Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:12:51 am » |
|
THUỐC NỔ MỒI, thuốc nổ có độ nhạy cao với các xung kích thích ban đầu (va đập, cọ xát, đâm chọc, tia lửa điện...), dùng gây nổ các loại thuốc nổ kém nhạy hơn hoặc dùng làm mồi cháy thuốc phóng. TNM thường dùng là phuminat thủy ngân, axít chì, stipnat chỉ, tetrazen,... dưới dạng đơn chất hoặc hỗn hợp. Đặc trưng cơ bản của TNM là độ nhạy và khả năng kích nổ. Được dùng trong các phương tiện kích nổ như hạt lửa, kíp nổ, bộ lửa đạn pháo, các bộ tự hủy, liều phóng ghế thoát hiểm cho phi công... Cg thuốc mồi, thuốc kích nổ.
THUỐC NỔ PHÁ, thuốc nổ kém nhạy với các xung kích thích ban đầu, có năng lượng nổ cao, tốc độ nổ lớn (đến 8.500m/s) và khả năng phá hủy mạnh, được dùng chủ yếu để phá hủy vật thể. TNP được đặc trưng bời nhiệt suất nổ, tốc độ nổ, độ dập vụn, độ phá... Theo thành phần kết cấu, có: TNP đơn (TNT, hêxôgen, tetrin, pentrit...) và TNP hỗn hợp (amonit, thuốc nổ thuần hóa, thuốc nổ dẻo, thuốc nổ có chứa kim loại...). Dùng để nhồi vào các loại đạn dược hoặc dùng trong công tác nổ...
THUỐC PHÓNG, chế phẩm của chất nổ mà khi bị tác động bởi xung nhiệt (tia lửa) từ bên ngoài, thì thường cháy (ít nổ) theo quy luật từng lớp song song (không cần lấy ôxi từ bên ngoài), tạo nên một lượng khí lớn, để đẩy đầu đạn, tên lửa,... chuyển động hoặc dùng vào các mục đích khác. Sự cháy theo time lớp song song trong điếu kiện áp suất lớn của TP cho phép điều chỉnh tốc độ tạo khí. Theo lượng khói sinh ra, có: TP có khói (thuốc đen), TP không khói (ballistic, không phát lừa, coocđit, pirôcxilin); theo thành phần, có: TP đơn, TP hỗn hợp: theo bề mặt cháy, có: TP cháy tăng diện, TP cháy giảm diện... Các đặc trưng chủ yếu của TP: nhiệt suất nổ (Q); thể tích khí dược tạo thành khi đốt cháy 1kg TP(W); nhiệt độ khí (T) khi TP cháy trong điều kiện thể tích không đổi và không có tổn hao nhiệt; mật độ TP (d); “lực” TP(f) (công giãn nở tự do 1kg khí TP khi đốt nóng từ 0°C đến nhiệt độ cháy và áp suất 101,3 kN/m2).
THUỐC PHÓNG KHÔNG KHÓI, thuốc phóng được chế tạo từ các nitrat xenlulô được hóa dẻo bằng các dung môi bay hơi hoặc khó bay hơi. Thành phần chủ yếu: nitrat xenlulô, dung mới hóa dẻo, chất an định hóa học và chất phụ gia. Sản phẩm cháy là các khí nhẹ và hơi, không tạo khói. Tùy theo phương pháp điều chế, có: thuốc phóng pirôcxilin (thuốc phóng một gốc) là pirôcxilin được hóa dẻo bởi dung môi bay hơi (cồn - ete); đặc tính: 0=2.900 3.800kJ/kg, w=900-1000dm3/kg, T=2.270-2.900K, d = l,55-l,58kg/dm3, f =0,9-1 MJ/kg; nhược điểm chính là các đặc tính không ổn định; dùng chế tạo liều phóng đạn súng bộ binh và pháo binh; được P. Viel (Pháp) tìm ra 1884. Thuốc phóng balistit (thuốc phóng hai gốc) là côlôcxilin được hóa dẻo bằng các dung môi khó bay hơi (nitrôglixêrin, điêtilenglicônđinitrát,...); đặc tính (đối với pháo/ đối với tên lửa): Q= 3.700/5.000 kJ/kg, W=750/560 dm3/kg, T= 2.550/2.790K; d = 1,56/1,65 kg/dm3, / = 1/1,2 MJ/kg. Ưu điểm: đặc tính ổn định, độ bền cao, ít hút ẩm...; nhược điểm: nguy hiểm trong chế tạo (do chứa nitrôglixêrin); dùng chế tạo liều phóng đạn pháo binh và nhiên liệu rắn của tên lửa; được A. Nôben (Thụy Điển) phát minh năm 1888. Thuốc phóng coocđit (thuốc phóng hai gốc) là pirôcxilin có hàm lượng nitơ cao, được hóa dẻo bằng dung môi hỗn hợp (nitrôglixérin và hỗn hợp cồn - ête); đặc tính: Q = 3550kJ/kg, w=990dm3/kg, T=2.90OK, d = 1,6 kg/dm3, / = 1 MJ/kg; nhược điểm gây bào mòn nòng; dùng làm liều phóng đạn pháo binh, tên lửa của các nước phương Tây; được tìm ra ở Anh năm 1890. Thuốc phóng không phát lửa, chứa các chất phụ gia đặc biệt (như: sunphat kali, vadơlin...) bảo đảm khi bắn không phát ra lừa và khói.
THUỘC ĐỊA, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia bị một nước TBCN (ĐQCN) xâm chiếm, cai trị, áp bức, bóc lột và bị mất chủ quyền, phụ thuộc hoàn toàn vào chính quốc. TĐ hình thành từ khi CNTB ra đời, các cường quốc TBCN tiến hành xâm lược thôn tính để bành trướng, mở rộng thị trường. Đến thời kì ĐQCN, TĐ trở thành thị trường quan trọng cung cấp nguyên liệu, nhân công, đầu tư kiếm lợi nhuận và tiêu thụ hàng hóa,... của chính quốc; một số trở thành căn cứ quân sự của các nước đế quốc. Sau CTTG-II, để đối phó với phong trào giải phóng dân tộc, CNĐQ áp dụng chủ nghĩa thực dân mới, biến nhiều TĐ thành nửa thuộc địa.
THỦY ĐỘI. tổ chức tương đương hải đội, bao gồm các tàu nhỏ hoạt động trên sông và ven biển; là các phân đội tàu chiến đấu đầu tiên của Hải quân nhân dân VN. 24.8.1955 thành lập hai TĐ Sông Lô và Bạch Đằng, gồm 26 ca nô chiến đấu để bảo vệ bờ biển miền Bắc VN. Ngày nay, thuật ngữ TĐ không còn sử dụng trong tổ chức lực lượng của Hải quân nhân dân VN.
THỦY ĐỘNG LỰC HỌC, bộ phận của cơ học chất lỏng, nghiên cứu chuyển động của những chất lỏng không nén được và tác dụng tương hỗ của chúng lên vật thể rắn mà chúng tiếp xúc. Có: TĐLH chất lỏng lí tướng (bỏ qua ma sát nhớt) và TĐLH chất lỏng nhớt. TĐLH là cơ sở lí thuyết để thiết kế tàu thủy, tính toán tuabin thủy lực và bơm, các công trình thủy lợi và đường ống dẫn, nghiên cứu tính thấm của nước ngầm và dầu... Trong QS, dùng để tính toán thiết kế tàu nổi, tàu ngầm, ngư lôi, các hệ thống cấp nước dã chiến, cấp nhiên liệu cho động cơ, bôi trơn, làm mát và những thiết bị thủy lực khác trong nhiều trang bị KTQS.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:14:05 am » |
|
THỦY LÔI. mìn của hải quân được bố trí trong nước để diệt mục tiêu dưới nước (tàu mặt nước, tàu ngầm...) hoặc cản trở việc cơ động của chúng. Gồm: thân (vỏ) hình cầu hoặc trụ. lượng thuốc nổ (thường hoặc hạt nhân), ngòi nổ. thiết bị đặt và giữ TL ở vị trí xác định trong nước... TL có thể được thả từ tàu mặt nước, tàu ngầm, khí cụ bay. Theo đặc điểm thả đặt, có: TL hàng không, TL neo, TL đáy, TL trôi, TL kéo theo, TL nổi phản lực, TL - ngư lôi. Theo nguyên lí hoạt động của ngòi nổ, có: TL tiếp xúc (sừng chạm, anten, điện - chạm nổ, va đập - cơ khí...), TL không tiếp xúc (âm thanh, từ trường, thủy động, cảm ứng hoặc kết hợp). TL hiện đại có đường kính 0,4-0,6m. dài l,7-4,5m, khối lượng 400-1.000kg, mang từ vài chục đến 600kg thuốc nổ thường hoặc lượng nổ hạt nhân (một TL đương lượng nổ 20kt có thể đánh chìm mọi loại tàu ở cự li 700m hoặc gây hư hại nặng ở cự li 1.400m cách tâm nổ). TL xuất hiện lần đầu tiên ở Nga 1769. Trong CTTG-I, khoáng 310 nghìn TL được dùng, đánh đắm 400 tàu chiến và 600 tàu buôn của các nước tham chiến. Trong CTTG-II horn 700 nghìn TL được dùng, đánh chìm 750 tàu Anh, Mĩ, 210 tàu Đức, 213 tàu Nhật... Trong chiến tranh ở VN, Mĩ dùng hàng ngàn TL phong tỏa vùng biển, phá hoại cầu trên sông; VN dùng nhiều loại TL: UĐM, AĐM, IAM, KPM, ĐM-1, KB. PĐM-1, PĐM-2, APS (TL tự tạo dùng ngòi thủy động),... diệt nhiều tàu đối phương.  THỦY LÔI ĐÁY (thủy lôi chìm), thủy lôi không tiếp xúc, được đặt ở đáy biển, thường ở độ sâu nhỏ hơn 50-70m để tiêu diệt tàu mặt nước và tàu ngầm (khi ở độ sâu hàng trâm mét). Ngòi nổ của TLĐ hoạt động dưới tác dụng của một số trường vật lí (âm thanh, áp suất, từ trường hoặc kết hợp giữa chúng) do tàu mục tiêu gây ra. TLĐ đầu tiên do Đ. Busơnen (Mĩ) chế tạo 1775-76 và được hải quân các nước sử dụng trong hầu hết các cuộc chiến tranh trên biển. Trong CTTG-II. Nga đã chế tạo và sử dụng TLĐ tương đối hiện đại với ngòi cảm ứng từ AMD-1 và ngòi âm thanh kết hợp cảm ứng từ AMĐ-2. Trong chiến tranh VN, hải quân Mĩ sử dụng các TLĐ MK-50, MK- 52 (dài l,52m, đường kính 430mm. khối lượng toàn bộ 516kg; thuốc nổ 300kg, có cơ cấu định giờ, định lần rất phức tạp; cơ cấu gây nổ tự hủy từ 1 đến 145 ngày, thời gian phong tỏa có hiệu lực đến 5 tháng; bán kính sát thương 60m; ngòi nổ âm thanh - cảm ứng từ; độ sâu thả: 4-45m), MK-63. Hải quân VN đã cải tiến TLĐ AMĐ-2-500 và AMD-2-1000 thành TLĐ HAT-2, kết hợp với ngành công nghiệp quốc phòng chế tạo TLĐ APS. Các TLĐ này đã được sử dụng trên sông Cửa Việt và tiêu diệt được nhiều tàu địch. Ngày nay, TLĐ vẫn được hải quân các nước phát triển theo hướng tinh vi hơn và hiệu quả chiến đấu cao hơn, có ngòi nổ phức tạp, thậm chí có thể điều khiển từ xa. định lần, định giờ, chống tháo gỡ... THỦY LÔI HÀNG KHÔNG, thủy lôi được thả từ khí cụ bay. Có thể là thủy lôi đáy, thủy lôi neo hoặc thủy lôi trôi, được trang bị các bộ ổn định và dù bảo đảm rơi ổn định. Được không quân Anh. Mĩ sử dụng từ CTTG-II. Trong chiến tranh VN, không quân của hải quân Mĩ đã thả ở các cứa sông, vùng biển trọng điểm của miền Bắc VN hàng ngàn TLHK. THỦY LÔI KÉO. thủy lôi tiếp xúc, cả lượng thuốc nổ và ngòi nổ được đặt trong một thân vỏ có dạng thủy động học, có dây nối để kéo theo tàu ở một độ sâu định trước. Được sử dụng lần đầu trong chiến tranh Nga - Thổ (1877-78). Trong CTTG-I được dùng chủ yếu để tiêu diệt tàu ngầm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:15:42 am » |
|
THỦY LÔI NEO, thủy lôi có sức nổi dương, được giữ ở độ sâu nhất định trong nước nhờ hệ thống dây cáp hoặc xích neo nối với đế (bệ) neo nằm ở đáy biển (sông). Sử dụng ngòi nổ tiếp xúc, không tiếp xúc, hoặc kết hợp. TLN thường được thả từ phương tiện thả qua hệ thống ray. Đế neo TLN có các bánh xe trượt để trượt theo hệ thống ray. Khi đế neo tiếp xúc với đáy biển (sông), nhờ cơ cấu đặc biệt, thủy lôi tách khỏi đế (nhưng vẫn nối với đế bàng xích neo) nổi lên vị trí chiến đấu xác định trong nước. TLN chạm nổ (tiếp xúc) đầu tiên do viện sĩ Nga B. Iacôbi chế tạo từ 1840. Trong chiến tranh Nga - Thổ (1877-78), Nga đã sử dụng nhiều loại TLN có khối lượng thuốc nổ 40-50kg. Năm 1908 xuất hiện TLN có khả năng tự định được độ sâu xác định. Trong CTTG-II, xuất hiện TLN có ngòi nổ không tiếp xúc và tiếp xúc (KB) hiện đại hơn, tự động định được độ sâu cần thiết. TLN được hải quân các nước tham gia chiến tranh sử dụng rộng rãi, kết hợp với các loại thủy lôi khác trong CTTG-I và CTTG-II. Trong chiến tranh Vùng Vịnh, 1990-91, Irắc đã thả nhiều TLN trong số trên 1 triệu thủy lôi các loại, tạo thành hệ thống chướng ngại thủy lôi, gây khó khăn cho hoạt động QS trên biển của Mĩ và liên quân. Ngày nay TLN phát triển theo hướng đa năng, dễ dàng thả hoặc phóng đi từ các phương tiện mang, tăng bán kính sát thương và tăng sức công phá mục tiêu. THỦY LÔI - NGƯ LÔI, thủy lôi đáy có thùng chứa một ngư lôi tự dẫn hoặc lắp động cơ ngư lôi ở phía sau. Khi có tín hiệu tàu thuyền đến gần, TL-NL sẽ tự động mở nắp thùng chứa, khởi động ngư lôi lao đến mục tiêu hoặc động cơ ngư lôi làm việc và đẩy TL-NL đến mục tiêu. TL-NL MK-60 (Captow) của hải quân Mĩ chứa ngư lôi tự dẫn âm thanh MK-46. Khi có trường âm thanh mục tiêu (tàu) tác động, nắp thùng chứa tự động mở và ngư lôi MK-46 phóng đến tiêu diệt mục tiêu. TL-NL MĐC của Nga (dài 7,9m, nặng 1.380kg, đường kính 534mm, bán kính sát thương 50m) lắp ngòi nổ không tiếp xúc, có động cơ đẩy phía sau, được thả từ máy bay chuyên dụng hoặc phóng từ ống phóng lôi trên tàu mặt nước hay tàu ngầm để diệt tàu ngầm, tàu mặt nước ở biển xa, đại dương. Khi phát hiện mục tiêu, động cơ làm việc và đẩy TL-NL đến phá hủy mục tiêu. THỦY LÔI TRÔI (thủy lôi nổi), thủy lôi không có thiết bị neo, được giữ nổi ở độ sâu xác định trong nước nhờ thiết bị đặc biệt (thiết bị thủy tĩnh và các vây ổn định), có thể di chuyển vị trí do tác động của sóng gió, dòng chảy, thủy triều... Xuất hiện đầu tiên 1769 ở Nga (là loại được điểm hỏa bằng nguồn điện từ trên bờ). Công ước quốc tế La Hay (1907) cấm sử dụng TLT (trừ khi chúng được xác định là vô hại), nhưng một số nước vẫn sản xuất, tàng trữ và sử dụng bất chấp luật pháp quốc tế. TLT được tiếp tục sử dụng trong chiến tranh Nga - Nhật, CTTG-I, CTTG-II, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91). Mĩ mới sản xuất TLT kiểu bát giác, khối lượng toàn bộ 1.500kg, lượng thuốc nổ 200kg. nổ định giờ, đầu nổ tự điều khiển hoặc điều khiển từ xa. THỦY LÔI TỰ HÀNH (ngư lôi - thủy lôi), thủy lôi có thể tự di chuyển sau khi được thả xuống nước nhờ hệ thống đẩy (gồm động cơ và chân vịt) tới vị trí xác định để sẵn sàng tiêu diệt mục tiêu. Cự li di chuyển có thể tới hàng chục kilômét (TLTH kiểu MK-67 của Mĩ tự di chuyển đến 20km). THỦY PHI CƠ, máy bay có khả năng cất và hạ cánh trên mặt nước. Có: TPC thân thuyền (cg thuyền bay), TPC thân phao (phao dạng điếu xì gà) và TPC lưỡng dụng (TPC thân thuyền có cơ cấu càng, bánh xe để cất, hạ cánh trên mặt đất hoặc trên tàu, có khả năng bơi trên nước). Động cơ của TPC đặt cách xa mặt nước để tránh nước vãng vào hệ thống hút khí và cánh quạt: vật liệu thân thuyền và thân phao nhẹ, không thấm nước. Các thông số kĩ thuật bay của TPC thấp hơn so với máy bay bình thường. TPC dân sự dùng nghiên cứu khoa học, liên lạc và cứu hộ trên biển. TPC QS chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát mặt biển, tìm diệt tàu ngầm và tàu mặt nước đối phương, liên lạc giữa các tàu và đoàn tàu hộ tống... TPC được nghiên cứu và sản xuất ở các nước Nga (1911), Mĩ, Anh, Pháp, Đức. Nhật. Italia và được sử dụng rộng rãi trong CTTG-II.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:17:15 am » |
|
THỦY QUÂN (thủy binh: cổ), quân có khả năng tiến hành các hoạt động chiến đấu trên sông và vùng biển gần bờ, được trang bị tàu, thuyền mặt nước. Ở VN, TQ có từ thời các vua Hùng dựng nước; đã lập nhiều chiến công hiển hách, tiêu biểu là trận Bạch Đằng (938) trong kháng chiến chống Nam Hán lần II (938), trận Bạch Đằng (1288) trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần III (1287-88), trận Rạch Gầm - Xoài Mút (1785)... THỦY QUÂN LỤC CHIẾN nh HẢI QUÂN ĐÁNH BỘ THỦY SƯ ĐÔ ĐỐC nh ĐÔ ĐỐC HẠM ĐỘI THỦY TRIỀU, hiện tượng dao động tuần hoàn mực nước biển dưới tác dụng lực hút của Mặt Trăng và Mặt Trời. Khi mực nước biên dâng lên cao nhất gọi là nước cường, khi rút xuống thấp nhất là nước ròng. Thông thường thủy triều diễn ra hai chu kì trong một ngày đêm (chế độ bán nhật triều), song cũng có nơi chỉ có một chu kì (chế độ nhật triều). Biên độ dao động đạt giá trị lớn nhất khi Mặt Trăng và Mặt Trời cùng nằm trong một mặt phẳng kinh tuyến Trái Đất, nhỏ nhất khi Mặt Trăng và Mặt Trời nằm trong hai mặt phảng kinh tuyến vuông góc với nhau. THỦY VĂN HỌC, khoa học về sự tồn tại và các quá trình, hiện tượng vận động của nước tự nhiên trên Trái Đất, quy luật tác động và quan hệ tương hỗ của nó với môi trường tự nhiên và hoạt động xã hội của con người. Theo đối tượng nghiên cứu (loại nguồn nước), TVH chia thành ba phân ngành lớn: TVH đại dương (thủy văn biển), TVH lục địa (thủy văn về nước trên mặt đất) và địa chất thủy văn (thủy văn nước ngầm). Ba lĩnh vực trên đều liên quan mật thiết đến các hoạt động QS. Các số liệu thủy văn biển được sử dụng trong bảo đảm huấn luyện và tác chiến của hải quân. Các số liệu của TVH lục địa đặc biệt cần thiết cho lục quân trong tác chiến hèn quan đến việc vượt các chướng ngại nước. Các số liệu về địa chất thủy văn được sử dụng trong việc xây dựng các công trình ngầm QS cũng như việc khai thác các nguồn nước phục vụ cho hoạt động QS và đời sống bộ đội. THỤY ĐIỂN (Vương quốc Thụy Điển; Konungariket Sverige, A. Kingdom of Sweden), quốc gia ở Bắc Âu, trên bán đảo Xcăngđinayơ. Dt 449.964km2; ds 8,878 triệu người (2003); 96% người Thụy Điển, 4% người Phần Lan, Đan Mạch, La Pon, Na Uy... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Thụy Điển. Tôn giáo: dòng Luthơ (94%). Thủ đô: Xtôckhôm. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội. Cơ quan hành pháp: chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Phía bắc và phía tây là dãy núi Xcăngđinavơ, đỉnh Kepnêcâyse 2.117m (cao nhất TĐ). Phần lớn lãnh thổ còn lại là cao nguyên và đồng bằng. Vùng Svilan ở trung tâm có nhiều hồ. Phía nam là vùng đồng bằng màu mỡ Scanne. Nhiều sông chảy xiết. Rừng che phủ 57% diện tích. Nước công nghiệp phát triển cao, nông nghiệp thâm canh. Các ngành công nghiệp chủ yếu: chế tạo máy, đóng tàu, điện tử, công nghiệp xenlulô - giấy, chế biến gỗ, luyện kim, khai thác mỏ (sắt, uran), hóa chất, thực phẩm, dệt. Công nghiệp QS sản xuất vũ khí pháo binh, tên lửa, vật liệu nổ, kĩ thuật tăng thiết giáp và không quân, tàu chiến. Xuất khẩu vũ khí. Nông nghiệp đảm bảo cung cấp 90% nhu cầu trong nước, ngành nông nghiệp chính là chăn nuôi; trồng lúa mạch, củ cải đường, khoai tây... GDP 209,814 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 23.590 USD. Thi hành chính sách trung lập, chủ trương biến Bắc Âu thành khu vực không có vũ khí hạt nhân. Thành viên LHQ (19.11.1946), Liên minh châu Âu (EU), Hội đồng Bắc Âu. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 11.1.1969. LLVT: lực lượng thường trực 33.900 người (lục quân 19.100. hải quân 7.100, không quân 7.700), lực lượng dự bị 262.000. Tuyển quân theo chế độ động viên. Trang bị: 280 xe tăng, 1.327 xe chiến đấu bộ binh. 650 xe thiết giáp chở quân, 180 pháo mặt đất, 759 súng cối, 57 tên lửa chống tăng, 600 pháo phòng không, tên lửa phòng không, 7 tàu ngầm, 20 tàu tên lửa, 25 tàu tuần tiễu, 2 tàu rải mìn, 23 tàu quét mìn, 23 tàu hộ tống, 203 máy bay chiến đấu... Ngân sách quốc phòng 4,5 tỉ USD (2002). 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:18:24 am » |
|
THỤY SĨ (Liên bang Thụy Sĩ; Đ. Schweiz, Schweizerische Eidgenossenschaft, P. Confederation Suisse; A. Switzerland, Swiss Confederation), quốc gia ở Trung Âu. Dt 41.284km2; ds 7,3 triệu người (2003); 65% người Đức, 18% Pháp, 10% Italia, 1% Roman. 6% người các dân tộc khác. Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức. Pháp. Italia. Tôn giáo: 48% đạo Thiên Chúa, 44% dạo Tin Lành. 3% các tôn giáo khác. Thủ đô: Becnơ. Chính thể cộng hòa liên bang theo chế độ dân chủ đại nghị, gồm 26 bang; đứng đầu nhà nước và cơ quan hành pháp (chính phủ) là tổng thống liên hang, do quốc hội bầu ra trong số quốc vụ khanh, nhiệm kì một năm. Cơ quan lập pháp tối cao: quốc hội liên bang gồm hai hội đồng: viện dân tộc và viện liên bang. Cơ quan hành pháp tối cao: hội đồng liên bang (chính phủ). Phần lớn lãnh thổ thuộc hệ thống núi Anpơ, có đỉnh cao 4.634m. Trung tâm là cao nguyên. Các sông chính: Sông Ranh, Rôn... Nhiều hồ lớn: hồ Giưnevơ, Bôđenơ... Nước công nghiệp phát triển, một trong những trung tâm tài chính và ngân hàng quan trọng của thế giới. Các ngành công nghiệp chính: chế tạo máy, gia công kim loại, hóa chất thực phẩm, dược phẩm, đồng hồ, năng lượng (thủy điện) dệt, may mặc, chế biến gỗ. Nông nghiệp cung cấp 60% nhu cầu trong nước. Các sản phẩm nông nghiệp chính: ngũ cốc, rau quả, củ cải đường, nho, bơ sữa, cỏ khỏ cho gia súc. Ngành du lịch và tiền thuế thu từ các tổ chức quốc tế đóng trụ sở tại TS thu hút được nhiều ngoại tệ. GDP 247,1 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 34.170 USD. Thành viên LHQ (10.9.2002), Hội đồng châu Âu, Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu. Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 11.10.1971. LLVT: lực lượng thường trực (chỉ có khung thường trực) 3.500 người, lực lượng dự bị 351.000; lực lượng khi động viên: lục quân 320.400, không quân 30.600. Trang bị: 556 xe tăng. 435 xe chiến đấu bộ binh, 319 xe thiết giáp trinh sát, 1.257 xe thiết giáp chờ quân, 558 pháo mặt đất, 1.890 súng cối, 3.063 tên lửa chống tăng, tên lửa phòng không Xtingơ, 138 máy bay chiến đấu (F-5, Miragiơ...), 60 máy bay trực thăng. Ngân sách quốc phòng 3,3 ti USD (2002).  THUYỀN (cổ), đơn vị tổ chức cơ bản của thủy quân QĐ các triều đại phong kiến Hậu Lê, Nguyễn và Tây Sơn ở VN, gắn với một loại chiến thuyền. Tùy theo kích thước, kết cấu, chức năng của từng loại chiến thuyền, T có quân số biên chế khác nhau, vd: khoảng 50 người (thời Lê Sơ, 1428-1527); 20-86 người thời nội chiến Trịnh - Nguyễn (1627-72)... Các T dùng để trực tiếp chiến đấu, ngoài quân số trực tiếp sử dụng chiến thuyền, còn có thể được biên chế (hoặc chở theo) quân chiến đấu. Vd: thời Tây Sơn, một số T có 16-60 đại bác, quân số 200-700 người... Thông thường, khoảng 4-5 T hợp lại thành 1 cơ, đội (hoặc vệ) thủy quân. THUYỀN LƯỠNG PHÚC (cổ), chiến thuyên cổ hạng trung (vừa), hai đáy (bụng); đáy trên chở lương thực, vũ khí hoặc lính chiến đấu; đáy dưới dành riêng cho phu chèo thuyền, chủ yếu dùng để vận tải. TLP đóng bằng gỗ, liên kết bằng đinh sắt, có buồm và nhiều mái chèo. Xuất hiện ở VN thời nhà Hồ (đóng lần đầu tiên 1403-04).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:19:22 am » |
|
THUYỀN MẪU TỬ, chiến thuyền cổ có cấu tạo hai thuyền lồng vào nhau và có thể tách rời nhau, chuyên dùng đánh hòa công. Thuyền ngoài (thuyền mẹ) dài khoảng 3 trượng 5 thước (12m), trong khoang chứa cỏ, củi, thuốc súng; đầu mũi cắm các đinh lớn. nhọn bằng sắt. Thuyền trong (thuyền con) là chiến thuyền nhỏ. Khi chiến đấu, TMT lao mạnh và cấm chặt các đinh đầu mũi vào mạn thuyền đối phương, thủy binh chàm lửa đốt thuyền mẹ. Thuyền con được tách ra khỏi thuyền mẹ, rút lui hoặc tiếp tục chiến đấu như một chiến thuyền thông thường. Lửa bắt vào cỏ, củi, thuốc nổ rồi lan sang và làm nổ tung thuyền đối phương. Chế tạo lần đầu ở VN vào thời Lí (tk 12).
THUYỀN MÔNG ĐỒNG. chiến thuyên cổ hạng trung, vỏ bọc đồng để tăng độ bền và chống tên, đạn của đối phương. Dài khoảng 20m. rộng gần 4m; có 32 tay chèo. TMĐ chờ được 25 lính chiến và trang bị, cơ động nhanh. Xuất hiện ở VN khá sớm (807-809). Thời nhà Ngô (931), tướng Dương Đình Nghệ đã sử dụng TMĐ trong các trận thủy chiến chống quân Nam Hán xâm lược.
THUYỀN TRƯỞNG, chức vụ chỉ huy cao nhất của một tàu (thuyền) ở nhiều nước. TT hải quân VN có chức trách, nhiệm vụ như quy định trong Điều lệnh quản lí bộ đội (1991) và Điều lệnh tàu của BTL hải quân (1983). Chức danh của TT (diện bố trí, trần quân hàm, tiêu chuẩn...) theo quy định của BQP.
THUYẾT CHỦNG TỘC VỀ CHIẾN TRANH, thuyết coi nguồn gốc chiến tranh là sự cạnh tranh sinh tồn; cơ sở tư tưởng của chú nghĩa sôvanh, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa phát xít. Xuất hiện từ tk 19. Theo TCTVCT, loài người vốn sinh ra đã có những chủng tộc “thượng đảng” và “hạ đẳng”, cuộc đấu tranh giữa hai chùng tộc ấy là “tự nhiên”, “không tránh khỏi” và “là động lực thúc đẩy lịch sử xã hội phát triển”, chủng tộc “thượng đẳng" nhất định chiến thắng và có “quyền chính đáng” thống trị, nô dịch, thậm chí tiêu diệt chủng tộc “hạ đẳng”. TCTVCT xuyên tạc nguồn gốc, bản chất của chiến tranh. Ngày nay, CNĐQ và các thể lực thù địch phản động dựa vào TCTVCT để kích động các cuộc xung đột trên thế giới.
THUYẾT ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, thuyết chính trị - xã hội về việc thiết lập hệ thống chính trị trong đó có nhiều đàng phái chính trị với những xu hướng và ý đồ chính trị khác nhau, đối lập nhau được tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nhằm tranh giành quyền thống trị xã hội. Cơ sở triết học của TĐNCT là thuyết đa nguyên luận cho ràng: tất cả những cái hiện tồn được tạo thành bởi nhiều đơn nguyên có bản chất cô lập, ngang nhau, không thể quy thành một khởi nguyên duy nhất: phủ định tính thống nhất, mối liên hệ nội tại và tính quy luật vận động khách quan của thế giới vật chất. Trong địa hạt chính trị, TĐNCT thuộc hệ tư tưởng tư sản, lúc đầu nhằm chống độc quyền chân lí của hệ tư tưởng phong kiến và giáo hội, đề cao tư tưởng tự do. bình đảng, bảo vệ quyền tồn tại của các cá nhân và các lực lượng chính trị khác nhau trong xã hội. Đến giai đoạn CNĐQ. TĐNCT trở thành công cụ và phương pháp thống trị của CNTB nhằm tô vẽ, bảo vệ chế độ dân chủ tư sàn và quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. Khi CNXH hiện thực ra đời, TĐNCT là công cụ. thủ đoạn của CNTB hiện đại. của các thế lực phản động đồng thời cũng là quan điểm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa xã hội dân chủ nhằm xuyên tạc. chống phá chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của ĐCS, nguyên tắc tập trung dân chủ, tính thống nhất về chính trị, tư tưởng trong xã hội XHCN và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tiến tới xóa bỏ CNXH. Cùng với việc phê phán, bác bỏ TĐNCT, các ĐCS cầm quyền và nhà nước XHCN cần không ngừng hoàn thiện nền dân chú XHCN, thực hiện dầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động.
THUYẾT ĐACUYN XÃ HỘI. khuynh hướng tư tưởng xã hội học tư sàn cuối tk 19 đầu tk 20, áp dụng máy móc thuyết tiến hóa của Đacuyn vào xã hội, luận giải quá trình phát triển xã hội giống sự tiến hóa của sinh vật. TĐXH coi các nguyên tác sinh vật học về chọn lọc tự nhiên, về đấu tranh sinh tồn là nguyên tắc quyết định của xã hội loài người; coi đấu tranh giai cấp, chiến tranh là lẽ “tự nhiên” và “không tránh khỏi” của mọi xã hội. Được sử dụng làm cơ sở lí luận biện hộ cho sự tồn tại của xã hội tư bản, sự thống trị của giai cấp tư sản, ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa bành trướng... Thực chất TĐXH phủ nhận hệ tư tưởng Mác - Lênin, xuyên tạc lí luận hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết giai cấp, đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, che giấu nguồn gốc chiến tranh là CNĐQ và giai cấp bóc lột.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:20:07 am » |
|
THUYẾT ĐẠI ĐÔNG Á, thuyết chủ trương liên kết các nước khu vực Đỏng Á thành một khối Đại Đông Á thịnh vương chung, đứng đầu là Nhật Bán, do chủ nghĩa quân phiệt Nhật đề xướng 1940. TĐĐA phản ánh mưu đồ thôn tính và thống trị của Nhật đối với các nước Đông Á, biến khu vực này thành thuộc địa của Nhật để 'khai thác các nguồn lực phục vụ mưu đồ xâm lược trong CTTG-II. Sau khi đánh chiếm Triều Tiên, Mãn Châu...(vào những năm 30 của tk 20), Nhật đưa ra TĐĐA nhằm tiếp tục thôn tính các nước khác (tấn công căn cứ Trân Châu Cảng, quân đảo Guam, đổ bộ vào Hồng Công, Philippin. Đông Dương, bán đảo Malacca), mở rộng thuộc địa rộng 8 triệu km2 với 450 triệu dân. Trong cuộc chiến tranh xâm lược các nước Đông Á, Nhật đã vấp phải sự kháng cự của các nước trong khu vực và trước sự tiến công của QĐ LX và Đồng minh. Nhật phải đầu hàng vô điều kiện. Với thời cơ thuận lợi đó, nhân dân các nước Đông Á đã vùng lên đánh đuổi quân Nhật ra khỏi đất nước mình, trong đó nhân dân VN đã tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, giành chính quyền từ tay Nhật. TĐĐA sụp đổ cùng với sự thất bại hoàn toàn của phát xít Nhật trong CTTG-II.
THUYẾT ĐỊA CHÍNH TRỊ VỀ CHIẾN TRANH, thuyết tư sàn về nguồn gốc chiến tranh, xuất hiện phổ biến ở châu Âu và Mĩ vào cuối tk 19 đầu tk 20, do Ratxen (nhà địa lí Đức), Senlen (nhà địa lí Thụy Điển), Măckinđơ (nhà địa lí Anh), Mahan (nhà tư tưởng QS Mĩ)... đề xướng. Nội dung cơ bản: coi điều kiện địa lí là yếu tố quyết định tính chất, khuynh hướng đường lối đối ngoại, sự phát triển của một nước và là nguyên nhân chiến tranh để giải quyết vấn đề “không gian sinh tồn”. Cùng với thuyết Đacuyn xã hội và một số thuyết khác, TĐCTVCT được sử dụng làm cơ sở lí luận biện hộ cho hành động gây chiến tranh xâm lược của CNĐQ, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa hành trướng và các thế lực hiếu chiến, phản động.
THUYẾT ĐOMINÔ. thuyết về sự sụp đổ theo phản ứng dây chuyền của hệ thống các nước có chế độ chính trị giống nhau nếu một nước trong hệ thống đó bị sụp đổ (giống sự sụp đổ của hàng quân cờ Đôminô xếp dựng đứng khi thúc đổ quân đầu tiên). Do tổng thống Mĩ Truman đề xuất (1946), nhằm biện bạch cho việc Mĩ viện trợ QS cho Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì để giữ vùng Trung Đông trong vòng ảnh hưởng của Mĩ. Dựa vào TĐ. 2.1950 Hội đồng an ninh quòc gia Mĩ đã quyết định viện trợ QS cho Pháp ở Đống Dương và 1954 Aixenhao đã chuẩn bị cho việc Mĩ can thiệp vào VN khi quân Pháp bị vây hãm trong chiến dịch Điện Biên Phủ với lí do nếu để mất VN sẽ mất cả Đông Nam Á. TĐ trở thành cơ sở cho chính sách leo thang chiến tranh của đế quốc Mĩ trong chiến tranh xâm lược VN.
THUYẾT MANTUYT. thuyết về sự hạn chế phát triển dân số bằng chiến tranh, dịch bệnh, hạn chế sinh đẻ nhằm tránh tình trạng đới nghèo, do Mantuyt (1766-1834) đề xướng. TM đã chi ra nguy cơ và tác hại của việc gia tăng dân số quá mức và sự cần thiết phải giữ được sự cân bàng tương đối giữa gia tăng dân số và gia tăng sản xuất, cung ứng tư liệu sinh hoạt. Theo TM nguyên nhân chính của đói nghèo là việc gia tăng dân số nhanh hơn nhiều (cấp số nhân) so với việc gia tăng tư liệu sinh hoạt (cấp số cộng). TM chi xem xét vấn đề dân số trên bình diện tự nhiên, coi những chỉ tiêu phát triển cơ bản của xã hội là bất biến, phương thức sản xuất và năng suất lao động là không thay đổi; đói nghèo chỉ do sinh đẻ quá nhiều; không thấy vấn đề dân số và con đường giải quyết sự mất cân đối giữa dân số và tư liệu sinh hoạt không chi là quy luật tự nhiên mà còn bị chi phối, quy định, điều chình bởi quy luật xã hội, của trình độ văn minh và chịu sự tác động tích cực của chế độ chính trị - xã hội, do đó đã dẫn đến kết luận sai lầm rằng: sự cân bằng giữa dân số và phát triển chỉ có thể tìm thấy trong việc giảm dân số bởi chiến tranh, dịch bệnh, nạn đói hay bằng sự kiểm soát sinh đẻ nhờ vào sự tiết dục của các gia đình nghèo. Vì vậy các học giả tư sản đã lợi dụng sai lầm này để phát triển thành “TM mới”, theo họ mọi tệ nạn xã hội chỉ là do quần chúng lao động sinh đẻ quá nhiều (nhất là ở châu Á, Phi, Mĩ Latinh), để giải quyết các tệ nạn đó phải giảm bớt các tầng lớp “thấp”, loại bỏ những dân tộc “hèn kém”, mà phương tiện hữu hiệu, hợp quy luật tự nhiên để giảm bớt số dân quá thừa đó chính là “chiến tranh, dịch bệnh, nạn đới và lao động nặng nhọc”. Những sai lầm của TM. đặc biệt của “TM mới” đã trở thành cơ sở lí luận của chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và biện hộ cho tội ác của CNTB và CNĐQ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:21:13 am » |
|
THUYẾT SINH VẬT HỌC VỀ CHIÊN TRANH, thuyết giải thích chiến tranh như một hiện tượng sinh vật học, phát sinh từ bản năng sinh học của con người và sẽ vĩnh viễn tồn tại cùng với xã hội loài người. TSVHVCT hình thành từ sự biến tướng của các thuyết: thuyết Đacuyn xã hội, thuyết chủng tộc về chiến tranh, thuyết Mantuyt, thuyết địa chính trị về chiến tranh. TSVHVCT mang nội dung phản khoa học và phản động, một chỗ dựa của hệ tư tưởng quân phiệt, biện hộ cho hành động bạo lực vũ trang của CNĐQ, chuẩn bị tư tưởng , tinh thần cho các cuộc chiến tranh xâm lược. Những người theo TSVHVCT đã lợi dụng các vấn đề chủng tộc, tôn giáo, nhân khẩu thừa tương đối ở một số khu vực để khuếch trương thuyết này.
THUYẾT TÂM LÍ VỀ CHIẾN TRANH, hệ thống các thuyết giải thích nguồn gốc, bản chất của chiến tranh và xung đột vũ trang từ tâm lí con người; thuyết phản khoa học và phản động. Xuất hiện cuối tk 19 đầu tk 20, các thuyết phổ cập nhất: “bản năng xâm lược” của phái phân tâm học; “thói quen tấn công” của chủ nghĩa hành vi; “giáo quyền” - một biến dạng của chủ nghĩa duy tâm khách quan. TTLVCT dược hình thành trên cơ sở khuynh hướng tâm lí học tư sản với quan niệm: tâm lí không phản ánh các điều kiện đời sống vật chất xã hội, là cái vốn có, độc lập, không đổi; tâm lí (trong đó bản năng, hứng thú tiềm thức đứng hàng đầu) bao gồm mọi hình thái ý thức xã hội và tâm lí cá nhân hoặc tâm lí các tầng lớp xã hội là nhân tố chủ yếu của sự phát triển xã hội, nguồn gốc chiến tranh và mọi xung đột.
THƯ ĐIỆN TỬ (A. electronic mail, vt: e-mail), hình thức trao đổi thông tin qua các mạng máy tính, bao gồm; mạng vùng cục bộ (LAN), mạng vùng rộng (WAN), Internet... Tin tức dược chuyển đến người nhận qua địa chỉ là các hộp thư điện từ đăng kí trên mạng. Liên lạc bằng TĐT được thực hiện nhanh chóng, chính xác, thuận tiện; tin tức có thể đọc trên màn hình, in thành văn bản, lưu trong máy lính và khi cần thiết có thể chuyển, nhận cả sơ đồ, biểu đồ... Nhược điểm cơ bản khi liên lạc bằng TĐT là dễ lộ bí mật.
“THƯ GỬI CÁN BỘ VÀ CHIẾN SĨ Ở MẬT TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ”, thư của chủ tịch Hồ Chí Minh, được công bố 12.1953, khi các đơn vị bộ đội chủ lực của QĐND VN bắt đầu tiến vào Điện Biên Phủ. Nội dung chỉ rõ ba nhiệm vụ của bộ đội trong chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng căn cứ kháng chiến, giải phóng đồng bào ở Điện Biên Phủ và yêu cầu cán bộ chiến sĩ giữ vững quyết tâm tiêu diệt địch, chấp hành nghiêm chính sách, giành nhiều thắng lợi trong mọi hoàn cảnh.
“THƯ VÀO NAM”, tác phẩm tập hợp một số thư, điện của Lê Duẩn gửi cán bộ lãnh đạo Đảng, mặt trận, chỉ huy LLVTND VN ở chiến trường miền Nam trong KCCM (1954-75) và kết luận tại hội nghị BCT BCHTƯ ĐLĐ VN bàn về tình hình và nhiệm vụ CM miền Nam (7.1.1975); xuất bản 1985. “TVN” thể hiện quá trình phát triển sinh động và ngày càng hoàn thiện của đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp CM và chiến tranh CM ở miền Nam, do BCHTƯ ĐLĐ VN và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. “TVN” đã góp phần quan trọng vào việc tổng kết kinh nghiệm KCCM và nghiên cứu đường lối CM, đường lối quân sự của Đàng cộng sản Việt Nam.
THƯ VIỆN QUÂN ĐỘI, thư viện khoa học tổng hợp chuyên ngành QS cấp nhà nước, thư viện đầu ngành của hệ thống thư viện trong QĐND VN. một trong những trung tâm văn hóa, thông tin khoa học của QĐ; do TCCT chỉ đạo, quản lí. Có nhiệm vụ: sưu tầm, lưu giữ, khai thác, giới thiệu những sách, báo, tài liệu chủ yếu về QS và liên quan đến QS, phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin,... của bạn đọc trong và ngoài QĐ; lưu chiểu các xuất bản phẩm trong QĐ; trao đổi sách báo với thư viện QĐ các nước; hướng dẫn nghiệp vụ và phát hành sách cho hệ thống thư viện toàn quân... Đến 2000 có vốn sách hơn 300.000 bản, gần 1.500 loại báo, tạp chí và phục vụ gần 200.000 lượt bạn đọc mỗi năm. Thành lập 15.11.1957. Huân chương: Quân công hạng hai (1984)... Trụ sở: 83 Lí Nam Đế, Hà Nội. Giám đốc đầu tiên: Nguyễn Hữu Bưởi.
THỬ NGHIỆM TRANG BỊ KĨ THUẬT QUÂN SỰ, xác định bằng thực nghiệm các đặc tính định lượng, định tính của mẫu thử nghiệm và mẫu trang bị KTQS sản xuất hàng loạt, nhằm đánh giá mức độ phù hợp của chúng với tài liệu chuẩn kĩ thuật và tính năng chiến - kĩ thuật đã đề ra. Có TNTBKTQS trong phòng thí nghiệm, ở nhà máy, trong vận hành và sử dụng... Theo mục đích, có: thử nghiệm nghiên cứu, thử nghiệm kiểm tra, thử nghiệm so sánh, thử nghiệm nghiệm thu, thử nghiệm bàn giao; theo mức độ sản xuất, có: thư nghiệm mẫu sản xuất loạt đầu, mẫu sản xuất hàng loạt; theo dạng các yếu tố tác động, có: thử nghiệm cơ khí, thử nghiệm điện, thử nghiệm âm, thử nghiệm thủy lực, thử nghiệm bức xạ, thử nghiệm điện từ, thử nghiệm sinh học, thử nghiệm khí hậu; theo thời gian và cường độ sử dụng, có: thứ nghiệm bình thường, thử nghiệm tăng tốc, thử nghiệm cường hóa. thử nghiệm rút gọn; theo tính chất thử nghiệm đánh giá. có: độ tin cậy, lượng dự trữ, tuổi thọ, độ tiện lợi trong khai thác và sử dụng. Khối lượng và trình tự tiến hành TNTBKTQS được quy định trong chương trình và phương pháp thử nghiệm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:22:20 am » |
|
THỨ TỰ VẬN TẢI, trật tự phải tuân thủ trong việc tổ chức các hoạt động vận tải quân sự. Được xác định căn cứ vào tính chất đặc thù của từng phương thức, loại hình vận tải hoặc mức độ quan trọng của các loại hàng hóa. đối tượng, khu vực phục vụ mà công tác vận tải phải bảo đảm theo yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến. TTVT được xác định trong mỗi giai đoạn chiến đấu của từng chiến dịch, trận đánh,... phụ thuộc hình thức tác chiến cụ thể và các yếu tố khách quan. THỪA THIÊN - HUẾ, tỉnh ở Trung Trung Bộ; bắc giáp Quảng Trị, tây giáp Lào, nam và đông nam giáp Quảng Nam. tp Đà Nẵng, đông giáp Biển Đông. Dt 5.053,99 km2; ds 1,1 triệu người (2003); các dân tộc: Kinh. Bru, Cơ Tu, Chăm... Thời Nguyễn là phủ Thừa Thiên, thời thuộc Pháp đổi làm tỉnh. 1976 sáp nhập với Quảng Bình và Quảng Trị thành tỉnh Bình Trị Thiên. 6.1989 tái lập với tên mới là TT-H. Tổ chức hành chính: 8 huyện, 1 thành phố; tỉnh lị: tp Huế. Địa hình đa dạng: núi cao chiếm 1/4 diện tích, tập trung chủ yếu ở phía tày, thuộc dãy Trường Sơn dọc biên giới Việt-Lào, với các đỉnh cao: núi Động Ngai (1.774m), Động Nôm (1.208m); dãy Hải Vân giáp Quảng Nam, Đà Nẵng, chạy sát ra biển, địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn. Đồi núi thấp chiếm 1/2 diện tích. Ven biển là dải đồng bằng hẹp. Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc; các sông chính: Sông Hương, sông Ô Lâu. Sông Bồ, Sông Truồi. Bờ biển dài 120km, có nhiều vụng, đầm, phá, cửa biển (Thuận An. Tư Hiền, Lãng Cô); vịnh Chân Mây, độ sâu 18-20m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm 26°C, lượng mưa 2.800mm/năm. Tỉnh nông nghiệp. Sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 214,8 nghìn tấn (lúa 210,9 nghìn tấn); khai thác gỗ 26,2 nghìn m3, thủy sản 21,9 nghìn tấn. Có tiềm năng phát triển du lịch và dịch vụ. Các ngành công nghiệp: cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, chế biến gỗ. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.548,7 tỉ đồng. Giao thông đường bộ: QL 1, QL 14; đường sắt Bắc - Nam, đường thủy theo các tuyến đường sông, đường biển. Cảng biển: Thuận An, Chân Mây. Sân bay Phú Bài. Di tích lịch sử: cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới (UNESCO công nhận 1993), trung tâm của Phật giáo VN, với nhiều ngôi chùa nổi tiếng: Linh Mụ, Từ Đàm, Bảo Quốc, Trà Am... 20.12.1979, LLVTND Thừa Thiên - Huế được phong tặng danh hiệu Ah LLVTND.  THỰC HÀNH ĐỘNG VIÊN QUÂN ĐỘI. toàn bộ các biện pháp do các cơ quan nhà nước, địa phương, các đơn vị QĐ tiến hành nhằm chuyển QĐ từ tổ chức biên chế thời bình sang tổ chức biên chế thời chiến. Bắt đầu từ khi có lệnh động viên, kết thúc khi hoàn thành nhiệm vụ động viên được giao (đối với địa phương là khi giao xong lực lượng dự bị động viên, đối với đơn vị dự bị động viên là khi tiếp nhận xong lực lượng dự bị động viên, ổn định tổ chức biên chế). THĐVQĐ thường diễn ra trong một thời gian ngắn bằng triển khai những công việc chính: thông báo lệnh động viên; tập trung, vận chuyển, giao nhận lực lượng dự bị động viên. THỰC HÀNH TÁC CHIẾN, toàn bộ các biện pháp được tiến hành theo mệnh lệnh tác chiến của người chỉ huy nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao; một giai đoạn tác chiến. Có THTC: tiến công (phản công), phòng ngự. Mục đích THTC: trong tiến công, tiêu diệt bộ phận quan trọng lực lượng trong, ngoài công sự và đánh chiếm trận địa phòng ngự của địch; trong phòng ngự, sát thương lớn, tiêu diệt một bộ phận lực lượng và đánh bại tiến công của địch, giữ vững trận địa (mục tiêu phòng ngự chủ yếu). Tùy tình hình cụ thể THTC có thể chia ra một số bước kế tiếp nhau, mỗi bước đều phải thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. THTC đòi hỏi phải nắm vững quyết tâm tác chiến, tình hình diễn biến tác chiến; hành động kiên quyết, chủ động, mưu trí, linh hoạt và sáng tạo.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2019, 07:24:00 am » |
|
THỰC LỰC QUÂN SỰ, lực lượng hiện có tại một thời điểm nhất định của một đơn vị, địa phương hoặc một nước, gồm nhân lực và vật lực có thể huy động để phục vụ cho nhiệm vụ QS và cho chiến tranh. TLQS được biểu hiện ở số lượng, chất lượng (người, trang bị vũ khí, cơ sở vật chất bảo đảm. khoa học QS, nghệ thuật QS...), ở nguồn dự trữ của địa phương, nhà nước, ở các đơn vị LLVT và tiềm lực trong nhân dân. Lãnh đạo và chỉ huy các cấp theo chức năng, nhiệm vụ phải thường xuyên nắm chắc TLQS để có cơ sở lập kế hoạch, hạ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
THỰC TIỄN QUÂN SỰ, tổng thể các hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị LLVT và đất nước cho chiến tranh và tiến hành chiến tranh, cũng như khởi nghĩa vũ trang; dạng đặc biệt của thực tiễn xã hội, cơ sở và mục đích phát triển lí luận QS và là tiêu chuẩn kiểm nghiệm sự đúng đắn của lí luận QS. TTQS trong thời chiến chủ yếu là hoạt động tác chiến; trong thời bình TTQS bao gồm những hoạt động về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng và chuẩn bị LLVT, chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, huấn luyện và giáo dục bộ đội, giữ vững khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, và tất cả các loại thực nghiệm QS... Tổng kết được những kinh nghiệm của TTQS cho phép phát hiện ra các quy luật và xu thế phát triển về QS. giải quyết được những vấn đề mới của khoa học QS.
THƯỚC ĐO CỰ LI, dụng cụ chuyên dùng để đo cự li (khoảng cách) giữa các điểm trên bản đồ (yếu đồ) trong công tác tham mưu tác chiến hay đo đạc, chuẩn bị bắn pháo binh. Các loại TĐCL thường dùng là MPL-25, MPL-50, TĐCL của bàn đạc PUO-9... Một số loại TĐCL có thể kết hợp với thước đo góc như AK-3, KT-75... để xác định tọa độ các điểm trên bản đồ (yếu đồ) bằng phương pháp cực. Cũng có thể dùng các dụng cụ đơn giản như thước thẳng, thước chỉ huy qua tính toán ti lệ để đo cự li trên bản đồ.
THƯỚC ĐO GÓC PHÁO BINH, dụng cụ đo góc chuyên dùng trong pháo binh để đo (vẽ) các góc, kết hợp với thước đo cự li để xác định tọa độ cực các điểm (yếu tố) trên bản đồ, lấy góc bắn và kiểm tra máy ngắm cho pháo (cối). Đơn vị đo là li giác hoặc độ. Theo nguyên lí cấu tạp, có thước đo góc vành tròn và thước đo góc dây cung (trị số các góc được quy về theo độ dài dây cung tương ứng, dùng cho các góc nhỏ dưới 15-00). Trong pháo binh VN, thường dùng loại thước đo góc: AK-3 (LX), KT-75 (VN), thước đo góc dây cung...
THƯƠNG (cổ), vũ khí lạnh dùng để đâm, có cán dài (đến 2m), mũi nhọn bằng thép, hình thoi, có thể có gân như múi khế. T thường dược trang bị cho kị binh thời cổ.
THƯƠNG BINH, 1) quân nhân bị thương trong khi chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu; 2) quân nhân, công an nhân dân bị thương và mất sức lao động từ 21% trở lên do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khản nguy hiểm vì lợi ích của nhà nước, của nhân dân. TB được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bị thương, tặng huy hiệu TB và được hưởng phụ cấp, trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ mất sức lao động và tính theo mức lương; được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của nhà nước.
THƯỢNG CAM LĨNH (Sanggamryong), vùng núi phía tây h. Kim Hóa (Kimhua), t. Canguôn - Đô, trên khu vực giới tuyến QS giữa hai miền Triều Tiên; một trong những trọng điểm chiến lược trên chiến tuyến miền Trung trong chiến tranh Triều Tiên (1950-53). Địa thể hiểm yếu. dựa lưng vào dãy Ngũ Thánh Sơn, phía tây khống chế bình nguyên Bình Khang (Pyonggang), phía đông án ngữ tuyến đường bộ từ Kim Hóa đi Thông Xuyên (Tungchon). 14.10-25.11.1952 tại đây diễn ra chiến dịch Thượng Cam Lĩnh (10-11.1952) của quân chí nguyện TQ, một trong những chiến dịch nổi tiếng nhất trong chiến tranh Triều Tiên, để lại nhiều kinh nghiệm về tác chiến phòng ngự dựa vào hệ thống công sự đường hầm.
THƯỢNG ĐỨC, chi khu QS của QĐ Sài Gòn, quận lị q. Thượng Đức do chính quyền Sài Gòn lập ở phía tây t. Quảng Nam, nằm bên sông Vu Gia và trên đường 14B, cách tp Đà Nẵng 40km về phía tây nam, nay là xã Đại Lãnh, h. Đại Lộc, t. Quảng Nam. 28.7-7.8.1974, Sư đoàn 304 tiến công chi khu QS TĐ. diệt 476, bắt 888 địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị, làm tan rã chính quyền quận.
THƯỢNG HẢI. thành phố cảng, trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của TQ ở nam cửa sông Trường Giang, cách bờ biển Hoa Đông 50km. Dt 6.341km2; ds 16,74 triệu người (2003). Địa hình TH bằng phẳng, thấp, độ cao trung bình 3-5m. Khí hậu đại dương ấm áp, bốn mùa rõ rệt. Là thành phố trực thuộc trung ương, đông dân nhất TQ. Công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, cơ khí chính xác, đóng tàu. hóa chất, in. thực phẩm, dệt... phát triển. Nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, trường đại học, thư viện, bảo tàng. Đầu mối giao thông quan trọng, nhiều tuyến đường thủy trên sông Hoàng Phố, Tô Châu. Cảng biển lớn, cổng trình xây dựng của cảng kéo dài 60km, dọc theo bờ sông Hoàng Phố, tổng chiều dài cầu cảng 40km. Lạch cảng sâu 8m, rộng 50m, có thể tiếp nhận tàu trên l0.000t. Lượng vận chuyển hàng hóa trên 100 triệu tấn/năm. Có xí nghiệp sửa chữa tàu, căn cứ hải quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|