Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:27:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khoảng trời Ban-Tích  (Đọc 36154 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #120 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2019, 12:36:18 am »


        Lu-nin tự biết mình rất kém về khoa học, vì anh chưa hề học quá Trung học. Nhưng trước chiến tranh, nhất là từ khi ly dị vợ, anh đọc nhiều, nhất là các loại sách khoa học thường thức về Thiên văn, lịch sử quả đất và sinh vật học. Ngồi chơi riêng với đồng chí bác sỹ, anh hỏi liên miên hết cái này đến cái khác. Grô-mê-kô không đợi yêu cầu đã trả lời và trả lời rất tỉ mỉ. Hai người nói chuyện về chiến tranh, về lịch sử, về nguyên nhân của sự sống, về tinh vân, về thái dương hệ. Đồng chí bác sỹ nói cho Lu-nin nghe về Pát-stơ, vể Mét- sni-kốp, về các thuốc tiêm phòng bệnh, về cấu tạo tổ chức tế bào. Câu chuyện kéo dài đến khuya, đến quá nửa đêm và nếu đồng chí nữ y tá không gắt lên thì đèn chưa tắt.

        Tuy nhiên Grô-mê-kô vẩn giữ cái tính thích trộ, nhất là khi có đông người nghe. Lúc đó thì anh lại không phải con người lúc nãy, khi còn nói chuyện tay đôi. Hình như anh cố che dấu những đức tính tốt của mình. Cả đến giọng nói cũng thay đổi và trở thành thô bạo. Quả là anh cứ thích đội lốt con người ăn chơi trơ trẽn chán chường. Lúc ấy Lu-nin lại thấy cái vẻ giả tạo trong giọng nói, như bửa gặp nhau lần đầu. Rõ ràng là Grô-mê-kô cô tìm những phương pháp đó để khắc phục cái thiếu tự tin của mình.

        Nhưng có cái rõ, là từ bữa gây lộn với Sê-rốp vê chuyện Hin-đa, thì bác sĩ không đóng vai sành sỏi về đàn bà nữa. Bài học đã có hiệu nghiệm. Nhưng trước mặt Lu-nin, anh lại bị một bài học thứ hai nữa, nó làm anh chán cả một câu chuyện thú vị khác, là chuyện rượu cồn 90 độ.

        Nguyên là một hôm, Kút-nét-sôp đến thăm Lu-nin. Anh "mặc mở hàng" bộ áo sỹ quan mới gắn lon thiếu úy. Grô-mè-kô đang thật thà giúp đỡ đồng chí nữ y tá lau cửa sổ, nhưng vừa thấy Kút-nét-sỗp là tức thì biến dạng cũng như khi gặp bất cứ khách nào vào. Anh ném cái khăn ướt vào một xó, rồi nói với cái vẻ phóng đãng:

        - Ê. thiếu úy, cậu không biết ngượng à? Lon mới thì phải cỏ tí "tửu" chứ! Làm như cậu không khoái rrrượu bao giờ chắc? Cậu thật là đứng đắn! Công đâu làm hại cái tốt... Mà cậu chẳng bao giờ chịu đến chơi trrrạm cấp cứu với tớ để cùng làm một chén! Mà, sau lưng, thì ai biết đâu ma ăn cỗ!

        Kút-nét-sôp tái mặt. Grô-mê-kô nhận thấy mình lỡ lời và im bặt.

        - Tôi biết đồng chí muốn nói cái gì. - Giọng Kút-nét- sốp thoạt đầu còn như thường. - Tự anh thấy, hay đứa nào mách anh? Dù sao tôi cũng cóc cần. Điều lệ không cho phép anh chê giễu bất cứ ai. Tôi không cho phép anh chế giễu tôi... - Kút-nét-sốp nói lớn những tiếng sau cùng và tiến về phía Grô-mê-kô một cách dữ tợn, khiến Lu-nin quên cả cái chân đau, định từ trên giường nhảy xuông ngăn lại.

        Nhưng Kút-nét-sốp đã quay gót và bước ra, đóng cửa đánh thình.

        Hoang mang, Grô-mê-kô đứng lặng người giữa căn buồng: đến ngay bây giờ anh mới hiểu cái vụng về của mình. Anh muốn thanh minh với Lu-nin, nhìn Lu-nin một cách ủ rũ, và im lặng. Nhưng từ đấy không bao giờ ai nghe thấy anh khoe khoang về tài rượu nữa...

        Sla-va thì tất nhiên là một trong những người hay đến thăm Lu-nin nhất, bệnh xá thành cái nhà ở thứ hai của nó. Đôi khi nó còn ăn cơm ở đây với Lu-nin, vừa ăn vừa luôn miệng cãi vã với đồng chí nữ y tá. Rồi nó vơ vét các vỏ hộp thuốc không... Cái tai nạn của Lu-nin thoạt đầu làm nó bàng hoàng. Nó luôn luôn cầm lấy bàn tay đồng chí thiếu tá và hỏi:

        - Bác có đau không?

        - Hơi đau thôi.

        - Chắc là đau lắm.

        Nó vẫn không quên câu chuyện đi Xi-bê-ri còn đang đe doạ nó. Vả lại, đồng chí Éc-ma-kốp cứ mỗi lần gặp nó là không quên nhắc cho cu cậu luôn nhớ. Càng ngày đồng chí càng băn khoăn về việc học của nó. Đồng chí chỉ đợi có dịp nào tốt là gửi nó đến chỗ bà cô, và cũng không giấu ý nghĩ đó.

        Một hôm, đồng chí cùng Đê-ép đi thăm Lu-nin. Sla-va đứng đầu giường. Đồng chí chính ủy trở lại câu chuyện cũ:

        - Mày đến thành dốt nát mất thôi, ở thời buổi này, ở một xã hội như của ta, thì không có chỗ đứng cho những người dốt nát.

        Sla-va hoảng hồn. Éc-ma-kốp nói tiếp với Lu-nin:

        - Thật ra, chúng mình làm hại thằng bé đấy. Yêu nó mà lại làm hỏng tương lai của nó. Con người không phái là một thứ đồ chơi. Sla-va nhất định phải đi học.

        Đê-ép can thiệp:

        - Đồng chí chính úy, đồng chí có thể cho phép tôi dạy nó không?

        - Đồng chí dạy được sao?

        - Tôi đã học hết Sư phạm sơ cấp.

        Éc-ma-kốp suy nghĩ:

        - Đồng chí Đê-ép, với cái khối công việc của đồng chí, đã không còn thì giờ nào nghỉ ngơi...

        - Tôi liệu thu xếp.

        - Nếu muôn cho nó học, thì phải là học hẳn hỏi.

        - Sẽ học hẳn hỏi, đồng chí chính ủy ạ.

        Người ta đều biết rõ cái tinh thần trách nhiệm của Đê- ép. Đã hứa là không còn nghi ngờ gì nữa. Éc-ma-kôp đồng ý cho Sla-va ở lại trung đoàn. Nhưng trịnh trọng giao hẹn trước với nó là nếu nó hơi lười một chút, hơi không vâng lời một chút, là lập tức sẽ dẫn ra ga Von-khô-strôi cho lên chuyến tầu đầu tiên, và gửi về bà cô!

        Từ đó hàng ngày Sla-va đến học ở chỗ đồng chí Đê-ép. Thực ra cu cậu cũng không hào hứng lắm. Trước đây, nó có bao giờ là học trò gương mẫu đâu. Từ ngày chiến tranh, lêu lổng quen rồi. Và nó quên gần hết cái đã học. Nhưng Đê-ép thi hành nhiệm vụ một cách cương quyết, bình tĩnh và không bỏ qua một thiếu sót gì của cậu học trò. Bắt đầu học những cái sơ sài về số học và mẹo đặt câu. Khiếp sợ về cái chuyện phải về chỗ bà cô, nên Sla-va mỗi sáng phải để hàng giờ làm bài. Và trước khi đến chỗ Đê-ép, muốn cho chắn chắn hơn, nó đi ra bệnh xá đưa vở cho Lu-nin coi giúp trước.

        Éc-ma-kốp và Lu-nin viết chung một thư cho người bố, đề nghị ông ta cứ để Sla-va ở trung đoàn, ở đây chịu trách nhiệm dạy nó học.

        Một hôm thằng nhải chạy đến bệnh xá và reo lên:

        - Đến rồi! Đến rồi.

        - Cái gì đến?

        - Máy bay! Mười cái cho phi đội ta! Cũng giống như máy bay của phi đội 1 và phi đội 3.

        Lu-nin gọi như ra lệnh:

        - Đổng chí bác sĩ, cho tôi cái quần.

        Anh mặc quần áo loáng một cái xong ngay, rồi chống gậy đi ra.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #121 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2019, 05:06:23 am »

     
CHƯƠNG MƯỜI

MƠ MỘNG VÀ CÔNG VIỆC

I

        Ngày mồng một tháng mười hai, Lu-nin nhận được một phong thư... Thật là một sự lạ. Cả trung đoàn đều biết là phi đội trưởng phi đội 2 không bao giờ có thư. Những luận đoán về vấn đề này tha hồ mà phát sinh ở hầm của các đồng chí thợ máy cũng như ở nhà ngủ các phi công, ở các chỉ huy sở phi đội cũng như ở hai nhà ăn. Thế mà bây giờ lại có một bì thư mầu xám đề tên Công-stăng- tanh I-nha-ti-ê-vít Lu-nin.

        Trước khi đến tay người nhận, phong thư đã đi một vòng khắp trung đoàn. Thoạt tiên người ta đem đến cái nhà có cây phong chẽ hai. Lu-nin đi vắng, chỉ có kỹ sư Fê- đô-rốp ngủ trưa ở đấy. Anh cầm phong thư, xoay bốn phía, tra cứu các dấu tem, rồi xỏ bốt, và tức khắc đi ra chỉ huy sở phi đội.

        Lu-nin không có ở đây. Chỉ có Kút-nét-sốp và Kla-mê- tốp. Kla-mê-tốp cầm lấy thư và đưa cho Kút-nét-sốp coi với cái dáng có nhiểu ngụ ý. Rồi anh nói:

        -  Đồng chí thiếu tá chắc là đang ăn trưa.

        Và đề nghị Krô-míc đi ngay ra nhà ăn.

        Lu-nin không có đấy. Nhưng nhiều phi công của ba phi đội đã ăn cơm xong. Krô-míc đến, làm mọi người nhốn nháo. Họ tranh nhau mách là đồng chí thiếu tá cách đây 10 phút đi lên chỉ huy sở trung đoàn cùng với đồng chí Éc-ma-kốp và đồng chí Prốt-cua-ri-a-kốp. Có người tình nguyện đem ngay thư đi. Nhưng Krô-míc không đồng ý nhờ ai, và chạy lên chỉ huy sở, nắm tay to tướng nắm chật lấy phong thư.

        Trong hầm. Prốt-cua-ri-a-kốp, Éc-ma-kốp, Sác-ba-di- ăng, Lu-nin và Ta-ra-rác-xin đang nghiên cứu một tấm bản đồ lớn mở rộng ra trên bàn - bản đồ vùng Sta-lin- grát, trong tập bản đồ mà Sác-ba-di-ăng quý nhất. Mỗi ngày theo tin tức nhận được anh đánh dấu lên bàn đồ những bước bao vây lực lượng địch ở Sta-lin-grát. Bằng bút chì màu, anh vạch ra đường mặt trận luôn luôn thay đổi, vẽ các mũi tên để chỉ các hướng tấn công, và ai cũng muôn nhìn một lượt vào cái mớ rốì rít nhưng gợi cảm một cách mầu nhiệm ấy.

        Mọi người tranh nhau nói:

        - Có thư của đồng chí này.

        - Đồng chí thiếu tá, có thư đây.

        - Công-stăng-tanh I-nha-ti-ê-vít, có thư của anh.

        Bỏ bản đồ đấy, mọi người tò mò nhìn Lu-nin. Người ta thấy anh tái đi và tay run run cầm lá thư. Anh nhìn địa chỉ, nhìn phía sau phong bì, lưõng lự chưa mở. Biết, mọi người nhìn, anh buộc phải mỏ phong bì.

        Mặt anh đang tái bỗng đỏ lên:

        - Thư của Sê-rốp.

        Mắt anh sáng ngời sung sướng, Prốt-cua-ri-a-kốp reo lên như sấm:

        - Có lẽ nào! Cậu ấy sống à?

        Từ ngày chở Sê-rốp đi, không có tin gì nữa, và nhiều người cho là anh khó sống được với những thương tích ấy.

        - Cậu ấy kể cái gì đấy?

        - Cậu ấy ở đâu?

        Viết bằng một lối chữ to và không đều, lá thư ngắn quá không rút ra được nhiều "tài liệu". Sê-rốp giải thích là sở dĩ anh chưa viết vì trước đây, anh không hy vọng có thể trở lại trung đoàn.

        Sê-rốp viết: "Bây giờ tôi mới lại có hy vọng trở về với các đồng chí, nếu không làm phi công, thì ít nhất cũng làm công tác gì đó mà các đồng chí sẽ giao cho, dù là ở kho quần áo. Tôi điểu trị ở Bác-na-un, cách mặt trận 4.000 cây số”. Trừ một vài cái lằng nhằng còn lại, thì tôi gần khỏi hẳn rồi".

        Sê-rốp đề nghị Lu-nin cho anh những tin tức tỉ mỉ về trung đoàn và gửi lời chào mọi người nhất là Prốt-cua-ri- a-kốp và đồng chí chính ủy. Phần kết luận của lá thư hơi buồn: "Tôi và đồng chí đểu không có vợ; chắc đồng chí hiểu tôi: tôi chỉ còn trung đoàn là gia đình". Có mấy chữ tái bút viết rất nhỏ. "Nếu tôi có thư, thì đồng chí cứ gửi giúp đến cho tôi".

        Mọi người hiểu là Sê-rõp đợi thư ai, Prôt-cua-ri-a-kôp sa sầm lại và lầu nhầu:

        - Cứ trông mong vào đấy mà khổ!

        Ai cũng chắc là người đàn bà đã cố tình bỏ rơi Sê-rốp. Và đểu nhận xét nghiêm khắc thái độ của cô ta. Sác-ba- di-ăng tuyên bố:

        - Nó không viết thư cho Sê-rốp lại càng tốt. ít nhất như vậy thì cũng rõ ràng cho đồng chí ấy. Đau khổ ít lâu, nhưng rồi cũng tìm được người khác. Con người ấy không xứng đáng với Sê-rốp.

        Ta-ra-rắc-xin bật nói to, đôi mắt cận thị long lanh vui sướng sau đôi kính:

        - Ổ! Phớt nó đi. Chủ yếu là Sê-rốp còn sống và lành mạnh.

        Éc-ma-kốp nói:

        - Đồng chí Lu-nin, đồng chí nói rõ cho Sê-rốp biết là tất cả bọn mình đều mong! Mà tôi cũng viết thư cho đồng chí ấy đây.

        Chưa đầy nửa giờ tin vui về Sê-rốp đã lan hết vòng trường bay. Đi theo Lu-nin về chỉ huy sở phi đội, Krô-míc luôn mồm nhắc:

        - Thế là đồng chí thượng úy đã khỏi... Thích quá... Trước tôi không dám tin... vậy mà khỏi... kỳ diệu.

        Đôi với đám tân binh, thì họ rất trân trọng cái việc Sê- rốp - một trong những phi công nổi tiếng của thời Rát- sô-khin - có lẽ sắp về trung doàn và chiến đấu bên cạnh họ. Trên sân bay, ở nhà ăn, nhà ngủ, họ luôn mồm nói đến việc đó. Và mọi người nhìn Lu-nin như muốn chia vui. Bây giờ người ta đã cùng chung nhìn thấy cái chết, thì người ta hiểu rõ tin đó làm cho Lu-nin mừng đến bậc nào.

        Chắc chắn là Grô-mê-kô sung sướng nhất về tin đó. Anh đã trải qua những nỗi lo âu ghê gớm. Bây giờ biết là Sê-rốp sắp khỏi, thì lòng anh tràn ngập kiêu hãnh. Gặp Lu-nin ở nhà ăn, anh nói lớn:

        - Tôi đã bảo là không cần cưa tay mà! Cưa một cánh tay thì một anh đồ tồi nào cũng làm được!

        Nhưng rồi anh hỏi khẽ:

        - Đồng chí có chắc là chữ hắn ta không? Hay là hắn đọc cho ai viết hộ.

        - Không, tôi biết chữ hắn.

        Đồng chí thầy thuốc thở ra yên trí và nói:

        - Thê là tốt! Trừ phi hắn đã tập viết tay trái? Đồng chí không cho là thế à?

        Sau bữa cơm chiều, Lu-nin trở vể nhà để được viết thư trá lời một cách thư thái. Sla-va yên ôn ngáy khe khẽ trên giường. Lu-nin đặt cây đèn dầu lên bàn, lây một tò giấy, mở nút lọ mực và suy nghĩ...

        Anh có nhiều cái muốn nói với Sê-rốp quá thành ra chảng biết nói gì. Và anh càng suy nghĩ thì anh càng thấy là có viết cả tháng cũng không nói hết. Rốt cuộc, anh nhắn cho Sê-rốp biết là mọi người mong đợi và chúc Sê-rốp mau lành mạnh, và không có thư nào của Sê-rốp cả... Viết gì nữa đây? ... Anh thêm "Có phải gửi cái rương con đến Bác- na-un không?"

        Thư hơi cộc. Lu-nin đọc lại, thở dài và gấp chéo tờ giấy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #122 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2019, 05:07:49 am »

           
II

        Ngày hôm sau, U-va-rốp đi U-2 tới.

        Anh bước vào chỉ huy sở giữa lúc mọi người đang xem chiếc bản đồ của Sác-ba-di-ăng. Prôt-cua-ri-a-kôp hô lớn: "Nghiêm!" và báo cáo. U-va-rốp lần lượt bắt tay mọi người và đi lại phía tấm bản đồ che kín cả mặt bàn.

        Sác-ba-di-ăng thanh minh, với cái dáng cậu học trò bị bắt gặp lúc đang có lỗi:


        - Báo cáo đồng chí chính ủy đồng chí biết cho là mọi người còn thích nghiên cứu bản đồ Lê-nin-grát hơn nữa.

        - Đúng. Cái bản đồ tốt quá! Tôi cũng có một bản đồ như vậy và nghiên cứu đến mờ cả mắt. Hiện giờ thì số phận của Lê-nin-grát quyết định ở Sta-lin-grát.

        Như mọi lần, trước khi cho biết nội dung việc đến thăm, U-va-rốp bắt đầu đi kiểm tra trung đoàn một cách ung dung, xem khắp các nhà, và nói chuyện với mọi người. Anh dự hai cuộc họp thanh niên ở phi đội 1 và phi đội 2, và bông đùa với, các thợ máy trẻ tuổi. Anh ăn trưa ở nhà ăn với các phi công, nói ít và để người khác nói. Nhưng ai trông thấy cái vẻ cương quyết và vui mừng của anh cũng đoán là anh có mang lại một tin gì lớn.

        Sau bữa cơm trưa, anh họp các phi đội trưởng ở chỉ huy sở trung đoàn và báo cáo cho biết nội dung cuộc đến thăm: trung đoàn phải cấp tốc di chuyển.

        Éc-ma-kốp hỏi:

        - Sang bờ hồ bên kia?

        U-va-rốp gật, và tuyên bố:

        - Từ nay, không đi về phía đông nữa mà chỉ đi về phía tây!

        Im lặng một hồi lâu. Ai nấy hiểu tầm quan trọng của tin này. Thực ra, người ta cũng đã đoán trước được ít nhiều. Các thông báo về Sta-lin-grát vừa làm hy vọng, vừa làm sốt ruột. Người ta đã cảm thấy những sự việc lớn sẽ quyết định số phận Lê-nin-grát, hồ La-đô-ga và Hạm đội Ban-tích.

        Các máy bay phải vượt qua hồ trước khi mặt trời mọc để địch không chú ý. Quân số dưới đất sẽ đi trước: các máy bay "Đu-gờ-lát" sẽ đến đón đúng nửa đêm. Chỉ vừa vặn đủ thời gian chuẩn bị.

        Lu-nin là một trong những người đầu tiên rời khỏi chỉ huy sở. Vì anh còn nhiều việc ở phi đội. U-va-rốp liền theo gót:

        - Đồng chí Lu-nin, một phút.

        Lu-nin đứng lại. U-va-rốp tới kịp.

        - Đồng chí vội à? Đồng chí còn thì giờ chán. Đi với tôi một lúc. Bộ phận cao xạ đang đợi tôi.

        Mới quá bốn giờ mà trời đã tôi tối. Cứ mỗi bước lại thấy cảm giác chân mình bước trên lượt tuyết mỏng bao phủ đất đóng băng của trường bay. Trong cái im lặng tuyệt đối, người ta nghe vọng thấy tiếng ầm ì đằng xa - tiếng ầm ì của mặt trận hay tiếng rừng xào xạc. U-va-rốp và Lu-nin cùng sát cánh đi, và hai người cảm thấy sung sướng đi bên nhau.. U-va-rốp hỏi:

        - Sê-rốp muốn mình gửi cho những thư từ của hắn à?

        - Vâng - Lu-nin trả lời, không lấy làm lạ rằng U-va- rốp đã biết chuyện ấy. - Nhưng chẳng có thư nào cả.

        - Người ta cũng đã nói với tôi câu chuyện đó. Sê-rốp vẫn yêu cầu và còn hy vọng. Ngày nay, mất tin một người là một việc quá thường.

        - Tôi cho là cô ta không muốn tìm lại tin Sê-rốp.

        - Có thể. Nhưng tôi không buộc tội cô ta. Tôi không biết cô ta, nhưng tôi biết Sê-rốp: hắn không bao giờ đặt tình cảm vào chỗ lông bông đâu.

        - Người ta vẫn có thể lầm!

        Lu-nin không phải chỉ nghĩ đến Sê-rốp mà thôi. Và U- va-rốp đoán biết như vậy. Lu-nin nói tiếp:

        - Nếu đối với bản thân mình có thể nhận định lầm, thì tất nhiên đối với người khác càng dễ lầm hơn.

        - Đúng. Có thể nhận định người lầm. Nhưng không phải luôn như vậy. Đã bao nhiêu lần tôi phải tự hỏi: về người ấy, người nọ, có thể tin được không? Ta suy nghĩ kỹ, ta cân nhắc mọi cái, và bỗng nhiên có cái gì quét sạch hết nghi ngờ: phải có thể tin được. Tin được một người thật là sung sướng.

        Lu-nin hỏi:

        - Đồng chí nói gì? Tin được một người là sung sướng?

        - Chứ sao! Đồng chí không đồng ý à?

        - Có chứ! Đồng chí nói rất phải.

        - Đồng chí cứ tưởng tượng là tôi gần như chưa hề phải ân hận về việc tin người.

        Lu-nin khăng khăng nhắc lại:

        - Nhưng Sê-rốp vẫn có thể lầm.

        - Sê-rốp có thể lầm, nhưng chúng ta không được lầm. Chưa biết chuyện gi đã xẩy ra cho người đàn bà ấy, thì ta không có quyền chơi lối phỏng đoán. Phải lấy tài liệu, phải tìm ra cô ta, và tìm hiểu tại sao cô ta không viết thư.

        - Rất đúng! Phải tìm. hiểu. Nhưng làm thế nào tìm ra cô ta?

        - Tôi sẽ liệu.

        Hai người tiếp tục im lặng bước trong bóng tối tĩnh mịch của sân bay. Nói chuyện đến Sê-rốp làm hai người lại thêm gần nhau hơn. Nhưng Lu-nin không khỏi ngạc nhiên khi thấy U-va-rốp hỏi:

        - Đồng chí Lu-nin, tại sao đồng chí chưa xin vào Đảng?

        Lu-nin không trả lời ngay. Sau cùng anh mới nói:

        - Vì có việc trùng hợp...

        - Trùng hợp không may sao?

        - Tại sao lại không may... Tôi có than phiền đâu.

        Lu-nin im lặng. U-va-rốp tôn trọng sự im lặng của Lunin. Sau cùng Lu-nin nói:

        - Tôi muốn gia nhập Đảng từ lâu. Tôi đả được sự giới thiệu... Trước chiến tranh một chút... Đơn xin của tôi đã sẵn sàng...

        - Thế rồi sao?

        - Tôi không nộp đơn.

        - Tại sao?

        - Vì đã xảy đến cho tôi một sự việc.

        Hai người lại im lặng. Lu-nin đợi một câu hỏi. Nhưng U-va-rốp vẫn im lặng. Sau cùng Lu-nin nói:

        - Tôi ly dị vợ. Đồng chí có biết không?

        - Biết. Người ta trách đồng chí về cái đó à.

        - Không. Nhưng có thể là như thế.

        - Người ta trách về chuyện ly dị à?

        - Nếu không trách thì cũng có thể đặt câu hỏi. Mà tôi thì không muốn thanh minh. Nên tôi chưa nộp đơn.

        U-va-rốp không nói gì hết, cho là Lu-nin đã nói hết. Nhưng Lu-nin tiếp luôn:

        - Tôi đã đuổi cô ta khi tôi biết tin cô ta ăn nằm với người khác. Cô ta van lơn, và thề không tái phạm. Cô ta không muốn bỏ tôi. Cô ta van vỉ...

        - Thế đồng chí?

        - Tôi bắt buộc cô ta đi. Tôi không còn gặp cô ta nữa.

        Lần này, thì Lu-nin đã nói hết. U-va-rốp đợi một phút, rồi hỏi:

        - Đồng chí có tự cho là phải không?

        - Trước kia thì có.

        - Thế bây giờ?

        - Tôi không hiểu nữa...

        Từ đó đến hầm cao xạ pháo, hai người không nói với nhau câu nào nữa. Lu-nin phải trở về phi đội. Hai người đứng lại và im lặng hồi lâu, không quả quyết rời nhau ra được. Không còn tiếng giầy bốt nện xuống tuyết, thì người ta càng nghe rõ tiếng ầm ì mơ hồ trong đêm.

        U-va-rốp bỗng hỏi:

        - Đồng chí biết là tiếng gì chứ? Tiếng vùng tạm chiếm gọi chúng ta đấy.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Ba, 2019, 12:31:37 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #123 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2019, 12:32:42 am »


III

        Các phi đội cất cánh. Thoạt tiên là phi đội 1, rồi đến phi đội 3, sau cùng là phi đội Lu-nin.

        Đêm dài tháng mười hai đã gần tàn. Đường mép nhấp nhô các ngọn cây bao quanh sân bay in rõ lên nền trời. Lu-nin và phi đội của anh bay là là lần cuối cùng trên mộ Rát-số-khin, lượn một vòng lớn, tập hợp thành đội hình tam giác và hướng mũi về tây.

        Trời đục, và ở phía đông, qua một lỗ thủng trong mây, bình minh chiếu ánh hồng xuống tuyết. Dưới máy bay, mặt hồ mênh mông im lặng. Một năm trước đây, cũng vào thời kỳ này, từng đoàn ca-mi-ông qua lại. Nhưng, mùa đông này, có những lạch nước vằn vèo trên băng hàng mấy cây số. Mùa thu kéo dài mãi chưa lạnh lắm, và hồ đóng băng rất chậm. Giao thông trên nước đã ngừng, nhưng chưa lập được giao thông bằng ô tô trên băng. Thế là lại chỉ còn đường trên không nối Lê-nin-grát với hậu phương.

        Lu-nin nhìn thấv mũi Ốt-si-nô-vet, bóng cánh rừng và ngọn đèn pha mùa đông trước, anh đã bay qua đó với Rát- số-khin và Sê-rốp. Chỉ ba người, và họ bay về phía đông. Rát-sô-khin không tới đích. Bây giờ Lu-nin bay ngược chiều với chín chiếc máy bay đằng sau. Và máy bay vào loại như thế nào!

        Họ không trở lại trường bay năm ngoái, và Lu-nin cũng muốn như vậy. Vì trông lại cái biệt thự mà ở đó Ka-ban-kốp mỗi chiều chơi đàn ác-coóc-đê-ông, vì ăn ở cái nhà ăn mà trước đây có Bê-sây-tôp, Sê-pen-kin, Sê-rốp và Rát-số-khin là bạn ăn cùng bàn, thì chỉ thêm đau lòng. Trường bay cũ ở tây bắc Lê-nin-grát, cách vịnh mấy cây số; trường bay sắp tới ở phía đông bắc. Con đường sắt độc nhất còn hoạt động trong khu vực bị bao vây, con đường nối Lê-nin-grát đến bờ tây hồ La-đô-ga chạy ngay cạnh, và khi máy bay của phi đội hạ cánh, thì tiếng động đầu tiên dưới đất chào họ, là một tiếng còi tầu. Lu-nin đã từ lâu không nghe thấy tiếng ấy. Nó có cái vẻ thanh bình làm dịu tâm hồn anh như một liều thuốc an thần.

        Họ tưởng được tham gia chiến đấu ngay. Nhưng ngày lại ngày vẫn không có trận đánh nào. Bộ tư lệnh như cốt lo sao để không cho địch biết là một trung đoàn đầy đủ và trang bị máy bay kiểu mới nhất đã tới. Các máy bay được cất giấu kỹ ở mép rừng, và người ta chỉ sử dụng từng nhóm nhỏ, không bao giờ quá hai tiểu đội một lúc.

        Trời vừa hé sáng, Lu-nin cắt lượt cho các phi công cất cánh để họ quen phương hướng. Bản thân anh thì lấy Ta- ta-ren-kô hoặc Kô-stin đi theo. Tiểu đội cùng đi, thì có khi là cặp Ka-ri-a-kin, Ri-a-bu-skin, có khi là cặp Kla-mê- tốp, Di-ga, có khi là cặp Kút-nét-sốp, O-strô-sa-blin. Và họ bay một chặng dài.

        Mỗi lần bay, họ trông thấy Lê-nin-grát. Ngay cạnh trường bay đã là ngoại ô thành phố. Chỉ có Lu-nin và Kút- nét-sốp là đã biết Lé-nin-grát. Do đó bọn trẻ ngắm cái thành phố nổi tiếng ấy một cách tò mò và thèm thuồng. Cái mà họ chú ý nhất là cái vĩ đại của thành phố. Lê- nin-grát nằm trong một khoảng đất phẳng có những dòng sông uốn khúc, và ngay khi trời quang, bay cao cũng không thể nhìn bao quát được hết. Mà trời quang lại hiếm. Thường thường, thành phố chìm trong sương rung rinh của tháng chạp, và trồi ra những ngọn tháp, những hình mũi tên, những hình vòm và những ống khói.

        Họ muốn bay trên thành phố lắm... Nhưng chưa hể có nhiệm vụ đi tới. Họ hướng mũi về những cánh rừng phía nam, về phía khu vực mặt trận chạy theo bờ sông Nê-va. Đến ngay trên sông thì họ ngoặt về tay trái, vê phía đông, và bay theo chiến tuyến ta mãi đến chỗ sông Nê-va ra khỏi hồ La-đô-ga.

        Họ quan sát hai bờ thấp có rừng bao phủ. Dưới màn tuyết, hai bờ như không có ai ở, trừ mấy làn khói nhỏ từ đó đây bốc lên. Các phi công dần dần quen thuộc với chiến hào, với hầm, với những dàn pháo ngụy trang, những giao thông hào chằng chịt, những cứ điểm và lô cốt. Họ hiểu rằng khoảng đất xới lộn tung lên và giống như là cái tổ ong ấy, đã chứa một lò người dưới bóng cây rừng. Trong khu vực nay, mặt trận yên tĩnh từ hơn một năm, và hai đạo quân đủ thời gian để độn thổ kỹ. Ngăn cách, chì có một con sông; mấy dải nước còn lại, và ngày càng co hẹp dần, và một cầu băng càng ngày càng rắn chắc đã nối hai bờ.

        Sau khi lượn một vòng trên di tích tàn phá của pháo đài Sluýt-sen-bua, các máy bay lại về trường bay bằng con đường cũ. Rồi khi các phi công đã quen với hai bờ sông Nê-va, thì Lu-nin dẫn họ qua sông, bay trên vùng tạm chiếm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #124 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2019, 12:33:00 am »


        Những cuộc xuất quân ấy đòi hỏi phải hết sức thận trọng. Mét-séc-mít thì hiếm, và bọn Lớp-táp nói chung ít hoạt động, nhưng cao xạ địch thì điên cuồng. Rõ ràng là có vô số dàn cao xạ đã phân chia bầu trời ra từng ô. Sự phân công thật là hoàn toàn. Kỹ thuật xạ thủ của chúng không chê được, và những mảnh nổ đầy trời buộc phi công ta phải bay rất cao và luôn luôn tìm cách lẩn vào mây. Trò chơi thật nguy hiểm. Mỗi lúc, Lu-nin sợ mất máy bay và phi công: bị hạ trên tuyến địch, thì phi công không còn cách nào thoát. Nhưng bộ tư lệnh muốn mỗi người đều thuộc lòng bờ bên trái sông Nê-va, và những cuộc bay từng nhóm nhỏ tiếp tục không ngừng.

        Vào giữa tháng chạp, trên giao nhiệm vụ thám thính cho phi đội. Ta-ra-rắc-xin xin nhận lệnh trực tiếp từ bộ tư lệnh, và trung đoàn lấy việc đó là một vinh dự lớn lao. Bay thám thính cần một sự thận trọng gấp mười lần bay thường, vì dù khi máy bay có bị phát hiện, thì cũng không được để địch đoán biết mình quan sát mục tiêu nào - đường sắt, cầu, hay dàn pháo di động. Phải có khi bay đôi, có khi bay một người, để địch không chú ý. Phải lẩn trong mây cho đến tận mục tiêu. Ra khỏi mây trong chớp nhoáng, rồi lại phải nhanh chóng biến vào mây mù để báo kết quả quan sát về bằng vô tuyến điện. Để kiểm tra những kết quả của bản thân mình, người phi công phải quan sát mục tiêu từ khắp các phía. Nếu có cái Mét-séc-mít nào, hoặc nếu cao xạ địch dữ quá thì lui một lát rồi trở lại ngay lập tức.

        Trời u ám là trở ngại chính cho các cuộc bay như vậy. Vào cuối tháng chạp, dưới vĩ tuyến 60 thì ngày chỉ sáng được ba bốn giờ, mà cũng không bao giờ là sáng thật. Trong cái hoàng hôn bất tận ấy, từ cao nhìn xuống mặt đất phủ tuyết như một cánh đồng trắng xoá, lấp ló bóng rừng và bóng công sự. Phải có con mắt thật tinh tường mới nhận được đường. Và Lu-nin phải tự đả thông cho mình khá mau là anh không còn giá trị gì trong việc thám thính.

        Lúc đầu anh tưởng vẫn nhìn được rõ như hồi niên thiếu. Nhưng đi công tác về, anh khổ sở khi nghe chính mồm Ta-ra-rắc-xin thuật lại rằng: những tài liệu của anh không làm bộ tư lệnh hài lòng. Anh đã nhìn những cái mà ai cũng nhìn thấy, những cái mà người ta đã biết trước anh, và về việc này thì chẳng có nghi khí quan sát nào có thể giúp anh được đôi chút. Có lẽ không phải chỉ là vấn đề tinh mắt, mà là cái khả năng quan sát thiếu. Dù sao, anh phải công nhận khá mau là trong cái loại biểu diễn ấy, anh không thể địch nổi bọn trẻ.

        Về mặt này thì nhất có hai người: Ta-ta-ren-kô và Kút- nét-sốp. Kút-nét-sôp còn hơn cả Ta-ta-ren-kô. Không phải là Ta-ta-ren-kô chịu nhường cương vị nhất đó một cách thoải mái. Nhưng cuộc thi tài không kéo dài nổi. Người ta gần như thấy rành rành cái khả nàng kỳ lạ của Kút-nét-sốp về thám thính. Bộ tư lệnh ghi nhớ tên anh. Và mỗi nhiệm vụ quan trọng là trên yêu cầu phải giao cho Kút-nét-sốp.

        Phi đội 2 đóng trong một căn nhà gỗ. Lập tức nó dược đặt tên là nhà phi công. Mỗi chiều, sau bữa cơm, các phi công tụ tập ở đó, và ngồi trên mép giường, họ viết thư, đọc sách, hay chơi bài "cẩu", quật rất mạnh con bài xuống bàn để ra cái vẻ "tay đi biển" lão luyện.

        Buổi tối kéo dài và yên lặng. Một đoàn xe lửa tiếp tế từ hồ La-đô-ga ầm ầm tới. Rồi im lặng lại bao trùm, một sự im lặng hoàn toàn đến nỗi người ta có cảm giác như ở dưới đáy biển.

        Chẳng ai bị mắc lừa vì cái màn yên tĩnh ấy: những sự việc đang được chuẩn bị; người cũng chuẩn bị. Bước ngoặt lớn không còn xa; và họ say sưa phát hiện từng triệu chứng nhỏ. Là phi công, nên họ nhạy cảm nhất với các biến đổi trong không chiến: Mét-séc-mít gần như biến hẳn, và hoàn toàn vắng bóng oanh tạc địch. Có phải là bọn Đức phải công nhận ưu thế của những khu trục Xô Viết kiểu mới mà đành nhường vai chủ không trung chăng? Chẳng ai tin như vậy? Vậy thế nghĩa là gì?

        Ở nhà phi công, Kô-stin không ngừng đặt giả thuyết:

        - Bọn Đức vẫn chiến đấu bằng những khu trục cũ như hồi mới chiến tranh, mà ta thì đã hoàn toàn thay đổi trang bị. Kỹ nghệ ta đã vượt chúng về điểm ấy, và ta đã có ưu thế. Nếu bọn Đức muốn tiếp tục giao chiến trên không, thì chúng còn phải làm gì? Phải có gì thay thế cho bọn Mét-séc-mít. Chúng ta không lâu sẽ biết mặt những máy bay mới của chúng.

        Cử tọa hiểu bạn đang nghĩ đến loại máy bay gì của địch. Người ta đã biết cả tên chúng: Phôc-un-phơ 190. Nhưng nếu chúng đã xuất hiện chớp nhoáng trên các mặt trận xa xôi miền nam, thì ở khu vực Lê-nin-grát lại chưa hề ai trông thấy chúng. Mọi người hỏi Kô-stin.

        - Chúng thế nào? Mạnh hơn Mét-séc-mít rất nhiều phải không?

        - Tất nhiên! Nếu không thì địch cho ra làm gì?

        - Hơn về gì? Về tốc độ? Về vũ khí? về sử dụng lẹ làng?

        Kô-stin không rõ gì hơn các bạn. Ta-ta-ren-kô nói:

        - Việc quái gì phải dặt giả thuyết. Hạ cái đầu tiên là khắc biết.

        - Thì còn phải hạ chứ!

        - Cậu cứ yên trí...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #125 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:20:40 am »

        
IV

        Vào đầu tháng chạp, Sô-ni-a lợi dụng vài giờ rỗi ghé qua nhà. Cô muốn xem nhất là có thư hay không. Từ lâu, Sla-va không viết, và điểu ấy làm cô lo ngại.

        Tròi tối. Hơi có tuyết. Lẫn với bụi, tuyết khô và lác đác quay lốc trên mặt hè. Sô-ni-a quàng trên bộ áo xanh một cái măng tô cũ cộc gần đến gối. Càng đến gần nhà cô càng rảo bước. Đến cổng, thì gần như chạy.

        Sân im lìm vắng vẻ. Một chiếc ôtô đợi dưới cầu thang nhà đồng chí Sa-ra-pốp. Sô-ni-a nghĩ: "Chắc có U-va-rốp đến". Cô không thích đến chỗ Sa-ra-pốp khi có người, sợ phiền đồng chí. Nhưng cô nhất định phải tìm xem có tin gì của Sla-va. Và cô vào.

        Trong buồng đầu, gần lò sưởi đang cháy, đồng chí lái xe của U-va-rốp đang khoan khoái nghỉ xả hơi. Sa-ra-pôp vẫn ở cái bàn quen thuộc, dưới ống lò sưởi, với cái vẻ bận rộn và trang nghiêm mà đồng chí vẫn thường trương ra mỗi lần có chính ủy đến thăm. Có tiếng người nói từ buồng U-va-rốp, Sa-ra-pôp vừa thoáng thấy Sô-ni-a đã nói:

        - Chăng có gì cả.

        Sô-ni-a không thể tin:

        - Thật chẳng có tí gì à?

        - Không có thư cho cô, - Sa-ra-pốp khẽ nhắc lại.

        Tất cả dáng điệu của anh chỉ cho biết là không phải giờ nói chuyện. Nhưng Sô-ni-a lo ngại quá không dứt ra đi được.

        - Thế là một tháng tôi không nhận được thư. Không biết có cái gì xảy ra với nó không?

        Mặt Sa-ra-pôp hơi dịu một chút, và anh nói rất khẽ:

        - Cô đừng lo. Chẳng xảy ra cái gì về nó cả; cô sẽ biết tại sao nó không viết thư.

        - Người ta gửi nó đi chỗ khác à?

        - Không... Thì tôi đã nói là cô sẽ biết tại sao mà.

        - Sao?

        Vừa lúc đó, có tiếng U-va-rốp gọi từ sau cửa:

        - Sa-ra-pốp!

        Sa-ra-pốp ra hiệu cho Sô-ni-a rút lui và đi vào buồng bên.

        Rõ ràng là không tìm hiểu được gì thêm. Sô-ni-a ra đi rất lo và quyết định lát nữa lại tới: Vì U-va-rốp đi rồi, thì Sa-ra-pôp chắc là nói nhiều hơn.

        Cô qua cái sân vắng vẻ và trèo lên cầu thang mà cô thuộc từng vết nứt của mỗi một bậc, và từng cái châm trên tường. Chẳng có gì thay đổi trừ ở cửa sổ tầng hai không còn kính nữa. Gió thổi hoa tuyết quay lốc, và một tấm thảm tuyết phủ lên đầu thang, không thấy lấy một vết chân người: các nhà đều vắng.

        Cô tới tầng 5 và tra khoá vào lỗ. Cái lưỡi khoá bị đẩy với tiếng cắc quen thuộc. Cô đứng sững trên ngưỡng cửa: buồng ngoài có ánh sáng mơ mờ.

        Lúc đầu cô tưởng là có ai... Không, đèn thắp trong khi cô đi vắng, và có lẽ thắp từ lâu: từ mùa thu, người ta lại có điện. Cá mùa đông năm ngoái điện đã phải cắt trong khắp thành phố.

        Trong nhà, hãy còn khá nóng: tường chưa kịp giá lạnh. Nhưng cái cảm giác ấm ấy chỉ là dối trá, và Sô-ni-a biêt là chỉ mười phút sau, tay chân sẽ bị cóng. Cô lập tức dóm lò bếp - cái lò gang mà ông đã chết cạnh đó. Lửa bùng lên ngay với tiếng reo êm ái, và ánh lửa rập rờn trong lòng xoong.

        Sô-ni-a cỏi áo măng tô, ngồi trên ghê đẩu và duỗi chân về phía lửa. Một cảm giác buồn buồn và êm dịu xâm chiếm người cô. Bóng tối chiều đông qua kính mờ, tiếng lửa reo, trần nhà, mấy bức tường, vết sơn lở trên cánh cửa, cái gì cùng gợi nhố tới mẹ, tới ông, tới Sla-va...

        Một lúc đã thấy ấm, cô đặt một ấm nước lớn lên lò để giặt và rửa. Trong khi đợi nước nóng, cô quyết định vào buồng mẹ xem có cái áo nào mặc trong bộ áo xanh được không.

        Cả một năm qua, từ khi dọn ra ở ngoài bếp với ông và Sla-va, cô chưa vào buồng đó. Đụng phải ghê - giấy xanh phòng thủ làm các buồng bỏ không luôn'luôn tối - Sô-ni-a qua buồng ăn, vào buồng mẹ và vặn đèn: một ánh đèn mờ mò trên trần dọi ánh sáng vàng nhạt vào tường.

        Cái sân khấu múa rối vẫn ở trên bàn, cạnh chiếc ghê nằm nhỏ mà Sô-ni-a đã ngủ gần cả cuộc dời cũ. Và các núm kền ở thành giường lấp lánh ánh quen thuộc...

        Có ai lặng lẽ động đậy. Sô-ni-a rùng mình. Gần tường một thiếu niên mảnh dẻ đang nhìn cô. Cô phá lên cười: chi là bóng cô trong cậi gương to.

        Cô chưa soi gương cả người từ lâu quá, đến nỗi suýt không nhận ra mình nữa. Hay là tại cái ánh sáng rriò mờ? Cô gái trong gương không đến nỗi khó coi quá, và bộ áo xanh không làm cho xấu quá như cô vẫn tưỏng. Cô đi sát lại để ngắm cái mặt gầy đi, như là mới trông thấy nó lần đầu. Rồi cô ra phía tủ.

        Những quần áo treo ờ đó gợi nhớ đến người quá cố nhiều quá làm cô không dám mó tới. Cái này là cái áo len cũ mẹ mặc khi làm bếp. Cái này là cái áo màu tro mới tinh mẹ mặc đi dạy học; cô mặc vừa quá, cái áo có vẻ xinh quá; mà mẹ mặc chưa được sáu tháng!... Cái này lá cái măng-tô giả da rái cá cạnh cái áo đen lễ phục mà mẹ mặc khi đi VỚI ba đến viện Bác học ngày 31 tháng chạp... Còn những yếm, những áo choàng... Cái gì mẹ cũng tự tay xếp dọn, mỗi cái áo đều như đợi mẹ. Chẳng mó tới cái gì? Sô-ni-a cúi tìm trong xó chiếc áo len trắng có cổ. Áo đó, gần như chẳng bao giờ mẹ mặc. Một hôm, run lên vì rét trong hầm, Sô-ni-a đã quyết định tìm ra bằng được cái áo đó. Đầy mùi long não lẫn mùi nước hoa kín đáo, cô thăm dò đáy tủ mà không tìm ra. Cái vải đến mát tay này là cái gì đây? À, cái khăn san của mẹ.

        Đã năm năm nay Sô-ni-a chưa hề trông thấy nó... Mẹ chẳng hề dùng vì mẹ sợ những mầu sặc sỡ. Sô-ni-a lấy cái khăn san ra khỏi tủ và đem ra chỗ sáng nhìn. Nó lấp lánh làm sao! Nét vẽ đẹp làm sao! Cô cầm vào một góc, và chiếc khăn toả rộng. Rồi cô giơ hai tay lên. Chiếc khăn toả bao lấy cô như một đám mây.

        Sô-ni-a lại gần gương. Dáng mình lịch sự làm sao! Như một vũ nữ trong tranh "giếng Bác-sít-sa-rai”! Đứng trên đầu ngón chân, cô lướt một điệu vũ xoay tròn, và cái khăn san tung bay. Cô cúi chào, vươn người lên, và bước: mỗi động tác như một điệu vũ ba lê. Cô có cảm giác như cái vải nhẹ mầu rực rỡ đó làm mặt cô thêm đặc sắc và cái màn bạc mơ hồ ấy thật trùng hợp với mái tóc nâu! A, như vậy lên sân khấu, thảng người đi đến chỗ "vai nhắc"... Cô cau mày, và đôi mắt long lanh một ánh sâu thảm; cô mỉm cười; hàm răng và đôi mắt toả hào quang...

        Đúng lúc ấy thì trong cải im lặng của gian buồng không người, có tiếng sắt của lưỡi khoá. Ai mở cửa vào. Sô-ni-a đứng sững, kinh ngạc. Ai vậy? Cô không có thì giờ suy nghĩ: tiêng chân người lại gần. Một tiếng nói mà cô đã quen quá cất lên:

        - Chị ấy có nhà!

        Và cửa buồng mở toang. Sô-ni-a kêu lên, cổ họng tắc lại vì cảm xúc:

        - Sla-va đấy à!

        Sla-va đu vào cổ gần muôn xô ngã chị. Ngạt thở vì Sla-va ôm chặt và không thoát ra nổi cái khăn san. Sô-ni-a kêu lên từng tiếng đứt quãng:

        - Sla-va! Mày khác quá! Nhớn quá! Gần đến lông mày chị rồi. Nhưng bỏ chị ra một tí, mày làm chị ngã bây giờ! Cho chị nhìn nào! Mày còn ở đây lâu chứ? Ở mãi chứ? Tại sao không viết thư?

        Sau cùng cô thoát khỏi cái khăn san và hai cánh tay Sla-va. Nó lại múa may xung quanh chị và giải thích:

        - Em đem cá mòi cho chị đây này!... Lĩnh ở trung đoàn... Bây giờ em ở một trường bay khác... cả trung đoàn đã qua hồ... Chị có biết là em đi bằng máy bay Đu-gơ-lát... Gần đây lắm... Đến đây chưa quá một giờ... Đả lâu chị chưa ăn cá mòi phỏng?...

        Sô-ni-a không nghe nữa: cô vừa nhận thấy một người lạ đứng trên ngưỡng cửa nhìn cô. Một người đã đứng tuổi, khá mập, cao vừa vừa, mặc áo ca-pốt đen, cái mặt tròn khá thông thường. Anh cầm trong tay cái mũ lông đen, ánh đèn chiếu vào cái trán bắt đầu hói và anh nhìn Sô-ni-a cười ngượng nghịu.

        Sla-va như bất thình lình nhớ đến sự có mặt của người ấy và kêu lên:

        - Chị Sô-ni-a, đồng chí thiếu tá Lu-nin đấy!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #126 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:22:16 am »


V

        Sô-ni-a chẳng giống tí nào với cái hình ảnh mà Lu-nin tưỏng tượng. Nghe chuyện Sla-va, anh tưởng cô lớn tuổi hơn nhiều. Nhưng chỉ là một cô gái bé, gần như trẻ con, như thằng Sla-va! Anh cũng không ngờ tới cái khăn san sặc sỡ không phù hợp với cái quần đàn ông ấy, với cái trán trong trắng kia, với đôi mày nâu xinh xinh, với bộ mặt sáng sủa đầy vui mừng. Và những cái tìm ra phong phú ấy làm anh bàng hoàng.

        Khi Sla-va nói tên anh thì Sô-ni-a đỏ bừng mặt và reo lên:

        - Tôi không tưởng tượng đồng chí như vậy!

        Cô thốt ra câu nói không suy nghĩ, và da mặt từ hồng lập tức sang mầu đỏ sẫm, làm cho Lu-nin càng ngượng nghịu.

        Sla-va sốt ruột muốn cho chị nếm mùi cá mòi đem từ trường bay tới. Mọi người xuống bếp. Ở đó nước đang sôi. Sô-ni-a làm cá, pha trà, cắt bánh ra từng khoanh lớn. Ngượng nghịu đã hết cô gần như không còn ngại nhìn Lunin. Cô rải lên bàn một cái khăn trắng tinh: dù sao cũng không thể để ăn trên một mảnh báo... Cô thấy cá mòi ngon tuyệt, và không giấu ý nghĩ đó. Cô nài ép Lu-nin cũng phải ăn. Nhưng thiếu tá nói là chỉ khát. Và qua làn khói nước chè, anh ngắm đôi chị em. Họ không giống nhau. Tóc vàng hoe, mắt xanh, da trắng, Sla-va giông bố. Còn Sô-ni- a tóc nâu, mắt huyền thì giống mẹ và ông như tạc. Cô chỉ thừa tự cái vóc của người cha. Nếu không biết trước, thì không đoán ra được là hai chị em. Nhưng, nhìn gần hơn nữa, thì thấy những nét chung. Lu-nin thấy Sô-ni-a có chỗ giống Sla-va, cái giống nhau giữa hai người cùng máu mủ. Như tiếng nói, kiểu nói, cái cười, đường nét rắn rỏi của vừng trán và cái mũi...

        Thoạt tiên Sla-va và Sô-ni-a ham món cá mòi quá, quên cả nói chuyện. Đến khi nói, thì Sô-ni-a tỏ ra nhiều lời gần bằng Sla-va.

        Chuyện nhát gừng. Sla-va tả hàng ngàn chuyện về phi đội, về không chiến, về cuộc hành trình trên Đu-gơ-lát về cảnh đêm trên hồ La-đô-ga. Nỏ gọi các phi công bằng tên cái, và bỗng nhiên hỏi:

        - Đôi giầy trượt băng của em, chị làm gì rồi?

        Sô-ni-a ngắm kỹ quần áo cậu em, đưa ý kiến là trong cái quần dạ thô ấy thì phải ấm lắm, nhưng kết luận bằng một câu tuyên án:

        - Dù em có mặc quân phục Hải quân thật, nhưng vẫn quên rửa tai...

        Sla-va bĩu môi và chỉ cãi lại:

        - Vớ vẩn!

        Tuy vậy lời nhận xét không làm nó giận chút nào. Nó đoán là bộ quân phục, cuộc sinh hoạt của nó ở trung đoàn và sự quen biết Lu-nin làm Sô-ni-a phải kính phục. Và cu cậu hãnh diện về cái đó.

        Sô-ni-a liều nói vài câu vụng về để cảm ơn Lu-nin đã săn sóc đến Sla-va. Nhưng mỗi lần nói, thì đồng chí thiếu tá có vẻ khổ sở quá, gần như giận, làm cô ấp úng. Không muốn cô trở lại vấn để này, anh hỏi thăm về cuộc sống của cô. Cô nói chuyện về đội Công-sô-môn. Câu chuyện làm anh bàng hoàng kính phục. Chuyện cứu tế nạn đói, chuyện cứu trẻ con sơ sinh, chuyện cái vườn rau, chuyện dỡ các nhà gỗ, cái gì đôi với anh cũng như chuỗi việc lớn kỳ lạ, và anh không ngừng hỏi chi tiết để tìm hiểu rõ hơn. Sô-ni-a sẵn sàng trả lời nhưng cộc lốc quá... Cô thấy cuộc sống và công tác ấy rất tầm thường, và cô không hiểu sao lại có thể làm một đồng chí thiếu tá cận vệ phải chú ý. Cô chỉ trở nên hùng biện khi nói tới vấn đề mà cô say sưa: là việc hàn sì các ống nước. Lu-nin nói:

        - Bây giờ trung đoàn gần đây, Sla-va mỗi tuần có thể đến thăm cô. Cô cũng phải đến thăm chỗ chúng tôi một tí chứ.

        Sô-ni-a ngạc nhiên:

        - Có thể được sao?

        - Có thể thu xếp được.

        Thằng Sla-va nói rõ thêm, dáng trịnh trọng:

        - Nếu đồng chí thiếu tá đã nói, thì khắc là được. Tất nhiên người ta không cho chị đến gần máy bay, nhưng chị vẫn có thể xem nhà các phi công ở. Em sẽ giới thiệu tất cả các bạn của em - Ta-ta-ren-kô, Kla-mê-tốp, Ri-a-bu- skin...

        Mọi người quyết định là Sla-va ngủ lại đêm ở đó và sáng mai tự tìm cách về trường bay bằng xe điện số 10 rồi đi bộ. Sô-ni-a quyết định ở lại nhà với nó. Lu-nin phải về ngay trường bay. Đáng lẽ anh đi từ lâu, vì còn muốn làm một vòng trong thành phố đã gần một năm chưa nom thấy. Nhưng anh còn mải nghe đôi trẻ bi bô nói chuyện.

        Cuối cùng anh đứng dậy, và cầm lấy cái mũ lông. Đi giữa Sô-ni-a và Sla-va, anh qua buồng ngoài và vừa mở cửa thì một quả đạn đại bác bay rú qua nhà và nổ gần sát.

        Sla-va nắm lấy tay trái Lu-nin. Sô-ni-a nắm lấy tay phải và nói:

        - Chúng nó oanh tạc Đồng chí đừng ra vội! Đợi hết đã.

        Hai chị em không rời Lu-nin. Hai quả đạn nổ thêm, hơi xa một chút.

        Rồi hết tiếng rú và chỉ còn những tiếng nổ xa... Vì đã quen tai, nên Sô-ni-a giải thích:

        - Bây giờ chúng bắn vào khu phố Vi-bo. Hãy đợi. Chúng sẽ lại bắt đầu.

        Nhưng Lu-nin nhẹ nhàng gỡ tay, và ra đi.

        Gió thổi luồn vào các phố thẳng làm bốc những cuộn tuyết nhỏ. Lu-nin thở không khí lạnh một cách khoan khoái... Sô-ni-a như vậy đó - giản dị, thực thà, đầy cái tươi mát của tuổi xanh. Cô gợi nhớ đến Li-da làm sao! Không phải Li-da những năm cuối cùng mà Li-da của thời kỳ chưa cưới...

        Sô-ni-a không giống Li-da nhưng khi anh mới biết thì Li-da cũng vừa đến tuổi. Và buổi gặp gỡ tình cờ với Sô-ni- a khuấy động trong người anh một thế giới hình ảnh cũ. Anh lại thấy cái cảm giác bồng bột ngày xưa... Tất cả những cái ấy là quá khứ rồi sao? Anh đã hành động theo lẽ phải... Biết đâu?... Không! Dù lỗi ở anh thì sửa chữa cũng chậm quá rồi, không thể trở lại việc đã làm... Thật không còn hy vọng gì nữa ư? Tại sao anh luôn trông thấy đôi mày cong của Sô-ni-a, và cái cười măng trẻ? Tại sao anh vẳng nghe thấy mãi âm thanh của tiếng nói?

        Anh bước từng bước dài, không hiểu là đi đâu. Ở ngoài trời, tiếng đạn nổ có vẻ dữ dội hơn. Anh không để ý. Anh muốn lợi dụng những giờ này để dạo chơi thành phố; nhưng óc nghĩ miên man anh chẳng nhìn đến cảnh. Anh đã đến gần giữa chiếc cầu trước Điện thì một quả đạn réo qua đầu.

        Như Sô-ni-a đả báo trước, bọn Đức lại bắt đầu oanh tạc về mé Ngân hàng, dinh Thuỷ sư đô đốc và vườn Cơ-rông- stát; chắc là chúng dùng mũi tên của pháo đài Pic và Pôn làm chuẩn. Những quả đạn đầu tiên rơi xuống sông Neva, giữa pháo đài và Điện mùa Đông, làm bốc lên từng cuộn nước khổng lồ. Sông chưa đóng băng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #127 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2019, 02:14:01 am »


        Trên cầu, chỉ có một người đàn bà, cách chừng năm mươi thước về đằng trước. Chị rảo bước, quay đầu lại xem có ai nhìn mình không, thấy Lu-nin thì cô giữ mình cho khỏi chạy. Nhưng chiếc xe điện vào cầu thì phóng với tốc độ điên rồ để mau ra khỏi vùng nguy hiểm.

        Hoàn toàn vắng vẻ, khoảng trống trước Điện như rộng thêm ra. Sau khi qua vòm "Tổng Hành Dinh", Lu-nin đến mỏm Nê-vơ-ski. Ngay ở đây, ở giữa thành phố, mà người qua lại cũng hiếm. Dưới một lượt tuyết mỏng, các lề đường như rộng mênh mông. Xe hơi - nhất là xe ca-mi-ông quân sự - phóng hết ga, qua ngã tư cũng không phanh.

        Năm ngoái, ngoài phố nhiều người hơn, nhưng chỉ là những bóng ma lết không nổi. Những người mà Lu-nin gặp hôm nay có vẻ tất tả, không chú ý gì đến tiếng đạn nổ, hay tiếng chuông xe điện. Mặc dù có những toà nhà vỡ toác, những mặt nhà đầy vết bom đạn, những nhà hình vòng cung cháy sém khói của Mậu dịch, thành phố vẫn giữ được tư thế.

        Lu-nin quay vào Li-ti-ê-ni và hiểu rằng đôi chân muốn dẫn anh đến đâu - đến khu phố của Li-da. Li-da không còn ở đó; căn nhà đã bị tàn phá; nhưng nhất định anh phải xem lại nơi này. Anh vào phố Pé-sten, đi qua nhà bào chế Túp, ra phố Mô-khô-vai-a, và đứng dừng mấy phút trước toà nhà trống rỗng như vẫn còn y nguyên.

        Rồi anh đi lang thang. Cũng như năm ngoái, anh ra bờ sông Fông-tăng-ka và lại trông thấy dàn cao xạ ngụy trang dưới cành lá "Vườn mùa hạ". Chính ở đó, anh đã đuổi kịp người đàn bà, anh đã cho chị chỗ bánh dành cho bà mẹ Li-da...

        Bây giờ thì chị ta ở đâu, cái chị mà anh không còn được tin sau khi từ biệt ở Kô-bôn? Bọn trẻ con có sống sót được không?

        Anh nhớ đến bà cụ An-na Stê-pa-nô-vơ-na người đã từ chối không đi. Bà cụ còn sống không? ít hy vọng lắm. Hay là đi tìm bà cụ? Không, đến nhà cũng chưa chắc còn nhận ra được. Tuy vậy anh cũng vào phố Mai-a-kốp-ski và tìm thấy nhà khá dễ dàng. Anh lên thang, bấm chuông, gõ cửa, nhưng chẳng ai mở.

        Anh đứng một lúc trên đầu thang và chậm chạp đi xuống, lòng không dứt nổi kỷ niệm xưa. Cửa dưới kẹt mở. Anh nghe thấy tiếng đi nhẹ. Có ai lên thang.

        - Cụ An-na.

        - Chào đồng chí Lu-nin. Ta lại gặp nhau! Tôi nhận ngay ra đồng chí! Vào đây, vào đây. Tôi không buông đồng chí ra đâu.

        Bà cụ đẩy Lu-nin vào. Cái buồng trống rỗng, các cửa đều đóng. Cụ An-na sống trong bếp. Bếp ấm và rất ngăn nắp. Để Lu-nin ngồi cạnh bàn, cụ nhóm lò với cái dáng lanh lẹ không ngờ được ở tuổi ấy, đặt ấm nước, rửa đôi bàn tay rắn rỏi, sần sùi, và không ngừng nói chuyện. Mỗi lúc cụ lại nhắc lại câu: "Ở chỗ chúng tôi, trong nhà máy..."... Lu-nin hỏi:

        - Cụ độ rầy thế nào?

        - Như thường. Tôi công tác.

        - Cụ công tác? Đã lâu chưa?

        - Từ mùa xuân vừa rồi.

        - Cụ làm ở đâu?

        - Ở nhà máy.

        - Nhà máy gì?

        - Bí mật.

        Bà cụ nhìn Lu-nin, cái nhìn đầy bí hiểm kiêu hãnh.

        - Cụ làm gì ở đấy?

        - Vũ khí, nhưng tôi không thể nói cho đồng chí biết là vũ khí gì, vì là bí mật.

        Bà cụ nói chuyện về những người cụ gặp trên xe điện đi làm việc và kể lại những câu nói của họ. Cho đến ngày chiến tranh, cụ chỉ sống trong khu phố. Bây giờ thì cuộc hành trình dài ra tới ngoại ô, đối với cụ, có cái hấp dẫn của một cuộc viễn du lớn.

        Lu-nin không thể có ý nghĩ rằng bà cụ An-na cổ xưa bây giờ lại chế tạo vũ khí. Anh hỏi:

        - Đúng việc của cụ là gì?

        - Công tác lau.

        - Lau gì?

        Bà cụ bằng lòng giải thích:

        - Các cỗ súng đại bác đầy dầu mỡ, vậy nên tôi phải lau bằng giẻ.

        Bà cụ pha trà và rót vào hai tách. Lu-nin móc trong túi ra một mẩu bánh bọc trong giấy. Nhưng bà cụ bất bình.

        - Chỉ còn thiếu cái nỗi ấy! Bây giờ không ai đem bánh đi thăm bà con nữa. Cái thời ấy đã hết rồi.

        Có đường trong nước trà. Bà cụ đặt bánh kê rán lên bàn và nhất định bắt Lu-nin phải nếm thử. Vừa ăn, cụ vừa kể là cụ không tài nào ăn hết khẩu phần của cụ.

        - Năm ngoái, tôi quên cả việc ăn. Trong bụng nó khô héo đến nỗi chỉ một đầu mẩu bánh là đủ hết đói cả ngày. Còn lại đâu tôi mang cho bà Toóc-ku-nốp, cái bà ở phô Ba- skốp với đứa con gái bé. Để cho đứa trẻ...

        Rồi cụ đột nhiên nói sang chuyện khác:

        - Chị Ma-sa trong thư nào cũng hỏi xem tôi có gặp đồng chí Lu-nin không, cái đồng chí bộ đội đã cứu chị và hai con chị.

        Lu-nin hỏi:

        - Chị ấy viết thư cho cụ à?

        - Có.

        - Chị ấy độ rầy thế nào?

        - Như thường thôi. Đầu tiên, chị ấy ốm nhiều, cả con bé I-ri-nô-ska. Nhưng bây giờ thì khá. Tôi sẽ nói là đồng chí có đến, vì chị ta thư nào cũng hỏi. Tôi biết rõ là chị ta còn muốn biết có ai khác nữa đến không, hoặc viết thư cho chị không? Nhưng chị ta không dám hỏi. Người ấy không còn lại nữa, không còn viết thư nữa, phải không nhỉ. Chậm quá rồi. Nếu anh ta không chết, thì chắc là anh ta đã có người khác.

        Lu-nin hỏi:

        - Chị Ma-sa nay ở đâu?

        Cụ An-na kể lại là hồi xuân hạ Ma-sa ở I-a-rô-sláp, ở đó có một bệnh viện cho dân Lê-nin-grát tản cư. Ba mẹ con khi xuống tầu hoả thì gần chết. Chị ta ốm lâu, rồi phục hồi lại và viết thư cho ông hiệu trưởng trường chị dạy học trước kia. Trường ở U-ran. Ông hiệu trưởng gọi chị về vào tháng tám, và chị làm việc ở đó từ ngày khai trường tháng chín.

        Cụ hỏi:

        - Đồng chí có muốn viết thư cho chị ấy không? Tôi đưa địa chỉ cho.

        - Viết làm gì? Cụ viết thôi. Cụ nói giúp tôi có lời hỏi thăm... Và cảm ơn chị đã không quên tôi.

        Khi ra đi, anh hỏi bà cụ:

        - Cụ không cần gì chứ?

        - Hoàn toàn không cần cái gì hết. - Cụ rắn rỏi trả lời.

        Ngoài đường, trời đã tối hoàn toàn. Trời đen đặc. Những ngôi nhà cửa sổ đen ngòm chìm trong bóng tối. Chỉ còn lề đường thành một vệt trắng. Lu-nin qua cầu Li-tê-i- ni, và đến đầu khu phố Vi-bo thì tìm được một chiếc ca- mi-ông quân sự đồng ý cho anh lên. Vừa đúng lúc ấy, pháo địch lại bắt đầu oanh tạc về phía viện Quân y và ga Phần Lan. Tiếng nổ trong các phố vắng như vang dội hơn lên. Từng cuộn lửa rực trời. Xe ca-mi-ông lắc dữ. Lu-nin nghĩ đến Sô-ni-a sống hàng ngày trong các cuộc oanh tạc đó. Và anh biết là từ nay không rứt được nỗi lo ngại.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #128 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2019, 06:13:11 am »


CHƯƠNG MƯỜI MỘT

CHỌC THỦNG CHIẾN TUYẾN ĐỊCH

I

        Trong những cánh đồng giữa sông Von-ga và sông Đông, việc tiêu diệt các binh đoàn Đức bị bao vây đang tiếp diễn. Trước hôm tết đầu năm một ngày, một thông cáo đặc biệt cho biết rõ về số phận của chúng. Ở mặt trận Bắc thì vẫn yên tĩnh như thường.

        Tuyết xuống. Các nhân viên phi trường hết sức chống đỡ với các đống tuyết mỗi ngày mỗi đùn lên trên các đường bay. Từng màn trắng đục ngăn cách Lu-nin và các phi công của anh với thế giới bên ngoài.

        Nhưng sự yên tĩnh ấy chỉ là giả tạo. Trong những cơn lốc tuyết, từng đơn vị di động, các dàn pháo chiếm lĩnh trận địa, một trận đại tấn công đang được chuẩn bị. Ai nấy đoán cái ngày quan trọng - cái ngày viết bằng chữ N hoa sắp tới.

        Ở chỉ huy sở trung đoàn, các phi công nghiên cứu tấm bản đồ Sta-lin-grát, mà Sác-ba-di-ăng vẫn lấy làm kiêu hãnh - và nói:

        - Lượt chúng ta cũng không còn lâu đâu.

        Và họ cho là một người biết nhiều tin như Ta-ra-rắc- xin không thể nào lại không biết cái đó nên họ túm lấy anh mà quấy rầy:

        - Bao giờ thế?

        - Sắp.

        - Nghĩa là bao giờ?

        Ta-ra-rắc-xin nháy mắt ra cái vẻ thạo:

        - Ngay sau khi nắng lên.

        - Đừng nghe hắn, hắn chẳng biết gì đâu...

        - Mà nếu hắn có biết, thì hắn cũng không nói đâu.

        Bão tuyết vẫn thổi. Đôi khi yếu đi vài giờ như mệt mỏi vì cái hung dữ của chính bản thân nó. Đầu tuần thứ hai của tháng giêng, mặt trời ló ra nhưng còn đục đến nỗi có thể nhìn không chớp mắt. Loé nắng không được bao lâu, rồi gió lại thổi, một cơn gió điên cuồng và sắc như dao cuộn lên từng đám lốc tuyết khô. Đầu mồng 10 thì gió cũng dữ dội đến tột độ. Các phi công phải khó khản lắm mới đứng vững được trên lối đi chật hẹp, lối đi mà họ nối đuôi nhau men theo để về nhà ngủ sau bữa cơm chiều. Trong buồng ngoài nhà ngủ, họ rũ tuyết trên người ầm ĩ hồi lâu, vụng về trong đôi giầy bốt lông trông như đàn gấu. Rồi họ kỳ cọ bộ mặt đầy tuyết, và kiệt sức nằm vật xuống giường. Dưới ánh đèn, người ta trông thấy những bông tuyết vướng vào lông mày họ đang tan ra. Căn nhà rung chuyển vì những đợt gió ào ào. Gió nhè nhẹ quét tuyết trên cửa kính. Gió rú điên cuồng trong ống lò sưởi làm át mọi tiếng khác.

        Giữa cơn gió bão ấy, thì trong nhà lại có một không khí thân mật êm ái. Một luồng hơi ấm tốt lành từ lò sưởi toả ra. Những con bài cẩu quật chan chát xuống bàn. Trên giường, người đọc sách, người viết thư và Kô-stin thì tranh luận về chiến thuật với Ta-ta-ren-kô một cách khoan thai. Anh lấy hai bàn tay giả định vị trí các máy bay tham chiến. Hơi mủm mỉm cười, Ta-ta-ren-kô nghe những suy luận thông thái của bạn, và giữa lúc bất ngờ nhất, thì đưa một cùi tay mà bác bỏ hết. Bao giờ tranh luận hắn cũng thắng, vì hắn biết tìm những chi tiết nhỏ sơ hở trong những giả thuyết của Kô-stin. Với những bài tính phức tạp mà Kô-stin nghĩ ra, hắn cho lại những giải đáp đơn giản lạ lùng. Hắn vung hai bàn tay, cười lớn với đôi hàm răng trắng khỏe... Thế là anh chàng kia chỉ có việc lập luận lại.

        Trong một góc, cách mọi người một cái giường bỏ không, Ka-ri-a-kin và Kla-mê-tốp ngồi dưới sàn đang chuẩn bị cho "Báo bay" số” mới. Họ không cho ai xem, trước khi làm xong hẳn. Anh chàng hội họa Kla-mê-tôp viết và vẽ; nhưng ý thì do Ka-ri-a-kin cung cấp. Đôi khi, họ trao đổi khẽ một vài câu, rồi lại lúi húi vào việc. Ka-ri-a-kin hay hát, - một chuỗi điệu hát không lời, khi u sầu, khi lôi cuốn. Có khi hắn cãi nhau với Kla-mê-tốp, làm cả buồng khoái chí. Chẳng hạn, khi hắn làm rớt mực trên giấy, bạn có bất bình nhận xét thì hắn lại cãi bằng cái câu cổ truyền:

        - Người ta dạy tôi thế đấy!

        Chiều ngày 11 tháng giêng, Prốt-cua-ri-a-kốp vào nhà ngủ của phi đội 2, đi sau là Éc-ma-kốp và Lu-nin. Các phi công vừa đi nằm, nhiều người đã lơ mơ ngủ. Nhưng vừa nhìn thấy Prốt-cua-ri-a-kốp thì mọi người hiểu ngay là cái giờ chờ đợi từ bao lâu đã tới.

        Prốt-cua-ri-a-kốp vào tận giữa buồng, cũng chẳng buồn rũ tuyết còn phủ trên đôi vai áo da rộng: Mặt đồng chí như bốc lửa. Đồng chí đưa tay làm hiệu là không cần đứng dậy.

        - Các bạn, có lệnh của Bộ Tư lệnh: sắp phá vòng vây!...

        Tất cả nhỏm dậy trên giường. Có tiếng người thốt ra:

        - Thế là đã đến lúc!

        Prốt-cua-ri-a-kổp nhắc lại:

        - Đúng, thế là đã đến lúc. Chúng ta ở đoàn Cận vệ. Các đồng chí còn nhớ lời thề chứ?

        Những tiếng thanh niên đáp lại:

        - Chúng tôi nhớ!

        Trong những người có mặt đây, không có ai đã dự buổi lễ trao cờ, nhưng cả bọn thuộc lòng lời thề. Prốt-cua-ri-a- kôp nói tiếp:

        - Chúng ta sẽ phá vòng vây, và Tổ quốc sẽ ngợi khen chúng ta. Sáng sớm mai bắt đầu.

        Prốt-cua-ri-a-kốp không biết diễn thuyết dài dòng và hầu như chưa hề làm việc đó bao giờ. Nhưng lệnh mà anh vừa nhận được làm anh cảm xúc quá không thể nhịn được mà không báo ngay. Anh còn vừa tranh cãi với Éc-ma- kốp, đồng chí này cho rằng chỉ nên cho các thợ máy biết trước, còn các phi công thì đến sáng sẽ hay. Y kiến rất hợp lý vì các đồng chí thợ máy phải làm việc suốt đêm, còn các phi công thì cần thiết phải ngủ. Nhưng Prốt-cua-ri-a-kốp cảm xúc quá không còn bụng nào quan tâm đến những cái tế nhị về tâm lý nữa, và anh nhất định phải báo cho các phi công biết ngay. Anh nói:

        - Với cái tuổi ấy, thì trước trận đánh vẫn ngủ như kéo gỗ.

        Sự việc đúng như ý anh. Sau khi anh về, thì lúc đầu chuyện còn nhộn nhịp. Nhưng nửa giờ sau, thì nhiều người đã thiếp đi, và sau một giờ thì cả buồng đều ngủ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #129 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2019, 12:19:58 pm »


II

        Sáng sớm, lúc trở dậy, mọi người lắng tai nghe xem còn bão không? Nhà vẫn rung lên dưới các luồng gió. Gió gào rú trong ống lò sưởi, và vừa bước ra hè, thì một cơn xoáy tuyết đẩy họ vào trong. Bão càng dữ dội hơn. Khi đi ra máy bay, họ chỉ có thể nói với nhau bằng cách gào to thật lực, và cách nhau năm thước là không còn nhìn thấy nhau nữa.

        Tuy vậy, tiếng đại bác như sấm dậy át cả tiếng bão rú.

        Chín giờ bốn mươi, hàng vạn khẩu đại bác khai hoả bắn vào các vị trí địch trên bờ nam sông Nê-va. Từ trường bay đến chiến tuyến, gần mười cây số. Nhưng sân bay như rung chuyển dưới chân họ. Tiếng nổ liên tiếp trong hai giờ, chỉ có khi lớn khi nhỏ tùy theo từng đợt gió.

        Mười một giờ bốn mươi, pháo tăng chiều dài tầm bắn. Từ một phi trường lân cận, người ta báo cho Ta-ra-rắc-xin là các máy bay Stuốc-mô-vi-ki cất cánh về phía sông Neva. Phi đội của Lu-nin được lệnh đi yểm hộ.

        Sác-ba-di-ăng nhẩy bổ ra khỏi chỉ huy sở, đầu trần, súng hiệu cầm tay. Nhưng trong cơn lốc tuyết bao bọc lấy anh, ngay lúc đó, anh sợ mọi người không trông thấy pháo hiệu. Không đội mũ, mớ tóc nâu đầy bông tuyết, anh chạy đến tận các máy bay và bắn pháo hiệu kề sát. Từng cái một các máy bay cất cánh và biến ngay trong màn sương trắng.

        Trên cao 100 thước thì bụi tuyết thưa hơn dưới đất và nhìn ngang được rõ hơn. Phi đội không thể lên cao hơn nữa: mây cao nhất là ở cao 150 thước, mà những chiếc Stuôc-mô-vi-ki phải yếm hộ thì chắc chắn không bay trên các tầng mây. Lu-nin còn sợ không gặp bọn họ và chăm chú quan sát chân trời. Đến chỗ đã định, bất thần họ trông thấy đội bạn thẳng trước mặt - một bầy máy bay to sụ thân gồ lên như giông bò rừng Trung cổ.

        Lu-nin trông thấy sông Nê-va, và đằng sau là một dải đen rộng mấy cây số. Giữa bể tuyết trắng, dải đen ấy có vẻ không tự nhiên: đó là vì pháo ta đã bắn trơ đất ra ở bờ Nam con sông mà men theo đó là những tuyến đầu của quân Đức. Bộ binh ta xung phong vào dải đen ấy. Tan lẫn trong mầu tuyết lốc, cái khối di động khổng lồ mang áo da lông và áo blu trắng nguy trang ấy, phủ kín lượt băng trên mặt sông từ bờ nọ sang bờ kia.

        Suốt cả ngày, các phi công thấy những con người ấy tiến về nam, khi thì như chạy thi, khi thì bò. Ngày tấn công đầu tiên, cả ba phi đội của trung đoàn đều ở trên không phận của chiến trường giải ra khắp thượng lưu và trung lưu sông Nê-va. Cứ 45 phút, các máy bay trở lại phi trường lấy xăng rồi lại bay đi ngay lập tức.

        Phần lớn thời gian họ yểm hộ Stuôc-mô-vi-ki. Và cả Lu-nin lẫn các phi công của anh chưa hề trông thấy nhiều máy bay loại này như thế. Các máy bay xung kích ấy chia cắt từng đoàn xe tăng địch, phá hủy ca-mi-ông, phá hủy cầu, diệt các tiểu đoàn bộ binh trên đường, đè bẹp các dàn pháo và mở trong hệ thống phòng ngự của địch từng lỗ hổng lớn đề bộ binh ta ào vào ngay tức khắc.

        Bọn Đức chống cự kịch liệt, bám chặt vào những đường hầm chi chít của chúng, bám vào mỗi cao điểm, mỗi ngọn suối, mỗi căn nhà. Chúng chống lại bước tiến của quân ta bằng một lưới lửa dày đặc. Chúng phản công hết lần này đến lần khác, cố đẩy bật bằng được bộ binh ta ra sông Neva. Nhưng chúng làm không nổi. Lực lượng của chúng bị hãm chặt, vì quân đoàn Von-khốp, cùng tấn công một lúc với quân đoàn Lê-nin-grát, đã đánh một trận kịch liệt trên bờ nam hồ La-đô-ga, trong khu vực Si-ni-a-vi-nô. Và địch không thể đem viện binh lớn tới, vì tất cả dự trữ đã ném vào phía sông Đông, phía bắc Cô-ca-dơ và đông U-cơ- en để tiếp viện cho các binh đoàn đang bị ta bao vây và tiêu diệt trước Sta-lin-grát. Chiều ngày đầu tiên, ta đã chiếm lĩnh trên bò nam sông E-va một đầu cầu dài hơn 20 cây số, rộng 5 cây.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM