F-105 THĂNĐƠCHIP (A. Thunderchief - Thần Sấm), máy bay tiêm kích - bom phản lực vượt âm của không quân Mĩ. Sải cánh 10,65m, dài 19,58m, cao 5,99m. Khối lượng rỗng: 12.474kg, đầy tải: 23.834kg. Tầm hoạt động đến 3.846km. tốc độ M 2,25, trần bay 15.850m, mang 7.598kg vũ khí, đạn dược (bom, tên lửa, pháo 20mm 6 nòng, đạn pháo, có thể mang vũ khí hạt nhân chiến thuật). Mẫu đầu tiên YF-105A thiết kế 1954, bay lần đầu 22.10.1955. Các kiểu tiếp theo là F-105B, F-105D, F-105F, F-105G,... F-105 được cải tiến lần cuối có khả năng ném bom ban đêm, hoạt động trong mọi thời tiết, trinh sát và tác chiến trên không, phóng tên lửa không đối không, không đối đất... Kiểu F-105D (bay thứ lần đầu 9.6.1959), khối lượng đầy tải 23.832kg, tốc độ M 2,1 ở độ cao ll.000m, F-105F, F-105G được không quân Mĩ sử dụng phổ biến nhất trong chiến tranh phá hoại Bắc VN (từ 1965-73 đã xuất kích 137.391 lần chiếc). Chiếc F-105 bị bắn rơi đầu tiên 2.3.1965 tại Quảng Bình. Theo tài liệu Mĩ, 334 F-105 đã bị bắn rơi ở VN. Ngừng sản xuất từ 1965.

F-111, máy bay tiêm kích - bom, vượt âm, có hình dạng cánh thay đổi (cụp, xoè) đầu tiên trên thế giới do hãng Generơn Đainơmic (Mĩ) chế tạo. Mẫu đầu tiên bay thử 12.1964. Đưa vào trang bị cho không quân Mĩ 10.1967. Có các mẫu F-111A (B, C, D, E, F, G), EF-111A (tác chiến điện tử), FB-111A (ném bom chiến lược) và RF-111C (trinh sát chiến đấu). Dài 22,4m, cao 5,22m, sải cánh: 19,2-21,34m (khi xoè), 9,74- 10,34m (khi cụp), hai chỗ ngồi bố trí hàng ngang, hai động cơ phản lực, khối lượng rỗng 21,7t, khối lượng cất cánh bình thường 36,8t (tối đa 41,5t), tốc độ bay lớn nhất M 2,5 (ở độ cao nhỏ có M 1,2), trần bay thực tế 15.500m, bán kính hoạt động 2.100km. Có thể mang tối đa 8.250kg vũ khí (gồm tên lửa không đối đất, bom thường hoặc bom hạt nhân, bom có điều khiển, pháo M61...). Được trang bị phương tiện tác chiến điện tử, thiết bị dẫn đường, ném bom hiện đại, cho phép bay trong mọi thời tiết, ở độ cao thấp và rất thấp. F-111A được không quân Mĩ dùng lần đầu tiên trong chiến tranh phá hoại miền Bắc VN (1968), chiếc đầu tiên bị bắn rơi 28.3.1968 tại Hà Tĩnh. Từ 1968 đến 1973 Mĩ đã triển khai 58 F-111A với 3.055 phi vụ tiến công các mục tiêu của miền Bắc VN, 10 chiếc bị bắn rơi.

F-117A, máy bay tiêm kích - bom tàng hình của không quân Mĩ do hãng Lôchit chế tạo. Mẫu đầu tiên bay thứ 12.1977. Trang bị cho không quân Mĩ 23.8.1982. Dài 20,08m, cao 3,78m, sải cánh 13,20m, khối lượng rỗng 13,608t, khối lượng cất cánh tối đa 23,814t, 2 động cơ, 1 người lái, tốc độ tối đa M 2 (trung bình M 0,8-1), có thể mang các loại vũ khí: bom điều khiển bằng lade BLU-109, GBU-10 hoặc GBU-27, tên lửa không đối đất AGM-65 Mayerich, tên lửa chống rađa AGM-88A (HARM), tên lửa không đối không Xaiuynđơ AIM-9 với khối lượng vũ khí tối đa 2.268kg. Trang bị điện tử: thiết bị quan sát hồng ngoại, chỉ mục tiêu bằng lade, rađa do cao, các máy tính (hàng không, kiểm tra bay, dẫn đường thiên văn, lái tự động cả ban đêm và ở độ cao thấp). F-117A được chế tạo theo kĩ thuật tàng hình bằng các biện pháp về hình dáng, kết cấu, vật liệu đặc biệt cho phép giảm phản xạ rađa và phát xạ hổng ngoại (diện tích phản xạ hiệu dụng phía trước là 0,01m2). F-117A tham chiến lần đầu 21.12.1989 ở Panama. Trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991), 44 F-117A đã tham chiến trong 24 giờ đầu chiến dịch với 1.270 phi vụ, đánh phá 31% số mục tiêu của Irắc (trong đó có quả bom đầu tiên ném xuống Batda), đạt tính bất ngờ, tiến công chính xác, hiệu suất chiến đấu cao.
