Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:21:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Dưới làn nước biếc  (Đọc 14975 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 09:09:18 am »

Quyết chiến trên sông Hàn

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 do Đà Nẵng là căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất miền Trung nên sau khi hoàn hồn, địch phản kích điên cuồng, chuyển chiến lược “Tìm và diệt” không còn hiệu quả sang chiến lược “Quét và giữ” nhằm tiêu diệt quân chủ lực ta, đẩy lực lượng đối phương ra xa, củng cố vững chắc vành đai phòng thủ chung quanh Đà Nẵng.

Về phía ta, tuy giành được một số thắng lợi lớn nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu đề ra và hao tốn khá nhiều về lực lượng. Theo chỉ thị của Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Mặt trận 44, các đơn vị, địa phương nhanh chóng củng cố sắp xếp lực lượng theo hướng tinh gọn, bổ sung vũ khí, trang bị sẵn sàng chuẩn bị cho chiến dịch tiếp theo.

Ngày 5 tháng 5 năm 1968, chiến dịch Hè mở màn (mật danh Xl), tiếng súng nổ tiến công tiêu diệt các căn cứ, chi khu quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng của địch nhằm tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh địch, làm suy sụp tinh thần của Mỹ, ngụy tại Quảng Đà. Liên tiếp bị thất bại, địch huy động hết ưu thế về phương tiện và vũ khí để đánh phá, bình định kiểm soát, san bằng cày ủi, lập hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra từ bắc Hoà Vang qua Điện Bàn đến thị xã Hội An. Tuy nhiên những hoạt động của địch mang tính phỏng thủ chứ không giành được thế chủ động chiến trường, gây cho ta thêm nhiều khó khăn mới.

Phát huy chiến quả chiến dịch Hè 1968, Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Mặt trận 44 quyết định mở tiếp chiến dịch Thu 1968 (mật danh X2). Trong chiến dịch này, các đơn vị bộ binh, đặc công kết hợp lực lượng vũ trang địa phương đánh mạnh đều khắp trên vành đai Đà Nẵng, một số đơn vị đặc công gọn nhẹ đột nhập vào nội thành, phối hợp với tự vệ, biệt động đánh vào các mục tiêu quan trọng của Mỹ, ngụy.

Phân đội đặc công nước do đồng chí Nguyễn Tấn Minh làm Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Ngọc Râng - Phân đội trưởng đang trú quân ở khu vực Điện Nam (vùng cát Điện Bàn) nhận được lệnh: “Phân đội đặc công nước có nhiệm vụ đánh sập cầu Trịnh Minh Thế trên sông Hàn!”. Phân đội khẩn trương tổ chức quán triệt thực hiện mệnh lệnh được giao và tổ chức phân công chiến đấu. Nói là cầu Trịnh Minh Thế nhưng thực sự có hai cầu: một cầu do Pháp làm từ trước và một cầu song song với cầu cũ cách nhau khoảng 100m (tức cầu Nguyễn Văn Trỗi và cầu Trần Thị Lý hiện nay), do Mỹ xây dựng để đáp ứng yêu cầu lưu lượng của xe quân sự qua lại thường xuyên với mật độ cao.

Để đánh sập hai cầu cùng một lúc, phân đội bố trí thành 2 tổ, mỗi tổ 3 chiến sĩ, chuẩn bị mỗi tổ 1 khối nổ 60kg C4. Tổ 1 do đồng chí Huỳnh Tào làm tổ trưởng. Tổ 2 do đồng chí Nguyễn Sơn làm tổ trưởng. Đồng chí Nguyễn Ngọc Râng - Phân đội trưởng trực tiếp chỉ huy cùng đồng chí Nguyễn Tấn Minh - Chính trị viên và 2 đồng chí là cơ sở và du kích mật của quận 3 ra xóm vạn Cồn Bồi bố trí nơi tập kết chuẩn bị chiến đấu cho phân đội. Xóm vạn cồn Bồi là một cồn cát giữa sông Hàn cách cầu Trịnh Minh Thế gần 2km về phía thượng lưu. Gọi là xóm vì trên cồn cát có chừng 30 nhà chòi của các gia đình ngư dân địch tập trung ở đây để dễ bề kiểm soát, cứ chiều tối, các thuyền đánh cá về neo đậu. Ta đã xây dựng xóm vạn Cồn Bồi thành cơ sở nổi của hệ thống cơ sở sông Đà trong thời gian này.

Khi phân đội vào vị trí tập kết xóm vạn thì bộ phận đồng chí Minh bám địch, soi đường xuống phía hạ lưu (khu vực An Đồn) bố trí nơi đón anh em sau khi đánh rút về và đưa đến vị trí trú quân được cơ sở bố trí hầm bí mật trú ẩn. Phân đội khẩn trương triển khai nhiệm vụ, vượt qua bao nhiêu khó khăn nguy hiểm trong vùng địch bố phòng kiểm soát gắt gao. Thực hiện kế hoạch không gặp sự cố gì, kể cả lần trinh sát cuối cùng vào mục tiêu đêm 16 tháng 8 năm 1968. Anh em ai nấy thở phào nhẹ nhõm, lòng tràn đầy phấn khởi, tin tưởng vào chiến thắng ngay trong đêm 17 tháng 8 năm 1968, mở màn chiến dịch X2 Thu 1968.

Đến 15 giờ ngày 17 tháng 8, bỗng nhiên vang động tiếng động cơ của hàng chục chiếc ca nô chở đầy lính ngụy từ phía hạ lưu rẽ sóng tiến về xóm vạn Cồn Bồi. Biết tình thế nguy hiểm xảy ra, Phân đội trưởng Nguyễn Ngọc Râng ra lệnh: “Chúng ta đã bị lộ, hai tổ bố trí ở hai hướng, quyết chiến đấu đến cùng không được phép hoang mang dao động!”. Anh em tản ra hai hướng. Bọn địch kéo đên, gọi loa oang oang: “Hỡi các chiến binh đặc công Việt Cộng! Các anh bị quân lực Việt Nam cộng hoà bao vây, muốn sống hãy ra đầu hàng. Thời gian cho các anh suy nghĩ là 5 phút. Nếu chống trả sẽ bị tiêu diệt hết!”. Địch gọi loa giục dân dồn về cuối xóm. Các bà, các chị và trẻ em hốt hoảng gọi nhau í ới. Không khí căng thẳng nặng nề! Các chiến sĩ ta không cảm thấy lo sợ mà thấy trong lòng căm hận kẻ thù và bọn tay sai chỉ điểm. Chỉ tiếc là vũ khí trang bị cho 7 chiến sĩ đặc công nước chỉ có 1 súng ngắn, 2 AK báng gấp, 6 băng đạn, 14 lựu đạn và dao găm. Còn quân địch là 1 đại đội hàng trăm quân, với nhiều vũ khí hiện đại.

Tương quan lực lượng quá chênh lệch. Nhưng ta có một thứ vũ khí mà kẻ thù không có được đó là: tinh thần quyết chiến, dũng cảm ngoan cường. Bọn địch lùa dân lên ca nô và bắt đầu nổ súng, đổ quân lên xóm vạn Cồn Bồi. Chúng hùng hổ dàn hàng ngang phát huy hỏa lực, tưởng dễ dàng tiêu diệt quân ta. Lập tức, tiếng súng AK, lựu đạn của anh em ném về phía chúng nổ vang. Ngay đợt đầu hàng chục tên bỏ mạng. Bọn địch hò hét xông lên! Súng nổ vang trời, mịt mù khói lửa. Anh em ta sử dụng hết lựu đạn thì dùng dao găm đánh giáp lá cà, tiêu diệt nhiều tên địch. Sau 20 phút, chiến trường im tiếng súng, chỉ còn lại cảnh tan hoang của các nhà chòi cháy trời và quân địch hò nhau kéo xác “chiến hữu” tử vong xuống các ca nô. Bên ta, tất cả 7 chiến sĩ đặc công nước đã anh dũng hy sinh sau khi tiêu diệt gần 40 tên địch.

Ở nơi đón dưới hạ lưu, bộ phận của đồng chí Nguyễn Tấn Minh chờ mãi đến gần 3 giờ sáng mới biết tin dữ: “Trận đánh không thành!”. Ai nấy bàng hoàng đau xót và dự định đêm 18 tháng 8 năm 1968, sẽ rời căn cứ lõm ở quận 3, tìm đường trở về hậu cứ. Nhưng sáng sớm ngày 18 tháng 8 năm 1968, Mỹ, ngụy đổ quân càn quét, lục soát khu vực Đa Mặn - bắc Mỹ An và một số vùng lân cận. Quân địch đã khui được một sô hầm bí mật, bứn chết một số cán bộ ta, trong đó có đồng chí Nguyên Hữu Nỳ (Năm Thông) - Bí thư Quận ủy quận 3, đang đứng chân ở căn cứ lõm chỉ đạo phong trào. Địch càn quét dài ngày, rải quân bịt chặt các nẻo đường ra vào thành phố. Ban đêm, chúng phục kích khắp nơi, các đường dây giao liên tạm thời hạn chế hoạt động ở cánh đông Đà Nẵng. Cơ sở căn cứ nổi sông Đà bố trí cho đồng chí Minh theo thuyền đánh cá ra biển, rồi vòng về vùng 5 xã Hòa Hải an toàn.

Sau trận đánh này, địch không cho ngư dân sông ở xóm vạn Cồn Bồi nữa. Vậy là, cái xóm cồn cát đơn độc giữa sông Hàn ấy, trải qua năm tháng Cồn Bồi bị xóa lở ngày càng thu nhỏ lại, nhưng đó là nơi ghi dấu sự chiến đấu kiên cường, hy sinh anh dũng của 7 chiến sĩ đặc công nước của Đội 3.

Là những người trong cuộc, may mắn còn cho đến ngày nay, mỗi khi đi qua cầu nhìn xuống dòng sông lững lờ nước chảy, lòng chúng tôi như se thắt lại, mắt rưng rưng, tai như nghe thấy trong tiếng gió reo có tiếng thầm thì của 7 đồng chí mình, những người đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 09:11:55 am »

Trận đánh kho xăng Liên Chiểu

Kho xăng Liên Chiểu, nằm ở phía nam chân đèo Hải Vân, từ làng Kim Liên đi lên khoảng chừng lkm, được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Khi quân Mỹ vào Đà Nẵng, chúng nâng cấp thành kho xăng lớn nhất miền Trung nhằm phục vụ nhiên liệu cho các phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy tại Vùng 1 chiến thuật cũng như cả trung nguyên trung phần.

Vừa đặt chân đến Đà Nẵng, Mỹ cho san gạt đồi núi, lắp đặt các bồn xăng trên mặt bằng hai cấp. Cấp trên cao và rộng, có bình độ 20m so với mặt biển. Cấp dưới thấp giáp biển, có bình độ lõm so với mặt biển. Cấp trên có 5 bồn xăng, kho chứa vật tư, khu văn phòng, nhà ở của đại đội lính bảo vệ, bãi xe. Cấp dưới thấp có 4 bồn xăng, một số nhà nhỏ lắp đặt máy móc và chứa các vật dụng chuyên ngành. Chung quanh bốn mặt kho có tường xây cao 3m và một hệ thống lô cốt liên hoàn. Ngoài tường xây là sáu, bảy lớp rào dây thép gai các kiểu, giữa các lớp rào là các bãi mìn dày đặc. Hệ thống đèn cao áp sáng choang cả khu kho. Bốn góc là lô cốt cao, bố trí đèn pha cực mạnh, thỉnh thoảng pha quét diện rộng và xa vào ban đêm để kiểm tra, nhất là những đêm trời mưa gió. Đại đội lính bảo vệ, ngoài việc canh gác ở lô cốt, còn thay nhau đi tuần tra, chủ yếu là quãng đường đèo chạy qua kho xăng Liên Chiểu.

Địch bố phòng cẩn mật nhưng vẫn bị một đơn vị của Tiều đoản đặc công 89 đánh tiêu huỷ cả 9 bồn xăng trên 20 triệu lít, diệt hàng trăm tên địch, phá huỷ nhiều xe cộ máy móc trang bị trong kho vào đêm mồng 5 tháng 8 năm 1965. Bị đánh đau, địch cho tăng cường 1 đại đội lính chuyên đi tuần tra vòng ngoài, phát quang ba mặt khu kho, chống đặc công từ trên núi đột kích vào kho. Do địch ra sức canh phòng và địa hình trông trải, hiểm trở nên kho xăng Liên Chiểu được một thời gian yên ổn.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của ta vào Tết Mậu Thân - 1968, Mỹ, ngụy tăng cường đánh phá ác liệt, nhiều trận càn quét quy mô sư đoàn với thời gian hàng tháng tại vùng núi tây bắc Hoà Vang, nhất là Khu I - Hoà Vang. Hằng ngày, chúng dùng 31 lượt B-52 đánh bom rải thảm khu vực Gò Nổi nhằm đánh bật chỉ huy sở tiền phương của Mặt trận 44, các cơ quan của tỉnh, huyện và các đơn vị bộ đội đứng chân. Chúng cày ủi san bằng, xúc tát hết dân từ chân đèo Hải Vân qua các huyện Hoà Vang, Điện Bàn xuống tới Hội An thành một vành đai trắng nhằm bảo vệ cho Đà Nẵng.

Sau Tết Mậu Thân, ta tiếp tục thực hiện chiến dịch XI và X2, làm cho địch bị thiệt hại nặng nhất là chiến dịch mùa Thu 1968. Ngày 22 tháng 2 năm 1969, tiếng súng của chiến dịch tiến công Xuân Kỷ Dậu đã nổ trên chiến trường Quảng Đà. Phân đội đặc công nước (thuộc Đội 3) ở cánh Bắc của Đà Nẵng, tuy quân số chỉ còn một nửa nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu, lập công trong chiến dịch này. Hằng ngày nhìn kho xăng Liên Chiểu như cái gai trước mắt, anh em nảy ra ý nghĩ: “Địch ra sức canh phòng, đặc công bộ không đột kích được ở ba mặt trên bờ thì đặc công nước đột kích từ dưới biển lên, nhất định chúng sẽ bị bất ngờ!”. Từ suy nghĩ ấy, Chính trị viên Huỳnh Tửu đưa mục tiêu kho xăng vào kế hoạch chiến đấu của phân đội!

Tuy nhiên “lực bất tòng tâm”, sau những tháng năm chiến đấu, lực lượng đặc công nước Đội 3 hao mòn lại không được bổ sung. Phân đội trưởng Huỳnh Thế đã hy sinh trong trận đánh tàu Lo-ry Tết Mậu Thân, số anh em còn lại tinh thần chiến đấu vẫn vững vàng nhưng sức khỏe giảm sút vì gian khổ thiếu thốn, có người sốt rét rụng hết tóc trên đầu. Tiểu đoàn đặc công 89, khi đánh kho xăng trước đây đã sử dụng 1 đại đội, ngoài ra còn lực lượng địa phương hỗ trợ. Còn phân đội đặc công nước còn lại vỏn vẹn 6 người, đánh đấm ra sao, một bài toán khó mà Huỳnh Tửu chưa tìm ra đáp số.

Hàng ngày anh em trong phân đội vẫn kháo nhau: “Mèo bé thì bắt chuột con, là mèo đói thì không ngán xơi chuột bự!”. Câu nói có vẻ như đùa song làm cho Huỳnh Tửu quan tâm trao đổi bàn bạc phân tích kỹ và cuối cùng quyết định: “Sử dụng một tổ 4 người, đột nhập từ biển lên, đánh 4 bồn xăng ở tầng thấp, đánh xong lại rút theo đường biển trở về. Kho xăng Liên Chiểu chưa bị đánh lần nào theo kiểu này, đây là yếu tố bất ngờ với địch!”. Đề ra mục tiêu chiến đấu như vậy là phù hợp với thực tế của phân đội, tạo điều kiện cho phân đội lập công góp phần vào chiến dịch tiến công Xuân Kỷ Dậu của Mặt trận 44 Quảng Đà.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 09:13:00 am »

Phân đội liên hệ hiệp đồng chiến đấu với Khu đội 1 - Hoà Vang, móc nối với các cơ sở ở Nam Ô để chuẩn bị chỗ ăn ở, bố trí du kích mật phối hợp giúp đỡ phân đội trong suốt quá trình chuẩn bị, trinh sát, chiến đấu và đón anh em sau chiến đấu trở về. Cơ sở ở Nam Ô khá vững vàng, chuẩn bị chu đáo theo yêu cầu trong thời gian ngắn.

Từ hậu cứ, Huỳnh Tửu đưa cả 5 chiến sĩ xuống Nam Ô tổ chức 1 tổ chiến đấu 4 người tiến hành điều tra trinh sát mục tiêu. Tổ du kích bám địch, dẫn đường đưa tổ trinh sát ra chỗ doi cát nhô ra biển phía nam cửa sông Thuỷ Tú. Gió từ ngoài biển thổi vào, đẩy những con sóng nhỏ nối nhau dào lên bãi cát và làm se lạnh những thân hình trần trụi của các chiến sĩ đặc công. Anh em khởi động làm ấm người trước khi xuống nước. Khoảng 20 giờ, tổ trinh sát vượt quãng đường tính theo đường chim bay chừng 2km, tiếp cận kho xăng từ phía biển. Nhìn lên kho xăng ở trên cao, phía mặt biển vẫn có tường xây che chắn. Phía ngoài tường là ta-luy thoai thoải với bốn năm lớp rào dây thép gai bảo vệ. Vách ta-luy có chỗ xói lở thành khe, cỏ mọc bò lan xen lẫn cây dại, lưa thưa không thành cụm. Anh em quan sát phán đoán nhưng chưa thấy lối nào thuận lợi để mở đường đột nhập vào kho. Vào thực tế mới thấy từ phía biển đột kích vào kho xăng không dễ chút nào. Tổ trinh sát kiên trì di chuyển lần dò đường tiềm nhập. Huỳnh Tửu phát hiện thấy miệng cống và phán đoán có thể là cống thoát nước từ trên kho đổ xuống. Miệng cống khá to, Huỳnh Tửu cùng một tổ viên thử chui vào dò xét, nhích dần từng đoạn theo lòng cống tối om. Họ động viên nhau cố gắng nhích lên đến khi nào không tiến lên được mới thôi, mặc dù ai nấy cảm thây gò bó ngột ngạt. Khoảng gần một giờ, trước mắt anh em là ánh sáng lờ mờ rồi sáng tỏ. Một tấm sắt thưa chắn trên miệng cống. Huỳnh Tửu lấy hết sức đẩy bung tấm chắn, nhô đầu ra khỏi cống, các bồn xăng trắng toát sừng sững hiện ra trước mắt. Hai người mừng rỡ chui ra khỏi cống, nằm gọn dưới lòng con mương dẫn nước ra miệng cống, quan sát nắm tình hình.

Ở tầng thấp, khu kho có 4 bồn xăng, mấy gian nhà nhỏ che các thiết bị máy móc, nhiều ống dẫn xăng dầu ngang dọc, một vọng gác ngay chỗ cổng sắt đường xuống cầu tàu, có lính canh gác. Trước giờ đổi gác, có 3 tên lính đi rảo quanh các bồn xăng, rồi mới ra vọng gác thay ca. Hai anh em nắm tình hình khá chi tiết, kết quả ngoài dự kiến. Hai người rút ra khỏi cống, Huỳnh Tửu bố trí cho 2 chiến sĩ còn lại tiếp tục chui vào ống cống lên quan sát mục tiêu để nắm rõ đường tiến, lui và củng cố niềm tin thắng lợi.

Rời mục tiêu, trở lại Nam Ô, Huỳnh Tửu vẽ lại sơ đồ, bàn phương án chiến đấu: Chính trị viên Huỳnh Tửu trực tiếp làm tổ trưởng tổ chiến đấu 4 người. Mỗi người có nhiệm vụ đánh 1 bồn xăng theo sự phân công. Dùng 4 khối nổ mỗi khối 3kg C4, dùng kíp nổ hẹn giờ 30 phút. Tất cả mọi việc đều phải chuẩn bị tỉ mỉ, cẩn thận và khẩn trương. Mỗi người xác định nhiệm vụ, viết quyết tâm thư gửi cấp trên trước khi vào trận đánh.

Lúc 19 giờ ngày 28 tháng 2 năm 1969, những con cá kình từ cửa sông Thuỷ Tú vượt biển hướng về mục tiêu kho xăng Liên Chiểu. Sóng biển từng đợt xô nhau lao xao dào dạt như ve vuốt vỗ về những chiến sĩ dặc công nước dũng cảm, ngoan cường trước trận đánh đêm nay.

Đến 21 giờ, cả tổ tiếp cận vào bờ, bí mật, thận trọng từng động tác, lần lượt tiềm nhập mục tiêu theo đường cống. Lên khỏi cống, tổ triển khai nầm dọc theo con mương xây xi măng ở sát chân tường chờ lệnh. Tổ trưởng quan sát theo dõi chọn thời cơ, khi mấy tên lính gác đi tuần rồi ra vọng gác thay ca cho mấy tên ca trước. Tổ trưởng ra lệnh, từng tổ viên lợi dụng bóng tối của các tử giác, nhanh chóng đưa khối nổ vào chân bồn xăng của mình được phân công. Anh em đồng loạt điểm hỏa rồi rút lui. Cả tổ rút ra khỏi cống chưa đầy 30 phút, ai nấy hồi hộp chờ đợi.

Bỗng từ kho xăng, tiếng nổ tiếp nhau vang rền, lửa cháy ào ào bốc lên trùm kín một vùng, các bồn xăng ụ ra, chảy tràn đến đâu lửa bùng lên đên đó, sáng cả vùng trời Liên Chiểu. Còi báo động rú lên inh ỏi, quân địch chạy nháo nhào. Chúng tập trung hết xe chữa cháy, dùng vòi rồng phun nước và phun các chất chữa cháy làm thành bức tường ngăn không cho ngọn lửa cháy làn lên 5 bồn xăng ở bậc trên cao.

Trận đánh thắng lợi với hiệu quả cao, thiêu hủy gần 10 triệu lít xăng của kho Liên Chiểu. Ngọn lửa sáng rực một vùng rừng núi Hải Vân sáng thêm niềm tin tưởng, thương yêu của quân và dân Quảng Đà dành cho lực lượng đặc công nước, binh chủng được sản sinh ra từ Đoàn 126 hải quân.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười, 2019, 11:31:39 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 09:19:44 am »

Diệt pháo hạm thuộc hạm đội 7 của Mỹ

Từ năm 1966 trở đi, trên chiến trường Quảng Nam - Đà Năng, ngoài các trận địa pháo trên đất liền bắn phá còn phải hứng chịu các loại pháo lớn, không phải pháo cỡ 105 ly, 155 ly hay vua chiến trường 175 ly mà các cỗ pháo to hơn trên 200 ly từ pháo hạm bắn vào. Từ năm 1967 - 1968, nhất là khi Mỹ, ngụy thua đau trong chiến dịch mùa khô thứ hai thì pháo hạm tăng cường yểm trợ cho quân Mỹ, ngụy mở các trận càn quét quy mô với cường độ rất cao.

Trước mỗi trận địch càn, các trận địa pháo trên đất liền cùng với pháo trên các pháo hạm, tập trung bắn phá hàng giờ liền, dọn bãi cho bộ binh triển khai càn quét. Những trận càn quét dài ngày, từ sáng đến chiều quân bộ lùng sục đốt phá, tối đến co cụm lại một nơi, để cho phi pháo hoạt động. Máy bay “thả bom trộm”, pháo các cỡ cầm canh theo toạ độ ô vuông. Đủ các cỡ pháo to nhỏ khác nhau, đủ các kiểu đạn pháo: loại đạn pháo nổ tư trên không chụp xuống, loại đạn nổ phá cả một vùng khá rộng, có loại đạn xuyên vào mục tiêu hoặc xuyên đất rồi mới nổ. Mức độ đánh phá của địch có thể khái quát là “bom chồng lên bom, đạn cày lên đạn”, đến nỗi nhiều vùng quê trở thành bình địa, không còn một dấu vết nào để khẳng định trước kia nơi đây nhà cửa dân cư đông đúc, làng quê đẹp đẽ thanh bình.

Tổn thất của ta vì pháo địch rất nhiều. Vì vậy các trận địa pháo của địch như: Cẩm Hà, Lai Nghi, Cồn Khe, Hoà Cầm, Thanh Vinh, Vĩnh Điện... bị quân ta đánh phá làm cho địch tổn thất nặng nề. Riêng pháo hạm thì chưa có cách nào trừng trị được. Anh em đặc công nước luôn để tâm theo dõi nghiên cứu. Có lần, ta bó trí trinh sát theo thuyền đánh cá của ngư dân Duy Hải, Bình Dương ra Cù Lao Chàm điều tra nghiên cứu. Được biết loại pháo hạm này là của hạm đội 7 Mỹ, chuyên làm nhiệm vụ cơ động dọc theo bờ biển, đánh phá các mục tiêu trên bộ của ta và yểm trợ cho các cuộc hành quân của Mỹ. Đánh phá xong lại rút ra khơi về hạm đội. Vì thế, kế hoạch đánh tiêu diệt pháo hạm địch của đặc công nước không thực hiện được.

Cả chiến dịch mùa Thu Kỷ Dậu - 1969, phân đội đặc công nước chưa lập được chiến công lớn. Mãi đến tháng 10 năm 1969, tình huống ngoài dự kiến xuất hiện, anh em đặc công nước phát hiện tàu chiến cỡ lớn của địch vào neo đậu đơn độc ngoài cửa Vịnh Đà Nẵng, phía trong hòn Sơn Trà nhỏ, cách bờ chân núi chừng 300m chiếu thẳng hàng với phao số 0 ở cửa vịnh. Dùng ống nhòm quan sát thấy trên boong tàu rất nhiều ụ pháo, anh em xác định đây “đích thị là hung thần pháo hạm”. Những câu hỏi đặt ra: “Tại sao nó lại vào neo đậu ở đây mà không thấy hiện tượng tiếp nhiên liệu?”. Chỉ thấy khoảng 16 giờ, có mấy ca nô chở bọn lính trên tàu vào cảng hải quân ngụy, đến bảy tám giờ sáng hôm sau lại chở ra tàu. Anh em phán đoán chắc pháo hạm này có trục trặc gì đây cần phải sửa chữa. Thời cơ tốt cho ta tiêu diệt chúng! Nhưng anh em đánh kho xăng Liên Chiểu chưa lâu, sức khỏe chưa bình phục. Trong 7 anh em còn lại, từ ngày Phân đội trưởng Huỳnh Thế hy sinh, Chính trị viên Huỳnh Tửu chỉ huy chung, còn 6 anh em thì 3 chiến sĩ sốt rét liên miên, vả lại, không có chỉ thị nào của Mặt trận 44 lệnh cho anh em phải đánh. Anh em hoàn toàn có thể bỏ qua trận đánh này. Huỳnh Tửu suy nghĩ bản khoăn, có lúc dằn vặt không yên với câu tự hỏi: “Loại pháo hạm này đã gây bao nhiêu tai họa, chết chóc đau thương cho đồng bào, đồng chí và người thân yêu ruột thịt của ta, chưa có cách nào diệt nó, nay nó dẫn xác vào đây chẳng lẽ để nó thoát tội!”. Anh bàn với mấy đảng viên còn lại và hạ quyết tâm: “Khắc phục khó khăn, quyết tâm chiến đấu!”. Thiếu thuốc nổ nhờ đội công binh Hải Vân hỗ trợ, thiếu người phục vụ, nhờ Khu đội I - Hoà Vang phân công cho vài ba giao liên, trinh sát. Thành lập 1 tổ chiến đấu 3 người, do đích thân Huỳnh Tửu làm tổ trưởng chỉ huy chiến đấu. Tất cả mọi người khẩn trương vào cuộc. Chuẩn bị lắp ghép khối nổ bằng 60kg C4, do 4 khối nhỏ, mỗi khối 15kg, tiện vận chuyển đến vị trí xuất phát mới ghép lại thành khối to 60kg C4, đủ sức đánh chiếc pháo hạm này.

Chạy đua với thời gian, từng người, từng việc được phân công nhanh chóng hoàn thành. Lúc 14 giờ chiều ngày 30 tháng 10, từ hậu cứ nam Hải Vân, những ngọn gió nồm từ biển thổi vào lay động cây rừng dào dạt như làm mát cả tâm hồn của những người ra trận. Họ không đi theo lối đường mòn nào mà cắt rừng đi về hướng tiếp cận đường đèo Hải Vân, chờ sẩm tối vượt qua “tử lộ” vì địch đặt vọng gác dày đặc trên đường, có quàn đi tuần tiễu và quân mai phục ở những nơi hiểm yếu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 09:20:42 am »

Thời gian từng giây phút trôi qua, những phút giây chờ đợi vượt đường nặng nề, căng thẳng. Bỗng từ phía xa, những ánh đèn pha ô tô loá sáng mỗi lúc một gần, rồi đoàn xe chừng chục chiếc vượt qua, Huỳnh Tửu ra lệnh cho anh em “vọt tiến” qua đường, đi về vị trí tập kết phía bắc thôn Hoà Vân bây giờ, chừng non cây số. Đã hơn 20 giờ, thời gian gấp gáp, mấy trinh sát phân công cảnh giới xung quanh, tổ phục vụ lắp ghép khối nổ, tổ chiến đấu vừa tranh thủ khởi động thân thể vừa ước lượng con đường hành tiến tiếp cận mục tiêu. Đường hành tiến dọc theo chân núi, theo hướng tây nam - đông bắc dài hơn 5km. Tổ chiến đấu đi cách chân núi chừng 50m đề phòng địch phục kích dọc theo chân núi, đồng thời tránh những con sóng vỗ vào bờ gành đá dội ra.

Lúc 21 giờ ngày 30 tháng 10, tổ chiến đấu xuất phát, tâm trí mọi người hướng về phía trước, vật lộn với sóng nước biển khơi, rút ngắn dần khoảng cách dẫn đến mục tiêu. Thông thường, vượt một, hai cây số đầu tiên, ai nấy đều mệt mỏi rã rời. Nhưng cố gắng bơi vượt qua cái ngưỡng ấy rồi, như có một sự hồi sức nào đó mà chặng đường bơi tiếp cảm thấy đỡ mệt nhọc hơn. Đội hình của tổ đi cách chân núi chừng 50m nhưng phần nhiều là khoảng nước sâu, phải bơi cật lực. Quãng đường hành tiến tiếp cận mục tiêu hơn 5km nhưng chỉ gặp một vài bãi cạn, anh em tranh thủ dừng lại nghỉ ngơi giây lát. Mục tiêu pháo hạm neo đậu cách xa bờ khoảng 300m. Tổ chiến đấu tiếp cận gần mục tiêu chừng 100m là vận dụng kỹ thuật bơi lặn hết sức nhẹ nhàng bí mật tiếp cận mục tiêu. Ngước nhìn lên boong tàu thấy rất nhiều ụ pháo các cỡ. Trên nóc đài chỉ huy, ra-đa vẫn vận hành quay đều các hướng. Thỉnh thoảng vai ha tên thủy thủ đi lại trên boong dưới ánh sáng điện trên tàu chiếu sáng cả một vùng biển rộng, nhuộm ánh vàng những con sóng xô nhau hết đợt này, tiếp theo đợt khác. Tổ chiến đấu bình tĩnh cố định khối nổ vào thân tàu. Huỳnh Tửu kiểm tra lần cuối, bấm kíp nổ hẹn giờ 30 phút và lệnh cho tổ bí mật rút lui vào giờ chót kết thúc 1 ngày, cùng là lúc bắt đầu triều cường theo quy luật bán nhật triều của ngày kế tiếp. Tổ chiến đấu đã rời xa mục tiêu hướng vào bờ nơi xuất phát hơn 2km và thời gian cũng gần 30 phút.

Anh em chuyển động bơi ngửa, vừa bơi vừa hướng về phía mục tiêu chờ đợi. Giây phút quân thù đền tội ác đã đến. Khối nổ ở mục tiêu phát nổ, chiến hạm Mỹ chìm trong quầng lửa rực trời và cột khói dựng lên như chiếc nấm không lồ. Sóng biển dậy lên xô nhau ào ào trên mặt vịnh. Các loại tàu, thuyền nhốn nháo kéo neo chạy tản về các hướng. Pháo súng từ các căn cứ địch trên các điểm cao: Múm Chiêng, Đồn Nhất, Bãi Chuối bắn tối tấp lên trời. Nhiều tốp trực thăng vũ trang xuất hiện. Từng tốp 3 chiếc, chiếc đi giữa soi đèn, 2 chiếc đi kèm nã rốc két tới tấp xuống mặt biển, bìa rừng nơi nào chúng thấy khả nghi. Các tốp trực thăng lồng lộn ra sát mặt biển, sát những ngọn cây trên triền núi, tiếng động cơ trực thăng gầm vang, tiếng nổ rốc két liên tục hoà cùng với tiếng còi thất thanh của các loại tàu chạy loạn, náo động không gian vùng vịnh.

Tình thế hiểm nghèo, Huỳnh Tửu tháo dây liên kết, truyền đạt cho các tổ viên tản ra xa nhau, tự do hành động đối phó với kẻ thù và rút về khu xuất phát. Trực thăng lượn vòng rà soát, có lúc đèn pha chiếu thẳng vào người, anh em phải nhanh chóng lặn sâu dưới nước để tránh thương vong. Căn cứ sân bay trực thăng Nước Mặn ở gần nên chúng thay nhau tốp này về, tốp sau thay thế soi tìm bắn phá thâu đêm.

Anh em phải dùng hết sức bình sinh đối phó với kẻ thù, trong muôn vàn nguy hiểm, có thể hy sinh giữa sông nước trùng khơi. Nhờ con nước triều cường giúp sức, Huỳnh Tửu và hai chiến sĩ đã vào đến bờ, nhanh chóng lặn sâu vào rừng lúc gần 3 giờ sáng, tìm chỗ nghỉ ngơi lấy sức trước khi vượt đường đèo về hậu cứ. Hai chiến sĩ được phân công đón tổ chiến đấu rút về đã quan sát, bám theo Huỳnh Tửu. Tổ chiến đấu được anh em phục vụ xoa dầu nóng khắp người, mặc quần áo ấm, nhưng ai nấy vẫn cảm thấy rất lạnh, cái lạnh mệt nhọc, rờn rợn của sốt rét cùng với cái lạnh của một đêm ngâm mình trong nước nên người nào cũng còn run lẩy bẩy. Đã gần 4 giờ, Huỳnh Tửu đứng lên lệnh cho anh em khẩn trương hành quân, vượt qua đường đèo thoát vòng nguy hiểm trước khi trời sáng. Đến chiều anh em trở về hậu cứ an toàn.

Trận đánh diệt pháo hạm Mỹ của phân đội đặc công nước do Huỳnh Tửu chỉ huy có thể xếp vào một trong những chiến công xuất sắc nhất “diệt tàu chiến Mỹ” tại chiến trường Quảng Đà. Nhưng là phân đội nhỏ, chiến đấu độc lập trong vùng địch trong thời điểm chiến trường hết sức ác liệt khó khăn, sau trận đánh này không lâu, số anh em ít ỏi còn lại của phân đội được lệnh của Mặt trận 44 đánh tiếp kho xăng Liên Chiểu. Trận đánh không thành, Huỳnh Tửu và tổ chiến đấu hy sinh, chỉ có một đồng chí bị ốm không tham gia trận đánh, là người cuối cùng của phân đội còn lại, tự đi liên hệ về chiến đấu trong “Đội công binh Hải Vân” cho đến ngày giản phóng miền Nam.

Vì những lẽ đó, trận đánh pháo hạm nói trên, không có người báo công đầy đủ và Mặt trận 44 không theo dõi sát sao để biểu dương khen thưởng kịp thời. Dù sao, chiến công oanh liệt của đặc công nước diệt pháo hạm Mỹ trên vịnh Đà Nẵng, vẫn còn ghi nhớ mãi trong lòng nhân dân Đà Nẵng.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười, 2019, 11:32:41 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2019, 06:08:01 am »

Chiến công đầu của Đội 170

Theo chỉ thị của Mặt trận 44 Quảng Đà, đội đặc công nước được thành lập đầu tháng 1 năm 1970, lấy niên hiệu là Đội 170 trên cơ sở đội đặc công nước 55 đồng chí do đồng chí Đinh Văn Rơi từ miền Bắc đưa vào, lấy thêm 25 đồng chí của đội đặc công quận 3, Đà Nẵng còn lại, sáp nhập thành Đội 170. Đồng chí Phạm Xuân Sanh làm Đội trưởng, Đinh Văn Rơi - Chính trị viên. Đội biên chế thành 3 phân đội và bộ phận trinh sát, liên lạc hậu cần... Đơn vị không có hậu cứ nhất định mà cơ động trên địa bàn rộng lớn của Quảng Đà, lúc ở Xuyên Trà, Xuyên Tranh, lúc về gò nổi Điện Bàn, lúc xuống vùng đông Duy Xuyên, lúc về vùng cát và Khu III - Hoà Vang như: Hoà Long, Hoà Lân, Hoà Hải, Hoà Phụng. Ở thời điểm này, địch đánh phá, bình định ác liệt, xúc tát dân đi hết, vườn hoang, ruộng hoá xơ xác tiêu điều. Mỗi xã chỉ còn lại 1 tiểu đội du kích, xã nào nhiều cũng không hơn một trung đội, bám lấy địa phương phối hợp với bộ đội để chiến đấu với kẻ thù.

Trong hoàn cảnh ấy, Đội 170 vẫn tổ chức cho đơn vị luyện tập, bởi tính chất đặc công nước nếu không tiếp xúc với môi trường nước một thời gian lâu thì chẳng khác gì chiến sĩ thường khác. Đội chọn khúc sông Thu Bồn từ Xuyên Thanh đến cầu Kỳ Lam, dài khoảng 6km làm thao trường tập luyện trong đêm. Mỹ - ngụy càn quét thường xuyên chà đi xát lại hết vùng này đến vùng khác dọc hai bên bờ sông. Đêm đến chúng co cụm lại, để sáng hôm sau càn quét tiếp. Chúng không ngờ được rằng, đêm đêm dưới dòng sông, lực lượng đặc công nước vẫn luyện rèn chiến kỹ thuật và sức bền chịu đựng ngâm mình trong nước sáu bảy giờ liền, để đảm bảo tiêu diệt mực tiêu dưới nước của Mỹ, ngụy, dù ở trong sông hay ngoài biển.

Vào hạ tuần tháng 2 năm 1970, đội nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Mặt trận 44: “Đội 170 có nhiệm vụ cắt đứt các cầu Câu Lâu, Bà Rén, Vĩnh Điện trên quốc lộ 1A, ngăn chặn địch chi viện ứng cứu cho nhau khi ta đánh vào quận lỵ Duy Xuyên, Điện Bàn và thị xã Hội An!”. Nhận lệnh chiến đấu, tại nơi trú quân ở Xuyên Trà, đội triển khai họp chi bộ, họp toàn đội quán triệt nhiệm vụ và xác định quyết tâm chiến đấu. Ban chỉ huy đội rất tin tưởng khả năng và tinh thần chiến đấu của đội song vẫn lo số anh em cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc mới vào, còn lạ lẫm với chiến trường, dễ xảy ra những điều sơ suất. Đồng chí chính trị viên động viên và giáo dục tư tưởng cho anh em khắc phục, phân công cho Phân đội 1 đánh cầu Câu Lâu, Phân đội 2 đánh cầu Bà Rén, Phân đội 3 biệt phái cho Huyện đội Điện Bàn tổ chức đánh cầu Vĩnh Điện. Đồng chí Sanh - Đội trưởng đi dự họp bàn kế hoạch hợp đồng chiến đấu với Huyện đội Duy Xuyên và Điện Bàn.

Ban chỉ huy Đội bàn phương án chiến đấu; phân công đồng chí Sanh - Đội trưởng trực tiếp chỉ huy Phân đội 1, đánh cầu Câu Lâu. Tổ chiến đấu giao cho đồng chí Nguyễn Văn Tập làm tổ trưởng, Đoàn Kim Sơn làm tổ phó và 1 chiến sĩ tổ viên. Đồng chí Rơi - Chính trị viên trực tiếp chỉ huy Phân đội 2, đánh cầu Bà Rén. Tổ chiến đấu giao cho đồng chí Nguyễn Quốc Toàn làm tổ trưởng, Nguyễn Vân Giao làm tổ phó và 1 chiến sĩ tổ viên. Phân công cho bộ phận trinh sát và chuẩn bị khí tài đi Xuyên Thọ, liên hệ với xã đội, bố trí nơi tập kết đơn vị và triển khai trinh sát nắm tình hình địch, chọn địa điểm xuất phát chiến đấu và nơi đón tổ chiến đấu sau khi đánh rút về, cho cả hai mục tiêu Câu Lâu, Bà Rén. Bộ phận khí tài thiết kế 2 khối nổ, mỗi khối 100kg TNT. Không có khối nổ nam châm và thuốc nổ dẻo C4 phải sử dụng thuốc nổ TNT khối lượng lớn hơn, nên phải chú ý khâu cân bằng độ nổi chìm trong nước, theo yêu cầu chiến đấu, đảm bảo bí mật, an toàn!

Sáng ngày 28 tháng 3, Ban chỉ huy và 2 phân đội về đông đủ ở nơi tập kết Xuyên Thọ. Hai tổ chiến đấu triển khai đi trinh sát thực địa   ở 2 mục tiêu được phân công; bộ phận trinh sát trên bộ của đơn vị và 2 tổ du kích phối hợp hỗ trợ cũng đã được triển khai. Thời gian này, sự ác liệt trên đất Quảng Đà không hề suy giảm. Ban ngày, địch dùng tàu rà L-19 quần lượn soi mói khắp nơi phát hiện nơi nào khả nghi là gọi phản lực nhào tới cắt bom, đủ các loại bom đào, bom phá, bom napan, khói lửa ngút trời. Chúng thực hiện chiến thuật “trực thăng vận”, hàng đàn trực thăng chở quân nối nhau bay lượn và bất thần đổ xuống nơi nào chúng nghi có bộ đội du kích của ta ẩn trú. Các loại trực thăng nhỏ như “tàu gáo”, “tàu rọ”, “cá lẹp” có thể bay cao, sà xuống thấp hoặc treo lơ lửng trên trời để quan sát, bắn rốc két, đại liên hay ném lựu đạn... dọc đường, bến sông hoặc nơi nghi ngờ có ta ẩn nấp. Đêm về, tiếng pháo nổ liên tục khắp nơi, máy bay thả bom tọa độ ầm ì trên bầu trời rồi bất thần trút hàng hai, ba chục quả bom xuống một nơi nào đó!...

Hai phân đội đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, qua trinh sát thực tế, anh em nắm được: ở hai cầu, mỗi cầu có một đại đội ngụy quân canh giữ. Biện pháp canh giữ cầu không có gì khác hơn là thay phiên tuần tra trên mặt cầu, thỉnh thoảng ném 1 quả lựu đạn vào chân trụ cầu hoặc xả một loạt đạn để đề phòng, cầu Câu Lâu dài khoảng 400m, có độ sâu dễ tiếp cận mục tiêu. Cầu Bà Rén dài hơn độ 300m, giữa sông có bãi bồi nước cạn, phải chọn lạch nước sâu để tiềm nhập. Trụ cầu nào cũng có lớp rào dây thép gai bao bọc. Khi trinh sát vào mục tiêu (trục cầu định đánh) anh em đã cắt sẵn mở lối để đưa khối nổ áp vào khi ta đánh. Hệ thống đèn bảo vệ trên cầu khá sáng.

Theo phương án hiệp đồng chiến dịch , giờ G sẽ là 0 giờ 10 phút sáng ngày 1 tháng 4. Theo quy định của chỉ huy đội, giờ xuất phát của 2 tổ chiến đấu đúng 20 giờ, nếu không có gì đột biến, từng tổ chiến đấu đưa khối nổ vào cách mục tiêu chừng 150m, anh em sử dụng kỹ thuật khá tốt, không nôn nóng, vội vàng sẽ bị lộ, chẳng những tổn thất hy sinh mà còn ảnh hưởng bất lợi cho chiến dịch Đông Xuân trên Mặt trận Quảng Đà.

Đến giờ G, tiếng súng rộ lên từ Ngũ Giáp, Vĩnh Điện, Nam Phước, Hội An, bộ đội ta đồng loạt tiến công, pháo sáng từ các căn cứ, chốt điểm của Mỹ, ngụy thi nhau vụt lên từng đợt kéo dài, liên tục, lúc sáng lúc tối chập chờn.

Lúc 1 giờ kém 10, cầu Câu Lâu bị ta đánh đổ sập 3 vai cầu xuống sông. Hơn 1 giờ, cầu Bà Rén cũng chịu chung số phận, 2 nhịp cầu đứt khúc.

Niềm vui chiến thắng ngập tràn, cả đội phấn khởi, hân hoan, một chiến thắng hòa nhịp cùng cả chiến trường, gây được tiếng vang lớn trong quần chúng nhân dân khắp Quảng Đà.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2019, 06:09:09 am »

Đánh sập cầu Vĩnh Điện

Cầu Vĩnh Điện nằm trên trục quốc lộ 1A, ở cửa ngõ phía bắc vào thị trấn Vĩnh Điện, trung tâm hành chính của huyện Điện Bàn. Ngoài đại đội lính ngụy giữ cầu, tại đây còn có hệ thống đồn bốt liên hoàn và khu ấp tân sinh, nhiều đơn vị địa phương quân canh phòng cẩn mật. Về phía thượng nguồn chừng 500m - khu vực tháp Bằng An dọc theo tỉnh lộ 609 còn có các đơn vị lính thuỷ đánh bộ Mỹ đóng giữ. Ở địa thế hiểm yếu đó, nên cầu Vĩnh Điện rất khó đánh đối với lực lượng đặc công nước của ta. Còn nhớ, trong đợt 1 chiến dịch Hè năm 1970, đội đặc công nước biệt phái Phân đội 3 về Huyện đội Điện Bàn để phối hợp đánh cầu Vĩnh Điện, nhưng chưa đánh được.

Đầu tháng 5 năm 1970, đợt 2 của chiến dịch Hè 1970, ta tiếp tục đánh bồi vào các quận lỵ, thị trấn, thị xã của địch khắp chiến trường Quảng Đà. Bộ chỉ huy Mặt trận lệnh cho Đội 170 phải: “Phối hợp với Huyện đội Điện Bàn đánh sập bằng được cầu Vĩnh Điện!”. Mặc dù đơn vị mới vừa đánh xong 2 cầu Câu Lâu, Bà Rén, song, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, đội bắt tay vào chuẩn bị cho trận đánh. Xác định đây là mục tiêu khó đánh nên Đội trưởng Phạm Xuân Sanh trực tiếp chỉ huy và tổ chức chiến đấu trận này.

Đồng chí Phạm Xuân Sanh nguyên là cán hộ của Đội 3 đặc công nước vào chiến trường Quảng Dà năm 1966, một trong số đồng chí hiếm hoi của Đội 3 còn lại nên khá dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Anh bàn với cấp uỷ và chỉ huy Đội chọn 1 tổ chiến đấu có bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn kỹ thuật tốt, có sức khỏe bảo đảm, có quyết tâm cao. Cuối cùng, đội nhất trí giao cho: Nguyễn Văn Tuỳ làm tổ trưởng, Giang Hồng Mão làm tổ phó, 2 chiến sĩ làm tổ viên (1 tổ viên dự bị). Tổ chiến đấu có nhiệm vụ tổ chức trinh sát mục tiêu, nắm chắc tình hình địch, để đảm bảo cho trận đánh thắng lợi. Đội còn phân công cho một số đồng chí phối hợp với du kích, trinh sát trên bộ và các bộ phận phục vụ, chuẩn bị khí tài... với tinh thần khẩn trương tích cực.

Đội trưởng Sanh vốn tính tình cởi mở nhưng sau khi nhận nhiệm vụ đánh mục tiêu hóc búa này, nỗi lo lắng hiện rõ trên nét mặt anh, có lúc đăm chiêu nghiêm nghị. Anh phác họa trong đầu một kế hoạch và trình tự thực hiện từng bước thật chắc chắn: giao cho chính trị viên ở nhà lo công việc chính trị tư tưởng và công tác chuẩn bị, còn anh cùng một chiến sĩ trinh sát đi Điện Phong gặp cán bộ Huyện đội Điện Bàn để bàn cụ thể kế hoạch hợp đồng tác chiến. Để hoàn thành nhiệm vụ quân sự trên địa bàn huyện, đồng chí Huyện đội trưởng Điện Bàn sẵn sàng tạo điều kiện cho đội. Đồng chí nói: “Chúng tôi sẽ phân công cho Xã đội Điện An cử một tiểu đội du kích phối hợp chiến đấu, đặt dưới sự phân công của đội; cử 1 tổ trinh sát giỏi thông thạo địa hình, nhanh nhẹn, dũng cảm, giúp đội nắm tình hình địch, báo cáo với Huyện uy móc nối một số cơ sở và du kích mật trong ấp tân sinh, giao nhiệm vụ cụ thể trong trận đánh này!”.

Phạm Xuân Sanh rất mừng với những thuận lợi ban đầu ấy. Mấy ngày sau, nhân dân đã cung cấp cho đội nhiều thông tin giá trị và đã triển khai làm công tác binh vận, theo sát tình hình hoạt động của địch, cả việc chuẩn bị một số hầm bí mật ngay trong ấp tân sinh để bộ đội trú ẩn khi cần. Anh rất tin ở dân, bị địch dồn ép vào ấp tân sinh nhưng phần lớn họ hướng về cách mạng. Qua một số tin của dân cung cấp thì được biết: Nhìn bề ngoài quân Mỹ, ngụy đông đúc, đóng rải khắp nơi, đi đâu cũng đụng đầu nhưng thực chất chúng rất sợ Việt cộng và đa số chán nản lao vào cờ bạc rượu chè, “thanh lâu”, “tửu quán”, sẵn sàng nhảy quán bar, một số giải sầu với cần sa, ma tuý! Trên con đường độc đạo với lưu lượng xe cộ vào Nam ra Bắc, nội tỉnh, ngoại tỉnh đều phải qua đây. Lợi dụng việc kiểm soát Việt cộng để hạch sách, nhũng nhiễu, ức hiếp hành khách kiếm tiền đút túi; việc canh giữ cầu có nhiều sơ hở, nhất là từ đầu hôm đến khoảng gần nửa đêm tình trạng trên càng nhốn nháo!

Đêm mùng 1 tháng 5, tối trời nhưng thị trấn Vĩnh Điện và các vị trí địch đóng quân vẫn sáng rõ dưới ánh sáng điện đèn. Từ vị trí trú quân tại Điện An, tổ trinh sát theo chân giao liên và đu kích địa phương băng qua cánh đồng đầy cỏ dại, sình lầy, gai góc, các bờ ruộng mấp mô... tiến đến gần tỉnh lộ, chờ bắt tín hiệu phía bên kia đường là ấp tân sinh để qua đường. Chừng 20 phút sau, bắt được tín hiệu “một đường”. Anh em lần lượt “vọt tiến” qua đường, có cơ sở của ta trong ấp cùng du kích mật đưa anh em vượt qua ấp một cách bí mật an toàn, tiếp cận bờ sông Vĩnh Điện, cách cầu gần 2km về phía thượng lưu. Tổ trinh sát nhanh chóng hạ thủy, anh em du kích quay lại chờ đón anh em trinh sát trở vé phía hạ lưu cầu Vĩnh Điện.

Dòng sông trôi nhẹ, tổ trinh sát lúc nổi, lúc chìm trong dòng nước êm xuôi, dùng kỹ thuật mật tập vào trụ cầu giữa sông, nhẹ nhàng khẩn trương dùng kìm chuyên dụng cắt lưới thép gai bao chung quanh trụ cầu, mở lối vào sát trụ để điều tra, nghiên cứu. Một vài tốp lính ngụy tuần tra trong cái ồn ã của xe cộ qua lại trên cầu, nên chúng không phát hiện được điều gì dưới nước. Mọi việc đã xong, tổ trinh sát rút xuôi về phía hạ lưu một cách bí mật, an toàn, công việc coi như đã hoàn thành một nửa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2019, 06:09:30 am »

Tổng hợp kết quả trinh sát, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh lập phương án chiến đấu, quyết định đánh cầu Vĩnh Điện với khối nổ 100kg gồm TNT và C4 hỗn hợp. Cái khó nhất của việc lắp ghép khối nổ là: 100kg thuốc nổ làm thành 4 khối để dễ dàng vận chuyển, nhưng khi xuất phát chiến đấu thì ghép 4 khối nhỏ thành một khối lớn, làm sao phải đảm bảo kỹ thuật tốt, không để xảy ra tình huống trục trặc khó xử lý cho tổ chiến đấu là một yêu cầu không đơn giản, song với quyết tâm cao, anh em đã làm được.

Theo hợp đồng chiến đấu với Huyện đội Điện Bàn thì lúc 0 giờ 5 phút, ngày 4 tháng 5 năm 1970, các đơn vị bộ đội địa phương Điện Bàn và một số đơn vị phối hợp sẽ đồng loạt nổ súng đánh vào quận lỵ, các cơ quan hội đổng tề ngụy, các đơn vị bình định và một số đồn bốt của bọn bảo an trong thị trấn. Đặc công nước sẽ đánh sập cầu Vĩnh Điện, không cho cơ giới chuyển quân ứng cứu vào Vĩnh Điện.

Đêm 4 tháng 5 năm 1970, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh đưa phân đội lên đường vào trận. Anh em động viên nhau: “Biến quyết tâm thành hành động mưu trí, dũng cảm, chiến đấu giành thắng lợi vẻ vang trong trận đánh này”. Tổ trinh sát của Huyện đội dẫn đường, tổ chiến đấu và các bộ phận khí tài, phục vụ tiếp theo, tiểu đội du kích do đồng chí Xã đội trưởng Điện An đi yểm trợ.

Đoàn quân đi trong đêm mờ ảo qua những làng xóm chỉ còn dấu vết các bờ tre cháy đen, những khu vườn hoang vắng, qua cánh đồng đầy cỏ dại, lỗ chỗ các hố do đại bác hằng đêm đào xới, những vệt dài của bánh xích xe tăng, xe bọc thép qua các trận càn chà đi xát lại. Tổ trinh sát đi đầu, bắt tín hiệu dừng chặng vượt tỉnh lộ, du kích mật trong ấp tân sinh đóng vai “phòng vệ dân sự” của địch xuất hiện, đưa bộ đội qua ấp, tiếp cận bờ sông, địa điểm “xuất phát tiến công”. Theo sự phân công, các bộ phận triển khai nhiệm vụ, phục vụ cho tổ chiến đấu một cách nhanh chóng. Tổ chiến đấu đã ở tư thế sẵn sàng.

Đúng 22 giờ 30 phút, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh ra lệnh xuất phát! Tổ trưởng Nguyễn Văn Tuỳ, Tổ phó Giang Hồng Mão và 1 tổ viên dìu khối nổ ra sông, anh em trên bờ vẫy tay đưa tiễn, tổ chiến đấu xa dần, xa dần rồi lẫn trong dòng nước xanh, họ thả người trôi theo dòng nước từ hướng tây xuôi hướng đông. Hai bên bờ sông, phía nam là thị trấn, phía bắc là đồn bốt và điểm trú quân dã chiến của Mỹ, ngụy giăng giăng. Mới đầu hôm, mọi thứ âm thanh ồn ào hỗn độn của người và xe cộ xen với những loạt súng nổ xa xa, tiếng đại bác từ các trận địa pháo thi nhau nã đạn vào các vùng “tự do bắn phá” ùng oàng liên tiếp từ xa vọng về... Tất cả đểu không chi phối tâm trí của anh em đang tập trung vào những động tác kỹ thuật, giữ bí mật tuyệt đối trên đường tiềm nhập mục tiêu.

Đoạn sông phía thượng lưu và hạ lưu cầu Vĩnh Điện không rộng nhưng nước sâu, lưu tốc dòng chảy trên mức trung bình, đã tạo thuận lợi cho kỹ thuật đi chìm, nhờ sức đẩy của nước đưa anh em vào mục tiêu nhanh chóng. Theo sự phân công, từng tổ viên thao tác cố định khối nổ vào trụ cầu rồi lần lượt rút ra, tổ trưởng điểm hỏa kíp hẹn giờ 30 phút, rút ra sau cùng, xuôi về phía hạ lưu khoảng l,5km, có đồng chí trinh sát của đội và du kích địa phương chờ đón.

Tiếng súng tấn công của bộ đội và du kích địa phương nổ ran trong thị trấn. Pháo sáng từ các đồn bốt, cứ điểm của địch dồn dập bắn lên trời bung ra những đám sáng màu huyết dụ, nhoáng nhoàng trên bầu trời Vĩnh Điện.

Tổ chiến đấu đã lên bờ, cùng bộ phận đón hướng về phía cầu Vĩnh Điện đợi chờ! Đúng 1 giờ kém 5 phút, khối nổ ở cầu Vĩnh Điện phát hỏa bằng ánh chớp sáng lóe lên, tiếp theo là tiếng nổ âm vang rung chuyển cả một vùng thị trấn. Trụ cầu đổ nghiêng, thân cầu vặn vò đổ chênh vênh, có thể đổ sập xuống dòng sông bất cứ lúc nào! Đầu cầu phía bắc xe cộ các loại ùn tắc lại. Du kích xã Điện An và Điện Phước phục sẵn, 2 tiểu đội đồng loạt nổ súng vào đoàn xe quân sự, một số tên chết, một số tên hoảng sợ bỏ xe chạy ngược theo đường số 1 để tháo thân.

Trận chiến đấu nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm chiến đấu cao, đội làm nên thắng lợi và trở về trọn vẹn, là niềm phấn khởi hân hoan của toàn đơn vị.

Cùng với trận đánh cầu Vĩnh Điện, Chính trị viên Đinh Văn Rơi đưa 1 phân đội về Hội An, phối hợp Thị đội đánh cầu Phước Trạch, cầu Phước Trạch ngắn và ở vị trí dễ đánh nên qua 1 đêm trinh sát, phân đội đã nắm chắc tình hình. Khi đến giờ bộ đội của Thị đội Hội An nổ súng đánh vào thị xã thì phân đội đặc công nước cũng đánh sập ngay cầu Phước Trạch, góp thêm một chiến công nữa cho đội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2019, 06:10:20 am »

Phối hợp Tiểu đoàn 91 đánh sập cầu Đỏ, cầu Cẩm Lệ

Thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, trên chiến trường Quảng Đà, Mỹ - ngụy tập trung mọi lực lượng, phương tiện chiến tranh mở liên tiếp các chiến dịch càn quét, bình định khắp các địa bàn vùng ven, vùng giải phóng, nông thôn. Thủ đoạn đánh phá ngày càng ác liệt, thâm độc: Kết hợp càn quét với cày ủi nhà cửa, mồ mả, cây cối tạo thành một vùng “trắng dân”,”trắng đất”, cài cắm nhiều chốt điểm, tổ chức nhiều toán biệt kích Mỹ tăng cường lùng sục, tập kích, gài mìn, phong tỏa các hành lang, các trục đường ra vào Đà Nẵng. Chúng tăng cường công sự phòng ngự ở các chốt điểm, bố trí nhiều trận địa hỏa lực, xây dựng nhiều hàng rào dây thép gai, bãi mìn, đèn chiếu... gây cho ta một số khó khăn tổn thất.

Tuy nhiên, trên toàn chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang ta đẩy mạnh tiến công chiến lược giành thắng lợi lớn trên chiến trường tạo thế “thượng phong” trên bàn Hội nghị đàm phán bốn bên tại Pa-ri.

Chủ trương của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lúc này là: Đẩy mạnh 3 cao trào cách mạng:

- Ha sức thi đua tiêu diệt và làm tan rã phần lón quân ngụy.

- Tiến công và nổi dậy giành quyền làm chủ.

- Đẩy mạnh phong trào cách mạng trong đô thị.

Thực hiện chủ trương đó, Mặt trận Quảng Đà liên tiếp mở nhiều chiến dịch lớn nhỏ. Tháng 5 năm 1971, Huyện đội Hoà Vang, Tiểu đoàn đặc công 91 và nhiều đơn vị phối hợp đánh mạnh vào các mục tiêu quân địch ở địa bàn khu trung Hoà Vang, khu vực xung yếu trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng.

Lúc này, Đội đặc công nước 170 có nhiệm vụ phối hợp đánh cầu Đỏ và cầu Cẩm Lệ. cầu Đỏ nằm trên quốc lộ 1A ở ngay cửa ngõ phía nam vào thành phố, dài 300m, đã bị ta đánh sập hồi tháng 8 năm 1967, chúng sửa chữa gia cố vững chắc và tăng cường bố phòng, bảo vệ nghiêm ngặt hơn. Theo điều tra nắm được, tên đại đội trưởng đại đội giữ cầu này nguyên là đại úy chỉ huy đại đội bảo vệ cầu Thủy Tú. Ta đánh sập cầu Thủy Tú, hắn bị kỷ luật giáng xuống trung uý, đưa ra tuyến lửa Trị Thiên. Nhờ có thế lực, hắn mới được điều về làm đại đội trưởng giữ cầu Đỏ. Hắn sợ phải bị kỷ luật lần nữa, nên ra sức đề phòng, cho rào dây thép gai vây quanh các trục cầu chắc chắn, chăng một hàng rào bằng lưới thép gai chắn ngang sông cách cầu 100m về phía thượng lưu gọi là “phòng thủ từ xa”, chăng mắc hệ thống đèn bảo vệ dày đặc trên cầu và đèn bảo vệ các trụ cầu. Bố trí đèn sát lan can chiếu xuống, ngay đầu mỗi trụ cầu có 1 thùng gỗ chứa lựu đạn, mỗi lượt phiên tuần tiễu đi qua là ném lựu đạn xuống chân trụ cầu đề phòng “Việt cộng” đánh cầu! Hắn xử phạt rất nặng binh sĩ dưới quyền về tội không tuân lệnh thượng cấp! Với những việc làm nghiêm ngặt, hắn tin sẽ giữ được cầu an toàn tuyệt đối, lo gì “bông mai” lại không nở vàng trên ve áo hắn!

Cầu Cẩm Lệ ở phía hạ lưu cầu Đỏ khoảng 3km, nối con đường nhánh từ Khuê Trung qua cầu Cẩm Lệ chạy thẳng đến Miếu Bông giáp quốc lộ 1A, xe cộ lưu thông không nhiều; chủ yếu là xe quân sự của địch, xe tiếp tế hậu cần... Cầu Cẩm Lệ nằm sâu trong vành đai bảo vệ vòng trong, liên hoàn với các đồn bốt, chốt điểm của lực lượng bảo an, địa phương quân chốt giữ và tuần tra cả ngày đêm. Lực lượng bảo vệ cầu chỉ có 1 trung đội, được tăng cường lực lượng khi có hoạt động mạnh của ta ở khu vực này.

Sau khi nhận nhiệm vụ về, ban chỉ huy đội họp bàn kế hoạch triển khai nhiệm vụ: việc đầu tiên là quán triệt tư tưởng và quyết tâm cho đảng viên trong chi bộ và cán bộ, chiến sĩ trong toàn đội, sau đó là phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, từng người. Sắp xếp tổ chức lực lượng chiến đấu gồm có: Phân đội 1: Đánh cầu Đỏ, do Đội trưởng Phạm Xuân Sanh trực tiếp chỉ huy. Tổ chiến đấu do Nguyễn Văn Tập làm tổ trưởng, Nguyễn Quốc Toán làm tổ phó và 1 tổ viên. Phân đội 2: Đánh cầu Cẩm Lệ do Đinh Văn Rơi - Chính trị viên trực tiếp chỉ huy. Tổ chiến đấu do Nguyễn Văn Tuỳ làm tổ trưởng, Giang Hồng Mão làm tổ phó và 1 tổ viên. Những cán bộ, chiến sĩ được bố trí chiến đấu trận này đều dày dạn và có kinh nghiệm trong các trận đánh các cầu Câu Lâu, Bà Rén, Vĩnh Điện vừa qua. Chuẩn bị 80kg thuốc nổ C4 hoặc 100kg TNT đánh cầu Đỏ, 60kg thuốc nổ C4 hoặc 80kg TNT đánh cầu Cẩm Lệ, bộ phận chuẩn bị khí tài liên hệ với quân giới mặt trận lo đủ cơ số thuốc nổ nói trên. Mỗi phân đội phân công 5 chiến sĩ làm nhiệm vụ phối hợp với du kích địa phương, trinh sát nắm tình hình địch trên bờ, bố trí từ khu vực tập kích vị trí xuất phát chiến đấu và vị trí đón tổ chiến đấu rút về, số còn lại đảm nhiệm một số công việc do đội phân công.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2019, 06:10:44 am »

Theo hợp đồng chiến đấu, chiều ngày 3 tháng 5 năm 1971, đơn vị trú quân ở Điện Hồng, có 2 giao liên của Khu đội II - Hoà Vang đến đón đơn vị về nơi tập kết ở Hoà Châu. Đơn vị hành quân trên vành đai bảo vệ Đà Nẵng của Mỹ, ngụy chẳng khác nào đi vào một vùng đầy cạm bẫy của tử thần. Khu vực vành đai là vùng “tự do bắn phá” nên cả đêm về là đủ loại pháo bầy, pháo chụp từ các trận địa bắn lúc thưa thớt, lúc dập dồn suốt đêm không ngớt. Chúng thường hay phục kích dọc quốc lộ 1A, dọc theo đường sắt và những nơi chúng nghi ngờ là đường di chuyển của cán bộ, bộ đội ta ra vào hoạt động. Một thủ đoạn tinh vi là: chúng bí mật cài đặt máy cảm ứng âm thanh lẫn vào trong cây cỏ, cán bộ, bộ đội ta đi qua phát ra tiếng động, máy cảm ứng truyền về nơi nhận tín hiệu của địch và lập tức pháo bầy của chúng nã tới tấp vào đội hình di chuyển của ta. Đơn vị lặng lẽ, thận trọng hành quân qua những cánh đồng hoang, qua hói, qua khe và luôn đề phòng pháo địch bắn tới, lúc gần lúc xa nhì nhằng chớp lửa và tiếng nổ đùng đoàng các hướng trên đường đơn vị hành quân.

Khoảng 24 giờ, đơn vị về đến xã Hoà Tiến. Từ đây, đơn vị chia làm hai ngả: Phân đội đánh cầu Đỏ về xã Hoà Châu, phân đội đánh cầu Cẩm Lệ, hành quân tiếp, vượt qua quốc lộ 1A về xã Hoà Xuân. Đến đâu, anh em cũng được các địa phương bố trí nơi ở, bố trí hầm bí mật, phân công cho các đội viên du kích đưa anh em lánh càn, khi địch lùng sục vào lồng, ổn định chỗ ở, từng phân đội triển khai trinh sát mục tiêu và chuẩn bị khí tài, làm những việc cần thiết phục vụ cho trận đánh. Đêm ngày 4 tháng 5, tổ trinh sát cầu Cẩm Lệ tiếp cận mục tiêu thuận lợi và an toàn, anh em nhanh chóng nắm chặt các yêu cầu cần thiết bằng thực tế mắt thấy, tay sờ.

Riêng mục tiêu cầu Đỏ, địch canh phòng rất cẩn mật. Anh em thử thả vài nhánh bèo trôi xuống cầu đểu bị chúng phát hiện. Anh em liền ngụy trang khéo léo, tiếp cận đến hàng rào thép gai chắn ngang sông, cách cầu 100m, nằm lại quan sát ban đêm và cả ngày hôm sau để nắm chắc quy luật canh phòng và xác định mục tiêu chọn đường tiềm nhập. Thời gian gấp gáp, tổ trinh sát chưa tận mắt thấy tay sờ mục tiêu định đánh, Đội trưởng Phạm Xuân Sanh không khỏi bồn chồn lo lắng. Anh cho họp toàn phân đội, dân chủ hiến kế để tìm ra kế hoạch tối ưu nhất! Anh em bàn bạc sôi nổi vì ai nấy đều náo nức lập công! Đến lượt tổ chiến đấu. Tổ trưởng Nguyễn Văn Tập đứng lên trình bày phương án của mình:

- Thưa các đồng chí! Ta chưa vào được mục tiêu, nhưng qua điểu tra trinh sát kỹ, nắm được tình hình khá chắc nên tin rằng sẽ diệt được mục tiêu với kế hoạch như sau: Cách giờ G 1 tiếng, tổ chiến đấu đưa khối nổ sang rồi dừng lại chờ đến giờ G, khi tiếng súng tiến công ở hai bên đầu cầu rộ lên, nhất định quân địch sẽ chui hết vào lô cốt lo đối phó trên bờ. Tổ chiến đấu lập tức chớp thời cơ, dùng kỹ thuật vượt nhanh tiếp cận mục tiêu, cắt rào kẽm gai đưa khối nổ vào, chỉ cần buộc dây vào cọc rào, dòng nước chảy sẽ ép khối nổ sát vào trụ cầu, điểm hỏa xong rồi rút lui, thời gian trong vòng 20 phút!

Cả phân đội vỗ tay tán thưởng! Ngừng một lát. Nguyễn Văn Tập tiếp lời:

- Đã là chiến sĩ đặc công nước, ai cũng hiểu được tình huống vào mục tiêu mà bị lộ, chỉ có cách duy nhất là sử dụng kíp nổ tức thời để hoàn thành nhiệm vụ, dù toàn tổ sẽ phải hy sinh. Nếu trong trận đánh này tình huống đó xảy ra, chúng tôi - toàn tổ chiến đấu, xin hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và đơn vị giao cho!

Đội trưởng Sanh thấy lòng mình se lại, vội quay mặt đi giấu nỗi cảm xúc chợt đến bất ngờ sau lời phát biểu thể hiện sự “quên mình” của chiến sĩ mình. Bởi hơn ai hết, anh hiểu rõ những khó khăn trong những hoàn cảnh đặc biệt đó của đặc công nước.

Theo hợp đồng với các đơn vị, giờ G nổ súng tiến công lúc 24 giờ kém 10 phút ngày 6 tháng 5. Hai phân đội đánh 2 mục tiêu cầu Đỏ và cầu Cẩm Lệ phải vào vị trí xuất phát tiến công lúc 22 giờ. Đội trưởng Sanh không lo gì cho phân đội đánh cầu Cẩm Lệ vì ở đó có Chính trị viên Đinh Văn Rơi chỉ huy và tổ chiến đấu đã có nhiều kinh nghiệm, chỉ lo cho phân đội đánh cầu Đỏ, song niềm tin vào tinh thần chiến đấu dũng cảm, gan dạ và mưu trí của anh em làm cho nỗi lo trong anh mỗi lúc một vơi dần.

Đúng 23 giờ, tổ chiến đấu mục tiêu cầu Đỏ xuất phát và thực hiện theo kế hoạch đã bàn. Lúc 24 giờ kém 10 phút ngày 6 tháng 5, tiếng súng tiến công của quân ta nổ giòn giã ở hai bên cầu Đỏ, khu chốt điểm của Mỹ ở đầu cầu phía bắc, lô cốt và chốt điểm đầu cầu phía nam cúa ngụy chìm trong khói lửa mịt mùng. Dưới sông, tổ chiến đấu chớp thời cơ, dùng kỹ thuật vượt nhanh tiếp cận mục tiêu, nhanh chóng cắt rào đưa khối nổ áp sát trụ cầu, điểm hỏa và rút xuôi về phía hạ lưu. Trận chiến đấu còn tiếp diễn với tiếng súng AK chát chói, tiếng pháo và B40, B41 ùng oàng, quân địch chưa có phản ứng gì rõ rệt, chỉ có pháo sáng từ các đồn bốt địch xa xa thi nhau bắn lên trời nổ lụp bụp, bung ra những đám sáng đỏ lừ, lững lờ, ma quái!

Đúng 24 giờ 30 phút, sau một tiếng nổ lớn, cầu Cẩm Lệ bị đánh sập.

Tiếp đó, lúc 24 giờ 40 phút, tiếng nổ ở cầu Đỏ rền vang, hai vai cầu đổ ào xuống sông, sóng dậy rào ập vào bờ thật mạnh.

Thắng lợi tuyệt vời, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91 - Nguyễn Xuân Ngọc và Đội trưởng Đội 170 - Phạm Xuân Sanh gặp nhau, tay bắt mặt mừng trong niềm phấn khởi hân hoan về một trận chiến đấu hợp đồng tuyệt đẹp.

Tuy nhiên, sau trận chiến đấu là thu quân, chờ hết ngày 7 tháng 5, tổ chiến đấu của Tập vẫn chưa thấy về đơn vị. Trinh sát của Tiểu đoàn 91 và của Đội 170 chia nhau đi tìm. Thế mới biết, trong chiến đấu chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Số là, khi hợp đồng với Xã đội Hoà Xuân đón tổ chiến đấu rút về nhưng địa điểm không cụ thể rõ ràng, nên du kích Hoà Xuân đón một nơi, tổ chiến đấu rút về nới khác. Anh em lên bờ chờ mãi chẳng thấy người nào đến đón. Trời sắp sáng, ở trong vùng địch kiểm soát, sự nguy hiểm khó lường. Ba anh em men theo bờ ruộng ra giữa cánh đồng, chọn một đám ruộng lúa tốt ẩn mình. Trời dần sáng rõ, anh em đã chịu đựng qua một đêm lạnh lẻo, bây giờ nắng lên mỗi lúc càng gay gắt, nung nóng các thân hình trần trụi và cảm thấy như da thịt nứt ra bỏng rát. Họ kiên trì, nằm co ro bất động và xác định nếu kẻ địch lùng sục đến đây sẽ chiến đấu đến cùng mặc dù mỗi người chỉ có 1 chiếc dao găm và 1 quả lựu đạn phòng thân; chờ đến tổì sẽ tìm đường về đơn vị. Khoảng 10 giờ sáng, không nghe thấy bọn địch lùng sục trong làng, mà thấy từ xa hai người dân vác cuốc và quang gánh ra đồng. Họ đi mỗi lúc một gần và dừng lại trên bò ruộng cao nhìn xuống. Có lẽ họ đã phát hiện ra chỗ các anh nằm ẩn náu nên vừa đi vừa nói to: “Bà con đang chờ ở phía xóm Nam!”. Sợ anh em không nghe thấy họ nhắc đến mấy lần rồi đi về chỗ máng tát nước đặt một gói gì ở đó rồi đi thẳng về phía xóm Nam. Nhận được tín hiệu, anh em lần lượt đên mở gói ra thấy quần áo và một nắm xôi to, họ chia nhau ăn vội rồi mặc quần áo đi về xóm Nam có anh em du kích đang chờ. Họ ôm nhau mừng rõ với lần thoát hiểm của tổ đặc công gan dạ sau trận chiến thắng trở về.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM