Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trang trại Hoa hồng  (Đọc 16635 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #40 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 10:42:29 am »

18

Thời sinh viên tôi đã từng có một vài mối tình nhưng đều không thành. Khi nhận ra tình yêu đổ vỡ không thể tránh khỏi, bao giờ tôi cũng là người chủ động chìa ra cho đối phương con “phăng teo” giữa “ván bài lật ngửa”.

Duy nhất chỉ có tình yêu của tôi đối với Khang giữ được lâu hơn, nhưng cũng chỉ kéo dài được gần hai năm. Cho đến ngày anh không còn nữa, thời gian cũng dần giúp tôi nguôi quên. Từ ngày ấy tôi ngại tiếp xúc với những anh chàng quen biết nhưng sớm lộ rõ ý định tán tình tôi. Trong nhiều năm, tôi thường xuyên giữ mối quan hệ với ba người đàn ông.

Người thứ nhất là cha tôi. Dĩ nhiên rồi! Tôi với cha không chỉ là tình cha con, tình mẹ con, trong quan hệ với ông còn mang cả tình bầu bạn. Khi buồn chán, khi thất vọng, lúc hết tiền tiêu, khi cần một thời gian để giải tỏa sau những ngày học căng thẳng, tôi lập tức nhảy xe đò về trại Đầm Vịt. Chỉ cần nhìn thấy chóp mái nhà và ống khói tỏa ra mù mịt, tôi đã thấy ấm lòng. Tôi hệt như con chim về núi, trú ngụ trong vòng tay của ông là cảm thấy cuộc sống thật an toàn.

Người đàn ông thứ hai là thầy Năm Bê. Thầy dạy tôi học, còn là chỗ dựa tinh thần cho tôi trong cuộc sống. Tôi có thể hỏi thầy Năm Bê đủ chuyện, về Phan Rang, thầy hướng dẫn tôi theo ngành thủy nông. Suốt 3 năm học thầy Năm Bê luôn theo sát sự học hành của tôi.
Tôi vốn là một đứa sinh viên nhanh nhẹn, năng động. Chuyện học hành, công tác tôi không chịu kém cạnh ai. Những vấn đề trong học tập tôi không biết, chưa hiểu bài, tôi tìm thầy hỏi cho ra nhẽ. Trong sinh hoạt tập thể, tôi cũng là đứa năng nổ, xông xáo. Vào giữa năm học thứ 3, chức danh lớp phó học tập bị khuyết một chân, các bạn trong lớp thấy tôi học chăm chỉ, điểm thi các phân môn luôn đạt loại khá và giỏi, trong một cuộc họp lớp, các bạn nhất trí bầu tôi làm lớp phó, phụ trách học tập kiêm Bí thư Chi đoàn. Được một thời gian, tôi bày trò cho cả lớp làm tập san khoa học - xã hội. Một cuốn tập san tạp pí lù. Bài vở chủ yếu là các bài báo ngắn, gắn với chuyên môn ngành học. Tập san còn có nhiều chuyên mục như tiểu phẩm, thơ, tranh biếm họa, câu đố...

Tập san của khoa Thủy nông ra đến số thứ ba được mọi người chú ý. Bí thư đoàn trường và thầy trưởng phòng chính trị biểu dương. Thầy Năm Bê là một cộng tác viên hăng hái gửi bài cho tập san. Ngoài một số bài gắn với chuyên môn, thầy còn dịch tư liệu của nước ngoài để giới thiệu cho sinh viên. Mảng bài nữa mà thầy Năm Bê rất thích khi gửi cho chúng tôi là những bài thơ. Có lần thầy gửi cho tập san liền một lúc năm bài thơ. Ba bài thầy viết về Bác Hồ, một bài thầy viết về quê hương Xứ Nghệ, còn một bài thơ nữa có những từ anh, em... Tôi hiểu đây là một bài thơ về tình yêu nam nữ. Đám sinh viên đều đồn đoán hẳn người phụ nữ trong bài thơ thầy viết dành tặng cho cô Lan, vợ thầy. Đám sinh viên ngành Thủy nông hầu hết không rành về thơ phú. Đọc những bài thơ của thầy Năm Bê, tụi tôi dễ nhận ra những câu thơ chân thật, nhiệt thành.

Còn chuyện này nữa. Có một lần lớp trưởng lớp tôi vốn là bộ đội chuyển ngành đi học, là đảng viên. Anh lớp trưởng thấy tôi nhiệt tình, tích cực trong mọi công việc, muốn tạo điều kiện giúp đỡ tôi vào diện cảm tình Đảng... Khi nghe lớp trưởng trao đổi với tôi chuyện này, tôi thoáng giật mình, lưỡng lự.

Một tối thứ Bẩy tôi sang nhà thầy Năm Bê, mang theo tờ tập san số 4 của khoa mới ra lò. Dạo ấy trường tôi đã có máy vi tính, máy photo copy của Mỹ, của Nhật. Các loại máy này dạng second-hand, máy cũ người ta đã bỏ đi. Thủy thủ tàu viễn dương ở cảng Nha Trang sau mỗi chuyến đi biển thường mua về nhiều loại máy móc cũ, xe cũ dưới dạng hàng phế thải, bán cho người sử dụng. Gọi là máy cũ nhưng dùng còn tốt chán. Các thầy giáo ở trường tôi lấy tiền từ quỹ phúc lợi mua về cho sinh viên sử dụng.

Thầy Năm Bê cầm tờ Tập san Thủy nông được in trên tờ giấy khổ A4 có bìa vẽ minh họa được học trò in trang trọng bằng máy vi tính. Thầy vui lắm!

Thầy đọc sang sảng.

“Sau bao năm theo nghề dạy học/Chỉ ước mơ làm đẹp cho đời/Anh dạy nghề, dạy chữ, dạy người/Em bước vào lộ trình cuộc sống/Hành trang trong em là trí tuệ/Là ước mơ, hoài bão, niềm tin/Là tình yêu đất nước, mẹ hiền/Tổ quốc chắp cho em đôi cánh”.

Thầy Năm Bê hơi nhíu lông mày khi nhìn thấy từ “mẹ” trong bài thơ không được viết hoa. Thầy bảo tôi:

- Mẹ đây là Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam... Tụi bay à.

Nhìn vẻ mặt tôi có vẻ e sợ, lo bị mắng, thầy Năm Bê an ủi:

- Thôi, cũng không sao! Các em in được như thế này là quý rồi.

Khi thầy Năm Bê đã dứt mạch say thơ, tôi mới nhỏ nhẹ hỏi thầy:

- Thầy ơi! Anh Quả lớp trưởng nhủ con phấn đấu làm “đối tượng”, thầy nghĩ sao? Con nên trả lời ảnh như thế nào?

Thầy Năm Bê nghe tôi nói, cất tiếng cười ha hả. Ấy là lúc thầy vui vẻ, sảng khoái. Thầy bảo tôi:

- Con à! Đối tượng, hay kể cả khi con phấn đấu trở thành đảng viên, được hay không, không quan trọng. Điều cốt yếu trong cuộc sống là làm người tốt. Đã là người tốt, ta là ai, ta làm gì... đều được mọi người yêu mến.

Đang lúc vui vẻ, thầy Năm Bê kể cho tôi nghe những câu chuyện bên lề. Những năm trước đây, khi nhà trường còn đang gặp khó khăn, biết thầy đã có nhiều công sức xây dựng nhà trường từ trong trứng nước, có người đã khuyên thầy xin với Bộ cho trở lại Hà Nội, về trường cũ làm hiệu phó, hiệu trưởng... Có người còn khuyên thầy nên gặp người này, vỗ vai người kia, những vị đang giữ quyền chức có người là học trò, có người là bạn của thầy để được cất nhắc lên làm cục phó, cục trưởng, thậm chí viện trưởng... Nghe những lời khuyên ấy, thầy Năm Bê chỉ cười và không nói gì. Thầy Năm Bê còn kể, đã nhiều lần thầy ngồi ăn cơm, nói chuyện với các vị thứ trưởng, bộ trưởng. Ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thăm Viện, thầy có vinh dự đưa ông đi thăm Thuận Hải. Thầy Năm Bê và những người cộng sự của thầy, là kỹ sư ngành thủy lợi đã gắn bó với nhiều vùng quê, thiết kế, thi công nhiều công trình đào kênh, khai mương, xây đập thủy lợi đưa nước ngọt về đồng ruộng.

Ở đời, bên cạnh người tốt, người tử tế, người chăm chỉ làm việc cũng có những kẻ xấu chơi, ghen ăn tức ở. Thầy kể, đã có những kẻ viết đơn thư nặc danh “tố” thầy: “Sao Năm Bê giàu thế?”, “Chỉ tham ô, tham nhũng, móc ngoặc với lãnh đạo mới giàu, lương giáo viên ba cọc ba đồng...”. Những đơn thư nặc danh ấy rồi cũng lên tới Bộ. Các đoàn thanh tra lần lượt về trường. Thư lên tới tận tay thủ trưởng của Bộ. Ông nghe nhắc đến tên Năm Bê, liền bảo với anh thư ký văn phòng:

- Kiện Năm Bê hả? Dẹp đi! Tôi đã đọc báo cáo thanh tra của Bộ Nội vụ, thanh tra Bộ trả lời Năm Bê không có tội tình gì cả! Công sức của Năm Bê và những kỹ sư ngành thủy lợi, người dân Kiên Giang, Đồng Tháp còn phải cảm ơn. “Chúng nó” là nhà chuyên môn, là người đi quy hoạch, làm đề án trình Chính phủ và Bộ để ngày nay chúng ta có kênh Tân Sinh Công, kênh Hồng Ngự! Mấy năm nay Đồng bằng sông Cửu Long thoát lũ một phần là nhờ những con kênh ấy.

Vị thủ trưởng nói thêm:

- Đây là một “cái đầu” đổi mới! Tôi thích “cái đầu” của cha này...

Trong trường đại học của tôi, mô hình nhất thể hóa giữa giáo dục, đào tạo với khoa học và sản xuất đã trở thành một quy trình nhất quán trong việc dạy và học. Thầy Năm Bê bảo, “Học phải đi đôi với hành. Sinh viên ra trường không biết vật nuôi, cây trồng, không rành về nước, thì vứt!”.

Thầy Năm Bê có giọng nói sang sảng, khi vui cười hết cỡ. Cái khu đất của nhà thầy ở xế trường xưa kia vốn là cồn cát. Chỉ ít năm thầy trồng cây, đưa nước về, cây cối đã mọc xanh. Thầy có tiền bán đất, bán nhà ngoài Hà Nội, tiền thanh toán sau mỗi công trình, thầy Năm Bê tích cóp xây nhà. Chỗ thì thầy xây nhà 3, 4 tầng, chỗ khác thầy xây nhà biệt thự. Nơi thầy đào ao, thả cá, trồng cây. Chỗ làm sân bóng. Mỗi công trình nhà ở đều do thầy Năm Bê tự thiết kế, tính toán gạch, xi măng, sắt thép rồi gọi thợ Đà Nẵng, Nghệ An vô làm. Gian phòng đọc sách của thầy có tới cả vài ngàn cuốn. Sinh viên nào cần đọc sách, cứ sang nhà thầy Năm Bê. Sách đọc ở đây không mất tiền, lại có khoảng không gian thoáng mát dưới rặng dừa, dưới các gốc cây xoài, xà cừ, vừa coi sách, vừa nghe bầy chim yến kêu chao chát trên bầu trời vùng duyên hải đầy nắng gió.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #41 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 10:48:46 am »

Người đàn ông thứ ba tôi nhắc tới ở đây là chú Hoài. Gọi bằng chú vì chú Hoài hơn tôi tới 15 tuổi. Chú nhỏ hơn cha tôi 6 tuổi, ít hơn mẹ tôi 2 tuổi.

