Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:40:00 am » |
|
BOC SUỜN, thủ đoạn tác chiến được thực hiện bằng cách cơ động lực lượng vào sườn bố trí lực lượng (đội hình chiến đấu) của địch, hiệp đồng tác chiến vói các lực lượng ở chính diện, nhằm hoàn thành nhiệm vụ trận chiến đấu. BS được áp dụng trong tiến công khi đội hình chiến đấu của địch hở sườn, trong trận chiến đấu tao ngộ, khi truy kích, khi đánh trá các cuộc phản kích (phản đột kích) của địch và khi phản kích (phản đột kích) trong phòng ngự. BS có thể kết hợp với vu hồi. BOM, 1) loại vũ khí cơ bản của không quân (x. bom hàng không)-, 2) loại vũ khí để diệt mục tiêu ngầm dưới nước (x. bom chìm); 3) loại đạn mảnh - phá bắn từ súng phóng bom của QĐND VN dùng trong KCCP (x. bom phóng); 4) vũ khí chế tạo bằng phương pháp thủ công dùng vào việc phá hoại hay khủng bố. VN thường dùng dưới dạng lượng nổ trang bị cho đặc công, biệt động... BOM A nh BOM NGUYÊN TỬ BOM BA CÀNG, vũ khí chống tăng cầm tay, phần nổ có dạng hình nón. đáy có ba càng ngắn ở phía trước và cán dài ở phía sau (bằng tre, gỗ), gắn ngòi chạm nổ, hoạt động theo hiệu ứng nổ lõm. Khi chiến đấu, người sử dụng cầm cán bom đâm thẳng ba càng vào mục tiêu, bom nổ diệt mục tiêu. VN thu được BBC do QĐ Nhật sản xuất và các chiến sĩ cảm tử quăn đã dùng diệt xe tăng Pháp trong thời kì đầu KCCP (1946-47) BOM BAY, tên thường gọi để chỉ các loại tên lửa có điều khiển V-1 (tên lửa có cánh) và V-2 (tên lửa đường đạn) do Đức chế tạo và sử dụng trong CTTG-II. Tuy độ chính xác chưa cao, hiệu quả chiến đấu thấp nhưng đây là bước tiên bộ lớn về phát triển hệ vũ khí tên lửa. BOM BI, bom hàng không, có phần tử sát thương là các viên bi. Gồm: vỏ kim loại đúc lẫn các viên bi (bằng thép, chất dẻo), thuốc nổ, ngòi nổ, bộ phận ổn định (cánh, gân, đuôi). Khối lượng của các loại BB đã dùng trong chiến tranh xâm lược VN thường là 0,42-l,15kg vói 250-380 viên bi, đường kính viên bi 5,6-6,5mm, bán kính sát thương 10-20m. Theo hình dạng, có các loại BB: quả dứa, quả cam, quả ổi. Theo thời gian hoạt động, có các loại BB: nổ ngay, nổ chậm. BB được xếp trong các bó ống phóng (6-19 ống, mỗi ống chứa 18-25 quả, tùy theo từng loại) hoặc các bom mẹ (mỗi bom mẹ chứa 200-640 quả, tùy loại) được phóng, thả xuống mục tiêu từ khí cụ bay. BOM BƯỚM, bom chùm dạng thùng chứa dùng để rải mìn bướm xuống mục tiêu thành từng dải rộng và dài. BB có 2 ngăn với 40 ống chứa, mỗi ống có 12 kẹp mìn, mỗi kẹp có 4 quà mìn bướm (vì mìn có dạng cánh bướm). Toàn bộ thùng chứa 1.920 mìn bướm. Nguyên lí hoạt động: ở thời điểm phóng (thả) bom khỏi máy bay, vỏ bom được tách ra và thuốc phóng ở đáy ống chứa mìn cháy, các kẹp mìn dược phóng ra và tự mờ hất mìn xuống khu vực mục tiêu. QĐ Mĩ đã sử dụng BB (SUU-38) ở VN, Apganixtan (xt mìn lá). BOM CACBON nh BOM MỀM BOM CATXET x. BOM MẸ
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:42:04 am » |
|
BOM CHÁY, bom hàng không sử dụng chất cháy làm phương tiện sát thương mục tiêu. Cỡ 0,5-500kg, thân mỏng và được nhồi hỗn hợp nhiệt nhôm, phôtpho, napan hoặc các chất dể cháy (xăng, dầu hỏa, ben- zen, toluen...) dưới dạng keo hoặc bột nhão. Khi bom nổ, các hợp chất cháy bám dính vào bề mặt của mục tiêu và cháy với ôxi không khí tạo ra nhiệt độ 1.000-3.000°c. BOM CHÂN KHÔNG, bom chùm dạng catxet, kiểu nổ xon khí dùng để phá các công trình kiến trúc trên mặt đất, diệt sinh lực đối phương trong hầm trú ẩn và công sự, phát quang một khu vực địa hình giới hạn. Có vỏ thép mỏng, khối lượng 250- 500kg, lượng nhiên liệu chiếm 70%. Thông thường bom mẹ chứa 3 quả bom con. Khi bom mẹ nổ, tách đôi vỏ ở trên không và hất các quả bom con xuống khu vực mục tiêu. Các loại BCK điển hình: CBU-55, CBU-55B (Mĩ); FAACB (TQ); ODAB-500PM (Nga)... Trong chiến tranh xâm lược VN, QĐ Mĩ đã dùng BCK CBU-55 ở Quảng Trị (1972) với mục đích dọn bãi cho máy bay trực thăng đổ bộ, tiêu diệt sinh lực... Cg bom phát quang. BOM CHÌM, bom để diệt các mục tiêu ngầm dưới nước (tàu ngầm dang lặn, thủy lôi neo, người nhái...). Có: BC hàng không (được thả từ các khí cụ bay), BC hải quân (được phóng, thả từ tàu chiến). BC hải quân chia ra: BC phản lực (có động cơ, được bắn từ thiết bị phóng tương tự như đạn phản lực) và BC thường (được bắn từ súng phóng bom khí động hoặc được thà bằng thiết bị thả bom ở phía đuôi tàu). BC có thể chứa lượng nổ thường hoặc hạt nhân, được lắp ngòi nổ tiếp xúc (gây nổ khi BC va vào mục tiêu dưới nước), ngòi nổ không tiếp xúc (gây nổ khi BC đi qua gần mục tiêu, dưới tác động các trường vật lí của tàu, như: âm thanh, thủy động, từ trường...), ngòi nổ thủy tĩnh (gây nổ khi BC chìm tới một độ sâu định trước) hay ngòi nổ hẹn giờ (gây nổ sau một khoảng thời gian hẹn trước bằng cơ cấu đồng hồ hay liều cháy chậm sau khi chìm xuống nước). BC được sử dụng lần đầu tiên trong CTTG-I (1915), hiện có trong trang bị của hải quân VN và hải quân nhiều nước như là một phương tiện chống ngầm hiệu quả. BOM CHỐNG NGẦM, bom hàng không chuyên dùng diệt tàu ngầm. Cấu tạo giống bom phá, phần đầu có nhiều dạng làm giảm thìa lia khi tiếp nước. BCN cỡ nhỏ lắp ngòi chạm nổ, làm việc khi bom rơi trúng tàu ngầm. BCN cỡ lớn lắp ngòi theo chương trình (hẹn giờ, thủy tĩnh) gây nổ bom ở độ sâu nhất định hoặc ngòi không tiếp xúc, gây nổ bom khi khoảng cách giữa BCN và mục tiêu nhỏ hơn bán kính hoạt động của ngòi. BOM CHỐNG TĂNG, bom hàng không dùng hiệu ứng nổ lõm diệt xe tăng và mục tiêu bọc giáp khác (pháo tự hành, xe thiết giáp, bể chứa nhiên liệu...). BCT hiện đại có khối lượng 0,5-5kg, lắp ngòi chạm nổ quân tính hoặc áp điện. Được rải trực tiếp từ khí cụ bay hoặc bằng bom chùm (bom mẹ). Vd: trong chiến tranh xâm lược VN, quân Mĩ dùng bom chùm MK-20 Mod 0 chứa 240 BCT kiếu MK- 118 Mod 0. Mỗi BCTMK- 118 có đường kính 0,053m, dài 0,lm, chứa 0,18kg thuốc nổ, phễu lót bằng đồng đỏ có góc ở đỉnh 42°, có thể xuyên thủng vỏ thép dày 70-120mm, mảnh thân bom có thể sát thương sinh lực ở gần.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:43:18 am » |
|
BOM CHÙM, gọi chung các loại bom (mìn) hàng không cùng với kết cấu chứa (bom mẹ, bó ống phóng, thùng chứa...) hoặc thiết bị liên kết thành chùm. Tùy theo kết cấu, việc tách những bom con có thể thực hiện ở thời điểm phóng (thả) khỏi khí cụ bay hoặc ở trên không bằng ngòi nổ (hẹn giờ, không tiếp xúc...). Những bom con có thể là bom bi, bom chống tăng, bom sát thương, bom cháy, bom nổ xon khí... Bom mẹ nổ, tách đôi vỏ ở trên không, rải các bom con xuống một khu vực rộng. Bó ống phóng chứa bom con xếp theo thứ tự và phóng chúng xuống mục tiêu thành từng dải dài và hẹp. Thùng chứa thường đựng mìn, rải xuống mục tiêu thành tùng dải rộng và dài. Trong chiến tranh xâm lược VN, Mĩ đã dùng các BC: bom mẹ SUU-30/B (chứa 550-640 bom bi hình cầu nổ ngay và nổ chậm), MK-20 (chứa 240 bom chống tăng MK-118), bó ống phóng SUU-7A (loại 19 ống chứa 360 bom bi quả dứa, loại 6 ống chứa 144 bom quả cam), thùng chứa mìn SUU-38 (chứa 540 quả mìn vướng nổ. hoặc 1.920 mìn tai hồng)... BOM CÓ ĐIỂU KHIỂN, bom hàng không có khả năng bám mục tiêu và điều khiển quỹ đạo bay, để diệt mục tiêu với độ chính xác cao. Gồm: thân, thuốc nổ, ngòi nổ. bộ phận ổn định, cánh lái (một số loại có cánh nâng), hệ thống điều khiển... Dài 3,3-4,2m, đường kính 0,16-0,61m, sải cánh 0,82- 2,4m, khối lượng 227-1.400kg, mang 87-900kg thuốc nổ, tầm bay 10-70km, sai số trúng đích 5-10m, có thể ném từ các độ cao khác nhau (từ rất thấp đến cao). Theo thiết bị động lực, có: BCĐK kiểu liệng (không có động cơ, chỉ dùng cánh lái khí động để hiệu chỉnh đường bay), BCĐK có động cơ (gần giống tên lửa điều khiển kiểu không đối đất); theo hệ thống điều khiển, có: BCĐK tự dẫn (bom vô tuyến truyền hình, bom lade...), BCĐK từ xa (theo lệnh vô tuyến điện, theo hiệu độ xa, theo hệ thống dẫn đường vệ tinh...); theo đạc điểm cấu tạo, có: BCĐK có kết cấu đặc biệt (vd: bom Oalai: bom GBU-17, GBU-28 là loại xuyên có đầu nổ kép kiểu lõm - phá); BCĐK cải tiến từ các bom phá thường kiểu MK-82. 83, 84, M118 (vd: loại thể hệ 1: GBU-8, 9, 10, 11, 12; thế hệ 2: GBU-10 cải tiến, 12 cải tiến, 16; thế hệ 3: GBU-22, 23, 24...); BCĐK có kết cấu mô đun (vd; GBU-15, 20...). BCĐK có uy lực lớn, độ chính xác cao (hơn bom thường hàng trăm lần), giá thành rẻ hơn tên lửa có điều khiển, lượng sử dụng ít mà vẫn đạt kết quả cao, giữ được bí mật bất ngờ, khó phát hiện và đối phó khi sừ dụng nhất là về ban dêm, giảm tổn thất máy bay mang, được coi là một trong những vũ khí công nghệ cao tối ưu... BCĐK được nghiên cứu chế tạo ở Mĩ, LX... từ những năm 60 tk 20, đưa vào trang bị dầu tiên 1965-66 (Oalai thế hệ 1), các loại khác đưa vào trang bị từ 1971 đến 1992. Trong chiến tranh xâm lược VN, không quân Mĩ đã dùng BCĐK dẫn bằng lade đánh cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa). Được dùng rộng rãi trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999), chiến tranh Apganixtan (2001). Cg bom thông minh hay bom tinh khôn. BOM ĐIỆN TỪ, bom chuyên dụng để đánh phá (chủ yếu) các thiết bị diện, điện tử của hệ thống chỉ huy và hệ thống điều khiển vũ khí của đối phương. Bom nổ tạo ra các trường điện từ cường độ lớn trong thời gian rất ngắn, gây ra trường điện từ cực mạnh quanh điểm nổ và điện áp tức thời hàng ngàn von tác động vào các linh kiện bán dẫn, vi mạch, dây dẫn... của các thiết bị điện và điện tử, phá hủy các khí tài vô tuyến diện tử, máy tính, thiết bị quang điện, truyền hình... Có 2 loại: BĐT tần số thấp và BĐT siêu cao tần (BĐT siêu cao tần có xu hướng phát triển hơn vì có tác dụng cả ở dải tần số thấp). BĐT đang ở giai đoạn thử nghiệm, chưa được hoàn thiện và sử dụng rộng rãi; được QĐ Mĩ trang bị cho máy bay ném bom tàng hình B-2 và sử dụng lần đầu tiên trong chiến tranh Nam Tư (1999). Cg bom E.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:45:17 am » |
|
BOM ĐIỂU KHIỂN TỪ VỆ TINH, bom có điều khiển được lắp máy thu tín hiệu từ hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS) để dẫn bom chính xác đến mục tiêu. Thường có khối lượng từ 450kg đến 900kg, được thả ở cự li 15-25km, có thể đạt độ chính xác tới 3m và sử dụng được trong mọi điều kiện thời tiết (mày, mưa, sương mù, khói...). Được trang bị cho các loại máy bay chiến thuật và chiến lược của không quân Mĩ. Máy bay ném bom B-2 của Mĩ lần đầu tiên đã sử dụng loại bom mới này để đánh phá nhiều mục tiêu kiên cố ở Nam Tư (1999). Được tiếp tục hoàn thiện và trang bị cho không quân Mĩ từ 2002. BOM E nh BOM ĐIỆN TỪ BOM GRAPHIT nh BOM MỂM BOM H nh BOM KHINH KHÍ BOM HÀNG KHÔNG, bom được ném (thả) từ khí cụ bay. Gồm: vỏ, một hoặc một số ngòi nổ (được lắp trước khi sử dụng), chất nhồi nạp (thuốc nổ, chất cháy, chất phát khói...), bộ phận ổn định (có thể có dù để ném từ độ cao thấp), ở bom có điều khiển còn có khoang điều khiển và cánh lái. Theo công dụng có hai loại: chính và phụ. Loại công dụng chính dùng diệt mục tiêu trên mặt đất, trên mặt nước và có: bom phá, bom mảnh, bom mảnh - phá, bom cháy, bom cháy - phá, bom hạt nhân, bom hóa học, bom napan, bom chống tăng, bom chống ngầm, bom xuyên, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trường, bom chùm (bom catxet), bom có điều khiển, bom phản lực, bom xon khí...; loại công dụng phụ để giải quyết các nhiệm vụ riêng, có: bom chiếu sáng, bom truyền đơn, bom khói, bom tạo giả, bom tín hiệu - định hướng, bom tập ném, bom chụp ảnh (nhồi chất phát sáng tạo ánh chớp để chụp ảnh từ trên không)... Cỡ bom (khối lượng tính bằng kilôgam) từ 0,5 đến 20.000kg. Trong chiến tranh VN, Mĩ đã dùng gần 8 triệu tấn bom trong đó có nhiều loại BHK mới sừ dụng lần đầu (bom bi, CBU-55, Oalai...). Cg bom không quân.  BOM HẠT NHÂN, bom hàng không chứa lượng nổ hạt nhân. BHN hiện nay có khối lượng 100-20.000kg với đương lượng TNT từ hàng chục tới hàng triệu tấn. Có thể ném từ độ cao lớn và nhỏ (có dù để bảo đảm an toàn cho máy bay mang); phương tiện mang BHN là các máy bay: tiêm kích, tiêm kích - bom, ném bom. Theo bản chất phản ứng hạt nhân và đặc điểm hoạt động, có: bom nguyên tử, bom khinh khi và bom nơtrôn. BOM HÓA HỌC, bom hàng không chứa chất độc hóa học để gây nhiễm độc địa hình, vũ khí, trang bị KTQS và sát thương sinh lực đối phương. BHH được nạp các chất hóa học khác nhau và lắp ngòi nổ hẹn giờ, ngòi nổ không tiếp xúc (gây nổ ở độ cao 50m hoặc 200m). Hiện nay phổ biến là BHH có vỏ bằng chất dẻo, khối lượng 0,4-0,9kg, không có ngòi nổ, tự vỡ ra khi chạm đất. BOM HƠI NGẠT, bom hóa học chứa các loại khí độc chủ yếu để sát thương sinh lực đối phương. Hơi độc làm nhiễm độc người, kích thích chảy nước mắt, rát họng, ho, có thể tấy đỏ da, ngứa ngáy, rát bỏng... (như chất CS), kích thích hệ thần kinh trung ương gây suy nhược thần kinh, chóng mặt, nôn... (như chất BZ). Đã được QĐ Mĩ sử dụng trong chiến tranh VN.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:47:13 am » |
|
BOM KHINH KHÍ (bom H). bom hạt nhân tác dụng hủy diệt dựa trên phản ứng tổng hợp các hạt nhân nhẹ thành hạt nhân nặng hơn, diễn ra ở nhiệt độ cao hàng chục triệu độ, sinh ra một năng lượng lớn gấp hàng chục lần so với bom nguyên tử. BKK đầu tiên sử dụng phản ứng tổng hợp các hạt nhân triti và đơteri thành hạt nhân hêli. có hình dáng như một cái phích nước, cao 6m, đường kính l,8m, nặng 65t. Được Mĩ nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm thành công 1.11.1952 tại đảo Elugelap trên Thái Bình Dương. BOM KHÓI, bom hàng không dùng tạo màn khói ngụy trang hoặc chỉ điểm mục tiêu cho máy bay, pháo binh. Thường được nhồi phôtpho trắng và một ít thuốc nổ. Khi bom nổ, chất phôtpho trắng văng ra và cháy tạo thành đám khói đậm đặc. BOM KHÔNG QUÂN nh BOM HÀNG KHÔNG BOM LADE, bom có điều khiển tự dẫn bằng tia lade để diệt mục tiêu với độ chính xác cao. BL được điều khiển theo nguyên tắc bán chủ động, nhận nguồn năng lượng lade phản xạ từ các mục tiêu do thiết bị chiếu lade từ máy bay mang thực hiện và tạo lệnh thay đổi quỹ đạo bay dẫn bom tới mục tiêu. Được Mĩ nghiên cứu, chế tạo từ những năm 60 tk 20; đưa vào trang bị từ 1965. Trong chiến tranh xâm lược VN, không quân Mĩ đá dùng BL đánh cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa, 1972). Được dùng rộng rãi trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), chiến tranh Nam Tư (1999). BOM MẸ, bom có vỏ mỏng, bên trong chứa nhiều bom con cỡ nhò như bom bi hình cầu nổ ngay, nổ chậm, bom mảnh hình cầu, bom bi quả dứa, bom xuyên chống tăng... BM thường có khối lượng 250 hoặc 500kg. Khi thả khỏi máy bay, ngòi nổ của BM được kích nổ trên không, tách đôi vỏ bom và hất toàn bộ bom con ra ngoài, rải xuống một diện tích rộng. Trong chiến hanh xâm lược VN, QĐ Mĩ sử dụng nhiều loại BM như CBU- 30B chứa 550-640 bom bi hình cầu nổ ngay và nổ chậm, MK- 20 chứa 240 bom chống tăng MK-118... Cg bom catxet. BOM MỂM, bom chuyên dụng để đánh phá mạng lưới điện của đối phương không sát thương sinh lực. Cấu tạo gồm: bom mẹ mang nhiều bom con (tới 200 quả); mỗi bom con bên trong chứa nhiều sợi graphit rất mảnh, có độ dài vài mét, có dù hãm để làm bom rơi chậm lại tới độ cao nhất định mới phát nổ, tung ra không gian hàng trăm ngàn sợi graphit tạo thành đám mây dày đặc bám vào các đường dây điện, trạm biến thế... gây đoản mạch, phá hỏng các thiết bị và hệ thống điện trên khu vực lãnh thổ có xung đột; gãy chập mạch các anten phát sóng công suất lớn. BM loại BLU-114/B của Mĩ được trang bị cho máy bay tàng hình F-117A và sử dụng lần đầu ở chiến trường Nam Tư (1999). Trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991) QĐ Mĩ cũng đã sử dụng loại vũ khí tương tự để đánh phá lưới điện của Irắc. Cg bom graphit hoặc bom cacbon. BOM NAPAN, bom hàng không nhồi chất napan. dùng gây cháy, bỏng. BN xuất hiện đầu tiên ở Mĩ 1942. Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược VN quân Pháp và Mĩ đều sử dụng rộng rãi BN đánh vào các mục tiêu QS, kinh tế và thường dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:52:08 am » |
|
BOM NGUYÊN TỬ, dạng đầu tiên của bom hạt nhân, tác dụng dựa trên phản ứng phân chia hạt nhân. Được Mĩ chế tạo và thử nghiệm thành công 16.7.1945. Hai quả đầu tiên dùng trong CTTG-II sử dụng U235 và Pu239 có đương lượng nổ 20kt, không quân Mĩ ném hủy diệt hai thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật (1945), làm chết hàng chục vạn người và hàng chục vạn người khác bị các loại bệnh phóng xạ (ung thư, máu trắng, quái thai, vô sinh...). Cg bomA. BOM NHIÊN LIỆU - KHÔNG KHÍ X. CBU-55 BOM NỔ CHẬM, bom hàng không lắp ngòi nổ định giờ để nổ vào thời điểm được ấn định sau khi thả xuống vùng mục tiêu. Trong chiến tranh xám lược VN, không quân Pháp, Mĩ sử dụng rộng rãi loại bom này để đánh phá ngăn chặn giao thông, phổ biến là các kiểu bom phá cỡ 500-750 bảng (227- 340kg), lắp ngòi nổ chậm MK-346 Mod 0 (định giờ bằng đồng hồ) hoặc ngòi nổ chậm M124A1 (định giờ bằng hóa học) có thời gian chờ nổ từ 1 giờ đến 6 ngày đêm. BOM NOTRÔN, bom hạt nhân cỡ nhỏ khi nổ phần năng lượng biến thành bức xạ nơtrôn lớn hơn hàng chục lần so với bom hạt nhân khác. Tác dụng sát thương của BN chủ yếu do bức xạ xuyên của các nơtron gây ra, còn sóng xung kích và bức xạ quang đóng vai trò thứ yếu, nên BN chủ yếu để tiêu diệt sinh lực, ít phá hủy phương tiện vật chất, được phương Tây gọi là “bom sạch”. BN được Mĩ nghiên cứu từ thập kỉ 60 tk 20, đưa vào sản xuất hàng loạt từ 1981. BN được coi là tiền thân của vũ khí năng lượng định hướng (xt vũ khí hạt nhàn). BOM PHÁ, bom hàng không dùng diệt mục tiêu bằng sóng xung kích và mảnh của thân bom, loại bom phổ biến nhất. Cỡ 50-2.000kg (cá biệt có loại đến 10.000-20.000kg), có vỏ dày, lượng thuốc nổ chiếm 40-50%, dùng ngòi chạm nổ tức thì (với mục tiêu ở trên mặt đất) và ngòi nổ chậm (với mục tiêu ở sâu trong lòng đất). Có: BP thường, BP mảnh. BP cháy, BP xuyên. 1 2 3 4 5 1 6 1. ngòi nổ; 2. kíp nổ; 3. thân; 4. hệ thống treo 5. thuốc nổ; 6. bộ phận ổn định. BOM PHẢN LỰC, bom được lắp thêm động cơ phản lực để tăng tốc độ của bom, đẩy bom bay theo quỹ đạo nhất định để tiêu diệt mục tiêu chính xác hơn. Các bộ phận chính: phần chiến đấu, phần động cơ phản lực nhiên liệu rắn và bộ phận ổn định. Có: BPL hàng không và BPL hải quân. Được phóng (thả) từ các thiết bị phóng trên máy bay hoặc tàu chiến. BPL hiện đại có cỡ 203-375mm, khối lượng toàn bộ 120-250kg, khối lượng thuốc nổ 40-100kg, tầm phóng tới 4.000m, ổn định đường bay nhờ các thiết bị ổn định, dùng ngòi nổ tiếp xúc hoặc không tiếp xúc. 1, ngòi nổ; 2. kíp nổ; 3. thân: 4. hê thống treo; 5. thuốc nổ; 6. bộ phận ổn định; 7. thuốc phóng; 8. loa phụt; 9. đóng cơ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:57:16 am » |
|
BOM PHÁT QUANG nh BOM CHÂN KHÔNG BOM PHÓNG, đạn mảnh - phá, cỡ đạn lớn hơn cỡ nòng, gồm: đầu đạn (đúc bằng gang, khối lượng 10-12kg, bên trong nhồi 2kg thuốc nổ), có 4 cánh đuôi và vòng cánh đuôi bằng thép, chuôi gỗ bịt sắt (khi bắn chỉ có phần chuôi gỗ cắm vào nòng súng phóng bom); điếm hỏa bằng điện; tầm bắn hơn 400m; do quân giới VN chế tạo. BP còn được chế tạo bằng cách cải tiến từ đầu đạn pháo (cỡ 75- 105mm) thu được của địch. BP được sử dụng nhiều khi công đổn trong KCCP và thời kì đầu KCCM ở Đông Nam Bộ. BOM SÁT THƯƠNG, bom hàng không dùng diệt mục tiêu lộ hoặc được bọc giáp yếu bằng mảnh hoặc các viên bi khi nổ. Có: bom mảnh, bom mảnh - phá, bom bi (quả dứa, quả cam, quả ổi). Bom bi và bom mảnh cỡ 0,5-100kg dùng để rải, phóng hoặc thả từng chùm xuống mục tiêu; bom mảnh - phá cỡ 100-150kg, lượng thuốc nổ chiếm 14-15%, thân dày có thể khía sẵn rãnh để tạo mảnh cần thiết. Dùng ngòi chạm nổ tức thì hoặc ngòi không tiếp xúc gây nổ trên không. 1. cốt ngòi; 2. trạm nổ; 3. thân; 4. đai có các tai treo; 5. lượng nổ; 6. bộ phận ổn định. BOM THẢ nh BOM HÀNG KHÔNG BOM THÔNG MINH x. BOM CÓ ĐIỂU KHIỂN BOM TINH KHÔN X. BOM CÓ ĐIỀU KHIỂN BOM TỪ TRƯỜNG X. MÌN TỪ TRƯỜNG BOM VÔ TUYẾN TRUYỀN HÌNH. bom có điều khiển tự dẫn bằng vô tuyến truyền hình để tiêu diệt mục tiêu với độ chính xác cao. BVTTH được điều khiển theo nguyên tắc nhận biết mục tiêu bằng ảnh và tọa độ định sẵn, so sánh chúng với hình ảnh và toạ độ mục tiêu trong khi bay, tạo lệnh thay đổi quỹ đạo bay dẫn bom tới mục tiêu. Được Mĩ nghiên cứu, chế tạo từ những năm 60 tk 20; đưa vào trang bị từ 1966 và đã sử dụng trong chiến tranh xâm lược VN (xt Oalai). BOM XUYÊN, bom hàng không dùng diệt mục tiêu bọc thép (xe tăng, xe thiết giáp, tàu bọc thép...) và phá hủy những công trình kiên cố (hầm sâu, địa đạo, công trình bê tông cốt thép) bằng cách xuyên vào mục tiêu và nổ. Đầu và thân BX rất cứng để xuyên sâu vào mục tiêu rồi nổ bằng ngòi nổ chậm. BX hiện đại có thể có điều khiển và đầu nổ kép. Khi trúng mục tiêu, lượng nổ thứ nhất (loại lõm) nổ, tạo ra lỗ sâu cho bom chui vào, sau đó ngòi nổ chậm hoạt động kích nổ bom. BX có thể phá hủy những mục tiêu kiên cố có lớp bẽ tông dày 4,5m hoặc nằm sâu dưới đất 7,5m. BOMBAY (Mumbai), thành phố cảng, trung tâm công nghiệp kinh tế và hành chính lớn, căn cứ hải quân chính của Ấn Độ, ở bờ biển phía tây bán đảo Ấn Độ. Ds 17,5 triệu người (2001). Có các ngành công nghiệp: bông, giấy, chế tạo máy, gia công kim loại, hóa dầu, hóa chất, công nghiệp nhẹ, thực phẩm, chế biến gỗ, điện ảnh, trường đại học tổng hợp. Gần B có nhà máy điện nguyên tử. Trong cảng có gần 50 cẩu cảng, chiều dài toàn bộ các cầu cảng 8km, độ sâu 10-12m. Có 5 đốc cạn, 4 đà tàu, triền có mái che. Lượng vận chuyển hàng 18 triệu tấn/năm. BOONGKE, lô cốt ngầm, kiên cố, có lỗ châu mai bắn quét sát mặt đất. Ưu điểm: giảm xác suất phá hoại của hỏa lực đối phương, tăng tính bất ngờ và hiệu quả vũ khí từ trong B bắn ra. Trong cuộc chiến tranh xâm lược VN (1945-54), QĐ Pháp đã xây dựng nhiều B để bảo vệ các vị trí, khu vực xung yếu và khống chế các tuyến giao thông huyết mạch. BÔ CÔ, làng bén Sông Đáy, thuộc h. Vọng Doanh, lộ Họàng Giang; sau đổi thành xã Hiếu cổ, nay thuộc xã Yên Phong, h. Ý Yên, t. Nam Định. 30.12.1408 trong cuộc khới nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng (1407-13), tại bến sông BC (sau gọi là Bến Hiếu) diễn ra trận nghĩa quân Trần Ngỗi do Đặng Tất chỉ huy đại phá quân Minh, buộc Mộc Thạnh cùng tàn quân rút chạy về cố thủ trong thành cổ Lộng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 11:59:01 am » |
|
BỒ ẢI (Bù Ải), núi bên bờ Sông Lam, thuộc xã Đức Sơn, h. Anh Sơn, t. Nghệ An. Địa thế hiểm yếu, có khe Ải đổ ra Sông Lam. 1424 tại đây Lẽ Lợi đã tổ chức trận địa phục kích quân Minh, chém tướng giặc Hoàng Thành, bắt sống Đô Ti, Chu Kiệt cùng hàng ngàn quân Minh. BỒ ĐÀO NHA (Cộng hòa Bồ Đào Nha; Portugal, República Portuguesa, A. Portugal, Portuguese Republic), quốc gia ở tây nam châu Âu, ở phần tây bán đảo Pirênê, gồm cả các quần đảo Axoret. Manđêira ở Đại Tây Dương. Dt 92.345km2; ds 10,1 triệu người (2001); 99% người Bồ Đào Nha. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Bồ Đào Nha. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa (97%). Thù đô: Lixbon. Chính thể cộng hòa, đứng đầu nhà nước là tổng thống kiêm tổng tư lệnh QĐ. Cơ quan lập pháp: quốc hội hai viên. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Hai quần đảo Mađâyra và Adoret theo chế độ tự trị. Địa hình: miền bắc là vùng đồi núi thấp và trung bình; gần trung tâm là dãy núi Extrela, đỉnh cao nhất 1.991m; phía nam là bình nguyên và đồi núi thấp; ven biển là vùng đất thấp. Khí hậu á nhiệt đới Địa Trung Hải. Lượng mưa trung bình hàng năm 400-800mm ở vùng ven biển, 1.200-2.400mm ở vùng núi. Sông chính: Tagiu dài 1.007km. Nước công - nông nghiệp. Các ngành công nghiệp chính: luyện kim, hóa chất, đóng và sứa chữa tàu biên... Nông nghiệp: trồng nho, ô liu, ngũ cốc, cây ăn quả; chăn nuôi bò, cừu, lợn, đánh cá. Hệ thống giao thông phát triển; cảng biển lớn: Lixbon, Pooctô, Xetuban. Du lịch phát triển, có năm doanh thu đạt 53 tỉ USD. GDP 109,8 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 10.950 USD. Thành viên LHQ (14.12.1955), Liên minh châu Âu (EU), NATO. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 7.1975. LLVT: lực lượng thường trực 43.600 người (lục quân 25.400. hải quân 10.800, không quân 7.400), lực lượng dự bị 210.930. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 187 xe tăng, 353 xe thiết giáp chở quân, 318 pháo mặt đất, 209 súng cối, 95 pháo phòng không, 51 máy bay chiến đấu, 2 tàu ngẩm, 6 tàu frigat, 28 tàu tuần tiễu... Căn cứ QS: Lixbon. Ngân sách quốc phòng 1,3 tỉ USD (2002). BỒ ĐIỀN (Kẻ Bồ), làng thuộc quận Cửu Chân, sau là xã Phú Điển (nay thuộc xã Triệu Lộc, h. Hậu Lộc, t. Thanh Hóa), bắc tp Thanh Hóa 15km. ở đây có núi BĐ (cg Núi Tùng), nơi Bà Triệu tuẫn tiết sau khi khởi nghĩa chống ách thống trị Đông Ngô thất bại. Trên núi còn lăng mộ và đền thờ Bà (cũng có thuyết nói BĐ chính là quê hương Bà Triệu). BỔ NHÀO CỦA MÁY BAY, thủ đoạn tác chiến của không quân; nhằm giảm độ cao hoặc tăng tốc độ nhanh chóng, tăng độ chính xác khi ngắm bắn mục tiêu trên không hoặc ngắm bắn, ném bom các mục tiêu trên mặt đất (mặt nước), tránh hỏa lực phòng không mặt đất, tránh máy bay tiêm kích đối phương bám đuôi. BNCMB được phân ra: bổ nhào góc nhỏ (góc bổ nhào nhỏ hơn 30°), bổ nhào góc lớn (góc bổ nhào lớn hơn 30°) và bổ nhào thẳng đứng (góc bổ nhào gần bằng 90°). BỔ NHIỆM, quyết định giao chức vụ cho cán bộ QĐ hoặc cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu nhiệm vụ. Người được BN phải có đủ các điều kiện theo quy định của các văn bản pháp quy hiện hành của nhà nước hoặc của QĐ về việc BN. Thẩm quyền BN cán bộ QĐ thực hiện theo Luật sĩ quan QĐND VN và phân cấp quản lí cán bộ của Đảng ủy QS trung ương (trừ những chức vụ thuộc thẩm quyền của chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ). BỔ SUNG CẤP CỨU, tổng hợp các biện pháp kiểm tra và kĩ thuật bổ sung cho cấp cứu đầu tiên nhằm bảo đảm an toàn vận chuyển thương binh, bệnh binh về tuyến sau. Được tiến hành tại các trạm quân y tiểu đoàn. Nội dung gồm: kiểm tra cầm máu (đặc biệt garô); cố định xương gẫy, chống ngạt thở; băng, phòng chống sốc (cho thuốc giảm đau, ủ ấm, bổ sung nước...); khi địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn cho thuốc giải độc, trợ tim, chống nôn, kháng sinh...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 12:01:06 pm » |
|
BỔ SUNG QUÂN SỐ, thêm quân số vào biên chế của đơn vị theo quy định nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Có BSQS lẻ từng người hoặc nhiều người và bổ sung cả một tổ chức (gồm cán bộ, chiến sĩ...). BSQS phải theo đúng kế hoạch được phê duyệt, đúng biểu biên chế, đủ số lượng, đúng chất lượng, đúng chuyên nghiệp QS và đúng thời gian, địa điểm quy định; ưu tiên đơn vị làm nhiệm vụ chủ yếu. BSQS được thực hiện theo quyết định điều động, thủ tục tiến hành, thấm quyền quyết định do BQP quy định.
BỔ SUNG VẬT CHẤT HẬU CẦN, cấp thêm phương tiện vật chất hậu cần theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất hậu cần cho bộ đội. Bao gồm: cấp thêm (số còn thiếu theo quy định); cấp bù (số bị tổn thất, hư hỏng); cấp tiếp số tiêu hao trong ngày, trong đợt chiến đấu, trong một giai đoạn chiến dịch; cấp bổ sung ngoài kế hoạch do phát sinh thêm nhiệm vụ, theo lệnh của người chỉ huy cấp trên.
BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG nh PHÙNG HƯNG
BỐ CHÍNH, châu ở phía nam dãy Hoành Sơn có từ thời Lí. Nguyên là đất của Chămpa. 1070 vua Chămpa thua trận, dâng cho Lí Thánh Tông 3 châu, trong đó có châu BC. Thời Lê thuộc phủ Tân Bình. 1630 chúa Nguyễn chiếm nam Sông Gianh, từ đó hình thành Bắc BC và Nam BC. 1831 đổi Nam BC là Bố Trạch, Bắc BC là Bình Chính, nay là h. Quảng Trạch, t. Quảng Bình.
BỐ CỦNG (Bó Củng), đèo trên QL 4A, tây bắc thị trấn Na Sầm 3km, thuộc địa phận xã Tân Lang, h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn. Dài 5km (km 19-24), độ dốc 10%, địa thế hiểm trở, vách đứng, đường nhiều cua gấp, rừng che phủ. 8.1.1948 trên đoạn BC - Lũng Vài diễn ra trận Tiểu đoàn chủ lực 223 phối hợp với Tiểu đoàn 249 bộ đội địa phương Lạng Sơn phục kích đoàn xe QS Pháp, diệt 2 trung đội, phá húy 4 xe QS, thu 27 súng (x. trận Bố củng - Lũng Vài, 8.1.1948).
BỐ TRÍ CHIẾN DỊCH, bố trí lực lượng để thực hành chiến dịch. Tùy từng loại chiến dịch và điều kiện tác chiến cụ thể BTCD có thể gồm bố trí các lực lượng tác chiến (lực lượng đánh địch trong và ngoài công sự: lực lượng phòng ngự, lực lượng cơ động), các lực lượng chi viện và bảo đảm... các đội dự bị, các cụm pháo binh, tên lửa, phòng không, các lực lượng tác chiến tại chỗ và LLVT địa phương... BTCD phải phù hợp ý định chiến dịch, tạo thế có lợi để sử dụng có hiệu quả tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch, tập trung sức mạnh vào khu vực (hướng) tác chiến chủ yếu và các trận then chốt, có điều kiện chuyển hóa thế bố trí và tăng cường sức chiến đấu trong quá trình chiến dịch, bảo đảm hiệp đồng tốt, chỉ huy liên tục trong suốt quá trình chiến dịch.
BỐ TRÍ CHIẾN LƯỢC, bố trí lực lượng trên các hướng (địa bàn) chiến lược, tạo thế có lợi để tiến hành chiến tranh (kháng chiến) theo ý đồ chiến lược đã định. BTCL phải căn cứ vào tình hình chính trị và các yếu tố liên quan của các bên tham chiến. Trong kháng chiến chống Tống (tk 11) và kháng chiến chống Nguyên - Mông (tk 13), BTCL được tiến hành khi chuẩn bị kháng chiến. Trong khởi nghĩa Lam Sơn. kháng chiến chống Minh (tk 15) và KCCM (1954-75), sau một quá trình dài vừa tác chiến vừa xây dựng và phát triển lực lượng mới thực hiện được BTCL ở thế có lợi để giành thắng lợi hoàn toàn.
BỐ TRÍ HẬU CẨN, triển khai cơ quan, đơn vị hậu cần ở những khu vực thích hợp trong đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) để tiến hành nhiệm vụ hậu cần đạt được chất lượng và hiệu quả cao. BTHC phải phù hợp với quyết tâm chiến đấu (chiến dịch); thuận tiện triển khai và cơ động lực lượng, phương tiện hậu cần; thực hành bảo đảm được kịp thời, liên tục và bí mật; kết hợp với hậu cần khu vực phòng thủ tạo thành thế trận hậu cần liên hoàn vững chắc.
BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG, phân chia và sắp đặt lực lượng vào những vị trí thích hợp trong đội hình, trận địa, hướng, khu vực nhất định, theo yêu cầu, ý định thống nhất để thực hiện nhiệm vụ. BTLL trong tác chiến phải tạo thuận lợi cho ta, gây bất lợi cho địch, tiện chuyển hóa thế trận trong trận chiến đấu, chiến dịch (chiến lược) và trong các hình thức tác chiến hay hình thức hoạt động khác.
BỐ TRÍ MÌN, đặt, rải, chôn một hoặc nhiều quả mìn vào vị trí thích hợp nhằm mục đích đã định. Mìn có thể bố trí từng quả đơn lẻ, hoặc thành cụm mìn, bãi mìn. Có thể BTM bằng tay, bằng phương tiện cơ giới (moóc rải mìn), bằng máy bay...
BỔ TRÍ THẾ TRẬN PHÒNG KHÔNG, triển khai các lực lượng phòng không thành một hệ thống liên hoàn, vững chắc, bảo đảm đánh trả có hiệu quả các đợt tiến công đường không của địch từ mọi hướng, độ cao, nhằm bảo vệ mục tiêu (cụm mục tiêu); gồm: các phương tiện rađa trinh sát, vọng quan sát mắt, các trận địa hỏa lực phòng không (pháo phòng không, tên lửa phòng không), sân bay không quân tiêm kích, hệ thống SCH các cấp, các đơn vị bảo đảm và hệ thống phòng không nhân dân. Khi BTTTPK phải dựa vào thế trận khu vực phòng thủ địa phương và cả nước, thế trận phải vững chắc, bí mật, bất ngờ, nhanh chóng chuyển hóa khi cần thiết và không ngừng được hoàn thiện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2019, 12:02:44 pm » |
|
BỐ TRÍ TRÚ QUÂN, tổ chức sắp xếp lực lượng ở ngoài doanh trại trong một khu vực và thời gian đã xác định. BTTQ do người chỉ huy cấp trên quyết định căn cứ vào: tình hình địch, tình hình dân cư địa phương, thời gian, phương thức trú quân và các điều kiện địa hình, thời tiết. Có BTTQ: trong nhà và ngoài trời. Khi BTTQ phải: triển khai kế hoạch chiến đấu tại chỗ, trực ban sắn sàng chiến đấu, làm công sự ngụy trang, tổ chức tuần tra canh gác, thực hiện nghiêm các quy định trú quân; chú ý bảo đảm bí mật, phân tán và nhanh chóng chuyển sang hành quân hoặc triển khai chiến đấu.
BỘ, bộ tổng tư lệnh hoặc BQP ở VN (gọi tắt). Vd: chủ trương của B; lực lượng trực thuộc B; chủ lực B; theo lệnh B; do B chỉ đạo.
BỘ BINH* (cổ), cơ quan QS cao nhất của nhà nước phong kiến VN và một số nước khác. Có nhiệm vụ tuyển chọn, bổ nhiệm các chức quan võ trong ngạch, chăm lo về hậu cần, bảo đảm vũ khí, thực hiện các hoạt động QS trong nước. Thòi Lí và đầu thời Trần đặt chức thượng thư, nhưng chưa định rõ tên bộ. Từ đời Trần Minh Tông (1314-29) mới đặt BB. Sang thời Lê Sơ, Lê Nghi Dân (1459-60) đặt đủ 6 bộ và Lê Thánh Tông (1460-97) đạt chức binh bộ thượng thư. 1675 quy định rõ chức năng của BB là giữ các việc binh nhung, cấm vệ, xe ngựa, nghi trượng, khí giới và các việc về biên cương trấn thủ, trạm dịch, nơi hiểm yếu, việc khẩn cấp. Thời Nguyễn. BB do một thượng thư phụ trách, có tả, hữu tham tri và tả. hữu thị lang giúp việc. Trong cơ quan BB có 5 bộ phận: Ti võ tuyển, Ti kinh kì, Ti trực tỉnh, Ti khảo công và Binh trực xứ. Nhân viên của BB có lúc lên 70 người, gồm: lang trung, viên ngoại lang; chú sự, tư vụ và nhiều thư lại khác...
BỘ BINH**, binh chủng của lục quân, trực tiếp tiêu diệt sinh lực của đối phương, đánh chiếm hoặc giữ đất đai. Có thể tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các binh chủng, quân chủng và lực lượng khác (x. trận chiến đấu binh chủng hợp thành). BB ra đời sớm nhất, có quân số đông. Trong QĐ nhiều nước, BB được xây dựng theo hướng tăng sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động, được trang bị các loại vũ khí, phương tiện KTQS hiện đại, trở thành bộ binh cơ giới. Trong QĐND VN, BB là binh chủng chủ yếu của lục quân, được tổ chức thành đơn vị cấp phân đội, binh đội và binh đoàn; một số đơn vị được cơ giới hóa thành BB cơ giới.
BỘ BINH CƠ GIỚI, bộ binh** được trang bị xe chiến đấu bộ binh, vũ khí và phương tiện KTQS hiện đại, có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, sức đột kích lớn hơn bộ binh. Thường tổ chức thành phân đội, binh đội, binh đoàn. Binh đoàn (binh đội) BBCG thường gồm các binh đội (phân đội) BBCG, xe tăng, pháo binh, phòng không... và bộ đội chuyên môn. BBCG có thể tác chiến" độc lập hoặc hiệp đồng với các quân chủng, binh chủng khác; tác chiến trên xe hoặc trong đội hình đi bộ; có khả năng diệt mục tiêu trên mặt đất, trên không. Trong QĐND VN, có từ KCCM, được tổ chức tới cấp trung đoàn (1971), su đoàn (1979). Cg bộ binh** (trong QĐ một số nước).
BỘ CHỈ HUY BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH (THÀNH PHỐ), cơ quan chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) trong hệ thống tổ chức ba cấp của Bộ đôi biên phòng theo nghị quyết 11 của BCT và pháp lệnh Bộ đội biên phòng quy định; trực thuộc BTL bộ đội biên phòng. BCHBĐBPT(TP) chịu trách nhiệm trước tư lệnh bộ đội biên phòng về quản lí xây dựng các đơn vị bộ đội biên phòng thuộc quyền vững mạnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lí bảo vệ chủ quyền an ninh, trật tự biên giới quốc gia do nhà nước quy định. Đồng thời chịu sự lãnh đạo và làm tham mưu cho tinh ủy, UBND tỉnh để phát huy sức mạnh của toàn dân, phối hợp với các cơ quan, các ngành, các lực lượng thực hiện công tác biên phòng ở địa phương theo nhiệm vụ, quyền hạn, thực hiện nhiệm vụ phòng thủ tác chiến theo sự chỉ đạo của BTL quân khu, tỉnh đội.
BỘ CHỈ HUY PHÁO BINH, cơ quan chỉ huy pháo binh trực thuộc Bộ tổng tư lệnh QĐND VN trong những năm 1954-56. Được tổ chức theo nghị định số 33 NĐA ngày 7.9.1954 do đại tướng Võ Nguyên Giáp - bộ trưởng BQP kiêm tổng tư lệnh QĐND VN kí. BCHPB gồm: tư lệnh, chính ủy, tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị và một số trợ lí tham mưu, chính trị; có chức năng: chỉ huy các đơn vị pháo binh mặt đất và cao xạ trực thuộc Bộ, chỉ đạo xây dựng các đơn vị pháo binh của các đại đoàn; nghiên cứu kế hoạch huấn luyện và lãnh đạo giáo dục chính trị các đơn vị pháo binh; dự trù, phân phối và bảo quản vũ khí, trang bị kĩ thuật, làm tham mưu cho Bộ tổng tư lệnh về tổ chức, biên chế, trang bị và sử dụng các đơn vị pháo binh, bổ nhiệm, đào tạo cán bộ pháo binh. Tư lệnh; Lê Thiết Hùng, chủ nhiệm chính trị: Phạm Ngọc Mậu. Đến 28.5.1956, BCHPB đổi thành BTL pháo binh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|