Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 12:03:13 am » |
|
THÔNG CÁO CHUNG THƯỢNG HẢI, văn kiện ngoại giao giữa Mĩ và TQ, do Nichxơn và Chu Ân Lai kí 28.2.1972 tại Thượng Hải (TQ). Nội dung chủ yếu: hai bên thống nhất việc giải quyết các mối quan hệ giữa các nước phải căn cứ vào năm nguyên tắc cùng tốn tại hòa bình', TQ và Mĩ tiến hành bình thường hóa quan hệ là phù hợp với lợi ích của mỗi nước. Hai bên hi vọng trong thời gian tới sẽ giảm bớt những mỏi nguy hiểm của sự xung đột quốc tế, cam kết không mưu cầu bá quyền khu vực châu Á - Thái Bình Dương, kiên quyết chống lại bất kì nước nào, hoặc nhóm nước nào lập bá quyền ở khu vực này. Về vấn đề Đài Loan, phía TQ khẳng định, chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là chính phù hợp pháp duy nhất của TQ, Đài Loan là một tỉnh của TQ; phía Mĩ nêu rõ, nước Mĩ hiểu rằng, người TQ ở hai bên eo biển Đài Loan đều nhận thức chỉ có một nước TQ. Đài Loan là một bộ phận của TQ, nước Mĩ không có ý kiến nào khác về lập trường này của TQ. Mĩ sẽ rút LLVT và các công trình QS ra khỏi Đài Loan. TCCTH đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ giữa Mĩ và TQ.
THÔNG TIN CHỈ HUY. thông tin được tổ chức đảm bảo cho người chỉ huy (cơ quan) để điều hành các đơn vị thuộc quyền và phối thuộc. Để TTCH dược kịp thời, vững chắc và thường xuyên thông suốt, phải tổ chức liên lạc vu hổi, vượt cấp,... khi cần thiết.
THÔNG TIN HẬU CẨN, KĨ THUẬT, thông tin được tổ chức để chủ nhiệm (cơ quan) hậu cần, kĩ thuật liên lạc với chú nhiệm (cơ quan), đơn vị hậu cần, kĩ thuật thuộc quyền và phối thuộc. TTHC,KT có thể thực hiện từ SCH phía sau. khu vực căn cứ, phân căn cứ hậu cần, kĩ thuật.
THÔNG TIN HIỆP ĐỒNG, thông tin được thiết lập giữa người chỉ huy (cơ quan chỉ huy) các đơn vị thuộc các binh chủng, quân chủng, bộ đội chuyên môn và các lực lượng khác có nhiệm vụ liên quan để đảm bảo hiệp đồng tác chiến. TTHĐ được tổ chức trên cơ sở kế hoạch hiệp đồng của người chỉ huy (tham mưu trưởng) cấp mình và chỉ lệnh thông tin liên lạc cấp trên.
THÔNG TIN HỌC, bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc, tính chất, tác động và quy luật hoạt động của thông tin khoa học; lí luận, lịch sử, phương pháp và việc tổ chức, quản lí hoạt động thông tin khoa học; nhằm tìm các phương pháp và phương tiện thể hiện tối ưu cho việc thu thập, xử lí phân tích, tổng hợp, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến và sử dụng thông tin khoa học trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau. TTH có mối liên hệ mật thiết và sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội - nhân văn như: thư viện học, thư mục học. tâm lí học, ngôn ngữ học, điểu khiển học, lí thuyết toán - thông tin, tin học, truyền thống - viễn thông... TTH được hình thành vào giữa tk 20 và phát triển rất mạnh vào những thập niên cuối của thế kỉ.
THÔNG TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của thông tin khoa học, gồm những tài liệu lí thuyết hoặc số liệu thực tiền được hình thành và thu nhận trong quá trình hoạt động khoa học QS, huấn luyện, tác chiến, sản xuất quốc phòng,... nhằm phục vụ cho những đối tượng nhất định trong QĐ, để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động QS. Theo lĩnh vực hoạt động QS, có thông tin khoa học về: chính trị, xã hội - nhân văn QS, nghệ thuật QS, hậu cần QS, KTQS, y - dược QS, công nghệ QS, môi trường QS, tài chính QS... Đối tượng phục vụ chủ yếu của TTKHQS là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lí, nghiên cứu, giảng dạy, học tập, các nhà sản xuất, kinh doanh, đầu tư...
THÔNG TIN LIÊN LẠC CÁP QUANG, thông tin liên lạc giữa các đối tượng phát và nhận tin bằng máy phát quang, máy thu quang và cáp quang. TTLLCQ gồm các giai đoạn: máy phát quang biến các tin tức, dạng dao động điện thành các tín hiệu quang tương ứng. Máy thu quang biến đổi tín hiệu quang thành tín hiệu điện và tin tức ban đầu cần truyền đi. Tín hiệu quang được truyền từ nơi phát đến nơi thu bằng cáp quang. TTLLCQ có ưu điểm: dung lượng thông tin lớn, tính chống nhiễu cao, hiệu suất và tốc độ truyền tin nhanh...
THÔNG TIN LIÊN LẠC ĐIỆN BÁO. thông tin liên lạc mà tin tức truyền đi đã được mã hóa thành các chữ cái, chữ số, kí hiệu. Có thể dược thực hiện trên kênh hữu tuyến, vô tuyến, kết hợp. Theo phương thức thu nhận thông tin trên máy thu, có: TTLLĐB dùng tai nghe (thu trực tiếp âm thanh phát đi bằng tai nghe), TTLLĐB băng ghi (các tín hiệu điện báo dược in lên băng giấy hoặc băng từ). TTLLĐB dùng tai nghe đơn giản, tiết kiệm hơn nhưng tốc độ chậm hơn. TTLLĐB băng ghi phức tạp hơn nhưng có tốc độ cao hơn và có thể sửa lỗi, hiệu chỉnh trong quá trình phát và thu. TTLLĐB có nhiều ưu điểm như dùng được trên nhiều loại kênh thông tin. tốc độ tương đối nhanh, tính bí mật và chống nhiễu cao, do vậy thường được sử dụng truyền các văn bản, mệnh lệnh, tin tức mật, khẩn cấp... 1895 Pôpôp (Nga) phát minh ra máy thu phát vô tuyến điện báo đầu tiên và từ 1898. hải quân Nga và hải quân một số nước châu Âu đã được trang bị loại máy này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 12:04:37 am » |
|
THÔNG TIN LIÊN LẠC ĐIỆN THOẠI, thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi bằng tiếng nói trên các kênh thông tin liên lạc (hữu tuyến, vô tuyến, hoặc kết hợp). Là phương thức thông tin đơn giản, phổ biến nhất từ trước tới nay, sử dụng thuận tiện nhưng độ mật thấp.
THÔNG TIN LIÊN LẠC ĐỐI LƯU, thông tin liên lạc vô tuyến điện ở dài sóng cực ngắn, sử dụng hiện tượng tán xạ sóng điện từ của tầng đối lưu để tăng cự li liên lạc ra ngoài vùng nhìn thẳng của hai anten (đến hàng trăm kilômét, nếu có các trạm chuyên tiếp có thể đến hàng nghìn kilômét). TTLLĐL được dùng giữa các khu vực có núi cao, rừng rậm che chắn hoặc qua vùng lãnh thổ đối phương. Nhược điểm chính của TTLLĐL là phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu,... tính bí mật thấp, công suất phát lớn, anten công kềnh. TTLLĐL được sử dụng rộng rãi trong QĐ các nước từ đầu những năm 60 của tk 20.
THÔNG TIN TRÊN LẠC FAXIMIN nh THÔNG TIN LIÊN LẠC TRUYỂN ẢNH
THÔNG TIN LIÊN LẠC HŨU TUYẾN ĐIỆN. thông tin liên lạc có môi trường truyền tin là dây dẫn và tin tức truyền đi dưới dạng dao động điện (dòng điện hoặc điện áp). Có thể truyền tiếng nói (thoại), hình ảnh (truyền ảnh. truyền hình), tín hiệu số... Ưu điểm: ổn định, thuận tiện, ít bị gây nhiễu, tương đối bí mật, ít phụ thuộc vào môi trường, với thiết bị ghép kênh có thể tăng số kênh liên lạc trên một đôi dây. Nhược điểm: khi tổ chức cần nhiều thời gian, lực lượng, kém cơ động, dễ bị phá hoại do đối phương hoặc tự nhiên (vd: đứt dây do bão...). TTLLHTĐ ra đời rất sớm, ngày nay vẫn được sử dụng phổ biến.
THÔNG TIN LIÊN LẠC LADE, thông tin liên lạc bằng dao động điện từ trong dải sóng ánh sáng (dải tần số 1013- 1015 Hz, bước sóng 0,4-12mm) nhờ máy phát lade. So với thông tin liên lạc vô tuyến điện, TTLLL có ưu điểm: dải tần rộng hơn (gấp khoảng 14 lần), tính định hướng cao (góc truyền <10’), độ ổn định rất cao (biên độ, tần số, pha, tính phân cực hầu như không đổi hoặc thay đổi theo một quy luật nhất định), khá năng chống nhiễu tốt, độ mật cao. công suất phát nhỏ, anten gọn nhẹ... Nhược điểm chính là suy giảm năng lượng lớn khi truyền trong lớp khí quyển gần mặt đất do vậy hạn chế khả năng sử dụng trong thực tế. TTLLL được phân thành bốn nhóm: nhóm mặt đất (truyền trong khí quyển), nhóm truyền trong vũ trụ, nhóm truyền trong ống dẫn sóng, nhóm truyền theo cáp quang. TTLLL ra đời cuối những năm 60 của tk 20 (sau khi có máy phát lade) và đang được tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh theo hướng tìm loại lade phù hợp với từng môi trường (lade khí acgông truyền trong nước không bị hấp phụ), thiết lập hệ thống trạm và anten ổn định.
THÔNG TIN LIÊN LẠC NHlỀU KÊNH, thông tin liên lạc mà tín hiệu (cùng hoặc khác loại) được truyền đồng thời hoặc độc lập bằng nhiều nguồn phát và thu trên một đường truyền, nhưng đều phải qua bộ phận ghép kênh và phần chung (nén tín hiệu). TTLLNK dùng phổ biến trong mạng thông tin quốc gia cũng như trong hệ thống thông tin QS ở hầu hết các nước trên thế giới; thành phần chính của thông tin liên lạc viễn thông.
THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN BƯU. thông tin liên lạc do người đến tận nơi (bằng phương tiện hoặc đi bộ) và trực tiếp chuyển tin tức cho bộ phận thu (hoặc ngược lại) dưới hai dạng: văn bản (mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo, công văn. tài liệu...) hoặc bằng lời. TTLLQB bảo đảm bí mật, chuyển được nhiều công văn, tài liệu nhưng thời gian lâu vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con người, phương tiện cơ động, địa hình thời tiết... Tùy theo cự li, địa hình, phương tiện cơ động, tình hình.... mà trong TTLLQB, tin tức được truyền trực tiếp (giao nhận một lần) hoặc qua trung gian (giao nhận nhiều lần qua các trạm chuyển tiếp). TTLLQB được dùng nhiều trong QS. nhất là ở cấp phân đội. TTLLQB xuất hiện rất sớm, tk 14tcn (thời nhà Thương) ở TQ, 490tcn ở Hi Lạp (báo tin thắng trận Maratông, I3.9.490tcn)... Cg thông tin liên lạc vận động.
THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN SỰ, phát và nhận tin giữa các đối tượng trong hoạt động QS bằng lực lượng thông tin; bộ phận quan trọng trong hệ thống chỉ huy bộ đội và điều khiển vũ khí. Theo phương thức liên lạc và sử dụng các thiết bị đầu cuối, chia ra: liên lạc điện thoại, điện thoại truyền hình, điện báo, truyền ảnh, truyền số liệu; theo phương tiện sử dụng và môi trường truyền tin, chia ra: thông tin vô tuyến điện (tiếp sức, đối lưu, sóng ngắn, sóng cực ngắn...), thông tin hữu tuyến điện (dây trần, cáp, dây bọc); thông tin vệ tinh, thông tin lade, thông tin quang học, thông tin vận động (quân bưu), thông tin tín hiệu. TTLLQS thực hiện bằng cách truyền tin không mã hoặc mã hóa...; dùng phương pháp liên lạc một chiều, hai chiều (song công, đơn công, đơn xen ngắt). Yêu cầu cơ bản của TTLLQS là kịp thời, chính xác, bí mật và an toàn. Nhiệm vụ của TTLLQS là truyền tin bảo đảm chỉ huy, hiệp đồng, thông báo, báo động và hậu cần kĩ thuật... TTLLQS được tổ chức trên cơ sở quyết tâm của người chỉ huy, chỉ lệnh thông tin của cơ quan tham mưu cấp trên, chỉ thị của tham mưu trưởng, lực lượng thông tin và tình hình liên quan. TỔ chức TTLLQS gồm: lập kế hoạch, giao nhiệm vụ cho bộ đội thòng tin, điều hành quá trình triển khai, khai thác, thu hồi hệ thống thông tin liên lạc,... chủ nhiệm (trợ lí) thông tin lập kế hoạch và chỉ đạo thông tin cấp dưới, đơn vị thông tin thực hiện nhiệm vụ. Kế hoạch thông tin liên lạc là văn kiện cơ bản để tổ chức thông tin liên lạc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 12:05:57 am » |
|
THÔNG TIN LIÊN LẠC SỐ, phương thức thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi ở dạng các tín hiệu số. Nguyên tắc truyền tin: tín hiệu thông tin liên lạc dưới dạng xung điện được biến đổi thành các nhóm kí hiệu mã hóa dạng số và qua thiết bị phát, truyền tới nơi thu. Đầu thu sẽ thu các tín hiệu mã hóa, biến đổi trở lại về dạng tin tức ban đầu. TTLLS được sử dụng trong các dạng thông tin liên lạc: điện báo số, truyền số liệu, truyền ảnh số, fax số và điện thoại số. Ưu điểm: tốc độ truyền tin nhanh; khả năng chống nhiều và tự động hóa cao; có thể kết hợp các dạng thông tin liên lạc số thành mạng số tổng hợp; nâng cao tính bảo mật và độ tin cậy thông tin; có thể thực hiện đồng thời nhiều kênh thông tin liên lạc trên một tần số. Nhược điểm: chiếm dải tần rộng, hệ thống trang thiết bị phức tạp và cần phải có tính đồng bộ. Hiện nay dang được dùng rộng rãi trong các mạng thông tin liên lạc quốc gia; trong QĐ, việc áp dụng TTLLS đã đem lại hiệu quả cao và đang được nghiên cứu phát triển.
THÔNG TIN LIÊN LẠC TẢI BA, phương thức thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi nhờ các dao động điện tần số cao được điểu chế (cg dao động tần số mang). Có thể truyền trên kênh vô tuyến hoặc hữu tuyến. Nguyên tắc truyền: tin tức đồng thời từ nhiều nguồn phát vào đường truyền và thu tương ứng nhờ máy tải ba ghép (tách) kênh. Việc ghép (tách) kênh được thực hiện bằng cách phân chia kênh theo tần số hoặc theo thời gian và hoàn toàn tự động. Số kênh càng nhiều khi tần số mang có trị số lớn. Được sử dụng trong thông tin liên lạc nhiều kênh.
THÔNG TIN LIÊN LẠC THỦY ÂM. thông tin liên lạc mà tin tức dược truyền đi trong môi trường nước bằng cách phát và thu sóng âm thanh hoặc sóng siêu âm. Được thực hiện nhờ các thiết bị thủy âm. TTLLTÂ dùng để liên lạc giữa các tàu ngầm, tàu ngầm với trạm ngầm, tàu ngầm với tàu nổi. trạm ngầm hoặc tàu ngầm với trạm trên bờ... Ngoài ra TTLLTÂ còn được dùng cho các thiết bị thăm dò dưới nước, thợ lặn... Cự li TTLLTÂ phụ thuộc vào công suất thiết bị phát, độ nhạy thiết bị thu, tốc độ của tàu và các điều kiện thủy văn trong vùng liên lạc.
THÔNG TIN LIÊN LẠC TÍN HIỆU, thông tin liên lạc mà tin tức được truyền đi dưới dạng những tín hiệu đã quy ước tương ứng nhờ các thiết bị, dụng cụ phát tín hiệu đơn giản như: pháo hiệu, cờ... TTLLTH sử dụng đơn giản nhưng nội dung hạn chế, chỉ dùng rộng rãi ở các phân đội nhỏ. Quy ước tín hiệu thường do người chỉ huy (cơ quan chỉ huy) có thẩm quyền quy định.
THÔNG TIN LIÊN LẠC TRUYỀN ẢNH. thông tin liên lạc dùng để truyền đi các hình ảnh tĩnh, phẳng (đoạn văn. hình vẽ, sơ đồ, bảng biểu, ảnh chụp...) nhờ các máy điện báo ảnh. TTLLTA có thể truyền theo các kênh hữu tuyến, vô tuyến... TTLLTA có tốc độ truyền không cao và chất lượng phụ thuộc vào môi trường truyền. Hiện nay. TTLLTA có cự li thông tin hầu như không hạn chế nhờ chuyển tiếp qua vệ tinh nhân tạo. Cg thông tin liên lạc faximin hoặc fax.
THÔNG TIN LIÊN LẠC TRUYỀN SỐ LIỆU, thông tin liên lạc mà tin tức được mã hóa và phát, thu, xứ lí tự động hoàn toàn trên máy tính điện từ và các thiết bị chuyên dụng. Kí hiệu trong bảng mã được gọi là “số liệu” (của tin tức) và được truyền dưới dạng xung điện áp, dòng điện hoặc dao động điện liên tục. Sự khác nhau cơ bản giữa TTLLTSL và các dạng thông tin liên lạc khác là trong TTLLTSL các máy móc đóng vai trò chủ yếu để phát, thu và xử lí thòng tin. Ưu điểm: tốc độ lớn, độ tin cậy cao (sai số <10-9); có thể thực hiện trên kênh vô tuyến, hữu tuyến...; là cơ sở của thông tin máy tính, tự động điều khiển công nghiệp, tự động hóa chỉ huy và tự động điều khiển vũ khí. khí tài trong QS. TTLLTSL đã được sử dụng trong các mạng thông tin quốc gia và QS ở nhiều nước.
THÔNG TIN LIÊN LẠC VẬN ĐỘNG nh THÔNG TIN LIÊN LẠC QUÂN BƯU
THÔNG TIN LIÊN LẠC VỆ TINH, thông tin liên lạc vô tuyến điện trong dải sóng siêu cao tần được chuyển tiếp qua các vệ tinh nhân tạo của Trái Đất. Có hai phương thức chuyển tiếp: thụ động (dùng vệ tinh có diện tích phản xạ lớn (để phản xạ sóng điện từ), chủ động (vệ tinh có đặt trạm thu phát chuyển tiếp, hiện được dùng rộng rãi). TTLLVT có các ưu điểm: cự li liên lạc rất xa. diện tích phủ sóng lớn (vd: một vệ tinh ở quỹ đạo có điểm xa nhất 36 nghìn - 40 nghìn km tạo khoảng cách liên lạc giữa hai địa điểm trên mặt đất là 12 nghìn - 15 nghìn km và bao trùm 1/3 bề mặt Trái Đất. như vậy chỉ cần 3 vệ tinh sẽ có mạng thông tin liên lạc vô tuyến toàn cầu). Nhược điểm: hệ thống máy móc phức tạp. giá thành cao. TTLLVT được sử dụng ngày càng rộng rãi trong dân sự và QS. Trong QĐ nhiều nước có các hệ thống TTLLVT về chiến lược và chiến thuật. Vd: Mĩ có IDCSP (chiến lược) với 20 vệ tinh Syncom, TASACom (chiến thuật) với vệ tinh LES; Nga có “Quỹ Đạo” (chiến lược) với các vệ tinh “Tia Chớp 1 ”, “Tia Chớp 2” và gần đây có hệ thống vệ tinh chiến thuật bay trên quỹ đạo có độ cao khoảng 1.450km, góc nghiêng 74°
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 12:07:12 am » |
|
THÔNG TIN LIÊN LẠC VI BA, thông tin liên lạc vô tuyến điện ở dải sóng vi ba (sóng cực ngắn có bước sóng 10-4- 1m tần số 3.108-3.1012Hz). có dải tần rộng, dung lượng thông tin lớn, tính định hướng cao, sử dụng thích hợp cho vùng biên giới, hải đảo, vượt qua vùng đối phương kiểm soát, cho liên lạc của các phương tiện cơ giới (xe, tàu thủy, máy bay...). Khi liên lạc trực tiếp cự li liên lạc chỉ giới hạn trong phạm vi tầm nhìn thẳng giữa hai anten (thu, phát). Để tăng cự li liên lạc, thường dùng các máy (trạm) chuyển tiếp (x. thông tin liên lạc vô tuyến điện tiếp sức), sử dụng tầng đối lưu (x. thông tin liên lạc đối lưu). Đã trở thành phương tiện thông tin chủ yếu cho dân dụng và QS.
THÔNG TIN LIÊN LẠC VIỄN THÔNG nh VIỄN THÔNG
THÔNG TIN LIÊN LẠC VÔ TUYẾN ĐIỆN, thông tin liên lạc mà tín hiệu được truyền đi ở dạng sóng điện từ thuộc dải vỏ tuyến điện (tần số từ 3.102 đến 3.1012Hz) trong không gian nhờ các máy vô tuyến diện; có thể truyền tiếng nói (thoại), số liệu, hình ảnh (truyền hình, truyền ảnh)... Theo dải sóng sử dụng, có: TTLLVTĐ sóng dài, TTLLVTĐ sóng trung, TTLLVTĐ sóng ngắn, TTLLVTĐ sóng cực ngắn. Theo phương thức truyển sóng, có: TTLLVTĐ sóng trời, TTLLVTĐ sóng đất. TTLLVTĐ còn phân loại theo một số dấu hiệu khác như: số kênh (một kênh hoặc nhiều kênh), phương pháp liên lạc (một chiều hoặc hai chiều), phương pháp tổ chức (hướng hoặc mạng)... TTLLVTĐ cho phép liên lạc giữa các đối tượng đang chuyển động, cự li xa với mọi địa hình, thời tiết; triển khai, thu hồi nhanh. Nhược điểm: chất lượng thông tin phụ thuộc vào môi trường truyền tin, tính bí mật thấp, chống nhiễu kém. TTLLVTĐ được sử dụng từ đầu tk 20.
THÔNG TIN LIÊN LẠC VÔ TUYẾN ĐIỆN TIẾP SỨC, thông tin liên lạc vô tuyến điện có sử dụng các máy (trạm) chuyển tiếp, làm việc ở dải sóng cực ngắn (thường dùng vi ba) để tăng cự li liên lạc (đến hàng nghìn kilômét). Ưu điểm: dài tần rộng, dung lượng thông tin lớn, tính định hướng cao, công suất nhỏ. có thể truyền các dạng tín hiệu thoại, phi thoại (moóc, truyền số liệu. fax). Khi dùng trong QS, TTLLVTĐTS còn có các ưu việt: tổ chức nhanh, cơ động cao (do đặt trên phương tiên cơ giới), tính bảo mật cao... Nhược điểm: ở cự li liên lạc lớn, phải có nhiều máy (trạm) chuyển tiếp vì cự li liên lạc giữa các máy vô tuyến diện tiếp sức chỉ 40-60km (trong tầm nhìn thẳng giữa 2 anten). Trong CTTG-II mới khai thác thực nghiệm, đến nay đã được sử dụng rộng rãi trong QS cũng như dân sự ở hầu hết các nước trên thế giới. Hướng phát triển của TTLLVTĐTS trong QS là sử dụng tần số cao (5-10GHz), máy gọn nhẹ, anten nhỏ... (xt thông tin liên lạc vi ha).
THÔNG TIN THÔNG BÁO, BÁO ĐỘNG, thông tin được tổ chức để kịp thời phát, thu tín hiệu báo động cho các đơn vị như: chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, địch tập kích đường không, tập kích vũ khí hủy diệt lớn, thông báo tình hình hoạt động của máy bay ta, máy bay đối phương, tình hình khí tượng thủy văn... Tín hiệu thông báo, báo động thường được thống nhất theo một quy định trước, ngắn, gọn, dễ nhận và dễ nhớ. TTTB,BĐ được ưu tiên liên lạc trên hệ thống thông tin hiện hành, riêng ở cấp chiến lược, chiến dịch có tổ chức mạng vô tuyến điện chuyên trách thông báo, báo động.
THÔNG TRI, văn kiện quân sự truyền đạt công việc có liên quan đến cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân thuộc quyển. Có các loại TT mang: tính quy định, tính chất bổ sung, tính hội nghị, tính chất sự vụ. TT có tính quy định để truyền đạt những quy định, những yêu cầu và những việc cần chú ý đối với công tác nào đó của cấp trên hoặc cấp mình. TT có tính chất bổ sung dùng khi phát kế hoạch, phương án, tổng kết, tài liệu, biểu bảng báo cáo yêu cầu những người có liên quan phải nghiên cứu, xử lí, đề xuất Ý kiến, hoặc truyền phát tài liệu, văn kiện có liên quan. TT có tính hội nghị dùng để báo cho người có liên quan biết tham gia hội nghị gì, khi nào, ở đâu. TT có tính chất sự vụ dùng để phổ biến một số công việc lâm thời nào đó. Nội dung của các TT bao gồm các công việc và yêu cầu. TT cũng có thể truyền miệng.
THỐNG CHẾ, 1) quân hàm cao nhất trong LLVT nhiều nước phương Tây, trên đại tướng. Xuất hiện từ tk 12 như một tước hiệu QS của các triều đại phong kiên. TC xuất hiện ở Pháp từ tk 16; Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kì, Italia, Nhật (tk 19) và ở các nước Áo (về sau là Áo - Hung), Phổ (Đức) và Nga (đầu tk 20). TC thường mang dấu hiệu tượng trưng cho quyển lực và vinh dự. TC tương đương với nguyên soái trong QĐ một số nước (LX, TQ, Triều Tiên...); 2) chức quan võ cao cấp ở TQ từ triều Nam Tống đến cuối triều Thanh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 12:08:19 am » |
|
THỐNG KÊ HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của khoa học thông kê, nghiên cứu những chỉ số định lượng trong mối quan hệ biện chứng với các đặc trưng định tính của các hiện tượng, quá trình QS, như: các yếu tố tạo sức mạnh QS của quốc gia: tổ chức, bảo đảm và chuẩn bị lực lượng QS cho chiến tranh; tiến trình các cuộc chiến tranh... Nhiệm vụ quan trọng nhất của TKHQS là thống kê, lựa chọn, phân tích, xử lí số liệu. TKHQS sử dụng những thành tựu của các khoa học. kĩ thuật như lí thuyết xác suất, các phương pháp thống kê, lí thuyết nhóm, tin học, máy tính điện tử,... và được ứng dụng rộng rãi trong các ngành tham mưu, hậu cần, KTQS, lịch sử QS...
THỐNG KÊ QUÂN Y, chuyên ngành y học quân sự nghiên cứu những số liệu, chỉ tiêu đánh giá tình hình sức khoẻ bộ đội, tình hình thương binh, bệnh binh và các mặt công tác quân y để tìm ra những kết luận, những quy luật nhằm nâng cao chất lượng tổ chức, bảo đảm quân y cho LLVT. Nhiệm vụ TKQY trong thời bình: nắm chắc tình hình và các yếu tố ảnh hường đến sức khỏe bộ đội; nghiên cứu tình hình diễn biến và các điều kiện hạn chế hoặc phát triển bệnh tật để có kế hoạch phòng bệnh, chữa bệnh hiệu quả; nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu số lượng và chất lượng mọi mặt hoạt động của ngành quân y. Trong thời chiến, TKQY có nhiệm vụ: tính toán tỉ lệ thương binh, bệnh binh, nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố chiến đấu đến tỉ lệ và tính chất thương vong; theo dõi tình hình sức khoẻ bộ đội trong chiến đấu, tình hình thực hiện các hoạt động cấp cứu, điều trị, chuyển thương, kết quả các biện pháp vệ sinh phòng dịch và công tác tổ chức bảo đảm quân y trong chiến đấu...
THỐNG LĨNH, 1) chức quan võ thời xưa, chỉ huy toàn bộ LLVT của một nước; 2) chỉ huy thống nhất LLVT của một nước. Điều 103 Hiến pháp nước CHXHCN VN 1995 đã xác định: chủ tịch nước có quyền TL các LLVT và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Chủ tịch nước TL các LLVTND VN, có quyền chỉ huy thống nhất LLVT ba thứ quân, lực lượng công an nhân dân, lực lượng cảnh sát biển trong thời bình và thời chiến, dưới sự lãnh đạo của BCT BCHTƯ ĐCS VN.
THỐNG TƯỚNG, 1) chức vụ chỉ huy cao nhất của QĐ một số nước (tướng tổng chỉ huy QĐ); 2) bậc quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp tướng trong Quân lực Việt Nam cộng hòa (điều 15 Quy chế quân nhân hiện dịch QLVNCH-1972).
THỜI BÌNH, thời kì xã hội không có chiến tranh. Trong TB. mọi hoạt động được tập trung vào việc ổn định đời sống xã hội, xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố nền hòa bình và giải quyết những hậu quả của chiến tranh (đối với những nước vừa kết thúc chiến tranh); từng bước lập lại quan hệ bình thường giữa các nước tham chiến; các đạo luật đã ban hành trong thời chiến không còn phù hợp với TB đều được bãi bỏ.
THỜI CHIẾN, thời kì xã hội đang có chiến tranh. TC bắt đầu khi nhà nước tuyên chiến hoặc bắt đầu các hành động chiến tranh và kết thúc khi kí hiệp ước hòa bình, hiệp định đình chiến giữa các bên tham chiến hoặc sự đầu hàng của một bên. Trong TC, các biện pháp của tình trạng chiến tranh được áp dụng, ở VN, trong KCCP và KCCM, nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp TC nhằm huy động cao độ sức mạnh của toàn dân, của đất nước để chiến thắng quân xâm lược.
THỜI CƠ, tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định rất có lợi cho việc phát huy sức mạnh giành thắng lợi trong khởi nghĩa, trong chiến tranh và trong tác chiến. TC có thể do năng động chủ quan tạo nên và cũng có thể do sai lầm của đối phương hoặc điều kiện khách quan đưa đến. TC thường xuất hiện rất nhanh, đột ngột, và qua đi cũng rất nhanh. Có TC chiến lược, TC chiến dịch và TC chiến thuật. Tạo TC, kịp thời nắm bắt TC và hành động đúng TC có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giành thắng lợi.
THỜI CƠ KHỞI NGHĨA, thời cơ đảm bảo cho khởi nghĩa giành thắng lợi. Đó là: kẻ thù khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng; đa số quần chúng ủng hộ khởi nghĩa; tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa đã sẵn sàng hành động. TCKN chỉ xuất hiện khi các điều kiện khách quan và chủ quan chín muồi, có sự tác động kết hợp với nhau chặt chẽ. Chớp đúng thời cơ để khởi nghĩa thì thành công. Khởi nghĩa non (chưa có thời cơ), hoặc chậm khởi nghĩa (để lỡ thời cơ) thì sẽ thất bại. Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 của nhân dân VN là một điển hình của việc tạo thời cơ, nắm bắt TCKN. Vào thời điểm, phát xít Nhật và tay sai đã hoang mang tan rã; quần chúng lao động và tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về phía CM, gia nhập hoặc ủng hộ Mật trận Việt Minh; ĐCS Đông Dương đã trở thành đội tiên phong có đủ uy tín và năng lực lãnh đạo khởi nghĩa của cả dân tộc, ủy ban tổng khởi nghĩa đã kịp thời ra lệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước (13.8.1945).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 12:09:52 am » |
|
THỜI CƠ VẬN TẢI, thời cơ mà bộ đội vận tải có thể lợi dụng những điều kiện thuận lợi về cầu đường, thời tiết khí tượng - thủy văn, hoặc lợi dụng sơ hở của đối phương,... để đẩy mạnh vận chuyển.
THỜI ĐẠI, khoảng thời gian lịch sử được phân kì theo trình độ phát triển về chất của xã hội loài người với những tiêu chí nhất định. Có nhiều cách phân chia TĐ. Theo nhân chủng học, có: mỏng muội, dã man, văn minh; theo kĩ thuật, có: đồ đá, đồ đồng, máy hơi nước...; theo trình độ văn minh, có: công nghiệp, nông nghiệp, hậu công nghiệp... Các cách phân chia trên phản ánh nhận thức phiến diện, sai lệch về bản chất của TĐ. Chủ nghĩa duy vật lịch sử, lí luận hình thái kinh tế- xã hội là cơ sở khoa học để xem xét TĐ; theo đó, hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành TĐ, còn TĐ phản ánh lịch sử hình thành, phát triển và tồn tại của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Đặc điểm, nội dung, bản chất, xu hướng của TĐ được quyết định bởi vai trò của giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của TĐ. TĐ ngày nay mở đầu bằng thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga (1917), có nội dung cơ bản là bước quá độ của loài người từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới, với giai cấp công nhân quốc tế là trung tâm.
THỜI GIAN BAY LIÊN TỤC, khoảng thời gian từ khi máy bay cất cánh, hoạt động trên không, bay về hạ cánh an toàn. TGBLT được dùng làm cơ sở để giao nhiệm vụ cho các đơn vị không quân, phù hợp với tính năng chiến - kĩ thuật của từng loại máy bay.
THỜI GIAN BAY TỐI ĐA, khoảng thời gian từ khi máy bay bắt đầu chạy đà cất cánh và làm việc liên tục với các tham số ổn định, không xuất hiện hỏng hóc đến khi hạ cánh chạy hết đà, với số lượng nhiên liệu được nạp tối đa (không tính lượng dầu tiếp trên không). TGBTĐ là thông số quan trọng để bố trí lực lượng cơ động chiến đấu, lập kế hoạch tác chiến không quân... TGBTĐ dược tính bằng giờ.
THỜI GIAN CHIẾN DỊCH, khoảng thời gian cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chiến dịch; một chỉ số của quy mô tác chiến. TGCD gồm thời gian của các đợt (bước, giai đoạn) chiến dịch, trong đó quan trọng nhất là xác định thời gian đánh trận đầu của chiến dịch, trận then chốt, trận then chốt quyết định và thời gian kết thúc chiến dịch. Tùy theo điều kiện cụ thể, TGCD có thể dài, ngắn khác nhau.
THỜI HẠN PHỤC VỤ TẠI NGŨ, thời gian quy định sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trong các đơn vị thường trực của QĐ. Theo Luật sĩ quan QĐND VN và Luật nghĩa vụ quân sự, THPVTN đối với sĩ quan được quy định tương ứng với cấp quân hàm; đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong thời bình là 2 năm. đối với hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kĩ thuật do QĐ đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là 3 năm, đối với quân nhân chuyên nghiệp có thể phục vụ tại ngũ từng thời hạn, hoặc dài hạn đến 50 tuổi.
THỜI KÌ ĐẨU CHIẾN TRANH, khoảng thời gian từ khi nổ ra chiến tranh đến khi kết thúc nhiệm vụ chiến lược trước mắt, chuyển sang thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo của kế hoạch tác chiến chiến lược của mỗi bên tham chiến. Trong TKĐCT, bên tiến công (phát động chiến tranh) thường phải đột phá hệ thống phòng thủ chiến lược của đối phương, đánh chiếm những mục tiêu và địa bàn chiến lược có lợi để làm bàn đạp phát triển tiến công, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược tiếp theo; bên bị tiến công thường phải thực hiện nhiệm vụ chặn đứng, hoặc làm chậm lại cuộc tiến công mở đầu chiến tranh của đối phương, giữ vững hoặc tạm thời giữ vững các mục tiêu và địa bàn chiến lược mà đối phương định đánh chiếm, bảo toàn lực lượng chiến lược, hoàn thành việc chuyển toàn bộ đất nước vào thời chiến... Cũng trong TKĐCT, các bên tham chiến đều tích cực tiến hành nhiệm vụ động viên và triển khai lực lượng mọi mặt để đáp ứng nhu cầu phát triển của chiến tranh. Kết quả chiến đấu của mỗi bên trong TKĐCT có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với diễn biến của các giai đoạn chiến tranh tiếp sau và chiều hướng, kết cục của toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong chiến tranh hiện đại có thể có cuộc chiến tranh không có TKĐCT.
THU BỔN. sông ở Quảng Nam. Dài khoảng 200km, bắt nguồn từ phía bắc núi Ngọc Linh trên ranh giới Quảng Nam - Kon Tum. Thượng nguồn có tên Đắc Di, đoạn giữa có tên Sông Tranh, chảy theo hướng nam - bắc qua các huyện Trà Mi. Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn, Điện Bàn, đổ ra Biển Đông ở Cửa Đại (tx Hội An). Các chi lưu: Sông Cái, Sông Bung, chảy vào sông Vu Gia, nhập vào sông TB tại ranh giới hai huyện Duy Xuyên, Đại Lộc. Mùa lũ ngắn và muộn, thường từ tháng 10 đến tháng 12, trong đó tháng 11 là đỉnh lũ, còn lại là mùa cạn.
THU CHẶN VÔ TUYẾN ĐIỆN nh THU NGANG VÔ TUYẾN ĐIỆN
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:06:15 am » |
|
THU DUNG, gọi chung hoạt động đón nhận thương binh, bệnh binh, quân nhân lạc ngũ, rớt lại sau đội hình hành quân. Đơn vị hành quân tổ chức đội TD đi ở cuối đội hình: trong hành quân đường dài có nhiều chặng, thường tổ chức thêm các trạm TD đặt ở những vị trí nghỉ ngắn hoặc nghi dài. Các đội, trạm TD giúp đỡ những người được TD về y tế, vật chất, đưa trả họ về đơn vị hoặc đưa đến bệnh viện gần nhất. THU NGANG VÔ TUYẾN ĐIỆN, thu và ghi lại các bức điện tín của đối phương nhằm nắm tình hình, ý định tác chiến của họ. TNVTĐ thường do lực lượng chuyên trách sử dụng các máy thu chuyên dụng hoặc do lực lượng không chuyên trách sử dụng máy vô tuyến điện thông thường thực hiện. Cg thu chặn vô tuyến diện. THU SƠN (Nguyễn Văn Càng; 1919-98), tiểu đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22.12.1944). Dân tộc Tày, quê xã Hồng Việt, h. Hòa An, t. Cao Bằng: tham gia CM 1941. nhập ngũ 1944. trung tá (1958); đv ĐCS VN (1941). Sau khi tốt nghiệp Trường QS Hoàng Phố (TQ). về nước hoạt động vũ trang tại Cao Bằng. 22.12.1944 gia nhập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, giữ chức tiểu đội trưởng, tham gia trận Phai Khắt (25.12.1944), trận Nà Ngần (26.12.1944) và khởi nghĩa giành chính quyền tại Thái Nguyên (8.1945). Tháng 10.1945 chi đội trưởng Chi đội Thu Sơn (Bộ đội Nam tiến). 1946-48 trung đoàn trưởng các trung đoàn: 79 Phú Yên. 81 Ninh Bình Thuận. 210, 215 và 216 Quảng Ngãi (Liên khu 5). Năm 1951 tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Cao Bằng. 1953-60 chủ tịch UBND tỉnh kiêm tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tuyên Quang. 1961-70 chánh án Toà án nhân dân Khu tự trị Việt Bắc. Huân chương: Độc lập hạng nhì, Kháng chiến hạng nhì... THU THẬP TIN KHOA HỌC QUÂN SỰ, giai đoạn đầu của quá trình hoạt động thông tin khoa học quân sự, có nhiệm vụ thu thập đầy đủ, kịp thời, chính xác các tư liệu cần thiết, nhằm tạo lập và xây dựng kho tư liệu phù hợp với những đề tài của một cơ quan thông tin và đáp ứng yêu cầu của người dùng tin trong QĐ. THU THẬP TÌNH BÁO ĐỊCH TRÊN KHÔNG, thu nhận những tin tức về địch trên không từ hệ thống trinh sát rađa, vọng quan sát mắt và các nguồn trinh sát khác. Để TTTBĐTK có thể sử dụng tất cả các phương tiện thông tin liên lạc: hữu tuyến điện, vô tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, tải ba... Việc TTTBĐTK ngày càng được tự động hóa. Yêu cầu TTTBĐTK: nhanh chóng, kịp thời, chính xác, đầy đủ. Đé TTTBĐTK cần áp dụng các biện pháp chống nhiễu thông tin vô tuyến điện và các phương tiện thông tin khác. THU VỂ THANH LÍ, XỬ LÍ VẬT TƯ, TÀI SẢN QUỐC PHÒNG, toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lí vũ khí, trang bị, thiết bị, vật tư trong QĐ. Theo quy chế về xử lí vũ khí, trang bị, thiết bị, vật tư trong QĐ, đối tượng xử lí là toàn bộ số vũ khí, trang bị KTQS, trang thiết bị, vật tư từ mọi nguồn của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ đã được cấp có thấm quyền loại ra khỏi biên chế và dự trữ quốc phòng. Quyết định xử lí phải đúng quyền hạn và chỉ thực hiện khi đã có quyết định của cấp có thẩm quyển. Phương thức xử lí: điều chuyển, tháo gỡ chi tiết phụ tùng để cung cấp cho các hoạt động bảo đảm kĩ thuật, phục hồi, sửa chữa hoặc nhượng bán,... nhằm phục vụ sản xuất quốc phòng - kinh tế, nhưng đều phải quản lí chặt chẽ cà hiện vật và giá trị, tiết kiệm chi phí trong quá trình xử lí. Mọi khoản thu, chi về xử lí phải ghi chép vào sổ sách kế toán; số tiền thu được về xử lí vật tư, tài sản, sau khi trừ chi phí xử lí theo quy định, được sử dụng tập trung vào các nhiệm vụ quốc phòng như bổ sung cho bảo đảm kĩ thuật, xây dựng cơ bản, mua sắm trang bị, vật tư,... và phải có dự án cụ thể khi quyết định sử dụng. THỦ BIÊN, tỉnh cũ ở Đông Nam Bộ trong KCCP và KCCM. Tồn tại từ 5.1951 đến 4.1955 và từ 9.1960 đến 7.1961 do sáp nhập các tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. THỦ DẨU MỘT, tỉnh cũ ở Đông Nam Bộ. Thành lập 12.1899 trên cơ sở Sở tham biện TDM tách ra từ t. Biên Hòa cũ. 5.1951-4.1955 và 9.1960-7.1961 hợp nhất với t. Biên Hòa mới thành t. Thủ Biên. 10.1956 chính quyền Sài Gòn chia TDM thành các tỉnh Bình Dương. Bình Long và Phước Long.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:08:45 am » |
|
THÚ ĐOẠN QUÂN SỰ, nghệ thuật sử dụng các hoạt động tác chiến để đạt mục đích QS. Mỗi hình thức tác chiến, mỗi quân chủng, binh chủng có TĐQS tương ứng. Khi lựa chọn TĐQS phải căn cứ vào: tính chất nhiệm vụ và quy mô tác chiến; lực lượng tiến hành; khả năng của mỗi bên tham chiến: điều kiện địa hình, thời tiết... TĐQS thường được sử dụng kết hợp với các thủ đoạn chính trị, kinh tế, ngoại giao... THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN, hoạt động tác chiến nhằm phá vỡ thế trận, làm giảm hoặc mất khả năng tác chiến của đối phương; tạo thế có lợi cho hoạt động tác chiến của ta. Mỗi quân chủng, binh chủng, lực lượng,... thường có TĐTC riêng. TĐTC của bộ đội binh chủng hợp thành thường là: đột phá. bao vây, vu hồi, thọc sâu, chia cắt, chốt chặn, luồn sâu, mật tập... TĐTC thường được vận dụng kết hợp với nhau, phù hợp với nhiệm vụ, ý định và tình huống tác chiến cụ thể. THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN đặc công, thủ đoạn tác chiến gồm: luồn sâu, luồn - thọc sâu (hai TĐTC cơ bản), đánh đồng loạt, đánh lần lượt, đánh từ trong ra, đánh từ ngoài vào. THỦ ĐOẠN TÁC CHIẾN pháo binh, thủ đoạn tác chiến được vận dụng trong pháo binh, gồm: tập kích đồng loạt, đánh bồi vào đối phương đang giải quyết hậu quả trận chiến đấu, đánh vào nơi hiểm yếu... Tùy theo tính chất, nhiệm vụ và ý định tác chiến cụ thể mà vận dụng các TĐTCpb cho phù hợp. Trong KCCM, TĐTCpb được sử dụng rộng rãi, có hiệu qua trong pháo binh ba thứ quân (trận tập kích kho đạn pháo trong thành Nguyễn Huệ (tx Tây Ninh), gây nổ dây chuyền, sát thương nhiều sĩ quan cao cấp Mĩ và QĐ Sài Gòn. THÙ ĐOẠN TRINH SÁT, hành động để thu tin tình báo cần thiết. Các TĐTS: quan sát, sục sạo, tiềm nhập, nghe trộm, hỏi cung lù binh, trinh sát cải trang, quay phim chụp ảnh, trinh sát rada, trinh sát bằng trận chiến đầu... Tùy tình hình, nhiệm vụ có thể vận dụng một hoặc nhiều TĐTS. THỦ PHÁO, vũ khí ném bằng tay có uy lực lớn hơn lựu đạn, dùng đánh các mục tiêu tương đối kiên cố như xe thiết giáp, xe tăng, hỏa điểm... TP có loại chế tạo riêng hoặc tự tạo. Thường gồm: bánh thuốc nổ, cơ cấu gây nổ. Cũng có thể dùng một quả lựu đạn bên ngoài có vỏ bọc (ống bơ, túi vải...) dược chèn chặt bằng thuốc nổ hoặc bó chập một chùm quà lựu đạn thành TP để tăng uy lực. TP thường trang bị cho bộ binh, đặc công, sử dụng trong đánh gần. THỦ TRƯỞNG, người chỉ huy cao nhất trong một cơ quan, đơn vị, nhà trường của QĐ; cấp trên của cán bộ. chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc quyền. Chịu trách nhiệm cá nhân trước Đảng và Nhà nước, trước người chỉ huy cấp trên, trước cấp ủy Đảng cấp mình về mọi mặt hoạt động của cơ quan, đơn vị, nhà trường. Trước 1980 các đơn vị từ cấp đại đội đến cấp quân khu, quân chủng và tương đương có hai TT: QS và chính trị. Từ 1980 thực hiện chế độ một người chỉ huy , mỗi đơn vị chi có một TT. Chức trách TT được quy định tại Điều lệnh quản lí bộ đội. THÚ BINH (cổ), quân phòng thủ vùng biên giới phía bắc dưới đời Lê Trung Hưng. Được đặt ra sau khi triều Mạc bị đánh đổ (1592) để đóng giữ và đánh dẹp tàn quân nhà Mạc ở Cao Bằng. Từ 1721. TB được bãi bỏ: các đồn TB được chuyển giao cho thổ trước binh. THUẪN, trang bị che đỡ cầm tay bằng gỗ tấm, da, mây tre hoặc kim loại, dùng để tránh sát thương do vũ khí lạnh (cung, nỏ, màu, kích. đao...). T có hình chữ nhật dài (dùng cho bộ binh), vuông (dùng cho xa binh), tròn (dùng cho kị binh); kết cấu hình khum, có trang trí sơn, vẽ (trên T gỗ, da), hoa văn (trên T kim loại). T kết hợp với giáp, trụ tạo ra bộ phòng hộ cá nhân liên hoàn. Loại T dùng cho nhiều người làm bằng ván gỗ, tre đan có lớp rơm trộn bùn phía trước (chủ yếu chống tên bắn từ xa), được quân Tây Sơn dùng có hiệu quả trong trận Ngọc Hồi (1789) (xt mộc, khiên). THUẬN HẢI, tỉnh cũ ở duyên hải Nam Trung Bộ. Tỉnh lị: tx Phan Thiết. Thành lập 2.1976 do sáp nhập các tỉnh Ninh Thuận. Bình Thuận và Bình Tuy. 4.1992 tách thành hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:09:58 am » |
|
THUẬN YẾN (Đoàn Hữu Công; S. 1935), nhạc sĩ. Quê h. Duy Xuyên, t. Quảng Nam: tham gia CM 1949. nhập ngũ 1955. thượng tá (1991); đv ĐCS VN (1955). Gần 40 năm gán bó với QĐ. bám sát chiến trường (Tây Nguyên. Trị-Thiên), sáng tác hàng trăm ca khúc, trong đó có nhiều bài hát viết về đề tài Bác Hồ và LLVT, được bộ đội và nhân dân yêu thích. Tác phẩm tiêu biểu: “Mỗi bước ta đi” (1965), “Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc” (1969), “Bác Hồ một tình yêu bao la” (1979), “Đi trong hương tràm” (1983, thơ Hoài Vũ), “Miền Trung nhớ Bác” (1988), “Màu hoa đỏ” (1991, thơ Nguyễn Đức Mậu)... 1989-92 trưởng đoàn nghệ thuật Quân khu 2. Năm 1992 chuyển ngành sang Đài tiếng nói VN, phụ trách ban âm nhạc. Huân chương: Quân công hạng ba. Chiến công hạng nhì, Lao động hạng ba, Kháng chiến hạng nhất... THUẬT LÁI MÁY BAY, cách thức (phương pháp) lái (điều khiển) máy bay cất cánh, hạ cánh, bay lên, bay xuống, bay bằng, lượn vòng và nhào lộn. Trong cất cánh và hạ cánh có các kiểu: thông thường, bằng thiết bị đặc biệt, có thả dù trước khi máy bay chạm đất, có tắt bớt một vài động cơ (đối với máy bay có nhiều động cơ), tắt động cơ (đối với một số loại máy bay đặc biệt); trong nhào lộn có các kiểu: giản đơn, phức tạp và cao cấp (cg thuật nhào lộn). Theo số lượng máy bay có: thuật lái từng chiếc và thuật lái khi bay đội hình. Nắm vững TLMB là yêu cầu rất quan trọng đối với phi công. THUẬT NGỮ QUÂN SỰ, 1) từ hoặc cụm từ biểu đạt khái niệm QS; 2) toàn bộ TNQS nói chung, như một bộ phận của từ vựng QS. TNQS phán ánh trình độ phát triển tri thức QS. Được chính thức hóa trong các văn kiện QS, điều lệnh, điều lệ, từ điển... Trong QĐND VN, một phần TNQS được phản ảnh trong “Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự” (1985), “Từ điển kĩ thuật quân sự” (1990), “Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam” (1996, 2004) và một số từ điển đã xuất bản của các binh chủng. THUẬT NHÀO LỘN, phương pháp điều khiển phương tiện bay của phi công (tổ lái) thực hiện những loại hình cơ động trong không gian theo mặt phẳng ngang, mặt phẳng đứng và mặt phẳng nghiêng. Theo độ phức tạp, TNL được phân ra: nhào lộn đơn giản, nhào lộn phức tạp và nhào lộn cao cấp. Theo số lượng máy bay, có: nhào lộn chiếc lẻ và nhào lộn tốp (đội hình). Nhào lộn đơn giản, có: lượn vòng tròn, lượn vòng số 8, vòng uốn khúc, vòng xoắn, trượt cạnh, bổ nhào và vọt lên với góc dưới 45°. Nhào lộn phức tạp, có: lượn vòng chiến đấu, lộn xuống, lộn lên, khoan, thắt vòng đứng, thắt vòng nghiêng và các đường bay trong nhào lộn đơn giản nhưng được thực hiện trong nhóm bay với đội hình mật tập. Nhào lộn cao cấp. có: khoan chậm, khoan nhiều vòng, khoan xuống, khoan lên, thắt vòng số 8 đứng, thắt vòng đứng lộn lên và các đường bay trong nhào lộn phức tạp, nhưng được thực hiện trong đội hình nhóm bay. THUẬT PHÓNG, bộ môn khoa học nghiên cứu sự chuyển động của đạn. tên lửa không điều khiên, bom,... khi bắn (phóng, ném). Các phần chính: thuật phóng trong (nội phao) và thuật phóng ngoài (ngoại phao). Ngoài ra còn phân biệt TP thực nghiệm (nghiên cứu các quá trình thực xảy ra khi thuốc phóng cháy, khi đạn, tên lửa, bom,... hoặc mô hình của chúng chuyển động), TP đặc biệt (TP dưới nước, TP hàng không, TP sát thương - nghiên cứu chuyển động của đạn trong lòng mục tiêu...). TP là môn khoa học cơ sở để thiết kế vũ khí, thành lập bảng bắn, là cơ sở của lí thuyết bắn, nghiên cứu quy luật chuyển động của các vật thể khi không có lực và mômen điều khiển tác động (một số khí cụ bay vũ trụ, mảnh đạn...). Việc sử dụng máy tính điện tử vào TP đã làm giảm nhẹ các tính toán phức tạp của các bài toán thuật phóng. TP ra đời từ tk 16, nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về TP là N. Tactali (Italia) với các công trình “Khoa học mới” (1537), “Các vấn đề và phát minh về bắn pháo” (1546). Từ tk 17 đến nay những nhà khoa học đã có công phát triển TP là: Galilê, Toriseli, Mecxen. Niutơn, Becnuli, ơle, Maiepxki, Huyghen, Varinon, Đrôdôp, Dabutxki, Venxen, Pugachôp, Slukhôpxki, Robinxơ, Hetton... Ở VN, người đầu tiên vận dụng lí thuyết TP để tính toán thiết kế badôca (1946) là giáo sư Trần Đại Nghĩa. Sau đó TP được ứng dụng để tính toán thiết kế, cải tiến vũ khí, tính toán các bảng bắn cho một số loại vũ khí... Cg đạn đạo học.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:11:34 am » |
|
THUẬT PHÓNG NGOÀI, bộ phận của thuật phóng nghiên cứu chuyển động của đạn (tên lửa) sau khi chấm dứt sự tương tác lực giữa nòng súng, pháo hay thiết bị phóng với chúng và những yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động này. TPN gồm các phần: nghiên cứu lực và mômen tác động vào đạn trên đường bay (với tên lửa trên đoạn tích cực của quỹ đạo còn kể cả lực đẩy của động cơ); nghiên cứu chuyển động của khối tâm của đạn để tính toán các phần tử của đường đạn (đường bay) và các chuyển động của đạn đối với khôi tâm của nó (tự quay, chương động, tiến động...) để xác định độ ổn định của đạn khi bay và những đặc tính tản mát; lí thuyết lượng sửa; nghiên cứu phương pháp thu nhận số liệu để lập bảng bắn; thiết kế TPN... Chuyển động của đạn trong những trường hợp đặc biệt (bắn từ trên không, trong nước, trong lòng mục tiêu...) được nghiên cứu trong các phần riêng của TPN như: thuật phóng hàng không, thuật phóng dưới nước, thuật phóng sát thương.
THUẬT PHÓNG TRONG, bộ phận của thuật phóng nghiên cứu chuyển động của đạn trong nòng và các quá trình khác xảy ra trong lòng nòng khi bắn (đối với hỏa khí có nòng) hay các quá trình xẩy ra trong buồng đốt động cơ ở giai đoạn thuốc phóng cháy (đối với đạn phản lực, tên lửa). Có TPT của hỏa khí có nòng và TPT của tên lửa. Đối với hỏa khí có nòng, TPT nghiên cứu quá trình hắn theo bốn thời kì: thời kì sơ bộ - từ lúc thuốc phóng bắt đầu cháy tới lúc đạn bắt đầu chuyển động; thời kì thứ nhất - từ lúc đạn bắt đầu chuyển động tới lúc thuốc phóng cháy hết; thời kì thứ hai - từ lúc thuốc phóng cháy hết tới lúc đạn bay khỏi miệng nòng; thời kì tác động sau cùng của khí thuốc - từ lúc đạn bay khỏi miệng nòng tới khi hết tác động của khí thuốc vào đạn. Phần nghiên cứu thời kì tác động sau cùng còn có thể tách riêng, gọi là thuật phóng trung gian. Đối với tên lửa, TPT nghiên cứu quy luật cháy của nhiên liệu trong buồng đốt, sự thoát khí qua ống phụt, sự tạo lực đẩy... Các phần chính của TPT gồm: nhiệt tĩnh học (nghiên cứu quy luật cháy của thuốc phóng và sự tạo khí trong thể tích không đổi - với súng, pháo, hay trong thể tích nửa kín với áp suất không đổi - với tên lửa); nhiệt động học (nghiên cứu các quá trình xảy ra trong lòng nòng khi bắn hoặc trong buồng đốt khi phóng tèn lửa và mối quan hệ giữa chúng); thiết kế thuật phóng (xác định tham số kết cấu của súng, pháo, liều phóng, động cơ,... để đạt các tính năng cần thiết của vũ khí). TPT xuất hiện vào tk 16. Các nhà khoa học có công phát triển TPT: Rôbinxơ, Hetton, Becnuli, Ph. Đrôdôp, Ancuđrôvich. Khrischianôvich... Cg nội phao.
THỤC PHÁN (?-179tcn), người gây dựng nước Âu Lạc. thủ lĩnh tộc người Âu Việt ở vùng núi phía bắc nước Văn Lang. Khoảng 208tcn, sau khi lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần (214-208tcn) thắng lợi, TP hợp nhất tộc người Âu Việt và Lạc Việt, lập nước Âu Lạc, lên ngôi vua. xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê (Cổ Loa, h. Đông Anh, tp Hà Nội). TP lo việc xây thành Cổ Loa (Loa Thành), sai Cao Lỗ chế nỏ và tên đồng để giữ nước. Khoảng 181tcn, lãnh đạo quân và dân Âu Lạc nhiều lần đánh thắng quân Triệu xâm lược, nhưng sau đó bị Triệu Đà dùng mưu lập thông gia để chia rẽ nội bộ và thôn tính Âu Lạc. 179tcn Loa Thành mất. Trên đường rút chạy, TP tự vẫn ở biển Đại Nha (x. kháng chiến chống Triệu, 181 -179tcn). Hiện còn đền thờ ở cổ Loa (Đông Anh) và ở núi Mộ Dạ (h. Diễn Châu, t. Nghệ An).
THUỐC ĐEN (thuốc phóng có khói), hỗn hợp cơ học dạng hạt của nitrat kali, than gỗ và lưu huỳnh theo tỉ lệ nhất định (thường là 75:15:10). Đặc tính của TĐ: Q = 2.900 kJ/Kg; w=300 dm3/kg; T=2.400K, 5=l,5-l,9kg/dm3; /=0,3MJ/kg TĐ được người TQ tìm ra từ năm 682 và được ứng dụng làm vũ khí từ tk 10. Người châu Âu tìm ra TĐ từ tk 13, đến giữa tk 19 được sử dụng làm thuốc nổ phá duy nhất, từ cuối tk 19 dùng chế tạo dây cháy, liều châm lửa, liều tăng lửa, liều giữ chậm trong ngòi nổ, liều thuốc đẩy đạn súng săn.
THUỐC NỔ, chế phẩm của chất nổ mà khi chịu tác động của những xung kích thích từ bên ngoài đủ mạnh thì thường nổ (mà ít cháy). Được phân loại theo: thành phần (đơn, hỗn hợp); trạng thái (lỏng, rắn, khí, dẻo); tính chất và công dụng (mồi, phá)... TN sử dụng để nhồi vào hạt lửa. bộ lửa đạn pháo, kíp nổ, đạn hỏa thuật, liều phóng các loại đạn dược,... hoặc dùng trong công nghiệp.
THUỐC NỔ DẺO, thuốc nổ phá hỗn hợp (hêxôgen, tetrin) với các chất phụ gia làm dẻo; là loại thuốc nổ mạnh, đồng nhất và dễ biến dạng. Có các loại: TND đinamit (gồm nitrôglixêrin, hêxôgen hoặc pentrit...), TND C4 (gồm hêxôgen và xăng khô). Dùng làm lượng nổ cho đầu đạn xuyên phá và chế tạo lượng nổ có hình dạng theo yêu cầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|