Theo như lời cha tôi, chú Hoài vào chiến trường Trị Thiên sau cha tôi vừa đúng 5 năm. Đơn vị tân binh của chú Hoài được bổ sung cho Công trường V vào những ngày sau Tết Mậu Thân 1968. Khi ấy cha tôi đã là một cán bộ đại đội. Chú Hoài mới 17 tuổi, nhỏ người, trắng trẻo, có dáng thư sinh, nhanh nhẹn nên được ban chỉ huy đại đội lựa chọn làm liên lạc viên. Sau gần 20 năm phiêu bạt suốt từ Nam chí Bắc, chú Hoài mới tìm gặp lại được cha tôi trên vùng đất cao nguyên trù phú.

Tôi có cảm giác rằng, mỗi lần chú Hoài gặp cha tôi ở trại Đầm Vịt, câu chuyện giữa hai người đàn ông tưởng như kéo dài không bao giờ dứt. Buổi sáng sớm tôi lên phòng, đã thấy hai người ngồi uống trà hoặc cà phê bên chiếc bàn đá đặt trong gian nhà bát giác phía ngoài vườn. Tiếng chim họa mi, tiếng chích chòe hót vang lừng trong buổi sáng đẹp trời. Tôi ý tứ đưa bình hoa hồng vào đặt trên bàn đá. Hai người nhìn tôi nhưng không để ý. Trong mắt họ, tôi chỉ là đứa con nít ham đọc sách, ham vui... Thậm chí họ quên rằng tôi đã tốt nghiệp đại học từ lâu. Cũng không cần nhớ tôi đã giúp cho cha tôi điều hành công việc của trang trại, giao dịch với bạn hàng nhiều năm nay. Ở ngôi nhà này, tôi là chỉ huy trưởng, lo chuyện cơm áo gạo tiền, điều hành những người làm công...

Thực lòng trong ý nghĩ của tôi, trước mặt chú Hoài, tôi chỉ muốn là đứa bé con, nhỏ dại. So với cuộc đời từng trải của chú và cha tôi, tôi chẳng thấm vào đâu. Tôi lớn lên được thừa hưởng mọi thứ. Dù tôi bây giờ có là đầu máy của đoàn tàu hỏa cũng chỉ là cái đầu máy đã đổ đủ đầy xăng nhớt, kéo một đoàn tàu đã lắp sẵn toa. Tôi chỉ việc mở máy, kéo còi và chạy.

Tôi kính trọng tình bạn giữa chú Hoài và cha tôi. Có lần chú Hoài lấy đâu được mấy bài thơ của một tác giả quê xứ Bắc mang vô trại Đầm Vịt đọc chơi. Cha tôi nhâm nhi tách cà phê, nghe chú Hoài cất cao giọng trầm ấm. Những câu thơ đại loại như: “Có đâu răng khểnh mà xinh thế/Lúm má đồng tiền xoáy nước reo/Hội hè gấm vóc bên là lụa/Chẳng chạnh diềm bâu túi áo nghèo”.

Tôi tò mò vểnh tai nghe, chẳng hiểu “diềm bâu” là cái chi? Mẹ tôi răng khểnh thì rõ rồi. Hàm răng của bà trắng đều, đẹp, có răng khểnh. Khi chú Hoài đọc đến câu thơ này, tôi thấy cha tôi thẫn thờ gương mặt.

“Cả đến bếp bây giờ cũng mấy khi có lửa/Lửa cơm điện này ta hua tay vào đâu/ Không có khói tìm đâu ra dáng mẹ/Chẳng lậm lụi gió bấc mưa phùn lại nhớ ông đầu rau/Ơ hay cái ông đầu rau sao chỉ thấy lưng còng/Đội mãi nồi niêu nhọ nhem chừng xém mặt/Cuối năm nào mẹ tôi cũng một lần nặn đất/ Cho ba ông về già tắm hụp ao chuôm”.

Nghe đến đây tôi không kìm được bật hỏi:

- Chú Hoài! “Đầu rau” là cái chi?

Chú Hoài gỡ cặp kính ra nhìn tôi cười. Còn cha tôi gục mặt xuống bàn khóc rưng rức.

Chú Hoài xóa tan niềm xúc động đang dâng trào trong ông, trả lời tôi:

- Bình tĩnh đi anh Đệ ơi! Con Bông đang nhìn anh cười kìa...! - Rồi chú Hoài bảo tôi - Ba ông đầu rau ở vùng nông thôn quê chú thay cho cái kiềng sắt ba chân dùng để kê xoong nồi mỗi khi đun bếp bằng rơm rạ cháu à.

Cha tôi đã dịu cơn xúc động, không nhìn tôi mà nhìn chú Hoài:

- Chú đọc thơ làm tôi nhớ thầy, nhớ mẹ tôi quá. Mẹ tôi may còn tìm được vào đến đây gặp tôi, sống được với tôi, với cháu Bông được ít năm... Còn thầy tôi, ông chết tôi không được nhìn thấy mặt.

Cha tôi và chú Hoài ngồi lặng một hồi lâu.

Tôi lặng lẽ rút lui để hai người ngồi với nhau.

Đứng từ căn phòng tầng hai nơi tôi ở, nhìn qua cánh cửa sổ khép hờ, tôi có thể lặng lẽ quan sát chú Hoài. Chuyện vợ chồng chú cũng là một bi kịch kéo dài nhiều năm. Tôi chưa từng gặp mặt cô Yến, vợ chú. Chỉ nghe cha tôi nói rằng cô Yến đẹp, đẹp lắm. Cô là gái Hà Nội, ăn nói nhẹ nhàng, con của một vị trung tá trước đây đã từng là phó chính ủy của Sư đoàn 324. Lúc chú Hoài còn là viên sĩ quan trong ban tham mưu của sư đoàn, có lần chú từ chiến trường ra, ông phó chính ủy nhờ mang thư và quà đến nhà cho gia đình. Cô nữ sinh Trường Trưng Vương nhìn thấy anh sĩ quan bộ đội giải phóng đeo súng ngắn, đi giầy đen, áo bốn túi là mê ngay. Hai người đưa nhau đi ăn kem Tràng Tiền, ăn phở Bát Đàn, ra Bờ Hồ chụp ảnh kỷ niệm. Họ trao đổi thư từ, hò hẹn.

Cô con gái ông phó chính ủy sư đoàn học xong lớp 10, thi đỗ điểm cao, lý lịch gia đình tốt, được chuyển thẳng đi học ở Liên Xô. Chú Hoài tưởng đã vỡ mộng lấy con quan. Vào năm 1981, cô Yến về nước, tình cờ gặp lại chú Hoài vẫn ở cùng đơn vị với cha, đang làm nhiệm vụ ở mặt trận biên giới phía Bắc. Lương duyên cũ nối lại và nhanh chóng dẫn đến đám cưới của chú Hoài với cô con gái của một vị tướng. (Ông trung tá nay đã được phong cấp hàm thiếu tướng). Lễ cưới được tổ chức ở Thủ đô. Hơn một năm sau, đứa con gái của họ ra đời trong sự mừng rỡ của ông bà ngoại.

Chú Hoài là một sĩ quan tác chiến nhưng có tài viết báo. Có lần chú đã tự thú với tôi, chỉ tại chú ở thành phố, mang vác kém, không hay làm việc nặng. Khẩu súng to nhất trong những năm ở chiến trường, chú Hoài được giao là khẩu AK báng gấp. Khẩu súng ấy chú giữ mãi cho đến lúc lên tới chức trung đội trưởng, rồi đại đội phó mới phải bàn giao cho người khác để đeo khẩu K54. Cũng theo chú Hoài, khẩu súng ngắn K54 ấy chưa hề bắn phát nào. Quân khí tiểu đoàn phát cho hai băng đạn, cho đến lúc trả súng vẫn còn nguyên.

Có lần tôi đã hỏi chú Hoài:

- Cháu hỏi câu ni, chú khai thật nhé. Khai đúng cháu thưởng?

- Thưởng chi? - Chú hỏi cũng đáo để.

- Bí mật! Chú phải nói trước, cháu coi chú có trung thực không đã. Suốt cả đời lính chú đã bắn chết người mô chưa?

Chú Hoài nhìn tôi một lát rồi mới nói.

- Đạn súng lớn, loại B40 chú đã bắn 4 quả. Trái thứ nhất, khi ấy chú còn làm liên lạc đại đội. Đơn vị của chú đánh vào khu trường học ở thôn Liễu Thượng. Ở đấy có một đại đội bảo an đang tập trung trong khu trường học. Đơn vị chú tiếp cận địch theo ba mũi, một mũi bất ngờ bị lộ. Địch bắn đạn ra như mưa ngoài cánh đồng, chúng bắn cả cối cá nhận, cối 61. Cậu giữ khẩu B40 trúng đạn. Chú đang bò cùng đại đội phó Đệ, cha cháu ấy. Ông Đệ quát: “Hoài, mi táng một quả B40 vào ổ súng máy cho tao”. Trái đạn B40 chớp mắt bay đi. Một quầng lửa trùm lên góc trường học. Khẩu đại liên tắt ngóm. Còn bắn AK thì nhiều lần. Chú đã từng đánh tao ngộ chiến với tụi Ngụy, tụi Mỹ ở ngã ba Hương Trà, trên dốc Đoác, Khe Trái... Chuyện thường ở đời lính ấy mà. Những ngày ở vùng giáp ranh, bộ đội các chú suốt ngày phải mặc quần đùi đi chốt gác, bám địch.

Tôi cười bảo chú Hoài:

- Chú chưa được thưởng đâu nghe!

- Sao vậy?

- Chú còn thiếu của cháu ba trái B40. Nó nằm ở mô, trên giấy à?

Chú Hoài cười.

- À, đấy là lần đại đội chú đánh ở Phú Lương B, ở Cao Ban, Sơn Tùng, Hiền Lương trong chiến dịch Xuân 1975. Bốn ngày trời đơn vị chú bị vây ráp ở các làng quanh bãi cát Triều Dương. Mấy tiểu đoàn thủy quân lục chiến, có cả xe tăng, máy bay trực thăng chiến đấu, quây càn. Cả tiểu đoàn chú căng ra đánh địch chống càn từ sáng đến tối. Đạn bắn đỏ nòng súng. Khi ấy, quân cũng như tướng hò nhau gắng giữ chốt, không cho địch phá vây vào làng. Các chú chỉ mong sao trời chóng tối, cha con lo chôn cất tử sĩ, cáng thương rồi tìm đường rút sang làng khác. Ngày mai đánh tiếp.

- Bộ đội chết nhiều không chú? - Tôi hỏi vẻ tò mò.

- Ta cũng chết mà địch cũng chết, Người mất, xe tăng cháy, nhà cửa của dân tan hoang... Rồi chú Hoài buồn bã bảo tôi - Từ ngày chiến tranh kết thúc, chú chưa có dịp nào trở lại Cao Ban, Hiền Lương. Mấy năm trước có lần về Huế họp, chú cùng với mấy anh bạn cũ ở thành đội Huế chỉ ghé được Hương Trà thắp hương cho những người quen biết đã mất.

Ôi, chú Hoài của tôi thật đáng thương!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #42 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 10:49:54 am »

Còn chuyện này cha tôi đã kể cho tôi nghe.

Trong tập vở Codido thứ 6, gạn đọc mãi tôi chỉ thấy cha tôi ghi có vài câu:

“Khốn khổ thân mày Hoài ơi!

Sao cuộc đời này lại còn có những loại đàn bà chó má thế. Chúng nó được ăn học, nhiều tiền lắm của, bắt chồng con phải hầu hạ. Đến lúc mi khốn khổ ở mặt trận thì nó bỏ đi theo trai... Kết cục đời mi cũng chẳng ra sao”
.

Ngày còn sống đã có lần cha tôi hé ra cuộc sống của gia đình chú Hoài cũng chẳng êm đẹp gì. Vào những năm 1985, 1986, Liên Xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa chưa sụp đổ. Cả nước rầm rộ tuyển người đưa ra nước ngoài lao động xuất khẩu. Người thì sang Nga, kẻ sang Tiệp, Ba Lan, Đông Đức. Ai được đi trong số ấy chả khác nào trúng số độc đắc... Đi ra nước ngoài dù là ở nước nào thời ấy là cả một niềm mơ ước, khát khao của tuổi trẻ. Bất kể họ là kỹ sư, bác sĩ, công nhân. Một số thầy giáo của tôi biết tiếng Pháp cũng còn hăng hái đi dạy ở Châu Phi xa xôi kia mà. Giữa lúc các nhà máy xí nghiệp quốc doanh đình đốn, thiếu việc làm, đi lao động ở nước ngoài như là một cứu cánh. Vợ chú Hoài vốn biết tiếng Nga, quen với nhiều người có quyền thế đã đăng ký sang Liên Xô, làm đội trưởng.

Cô Yến, vợ chú đi và không bao giờ về nữa.

Vào năm thứ sáu, cô Yến có về nước một lần. Cô mang được mấy thùng chứa đầy xích, líp, bi, tủ lạnh xaratốp, nồi cơm điện, xoong nhôm gửi về theo đường biển Hải Phòng. Hàng hóa bán được cả mớ tiền cho cánh buôn ở chợ Hôm. Cô Yến về nước bằng đường hàng không, bế theo một thằng con trai hai tuổi, mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng, bập bẹ một vài câu tiếng Việt lơ lớ.

Những năm sau này mỗi lần gặp chú Hoài hoặc gọi điện thoại, tôi tuyệt đối không nhắc tới chuyện vợ con của chú. Tôi chỉ hỏi chú vài câu sức khỏe, công việc và có lời khuyên chú cố ăn uống, thuốc men giữ gìn. Về Sài Gòn hay bay ra Hà Nội lo công chuyện, tôi biết chắc chú Hoài đang lẩn khuất đâu đó giữa dòng người xô bồ, tất bật. Song thật tình tôi ngại gặp chú. Tôi có gọi điện thoại cho chú, vẫn những câu hỏi thăm thông thường. Bao giờ chú cũng hỏi tôi đang ở đâu, làm gì? Tôi bịa ra rằng tôi đang ở trại Đầm Vịt, cũng có lúc tôi nói ở Đà Lạt, đang ngồi bên bờ hồ Xuân Hương uống cà phê ở quán Nhớ.

Trả lời chú xong, tôi tắt ngay điện thoại. Tôi biết mình đang nói dối chú Hoài và nói dối lòng mình. Tim tôi nhói đau, ứa nước mắt. Tôi nép mình sau đám cây cảnh của một quán cà phê trên đường Lý Chính Thắng nhìn dòng người xe đang lao đi như mắc cửi giữa buổi chiều tà.

Tôi thật lòng thương chú Hoài. Một tình thương của một đứa con gái vừa mới mất cha với một người đàn ông cô đơn chia tay vợ. Chú Hoài cũng như thầy Năm Bê, tôi luôn xem như là những thân cây già để tôi tựa bóng. Tôi không dám thú nhận với chính tôi. Trái tim tôi xao động, run rẩy mỗi khi nghe tiếng nói của chú Hoài.

Nhiều khi trêu chú tôi lại đọc câu thơ của Huy Cận từ hồi nảo hồi nào đã nhét vào bộ nhớ của tôi. “Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu/Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người”.

Ở tít mù khơi xa, đâu đẩu đầu đâu trong không gian tôi nghe chú Hoài phì cười. Chỉ nghe giọng chú cười lòng tôi lắng lại. Tim không còn rộn lên nữa.

Thoa đang í éo gọi tôi xuống ăn cơm. Con mèo trắng mắt xanh mắt đỏ đã ngồi chồm hỗm trên chiếc ghế chờ tôi. Con mèo Thái lông dài tôi nuôi đã được mười mấy năm, bắt chuột rất tài, không ăn cơm, không biết ăn vụng, có mèo lạ đến nhà rình bắt mấy con chim kiểng của tôi là nó đuổi cho chí chết. Từ nhỏ đến giờ nó chỉ quen ăn thức ăn khô tôi mua ở cửa hàng. Đã bốn lần sinh nở mà lần nào cũng phải có tôi ngồi cạnh ổ canh chừng, nó mới dám cho bầy con chào đời.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #43 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 10:59:47 am »

19

Tập vở Cogido thứ sáu hơi đặc biệt hơn so với các tập khác.

Trong tập vở này, chỉ một mình cha tôi viết. Tôi không hiểu vì lý do gì, chẳng có một dòng nào của mẹ tôi. Cha tôi viết theo lối cầm chừng, ngắt đoạn, không viết liền mạch như những trang ở các tập trước.

Một điều lạ nữa là, ở đầu mỗi đoạn dài ngắn khác nhau bao giờ ông cũng viết câu “Khung trời hẹp”! Tôi chẳng hiểu ba từ ấy với cha tôi có ý nghĩa gì. Có thể những chữ ấy chỉ một địa điểm nơi cha tôi làm việc. Cũng có thể, ông muốn phản ánh cái tâm thế, tư tưởng và tình cảm của một người lính rơi vào hoàn cảnh bĩ cực như ông trong lúc này. Ông đang phải giấu mình bằng một thân phận khác, một kẻ đang trốn chạy, chịu nhiều hiểm nguy. Chỉ có điều này là tôi không bao giờ hiểu được. Rằng tại sao người như cha tôi, rơi vào hoàn cảnh ấy mà ông vẫn còn dành thời gian viết được. Tôi thật cảm động khi đọc thấy có nhiều dòng, nhiều trang cha đã dành cho tôi, như cách gọi “Con gái bé bỏng của cha”. Cụm từ ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần. Rơi vào thời điểm, lúc tôi mới ra đời cho đến khi tôi biết cất tiếng gọi “Cha ơi! Mẹ ơi”.

Khung trời hẹp -19 giờ

Chủ tiệm photo, đánh máy là Năm Nhựt. Ông đã sáu lăm tuổi, là người có nước da đẹp, nhưng xem lão vẫn còn hăng hái, khỏe mạnh, phong độ cường tráng. Lão có hẳn hai bà vợ. Một bà vợ già, một bà vợ trẻ. Bà vợ già được cha mẹ cưới cho từ ngày lão Năm Nhựt còn sống ở thị trấn Ninh Hòa. Bà con ở khóm Máy Nước gọi bà vợ cả của Năm Nhựt là bà Tư Béo, bán bún bò giò heo. Quán của bà Tư nổi tiếng khắp Nha Trang. Bà Tư đã có với lão Năm Nhựt sáu đứa con. Để trốn quân dịch, bà Tư đã tốn khối tiền cho nhà chức trách để mua giấy tờ miễn phải đi lính cho lão, nhưng vào mỗi đợt quân Ngụy dồn quân bắt lính lão vẫn phải trốn chạy cảnh sát ruồng bố vây ráp. Kết quả, sau những cuộc du ngoạn trốn lính, lão đã mang theo về một cô gái trẻ quê ở Chụt và một đứa con trai sáu tháng tuổi. Bà vợ già ở Ninh Hòa nghe tin chồng có vợ bé, tức điên. Nhưng bà ở xa Nha Trang ba chục cây số không phải lúc nào cũng có thể bỏ cửa bỏ nhà vào đánh ghen cho bõ tức. Đành chịu! Những câu nói móc máy, chì chiết và cả một trận đánh ghen xảy ra giữa bà vợ già người Ninh Hòa với cô gái trẻ ở Cầu Đá cũng chẳng đi tới đâu. Năm Nhựt tránh đòn bằng cách bỏ nhà đi uống rượu, đánh tenis, không về nhà. Và chẳng ngủ với bà nào. Dù các bà vợ có trăm mưu nghìn kế để khiêu khích, lão cũng bỏ mặc, cho nghỉ khỏe. Thêm một đòn lão giáng chí mạng cho bà vợ già là Năm Nhựt không mang tiền về nhà để chăm đàn con đang lớn phổng phao từng ngày. Tiền học, tiền ăn, tiền tiêu cho đám trẻ tốn kém như tằm ăn rỗi. Một quán bún bò giò heo của bà Tư ngồi ở đầu chợ không đủ nuôi sắp nhỏ. Thêm nữa, dù bà Tư có cấm thì lão Năm Nhựt vẫn cứ phải vô ra Nha Trang để làm việc. Thôi thì trời chẳng chịu đất, đất phải chịu trời. Hòa cả làng.

Tiệm Roneo đánh máy Năm Nhựt to nhất nhì thành phố kiêm cả dịch thuật các tài liệu ở ngay trung tâm thành phố. Làm không hết việc, lão phải thuê thêm mấy người thợ phụ giúp hàng ngày, trả lương tháng, còn mất thêm bữa cơm trưa. Vài ba ngày lão Năm Nhựt vẫn đi lại thậm thụt với cô vợ nhỏ mới ngoài ba mươi đang sung sức.

Bà Tư đã buộc “lão chồng hư đốn” phải bán đất, bán nhà ngoài Ninh Hòa dời vô Nha Trang sinh sống. Tiện cả trăm đường. Đám trẻ nhỏ bỗng dưng thành người thành phố. Đi học, đi làm đều tiện. Cô con gái xinh đẹp của lão xin được vào làm việc trong ngành giao thông, năm trước năm sau đã có chồng là một viên sĩ quan ở Trường Hạ sĩ quan Đồng Đê. Bà Tư mở một tiệm bán bún bò giò heo và nem Ninh Hòa gần nhà Bưu Điện. Mỗi bữa chồng về ăn cơm nhà bao giờ bà cũng để sẵn cho lão đĩa lòng lợn, tô xương heo hầm và hai chai bia. Nhìn lão ăn và vui vẻ với đám con, bà cười thầm cho rằng mình cao tay. Tất nhiên, cô vợ nhỏ quê ở Chụt phải tránh xa trung tâm chỉ huy của lão. Để đền bù cho thân phận đàn em, lão mua cho cô một căn nhà ở đường Nguyễn Hoàng và một sạp bán dưa cà mắm muối ở Chợ Đầm.

Kể từ ngày y về làm việc cho tiệm photo, đánh máy của Năm Nhựt, y được cả hai bà vợ của lão quý mến, nể trọng. Chuyện lớn nhỏ trong nhà hai bà đều kể hết cho y nghe để nhận lấy một lời khuyên, không làm mất lòng bà nào. Vợ y, Hương Giang là bạn thân của vợ bé lão Năm Nhựt. Ban đầu, y nghĩ một cách đơn giản, nhờ mối lương duyên bán dưa cà mắm muối mà Hương Giang quen biết cô vợ nhỏ của lão Năm Nhựt, nên y mới có được việc làm ở đây. Nhưng sau này, khi tiệm photo, đánh máy bị đóng cửa, tìm hiểu kỹ, việc y được đưa về làm việc ở tiệm Roneo có bàn tay sắp đặt của ông Sáu và anh Đào.

Khung trời hẹp - 21 giờ

Y đã làm cha, cái ý nghĩ ấy cứ quẩn quanh trong đầu suốt cả chục ngày sau. Lòng y lâng lâng như người say rượu. Làm việc không tập trung. Đánh máy có trang sai be bét. Con chữ cứ nhảy múa một lúc lại hiện ra gương mặt đứa con gái bé bỏng của y.

Hôm Hương Giang sinh con, chỉ có bác Đạo, chị Ly và bà vợ nhỏ của lão Năm Nhựt giúp nàng. Y lúng túng như gà mắc tóc, chẳng biết làm gì. Lâu lâu ghé mắt vào nhìn cái sinh linh bé bỏng và tự hỏi “Con ta đây ư!”. Rồi y nghĩ tới thầy mẹ giờ này ở nơi xa liệu có biết y đã có con? Ông Sáu Đến nhanh biết tin hơn. Nghe nói anh Đào đã điện ra ngoài Huế báo tin vui.

Chờ cho đến lúc khuya mọi người về hết, y mới lấy hoa quả đặt lên bàn thờ thắp nhang vái trời đất, tổ tiên.

Hương Giang hỏi y:

- Định đặt tên con chi đây?

- Tên Thủy Tiên được không? Nguyễn Phương Thủy Tiên...

Nàng bảo y:

- Còn ở nhà gọi là con Bông cho tiện.

Lão Năm Nhựt và bà Tư Béo nghe tin vợ y sinh liền sang thăm, mang cho cả chục hộp sữa Ông Thọ, năm chục trứng vịt và mười ngàn đồng. Lão còn bảo y, “cho cậu nghỉ ở nhà dăm ngày trông vợ”. Hôm sau, lão nói với bà vợ nhỏ tìm được một người giúp việc đỡ đần trông nom cho hai mẹ con. Vậy là ổn.

Mấy ngày sau, dì Bảy đi xe từ Huế vào thăm cháu. Dì ở chơi và giúp Hương Giang lúc sinh nở cả tháng trời. Bữa gặp y lần đầu, Hương Giang giới thiệu y với dì Bảy.

- Thưa dì, đây là chồng cháu.

Dì Bảy nheo mắt nhìn y rồi nói:

- Ừ! Coi được đó con...

Y bẽn lẽn cười, chả biết nói gì.

Bây giờ, mỗi buổi chiều lóc cóc đạp chiếc xe về nhà, y luôn có một niềm vui. Y chỉ muốn mau chóng tới nhà để nhìn mặt con Bông.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #44 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 11:10:23 am »

20

Khung trời hẹp - 22 giờ

Ở trên cái tổ chim của nhà lão Năm Nhựt, y có một không gian thoáng đãng. Tự do nhất là vào những buổi tối nóng nực khi y phải ở lại trực. Cửa sắt ở tầng một đóng kín. Xuất cơm bình dân ở quán mụ Chẹo chỉ có vài trăm, thêm một cốc trà đá là y cảm thấy ấm bụng. Mỗi buổi tối biết chồng phải ngủ lại canh cửa hàng, bao giờ Hương Giang cũng chuẩn bị sẵn cho chồng khi thì ổ bánh mì hoặc vài mẩu khoai, sắn luộc để dành cho y ăn khuya. Nàng thừa biết chồng hay thức khuya đọc báo, nghe đài và hứng lên ghi chép.

Từ ngày vào Nha Trang, biết mình có bầu, Hương Giang hầu như không còn có thời gian ghi nhật ký nữa. Bây giờ y lại ở ngay cạnh nàng, ghi chép làm gì nữa cho rách việc. Có chuyện chi vợ chồng thỏa sức tâm sự hàng đêm. Không sợ ai nhòm ngó, cũng chẳng ai bắt bớ một kẻ thương phế binh mạt rệp, lại có họ hàng bà con là sĩ quan Ngụy. Bây giờ, y lại làm công cho chủ tiệm Năm Nhựt. Lão già không phải quan chức, không tham gia đảng “Cần lao”, cũng chẳng “Dân chủ”. Lão chỉ nhận mình là “tiểu thị dân”, nhưng xem ra mối quan hệ với các thành phần trong xã hội rất rộng. Các công sở nhà nước, trường học cho đến người “phó” thường dân ai cũng cần đến anh đánh máy, photocopy, dịch thuật, in sao nhân bản. Chỉ riêng việc in sao các “phao” thi cho đám học trò vượt qua đệ nhất, đệ nhị, và đám học trò lớn tuổi thi tú tài bán phần, toàn phần, tiệm photo Năm Nhựt đã làm không hết việc. Các công sở cũng hay mang những tài liệu không quan trọng tới thuê khoán cho lão. Tiệm photo, đánh máy của Năm Nhựt kiếm được khá tiền, lão dư sức nuôi vợ con và trả công cho đám thợ. Lão Năm Nhựt có một nguyên tắc: Chỉ nhận việc đến lúc mười sáu giờ, còn quá “4 giờ chiều” có vị khách nào đến tiệm trả giá photo, đánh máy lên gấp hai, gấp ba lão cũng đếch cần. Không ai nài ép được lão. Lão sai y đóng cửa hàng, treo tấm biển “Hết giờ làm việc” to tướng ngoài cửa. Lão nói oang oang với mọi người: “Các cô chú dọn dẹp nhà xưởng cho sạch nghe... Tôi đi làm vài séc tenis, rồi làm vài chầu bia đây!”.

Nói câu trước câu sau, người ta đã thấy lão quần soóc, áo phông, dáng rất thanh niên oai vệ ngồi trên chiếc Honda mới cứng phủ bạt trong góc nhà, vai khoác theo chiếc vợt bóng. Chỉ một loáng, Năm Nhựt đã lủi ra đường Độc Lập, lẩn trong dòng người xe. Có hôm vui lão còn bắn lại phía y một nụ cười tủm giấu sau bộ râu cắt tỉa kiểu “Hit-le” trông rất đểu. Y cười đáp lại, cũng không nói gì. Thừa biết, chiều nay lão Năm Nhựt chẳng bóng ban chi hết, lão chuồn về nhà vợ bé đánh chén bữa chiều. Lão Năm Nhựt ăn những bữa cơm chiều ở nhà bà vợ bé rất đều đặn. Tuần hai lần vào thứ ba và thứ sáu, còn lại các ngày lão dành cho bà Tư Béo. Những buổi chiều như vậy lão thường về nhà muộn. Mồ hôi ướt đầm đìa áo lót, mặt đỏ như gà chọi sau khi đã làm vài séc bóng ở sân Câu lạc bộ “sĩ quan” trên đường Duy Tân. Lão đặt xong chiếc xe Honda yên vị là ngã ngay xuống giường chẳng cần nhòm ngó tới vợ con, làm một giấc cho tới khuya, trở dậy tắm rửa rồi lại lăn ra ngủ. Lão bỏ ngoài tai những lời cự nự eo xèo của bà vợ già vẫn còn muốn tí tởn, cũng chẳng đụng đũa tới tô xương, gân bò hầm mà mụ để dành phần lão về ăn.

Riêng y luôn kính trọng lão Năm Nhựt. Bằng sự nhạy cảm của một người lính trinh sát, y biết con người lão cất giấu nhiều bí ẩn. Có lần vào một buổi sáng, lão mang lên giao cho y một sấp tài liệu có người nhờ thuê đánh máy. Y cầm tập tài liệu chuẩn bị làm việc, chợt nghe lão hỏi:

- Tối qua cậu ngủ ở đây có nghe chi không?

Y cảnh giác:

- Nghe chi chú Năm? Cháu mệt, nằm một lúc ngủ thiếp tới sáng. Mãi tối khi nghe chuông nhà thờ Đá đổ, cháu mới tỉnh.

Lão Năm Nhựt dùng lưỡi đẩy điếu thuốc Ruby sang bên mép phải, tay cầm ly cà phê đen:

- Tôi già không ngủ được. Nghe súng nổ râm ran ở ngả trong núi. Một lúc sau lại rộ lên ở hướng cây Dầu Đôi.

Y vẫn vờ vịt như không biết:

- Núi mô chú Năm?

- Thì Đằng Bò đó...! - Lão Năm Nhựt cao giọng đứng dậy, bước ra ngoài sân thượng chỉ lên hướng tây vào dãy núi xa xanh, ngay trước mặt - Các “ổng” ở cả trong đó. Đêm mô họ chả đưa người về làng rải truyền đơn, treo cờ.

Y giả đò như không nghe thấy, tay khua vang trên bàn máy chữ.

Từ khi đặt chân về Nha Trang, y đã tẩn mẩn nghiên cứu vùng đất này. Trong ý thức của quân Ngụy ở Sài Gòn, đặc biệt là các đơn vị bộ binh phải đóng chốt ở Tây Nguyên, nơi có Bộ chỉ huy Vùng 2 chiến thuật luôn xem Nha Trang là một hậu cứ an toàn hơn so với nhiều địa bàn khác ở Nam Việt Nam. Sĩ quan Mỹ, Đại Hàn, quân Ngụy coi Nha Trang là nơi nghỉ xả hơi sau những chiến dịch đụng đầu với V.C, quân giải phóng. Chỉ có điều ở đây khác với Huế. Những năm trước khi có Hiệp định Paris được ký kết, ngoài quân Mỹ đồn trú còn được tăng cường hai sư đoàn lính Đại Hàn, người dân quen gọi là Sư đoàn Mãnh Hổ và Bạch Mã. Các đơn vị lính Đại Hàn đóng xen kẽ với quân Ngụy trải dài từ Quảng Nam tới Khánh Hòa. Y chưa có dịp đối đầu với lính Đại Hàn, nhưng như lời lão Năm Nhựt kể thì họ “đều là dân Á Châu, đi đánh thuê cho Hoa Kỳ lấy tiền về nuôi vợ con. Chúng cũng khôn ngoan, láu lỉnh, sợ chết, nhưng khi lâm trận nhiều thằng lỳ đòn ra phết”. Rồi lão kết luận: “Thằng lính mô đi cầm súng vì tiền mà chẳng sợ chết hả cháu? Tiền không bao giờ tạo ra sự anh hùng, càng ít người dám mất mạng vì tiền”.

Nghe vậy, tự nhiên y bật hỏi lão:

- Chú nghĩ vậy thiệt hả?

Lần đầu tiên, lão Năm Nhựt miệng vẫn ngậm chặt điếu thuốc, nhìn thẳng vào mắt y. Lão hít một hơi dài điếu Ruby, phả khói thơm lừng, cầm điếu thuốc trên tay trả lời y từng tiếng:

- Chỉ có là lính của ông Trần Hưng Đạo, ông Lê Lợi, ông Nguyễn Trãi, ông Quang Trung, lính của ông Hồ mới có được dũng khí, chết vì nghĩa lớn.

Nhiều đêm, nhất là vào những đêm có trăng, trên gác xép y không ngủ. Gắn chặt chiếc tai nghe, ôm chiếc đài National vào ngực, y ngồi thu lu ngoài sân thượng nhìn về phía dãy núi xa mờ. Dãy núi đá Đồng Bò như một con kỳ nhông khổng lồ đầu hướng ra Cửa Bé uống nước. Vào ban ngày trời nắng, nhìn Đồng Bò càng rõ. Lẩn giữa những vạt rừng xanh xen kẽ những gộp đá. Nghe nói vào dạo xuân 1968, vùng căn cứ địa này cũng bị Mỹ ném bom B57, bom hóa học để triệt hạ bộ đội và cán bộ huyện xã trụ bám ở đây. Vài năm nay, vào những ngày mưa lụt vẫn thấy cá chết trắng trên sông Đồng Nhơn. Người dân chẳng ai dám ăn, cũng chẳng dám bắt thứ cá nhiễm độc trong các hang, hốc núi Đồng Bò về cho heo ăn.

Vào đêm 27 tháng 1 năm 1973, y đã thức trắng để nghe đài Hà Nội đọc những điều khoản đã được bốn bên ký kết ở Paris. Y nước mắt đầm đìa khi nghe cô ca sĩ Vân Khánh hát bài “Đường chúng ta đi” phổ thơ của một nhà thơ y đã một lần gặp mặt. Tên ông là Xuân Sách. Ngày còn ở đơn vị tân binh, đã một lần ông Xuân Sách đến đơn vị của y cùng với đội văn nghệ sư đoàn biểu diễn, đọc thơ cho cánh lính trẻ nghe, động viên bộ đội trước lúc lên đường. Bầy giờ nghe bài hát phổ thơ của ông trong cái đêm lịch sử này, y đã bật khóc. Khóc một mình với bao niềm xúc động.

Cũng đêm 17 tháng 1 năm 1973, y đã nhiều phen giật mình tưởng bộ đội du kích tấn công vô thành phố. Sáng dậy, hỏi người trong xóm mới hay. Đám lính Mỹ, lính Đại Hàn nghe đài BBC, RF1 đưa tin Hiệp định Paris ký kết, chúng thi nhau xả từng loạt đạn lên trời, mừng vì không còn phải tham chiến.

Đứng từ trên gác cao của tiệm photo, y thấy rõ những viên đạn lửa đỏ rực như hòn than, vẽ hình vòng cung lên trời. Các đơn vị lính ngụy đồn trú ở ngoài Đồng Đế, đèo Rù Rì cũng đua nhau bắn những trái đạn pháo sáng thành từng chùm ba bốn trái một lần. Bầu trời hồng rực trong ánh hỏa châu.

Buổi sáng, nghe bản tin của đài địa phương y mới biết rõ, đêm qua V.C tấn công đồng loạt vào các ấp ở Diên Thọ, Diên Lâm, Diên Điền, Diên Phước. Ở Vĩnh Xương, V.C cũng đột nhập vào An Ninh, Võ Kiện. Các địa bàn Ninh Hòa, Cam Ranh đâu đâu cũng thấy V.C tấn công, làm chủ các xóm, ấp, treo cờ, giải truyền đơn tuyên truyền cho việc 4 bên ký Hiệp định Paris.

Buổi sáng lão Năm Nhựt tới cửa hàng sớm hơn thường lệ, nhìn thấy y phờ phạc, lão nói như chia sẻ:

- Đêm qua mất ngủ hả? V.C làm dữ quá... Thôi, hôm nay ít việc, tôi cho chú nghỉ.

Y đạp xe về đến nhà, Hương Giang vẫn chưa đi chợ. Nhìn thấy nét mặt y không bình thường, nàng tưởng y ốm, tỏ vẻ lo lắng. Y nhìn nàng rồi đáp cụt ngủn:

- Anh hơi mệt em à. Bữa nay nghỉ.

Nàng nhìn y tỏ vẻ ái ngại.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #45 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 11:12:21 am »

21

Khung trời hẹp - 18 giờ

Trời đã chạng vạng tối. Những ngọn đèn trên đường Độc Lập đã bật sáng mới thấy lão Năm Nhựt đi xe máy về tiệm photo. Lão chở theo một vị khách lạ cũng trạc tuổi lão.

Lão bảo y:

- Đây là ông bạn nối khố của tui, tên là Bẩy Khai. Lâu lắm anh em tui mới gặp nhau, giờ ông đang kinh doanh gỗ trên Buôn Ma Thuật, mới về quê ăn cưới đứa cháu.

Lão Năm Nhựt miệng nói, tay súc ấm pha trà. Người khách ngồi xuống ghế, lật chiếc mũ phớt bỏ xuống bàn để lộ một vết sẹo dài trên thái dương. Y giữ ý, chỉ khẽ ngẩng lên chào người khách rồi lại chúi mũi vào chiếc máy chữ gõ lóc cóc.

Lão Năm Nhựt và người khách uống trà và rì rầm nói chuyện. Chỉ năm phút sau, vị khách cáo biệt lão Năm Nhựt ra về. Ông khách tiến lại bắt tay y.

- Anh Bẩy để tôi đưa đi cho bảo đảm. Dạo này xe pháo đám trẻ đi ẩu, nó đâm thì khổ - Lão bảo.

Hai ông già đi xuống cầu thang. Y để ý thấy vị khách để lại trên bàn một bọc giấy báo gói kỹ càng.

Tám giờ tối, lão Năm Nhựt mới về đến tiệm. Mọi ngày vào giờ này lão đã yên vị ở nhà với bà vợ cả hoặc nếu không cũng đi “đánh tennis” ở nhà bà vợ nhỏ. Y hỏi lão với vẻ ngạc nhiên:

- Chú không về nhà với thím?

- Không. Tối nay chú ở đây với cháu, hai chú cháu vừa làm việc vừa nói chuyện cho vui. Bữa ăn tối cho hai chú cháu đủ cả đây rồi.

Lúc ấy y mới để ý tới cái bọc túi nilon lão treo ở móc xe honda. Khi mở ra, y tròn mắt thấy có vài chai lade, nước ngọt. Bốn ổ bánh mì còn nóng và một gói lòng lợn, thịt quay và nửa con gà.

- Sao chú mua chi nhiều vậy? -Y tò mò.

- Để chú cháu ta liên hoan, sau lúc làm ca đêm.

Lão sai y xuống nhà khóa của sắt, cửa gỗ. Y lên đến nơi đã thấy lão Năm Nhựt giao cho y một xấp tài liệu và bảo:

- Cháu đánh đi! Đánh đừng sai nghe!

Y cầm xấp tài liệu, mở từng trang và bắt đầu gõ máy chữ. Đánh được vài dòng, y hiểu ra rằng đây là những tài liệu của “phía bên kia” mà người khách lạ đem tới, giao cho lão Năm Nhựt in sao gấp trong đêm. Y chỉ băn khoăn, nghĩ ngợi một điều. Hai lão già không rõ tung tích này liệu có biết thân phận thật của y? Họ tin gì ở một thằng thương phế binh “giả cầy” để giao cho việc động trời, in sao các tài liệu của V.C giữa một thành phố nhan nhản cảnh sát, mật vụ? Chỉ cần lộ ra một chút, thầy trò y sẽ đi tù mọt gông.

Y ngậm tăm không hỏi, không nói chuyện với lão Năm Nhựt. Vừa đánh máy y vừa phì phèo điếu thuốc Ruby cho bớt căng thẳng. Đọc và đánh máy đến đâu, y càng hiểu rõ không khí cách mạng ở vùng đất này.

Nha Trang, Khánh Hòa là vùng đất thánh của quân Ngụy. Tưởng hiền hòa, êm đềm mà không phải vậy. Giấu sau những dãy núi, những cánh rừng trùng điệp kia là căn cứ cách mạng. Các hoạt động đánh địch của bộ đội giải phóng, của chính quyền cách mạng vẫn âm thầm diễn ra. Các đơn vị bộ đội chủ lực cấp trung đoàn, tiểu đoàn ở đây đều có cả. Các huyện, xã có đội công tác, đội biệt động... Bộ đội đặc công ở đây tập trung vào quân cảng Cam Ranh, sân bay Nha Trang, về sống ở Nha Trang một thời gian, y đã có dịp tìm hiểu vùng đặc khu Cam Ranh, Đây là căn cứ hải quân, không quân quan trọng của Mỹ ở Nam Trung Bộ. Cái lưỡi cát có núi lao ra biển, phía ngoài có đảo Bình Ba chắn gió đã tạo nên một vụng biển sâu, kín gió thành một quân cảng có giá trị chiến lược canh giữ Biển Đông, khống chế toàn bộ khu vực Đông Nam Á trên biển. Ở đây, ngoài số lính bộ binh làm nhiệm vụ bảo vệ còn có các đơn vị lính hải quân, không quân. Có sân bay Cam Ranh đủ sức cho B52 lên xuống. Tàu ngầm của Mỹ ra vào cảng dễ dàng. Sân bay Nha Trang nhỏ hơn, lại ở ngay trong thành phố, nhưng đường băng đủ cho các loại máy bay A37, trực thăng đáp xuống lấy nhiên liệu hoặc mang bom, vũ khí đánh phá các vùng phụ cận... Cũng qua các tài liệu này, y biết thời gian qua, bộ đội và biệt động thành phố liên tiếp tổ chức những trận đánh vào kho xăng Cam Ranh, Bình Tân... Những ngày sau Hiệp định Paris được ký kết, để phòng thủ tuyến Nha Trang, Cam Ranh, Bộ chỉ huy quân Ngụy ở Sài Gòn đã tăng cường lực lượng ở Vùng 2 chiến thuật. Các căn cứ quân sự ở Dục Mỹ, quân trường Lam Sơn được xây dựng thành tuyến phòng thủ chốt chặn Tây Nguyên nếu bị quân giải phóng tấn công. Một số đơn vị thiện chiến được táng cường. Ở Nha Trang tập trung khá nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng, các đơn vị biệt động quân vừa làm thê đội hai cho Tây Nguyên vừa bảo vệ cho thành phố này...

Trong đám tài liệu ông Bẩy giao cho lão Năm Nhựt, y chú ý thấy có cả tờ báo “Sao Việt”. Ở trong Nam, tất cả các tờ báo đều của tư nhân. Xem qua nội dung các trang báo, y đồ rằng, tờ “Sao Việt” phải là người có chủ trương thân V.C. Có những bài viết yêu cầu chính quyền Thiệu, Kỳ và tỉnh trưởng Khánh Hòa cho lập ủy ban thi hành Hiệp định Paris, một vài tin bài khác đòi chính phủ cải thiện chế độ lao tù, phụ nữ đòi quyền sống...

Công việc in sao các tài liệu của hai thầy trò y tới quá nửa đêm thì xong. Lão Năm Nhựt tay đóng gói các bản in vào thùng các tông, lẫn với các loại văn bản khác. Xong việc lão ngồi nhâm nhi chai lade và nhai xương gà rau ráu. Y chỉ nhấm nháp ổ bánh mì với thịt quay. Chân tay mệt rã rời.

Lúc y mở mắt ra, trời đã sáng bạch. Lão Năm Nhựt đã biến đi từ lúc nào cùng với thùng tài liệu. Y hỏi mấy đứa giúp việc ở tiệm, chúng bảo: “Ông chủ đã thuê xe lam chở hàng đi từ hồi sớm!”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #46 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 11:14:42 am »

22

Sông Dinh - Tháng 3 năm 1975

Vậy là y đã rời căn gác xép thần tiên được vừa tròn hai tháng. Lão Năm Nhựt giờ ở đâu cũng không rõ. Trước lúc tiệm photo, đánh máy đóng cửa, lão có gặp y nửa giờ đồng hồ. Lúc ấy, lão mới đi chơi thể thao về, vứt chiếc vợt tennis vào góc nhà, gọi y lên gác xép và bảo:

-Từ ngày mai cháu nghỉ việc nghe. Chú có việc gấp vô Sài Gòn. Tiệm phải đóng cửa vài ba tháng. Khi nào mở lại chú sẽ gọi đi làm.

Lão Năm Nhựt mở sổ, tính toán tiền công cho y trong những tháng còn thiếu. Cả thảy y nhận được từ lão bảy mươi lăm ngàn. Lão cho y thêm năm ngàn, đủ tám chục. Một món tiền kha khá, y đưa cả cho Hương Giang. Vài ngày sau, anh Đào tới chở y bằng chiếc xe Jeep nhà binh đưa y ra Ninh Hòa, giao cho thầy Viễn, hiệu trưởng trường Trung học đệ nhị cấp Trần Quý Cáp. Y sẽ làm cai trường ở đây, thay thế cho ông cai trường cũ phải về Quy Nhơn chăm sóc mẹ già.

Y lại có được một căn phòng nhỏ, nằm ở ngay sau dãy nhà kho của nhà trường sát phòng thí nghiệm.

Hương Giang phải xa chồng, nàng chẳng nói năng gì. Thời buổi loạn lạc, khó khăn, kiếm được việc làm thế là tốt rồi.

Y chấp nhận cuộc sống cơm niêu nước lọ. Chiều thứ bảy, thầy Viễn thuê một người trông coi trường, cho y về Nha Trang thăm vợ con. Chiều chủ nhật, y bới thêm chút thức ăn khô đủ cho cả tuần, được vợ chuẩn bị sẵn, trở lại ngôi trường bên bờ sông Dinh.

Ninh Hòa là một huyện của Khánh Hòa. Tên gọi trong sử sách xa xưa là phủ Bình Khang. Dải đất không xa biển nhưng nằm trên trục đường thiên lý Bắc Nam. Một ngả rẽ về hướng tây lên Buôn Ma Thuật, qua con đèo Phượng Hoàng hiểm trở.

Từ ngày vào Việt Nam, người Mỹ đã đổ tiền của khá nhiều để hiện đại hóa các con đường quốc lộ huyết mạch lên các vùng chiến thuật, phục vụ chiến tranh. Đường 21 nối từ Ninh Hòa đi Buôn Ma Thuật được rải nhựa. Xe tăng M113 chạy từng đoàn trên đường không có vệt sụt lún. Du kích, biệt động đã nhiều lần gài mìn chống tăng, nhưng mìn nổ, xe đứt xích, con đường chỉ khoét sâu như một ổ gà to bằng chiếc nón.

Những ngày làm cai trường, y buồn như trấu cắn. Vào những ngày đi học còn có đám trò chạy nhảy, hò hét. Các giáo sư đi lại, lên lớp... Họ hầu như không để ý tới một anh cai trường còn trẻ có họ hàng xa với thầy hiệu trưởng, nghiêm khắc và khó tính. Những đứa học trò nghịch ngợm, hay cúp cua cũng sợ y một phép. Cứ đến giờ vào lớp, y cầm cây dùi gõ thẳng cánh vào mặt trống căng. Tiếng trống âm vang trong khoảng sân trường phủ rợp bóng lá bàng, lá phượng vĩ lên xanh sau những trận mưa xuân. Quãng từ năm giờ chiều trở đi, học trò về nhà, khuôn viên trường chỉ còn lại y và vài chị lao công dọn nhà vệ sinh, quét rác...

Bẩy giờ tối, sân trường vắng bóng người. Y lủi thủi một mình với chiếc bếp dầu, nồi cơm và ngọn đèn điện đỏ quạch treo lơ lửng giữa trần nhà, uể oải nhai bát cơm với vài ba lát cá thu vợ rim khô mang theo từ nhà. Y bứt thêm vài cọng rau lang ở ngoài vườn nấu bát canh ăn cho đỡ xót ruột. Âm thanh duy nhất là tiếng radio của đài Sài Gòn. Y mở công khai cho có tiếng người và suy luận qua bản tin chiến sự để biết cả phía ta và phía quân Ngụy. Y trở thành nhà phân tích không công và tự thưởng cho những suy đoán của mình bằng một ấm trà Blao và điếu thuốc Ruby mua lẻ ở quán đầu phố.

Từ quãng 9 giờ tối trở đi. Ngoài con đường lộ đã vắng bóng người. Lâu lâu chỉ có tiếng xe quân cảnh rú còi đi tuần đêm. Y tắt đèn, nằm im trong bóng tối, cắm chiếc tai nghe nhỏ xíu vào hai tai và mở đại Hà Nội. Khi tiếng nhạc hiệu hùng tráng vang lên: “Đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa”', y lại rơi vào trạng thái hồi hộp, nao nức rộn rằng. Chiếc tai nghe cũ, lem nhem dính dầu mỡ, Hương Giang đã mua một chiếc dây tai nghe mới. Nàng muốn thay cả chiếc National ba pin đại nặng nề. Y không chịu và bảo:

- Còn nghe tốt chán em à! Vả lại - Y nói vào tai nàng -Đó còn là vật kỷ niệm những ngày vợ chồng ta ở Huế.

Nàng im lặng, quay mặt về phía y nhẹ như một làn gió thơm hôn lên môi y. Ở phía giường bên, con Bông đang ngủ. Y và nàng ôm nhau, say trong niềm hạnh phúc. Nàng gạ y:

- Mấy chị ở chợ cứ khuyên em nên đẻ thêm thằng con trai. Anh tính sao?

Y phì cười:

- Biết trai hay gái! Con nào chả được. Đang lúc khó khăn như ri. Em chạy chợ hàng ngày, lo kiếm ăn, có thêm đứa nhỏ cực lắm em à... Để vài năm nữa rồi tính.

Hương Giang trả lời y bằng một nụ hôn dài. Mãi sau nàng bảo:

- Em cũng nghĩ vậy.

Bây giờ y nằm đầy trong căn phòng trống vắng, có chiếc đài và nghe những bản tin của đài Hà Nội càng thấy việc hai vợ chồng chậm có con là có lý.

Tháng Ba với y thật có ý nghĩa.

Đài Hà Nội đưa tin: Ngày 10 tháng 3 năm 1975, bộ đội quân giải phóng tấn công Buôn Ma Thuật.

Đêm 11 tháng 3 năm 1975, một lực lượng quân giải phóng phối hợp với bội đội địa phương Thừa Thiên đồng loạt tấn công vào các chi khu quân Ngụy ở Phong Quảng Điền, Hương Thủy, Phú Lộc. Bộ đội Trung đoàn 2, Binh đoàn Hương Giang phá vỡ phòng tuyến quân Ngụy ở bình độ 28, đánh chiếm cầu Dài... Bộ đội E8 Quảng Trị tấn công các đơn vị thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ở phía Bắc... Chỉ nghe tới những địa danh vùng Bắc Huế, những tên ấp, tên xã nơi y đã từng in dấu chân, đổ máu... Trái tim y đã rạo rực, ứ nghẹn...
Mấy đêm liền, y không ngủ. Con đường lộ chạy lên ngả Dục Mỹ, đèo Phượng Hoàng, xe cơ giới chở quân, xe M113 chạy suốt đêm... Và cái tin mặt trận Buôn Ma Thuật vỡ, Sư đoàn 23 Ngụy được lệnh tháo chạy khỏi Tây Nguyên, chỉ một đêm đã loang ra trong binh lính và dân chúng vùng Ninh Hòa, Nha Trang. Người dân đi “chạy loạn” từ các nơi, đi trên các chuyến xe đò, xe nhà chở theo va li, hòm xiểng tấp nập đi qua thị trấn đổ về Nha Trang mỗi ngày một đông.

Ngày 14 tháng 3 năm 1975, đài Sài Gòn đưa tin, Nguyễn Văn Thiệu cùng Thủ tướng Nam Việt Trần Thiện Khiêm, tướng Cao Văn Viên bay từ Sài Gòn ra Cam Ranh gặp tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 quyết định bỏ ngỏ Tây Nguyên, thu quân về giữ tuyến đồng bằng ven biển.

Vào những ngày cuối tháng Ba, trên các tuyến đường huyết mạch, đường quốc lộ 1, đường 21, đường 19 và cả con đường 7 lên Tây Nguyên đã bỏ quên từ lâu, náo loạn các chuyến xe quân sự đổ về hướng biển, đi qua thị trấn Ninh Hòa. Trong khuôn viên của trường Trần Quý Cáp, thầy trò ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, giờ học bị cắt ngang giữa chừng bởi tiếng ồn của xe pháo, của những chiếc máy bay phản lực A37 rít trên đầu. Từng đoàn trực thăng đi tiếp vận, chở quân di tản...

Buổi chiều ngày 30 tháng 3, thầy Viễn, hiệu trưởng xuống phòng trực của y, mặt hốt hoảng.

- Loạn thật rồi, “thầy”... ạ. Dù có chuyện chi thì thầy cũng cố gắng bám trường nghe... Các thầy cô ở đây trông cả vào thầy. Mai mốt yên, còn có chỗ cho học trò về học lại.

Đấy cũng là lời nói cuối cùng của thầy giáo Viễn với y.

Từ ngày ấy, y không còn có dịp nào gặp lại thầy nữa.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #47 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 01:51:10 pm »

23

Tập Cogido thứ bẩy của cha tôi gần như để giấy trắng tinh.

Tôi chỉ thấy cha tôi ở mỗi đoạn ngắn ghi vỏn vẹn có đúng mấy câu.

Trại N.Đ, Tuy Hòa, Phú Yên, 3. 75.

Sao lại có mặt thằng Ca ở đây? Hắn ở F324 sao bây giờ lại là lính F10, Tây Nguyên. Hắn đã nhận ra y. Và lập tức người ta đưa y vào phòng giam chung với mười mấy viên sĩ quan của Sư đoàn 23 Ngụy tháo chạy từ Buôn Mê Thuột về Nha Trang qua ngả đèo Phượng Hoàng thì bị bộ đội quân giải phóng bắt. Tất cả bị nhốt chung trong gian phòng của thầy hiệu trưởng Viễn.

Y vẫn còn nghe rõ giọng một người lính dặn lại người đến gác sau. “Coi chừng nghe! Trong đám này có một thằng mặc áo dân sự, tay ôm chiếc máy chữ. Nghe đồng chí Ca báo cáo nó là thằng chiêu hồi đó. Chưa biết chừng là mật vụ...”
.

Ở một đoạn khác cha tôi viết:

Trại N.Đ, Tuy Hòa, Phú Yên, 6.76.

Y đã khai cả chục lần, vẫn những lời khai ấy, rất trung thực. Những tờ khai của y đã đi đến đâu, không biết. Y sẽ không bao giờ được biết. Y luôn tự hỏi, liệu những cán bộ quản giáo của trại có tin lời y?

Cuộc sống mỗi ngày có vẻ như dễ thở hơn. Vẫn đói, thèm đủ thứ. Hàng ngày nhai cơm độn sắn khoai, có bữa ăn hạt bo bo với chút cá mắm. Rau của trại trồng được nên không thiếu. Lâu lâu, y và Hai Tập, bác Khánh được phân công vô rừng chặt củi, kiếm được con cua đá, con ốc mang về cải thiện.

Đã nhận được thư và tin tức của em và con.

Hàng đêm chỉ cầu trời khấn Phật một điều: Mong hai mẹ con khỏe mạnh.

Và mong một ngày về.


Trại N.Đ Tuy Hòa 8.76

Lạy trời, mẹ vẫn còn sống. Sao mẹ lại vào được tới Nha Trang để tìm con hả mẹ?

Cả đêm không ngủ. Vừa mừng, vừa lo cho mẹ, cho vợ con y. Nước mắt ứa ra.


Trại N.Đ, tháng 12

Lúc nào khó khăn, cuộc đời cùng cực, y lại nhớ lời ông Sáu.

“Dù cuộc sống có ra răng, nhưng là người lính không thể gục ngã. Hãy tin ở con người, cháu à!”.

Ngày ông mất, y không thể về để quỳ trước nấm mộ ông lạy tạ. Y chỉ muốn thưa với ông một điều rằng: Ông đã tái sinh ra con lần thứ hai. Nếu ông không nhặt được con ở trong ruộng mía, và ông không cho Hương Giang đến với con, thì cuộc đời con sẽ ra sao ?

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #48 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 01:53:24 pm »

24

Tập vở Cogido thứ năm khá đặc biệt so với những tập khác. Hầu như những dòng chữ trong tập vở này chỉ độc có một nét chữ của mẹ tôi. Bà ghi từng mẩu, từng đoạn, có chỗ đề ngày tháng. Có chỗ chẳng có ngày tháng, dường như bà ghi để tâm tình với cha tôi, để nhớ lại những sự việc đã diễn ra sau ngày thành phố Nha Trang được giải phóng. Đấy là thời gian cha tôi cùng với nhiều người khác (từng một thời đi lính cho chế độ cũ) bị chính quyền cách mạng đưa đi học tập cải tạo. Lần theo lịch sử, năm tháng của đất nước, tôi hiểu vậy.

N.T...Tháng 9

Dấu yêu ạ!

Anh đã đi vừa tròn 4 tháng.

Mẹ con em không nhận được tin tức gì. Không một dòng thư từ. Không một lời nhắn gửi. Em không dám trách anh một lời. Trách chi được? Biết giờ này anh sống chết ra sao? Anh ở đâu em cũng không rõ. Ngày nào ở ngoài chợ, hay vào trong phố gặp người có chồng ra trình diện theo lệnh của ủy ban quân quản, có cùng cảnh ngộ như em, chuyện trò dò hỏi nhưng dường như họ đều không nhận được tin tức gì của người thân. Anh Đào con trai bác Đạo; anh Hiền, chồng Ly cũng đi tập trung học tập từ ngày rời nhà, cũng bặt vô âm tín. Bác Đạo ở nhà cũng lo bạc mặt, nhưng mải lo cơm áo cho đám con hàng ngày cũng chẳng biết kêu ai. Nhiều đêm đợi đám trẻ ngủ yên, bác Đạo gái, em, Ly ngồi trong gian nhà bếp nhìn nhau, chả biết nói chuyện gì nhưng trong thâm tâm mỗi người đều suy đoán về con, về chồng mình. Biết hỏi ai đây?

Anh còn không biết chuyện này trong những ngày Nha Trang hoảng loạn. Mọi người lo chiến sự nổ ra. Đám quân lính Cộng hòa bỏ đơn vị tháo chạy khỏi thành phố, có người cởi áo lính mặc đồ dân sự lẫn vào dòng người di tản. Ai cũng sợ bộ đội giải phóng tràn vào gây đổ máu như dạo Mậu Thân. Cả thành phố như một phiên chợ chiều, trời sắp nổi cơn giông. Người từ Tuy Hòa, Bình Định, có người từ ngoài Quảng Ngãi, Đà Nẵng, người ở các vùng quê Vạn Giã, Ninh Hòa, người trên Buôn Mê Thuột tràn xuống... Tất cả đều tay xách nách mang, va li, hòm xiểng, túi đựng vật dụng áo quần tìm đường tháo chạy. Em đưa con theo gia đình bác Đạo chạy vô được đến Cam Ranh lánh nạn. Cả gia đình chỉ kịp mang theo chút tiền bạc, áo quần và mấy thứ đồ khô để cho tụi con nít ăn dọc đường.

Nhà cửa khóa trái, không kịp gửi hàng xóm. Ai cũng sợ hãi, mạnh ai nấy đi. Đi đâu không cần biết, miễn là tránh được bom đạn. Nghe đài Sài Gòn đưa tin: Quân ông Thiệu quyết tử thủ ở Đà Nẵng. Rồi Đà Nẵng cũng vỡ. Tử thủ ở Buôn Mê Thuật. Buôn Mê Thuật cũng tan hoang. Rồi lại tử thủ ở Phan Rang, lấy Thành Sơn làm vành đai phòng thủ... Rút cục quân tướng, xe pháo cũng bỏ chạy tuốt luốt. Hôm vô Cam Ranh em chỉ kịp bế theo con Bông, ôm theo túi áo quần lao lên chiếc xe Jeep của một người bạn, nghe nói là bạn chồng Ly từ phi trường Nha Trang ra chở giúp gia đình bác Đạo. Xe nhỏ, người đông, 5, 6 đứa con nít ngồi chật cứng trong chiếc thùng xe ngột ngạt đầy mùi xăng. Tất cả mọi người đều cắn răng chịu đựng để đi cho hết quãng đường hơn 60 cây số nhưng đến Cam Ranh thì chiếc xe không chạy được nữa. Bị bể lốp trước. Tất cả mọi người đều phải xuống xe tạt vào một nhà dân ven đường xin nước uống. Đám trẻ con đi vệ sinh... Đến lúc mọi người quay trở lại chiếc xe Jeep, người lái xe là một viên hạ sĩ quan cũng đã biến mất. Anh ta hoảng loạn mà cũng có thể, trong lúc chạy “giặc” lo thân mình trước đã. Bác Đạo có chiếc tay nải bên trong giấu mấy lượng vàng, mấy chục ngàn đồng, ra tới xe, chiếc tay nải biến mất.

Ngày trở lại Nha Trang, nhìn căn nhà của bác Đạo, chúng em kinh hoàng không còn tin vào mắt mình. Ba bốn chiếc khoá US bị tháo bật tung. Cánh cổng sắt ở ngoài đường bị nậy long bản lề, đổ sập một bên. Trong vườn, cây cối bị chặt phá. Ngôi nhà lớn có mái bê tông, hai ba lớp cửa cũng bị mở tung. Kinh sợ hơn nữa, tất cả những đồ đạc gia dụng ở trong nhà có thể mang đi được như xoong, chảo, bát đĩa, áo quần... đều bị kẻ cắp lấy hết. Chiếc tủ thờ của hai bác đẹp là vậy, những chiếc lư đồng, bát nhang, đồ thờ cúng bằng đồng đều không cánh mà bay. Pho tượng Phật Bà Quan Thế Âm, kẻ ác còn đang tâm bẻ gãy một bàn tay. Bác Đạo gái và em có dò hỏi mấy người hàng xóm ở kế bên, họ kể lại những câu chuyện hãi hùng về cảnh cướp phá không chỉ gia đình bác Đạo phải chịu. Nhiều gia đình khác trong lúc chạy di tản, không có người trông nhà cũng đều chung cảnh ngộ. Trong lúc bộ đội giải phóng chưa kịp vô thành phố, người tứ xứ đổ về Nha Trang, kẻ tìm tàu bè, người vô phi trường tìm phi cơ để thoát cho nhanh. Vào lúc hỗn loạn, một số thương phế binh Ngụy ở tá túc nhiều năm nay dưới chân Hòn Chồng, Núi Sạn, ngoài bãi biển... cùng với đám thanh niên du thủ du thực trong các xóm ấp thấy nhà vắng chủ, nhân cơ hội bẻ khóa vào cướp phá, hôi của. Chỉ đến khi bộ đội giải phóng vào tiếp quản thành phố, thành lập đội quân quản, các tổ tự vệ ở phường khóm được thành lập, tình hình an ninh trật tự mới tạm yên.

Anh có biết không? Trưởng khóm của ta bây giờ là anh Khật, cái anh Khật chân đi cà nhắc vẫn đạp xích lô chở khách ở dưới chân Tháp Bà, hoá ra là người của “mặt trận”. Còn ông trưởng phường bây giờ anh có biết là ai không? Thầy giáo Tư Liên đó. Thầy dạy toán cho em Thi, con gái bác Đạo. Ông thầy giáo Liên có bộ mặt hiền hiền, ngó bộ lù đù vậy mà là V.C nằm vùng.

Anh à, em nghĩ thế này có phải không? Chuyện của anh ấy mà. Giá như mấy ông có hỏi, anh cứ khai thật. Lúc anh ở thành phố đã có lần quay rô-nê-ô truyền đơn cho mặt trận giải phóng. Mấy anh ở trên núi nhờ... Biết đầu mấy ông thương tình cho về sớm.

À em kể chuyện ni anh nghe. Con Bông mấy hôm nay bị đau nằm ở nhà. Nó theo chị Thi ra ngoài xóm chơi đùa. Mấy đứa trẻ nhỏ trong xóm tức hai chị em chuyện chi đó đẩy cả con Thi, con Bông ngã vào hàng rào xương rồng nhà mụ Chà. Cả hai đứa đau khóc thét. Mông dính đầy gai xương rồng, chảy máu. Hai chị em chạy về mách người lớn. Nửa đêm con Bông thức giấc, lay em hỏi.

- Cha đâu hả mẹ?

Em ứ tim. Nước mắt trào ra. Không biết nói sao.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #49 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2019, 01:57:05 pm »

*
*        *

N.T tháng 10

Dấu yêu ạ!

Hôm nay bác Đạo cho cả nhà được ăn một bữa no thả phanh. Anh có biết ăn chi không? Em trổ tài nấu món bún bò giò heo Huế. Vất vả lắm mới mua được chiếc chân giò của một chị mang từ ngoài Ninh Hòa vào. Thịt không còn tươi. Nghe chị ta khoe, con heo năm chục ký giết từ trưa hôm qua. Gia đình giữ lại một phần thịt để làm Chạp. Heo phải giết chui, cả gia đình không dám ăn hết chỉ giữ lại một chân, bộ lòng, cái thủ để làm mấy mâm cơm mời bà con họ hàng. Phần thịt còn lại đem bán. Bán thịt heo cũng phải giấu, sợ mấy ông thuế vụ bắt. Ở thành phố bây giờ giá cả cái chi cũng mắc. Gạo thịt bán cho những người được làm việc cho nhà nước theo tem phiếu. Cá biển cũng bán theo tem phiếu... Còn những người “tự do” việc mua bán gạo, thực phẩm đều trông cả ngoài chợ. Nhiều mặt hàng khan hiếm phải bán chui. Có tiền chưa chắc đã mua được.

Bác Đạo mấy hôm nay buồn lắm. Em Ly viết đơn đi xin việc mấy nơi đều không ai nhận. Ly gọi em bằng cô nhưng nó chỉ thua em có vài tuổi. Hai cô cháu xem nhau như bạn bè. Ly giỏi tiếng Anh, ngày học ở trường nữ trung học Huyền Trân năm nào chả mang phần thưởng về khoe với cả nhà. Chuyện Ly không xin được việc, bác Đạo hỏi, nó nín thinh không trả lời. Chờ tới lúc chỉ còn hai cô cháu, em tỉ tê, Ly mới nói:

- Họ biểu cháu làm thông dịch viên cho người Mỹ. Đã làm việc cho Mỹ tức là xấu. Cháu có nói rằng ông người Mỹ ấy là bác sĩ chữa bệnh ở Nhà thương Chẩn y viện Hòn Chồng! Họ đâu có chịu... Họ nói lại với cháu nghe mà đau lòng. Ai biết ông bác sĩ ấy là bác sĩ thiệt hay là CIA. Còn chồng cháu, anh Hiền đi lính... Lại là lính tử thủ Đô thành. Ai dám nhận cháu làm việc trong cơ quan nhà nước.

Ly nhìn em, mặt buồn rười rượi.

Em chỉ khuyên nó một câu:

- Ly à! Mình là người có học, con nhà tử tế. Cả cô cháu mình đều còn trẻ. Việc của chồng cháu, chồng cháu chịu tội với cách mạng. Ta bị ảnh hưởng là tất nhiên. Cảnh cô cũng như cháu thôi. Nhưng cháu phải hiểu điều này, mẹ cháu, cô và các em cháu chúng nó còn nhỏ, chẳng có tội tình gì. Cả nhà ta trong lúc khó khăn này phải ôm lấy nhau mà sống... Chỉ riêng việc cháu kiên quyết không chịu nghe lời thằng Hiền, không nghe lời ông bác sĩ người Mỹ chạy vô Sài Gòn xuống tàu di tản. Cháu dám cãi lại họ, cô đã chịu cháu rồi.

Anh có biết Ly đã nói gì với ông bác sĩ người Mỹ hôm ông ta đến nhà khuyên nó đi di tản hay không? Con Ly đã nói như ri: “Mong ông thông cảm. Em là người làm công cho ông. Ông trả lương cho em. Điều ông khuyên nhủ em thiệt lòng biết ơn... Nhưng em là người Việt Nam. Chồng em đang sống chết ra sao chưa biết. Mẹ và các em em còn đang ở đây. Em không thể theo ông xuống tàu. Dù em có sống hay chết. Vui hay buồn. Sướng hay khổ. Em cũng đã từng nhìn thấy V.C... Em chấp nhận ở lại... Đây là quê hương em, ông à”.
Bây giờ nhìn Ly một nách nuôi đứa con nhỏ, mỗi bữa nấu cơm nó đổ thêm nhiều nước để lấy chút nước cơm hòa với sữa cho con ăn... em ứa nước mắt. May mà con nhỏ còn giữ được chút tiền nuôi con, bù đắp cho bác Đạo bữa ăn hàng ngày.

Quên, em chưa kể cho anh nghe chuyện này. Lý do có được bữa bún bò là bởi bác Đạo đã quyết bán đi bộ ngựa bằng gỗ lim. Hẳn anh còn nhớ bộ ngựa ấy. Thớt gỗ dày cả gang, sáu người khiêng còn vất vả. Người mua bộ ngựa là một chú cán bộ quê ở Diên Khánh tập kết trở về, nay làm việc ở Nha Trang. Chú cán bộ mua bộ ngựa chỉ có hơn hai chục đồng bạc. Bác Đạo trù tính món tiền ấy ăn xèn cũng được gần hai tháng, đủ mua gạo mắm qua ngày.

Em không dám khuyên bác Đạo điều gì. Em và con Bông từ ngày chạy loạn trở về cũng đang sống bám vào bác Đạo. Em vẫn ở trong gian nhà kho phía sau nhà bếp. Gian nhà chật chội nhưng hai mẹ con vẫn còn có chỗ chui ra chui vào tránh mưa nắng.

Tấm phản ở nhà bác Đạo anh có một kỷ niệm, nhớ không? Đêm đầu tiên em đón anh ở ngoài Giã trở về, bác Đạo đã cho anh ngủ trên tấm phản ấy... Em đang mang bầu con Bông. Đêm, em lên đắp tấm chăn mỏng cho anh, nhìn anh nằm co ro trên tấm phản. Vợ chồng lâu ngày không gặp muốn nằm bên nhau tâm sự, đành chịu.


*
*         *

N.T tháng 5

Dấu yêu ạ!

Có chị Ba Hiệp buôn cá ở chợ Mới đi ra ngoài Phú Yên về báo tin cho em hay. Bây giờ em biết được chính xác chồng mình vẫn an lành. Anh vẫn khỏe mạnh. Thế là tốt lắm rồi. Nói như cha em: ơn Chúa! Còn nói như mẹ em ngày bà còn sống: Lạy Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn đã phù hộ cho chồng con, cho cả gia đình con tai qua nạn khỏi trong cơn hoạn nạn này!

Bác Đạo cũng mừng biết tin anh Đào vẫn ổn. Anh chỉ là sĩ quan huấn luyện, những năm trong quân ngũ làm việc bàn giấy. Nhưng vì anh Đào là sỹ quan được đào tạo trong trường Thủ Đức, ăn lương cấp úy hẳn là quan trọng nên việc học tập sẽ kéo dài. Còn chồng Ly, phức tạp hơn. Nghe nói trong những ngày nó chạy vô Sài Gòn cùng với một tiểu đoàn lính từ Nha Trang được bổ sung cho đơn vị làm nhiệm vụ tử thủ Đô thành nên Hiền phải đưa đi xa. Đến nay chưa có tin tức gì. Ôi trời, quân lính ông Thiệu dù có ở quân đoàn nào, chủ lực hay địa phương quân, lính dù, thủy quân lục chiến, biệt động... tử thủ hay không tử thủ cũng đều thua trận. Và bây giờ anh nào cũng phải ra trình diện đầu thú, đi học tập, cải tạo... Chính sách của Mặt trận là như vậy... Anh à, em đã thấy có người được về, phần đông là lính địa phương, không có chức vụ gì, không gây tội ác... Nhiều người đồn đoán rằng các cấp chỉ huy, sĩ quan ăn lương sẽ phải đi học tập lâu hơn. Em nghe tin anh ở ngoài trại Ngân Điền, một vùng rừng nào đấy ở miền tây Phú Yên, cũng gần anh nhỉ. Từ đây ra Phú Yên chỉ cần vượt qua đèo Cả là tới. Có điều kiện và được chính quyền cho phép em sẽ ra thăm anh. Chị Hiệp cũng nói rằng chị ấy sớm ra được gặp chồng là nhờ có ông bác ruột là bộ đội ở trên núi xin cho. Chị Hiệp kể: Các anh sống ở trại cải tạo chẳng khác nào như bộ đội. Hằng ngày phải vào rừng cắt tranh, chặt gỗ làm nhà cửa để ở. Cũng chia ra thành từng đội. Đội đi cuốc đất, đội nấu ăn, đội đi trồng sắn, trồng bắp, trồng rau... Gạo có chính phủ cấp, nghe bảo mỗi người được 13 kí
. “Có thật không anh?”. Hằng ngày người sống trong trại có buổi phải học chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng, có buổi đi làm theo kẻng. Còn nghe chị Hiệp nói, buổi sáng cứ 5 giờ kẻng khua vang, mấy anh và mấy ông cán bộ quản giáo đều trở dậy hò nhau tập thể dục. Rồi ăn sáng, đi làm. Chỉ tội không có tiền. Mà có tiền muốn ăn uống gì ở trong rừng cách xa dân, muốn mua cũng không có.

Thôi, chỉ cần nghe tin anh còn sống và khỏe là em đã mừng rồi.

Chuyện ở nhà, không có gì thay đổi. Thu, em Ly nhờ học y tế cộng đồng, vẫn phục vụ cho nhà thương của Hội giáo Tin Lành ngoài Đồng Đế. Nó vẫn có việc làm, nhưng họ không trả lương. Làm việc thiện cho nhà thờ, các cha lấy tiền đâu trả lương, có cơm ăn hàng ngày đã là tốt rồi. Em Thảo, em Thi đều nghỉ học. Các trường học đã mở cửa trở lại nhưng bác Đạo không muốn cho lũ trẻ đi học ngay vì nhiều lý do. Cơm gạo còn không có đủ ăn, lấy tiền đâu cho các em ăn học. Con Bông nhà mình năm nay bước vào lớp 1. Ở nhà các chị đã dạy cho con biết đọc, biết viết nhưng em vẫn chưa cho con đến trường. Cứ để cho nó nghỉ ở nhà một năm rồi tính sau, đợi tin tức của anh rồi em mới quyết định. Bác Đạo nấu cơm cho mấy chị em ăn ở nhà. Em hằng ngày chạy chợ. Ly, em Thảo nghĩ ra chuyện ở nhà làm chuối nướng, bổ thơm, cóc giao cho em Thi đi bán ở cổng trường tiểu học cho đám con nít kiếm thêm chút tiền để giúp mẹ. Mỗi khi Thi đi bán hàng, con Bông bám theo chị. Hai chị em đứng trước cổng trường chờ đám học trò ra chơi để bán cóc, bán thơm. Ly đã nghĩ ra một nghề mới, nó dạy tiếng Anh cho mấy đứa nhỏ đang học đệ nhị, đệ nhất cấp. Những đứa trẻ này phần lớn là con nhà giàu buôn bán, họ không di tản, vẫn cứ bám lại ở Nha Trang, tiếp tục mở cửa hàng. Nghe nói chính phủ đang chuẩn bị cải tạo các thành phần tiểu thương buôn bán... Nhiều người sợ. Nhưng họ có vàng, tiền của từ trước giấu kỹ. Họ chẳng dính dáng gì tới ngụy quân, ngụy quyền nên vẫn tiếp tục buôn bán, đời sống ổn định. Có người trở nên giàu có nhờ bán hàng quý hiếm còn cất giấu được cho mấy chú cán bộ, bộ đội mang về quê, đem ra Bắc. Anh à, thời bây giờ các thầy giáo, cô giáo chả mấy ai còn gọi họ là giáo sư đâu nghe! Tiếng thầy cô nghe bình dân hơn, phải không? Còn cấp tiểu học gọi là cấp 1. Đệ nhị là cấp 2. Đệ nhất là cấp 3.

Em hằng ngày ra chợ Đầm, bán hàng dưa mắm. Cái nhà tròn ở giữa chợ Đầm nức tiếng Nha Trang, đám lính ngụy rút chạy phá tanh bành, đốt trụi. Chính quyền cách mạng đang cho tu sửa lại. Chợ lại nhóm họp đông dần. Hóa ra món dưa chua, món mắm nêm em bán chung với một chị bạn có nhiều ngày đắt hàng. Cái món ăn dân dã tầm thường, tưởng ít người sài nhưng mấy chú bộ đội, mấy bà mấy cô đi tập kết về lại thích ăn. Họ bảo ngoài tê dưa cũng có nhưng “mần chi có mắm nêm!”. Bao năm tôi xa quê ăn đủ vị rồi nhưng chỉ thèm món mắm nêm.

Thảo rủ em:

- Cô Hai à, cô kiếm khuôn đổ bánh xèo, bánh bèo giao cho em Thi, bán ở cổng trường, khối đứa ăn.

Con Bông nghe chị Tư nói vậy hét lên:

- Cho em đi bán với!

Thi nạt em:

- Mi con nít biết chi?

Con Bông đáp nhỏn nhẻm:

- Em bưng ghế cho chị. Đứa nào chọc chị em chạy về méc mẹ.

Bác Đạo, em, Ly ngồi nghe đám con nít cãi nhau nhịn cười mà lòng đau xé ruột.

Ly bảo đám trẻ:

- Tụi bay mà đi bán hàng. E ăn hết cả vốn lẫn lời lấy chi mà bán cho khách.

Thi nghe chị nói gạ ngay:

- Nè chị Hai, tụi em bán bánh bèo, bánh hỏi, chị rủ mấy đứa học trò của chị ra ăn. Em bán rẻ cho.

Ly dí ngón tay vào trán cô em gái.

- Mi keo thấy mồ! Bán hàng ham rẻ lấy chi lời mà lấy tiền đong gạo cho mẹ.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM