Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:34:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khoảng trời Ban-Tích  (Đọc 36173 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #40 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2019, 11:24:05 pm »


CHƯƠNG NĂM

ĐỊA ĐIẾM MỚI

I

        Tháng mười hai, sân dãy nhà lớn cù lao Vát-si-li vắng ngắt. Một lốp tuyết dày bao phủ. Chỉ còn vài lối đi ngoằn ngoèo từ cổng vào các cầu thang. Mỗi buổi sáng, ông già Tác-ta A-bra-ham cố gắng dọn tuyết. Trong mấy tháng qua, ông gầy đi một cách kinh khủng, và với cái vóc cao, cái kiểu đứng thẳng, cái mặt sạm, cái vẻ chịu đựng và nghiêm nghị, ông càng giống với hình người bị hành tội trong bức tranh đạo. Đôi chân khẳng khiu lùng bùng trong đôi ủng rộng mới. Với cử chỉ quen thuộc, ông đâm cái xẻng vào tuyết, nhưng cứ hai, ba xẻng, ông lại ngừng và bắt đầu loạng choạng một cách lạ kỳ, như cái thân dài của ông không còn đứng vững nổi nữa. Những lúc ấy ông ngồi lên bệ đá, và hơi thở nặng nề, ông đăm đăm nhìn tuyết hồi lâu. Ông ghét tuyết lắm, nhưng kiệt sức, ông phải chịu hàng phục nó.

        Lúc đó là giờ mà giáo sư Mét-ni-kốp thường ra sân thở chút không khí. Cụ đứng trước ông A-bra-ham, tì trên gậy, cái đầu nhỏ vẫn ngấc lên hiên ngang, như con chim sẻ bướng bỉnh. Những người xung quanh đấy, từ lâu đã biết ông cụ bé nhỏ gần sáu nhăm tuổi mặc cái áo dài đẹp, đội mũ lông và đi ủng che tuyết ấy là một giáo sư. Chẳng ai biết là một giáo sư khoa gì? Nhưng tất cả - các bà nội trợ cũng như ông gác cổng A-bra-ham và cả đồng chí thủy binh thường làm những cái việc quán sự bí mật gì ở nhà dưới - đều tỏ vẻ kính trọng cụ, cái kính trọng đối với sự hiểu biết.

        Thông thường, cụ im lặng. Đôi khi cụ nói chuyện với ông A-bra-ham, hay nói đúng hơn là cụ làm một vở kịch dài độc tấu trước ông A-bra-ham. Ngồi trên bệ đá, ông A- bra-ham nghiêm trang nhìn tuyết, và qua nét mặt, thì không thể biết rõ ông có lắng nghe hay không.

        Một hôm giáo sư dang tay trái, vén cổ tay áo ngoài, rút bít tất tay và ngắm cái cổ tay nhỏ như tay trẻ con. Rồi cụ giải thích, giọng bình tĩnh:

        - Không có ăn, thì người ta tự ăn mình, theo một trật tự bất di bất dịch. Trước hết là ăn chỗ mỡ dự trữ, rồi ăn đến bắp thịt.

        Sô-ni-a hiện ra ở cửa cầu thang. Em mặc măng tô trùm cái khăn len trắng và đi bốt lông. Em gọi:

        - Ông đi về đi kẻo nhiễm lạnh. Hôm nay ông ở ngoài lâu quá. Ông có về không ông?

        Cụ I-li-a nhìn em không trả lời và tiếp tục bài giảng:

        - Cái bị ăn cuối cùng, là óc và bộ dây thần kinh, cái quý nhất và khó tạo lại nhất. Khi mà người bắt đầu ăn đến óc mình, thì hết cứu chữa.

        - Cụ sợ chết à? - Ông A-bra-ham đột ngột hỏi.

        Giáo sư nhìn ông bằng con mắt đàn anh.

        - Sợ cái chết của tôi ấy à? Không, cái chết, tôi không sợ cho tôi. Tôi và nó không bao giờ gặp nhau. Tôi còn sống, thi nó không có cơ hội nào, và khi nó đà đến thì tôi không còn nữa. Cái chết của người khác mới là cái...

        Cụ cau mày và im bặt.

        - Khi người ta không chịu thua, thì người ta không chết. - Sô-ni-a tuyên bố. - Ông ơi, về di.

        Em kéo túi áo ông và dìu ông về nhà.

        "Khi người ta không chịu thua thì người ta không chết" em không sáng tạo ra công thức đó; em chép của chị Ang- tô-ni-a Trô-phi-mô-na.

        Sô-ni-a đã lâu không gặp chị và vừa đây mới lại thấy.

        Tháng mười, khi các trận oanh tạc của Lớp-táp gần ngừng hẳn, Ang-tô-ni-a biến khỏi cái nhà mà Sô-ni-a ở. Chị cũng chẳng về ngủ nữa. Những phụ nữ khác phụ trách công việc hầm, sân và mái; được Ang-tô-ni-a huấn luyện, họ giữ hết sức đúng cái trật tự do chị đã lập nên. Họ cho Sô-ni-a biết là chị đã được giao những nhiệm vụ quan trọng hơn và chị ngủ đêm ngay ở chỗ làm việc.

        Một tháng sau, khi sắp hàng trước cửa hiệu bánh, một thiếu nữ cho Sô-ni-a biết là Ban chấp hành Thanh niên quận có thể đề cử em vào một xưởng vũ khí. Sô-ni-a nghĩ đến cái đó từ lâu; tất nhiên không được bằng ra mặt trận, nhưng như vậy em có thể công tác mà không bỏ ông và Sla-va. Em mới đến Ban chấp hành Thanh niên một lần, mùa xuân trước, khi đi với các bạn gái cùng lớp, em đến lấy thẻ Công-sô-môn. Rồi chiến tranh bùng nổ, trưòng dời đi và Sô-ni-a mất liên lạc với Đoàn. Cho nên do dự hồi lâu em mới tới Ban chấp hành.

        Em cầm thẻ trên tay - em sợ người ta biết là từ mấy tháng em không đóng nguyệt phí và việc này làm em rất hoảng. Nhưng em vừa vào trong nhà, thì bao nhiêu sợ hãi đểu tiêu tan hết. Những cô gái mà em hỏi chẳng có gì đáng sợ: cũng đội khăn vuông và đi ủng nhu mọi người. Các cô hỏi em. Em kể chuyện Sla-va, chuyện ông, chuyện mẹ chết. Tìm được việc ở xưởng máy không phải là dễ; một số bộ phận đã dọn di, một số đóng cửa vì không có than, những bộ phận còn chạy - những bộ phận quan trọng nhất - thì số người làm đã đủ.

        - Phải dẫn cô ấy đến chị Ang-tô-ni-a, - một cô đề nghị, mọi người tán thành.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2019, 10:55:55 pm »


           Sô-ni-a không ngờ có thể là chị Ang-tô-ni-a mà em biết. Người ta dẫn em đến Ban chấp hành Đảng bộ cũng đóng ở đấy. Các cô đi qua những cánh cửa mang nhiều tên khác nhau, theo những hành lang vô tận lạnh gớm ghiếc không kém gì ngoài đường. Mặc áo da lông, trùm khăn và đi bốt, chị Ang-tô-ni-a ngồi trong cải buồng giấy lạnh giá và đang gọi điện thoại.

        - Chị Ang-tô-ni-a, tôi dẫn đến cho chị một người rừng đấy - Cô gái dẫn Sô-ni-a nói. - Chị nói chuyện với cô ấy đi, cô ấy có thể giúp chị được ít nhiều đấy.

        "Một người rừng" không phải là nói bóng cái tính nết của Sô-ni-a, mà nghĩa là em không ở trong đoàn thể nào.

        Chị Ang-tô-ni-a vẫn có đôi mắt như cười và chăm chú dưới đôi mày vàng hoe. Nhưng bộ mặt thì đã bị phù.

        - À! Người quen cũ đây mà! - Chị reo lên sau khi thoáng nhìn Sô-ni-a. - Em lạ lắm phải không? Chị được chỉ định vào công tác này, và ngủ luôn ở buồng làm việc này...

        Chị đi ngay vào việc;

        - Đã hơn một tháng nay, các nhà tắm công cộng trong thành phố đều đóng cửa. Em có muốn giúp chị mở cửa một nhà tắm không?

        - Thưa chị được lắm ạ! - Sô-ni-a trả lời không một giây do dự.

        Ang-tô-ni-a Trô-phi-mô-na để hai bàn tay xuống bàn: trước kia thon và bóng, ngón tay của chị nay vặn vọ và cứng nhắc. Chị nói:

        - Trong các nhà, hiện nay không còn thể rửa ráy cũng như không còn thể sưởi được. Đã ba tháng rồi, người ta cứ nguyên quần áo mà ngủ. Không còn một cái nhà tắm trong thành phố. Không còn có thể làm cho nó chạy được nữa: không than, không phương tiện vận tải, người còn có thể chịu đựng được cũng không còn nốt... Chúng ta đi coi.

        Chị đứng dậy. Cái áo lông da quá ngắn để lòi ra cái váy quá rộng và cũng quá ngắn trùm trên một cái quần bông ngắn bó vào trong ủng. Trong cái mớ lùng thùng ấy, chị vẫn còn giữ được vẻ duyên dáng nhẹ nhàng.

        - Chị tìm thấy trong khu phố một nhà tắm nhỏ kiểu cổ. - Chị kể khi đi xuống thang với Sô-ni-a. - Cái nồi súp-de cũng không to tắm và ngốn ít than. Ta đi xem một tí.

        Họ đi qua những phố vắng trên đảo, những phố sáng rực một màu tuyết trắng khác thường. Khí lạnh làm Sô- ni-a khó thở.

        - Sáng nay, em đã uống trà chưa? - Ang-tô-ni-a hỏi. - Khi không có gì ăn thì sáng dậy uống lấy một cốc nước chè hay nước lã đun sôi.

        Nhà tắm cũng nhỏ, ở tầng dưới một căn nhà kiểu cổ từ thể kỷ trước, phía góc hai phố, cách đại lộ chừng một trăm thước. Vữa trên tường đã rụng từng mảng vì ẩm thấp, lộ gạch trần. Từ xa trông, ngôi nhà có vẻ còn y nguyên. Nhưng đến nơi, mối thấy là các kính cửa chính đều vỡ.

        Cửa không đóng. Họ đấy cửa vào buồng ngoài. Những bông tuyết lớn lấp lánh trên sàn trơn như long não. Còn lạnh giá hơn ở ngoài đường: cái lạnh của nhà mồ.

        - Có ai không? - Chị Ang-tô-ni-a hỏi to.

        Họ lắng tai. Gió lùa qua kẽ cửa sổ, xoay tít những bông tuyết.

        Cái cửa vòm chỗ thu tiền đã chắn lại bằng một miếng ván; lối vào phòng tắm hạng nhất của phụ nữ ở bên phải, lối vào phòng tắm hạng nhất của nam giới ở bên trái. Một hành lang đâm sâu vào quãng tối om om. Trong một góc buồng ngoài họ thấy một cửa thấp có đề chữ: "Ban phụ trách". Ang-tô-ni-a kiên quyết đẩy cửa và lùi ra ngay lập tức.

        Có thể nói là một cái hố đen lớn mở ra dưới chân họ. Một ngọn đèn leo lét đâu đây trong đêm tối phía dưới xông lên một mùi nóng ẩm ướt và cái hôi chua chua của những nhà thiếu khí trời.

        - Cửa kìa! - Một giọng đàn bà khàn khàn kêu. - Đóng lại chứ!

        Cầm lấy tay Sô-ni-a, Ang-tô-ni-a tiến thận trọng trong bóng tối.

        - Chú ý kẻo ngã. - Chị nói - Có bậc thang đấy!

        Họ xuống những bậc thang gỗ lầy nhầy. Một sợi bấc đút vào cái hộp thịt cũ, chiếu lên trên bàn một ánh sáng xỉn. Khi đã quen với bóng tối, Sô-ni-a nhận thấy cạnh bàn một đống tã hình như động đậy.

        - Có ai trong ban phụ trách không? - Ang-tô-ni-a hỏi rất lớn, và trong cái hang ghê tởm này, giọng chị lại hoá ra có vẻ chính quy một cách lạ lùng.

        - Có. - Tiếng nói lúc nãy trả lời.

        - Chị là ai?

        - Phụ trách trướng.

        Từ đông tã, lòi ra một bóng người tùm hum cái khăn khoác chăn quàng trên mãng tô: một và già còng, như gù, mặt gần đen sịt, cái mũi khoằm như lưỡi dao bà đôi mắt dữ tợn, hệt một mụ phụ thủy trong một giác mê.

        - Các người muốn gì? - Mụ hỏi với giọng doạ nạt.

        - Chúng tôi ở Uỷ ban.

        - À! Vậy ra là một cuộc đến thăm! - Mụ phụ trách reo lên với cái giọng châm biếm độc ác, - Vậy thì nhìn xem. Cũng là uỷ ban đã chỉ định tôi đến đây vào tháng chín, để trông nom cho cái nhà này chạy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2019, 10:36:20 pm »


        Ang-tô-ni-a nói:

        - A! Tôi nhận được ra chị rồi! Trước kia chị đã gặp tôi... Chị bao nhiêu tuổi?

        - Hai mươi bốn. Tôi thay đổi quá phải không?

        - Cũng khá.

        - Tôi không hể soi gương.

        - Chị còn nhớ tôi không?

        - Nghe tiếng, dần dần tôi nhận ra.

        Hai người nhìn nhau im lặng hồi lâu. Rồi chị Ang-tô- ni-a nhìn quanh cái hầm và hỏi:

        - Sao tối thế?

        - Tôi không mở cái che đèn phòng thủ.

        - Tại sao?

        - Vì chiều lại phải đóng.

        - Như vậy là không được. - Chị Ang-tô-ni-a nghiêm nghị nói.

        Chị nhanh nhẹn trèo lên ghế, từ ghế trèo lên bàn, và bỏ cái mành giấy xanh ra. Phủ một lớp tuyết dầy, cánh cửa sổ nhà hầm mở ngay trước một đống băng, nó chỉ cho lọt xiên qua một tia sáng. Nhưng căn buồng như bừng sáng lên -  người ta thấy hai giường lồm cồm những tã, một cái lò sưởi con bằng gang và một đống than vụn ở một xó ngay trên sàn. Ngọn đèn đêm nay gần như không trông thấy nữa. Ang-tô-ni-a tắt đi và từ trên bàn tụt xuống đánh ầm.

        - Chị sống ở đây à?

        - Trong khi đợi...

        - Đợi gì?

        - Chị cũng biết như tôi. Hôm nay tôi sống, mai tôi đã chết rồi.

        - Tại sao lại mai?

        - Có lẽ là ngay hôm nay.

        - Chị ở đây đá từ lâu à?

        - Phải. Ở trên nhà không có gì sưởi.

        - Chị có một mình?

        - Không, còn Li-da-vơ-ta.

        - Li-da-vơ-ta nào?

        - Phụ trách buồng tắm hạng nhất. Giường chị ấy đây này.

        - Thê chị ấy đâu?

        - Chết rồi. Hôm kia. Khi tôi di lĩnh bánh. Khi tôi về, chị ấy đã cứng đờ. Tôi đưa xác chị ấy lên bực thang trên cùng. Trên đó có băng.

        - Chị ấy vẫn ở đó?

        - Vẫn ở đó.

        Sô-ni-a lùi xa giường Li-da-vơ-ta. Ang-tô-ni-a nghiêm sắc mặt. Như muốn nói "Thôi đừng kể lể nữa. Để làm gì... nói chuyện công việc đi". Và chị hỏi:

        - Còn nhà tắm?

        - Đóng cửa vào lớp sau cùng. Vì súp-de của chúng tôi ăn ít than hơn.

        - Thế bây giờ?

        Chị phụ trách không hiểu câu hỏi.

        - "Bây giờ" cái gì?

        - Tại sao đóng cửa?

        Một tiếng cười như điên rồ vặn cái mặt chim gầy còm của chị phụ trách.

        - Chị không thấy là các cửa kính vỡ hết rồi à?

        - Thế than cũng không còn chứ?

        - Sao lại không có than! - Chị kêu lên như phật ý. - Than thì có. Khi tôi về đây, tôi đã có dự trữ. Còn đủ đốt sáu tuần nữa. Đấy cái than tôi dùng đốt lò sưởi đấy. Li-da-vơ-ta đã đem ở lò về. À! Trước đây còn có một bà đốt lửa rất khéo. Chúng tôi đóng cửa sau cùng, sau cùng trong các nhà tắm của thành phố.

        - Bà ấy nay đâu?

        - Bà đốt lửa ấy à? Khi các cửa kính vỡ hết, bà ấy về nhà, còn ở đây làm gì? Bà ta chỉ còn vừa đủ sức đứng được. Có lẽ đã chết...

        Ang-tô-ni-a nói:

        - Cửa kính thì chúng tôi không kiếm được cho chị đâu. Chẳng đâu có cả. Thế tất cả cửa kính của chị đểu vỡ à?

        - Tất cả buồng hạng nhất đàn bà, hạng nhất đàn ông và ở hạng nhì đàn ông - tất cả ở phía cửa chính - thế sao?

        - Còn ở đây? - Ang-tô-ni-a hỏi và chỉ cái kính nguyên vẹn của buồng phụ trách.

        - Ở đây trông xuống sân. Phía xuống sản thì cửa kính đều nguyên.

        - Thế có buồng tắm trông xuống sân không?

        - Có. Buồng hạng nhì đàn bà! vẫn còn nguyên kính.

        - Thế thì phải đốt nóng các buồng đó.

        - Chỉ một hạng thôi à?

        - Một thôi! Một ngày đàn ông, một ngày đàn bà.

        Chị phụ trách còn léo nhéo thêm:

        - Mùa đông, thì tôi không đảm bảo, vì các ống đến mùa xuân mới tan băng, bây giờ thì ống băng cứng nhắc còn gì.

        - Ống nào?

        - Ống nước ấy, thưa bà chị. Đầy nước đá. Phải đốt bằng ống thổi hơi.

        - Sẽ tìm cái đó cho chị, trong bất cứ xưởng máy nào cũng có. Chỉ cần báo họ: nếu gửi đến cho tôi một thợ hàn, thì các anh được tắm trước tiên.

        - Thật chứ? - chị phụ trách lẩm bẩm, vẫn sầm nét mặt, nhưng đã bớt ác cảm.

        - Cái gì thật nhất thì là thế. Tôi không biết là chị có than. Nhưng chị đã có cái đó thì người ta sẽ tìm cho chị đủ các thứ khác.

        Chị phụ trách nghĩ ngợi:

        - Ai đứng ra làm. Tôi chẳng còn ai, chỉ còn một mình.

        - Sẽ tìm người cho chị. Đây là một. - Ang-tô-ni-a chỉ Sô-ni-a. - Chị cần bao nhiêu người? Mười, mười lăm? Chị sẽ có mười lăm người. Tôi cũng đến làm.

        Chị phụ trách đột nhiên nói:

        - Tôi đưa chị đi xem nhà! Hãy còn một buồng có thể đốt nóng được, nếu có ván bịt hai cửa sổ. Còn ống nước thì tôi không rõ... Nếu bà chị đốt lửa không quên thông ống thì có thể nó còn chạy được.

        Chị tung chăn, vất xuống giường và hiện ra gầy nhom, còng hẳn xuống, với cái mặt bẩn thỉu của một bà già lôi thôi. Chị kéo Ang-tô-ni-a và Sô-ni-a ra cầu thang.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2019, 11:35:31 pm »


        Thế là Sô-ni-a tham gia vào việc sửa soạn cho nhà tắm chạy. Mỗi sáng, em đến rất sớm, và ở đến chiều tối, Ang- tô-ni-a giữ lời hứa và cung cấp những cô gái cho chị phụ trách, không được mười lăm, nhưng được năm người, thế cũng khá rồi. Tất cả trước đều ở xưởng dệt. Xưởng dọn đi từ mùa hè, và các cô ở lại vì nhiều lý do khác nhau. Các cô ở trong một đội thanh niên thành lập vào cuối hè trong việc đào công sự đằng trước Lê-nin-grát. Khi về, Ang-tô- ni-a khuyên các cô đừng giải tán đội: các cô sẽ giúp chị để chiến đấu với thần chết.

        Tất cả đều trùm kín từ chân đến đầu - chỉ thấy cái mũi đầy bồ hóng và bộ má nứt nẻ. Không hề lúc nào họ cởi áo, vì không bao giờ được ấm. Đói đã làm cho ngón tay họ nung mủ và chân phù lên; còn đứng được cũng là một sự lạ; tuy vậy, tuổi thanh niên có cái quyền của nó: các cô vẫn hay chuyện, hay cười và hay làm dáng.

        - Ây dà! Nếu mà đằng ấy trông thấy tớ hồi trước chiến tranh!

        Rất yêu Ang-tô-ni-a, nên các cô đem hết sức vào việc sửa chữa nhà tắm.

        Công việc tiến dần. Chị phụ trách nắm hết lấy công việc: ra khỏi cái hang của chị, chị tỏ ra tay phụ nữ đứng đầu, và thi hành quyền uy rất gắt. Ghen với Ang-tô-ni-a, chị cốt cho bọn con gái biết rằng chị là người chỉ huy. Chị dám rửa ráy cả bằng tuyết, làm cho cái mặt tái nhợt và răn reo như mặt bà cụ non.

        Họ mất ba ngày tìm kiếm ván cho cửa sổ và còng lưng khênh ván qua mặt băng sông Nê-va, rồi một ngày nữa để đóng nó vào cửa sổ. Lúc đầu, tưởng như không ai còn nhắc nổi cái búa. Nhưng khi Ang-tô-ni-a trèo lên bậc cửa số và chính chị đóng lá gỗ đầu tiên thì không ai muôn tụt lại sau nữa. Chị phụ trách đòi đóng lấy và chỉ cho phép bọn con gái đưa đinh. Chống cái cán chổi, bà đốt lửa lê đến chỗ làm việc. Đói làm người bà sưng lên, đầy nước. Bà thở ì ạch, và đôi khi người ta khó mà tìm được đôi mắt trong cái mặt sưng húp của bà. Bà ngồi xuống đống than và bắt đầu chứng minh một cách hăm hở cho chị phụ trách biết là khi ra đi, bà đã làm mọi việc đúng quy tắc: các ống đều thông, chỉ còn phải đốt nóng chúng lên là xong.

        Bà không đi được nữa và chính bọn con gái làm hết, mở khoá nước, cho than vào lò trong khi bà cụ ngồi chỉ huy. Bà là một con người cáu kỉnh, câu mắng luôn ở mồm, không ngớt tru tréo, và sử dụng cái cán chổi rất lẹ, đừng đến gần mà nguy. Các cô gái phải quấn thuốc lá cho bà vì bà nói là có thể không ăn mà sống, chứ không thuốc thì chắc chắn là chết; trước sự hãi hùng của mọi người, bà còn giảng giải là bà đã đổi cả khẩu phần bánh lấy thuốc hút. Ngón tay không quân được điếu thuốc nữa, bà nhờ bất cứ ai làm giúp và mắng người ta sa sả nếu không làm được đúng ý muốn của bà.

        Rất lành nghề, bà tỏ ra nhiều sáng kiến và nhất là rất thận trọng. Vì cần thiết phải thế - một ống mà vỡ thì đi đời hết. Bà cho nhiệt độ trong các nồi súp-de lên chầm chậm, lắng tai nghe tiếng nước trong ống. Bà ngủ đêm ngay tại chỗ: chị phụ trách và Sô-ni-a đã đem đến cho bà cái giường của Li-da-vơ-ta. Ngày thứ ba, hàn thử biểu ở buồng hạng nhì đàn bà đã chỉ hai độ dưới không.

        Chị phụ trách sướng cuống lên: - "Nhà tắm sắp chạy được rồi". Chị loan báo. Cái tuyệt vọng cũ của chị không còn dấu vết; chị lên xuống cầu thang trong cái trạng thái luôn kích thích, chỗ nào cũng có mặt, chỉ huy bằng cái giọng đã khản đặc, và cái gì cũng muốn tự mình làm lấy hết. Chị quyết định lau nhà. Lột cái áo ngoài, lột cả áo chẽn, cả váy, và gần như ở trần, gầy nhom như con cào cào, chị lấy giẻ đánh thềm đá. Chính hôm đó là hôm Ang- tô-ni-a bảo Sô-ni-a:

        - Khi người ta không chịu thua, thì người ta không chết.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #44 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2019, 11:48:14 pm »


II

        Quân Phần Lan chiếm eo biển giữa hồ La-đô-ga và hồ Ô-nê-ga, tràn xuống bờ nam Svia. Từ ga Bu-đô-gốt, quân Đức tiến xuống để gặp chúng và đã chiếm Tích-vin một vòng đai thứ hai siết quanh Lê-nin-grát, chỉ còn lọt một dải hẹp quãng hai mươi cây số giữa Tích-vin và bờ nam Svia. Nhưng lỗ thủng đó không có một đường giao thông nào, không có đường sắt, cũng chẳng có đường ôtô.

        Thống báo mất Tích-vin ngày 30 tháng 11. Tin đó làm Lu-nin bàng hoàng. Nghiên cứu tấm bản đồ treo trên tường chi huy sở, anh thấy rõ Lê-nin-grát mỗi ngày mỗi chìm sâu vào sau lưng địch.

        Khi bay, Lu-nin thấy như bị lôi cuốn về phía thành phố vì một ý muốn không thể nào kìm được là muốn xem ở đấy ra sao? Anh biết là chỉ mười phút thì có thể vượt ngang qua khắp chiều rộng của khoảng đất liền dính vào Lê-nin- grát bị bao vây. Nhưng ít có dịp được bay trên Lê-nin-grát, và từ chỗ anh xa như vậy, thì không nhìn ra được cái gì.

        Một hôm, tháng chạp, anh bay trên suốt thành phố với Sê-rốp, từ bắc qua nam. Trời khá sáng và da trời xanh trong. Nhưng hơi sương giá đọng trên mặt đất, và các mái nhà như nhô lên trong bể sữa. Lu-nin thấy những đường phố dài thẳng nhưng chẳng nhận ra được gì, ngay cả lúc anh là sát mái nhà. Anh muốn biết quá. Xe điện không chạy, nhưng có người đi bộ. Không, rõ ràng không phải là một thành phố chết Lê-nin-grát bị bao vây vẫn sống; qua những đám lốc tuyết, Lu-nin vẫn thấy dấu vết sự sống đó: súng cao xạ đặt trong những chỗ đất rộng; trên những chiến hạm đã bị giam trong băng sông Nê-va, chòi súng vẫn quay, xe ca-mi-ông quân sự vẫn bận rộn lao nhanh trong đường phố...

        Khi anh bay trên nam phần thành phố lởm chởm những nhà máy khổng lồ, anh thấy những luồng khói nhỏ vẫn bốc, khi thì từ mặt ống khói cao bằng gạch, khi từ một ống khói khác. Và những luồng khói nhỏ ngoan cường ấy rập rờn trong gió, chứng tỏ không phải chỉ là một thành phố bằng đá, mà là một thành phố người, những con người không ngừng lao động.

        Lu-nin bay hồi lâu trên các nhà máy, đến hai phút, kinh ngạc vì cái đồ sộ của thành phố. Rồi anh thấy trước mặt một cánh đồng bao la phẳng tắp, phủ một lớp tuyết mỏng. Trận tuyến giáp Lê-nin-grát ở tây nam, đến phía nam dãn xa ra từ mười lăm đến hai mươi cây số, và xa đến hai nhăm cây số ở mé Kon-pi-nô. Lu-nin đã nghiên cứu kỹ khu vực đó trên bản đồ và nhận ngay ra được hai đường xe lửa chạy xuyên qua cánh đồng và tẽ dần ra như ngón tay xoè. Anh thấy ở trên đường những chùm toa nhỏ với những đầu tàu. Phần nhiều dã thành sắt vụn. Không cái gì động đậy. Anh thấy cả một con đường xám lờ mờ trong mầu trắng rực rỡ. Ba ca-mi-ông đầy bộ đội bò chầm chậm trên đó về phía mặt trận, cái nọ cách cái kia rất xa.

        Xa trước mặt, anh thấy một trái đồi rộng, thấp, lởm chởm một lùm cây thưa. Nhờ bản đồ, anh đoán là đồi Pưn- kô-vô và bay lại đó. Chính ở đấy có cái đài thiên văn nổi tiếng. Bọn Đức chiếm đó nhưng trận tuyến ngay sát bên, nên Lu-nin quyết định tới mãi đó.

        Quan sát cái bãi mà anh bay ở trên, anh thấy những chấm nhỏ đen: pháo Đức bắn, từng cột đất bị đạn nổ tung lên. Anh định lên cao để phát hiện vị trí pháo. Nhưng vừa lên được quãng trăm thước thì máy tắc.

        Đà nhiều lần chiếc 1-16 cho anh những vố đó; cái ấy chắc đã có từ ngày Ni-cơ-ri-tin còn lái nó. Trong sáu tháng chiến tranh chiếc máy bay đã bị trúng đạn, vá víu nhiều lần làm Lu-nin mãi lấy làm lạ tại sao nó còn bay được? Ngay lần bay đầu, anh đã buộc phải hạ cánh vì máy tắc. Từ đó, khi máy bắt đầu lục đục, anh chẳng buồn hạ cánh nữa: cứ chịu khó đợi một lát là máy lại chạy đều. Nhưng phải có một độ cao dự trữ, mà bây giờ thì anh không có, vì bay thấp để quan sát cho rõ hơn. Mặt đất đến gần một cách mau chóng.

        May thay là chưa vượt, quá trận tuyến! Tất cả bây giờ là bay quá cái phần cánh đồng có đạn đại bác rót vào. Anh liệng thận trọng, với hy vọng là máy lại chạy. Nhưng máy cứ câm hoài, và chỉ còn vài giây nữa là hạ. Anh mở bánh xe, đụng vào đất đóng băng và phủ một lớp tuyết mỏng.

        Khi còn ở trên không, anh không ngờ là ở quãng đó lại ầm ỹ như thế này - rõ ràng là hoà tấu bát nháo của mọi thứ tiếng động. Anh vừa đỗ thì cách dộ sáu mươi thước bên phải, một cột khói vọt lên, và máy bay lảo đảo trong hơi đạn. Phải chữa cho nhanh. Lu-nin nhảy từ khoang xuống và định đi ra máy. Nhưng lại một tiếng nổ nữa, ở sau đâu đây, làm anh vật sấp xuống tuyết. Cái bãi đất mê hồn quá! Anh đứng dậy, quan sát xung quanh, rũ người - tuyết đầy mặt anh. Sê- rốp, như thường lệ, đã không bỏ anh: trên cao kia, máy bay vẫn lượn vòng. Cánh đồng vắng tanh. Đồi Pun-kô-vô mờ mờ che lấp chân trời. Ngay đầu cánh đồng là bắt đầu cái khối nhà cửa của Lê-nin-grát. Xa xa, bên phái, những con sâu nhỏ đang bò - ba cái ca-mi-ông đầy bộ đội lúc nãy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #45 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2019, 11:31:42 pm »


        Lu-nin bắt tay vào chữa máy thì lại có tiếng rít theo sau là tiếng nổ. Anh thụp xuống. Liệu chúng nó có để anh làm xong không? Bắn vào cái bãi trống này làm trò gì nhi? Hay có lẽ chúng trông thấy anh hạ cánh? Không! Cuộc titới đạn này đã bắt đầu từ khi Lu-nin còn ở trên không. Hay là bắn chặn đường?

        Chỗ này không hoang vu như anh tưởng. Có ai đang bới đất ở chỗ bị đạn xới tung lên - một bóng đen nhỏ xíu. Lu-nin  lúc đầu tưởng là con chó, nhưng cái bóng đứng lên thì ra một đứa trẻ con.

        "Lại đứa nữa". Lu-nin nghĩ đến thằng bé Dô-di-a mà hết hồn. Thằng này chắc đến mười hai tuổi và ăn mặc chải chuốt: ba-đờ-suy vải tốt, cắt đẹp. viền cổ lông, mũ da chùm tai, ủng bọc da hắn hoi. Nó cầm cái gì như cái túi một nửa rỗng, mắt đăm đăm nhìn Lu-nin và cái máy bay một cách chăm chú bình tĩnh.

        Lu-nin khoa tay gọi to.

        - Làm cái gì ở đấy? Có đi ngay không?

        Một quả đạn réo. Lu-nin thụp xuống. Sau tiếng nổ, anh ngửng đầu lên thì thằng bé vẫn không nhúc nhích, hình như tiếng nổ đối với nó không có quan hệ gì. Và Lu-nin tự thấy ngượng.

        Lu-nin lại khoa tay:

        - Đi đi!

        Thong thả, thằng bé lại gần máy bay. Trong cai mặt mỏng manh tái mét đi vì lạnh, đôi mắt xanh có vẻ cương quyết. Gần đụng vào máy bay nó mối đứng lại và nói có vẻ hơi coi thường.

        - A, một cái 1-16.

        - Cháu ở đấy làm gì? Tại sao cháu đến đây? - Lu-nin hỏi, đầu cúi trên máy.

        Thằng nhỏ không buồn trả lời.

        - Máy bay Lác tốt hơn phải không bác? - Nó nói rất mau. - Còn Míc số 3 thì hình như chỉ ở trên thật cao là tốt?

        Tiếng rít nữa... Tiếng nổ nữa... Lu-nin rụt đầu vào vai. Anh chỉ muốn thụp xuống. Nhưng thằng nhỏ không động đậy: chỉ liếc qua về phía đạn nổ.

        - Cháu không sợ à? - Lu-nin hỏi.

        - Không.

        - Có thể chết đấy.

        Thằng nhỏ bĩu môi:

        - Chúng không bắn trúng cháu đâu.

        - Ai bảo cháu thế?

        - Cháu còn bé, mà bãi thì rộng. Pháo binh, nó bắn theo ô, không phải là nhằm vào người nào.

        Nó nghĩ một giây rồi chữa lại câu nói, như để động viên người sĩ quan:

        - Bác và cháu thì bé thôi, mà bãi thì rộng.

        - Cháu ở đâu?

        - Ở trong thành phố.

        - Cháu đến đây làm gì?

        - Cháu mót khoai.

        Nó đến gần và mở cái túi: đầy túi có cái gì đen đen, như cục đất.

        - Gì đấy?

        - Khoai. Ở đây có cả một bãi. Chăng ai nhặt. Còn nguyên. Khi chúng bắn, đất lộn lên và làm bật khoai ra.

        - Cháu đến đây là vì có pháo oanh tạc à?

        - Tất nhiên! Nếu không thế thì cháu không thể có khoai được. Đất đóng băng cứng như sắt.

        Một quả đạn tới và nổ. Nhưng cả Lu-nin cũng không động nữa và tiếp tục chữa máy. Đã nói là cái bài thì rộng mà...

        - Cháu tên gì?

        - Rô-sti Sla-va.

        - Rô-sti Sla-va?

        - Vâng, Rô-sti Sla-va Bi-strốp.

        - Ba cháu ở trong phố à?

        - Không, ở mặt trận, xa lắm.

        - Thế mẹ?

        - Mẹ cháu không về.

        - Không về thế nào?

        - Mẹ cháu đi đào công sự, và không trở về.

        - Cháu ở với ai?

        - Với ông cháu.

        - Ông bảo cháu đi mót khoai à?

        - Không! Ông cháu không biết cháu lấy khoai ở đâu cả. Máy lại nổ. Cánh quạt quay, lốc tròn bụi tuyết, và tiếng máy nổ làm đứt câu chuyện.

        Lu-nin giật lấy cái túi, trèo lên khoang tìm lương thực dự trữ của anh: súc cù là, hộp thịt, bánh, và cứ nguyên thế nhét vào túi và vất túi xuống tuyết.

        - Cháu lùi ra! - Anh dùng hết hơi hét to lên. Anh lăn bánh và cất cánh. Ngoái lại, anh thấy thằng bé vẫn đứng, cái túi ở tay, nhìn theo anh, thành một chấm đen nhỏ trên tuyết. Lu-nin nghĩ thầm: "Sau chiến tranh, mình phải nuôi một thằng quãng tuổi ấy, sẽ sống hai người. Chảng cần ai nữa".

        Sê-rốp bay lại anh. Họ trở về trường bay.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #46 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2019, 11:20:30 pm »


III

        "Thần chết và tôi không bao giờ gặp nhau. Tôi còn sống, thì nó không có cơ hội nào; và khi nó đã đến thì tôi không còn nữa".

        Cụ I-li-a ngẫm nghĩ như vậy, và ngấc cái đầu kiêu hãnh.

        Kiêu hãnh, thì cụ vốn đã thế suốt đời. Lúc trẻ, sức khoẻ đã kém, người gày gò, bệnh luôn, và cái đó làm cụ rất bực. Cho nên cụ chỉ tìm những cuộc thám hiểm nặng nhọc nhất, như các sông miền Bắc và miền Si-bê-ri, những nơi mà -vào cái thời kỳ xa xôi đó, chưa ai khám phá cả. Yếu nhất trong đoàn, nhưng luôn luôn đi đầu. Chưa có nước nào mà trong lịch sử của nó, những con sông đã đóng một vai trò quan trọng như ở nước Nga. Chúng đã trung thành phục vụ nước Nga trong quá khứ, chúng sẽ phục vụ tốt hơn nhiều trong tương lai... Cụ I-li-a không nghi ngờ cái đó, và cảm ơn số mạng đà làm cụ đi được nhiều trong thời niên thiếu. Cụ đã tập trung rất nhiều kết quả quan sát đo lường, ghi chép và con số. Đến giờ rút ra tổng kết, cụ thấy rất là thư thái.

        Từ những năm xa xôi ấy, cụ vẫn qua những mùa đông trong thành phố này, vẫn trong cái dãy phố này, vẫn trong căn nhà này. Bà cụ đã mất trong năm đầu của đại chiến thứ nhất, và cụ ở lại với cô con gái Ka-tăng-ka1 lúc đó 14 tuổi; nhỏ xíu, yếu ớt, cô mặc cái áo học sinh màu nâu, quàng cái khăn đằng trước màu đen. Vì Ka-tăng-ka, cụ không lấy vợ nữa, tuy rất có thể như thế, và không bao giờ cụ tiếc cái đó. Có phải ngay giờ đây củng có tiếng con không nhỉ? Không, Ka-tăng-ka không trở về.

          Ka-tăng-ka là tên ở nhà của Ka-tê-ri-na.

        Cụ I-li-a như có cái gì buồn buồn trong lỗ mũi, và lệ ứa lên mắt. Cụ chậm rãi rút mùi soa trong áo ngủ, xì mũi và gọi Sô-ni-a.

        Chẳng ai trả lời. Cụ một mình trong nhà. Lũ trẻ con, chỉ ra ra vào vào, chẳng báo là đi đâu cả. Những cơn buồn ngủ ngăn cụ không theo dõi được sự đi lại luôn luôn của chúng.

        Bếp... đã lâu nay cụ sống ở đó, cạnh cái lò gang. Lâu lắm rồi, từ hai tháng nay. Cụ làm việc ở đó, lọ mực vĩnh viễn ở trên bàn. Ở đấy, cụ đã hoàn thành bộ tài liệu đặc chủng về hồ La-đô-ga. Nét cuối cùng của chữ "HẾT" vạch xong, cụ đem bản thảo đến nhà sách Viện Hàn lâm khoa học để giữ được an toàn hơn. Rồi cụ lại lục soạn những ghi chép cũ - chỉ là để có việc. Với bộ sách hồ La-đô-ga cụ đã hoàn thành sự nghiệp của đời cụ.

        Cụ quen với cái bếp này rồi. Những cái xoong trên giá chỉ hơi óng ánh vì một lớp băng dầy đã phủ lấy cửa kính. Lò lạnh ngắt: cụ I-li-a còn ngủ nữa. Nhiệt độ bao nhiêu nhì? Từ ít lâu nay cụ không biết nóng lạnh là gì nữa. Tuy chân đã như gỗ, và có khi quản bút từ ngón tay rơi xuống mà cụ củng chẳng hay... Không như lũ trẻ, chúng khổ vì lạnh biết bao nhiêu! Nhất là Sô-ni-a: ngón tay nó sưng vù, đầy vết nung mủ... Ba trăm sáu mươi gam bánh một ngày cho ba người, tuyệt nhiên không còn gì khác. Chao ôi! Cụ có được ăn phần cụ luôn đâu: cụ giấu thêm vào phần lũ trẻ, và có khi còn không dấu được. Sô-ni-a đã thành ra rất đa nghi; em đoán ra ngay lập tức, em rình cụ và buộc cụ phải ăn ngay trước mắt em.

        Chúng nó gầy đi quá, Sô-ni-a và Sla-va! cổ thằng Slava mỏng tanh đến nỗi có thể đánh vòng bằng ngón cái và ngón trỏ. Còn may là tuần vừa qua, trước sự kinh ngạc của cả nhà nó đem đâu về tám củ khoai tây, một gói bánh, mấy hộp thịt và súc cù là! Nghe đâu một phi công từ trên trời đi thẳng xuống làm quà cho nó... khó tin thật... Ồ, nhưng cũng biết đâu?... Cái hay không phải lúc nào cũng không tin được, cũng như cái dở không phải lúc nào cũng như thật... Sau bữa tiệc đó, lũ trẻ ngủ hai mươi giờ liền một mạch, vì chúng quên mất thói quen ăn rồi, mà lúc dậy, chúng lại ngốn nữa... Cụ đã lừa Sô-ni-a một vố hôm đó. Em vẫn còn ngốc, thực là con nít và lừa em cũng không khó gì.

        Số là cụ thái tất ra từng miếng nhỏ để không ai kiểm soát được nữa, sau đó cụ đã ngầm lỏn phần cụ vào đĩa lũ trẻ. Vả lại, cái món súc cù là, chỉ tổ làm cụ cồn ruột mà thôi. Cụ đã không chịu đựng được thức ăn nữa. Sự chịu đựng đã quá mức nào đó, thì không thể trở lại được nữa... Cốt sao Ka-tê-ri-na lại thấy được lũ trẻ lành mạnh nguyên vẹn.

        Cụ lại thấy cái gì buồn buồn trong lỗ mũi và cào cào trong cuống họng. Cốt yếu là đừng rời cái tay cầm thang gác, xuống dạo một vòng, ra thư viện chẳng hạn. Vì thư viện vẫn mở đều! Ở trong các phòng đọc sách rét 20 độ dưới không. Nhưng các chị nhân viên, kiệt sức vì đói, vẫn trèo lên thang để rút sách từ các ngăn ra, những cuốn sách quý thì đã phải chuyển xuống hầm, tránh bom... Cụ I-li-a phải ra đó vì hai lẽ: một là để người ta không lo về cụ, và sau nữa là xem lại có phải Viện khoa học sau khi đòi hỏi cuốn sách của cụ, đã gửi máy bay đi Mát-scơ-va chưa? Cái nước lạ kỳ, thật vậy! Kẻ thù ở ngay cửa kinh thành, nhưng ở đó người ta vẫn chăm chú đến một công trình khoa học về hồ La-đô-ga.

        Cụ đi đôi ủng... Năm hôm trước, cụ đã phái lấy dao cạo rạch ủng, vì chân nó phù to quá... Cụ cởi áo ngủ, buộc cái khăn che mũi, đội mũ lông, mặc áo ngoài, lồng đôi bao tay, cầm cái gậy và khoá cửa ra đi: Sô-ni-a và Sla-va đều có khoá riêng rồi.

        Cụ qua sân, men theo lối đi hẹp giữa những đông tuyết cao, và ra phố. Trước khi đi thư viện, dạo một ít cũng tốt. Cụ men theo mặt cửa chính. Lối đi hẹp quá làm mọi người phải trèo lên tuyết để nhường lối cụ. Người gặp cũng không có nhiều. Đến góc phố, cụ ngoặt sang phía sông Nê-va.

        Có ba xác chết gần đấy. Hai xác đã có từ hôm trước. Cụ I-li-a không nhìn: không nên xúc phạm người đã chết bằng một sự tò mò không đúng chỗ. Cụ chỉ ngả cái mũ lông, cái mũ đội đến mùa đông thứ 25.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #47 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2019, 09:58:22 pm »

     
        Cụ ra bờ sông và tì khuỷu tay vào thành bộ, lưng quay về trường Đại học. Sương phủ sông Nê-va. Trên bờ đối diện, dinh thủy sư Đô đôc và nhà Xanh-I-da-ắc như lơ lửng giữa đất trời. Bên phải, là khối vàng nhạt toà Thượng nghị viện với cái mái cháy sém vì bom, bên trái là Cung điện Mùa đông. Đã hàng nghìn lần, cụ I-li-a ngắm cái cảnh đó. Nó đã thành như một phần cơ thể cụ, và cũng là lần thứ một nghìn trước cái cảnh lớn lao đó, cụ xúc cảm như cái gì mắc nghẹn trong cổ.

        Cũng như mây bão trong khu vực ấy, cũng như những tảng băng khổng lồ kia, cái số phận đau thương của thành phô càng làm cho nó thêm trẻ, thêm đẹp. Những đông tuyết kia, những phố vắng kia, không phải là lần đầu mà cụ I-li-a nhìn thấy. Năm 19, cũng thế thôi: người ta cũng chẳng có gì ăn, chẳng có gì sưởi, chẳng có gì thắp, vì tên I- u-đê-nít đã cắt tất các đường giao thông. Nhưng thành phố vẫn đứng...

        Thời kỳ cách mạng đó, cụ I-li-a không vào cái hạng trí thức hèn mạt thông đồng với bọn "Bạch quân" và mơ tưởng trốn ra nước ngoài. Cụ cũng không phải là Bôn-sê-vích, nhưng những người Bôn-sê-vích làm cụ mến ngay từ đầu, và cụ theo dõi công việc họ với cái tò mò xen lẫn sự kính trọng. Cái mà cụ thích ở họ, là sự tôn trọng lý trí của con người và lòng tin tưởng vào sức mạnh của con người. Ngay từ đầu, cụ đã cộng tác với họ, khi mà các đồng nghiệp của cụ lủi trốn, và Đảng đã xác nhận công việc cụ làm.

        A! Cụ đã làm cho ra làm! Bọn xấu bụng nói rằng cụ chỉ giỏi tìm tòi nhưng không có khả năng tổng hợp. Làm như là trước khi tìm ra quy luật, không cần phải tìm tòi! Nhưng đến lúc phải rút từ thực nghiệm ra bài học, thì chúng lại rêu rao là cụ xa rời thực tế, là cụ suy luận dông dài, là các bản lịch sử sông ngòi của cụ chẳng ăn nhập vào đâu. Nhưng người ta bảo cụ: không thèm nghe chúng, đồng chí cứ tiếp tục công việc; cái gì nay còn là lý thuyết thì mai sẽ trở nên thực tiễn... Khi tình thế đã ổn định và người ta bắt đầu xây dựng các nhà Thuỷ điện theo kế hoạch của Lê-nin, thì mới rõ ràng là cụ đúng.

        Là điểm kết thúc của tất cả các tìm tòi của cụ, cuốn sách nghiên cứu hồ La-đô-ga giúp người ta giải đáp những bài tính về địa chất, về khí hậu, về sinh vật trong các quan hệ cơ cấu của chúng, cũng như trong việc áp dụng vào vấn đề giao thông và điện lực. Cái hồ lớn nhất châu Âu - 18.000 cây sốvuông bề mặt. 200 cây số từ bắc xuống nam và 125 cây số từ tây sang đông. Sâu nhất là 250 thước và mực nước so với mặt biển cao hơn 5 thước. Biết bao là sức mạnh tiềm tàng trong hàng ngàn thước khối nước xanh tím ấy! Nhưng cái sôi nổi nhất trong công trình nghiên cứu này không phải chỉ là cái rừng tính toán đó. Là dân miền Bắc, người Nga sống nửa đời người trong băng. Nên phải hiểu tất cả cái gì về băng, dù là trong hoà bình hay chiến tranh. Theo ý kiến của tác giả, thì đoạn mới nhất, chủ yếu nhất, là đoạn nói về sự đóng băng trên hồ La-gô- đa. Ở đó có đủ các số liệu về thời hạn đóng băng từ đời Nô- gô-rôt-la-gơ-răng-đơ, về bề dày của lớp băng, về những kẽ nứt, về sự di chuyển của những tảng bảng, sức chịu đựng, những chỗ vỡ...

        Sông Nê-va, dinh thủy sư Đô đốc Xanh-i-da-ắc, đều nháy múa trong mắt cụ I-li-a. Cụ sợ lại bị một cơn ngủ bất thình lình như cụ thường mắc phải ít lâu nay. Cái lo mình ngủ đứng ở giữa phố buộc cụ phải tiếp tục bước. Bốn bước nữa... Thì ngủ ở đây hay ở nhà có khác gì nhau? Không, phải về. Cũng như Sô-ni-a nói: khi người ta không chịu thua thì người ta không chết. Hừ! Thật ra cái ý đó cũng lạ! Ý đó chỉ có thể đẻ ra trong thành phố này, trong đất nước này... Một liều thuốc bất tử cho thành phố bất tử... Đúng bất tử!... Nhưng người khác ở lại mà thử xem thôi! Còn cụ thì cụ chết trước. Chết nhưng không đầu hàng. Và nhiều người cũng sẽ chết nhưng không đầu hàng. Và người còn sống sẽ chiến thắng. Vì tư tưởng là không bao giờ chết, cũng như Tổ quốc và sự thật... Cụ sẽ đi đến cùng đường, đến cùng...

        Khó nhất là cái thang gác. Biết bao lần, bạn hữu cụ nhắc đi nhắc lại là với tuổi cụ mà ở tầng thứ 5 không có thang máy là một sự vô lý không thể tưởng tượng được. Cụ chỉ cười. Tim cụ khoẻ. Nhưng nay, mỗi bậc thang đã như một ngọn núi. Mỗi bậc cụ lại phải nghỉ hơi lâu. A! Cốt là đừng ngủ! Hôm nọ cụ nói: người nhịn đói tự mình ăn mình, trước là ăn mõ, sau đến bắp thịt, rồi đến óc... Cụ đã đến giai đoạn tự mình nuôi mình băng óc chưa? Không, tư tưởng cụ ngày hôm nay vẫn sáng suốt, sáng hơn hôm qua, hôm kia bao nhiêu mà! Ví dụ, cụ vừa nhận định được rằng Ka-tăng-ka vĩnh viễn không bao giờ còn trở về. Cụ vừa mới nhận thấy ư?... Ngốc thay! Cụ biết từ lâu rồi. Cụ chi muốn dối lòng Sô-ni-a, cho em tưởng là em đã giấu được cụ... và rồi cụ cũng muốn dối cả lòng mình nữa... Thế là đến từng ba... còn hai tầng nữa.

        Cụ nhích từng bước mà không còn trông thấy gì, như có mây mù trong mắt. Nhưng vẫn cảm giác hoàn toàn sáng suốt. Phải đến đầu cuộn chỉ rồi. Cụ vẫn sống bằng chí kiêu hãnh vẫn ước vọng những đỉnh cao. Ai có thể nói là cụ đã không sống dầy đủ một kiếp ngươi? Cụ đã yêu, đã làm việc, đã phục vụ lý trí với hết sức lực của mình, đã phục vụ loài người. Đời cụ chẳng đã thấy sự huy hoàng hay sao? Chẳng đã góp sức vào đó sao? Chẳng đã xứng đáng với nó sao? Có chứ! Khoa học, đó là huy hoàng. Cách mạng, đó là huy hoàng. Cái thành phố này, cái thành phố chiến luỹ này, đó cũng là huy hoàng, cái thành phố mà ở đó người ta đến lúc chết vẫn khinh tởm kẻ giết người!

        Cụ I-li-a không nhét nổi cái khoá vào lỗ khoá, cụ sặc thở và không nhìn thấy gì. Có ai mở từ bên trong? Đôi bàn tay ấm nào ôm lấy cụ. Ai dẫn cụ vào bếp. Ai đó? Ka-tăng- ka? Không, Ka-tăng-ka không còn nữa. Chắc là Sô-ni-a. Qua mây mù, cụ thấy một ngọn lửa sáng nhảy múa trong lò. Sô-ni-a kiếm ở đâu ra củi thế nhỉ? Chà là ấm quá. Cụ không còn cảm giác được lạnh, nhưng còn cảm giác được nóng.

        Ai cởi áo ngoài, cởi mũ, ai lấy cái áo ngủ vào cho cụ... Không, cụ tự làm lấy... Nhưng ai đặt cụ vào ghế bành. Cụ duỗi đôi ủng đã xẻ ra về phía lò sưởi... Bây giờ thì ngủ được rồi. Ngủ thật là dễ chịu quá!...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2019, 11:38:06 pm »


IV

        Ngồi trong hầm, dưới ánh đèn, Ka-ban-kốp như trong cơn sốt viết một bài báo về Sê-pen-kin, một bài báo dài đến phải ba kỳ "Báo bay" mới đăng hết.

        Bay với Sê-pen-kin từ ngày đầu chiến tranh, anh không sao tưởng tượng được là bạn đã chết. Anh đem cái rương con của Sê-pen-kin vào dưới giường anh. Rương che lấp cái đàn ắc-coóc-đê-ông. Sê-rôp đã nhìn thấy. Trước khi ngủ anh hỏi Ka-ban-kốp:

        - I-go ơi, cậu không chơi cho tụi mình nghe nữa à?

        Mặt Ka-ban-kốp sầm lại. Anh sẵng giọng:

        - Bây giờ thì không!

        Rồi anh nói thêm như nạt nộ:

        - Nhưng khi tôi chơi lại, tôi sẽ chơi cho cậu nghe một thứ điệu khác...

        Sau một buổi đến thăm phi đội, U-va-rốp lấy bài báo về Sê-pen-kin đem về toà báo Sư đoàn. Người ta cắt bớt ba phần tư. Nhưng Ka-ban-kôp hả dạ là họ cũng đã đăng.

        U-va-rốp hay đến phi đội, và Lu-nin bây giờ đã biết rõ anh. Tuy đẻ ở Mát-scơ-va, nhưng người ta vẫn gọi anh là đồng chí Tây Ban Nha, vì anh trước kia là quân tình nguyện trong đội không quân cộng hoà. Bị thương ở đấy, anh không được phép lái máy bay ra trận nữa. Nhưng anh vẫn còn lái U-2 và lái rất khá. Tốt nghiệp trường cán bộ chính trị không quân vừa đúng trước ngày nổ ra chiến tranh, anh được chỉ định về sư đoàn và đến trước Lu-nin mấy ngày.

        Anh chỉ có mặt ở phi đội từng lúc rất ngắn, và thường là về đêm. Sân bay tương đối gần bộ tham mưu sư đoàn, nên U-va-rốp có thói quen gửi nhờ U-2 mà anh vẫn thường dùng để đi công tác và đi kiểm tra đơn vị. Anh lái lấy cái máy bay tí hon không có súng máy, đôi khi còn đèo thêm một đồng chí giúp việc trong phòng chính trị hoặc một sĩ quan tham mưu, họ đi đến bờ biển nam hoặc đi Cơ- rông-stát hay đến hồ La-đô-ga. Mỗi lần đi hay về, anh ở lại phi đội một hoặc hai tiếng.

        Anh thường đến bất ngờ. Một buối thăm đêm đã đặc biệt làm Lu-nin chú ý.

        Vào lúc quá nửa đêm, khi mọi người đã ngủ say thì đồng chí chính uỷ vào. Thấy Lu-nin và Ka-ban-kốp định đứng dậy, anh giơ tay chào và nói thêm:

        - Đừng lo đến tôi và ngủ đi. Tôi chỉ ở lại một tí thôi.

        Chắc anh phải cất cánh rất sớm và ngồi đợi sáng. Tuy trong nhà ngủ rất nóng nhưng anh vẫn để nguyên đôi ủng lông, quần áo bay, chỉ bỏ cái cát-két trước khi nhẹ nhàng ngồi xuống mép giường Sê-pen-kin trước kia. Anh hình như mệt nhọc và bị kích thích quá nên không ngủ được.

        Lu-nin nửa thức nửa ngủ. Nhưng Ka-ban-kốp thì chủ tâm định nói chuyện với U-va-rốp. Anh tự cho là không làm tròn nhiệm vụ chính trị viên, và hy vọng những lời giải thích của U-va-rốp sẽ giúp đõ anh thêm. Giường anh gần giường Sê-pen-kin. Anh nói khe khẽ. U-va-rốp cũng trả lời như vậy. Chuyện đến sáng. Lu-nin thỉnh thoảng thức giấc rồi lại ngủ ngay, và chỉ nghe được từng mẩu.

        U-va-rốp không nói gì khác thường. Ví dụ, anh cắt nghĩa rằng vấn đề chủ yếu hiện nay của không quân là che sân bay chống tuyết. Gió không ngừng thổi, và các đồng chí chiến sĩ thủy quân có nhiệm vụ quét dọn sân bay thì đứng không vững, vì không thể cung cấp cho họ như cung cấp cho phi công. Họ đã kiệt sức, xẻng rời tay rơi xuống, vậy mà họ phải quét dọn suốt ngày đêm trong giá lạnh. Phải lo lắng hơn nữa đến các nhân viên mặt đất như thợ máy, quân khí, chuyên môn các loại, và cho anh em thấy rằng ta coi anh em không kém gì các chiến đấu viên khác.

        - Chiến tranh là lao động. - U-va-rốp nói. - Tôi hiểu được như vậy ở Tây Ban Nha. Chiến đấu là lao động, và anh hùng, cũng vẫn là lao động.

        Lu-nin chìm vào giấc ngủ và chắc ngủ được khá lâu. Một tiếng nói to của Ka-ban-kốp đánh thức anh dậy:

        - Tôi thật là một chính trị viên đáng nực cười, đồng chí I-van I-va-nô-vít ạ! Tôi không thạo nghề, và cũng vì không thạo nghề mà gì tôi cũng mó vào.

        - Thời kỳ đầu, tôi cũng không biết nghề, và gì tôi cũng mó tay vào như đồng chí.

        - Thế bây giờ thì sao? Đồng chí hẳn biết nghề rồi chứ?

        - Tôi biết nghề rồi. Tôi biết là gì cũng phải mó tay vào, ít nhất là về tất cả cái gì thuộc về con người. Xung quanh tôi, có rất nhiều người, và bổn phận tôi là phải làm tất cả để cho đời sống của họ được dễ chịu hơn. Các đồng chí thủy thủ công tác ở sân bay mất chăn trong cuộc rút lui, thì tôi phải làm cho họ có cái khác. Họ lĩnh được ít thức ăn quá, thì tôi phải lo sao không để lãng phí thức ăn. Họ mất tin gia đình họ: cả bộ phận làm việc của tôi phải giúp họ tìm lại được, và đó là việc chủ yếu. Tôi phải lo cho họ được ấm, được khô trong hầm. Sách vở, báo chí, giấy má, thư từ, đó cũng là việc của tôi. Chúng mình do Đảng cử đến. Đảng thì phục vụ nhân dân, chúng mình thì phục vụ con người. Cái chính của việc chúng mình, là làm sao cho mỗi người hiểu tại sao họ chiến đấu, vì một khi họ đã hiểu thì không còn gì đối với họ là không thể làm được. Phải giữ vững tinh thần họ, cho nên tôi cố gắng làm cho họ hiểu rằng ta nhất định chiến thắng.

        - Thế cả đồng chí, đồng chí có tin chắc không? - Ka- ban-kốp hỏi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2019, 10:59:34 pm »


        U-va-rốp nhìn anh vào tận lòng trắng mắt và nghiêm nghị nói:

        - Tuyệt đối tin tưởng. Nếu không, thì tôi đã chết rồi. Thế đồng chí không tin à?

        - Có chứ! - Ka-ban-kốp trả lời.

        Đến sáng, U-va-rốp lại cất cánh. Từ buổi nói chuyện đêm ấy, Ka-ban-kốp tự tin hơn. Nhưng anh vẫn không quên được cái chết của Sê-pen-kin. Mỗi tối, ở chỉ huy sở, không nói năng gì, anh vẽ dưới ánh đèn hình những chiếc gioong-ke bằng vài nét nhưng lại mô tả rất rõ: sườn máy bay vỡ, bốc cháy, cánh gãy, một đống vô số nhũng chùm gioong-ke què quặt. Từ trong đó, rơi xuống những tên Hít- le lố bịch và nhơ nhớp, với những bộ mặt không còn là người, méo mó vì đau đớn và khiếp sợ...

        Ở nhà ăn, anh trở nên rất dịu dàng với Hin-đa, người mà trước kia anh hay trù thẳng cánh. Cô gái lớn gầy đi, nét mặt sọm lại, đôi má màu sứ đã mất hồng, và hai nét răn nhỏ làm rõ hai khoé mép. Cô trở nên ít nói hơn, hiền hơn, buồn hơn. Mỗi khi cô mang cái khay quá nặng thì Ka- ban-kốp nhảy bổ ra và bưng lấy chồng đĩa giúp cô! Cô rất ngượng. Khi cô vào bếp, Ka-ban-kôp giải thích với anh em:

        - Cô ta đã ở với chúng mình từ bao lâu! Cô ta biết hết các đồng chí chúng ta cũ...

        Một hôm cô nói:

        - Tôi thèm nghe một tin mừng quá!

        Cô nói tiếng Nga hoàn toàn, nhưng cái giọng hơi khác.

        - Đồng chí sẽ được nghe! Và không lâu đâu! - Ka-ban- kốp hãm hở nói lớn.

        Anh không lầm. Ngày 8 tháng 12, đài phát thanh báo tin ta đã đánh bại quân Đức ở Tích-vin, thành phố đã giải phóng và ta đang truy kích tàn quân địch chạy về phía ga Bu-đô-gốt. Cái tin đích đáng! Bọn Đức bị đánh bại, chúng đang chạy trốn, người ta đã cướp lại trong tay chúng một thành phố Nga, mà có cách đây bao xa đâu, ngay ở mặt trận Von-khốp bên cạnh.

        Mọi khuôn mặt đều tươi lên như hoa. Ai nấy đềư chắc rằng đó mới chỉ là bước đầu. Những sự việc mới, những sự việc lớn sẽ chẳng còn bao xa nữa...

        - Trong khi mọi người đang đánh bọn Đức, thì ta ở đây làm gì, trong cái hầm này? - Ka-ban-kôp kêu lên. - Đã bao nhiêu ngày không được cất cánh!

        Anh không phải đợi lâu. Gió ngừng thổi. Hàn thử biểu chỉ 20 độ dưới không. Lợi dụng trời quang, oanh tạc Đức từ bốn phía dốc vào Lê-nin-grát một trận bom dữ dội, cũng dữ dội như các trận tháng chín.

        Chúng mong gì ở cuộc dội bom đó? Cái chắc chắn nhất chỉ là chúng muốn trả thù cuộc thất bại thảm hại ở Tích- vin. Chúng đã đưa lực lượng không quân của chúng trở lại các đường bay lân cận ít lâu nay vắng vẻ, và tung ra từ bốn phía bốn phi đoàn một lúc.

        Khi người ta báo điện thoại cho Rát-số-khin, thì đã nom thấy đoàn máy bay địch từ tây nam lại. Nhảy bổ ra khỏi hầm, Ka-ban-kốp thấy ở chân trời bọn gioong-ke chậm chạp tối, và phá lên cười khoái trá. Họ chạy lại máy bay bằng lối mòn hẹp trên tuyết, Ka-ban-kốp chạy đầu. Giá buốt tê mật. Họ bay qua sân bay trắng xoá, vượt qua đường tuyết trên ngọn cảy tùng, Ka-ban-kốp bay sau Rát- số-khin và Sê-rốp sau Lu-nin. Mở rộng đội hình trên Pê- tê-rốp, đoàn máy bay Đức bay về cửa sông Nê-va. Rát-số- khin ngoặt trên La-hơ-ta để bắt được bọn gioong-ke trước khi chúng tới thành phố. Phi đội mở hết ga sau khi bánh xe đã rút. Vũng Mác-ki đã hoàn toàn đóng băng như bị phủ dưới một cái mu rùa nước đá trên có tuyết trắng bong tựa một tấm vải trải giường, về phía tây nam Cơ-rông-stát, người ta thấy những vũng nước đen trong những cuộn băng, ánh mặt trời nhuộm thành màu da cam. Họ vừa lao thẳng vào địch, vừa lấy chiều cao, thì bỗng Lu-nin thấy ở trên cao tít loang loáng những chiếc Mét- séc-mít khi ngoặt giống như những chiếc kim. Anh không đếm được, nhưng ít nhất cũng tám đôi. Chúng đi trước gioong-ke và bay rất cao. Lần này, oanh tạc có khu trục đi hộ vệ.

        Rát-sô-khin cũng thấy Mét-séc-mít, và bay xuống. Lu-nin  đoán biết chiến thuật của anh. Nếu khu trục giao chiến thì hỏng hết: trong khi I-16 và Mét-séc-mít quần nhau, thì gioong-ke có đủ thời giờ trút bom và rút. Phái tìm cách chui xuống dưới bọn oanh tạc mà không để cho khu trục biết để đánh bọn oanh tạc từ dưới đánh lên. Gioong-ke vẫn tiến, theo bờ biển, trong khói đạn cao xạ. Bóng xanh nhạt của chúng lướt trên tuyết. Bọn Mét-séc- mít mất hồi lâu để tìm ra bốn chiếc máy bay của Rát-sô- khin. nhưng vừa thấy là chúng bổ nhào như những hạt rơi từ trên trời. Chậm rồi: bốn cái 1-16 đã luồn xuống dưới đoàn oanh tạc.

        Bay ngang trên đầu các cửa ô tây nam thành phố, trên công trường Bắc và trên Kênh hàng hải. Khi cái đám đen gioong-ke bay qua đầu anh, Lu-nin kéo tay lái lên thẳng, lia một bàng vào bụng một chiếc oanh tạc và nhảy vọt qua nó, ngay đằng đuôi, không kịp xem kết quả, nhưng Sê-rốp chắc đã bồi cho nó một phát chót. Vả lại cái đó không quan trọng: chủ yếu là không cho bọn gioong-ke đột nhập đuợc trung tâm thành phô đến các cầu và chiếc tuần dương hạm Ki-rốp đã bị giam trong băng trưỏc cầu "Trung uý Smít". Lu-nin sung sướng thấy bọn oanh tạc rối loạn, chồng chất lên nhau. Anh lại nhào xuống đánh một keo mới.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM