước cho thành phố nằm ở Thủ Đức đã được Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Nguyễn Văn Muống cầm đầu, phát động quần chúng, dù họa đuổi địch, chiếm lĩnh làm chủ nhà máy nhiều giờ trước khi quân ta tiến về đi ngang qua đây. Ở đây trong và xung quanh nhà máy, địch đã đóng một tiểu đoàn thủ quân lục chiến, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an, và đến ngày 28-4 địch lại kéo về đây thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp. Địch lại trang bị cho phòng vệ dân sự tại nhà máy 30 súng nhưng số súng này phần lớn nằm trong tay của quần chúng có tổ chức của ta. Đồng chí Muống rất lo lắng. Công đoàn quận Thủ Đức, do đồng chí Thành Đô đại diện đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Muống phải tổ chức cho được công nhân và bằng mọi cách bảo vệ nhà máy được nguyên vẹn.

Ngày 30-4, khi nghe xe tăng ta từ Biên Hòa, tiến về gần đến, đồng chí Muống đã lãnh đạo quần chúng công nhân tung tin tác động hù dọa quân ngụy và tự mình trèo lên nóc nhà treo cờ thật lớn đã chuẩn bị từ trước. Quân ngụy hoảng hốt tưởng quân giải phóng đã tiến vào nhà máy, liền tan rã bỏ chạy, có bọn bỏ cả xe chạy bộ. Đồng chí Muống đã tổ chức đội vũ trang bảo vệ và Ban tự quản nhà máy, tiếp tục điều hành hoạt động bình thường cung cấp nước cho thành phố không một giờ gián đoạn.

Còn nhà máy điện ở Thủ Đức là đội biệt động Z23 đánh chiếm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở cầu Rạch Chiếc, Z23 được lịnh chiếm Nhà máy xi-măng Hà Tiên, khu tồn trữ, nhà máy Zét-cô (nay là liên hợp công trình 4) và nhà máy điện, tổ chức bảo vệ an toàn và điều khiển công nhân tiếp tục điều hành công việc. Điện ở thành phố Sàigòn thực sự chỉ gián đoạn trong vòng 2 tiếng đồng hồ trong ngày 30-4. Tất cả đêm và sau đó liên tục đều vẫn sáng trong mọi nhà, công sở và đường phố.

Hầu như tất cả các nhà máy, từ những nhà máy dệt, nhà máy thực phẩm đến các nhà máy cơ khí… công nhân đều tham gia bảo vệ nhà máy, giữ an toàn máy móc, phương tiện cho đến khi có ban quân quản chính thức đến quản lý. Ở tất cả các công sở của trung ương cũng như của thành phố, nhân viên công chức đều giữ nguyên hồ sơ, tài liệu, phương tiện làm việc để sẵn sàng giao nộp chính quyền cách mạng.

Thật là một cuộc chuyển tiếp vô cùng đẹp đẽ từ một chế độ qua một chế độ. Không một đổ vỡ nặng nề nào. Không một cuộc trả thù hèn mọn rối loạn nào. Chỉ có cách mạng chân chính, chiến tranh nhân dân thực sự, toàn dân phục tùng nghĩa lớn của Đảng ta thì mới được như vậy. Lực lượng vũ trang nhân dân ta, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh anh hùng xứng đáng được khen ngợi vì chiến công rực rỡ.

Chúng tôi sung sướng chuyển ngay đến cán bộ, chiến sĩ đảng viên, đoàn viên nhân dân Sàigòn bức điện khen của Bộ Chính Trị Trung ương Đảng ta ngay trong ngày 30-4:

“Bộ Chính Trị nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sàigòn – Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, thuộc các đơn vị chủ lực, địa phương, bộ đội tinh nhuệ, dân quân tự vệ, đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chủ lực, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn Miền Nam thân yêu của Tổ quốc.


Bộ Chính Trị”(1).


(1) Tư liệu Ban tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #103 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:38:38 am »

*
*   *

Trong lúc cuộc tấn công và nổi dậy ở Sàigòn và Miền Đông nam Bộ như vậy thì ở các tinh đồng bằng sông Cửu Long, và ở hải đảo xa xôi như Phú Quốc, Côn Đảo, làn sóng cách mạng của nhân dân dâng lên cuồn cuộn. Quân và dân hợp đồng tấn công và nổi dậy rất chặt chẽ, lần lượt quét sạch quân thù, giải phóng hết tỉnh này đến tỉnh khác. Phong trào đã được chuẩn bị và phát động từ rất sớm, từ sau tháng 10-1974 là lúc có chỉ thị của Trung ương Cục, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện và tỉnh giải phóng tỉnh. Các tỉnh, cán bộ và nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng chủ trương đúng đắn này. Hàng vạn thanh niên đã đầu quân tham gia các loại lực lượng vũ trang chiến đấu. Hàng chục vạn quần chúng đi tham gia dân công tải đạn tải thương. Tất cả các đoàn thể dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp Ủy Đảng địa phương huy động lực lượng mình sẵn sàng tham gia đồng khởi. Truyền thống cách mạng của đồng bằng sông Cửu Long đã chứng tỏ qua nhiều phong trào từ cách mạng tháng 8 năm 1945, qua thời chống Pháp, tới “Đồng khởi”, năm 1960 và suốt thời gian chống Mỹ. Ngày nay hàng triệu tấm lòng mang ơn Đảng, có đất ruộng cày, có đời sống khấm khá, đang chờ ngày giải phóng quê hương mình.

Tỉnh được giải phóng sớm nhất là “Tỉnh dẫn đầu hai tháng chiến dịch mùa khô 1974-75” như khu Tây nam bộ khen tặng, tỉnh được tặng thưởng Huân chương thành đồng hạng nhất của chính phủ cách mạng lâm thời: Tỉnh Trà Vinh, thuộc Quân khu 9, nay thuộc tỉnh Cửu Long.

15 giờ ngày 28-4 mệnh lệnh của Ban chỉ huy chiến dịch tổng hợp tỉnh ban hành. Từ thị xã đến các huyện nô nức ra quân. Đêm 29-4 toàn tỉnh nổ súng.

Đến 7 giờ ngày 30-4 tại thị xã, các đồn bảo an, trận địa pháo, sân bay đều đã được giải phóng. Nhân dân từ trong và ngoài thị xã có trên 30.000 đồng bào gốc Việt, gốc Khmer sát cánh xuống đường tước súng ngụy, giải tán các tề ấp, tề xã, phường khóm. Kể cả các huyện thì có đến 180.000 quần chúng tham gia nổi dậy cướp chính quyền. Đến giờ đó chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng Ngụy quyền. Cuộc chiến đấu hết sức ác liệt của lực lượng tỉnh gồm cả bộ đội địa phương, đặc công, công an võ trang do anh Mười (Nguyễn Tấn Tài) và anh Hai Tri chỉ huy. Có tới 50 đồng chí ta hy sinh tại rào Dinh tỉnh trưởng. Anh Hai Tri, người chỉ huy kiên cường đã ngã xuống tại đây. 8 giờ ngày 30-4 cuộc chiến đấu vẫn ác liệt, bao vây chặt bốn phía. Ngay lúc ấy Lục cả Sơn Xớt ở chùa Xóm Ròm đã tình nguyện vào thuyết phục tên đại tá tỉnh trưởng ngoan cố, mở cho nó con đường thoát, chuộc tội với đồng bào. Đến 10 giờ 30’ toàn bộ lực lượng ngụy đã chịu hạ súng đầu hàng. 11 giờ cờ cách mạng đã phấp phới bay trên dinh tỉnh trưởng. Tỉnh lị Trà Vinh được giải phóng sớm hơn Sàigòn một ít.

Nơi tiêu biểu của điểm nổi dậy nữa trong tỉnh là tại đồn Mỹ Khê huyện Càng Long. Ở đây đồng bào tay không đã bao vây và tiến vào đồn. Một tên trung úy cảnh sát ngụy cho nổ một trái mìn Clây-mo giết chết 4 người dân và bị thương 12 người khác. Lập tức hàng trăm đồng bào tràn vào cướp đồn, bắt sống toàn bộ lính ngụy. Tên trung úy cảnh sát đã bị xử tử trước mặt đông đảo nhân dân.

Nơi sau cùng giải phóng trong tỉnh là huyện Duyên Hải. Lúc đó là 20 giờ ngày 30-4.

Một tỉnh có vị trí quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, không xa Sàigòn bao nhiêu, là bàn đạp để từ đồng bằng chi viện cho thủ đô ngụy nếu chúng có khả năng, đó là tỉnh Tiền Giang, bao gồm tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công cũ. Ở đây địch đã tập trung gần đủ cả 2 sư đoàn 7 và 9 của chúng với lực lượng thiết giáp và pháo binh mạnh. Chúng cố giữ cho được con đường số 4 là con đường sống còn của chúng nhưng ngay từ 26-4 như phần trên kia đã nói, đường số 4 đã bị chiếm từ nhiều đoạn cắt đứt địch ra nhiều mảnh. Về giao thông chiến lược đi ngang qua tỉnh còn có kinh Chợ Gạo, một đường nước vận tải nội địa nối liền từ vùng Cà Mau đến Sàigòn, con đường lúa gạo hết sức quan trọng từ xưa đến nay. Đồng bào Tiền Giang đã từng tham gia biết bao phong trào chống ngoại xâm từ những ngày đầu quân Pháp mới đến, rồi quân Xiêm mà Nguyễn Ánh đã cõng rắn cắn gà nhà ở Rạch Gầm, có một phần Đồng Tháp Mười nổi tiếng, có phong trào từ năm 30, 40 cho đến ngày nay. Riêng trong tháng 4 đã có đến 40.000 người tham gia dân công, vận tải vũ khí. Từ 15-4 trở đi có đến 4000 người tham gia cắt đường và đắp cản trên kinh Chợ Gạo. đã có hàng vạn người xuống đường tham gia tấn công và nổi dậy giải phóng tỉnh nhà.

Nơi chiếm được chính quyền sớm trong tỉnh là ở quận Chợ Gạo. Lực lượng bộ đội địa phương cùng an ninh võ trang biệt động đã tiêu diệt địch giải phóng hoàn toàn thị trấn vào lúc 13 giờ 30’ ngày 30-4. Từ đó bộ đội đã phát động quần chúng nổi dậy phá rã ngụy quyền ngụy quân lan ra giải phóng toàn huyện.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #104 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:40:13 am »

Ở Gò Công sự việc diễn biến có khác. Tỉnh lỵ nằm ở vùng sâu, bộ đội tỉnh không nhiều và phải ở xa về phía tây. Khi nghe ngụy quân ngụy quyền Trung ương ở Sàigòn đã đầu hàng, quần chúng nhân dân đã rùng rùng kéo ra thị xã Gò Công dùng loa tay và cả loa điện kêu gọi binh lính địch buông súng trở về quê cũ làm ăn. Gia đình binh sĩ ùa vào trong đồn bốt, lôi con em ra, bắt vứt mọi thứ về với cha mẹ anh em. Cán bộ Đảng, cán bộ chính trị tại chỗ đã khéo léo lãnh đạo bà con giải tán tề ngụy, phá bót canh, thu gom sung đạn. Cả một tỉnh lỵ của địch tan nát rã rời. Nhân dân đã làm chủ hoàn toàn vào lúc 13 giờ ngày 30-4. Sau đó nào xe lam, xe hàng từ thị xã chạy lên đồn Vĩnh Hựu chở bộ đội về cho nhanh để tiếp quản. Toàn tỉnh Gò Công được giải phóng lúc 14 giờ 30’ ngày 30-4.

Gò Công đã có truyền thống dùng sức mạnh đồng khởi của nhân dân chống địch. Năm 1954 trước ngày ký kết hiệp định Genève, chỉ một đại đội bộ đội địa phương cùng dân quân và đồng bào, mỗi đêm tiêu diệt hàng loạt 30-40 đồn bót và đến ngày ngừng bắn hầu như chỉ còn có thị xã là địch còn kiểm soát. Sư việc như vậy lại diễn lại nhiều lần, năm đồng khởi 1960, rồi phá dề, phá mảng ấp chiến lược thời Diệm và mới năm 1974 đây, cũng mở rộng quyền làm chủ của nhân dân trong nhiều vùng cho đến nay tự mình giải phóng lấy tỉnh mình.

Tại thị xã Mỹ Tho, một đội biệt động của thành đoàn thanh niên lao động đã đưa vào các cơ sở cách mạng phát động quần chúng nổi dậy ở các phường, buộc phòng vệ dân sự, cảnh sát, giao súng cho cách mạng, kêu gọi lính ngụy hạ vũ khí đầu hàng, 16 giờ ngày 30-4 một lá cờ giải phóng lớn được kéo lên cột cờ cao chót vót tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu. Các phường 1, 2, 4, 5, 6 được giải phóng trước. Nhưng địch ở khu quân sự gần sân banh vẫn còn. Anh em đã ngồi trên 6 chiếc xe jeep dương cờ cách mạng chạy vòng xuống cặp bờ sông dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Ngang qua Chương Dương bị địch bắn dữ dội vào xe. Một xe bị trúng đạn. Anh Trần Văn Trầm hy sinh. Họ vừa chống trả lại bằng súng ngắn và lựu đạn vừa tiếp tục cuộc hàng trình, chiếm luôn cầu Bắc để liên lạc với Bến Tre. Đến 24 giờ ngày 30-4 thì trung đoàn 1 sư đoàn 8 của Quân khu 8 mới tiến vào đến, chiến đấu diệt thiết đoàn 6 ngụy còn kháng cự ở Chợ Cũ. 5 giờ ngày 1-5 thị xã Mỹ Tho được hoàn toàn giải phóng.

Sáng 30-4 nhân dân đổ ra đường số 4 rất đông. Trong lúc lực lượng vũ trang của tỉnh diệt địch chiếm cầu đúc Bưng Môn thì phía trên Bình Phú dân đã hù dọa lính ngụy chiếm được 6 chiếc M113 còn nguyên vẹn và cả trận địa pháo ở Thuộc Nhiên gồm 2 pháo 155 ly và 4 pháo 105 ly. Chính đơn vị tỉnh đã dùng xe M113 này chạy về giải phóng thị trấn Cai Lậy. Trung đoàn 12 sư đoàn 7 ngụy hoàn toàn tan rã tại đây.

Tỉnh Mỹ Tho còn có căn cứ quân sự lớn của địch ở Bình Đức. Đây là căn cứ của của Sư đoàn bộ binh 9 Mỹ. Sau khi Mỹ rút đi thì giao căn cứ này lại cho quân ngụy. Mỹ đã đổ nhiều công sức, tiền của, đưa nhiều máy móc tới đây, cướp đoạt các ruộng lúa phì nhiêu, san bằng nhà cửa vườn tược của dân trên bờ sông Cửu Long này để xây dựng căn cứ. Chiếm đoạt tài sản và bắn giết vô tội vạ người dân lương thiện địa phương để biến ruộng nương thành chiến trường, căn cứ quân sự. Tên tướng Mỹ võ biền thô lỗ Westmoreland không những không thấy y là một tên tội phạm chiến tranh còn vênh váo khoe khoang về công trình này:

“… công binh của hải quân và lục quân (Mỹ) đã tạo ra một hòn đảo cát mà trong mùa khô đã trở thành một nơi có nhiều cát nhất trên trái đất…

“… Các ruộng lúa đã được đào xới để có chỗ cho tàu dậu, còn các máy nạo vét thì xúc cát ở lòng sông để lập một khu ruộng lúa ngập nước rộng tới 640 arces (1 dặm vuông)…

“… tôi đã đích thân chọn cái tên đặt cho căn cứ để tiêu biểu cho sự hợp tác giữa Mỹ và Nam Việt Nam: “Đồng tâm”…(1)

Không những thế, tên tướng này còn thú nhận hắn đã dùng chiến tranh hóa học chống lại nhân dân ta. Y nói:

“… hóa chất phát hoang còn được dùng để triệt phá thóc lúa của địch ở các vùng xa xôi bị Việt Cộng kiểm soát. Mặc dầu ranh giới vùng chánh phủ kiểm soát và vùng chịu ảnh hướng của Việt Cộng không được phân định rõ ràng, loại thuốc phát hoang này vẫn thường được dùng. Thuốc phát hoang có gây ra sự thiệt hại về sinh thái học, gây ra bao nhiêu và hậu quả của nó dài bao lâu thì chưa ai rõ…”.


(1) Trích hồi ký của Westmoreland “Một quân nhân tường trình”
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #105 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:43:41 am »

Chính tại cái căn cứ Đồng Tâm này, sáng 30-4 có cuộc họp khẩn cấp giữa Bộ tư Lệnh sư đoàn 7 ngụy và các tiểu khu lân cận để bàn “tử thủ”. Chúng tưởng các công sự kiên cố, các rào giây thép gai phức tại của Mỹ có thể cứu sống chúng. Đến trưa chúng đã ra lịnh cho các trung đoàn còn ở phía bắc Cây Lậy và Châu Thành rút hết về đây. Thiết giáp được dàn ra lộ 4 để đón quân. Thế nhưng dọc đường rút về căn cứ, lính tráng đã bỏ trốn một mớ. về đến căn cứ thấy tình trạng hỗn quân hỗn quân chúng lại bỏ trốn một mớ nữa. Đồng bào suốt từ lộ 4 dài đến lộ Cổng 2, ai ai gặp lính còn mang súng cũng hỏi: “Bộ muốn chết để hổng còn được hưởng hòa bình hay sao mà giờ này còn mang súng mang ống kinh kinh vậy đó?!”; Hoặc “Sàigòn thua tất rồi, bộ mấy chú, mấy em hổng hay hay sao? Trời đất! Sức mấy mà cái “Đồng Tâm” này chống nổi với giải phóng? Thôi, về nhà lo lăm ăn đi cho nó yên chuyện!”… Và, khi lính kéo về đây, đồng bào cũng ùa theo vô căn cứ. Bọn lính lại lần lượt bỏ trốn. Đến 7, 8 giờ tối thì du kích đã lọt vô căn cứ. Đến 12 giờ đêm thì bộ đội tỉnh, bộ đội khu cũng đã ở ngay trong căn cứ rồi. Toàn bộ sĩ quan, binh lính, số rã, số bị bắt. 00 giờ 00 ngày 1-5 căn cứ “Đồng Tâm” hoàn toàn được giải phóng.

Tất cả các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long đều diễn ra tấn công và nổi dậy tương tự như các vùng nói trên, nhịp độ sôi sục nhất trong các ngày 29, 30-4 và 1-5. Tuy Sàigòn đã phải đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30-4 và Bộ Tư Lệnh vùng 4 chiến thuật hay Quân đoàn 4 ngụy đầu hàng vào cuối ngày này nhưng bọn cầm đầu ngụy quân ngụy quyền ở cá tỉnh vẫn ngoan cố chống cự. “Cố thủ” trông chờ sự chi viện cuối cùng của Mỹ. Nhưng trước sức tấn công và nổi dậy như vũ bão của lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng, một số bị diệt, số khác phải đầu hàng, tan rã và hầu hết các tỉnh đều được giải phóng hoàn toàn vào ngày 30-4 và 1-5.

Từ Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng một lực lượng hùng hậu bộ binh, xe tăng, pháo binh, cao xạ để tiến về đồng bằng, giúp đỡ một tay với quân, dân 2 Quân khu 8 và 9 diệt nốt nhanh chóng quân địch nào còn ngoan cố chống cự. Chúng tôi biết rất rõ ràng khi đầu não ngụy quân, ngụy quyền ở Sàigòn đã bị đập nát, Mỹ đã phải trèo lên nóc nhà “đằng vân dá vũ” trốn thoát, thì đó là một đòn quyết định để giải phóng toàn bộ Miền Nam Việt Nam. Nhưng không phải đơn giản là Sàigòn giải phóng thì tự khắc các nơi khác cũng được giải phóng, ta không phải hành động gì, ngồi đó mà đợi cho trái chín rụng vào bị.

Đến những ngày chót mà Thiệu còn bàn với những thủ hạ tâm phúc của hắn: “Nếu như bị mất Miền Đông và Sàigòn, thì bằng mọi giá gom hết sức lực còn lại của Nam phần Việt Nam, lui về đồng bằng sông Cửu Long, cố thủ ở đó… Phải giữ chặt các hòn đảo ở phía nam.

… Cần Thơ là thủ phủ của Việt Nam cộng Hòa”…

Rồi thực tế là Sàigòn đã đầu hàng mà quân ngụy còn định cố thủ ở Đồng Tâm, ở Cần Thơ và ngay khi Cần Thơ đã đầu hàng bọn ngụy ở một số địa phương vẫn mong cố thủ. Nếu ta không có những biện pháp sớm từ trước phá tan âm mưu co cụm về đồng bằng, nếu ta không có một chiến lược cách mạng tổng hợp đồng loạt tấn công và nổi dậy bằng lực lượng tổng hợp chính trị và quân sự thì chắc chắn tình hình đã diễn biến phức tạp hơn nhiều. Quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã nhận thức sớm được trách nhiệm lịch sử tự mình đứng lên giải phóng quê hương mình, đã đóng góp xương máu không nhỏ vào những trận chiến đấu sau cùng. Theo sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, hợp đồng chiến đấu với mặt trận Sàigòn, các tỉnh đồng bằng đều đã đồng loạt tấn công và nổi dậy, có tỉnh giải phóng trước Sàigòn, có nơi cùng một lúc và khi ngụy quyền Trung ương phải đầu hàng vô điều kiện thì lợi dụng thời cơ quí giá ấy hàng triệu người, quân cũng như dân đã nhất tề xông lên mạnh hơn, chỉ trong 2 ngày 30-4 và 1-5 giải phóng hầu hết các tỉnh vùng Châu Thổ này.

Đoàn quân binh chủng hợp thành chuẩn bị sẵn của chúng tôi từ Miền đông Nam Bộ, đã không cần thiết phải xuất quân chiến đấu. Cả quân khu 8 và 9 đều điện về Miền: “Chúng tôi tự lực được” mà thực tế đồng bằng đã tự lực gọn ghẽ quét sạch quân thù, tự giải phóng.

Quân khu 9 tự mình giải quyết đầu não vùng 4 chiến thuật, giải phóng “Tây Đô” mà còn phối hợp với chiến dịch Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ cắt đường sông Mang Thít, đường 4 chiến lược và khống chế sân bay lớn ở Cần Thơ.

Ngày 25-4, Quân khu nhận được điện của Bộ tư Lệnh Miền (điện số 693/ZN/24-4):

“Bắt đầu từ 28-4 trở đi, Quân khu phải kiên quyết đánh phá cắt đường 4 ở nhiều đoạn quan trọng đã qui định. Cũng từ 28-4 trở đi, dùng đặc công đánh nhỏ và lớn liên tục sân bay Trà Nóc, đi đôi với đùng cối, pháo, khống chế vào các đường băng, đài chỉ huy, không cho địch cất cánh và hạ cánh ở sân bay này. Tối 29 rạng 30-4, dùng tất cả lực lượng của Quân khu, đánh chiếm hoàn toàn sân bay Trà Nóc làm chủ và giữ luôn sân bay. Sau đó khi có điều kiện thì đánh chiếm thị xã Cần Thơ”(1).


(1) Tư liệu của Phòng khoa học quân sự Quân khu 9.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #106 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:46:03 am »

Ngày 28-4, Quân khu đã tổ chức pháo kích và tấn công liên tục vào sân bay theo lệnh của Miền và sáng 30-4 khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, trung đoàn 20 chủ lực của khu lập tức đánh thẳng vào và chiếm sân bay Trà Nóc lúc 14 giờ trong ngày. Toàn bộ quân địch ở đây đầu hàng gồm có Bộ tư lệnh sư đoàn 21 bộ binh, Bộ tư lệnh sư đoàn 4 không quân. Ta thu 113 máy bay các loại.

Trong khi đó, tại thị xã Cần Thơ, cán bộ chính trị đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy chiếm các phường ở trung tâm thị xã: Phường An Cư, An Nghiệp, An Hòa thuộc quận 1: Phường An Hội, An Thạnh thuộc quận 2 và ấp Bình Di, Xã Long Tuyền thuộc quận 3… cơ sở binh vận của ta kết hợp với nhân dân chiếm đài phát thanh vào lúc 14 giờ và 15 giờ đã phát đi tiếng nói của cách mạng kêu gọi binh lính ngụy đầu hàng.

15 giờ ngày 3-4 lực lượng vũ trang Quân khu 9 siết chặt vòng vây và tấn công thẳng vào chỉ huy sở Quân đoàn 4 ngụy. Trước tình hình tuyệt vọng không còn lối thoát, tên tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh vùng 4 chiến thuật phải đầu hàng. Vài giờ sau y tự sát, kết liễu một cuộc đời tay sai nhơ nhuốc. Ta làm chủ toàn bộ thành phố Cần Thơ trong đêm 30-4.

Sau đó, Bộ Tư Lệnh Quân khu 9 đã sử dụng 24 xe M113 vừa lấy của địch cùng một số xe vận tải chỏ trung đoàn chủ lực 101 chạy thẳng lên hướng Long Xuyên, Châu Đốc nơi giải phóng cuối cùng ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng không phải lực lượng quân đội mạnh đã đơn độc giải quyết được tình hình phức tạp ở khu vực này. Ở đây lại thể hiện thêm sự kết hợp giữa tấn công và nổi dậy, giữa lực lượng quân sự và chính trị của quần chúng. Chính ở đây nói lên sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân, nói lên rõ sức mạnh của chính nghĩa cách mạng.

Cũng không phải tất cả khu vực này đều được giải phóng muộn. Ngay từ ngày 25-4 huyện Thanh Bình trên bờ đông sông Tiền đã được giải phóng. Tiếp theo đó tất cả bọn địch ở khu vực đông sông này đều bị quét sạch, bọn chúng rút chạy về cụm ở Hồng Ngự nhưng chúng cũng phải đầu hàng trước sức ép của ta vào 8 giờ ngày 1-5.

Tại thị xã Châu Đốc, tối ngày 30-4, địch ở Tiểu khu được lịnh rút về tử thủ ở vùng “thánh địa Hòa Hảo”. Trước khi rút đi chúng đã đốt kho bạc và tài liệu hồ sơ, nhưng đồng bào tại chỗ đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu được 11 thùng bạc và các giấy tờ hồ sơ cần thiết cho cách mạng.

“Thánh địa Hòa Hỏa” là nơi thờ cúng của đạo giáo Hòa Hỏa tại làng Hòa Hảo, quê hương của người lập ra đạo giáo này: Huỳnh Phú Sổ. Làng nằm trên sông Vàm Nao, con sông nhỏ nối liền 2 sông Tiền và sông Hậu. từ trước đến nay bọn ngụy dựa vào một số người xấu trong những người lãnh đạo của Đạo này, lợi dụng đồng bào theo đạo để mưu lợi cho chúng, chống lại cách mạng. Ngày nay trước ngày tận số chúng lại mưu mô lợi dụng đồng bào Phật giáo Hòa Hảo định nắm cả triệu tín đồ trong vùng, dựa vào “thánh địa” làm nơi cố thủ lâu dài. Chúng mơ tưởng như vậy vì chúng không hiểu được lòng yêu nước và chống áp bức của đồng bào tín đồ vốn đa số là nông dân lao động. Chúng cũng không hiểu được nguồn gốc của Đạo và ý nguyện thực sự của “Thầy” tức Huỳnh Phú Sổ, con người nho nhã, cổ cao, mắt sáng, đã từng xem tôi như một người bạn, đã tin và nghe theo những lời tôi giải thích về cách mạng và cũng đã tâm tình nhiều lần với tôi trong những dịp gặp gỡ. Lúc ấy tôi là Tư lệnh Quân khu 8 ở Đồng Tháp Mười trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và Huỳnh đã có thời gian ở trong căn cứ với tôi. Huỳnh đã từng tâm sự: “Tôi là một người yêu nước. Tôi không chịu được cách Tây chiếm đoạt đất nước mình, đè đầu đè cổ dân mình. Nhưng làm sao để chống lại. Đêm ngày tôi lo nghĩ đắng cay. Phải chi tôi gặp các anh sớm để biết được con đường phải đi. Ông đứng lại và ngó tôi vừa cười: “Nhưng giờ cũng chưa muộn” rồi ông tiếp: “Tôi nghĩ ra cách là nhân lúc này dân ta còn mê tín nhiều, tôi lập ra một cái Đạo để tập hợp nhân dân, che mắt Tây và bọn mật thám mà. Khi ta đã có lực lượng đông đảo rồi thì có sức mạnh lúc đó sẽ hành động, dành lại nước nhà. Ông lại ngừng một chút có vẻ ngẫm nghĩ rồi nói: “bây giờ nghe các anh nói có lý, tôi tin. Phải cả nước, phải mấy chục triệu dân Vệt Nam ta đồng lòng mới được. Mà lấy nghĩa vụ đối với Tổ quốc, thất phu hữu trách, thì nhân dân ta vốn có lòng yêu nước chắc là đồng lòng đánh Tây thôi… Đúng là không nên để cho dân ta cứ mê tín mãi…”. Tiếc rằng sau đó có một thời gian ông xa chúng tôi rồi bị bọn xấu lợi dụng, xuyên tạc, khống chế, cố lôi ông đi xa con đường mà ông đã tìm thấy, rồi ông mất đi, cho bọn xấu dùng danh nghĩa của ông lợi dụng tín đồ của ông. Nhưng chính nghĩa khi nào cũng thắng, đó là chân lý.

Như vậy là bọn tàn quân ngụy từ các nơi đổ về “Thánh địa” co cụm tại đây với số quân trên 1 vạn bố trí thành trận địa.

Sau khi ta giải phóng Tân Châu gần biên giới với Kampuchia thì bộ đội địa phương của tỉnh, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 cùng bộ đội huyện tiến xuống “Thánh địa” theo 2 mũi: bờ đông sông Tiền và bờ đông sông Hậu. Khi tiểu đoàn 2 tiến đến gần Kinh Xáng An Long định vượt sang Cù Lao Tây thì bị địch bắn ngăn chặn quyết liệt. Lại không đủ phương tiện sang sông. Đồng bào đã huy động xuồng ghe cho bộ đội. Một mặt đồng bào tự phái một số ông bà già cùng với gia đình binh sĩ đi trước, đánh xuồng thẳng ngay vào trận địa địch kêu gọi chúng đầu hàng. Trận địa địch tan rã, rút chạy. Bộ đội ta tràn sang an toàn. Cánh tiểu đoàn 2 cũng xuống đến An Phú, tiêu diệt một số địch và bắt liên lạc giữa 2 cánh để tiến đánh vào nơi co cụm chính. Lúc đó đã là 14 giờ ngày 2-5. Đang tổ chức lại đội hình tấn công thì chị Út Nhang, tỉnh ủy viên phụ trách vận động bà con các tôn giáo, thường xuyên ở vùng nầy, đến bảo: “Địch đang hoang mang. Các anh phải đánh gấp nội trong chiều nay”. Xong, chị đi trước, vận động bà con hưởng ứng kết hợp với bộ đội lấn áp địch và vận động lính ngụy ra hàng. Chị Út Nhang đã gặp và thuyết phục Lương Trọng Tường, một trong những người cầm đầu Phật giáo Hòa Hảo. Tường xin hàng quân giải phóng. Bội đội ta vào. Trên 1 vạn quân ngụy buông súng đầu hàng. Ta làm chủ toàn bộ khu vực lức 17 giờ ngày 2-5.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #107 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:50:13 am »

Thế nhưng chưa hết. Số ngoan cố lại trốn về nhập chung với một bọn tàn quân đông đảo hơn, trang bị mạnh hơn, co cụm tại một ngôi chùa cổ gọi là Tây An cổ tự thuộc quận Chợ Mới cũng với danh nghĩa là quân đội Phật giáo Hòa Hỏa.

Trước khi giải quyết điểm co cụm này ta đã giải phóng thị xã Long Xuyên, một thành phố đẹp có nhiều kiến trúc mới trên bờ sông Hậu. Ở đây, có vai trò nổi bật của giới giáo chức và học sinh trong phong trào nổi dậy chiếm chính quyền.

Trưa 30-4 đông đảo giáo chức và học sinh chiếm trường học, trừng trị bọn ác ôn đã từng kềm kẹp, bắt bớ anh chị em trong bao năm trước. Sau đó, dựa vào cơ sở đã có sẵn, chiếm Đài truyền tin, chiếm kho bạc và cả trận địa pháo địch. Cờ cách mạng cất dấu từ trước được tung ra treo các nơi và vận động bà con may thêm nhiều cờ mới. Họ tổ chức ngay lực lượng võ trang của mình trang bị bằng một ít súng lấy được của địch. Tình hình phức tạp là khi nghe Đài phát thanh Sàigòn phát đi lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Dương Văn Minh thì một số bọn xấu, bọn phản động cơ hội, lợi dụng lúc bộ đội ta chưa đến kịp liền làm cuộc đảo chính nắm chính quyền gọi là “Hảo Hảo cướp chính quyền”. Như vậy là ngay ở thị xã Long Xuyên lúc ấy có hai lực lượng nổi dậy: nhân dân nổi dậy và bọn phản động mệnh danh “Hảo Hảo nổi dậy”. Bọn nầy súng ống đầy đủ, bắt đầu cướp bóc trả thù. Nhân dân thì lực lượng võ trang yếu, chưa tiếp xúc được với bộ đội ta bên ngoài. Nhờ nắm được Đài truyền tin, lực lượng giáo chức học sinh một mặt kêu gọi Cần Thơ xin viện trợ gấp, mặt khác sử dụng những vị có uy tín lớn ở thị xã lâu nay đến thẳng gặp bọn cầm đầu cướp chính quyền nói với chúng: “Các ông đừng làm cái việc dại như vậy! Các ông chỉ là một nhúm người nhất định không đánh lại nổi với giải phóng đâu. Các ông chỉ làm cho dân chúng Long Xuyên này đổ máu tiếp tục trong khi mọi nơi, kể cả Sàigòn, đã yên ổn vui vẻ rồi. Đất nước sắp yên lành hoàn toàn mà các ông nỡ gây thêm nỗi oán hận nữa hay sao? Xe tăng dưới Cần Thơ đã lên sắp đến nơi rồi đó. Dân chúng đã đi đón giải phóng hằng hà ngoài đường. Các ông ra mà nhìn một chút để rồi biết nên làm gì lúc nầy…”

- “Họ còn bao xa nữa?”

- “Khoảng sáu, bảy cây số thì tới đây thôi”

Thế là chúng ra lịnh giải tán. Súng ống vứt bừa bãi, tan rã. Số đông lẩn vào trong dân. Một số chạy về nhập bọn ở Tây An cổ tự.

Long Xuyên được hoàn toàn giải phóng hồi 9 giờ ngày 2-5.

Còn ở Tây An cổ tự. Chúng đã có âm mưu từ trước nếu khi các nơi bị ta đánh chiếm, giải phóng thì chúng liền qui tụ về “Thánh địa” và về đây. Khi “Thánh địa” bị mất nữa thì chúng coi đây là nơi cố thủ cuối cùng. Ước lượng số quân ngụy dồn về đây có đến 14.000 tên võ trang đầy đủ. Ngoài ra không biết bao nhiêu là tàu chở vũ khí trang bị, lương thực… đậu đầy dưới sông. Khu chùa trở thành quá hẹp không đủ đất, đủ nước để chứa nữa. Chúng vội vã tổ chức “cố thủ”.

Nhưng Ban trị sự chùa lúc ấy gồm các cụ cao tuổi, các bậc đạo chính tông, không chấp nhận việc làm sai trái như vậy. Các cụ đã nói: “Cơ hội lập lại hòa bình đã đến rồi. Chính đây là nguyện ước thái bình mà Thầy hồi sinh tiền đã ôm ấp và chỉ giáo cho bổn đạo hằng bốn phương. Cho nên tiếp tục gây cảnh núi xương sông máu là trái với lòng Thầy”. Đồng bào Hòa Hảo đã nhất trí với các cụ. Vả lại khi đám tàn quân ô hợp kéo về đây thì bao tai nạn cướp bóc, hiếp đáp, bắn giết đổ lên đầu nhân dân còn tệ hơn những kềm kẹp, đàn áp của ngụy quyền trước kia nữa. Quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của cán bộ cách mạng vùng xung quanh đã đứng dậy phá tề, giải tán phòng vệ dân sự, thu vũ khí, trương cờ cách mạng, treo khẩu hiệu “chánh quyền về tay nhân dân”, vận động chúng bỏ súng về nhà làm ăn tránh chết chóc. Và tin lan rộng lực lượng quân giải phóng từ Sađéc, Long Xuyên, từ Cần Thơ đang tiến đến bằng cả hành quân bộ, bằng xe tăng, bằng tàu hải quân… Bọn đầu sỏ hoảng hốt, hoang mang cao độ. Thực tế chúng cũng không còn chỉ huy được cái đám quân đã rã rời, đã chán chường, không còn một chút tinh thần gì. Thế là mạnh ai nấy tìm đường mà thoát, nhân dân giúp đỡ tích cực chỉ lối cho mà trốn đi. Không mấy chốc cả một đám người hổ lốn ấy tan rã như bọt nước.

Ngày 6-5-1975 cờ giải phóng đã rực đỏ tòa Tây An cổ tự, đã phấp phới bay trước gió trong lành khắp cả vùng mảnh đất cuối cùng của B2 của Miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #108 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 10:51:16 am »

*
*   *

Trong đất liền đã tấn công và nổi dậy, ở hải đảo cũng nổi dậy và tấn công. Hai hòn đảo ở phía nam nầy lớn nhất, quan trọng nhất là Côn Đảo và Phú Quốc. Mỹ, Ngụy ỷ vào lực lượng hải quân và không quân của chúng mạnh, nên xem các đảo này là nơi an toàn nhất của chúng. Chúng đã biến cả hai hòn đảo này thành những trại tù khổng lồ. Hàng vạn chiến sĩ yêu nước đã bị giam cầm, hành hạ, nhiều người đã hy sinh ở đây. Nơi non xanh nước biếc, tài nguyên thiên nhiên phong phú, gió biển trong lành, từ nhiều năm đã trở thành nơi chồng chất uất hận căm thù, chỉ mong có ngày phá tung ngục tù, đập tan xiềng xích.

Tại Côn Đảo cũng như tại Phú Quốc, những ngày tháng 3, tháng 4 năm 1975, không thiếu những tin tức phấn khởi dồn dập từ đất liền. trong các trại tù chính trị, anh chị em đã dấu được một máy thu tin nhỏ, thường xuyên theo dõi từng chiến thắng của ta, từng nơi được giải phóng. Rồi chính những bàn luận nhỏ to của bọn sĩ quan và binh lính ngụy gác tù cũng là những nguồn động viên tin tưởng: “Giải phóng đã chiếm tỉnh Phước Long rồi”; “Tây Nguyên thất thủ rồi”; “Tỉnh Lâm Đồng cũng mất rồi”… “Họ mạnh quá, pháo họ bắn rất xa và rất trúng, một quả đạn phá một tòa nhà…; còn xe tăng họ đi tới đâu cán nát ở đó, xe tăng Mỹ không loại nào chống lại nổi… Nghe nói toàn là vũ khí của Nga… Khéo không thì tàu ngầm họ ra đến đây bây giờ…”

Ngày 30-4 ở Côn Đảo, trong trại tù chính trị số 7, một số anh em chụm đầu lại nghe đài phát thanh Hà Nội: … Sàigòn đã được giải phóng… Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền đã xin đầu hàng vô điều kiện… Tức thì tin loan ra trong toàn trại. Nhưng cuộc hội ý chớp nhoáng, phán đoán, xác minh hư thực, bàn luận phương thức hành động. Bỗng cửa mở, vài sĩ quan ngụy ló đầu vào khúm núm, hết cả vẻ hách dịch thường ngày, nói: “các ông đã biết giải phóng chiếm Sàigòn chưa? Thôi các ông còn ở trong đó làm gì nữa”. Tức thì, quyết định dứt khoát. Toàn trại tung cửa, ùa cả ra ngoài. Cờ mặt trận giải phóng và cờ đỏ sao vàng, bí mật chuẩn bị lâu nay được tung ra, kéo lên cột cờ, trèo lên trước trại. Anh em kéo qua trại 1 mở tung cửa trại rồi lần lượt hết trại này đến trại khác. Rừng người bật dậy, rừng cờ tung bay. Toàn đảo bừng lên niềm hân hoan chiến thắng, ánh lên màu tươi sáng thanh bình.

Côn Đảo hoàn toàn được giải phóng vào khoảng 16 giờ ngày 30-4.

Ủy ban giải phóng được lập nên để tạm thời quản lý đảo, chờ liên lạc với đất liền.

Trong lúc đó đoàn tàu bộ đội hải quân của ta, được phái ra giải phóng đảo, đang mở tốc độ vượt biển đông.

Đảo Phú Quốc, thì gần đất liền hơn rộng hơn và cũng có đông dân cư sinh sống hơn. Đảng bộ địa phương từ nhiều năm đã xây dựng căn cứ kháng chiến, liên tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch, có tổ chức vũ trang gần một đại đội, đã tích cực hoạt động phối hợp tấn công địch trong đợt xuân 1975. Ở Dương Đông đã pháo kích và tấn công nhiều đồn bót giặc, đã bức rút 1 đồn và diệt 1 bót canh. Nơi đây địch giam giữ chủ yếu là số anh em chiến đấu của ta là cán bộ và chiến sĩ sa cơ bị bắt khắp các mặt trận. Anh em ta nhiều phen đã đánh trả lại lính ngụy tàn ác, nhiều toán đã vượt ngục ra rừng, tổ chức thành đội võ trang chiến đấu, liên lạc với với địa phương. Đã có số anh em đốn gỗ, đóng thuyền, vượt biển về đất liền, xin được chỉ đạo, được tiếp tế, trang bị. Có lần Bộ tư Lệnh Miền đã tổ chức co một số cán bộ thoát ngục về gặp tại căn cứ, nghe báo cáo rõ tình hình trại giam, đề ra phương châm hoạt động, tạo phương tiện và cho trở lại đảo chỉ đạo công tác và làm gạch nối liền với cấp trên. Địch thì vân coi thường phong trào đấu tranh ở đây, có lẽ chúng cho là nhỏ yếu, cô lập để đàn áp. Vì vậy chúng vẫn xem đây là nơi an toàn cuối cùng. Ngày 20-4 khi Sàigòn đã bị uy hiếp mạnh, CIA lập tức di chuyển toàn bộ nhân viên và gia đình và các đài phát thanh bí mật do CIA điều khiển lấy bí danh “nhà số 7” ra đảo Phú Quốc. Đó là 5 đài phát thanh cả tiếng Khmer và tiếng Việt trong đó có đài “Tiếng nói gươm thiêng” và “Mẹ hiền Việt Nam” đặt tại nhà số 7 đường Hồng Thập Tư (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh). Vì vậy mà có bí danh “nhà số 7”. Những đài này rất phản động, chống công, theo nội dung và hình thức của CIA, nhằm lung lạc tinh thần những người Việt Nam yêu nước, là một vũ khí thêm vào những âm mưu thâm độc của Kissinger, nhằm giành toàn thắng giữ Miền Nam Việt Nam mãi mãi là một thuộc địa kiểu mới của Mỹ? Chính Kissinger đã ra lịnh lập ra các đài này ngay sau khi ký xong Hiệp định Paris. Điều này nữa nói lên sự giả dối khi ký kết hòa bình của Kissinger – Nixon và cũng nói lên sự phá bỏ hiệp định Paris của Mỹ - Ngụy là tất nhiên.

Nhưng các đài này và hàng nghìn người vừa di chuyển ra đây đã phải lên tàu Mỹ chạy về dảo Guam vào cuối tháng tư.

Trưa 30-4 lực lượng trong trại giam anh em vũ trang ngoài trại giam, kết hợp với địa phương và nhân dân nổi dậy, diệt tháp canh, phá trại, đánh tan quân ngụy, giành chính quyền trên toàn đảo. Chính quyền cách mạng đã quản lý đảo vào khoảng 17 giờ ngày 30-4.

Sau đó một số tàu hải quân ngụy, cả bọn phản động trong đạo Hòa Hảo cũng chạy ra đây định cụm lại đảo. Nhưng đảo đã được ta giải phóng trước rồi nên chúng lại chạy tốn, một số tàu ngụy trở về đầu hàng.

Như vậy là cả đảo, tách rời với đất liền cũng đã tự mình tấn công và nổi dậy tự giải phóng cho mình, rất sớ, ngay chiều ngày 30-4-1975.

Thế là toàn bộ chiến trường B2 đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình. Quân và dân B2 đã tin tưởng và theo sát sự lãnh đạo của Đảng giữ vững truyền thống đấu tranh cách mạng 2 chưn, 3 mũi, tấn công và nổi dậy, từ rừng núi đến đồng bằng, hải đảo, từ nông thôn đến thành thị, ngay cả tại Sàigòn, thủ đô của ngụy. Quân và dân B2 luôn giữ vẹn nghĩa tình chung thủy, đi trước về sau, luôn đáng tự hào là Thành đồng Tổ quốc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #109 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2018, 03:07:11 pm »

CHƯƠNG CUỐI
VÀO QUÂN QUẢN THÀNH PHỐ

Tôi lại gặp bất ngờ.

Tại Sở chỉ huy Tiền phương chiến dịch, Ngày 1-5 tôi gấp rút tiến hành một số công việc: theo dõi cuộc tiến công và nổi dậy đang diễn biến sôi nổi ở đồng bằng sông Cửu Long, hoàn chỉnh rồi tổ chức cánh quân tiến về chi viện; sắp xếp và bố trí lại các lực lượng quân sự ở Sàigòn và Miền đông; tiếp tục chỉ đạo việc quét bọn tàn quân còn rải rác từng đơn vị đại đội, có nơi cả tiểu đoàn ở các cánh rừng và miệt bưng xung quanh Sàigòn…

Ạnh Sáu Thọ và anh Bảy Cường đến gặp phổ biến “điện anh Ba nói Bộ chính Trị quyết định cậu vào làm chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Sàigòn – Gia Định. Đi ngay thôi cho kịp”.

Từ đầu tháng 4, theo sự chỉ đạo của Bộ Chính Trị, Trung ương cục, có cả anh Sáu Thọ tham gia, đã dự liệu tất cả rồi. Đã có một kế hoạch công tác tỉ mỉ của Ủy ban Quân quản cũng như của ban tiếp quản các cơ sở các ngành ở thành phố. Đã tổ chức các bộ máy, chỉ định về nhân sự. Đã chỉ định rồi chủ tịch Ủy ban quân quản và Trưởng ban tiếp quản (lúc ấy không phải là tôi). Bộ Chính Trị đã thông qua và đã phái nhiều cán bộ từ các ngành Trung ương ở Hà Nội vào tăng cường để đủ sức triển khai công tác với khối lượng hết sức to lớn. Khi các cánh quân từ các hướng đánh vào Sàigòn thì các bộ máy quân quản cũng như tiếp quản đã tiến sát theo đoàn quân. Nay có lẽ, anh em đã bắt tay vào công tác rồi. Như vậy là từ đầu tháng 4, khi đội quân tác chiến và đội quân nổi dậy hoàn chỉnh việc bố trí, thì đội quân quản lý và đội tiếp quản thành phố cũng song song được triển khai kịp thời. Kế hoạch tấn công và nổi dậy được vạch ra thì kế hoạch tiếp quản và quân quản cũng được xây dựng. Công việc này chưa dứt hẳn thì công việc kia đã phải tiến hành rồi. Ta đã quyết tâm giành toàn thắng, ta đã tin chắc thắng nên mọi việc đều được lo toan từ trước.

Tôi thường không bao giờ nhớ đây là lần bất ngờ thứ mấy đối với tôi trong công tác, mà luôn đinh ninh rằng không phải là lần chót. Sẽ còn nhiều bất ngờ nữa, cả những bất ngờ hay cũng như bất ngờ dở. Và đó cũng là sự thật của cuộc sống thôi, là chuyện bình thường khi công việc cần mà ta còn hơi thở và còn làm việc. Ngay khi không còn làm việc được nữa, khi “mắt hòa xanh đầu dễ bạc, Lưng khôn uốn, lộc nên từ”(1), hoặc lúc sức đã yếu tuổi đã già – đây cũng là chuyện bình thường – thì vẫn còn có những bất ngờ cho đến khi ta trở về đất bụi thì mới hết mọi việc.

Đoàn xe Com-măng-ca của chúng tôi, tới sở chỉ huy, xuyên rừng cao su Dầu Tiếng vượt sông Sàigòn tới Bến Củi rồi ra Trảng Bàng theo quốc lộ 1 tiến về Sàigòn ngang qua Củ Chi, Tân Phú Trung, Hóc Môn, Bà Quẹo. Ôi! Những vườn cây ăn quả, những rặng trúc, bờ tre xanh tốt, những thửa ruộng bìa làng và cả những đám hàng bông kia nữa, sao mà quen thân quá như mới hôm nào mình đã sống nơi đây. Rồi những con người gặp dọc đường đông đảo hay đang ở trước cửa, trong vườn nhà, ai nấy đều một vẻ mặt hân hoan chào đón, một ánh mắt sáng ngời, đều có những nét thân thuộc giống như mình đã có gặp ít nhất một lần. Lòng tôi dạt dào xúc động. Tôi muốn ghé lại thăm từng nhà, ôm hôn thắm thiết từng người mà tôi gặp. Tôi muốn thu vào tầm mắt, in vào tận đáy lòng mọi thứ mà tôi nhìn thấy hôm nay, từ những cánh đồng phi nhiêu rộng rãi, cho đến cả vòm trời cao vút trong xanh. Không cần biết đây là làng gì, ấp gì, phường gì, khóm gì, anh là họ Nguyễn ư? Chị là họ Lê ư? Tất cả đều là bà con, làng mạc của ta, tất cả đều là mình hết. Ba mươi năm rồi, chúng phân cắt, chia ly, gần mà hóa ra xa, thân mà làm như lạ. Giờ đây trời của ta, đất của ta. Tự do và độc lập rồi. Bà con ơi! Các mẹ, các anh, các em, các cháu đã nhận rõ hết chưa?

Nhớ lại tâm trạng mình lúc đó, tôi thầm khen nhà thơ Xuân Diệu, đã viết nên những câu thơ hay trong bài thơ “Tôi muốn đến thăm khắp cả Miền Nam” đây là những câu cuối:

“… Ôi! Trên đôi cánh huy hoàng của con chim phượng hoàng Chiến thắng.
Phải chi tôi bắt chước được Khuất Nguyên cưỡi phượng qua đèo
Dắt cầu vồng mống cụt cũng bay theo
Đặng nói nỗi hân hoan ngang tầm đất nước.
Tôi muốn đi thăm mỗi làng, mỗi nhà,
Mỗi hàng rào bông bụt của miền Nam ta.
Tôi muốn đến nghiêng đầu chào thương đôi má
Cất tiếng đáp “muôn năm”mỗi tiếng nói của sơn hà(2).


(1) Thơ của Nguyễn Trãi “man thuật” (bìa thứ 14) Quốc âm thi tập.
(2) Trích tập “thơ Việt Nam 1945-1975” của Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới Hà Nội, trang 85.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM