quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2022, 05:23:11 pm » |
|
Anh hùng Vũ Văn Huynh Vũ Văn Huynh, sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 12 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, trung đoàn 2, sư đoàn 1, chủ lực Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sinh trưởng trong một địa phương có truyền thống cách mạng, được giáo dục của nhà trường xã hội chủ nghĩa, Vũ Văn Huynh sớm nhận thức được nhiệm vụ của người thanh niên phải đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Tháng 12 năm 1965, đồng chí xung phong nhập ngũ, tha thiết được đi chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vũ Văn Huynh đã tham gia những chiến dịch lớn ở Khe Sanh, Bắc Tây Nguyên, Nam Tây Nguyên, đánh 10 trận lớn trên cương vị chỉ huy từ tiểu đội đến tiểu đoàn, riêng bản thân diệt 60 tên Mỹ. Trong chiến đấu, Vũ Văn Huynh luôn luôn dũng cảm, kiên cường, có tác phong chỉ huy quyết đoán, chính xác, táo bạo, ở cương vị nào cũng hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Trong trận đánh điểm cao 845 trên Mặt trận Đường số 9 - Khe Sanh (tháng 6 năm 1967), Vũ Văn Huynh chỉ huy một tiểu đội bám sát, đánh mãnh liệt, diệt nhiều địch. Trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt, đơn vị bị thương vong nhiều, đồng chí trung đội trưởng hy sinh. Vũ Văn Huynh bị đạn vào chân nhưng vẫn dùng tiểu liên, lựu đạn, B.40 đánh địch, thay thế trung đội trưởng động viên anh em dũng cảm chiến đấu diệt nhiều địch. Đến 4 giờ chiều, số địch còn lại giạt sang bên phải đồi. Ở đó chúng vấp phải mìn của tổ công binh nên bị tiêu diệt hết. Trung đội xông lên chiếm hoàn toàn ngọn đồi. Như vậy là trong suốt 1 ngày chiến đấu, trung đội với lực lượng 15 người cùng một tổ công binh đã tiêu diệt 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ gồm 150 tên; sức mạnh chung của tập thể đã tạo điều kiện cho đồng chí diệt 32 tên. Vào chiến trường Tây Nguyên, đại đội Vũ Văn Huynh được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm Ngọc Hồi (tháng 5 năm 1968). Đồng chí trực tiếp đi trinh sát tỉ mỉ, cụ thể, lập kế hoạch tác chiến đúng. Khi đánh vào cứ điểm, Vũ Văn Huynh dẫn tiểu đội mũi nhọn xốc thẳng vào sở chỉ huy địch, tạo thuận lợi cho đại đội chia cắt địch ra từng mảng để diệt. Nắm vững thời cơ địch bị thiệt hại nặng, số còn lại hoang mang dao động, đồng chí nhảy lên lô cốt kêu gọi đại đội biệt kích ngụy, bắt 18 tên, thu nhiều súng các loại. Tại miền Đông Nam Bộ, Vũ Văn Huynh chỉ huy tiểu đoàn đánh trận tập kích táo bạo vào cụm quân Mỹ đóng ở Cầu Khởi (ngày 2 tháng 4 năm 1969), diệt 347 tên, phá hủy 24 xe bọc thép, 4 máy bay. Tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí của đồng chí lại biểu hiện rõ trong trận chống càn ở Bàu Trâm, quận Dương Minh Châu ngày 9 tháng 6 năm 1969. Lực lượng ta ở mặt này chỉ có 5 đồng chí liên lạc, trinh sát và một bộ phận của sở chỉ huy trung đoàn mà quân địch thi dùng 60 xe tăng và xe bọc thép cùng nhiều bộ binh xông vào. Trước tình huống rất gay go, Vũ Văn Huynh xác định quyết tâm phải bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn. Đồng chí vừa động viên, vừa phân công anh em lợi dụng địa hình có lợi chiến đấu, vừa trực tiếp dùng tiểu liên, B.40 chặn địch. Trong một lần quân địch đã đến gần, Vũ Văn Huynh dũng cảm ra lệnh cho súng cối bắn thẳng vào vị trí chiến đấu của mình để vừa tiêu diệt địch vừa kéo hỏa lực của chúng sang phía minh nhằm cứu nguy cho sở chỉ huy trung đoàn. Lực lượng bên ta tuy ít, nhưng có công sự tốt, bắn chính xác nên đánh bật nhiều đợt tiến công của địch, diệt nhiều lên. Địch dùng súng M.79 bắn mạnh về phía hầm. Khi thấy 1 quả lựu đạn lọt vào hầm chỉ huy, Vũ Văn Huynh bình tĩnh và gan dạ nhảy xuống hầm nhặt ném ra ngoài, lựu đạn rời khỏi tay thì nổ, đồng chí bị thương vào mât, tay, nửa người bên phải và ngất đi. Hành động dũng cảm đó của Vũ Văn Huynh đã cứu được các đồng chí chỉ huy trung đoàn và 3 thương binh trong hầm. Vũ Văn Huynh là một cán bộ có đức tính khiêm tốn, giản dị, đoàn kết nội bộ, sẵn sàng hy sinh thân mình bảo vệ đồng đội. Đồng chí gương mẫu và động viên mọi người làm tốt công tác thương binh, chăm lo xây dựng đơn vị nên được cấp trên tin cậy, anh em mến phục. Đồng chí đã được khen thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 bằng khen và giấy khen, 3 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 2 lần đạt Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Vũ Văn Huynh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 28 Tháng Giêng, 2022, 05:24:16 pm » |
|
Anh hùng Phan Công Nam Phan Công Nam, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 8 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 24 phòng không, sư đoàn 1 chủ lực Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Lớn lên từ quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh, trong một gia đình cách mạng có cha tham gia phong trào Xô-viết năm 1930 - 1931, Phan Công Nam sớm được giáo dục lòng yêu nước, thương dân, lòng căm thù sâu sấc bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Sau khi vào bộ đội, tháng 12 năm 1964, đồng chí được phân công vào miền Nam chiến đấu. Phan Công Nam đã tham gia 174 trận đánh, trực tiếp bắn rơi 10 máy bay (có 3 tiêm kích phản lực), cùng khẩu đội bắn rơi 12 chiếc khác. Ngoài ra đồng chí còn chỉ huy trung đội, đại đội bắn rơi hàng loạt máy bay địch trong những trận chúng đổ bộ đường không, và đánh bộ binh địch 2 trận, diệt 60 tên. Trong trận Plây Me (1965), đơn vị chiếm lĩnh trận địa ờ bãi trống, chưa kịp đào công sự thì máy bay, pháo binh địch bắn phá dữ dội vào trận địa. Bất chấp nguy hiểm, Phan Công Nam bình tĩnh chữa lại súng bị hóc rồi cùng đồng đội bắn chính xác, hạ 2 máy bay lên thẳng địch. Trong trận đánh bên bờ sông Sa Thầy (tháng 11 năm 1966), mặc dù đang bị sốt, Phan Công Nam kiên quyết bám trụ, cùng đồng đội hạ 7 máy bay địch. Khi được lệnh di chuyển trận địa, đồng chí một mình vác nòng súng Rặng 34 ki-lô-gam đang nóng bỏng, nhanh chóng đến vị trí mới tiếp tục chiến đấu. Đầu mùa Xuân năm 1968, trong khẩu đội có một số đồng chí bị ốm, Phan Công Nam tình nguyện mang vác một khối lượng súng đạn khoảng 50 ki-lô-gam trong suốt 10 ngày hành quân, góp phần bảo đảm đơn vị đến vị trí mới ở Ngọc Cung đúng kế hoạch. Đang chuẩn bị công sự chiến đấu thì pháo địch bắn dữ dội. Nếu đợi ngớt rồi mới phát quang xạ giới thì sẽ lỡ thời cơ diệt địch, Phan Công Nam bất chấp hoàn cảnh ác liệt, nhảy lên khỏi hầm và vận động anh em đốn cây to trước mật. Việc làm kịp thời đó tạo thuận lợi cho đơn vị chiến đấu quyết liệt với địch suốt 3 ngày đêm, bắn rơi 10 máy bay Mỹ (có 5 tiêm kích, 4 lên thẳng và 1 trinh sát L.19). Khi ở cương vị cán bộ chỉ huy, Phan Công Nam tích cực suy nghĩ tìm tòi nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, giành thắng lợi giòn giã. Trong đợt vây ép Plây Cần, gặp tình huống khẩn trương, sau khi chọn hướng chính xác, Phan Công Nam quyết định đặt pháo trên mặt đất bắn. Máy bay lên thẳng địch bị hòa lực bất ngờ của đơn vị đồng chí bắn rơi trong một đợt, 7 chiếc chở đầy quân tiếp viện. Ở Bàu Cỏ miền Đông Nam Bộ (tháng 1 năm 1969), Phan Công Nam nghiên cứu kỹ địa hình, cùng tập thể ban chỉ huy để ra phương án chiến đấu thích hợp. Khi trận đánh diễn ra, các khẩu đội di chuyển linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ, đón đúng đường bay, đánh một trận đạt hiệu suất cao. Đại đội đồng chí phối hợp với một đại đội bạn bắn rơi 70 máy bay địch. Phan Công Nam chấp hành nghiêm mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện tốt kỷ luật dân vận, đoàn kết, tận tình giúp đỡ đồng đội, xây dựng đơn vị, nên được tập thể yêu mến, tạo điều kiện cho đồng chí hoàn thành nhiệm vụ, trưởng thành nhanh chóng. Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 5 bằng khen, 9 giấy khen, 6 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ bắn máy bay, 1 lần Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 lần Dũng sĩ Quyết thắng. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Phan Công Nam được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2022, 12:57:12 pm » |
|
Anh hùng Lê Thị Sáu Lê Thị Sáu (tức Trần Thị Biết), sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là cán bộ đại đội bậc trưởng thuộc phòng 2, cục tham mưu Quân khu 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sớm được giác ngộ cách mạng, ngay từ khi mới 17 tuổi (năm 1947) Lê Thị Sáu đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đồng chí được Đảng phân công ở lại miền Nam lảm các nhiệm vụ liên lạc, giao thông, xây dựng cơ sở, lấy tin tức từ vùng địch báo cáo lên cấp trên. Do yêu cầu công tác, Lê Thị Sáu đã làm nhiều nhiệm vụ ở nhiều vùng khác nhau, nhưng ở đâu đồng chí cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường, vượt mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Gần 20 năm công tác, đồng chí chưa hề làm mất một tài liệu hoặc làm lộ một bí mật nào của tổ chức. Mùa Đông năm 1967, trong khi bọn xâm lược Mỹ mở cuộc phản công mùa khô lần thử 2, Lê Thị Sáu được tổ chức điều đến hoạt động ở một chiến trường rừng núi, rất xa lạ với đồng chí. Để giữ bí mật cho công tác theo dõi địch, nắm tình hình và truyền tin tức, Lê Thị Sáu được bố trí vào làm công trong một gia đình giàu có. Đồng chí khéo léo làm việc tránh được mọi sự nghi ngờ của địch mà vẫn liên lạc được với cơ sở lấy tin tức va báo cáo lên trên. Trong điều kiện như vậv, đồng chí liên tục hoạt động, phục vụ đắc lực cho chiến dịch mùa đông năm 1967 của bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ. Đầu năm 1968, Lê Thị Sáu được điều vào Sài Gòn vừa làm chiến sĩ giao thông vừa làm trinh sát phục vụ cho các đơn vị mũi nhọn đánh vào thành phố, Ngày 28 Tết Mậu Thân, trên đường đi công tác chẳng may bị lọt vào trận địa phục kích của địch, Lê Thị Sáu bị thương nặng, trong người còn mang theo tài liệu. Nếu để sa vào tay giặc sẽ bị lộ bí mật, cho nên mặc dù vết thương ở chân rất nặng, đồng chí vần cố lết đến nhà cơ sở (địa điểm hộp thư liên lạc bí mật) báo cáo tình hình, bàn giao tài liệu rồi mới để cơ sở chuyến mình đến một nhà thương trong thành phố. Sau 2 tháng điều trị, Lê Thị Sáu ra viện với thương tật rất nặng nề; đi đứng không vững, tay chân cử động khó khăn. Lòng quyết tâm trở lại đội ngũ chiến đấu đã thúc đẩy đồng chí khổ công luyện tập khắc phục thương tật. Sau 3 tháng kiên trì rèn luyện, Lê Thị Sáu đi lại được tương đối vững vàng. Rất sung sướng với kết quả luyện tập, đồng chí báo cáo xin tổ chức cho nhận công tác. Được tổ chức đồng ý, Lê Thị Sáu trở lại làm nhiệm vụ giao thông liên lạc giữa lúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 đang tiếp diễn. Lúc này tình hình trong thành phố Sài Gòn rất căng thẳng, hoạt động của đồng chí có nhiều khó khăn. Mặc dù địch tăng cường kiểm soát, lùng sục cả trong thành phố, vùng ven và khu tiếp giáp, đồng chí vẫn khéo léo mang tài liệu vượt qua tất cả các chặng kiểm soát, làm tròn mọi nhiệm vụ được giao. Liên tục công tác ở trong vùng địch, Lê Thị Sáu không những kiên cường, dũng ảm, mưu trí, mà còn là một tấm gương kiên định, vững vàng, cần kiệm, giản dị. Phải sống ở giữa nơi xa hoa để hoạt động, lại phải nuôi bố, mẹ chồng và 6 con nhỏ ở Sài Gòn, nhưng Lê Thị Sáu rất tiết kiệm, tằn tiện từng đồng bạc của tổ chức. Đồng chí vui vẻ tự nguyện rút bớt kinh phí chi tiêu của cấp trên cho và tự lực kiếm thêm tiền bằng nghề bán cháo rong. Cùng với gia đỉnh sống kham khổ nhưng Lê Thị Sáu luôn luôn quan tâm lo lắng đến đồng đội, tiền bán cháo và tiền chăn nuôi gia cầm, đồng chí gom góp lại rồi mua quà cho anh em. Lê Thị Sáu là một cán bộ tận tụy, trung thành với sự nghiệp cách mạng, là một tấm gương trong sáng về phẩm chất, đạo đức cán bộ cách mạng. Đồng chí luôn luôn phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thương yêu nhân dân, giúp đỡ đồng đội, đồng chí được quần chúng cách mạng cơ sở tin tưởng che chở, được anh em mến phục, quý trọng. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Lê Thị Sáu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2022, 12:57:55 pm » |
|
Anh hùng Nguyễn Xuân Tình Nguyễn Xuân Tình, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ năm 1361. Khi được, tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó đặc công đoàn 429, Quân khu 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Được chế độ mới nuôi dưỡng và giáo dục, Nguyễn Xuân Tình sớm giác ngộ lý tưởng cao đẹp của thanh niên, hiểu rõ nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc và nhân dân. Năm 18 tuổi, đồng chí xung phong vào bộ đội và đến năm 1965, được phân công vào Nam chiến đấu. Qua hơn 3 năm ở chiến trường, Nguyễn Xuân Tình đã diệt 180 tên địch (có 120 tên Mỹ), bắt 2 tù binh, thu 2 súng, phá hủy hơn 30 hầm ngầm, lô cốt, 3 kho xăng, diệt 11 xe cơ giới (có 9 xe tăng và xe bọc thép). Nguyễn Xuân Tình là một tấm gương dũng cảm và mưu trí trong chiến đấu, xung phong đi đầu khi gặp khó khăn nguy hiểm, luôn luôn tìm tòi, sáng tạo cách đánh tốt, có tác phong sâu sát, tỉ mỉ, xây dựng đơn vị chiến đấu đạt hiệu suất diệt địch cao. Trong trận đánh phối hợp chi viện cho anh em binh sĩ yêu nước trung đoàn 1 thiết giáp ngụy khởi nghĩa (ngày 3 tháng 3 năm 1966 tại Bình Dương), đồng chí mưu trí chiếm 1 xe tăng M.41 của địch rồi dùng súng 12,7 mi-li-mét trên xe bắn vào toán địch phản kích. Địch cho 2 xe M.41 từ sở chỉ huy ra phản công, Nguyễn Xuân Tinh bình tĩnh chiếm địa hình có lợi, dùng B.40 bắn chính xác lần lượt diệt cả 2 xe. Sau đó, theo lệnh cấp trên, đồng chí sang chi viện cho mũi bạn đánh khu xe M.113, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tháng 7 năm 1967, trong trận đánh căn cứ Téc-ních mở màn cho chiến dịch Bình Long, Nguyễn Xuân Tình được phân công làm mũi phó phụ trách mở cửa cho đơn vị tiến công. Sau khi phá hết các lớp rào, còn hàng rào cuối cùng, bộc phá không nổ, đồng chí nhanh trí ôm ống bộc phá đè hàng rào xuống, cho anh em kịp thời nhảy qua đánh sâu vào căn cứ. Nguyễn Xuân Tình thay thế đồng chí mũi trưởng hy sinh, chỉ huy anh em đánh vào bãi xe cơ giới. Khi đánh vào giữa căn cứ, thấy tổ bạn đánh sở chỉ huy gặp khó khăn, Nguyễn Xuân Tình dùng B.40 trực tiếp diệt hỏa điểm, chi viện đắc lực cho đồng đội diệt sở chỉ huy địch. Trận đánh đã hoàn thành mục đích đề ra, đồng chí cùng một số anh em được phân công ở lại kiểm tra chiến trường và yểm hộ cho các mũi rút ra ngoài. Lúc này, địch tiếp viện 60 xe tăng và xe bọc thép phản kích hòng bao vây bộ phận các đồng chí ở lại sau. Cả tổ chỉ còn 1 khẩu B.40 với 6 quả đạn và một ít đạn tiểu liên. Nguyễn Xuân Tình bình tĩnh tổ chức, động viên anh em chiến đấu rồi dùng B.40 bắn 5 quả, diệt 4 xe, mở đường ra ngoài căn cứ. Nhưng khi ra đến cửa mở, các đồng chí gặp 3 xe địch bắn ác liệt hòng bịt lối ra. Trong tay lúc này chỉ còn 1 quả đạn chống tăng, Nguyễn Xuân Tình sực nhớ lúc vào có một chiến sĩ mang đạn B.40 bị thương ở cửa mở. Đồng chí quay lại và tìm được 2 quả. Phối hợp với tổ giữ cửa mở, Nguyễn Xuân Tình bắn diệt 2 xe (còn 1 xe bỏ chạy), các đồng chí phá vỡ vòng vây của địch, rút ra ngoải. Tháng 12 năm 1967, Nguyễn Xuân Tình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ điều tra căn cứ Lai Khê, rồi căn cứ Dầu Tiếng. Riêng ở căn cứ Dầu Tiếng, đã gần đến ngày nổ súng mà vẫn còn 1 hướng chưa điều tra được. Đơn vị cấp tốc cử Nguyễn Xuân Tình dẫn 2 chiến sĩ nữa đi nghiên cứu hướng này. Dọc đường, cả 2 chiến sĩ kia bị ốm, phải nằm lại. Để đảm bảo triệt để chấp hành mệnh lệnh, Nguyễn Xuân Tỉnh một mình đột nhập qua 5 lớp rào trong 1 đêm, vượt các lô cốt canh phòng, vào tận mục tiêu chính của trận đánh để xác định hướng đánh. Kết quả công tác điều tra của đồng chí phục vụ cho cấp trên tổ chức 2 trận đánh thắng lợi. Tháng 4 năm 1968, tuy vừa đi điều trị ở bệnh viện về, nhưng thấy thời điểm nổ súng đánh trại biệt kích Cà Tum đã gần mà bộ phận điều tra nghiên cứu vẫn chưa vào được vị trí chính, Nguyễn Xuân Tình nhận nhiệm vụ dẫn tổ điều tra luồn qua 16 lớp rào, vào trong nắm tình hình, xác định cách đánh. Đồng chí được phân công chỉ huy mũi chủ yếu của trận đánh. Trong khi các mũi đều phát triển thuận lợi đánh vào căn cứ địch, thì mũi chủ yếu bị hỏa lực địch ngăn chặn ác liệt. Nguyễn Xuân Tình kịp thời cho tổ dự bị đánh vòng vào sở chỉ huy địch làm bọn địch rối loạn từ trong, do đó đơn vị thọc sâu, đánh nhanh diệt gọn sở chỉ huy địch cùng một đại đội biệt kích gồm 185 tên. Nguyễn Xuân Tình chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, luôn luôn đi đầu trong mọi công tác, có tác phong sâu sát, hết lòng thương yêu giúp đỡ anh em lúc thường cũng như lúc chiến đấu, được cấp trên tin tưởng và đồng đội mến phục, giúp đỡ đồng chí hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến cóng giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 16 bằng khen và giấy khen, 19 lần dược tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ diệt xe cơ giới. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Xuân Tình được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2022, 12:58:40 pm » |
|
Anh hùng Trương Văn Thành Trương Văn Thành, sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 7 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thông tin thuộc bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo ở địa phương có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường chống đế quốc và phong kiến, bản thân thấy rõ cảnh đồng bào bị Mỹ - ngụy đàn áp, bóc lột dã man, nên khi mới 14 tuổi, Trương Văn Thành đã tình nguyện xin vào bộ đội với ý nghĩ được góp phần chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng Tổ quốc. Hoạt động trên một chiến trường có nhiều gian khổ, khó khăn, ác liệt, làm nhiệm vụ thông tin, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với nhiệm vụ, kiên trì chịu đựng gian khổ, dũng cảm vượt mọi khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Là một chiến sĩ thông tin vận động, trong 7 năm công tác, Trương Văn Thành hàng trăm lần xuyên rừng vượt suối, có khi đi mấy ngày đêm liền chuyển công văn hỏa tốc đến các đơn vị. Trên đường đi có nhiều lần phải len lỏi sát đồn, bốt địch, qua những nơi địch thường phục kích, dù hoàn cảnh khó khăn thế nào, Trương Văn Thành cũng đảm bảo đưa công văn đúng thời gian quy định, an toàn, phục vụ kịp thời yêu cầu chiến đấu. Đặc biệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, Trương Vãn Thành chỉ huy một tổ chốt trên đường dây ở vùng ven Sài Gòn làm nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc và đưa đón cán bộ, bộ đội, thương binh vào và ra nội thành Sài Gòn. Khu vực tổ đồng chí làm nhiệm vụ là nơi địch cho máy bay, pháo binh đánh phá liên tục ngày, đêm rất ác liệt. Trương Văn Thành cùng đồng đội kiên cường bám trụ gần 100 ngày trên địa bàn được giao, tìm mọi cách khắc phục khó khăn gian khổ, phát huy sáng kiến, hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí nhiều lần ngụy trang bằng rạ, bò trên đồng trống giữa ban ngày trong lúc máy bay địch đang bắn phá để nối dây điện thoại đảm bảo thông tin thông suốt kịp thời. Nhiều đêm chở bộ đội qua sông bị máy bay địch rà thấp lùng sục, đồng chí vẫn bình tĩnh, mưu trí chèo chống đưa thuyền cập bến an toàn. Suốt mùa Xuân 1968, tổ công tác do Trương Văn Thành chỉ huy đã đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, kịp thời, phục vụ đắc lực cho công tác chỉ huy và cho các đơn vị đánh địch ở vùng ven và nội thành Sài Gòn. Ngoài ra, tổ của đồng chí còn làm tốt công tác hiệp đồng chiến đấu với dân quân xã, tích cực giúp đỡ nhân dân, do đó tạo điều kiện bám trụ được dài ngày trên địa bàn vô cùng ác liệt. Trương Văn Thành có tác phong khiêm tốn, giản dị, đoàn kết quý trọng đồng đội, thường xuyên nhận việc khó về mình, gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, được đồng đội hết lòng yêu mến và giúp đỡ, cấp trên tin tưởng. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 7 năm liền được bầu Chiến sĩ thi đua. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Trương Vàn Thành được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt. Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:07:53 pm » |
|
Anh hùng Ngô Văn Nhạc (Liệt sĩ) Ngô Văn Nhạc, sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Lợi, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, tham gia cách mạng tháng 12 năm 1959. Khi hy sinh đồng chí là chính trị viên xã đội xã Mỹ Lợi, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngô Văn Nhạc sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo giàu lòng yêu nước. Ngay trong những năm Mỹ - Diệm điên cuồng tàn sát đồng bào, gia đình đồng chí vẫn một lòng hướng về cách mạng, không sợ hiểm nguy đã bí mật nuôi 6 cán bộ cách mạng. Đồng chí cũng hăng hái tham gia hoạt động từ năm 1959, lúc đầu làm giao thông liên lạc, sau tham gia phong trào đồng khởi ở địa phương. Năm 1960, đồng chí gia nhập lực lượng vũ trang. Đồng chí là một tấm gương tận trung với nước, tận hiếu với dân, chiến đấu anh dũng, kiên cường, quyết tâm tiêu diệt địch đến hơi thở cuối cùng. Năm 1964, trong thời gian làm trung đội trưởng trung đội địa phương của huyện đội Cái Bè, Ngô Văn Nhạc đã 2 lần bị thương trong chiến đấu. Do sức yếu, đồng chí được huyện đội điều về phụ trách tổ trưởng dân quân huyện Cái Bè. Đến năm 1965, trong một lần đi công tác, bị mìn nổ, cụt một chân. Ngô Văn Nhạc được cấp trên điều về công tác ở xã, phụ trách công tác trị an. Năm 1967, đồng chí làm chính trị viên xã đội xã Mỹ Lợi và thường trực ban quân sự xã, trực tiếp phụ trách 3 ấp loại yếu của xã nằm ở ven đường số 4. Lúc mới về xã, phong trào quần chúng còn chưa mạnh do địch khủng bố đàn áp, Ngô Văn Nhạc kiên trì cùng cán bộ cơ sở củng cố dân quân, phát động phong trào tận dụng mọi vũ khí tự tạo, vũ khí thô sơ đánh địch. Đội dân quân từ chỗ diệt ít địch, dần dần có kinh nghiệm diệt được nhiều địch hơn. Phong trào đánh giặc, trừ gian, phát triển ra khắp xã và sang cả xã bạn. Ngô Văn Nhạc đã giúp phần chỉ đạo đội dân quân xã diệt 250 tên địch, làm bị thương 179 tên khác, phối hợp với xã An Thới Đông diệt gọn 1 trung đội lính ngụy, phá hủy 55 xe các loại. Riêng đồng chí dù thương tật nặng nề cũng tham gia đánh địch bằng chông, mìn, lựu đạn, diệt 3 tên, làm bị thương 6 tên. Khi phong trào toàn dân đánh giặc ở 3 ấp yếu nằm ven đường số 4 đã tiến mạnh. Ngô Văn Nhạc được phân công trở về chỉ đạo các ấp trong vùng giải phóng chống địch càn phá. Lúc này địch mở chiến dịch giải tỏa đường số 4. Chúng càn quét liên miên, có đợt càn liền 25 ngày, nhưng do phong trào được kịp thời củng cố, không những xã đánh địch tại chỗ mà còn huy động nhân lực đi phục vụ hộ đội trong đợt tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968. Tháng 5 năm 1968, đồng chí tình nguyện đón một đồng chí thương binh cụt 2 chân về bảo vệ và nuôi dưỡng. Sau khi ban bạc trong cấp ủy Đang, đồng chí thành lập tổ thương binh gồm 3 người: Ngô Văn Nhạc thương binh, con trai anh cũng bị thương được giải ngũ và một thương binh nữa. Tổ đồng chí tận dụng các loại pháo lép, lựu đạn hỏng chế tạo thành các loại cạm bẫy kết hợp với hầm hố chông chiến đấu có hiệu quả, diệt nhiều địch. Những trận đánh thắng lợi của tổ thương binh đã góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân giết giặc bằng các loại vũ khí thô sơ của toàn xã. Riêng tổ thương binh của đồng chí Ngô Văn Nhạc từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 2 năm 1969, đã diệt được 85 tên địch. Trong một trận chống càn quy mô lớn cùa địch, có máy bay, pháo binh yểm hộ, Ngô Văn Nhạc đã anh dũng hy sinh. Ngô Văn Nhạc sống giản dị, hết lòng thương yêu đồng bào, đồng chí, gương mẫu đi đầu trong mọi hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, được bà con và đồng đội rất mến phục, tin yêu. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Ngô Văn Nhạc được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:08:34 pm » |
|
Anh hùng Nguyễn Văn Cho Nguyễn Văn Cho, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ ngày 11 tháng 11 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn đoàn 261 (tiểu đoàn Hi-rôn), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, anh em, họ hàng đều tham gia kháng chiến, ở một địa phương Mỹ - ngụy khủng bố tàn sát dã man đồng bào, Nguyễn Văn Cho sớm có lòng căm thù bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Năm 15 tuổi, đồng chí xin phép gia đình xung phong nhập ngũ giết giặc, cứu nước. Nguyễn Văn Cho đã tham gia 35 trận đánh, diệt 138 tên địch, bắt 5 tù binh (trong đó có 1 trung úy), bắn cháy 3 xe GMC, bắn hỏng 2 xe M.113. Trong chiến đấu, Nguyễn Văn Cho là một tay súng xuất sắc dù gặp địch nhiều cũng kiên quyết tiến công, bị thương, không rời trận địa. Trong trận đánh thị trấn Cai Lậy (năm 1967), đồng chí dùng đại liên chi viện rất đắc lực cho bộ binh tiến công thuận lợi sâu vào trong thị xã. Giữa cuộc chiến đấu thì bị thương vào đùi, nhưng vì nhiệm vụ cấp bách đang chế áp hỏa điểm địch, Nguyễn Văn Cho không kịp băng, mà nén đau không rời tay súng, bắn chính xác đến khi diệt mục tiêu xong mới tự băng bó vết thương. Khi rút ra ngoài thị xã, đồng chí nhường cáng cho đồng đội bị thương, cố sức tự trở về căn cứ. Đặc biệt, trong trận đánh thị xã Mỹ Tho (đầu Xuân 1968), Nguyễn Văn Cho là khẩu đội trưởng chỉ huy đại liên dũng mãnh yểm hộ hộ binh, diệt nhiều địch, phối hợp với súng B.41 bắn cháy 4 xe M.113, rồi phát triển đánh dinh tỉnh trương ngụy. Sang ngày thứ hai, địch phản kích dữ dội, mặc dù bị mất liên lạc với đại đội, theo mệnh lệnh của cấp trên, đồng chí vẫn chỉ huy anh em kiên trì bám trụ, diệt địch, máy bay và pháo binh địch tập trung bắn vào chốt khẩu đội làm cho khẩu đội có 5 người thì 2 hy sinh, 1 bị thương nặng. Sau khi chuyển thương binh, tử sĩ ra vòng ngoài cho dân công, Nguyễn Văn Cho cùng một chiến sĩ kiên quyết quay lại giữ vị trí. Vừa lúc địch cho 2 xe GMC chờ đầy lính đến phản công. Đồng chí lập tức nổ súng, khoảng 30 phút diệt một số lớn địch, 10 tên còn lại vội giơ tay xin hàng. Nhưng khi bọn địch thấy ta chỉ có 2 người xông lên, chúng bẳn lại. Nguyễn Văn Cho hạ nòng súng đại liên quét, một loạt, diệt tại chỗ 6 tên và làm 2 xe GMC bốc cháy, chỉ có 4 tên chạy thoát. Lúc này đạn chỉ còn 50 viên, 2 anh em nhảy lên xe kiếm đạn. Vừa lắp đạn vào súng thì 1 xe GMC chở lính chạy đến. Bình tĩnh để địch đến gần, Nguyễn Văn Cho bất ngờ nổ súng mãnh liệt diệt gọn trung đội trên xe. Hai anh em lại thu nhặt đạn của địch và khi bắt liên lạc được với đại đội, Nguyền Văn Cho tiếp tục dùng đại liên, chỉ viện cho đơn vị tiến công. Thấy hỏa điểm đại liên của ta rất nguy hiểm cho chúng, địch cho 1 đại đội đánh thẳng vào vị trí của khẩu đại liên Nguyễn Văn Cho. Lúc này tuy vẫn chỉ còn 2 người, các đồng chí dũng cảm chiến đấu, cơ động vị trí, đánh bật nhiều đợt xung phong của địch khiến chúng cuối cùng phải bỏ chạy. Đến trưa ngày hôm sau, địch huy động một lực lượng lớn đánh vào trận địa ta, có 1 đại đội đánh vào khẩu đại liên của đồng chí. Dũng cảm chiến đấu trước số quân rất đông của giặc, Nguyễn Văn Cho bị thương thêm 2 vết ở đầu và khóe mắt làm cho mắt phải không nhìn được. Đồng chí dùng mắt trái ngắm bắn địch, diệt tại chỗ gần 20 tên, làm chúng phải bỏ chạy, bảo vệ được sở chỉ huy tiểu đoàn. Tuy trên người đã có 5 vết thương, Nguyễn Văn Cho còn tiếp tục tham gia nhiều trận đánh trong thị xã, diệt nhiều địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nguyễn Văn Cho luôn luôn nêu cao tinh thần triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên đoàn kết tốt, khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu, cấp trên tin tưởng. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, được bầu là Chiến sĩ thi đua quân khu, nhiều lần được cấp giấy khen, bằng khen. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyền Văn Cho được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:09:45 pm » |
|
Anh hùng Nguyễn Thế Đoàn Nguyễn Thế Đoàn (tức Hai Thủy), sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Phú A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nhập ngũ năm 1953. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y sĩ, đội phó đội phẫu thuật tiền phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sinh trường trong một gia đình có cha và em tham gia kháng chiến, năm 14 tuổi Nguyễn Thế Đoàn đã tham gia dân quân ở địa phương, năm 15 tuôi vào quân đội. Thời gian đầu, đồng chí được phân công làm các nhiệm vụ liên lạc, trinh sát ở Đồng Tháp Mười, sau được cấp trên cho đi học cứu thương. Năm 1954, đồng chí tập kết ra miền Bắc, được đào tạo trở thành quân y sĩ. Năm 1962, Nguyễn Thế Đoàn trở về Bến Tre, làm đội trưởng đội phẫu thuật tiền phương của tỉnh. Đồng chí đã cùng anh em trong đội cứu chữa hơn 1.000 thương binh trong đó có trên 400 trường hợp bị thương vừa và nặng, tiến hành 55 ca giải phẫu; góp sức xây dựng tổ phẫu thuật cấp cứu và đào tạo được 17 người có trình độ chuyên môn tốt. Nguyễn Thế Đoàn đã cùng đội phẫu thuật nhiều lần dũng cảm chiến đấu, bảo vệ thương binh, toàn dội diệt 45 tên địch (có 22 tên Mỹ), làm bị thương 30 tên khác, bắn rơi 6 máy bay lên thẳng, bắn bị thương 6 chiếc khác. Riêng Nguyễn Thế Đoàn, với sự phối hợp chiến đấu của đồng đội, đã diệt được 6 tên Mỹ, 4 tên ngụy, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng và bắn bị thương 4 chiếc khác. Do trình độ chuyên môn có hạn, dụng cụ thiếu thốn, trong mấy năm đầu Nguyễn Thế Đoàn phải ra sức vượt qua biết bao khó khăn về dụng cụ và trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Năng lực chuyên môn nhanh chóng tiến bộ, đồng chí đã thành công trong các ca mổ khó khăn như thủng ruột, vỡ thận và đưa tỷ lệ tử vong giảm hẳn xuống. Trong trận tiến công thị xã Bến Tre đầu mùa Xuân năm 1968, khi được tin có thương binh bị kẹt trong thị xã, đồng chí đã xin cấp trên cho đưa một tốp mổ vào phục vụ. Trên đường vào thị xã, địch phản kích chặn đường rất gắt gao, nhưng đồng chí vẫn cùng một số anh em len lỏi vào được vị trí quy định. Mặc dù thiếu hẳn một nửa tốp mổ không vào được Nguyễn Thế Đoàn vẫn kiên quyết tổ chức, động viên anh em làm việc và vận động bà con trong thị xã giúp đỡ, lo liệu chỗ nghỉ cho anh em thương binh. Đồng chí khóng quan khó khăn nguy hiểm xông pha dưới bom đạn địch, cùng với anh em trong tổ băng bó cho 82 thương binh và tổ chức đưa anh em ra vùng giải phóng an toàn. Trong đợt tiến công vào thị xã Bên Tre lần thứ 2, lúc Nguyễn Thế Đoàn đang mổ một ca vỡ lá lách thì bom nổ rất gần, hất anh ngã xuống đất. Khi vùng dậy được, Nguyễn Thế Đoàn tiếp tục mổ. Ngay sau đó, trong một ca mổ vết thương ở bụng, công việc đang tiến hành thì một quả bom na-pan nổ, nhà bị cháy. Nguyễn Thế Đoàn buộc phải cùng kíp mổ tạm khép vết mổ lại rồi làm những động tác kỹ thuật cần thiết, sau đó di chuyển sang hầm khác tiếp tục mổ. Hành động mau lẹ, bình tĩnh của anh đã cứu sống được đồng đội trong hoàn cánh cực kỳ ác liệt. Suốt 5 ngày đêm liền, thiếu ăn, thiếu ngủ, Nguyễn Thế Đoàn vẫn không ngừng làm việc. Có lúc cần phải cấp tốc tiếp máu cho thương binh, đồng chí không ngần ngại đã tự trích máu mình tiếp cho đồng đội. Không những làm công tác chuyên môn giỏi, Nguyễn Thế Đoàn còn là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, tích cực diệt địch, bảo vệ thương binh. Trong trận Mỹ Lồng (tháng 10 năm 1967), đang giải phẫu thì 1 tiểu đoàn địch đổ xuống gần trạm. Tình thế hết sức khẩn trương Nguyễn Thế Đoàn xử trí mau lẹ và dũng cảm: tạm khâu vết mổ, tổ chức chiến đấu và chuyển thương binh về địa điểm phía sau, đến vị trí mới cuộc giải phẫu sẽ tiếp tục. Trong cuộc di chuyển thắng lợi đó, đồng chí luôn luôn có mặt ở chỗ khó khăn nhất. Hôm sau, địch lại sục sạo đến gần khu rừng đội trú quân. Đồng chí tổ chức và động viên mọi người sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thương binh. Không chịu bị động ngồi chờ địch đến gần, Nguyễn Thế Đoàn phân công người ở nhà chỉ huy đơn vị, rồi tự mình xách tiểu liên đi bám sát địch. Đến gần bãi thu quân của địch ở bìa rừng, lợi dụng chúng sơ hở, Nguyễn Thế Đoàn bất ngờ nổ súng vào máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 chiếc, diệt 2 tên ngụy, làm 3 tên khác bị thương. Số máy bay còn lại phải bay vọt lên, chuyển sang thu quân ở một bãi khác xa hơn. Do đó địa điểm trú quân giữ được bí mật, thương binh an toàn. Trong quá trình làm công tác chuyên môn gần mặt trận, thường gặp quân địch, Nguyễn Thế Đoàn đã nhiều lần dẫn đầu tổ xung kích của đội phẫu thuật đánh địch, chặn đứng cả đại đội địch để bảo vệ thương binh. Nguyễn Thế Đoàn luôn luôn gương mẫu trong mọi công tác và sinh hoạt, nghiêm chỉnh chấp hành mọi mệnh lệnh cùa trên, hết lòng thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được anh em tin yêu, đồng bào mến phục. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 3 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thế Đoàn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:10:43 pm » |
|
Anh hùng Nguyễn Văn Tòng Nguyễn Văn Tòng (tức Nguyễn Công Sanh), sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Quý, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thôn đội trưởng dân quân xã Phú Quý, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuất thân trong một gia đình tích cực tham gia kháng chiến, cha bị giặc Pháp giết năm 1948, anh là dân quân hy sinh trong kháng chiến, Nguyễn Văn Tòng còn có lòng căm thù sâu sắc bọn đế quốc và phong kiến. Tháng 7 năm 1963, đồng chí nhập ngũ với quyết tâm chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà. Nhưng vì bị thương trong khi hành quân, tháng 12 năm 1963, Nguyễn Văn Tòng được giải ngũ về tham gia phong trào dân quân xã. Nguyễn Văn Tòng đã tham gia 69 trận, diệt và làm bị thương 92 tên Mỹ, ngụy, bắt 1 tên, thu 1 súng. Trong chiến đấu, đồng chí dũng cảm, luôn luôn xung phong đi đầu trong mọi khó khăn gian khổ, động viên anh em nêu cao tinh thần tích cực, chủ động tiến công địch. Tháng 6 năm 1968, giặc từ lộ 4 càn quét lớn vào xã. Đi đến đâu chúng tàn sát, phá phách rất dã man đến đó. Lúc này, trong tay chỉ có 2 trái lựu đạn, Nguyễn Văn Tòng bí mật bò theo kênh, ra đón đầu đoàn xe chở bộ binh địch và gài lựu đạn. Bọn địch từ trén xe nhảy xuống, bị lựu đạn nổ làm cho 2 tên bỏ mạng và 1 tên khác bị thương. Đoàn xe của chúng phải dừng lại. Quan sát hành động của địch, phát hiện một cánh quân từ xã Long Điền đang kéo vào ấp, Nguyễn Văn Tòng nhanh chóng về nhà lấy thêm lựu đạn gài đón đầu. Sau đó, đồng chí mưu trí làm động tác nghi binh giả chạy để cho chúng đuổi theo. Bọn địch mắc mưu, ùa theo đuổi bắt. Chúng vấp phải bẫy lựu đạn, 2 tên chết và 4 tên khác bị thương. Nhiều lần bị dân quân đánh đau, địch rất hoảng sợ, co lại trong đồn bốt. Một lần, tên đồn trương ác ôn đứng trên nóc lô cốt, dùng loa kêu gọi dân quân chiêu hồi. Nguyễn Văn Tòng trèo lên cây me đầu ấp, giương súng bắn vỡ đầu tên ác ôn này. Ngay ngày hôm sau, bọn địch cử một tên ác ôn có rất nhiều nợ máu với đồng bào ta ở Ba Dừa về thay để chống phá phong trào đấu tranh của nhân dân. Nghe tin này Nguyễn Văn Tòng hạ quyết tâm diệt nó để cảnh cáo bọn chúng và để gây lòng tin cho nhân dân. Nguyễn Văn Tòng cùng một tổ dân quân nằm phục sẵn trước bốt. Đợi đến 5 giờ sáng, khi tên này vừa ra khỏi bốt, Nguyễn Văn Tòng nổ súng bắn xuyên ngực, diệt tên này, làm cho đồng bào hết sức phấn khởi và tin tưởng, còn kẻ địch thì hoang mang khiếp sợ. Nguyền Văn Tòng cùng đơn vị dân quân trong thôn tích cực tuyên truyền vận động nhân dân rảo làng, đào hầm chông, dùng vũ khí thô sơ đánh địch, do đó đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị và binh vận phá tan nhiều âm mưu thâm độc của Mỹ, ngụy “bình định”, càn quét trong thôn. Tháng 12 năm 1969, Nguyễn Văn Tòng cùng 3 dân quân chiến đấu chống gần 2 trung đội địch có hỏa lực mạnh yểm trợ. Trong tổ đã có 1 đồng chí hy sinh và 2 bị thương. Nguyễn Văn Tòng bình tĩnh cơ động, thu hút hỏa lực địch, yểm hộ cho các đồng chí bị thương mang tử sĩ ra trước. Quân địch bao vây và tập trung bắn vào ngôi nhà trong đó đồng chí đang chiến đấu. Đồng chí mưu trí đánh lạc hướng địch, trèo lên mái nhà thoát ra ngoài, mang theo cả 4 khẩu súng. Nguyễn Văn Tòng gắn bó mật thiết với phong trào đấu tranh của quần chúng, chăm lo xây dựng và bồi dưỡng cho lực lượng dân quân trong thôn lớn mạnh, được nhân dân tin cậy, anh em mến phục. Đồng chí đã được tặng 3 bằng khen, 2 giấy khen, 1 Huy hiệu của Bác Hồ. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Tòng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:26:39 pm » |
|
Anh hùng Nguyễn Thị Việt Hồng (Liệt sĩ) Nguyễn Thị Việt Hồng, sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Tri, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ năm 1968. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thành đội Cần Thơ, Quân khu 9, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, có cha bị Mỹ - ngụy giết hại, hàng ngày lại thấy rõ quân địch khủng bố tàn sát dã man nhân dân, Việt Hồng sớm có lòng căm thủ địch sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà. Đồng chí xin phép mẹ rời ghế nhà trường giữa năm 17 tuổi để đi tìm cách mạng. Được cách mạng đón nhận, Việt Hồng vô cùng sung sướng và thiết tha xin được gia nhập quân đội, trực tiếp cầm súng giết giặc. Năm 1968, được nhận vào đơn vị biệt động hoạt động bí mật ở nội thành Cần Thơ, nơi địch phòng thủ rất nghiêm ngặt, đồng chí đã luôn luôn nêu cao ý chí kiên cường, dũng cảm, mưu trí, bình tính vượt qua mọi khó khăn thứ thách, làm tròn những công tác được cấp trên giao. Hoạt động giữa sào huyệt địch, đầy hiểm nguy, Việt Hồng vẫn lạc quan, tin tưởng, giữ vững phẩm chất trong sáng của người đoàn viên thanh niên Cộng sản, không sợ gian khổ, hy sinh, luôn luôn hoán thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt đầu năm 1969, phối hợp với kế hoạch chiến đấu của mặt trận, Việt Hồng nhận nhiệm vụ đánh vào ty cảnh sát ngụv trong thành phố Cần Thơ, nơi tập trung bọn đầu sỏ ác ôn có rất nhiều nợ máu với nhân dân. Mặc dù địch bố phòng cẩn mật, Việt Hồng mưu trí vượt qua nhiều trạm kiểm soát của địch, đặt mìn vào nơi đã nghiên cứu kỹ và rút ra ngoài an toàn. Nhưng không may, mìn không nổ. Mặc dù lọt vào hang ổ địch lần thứ hai là rất nguy hiểm, nhưng quyết tâm giữ bí mật cho trận đánh, Việt Hồng tìm cách vào ty cảnh sát ngụy, lấy quả mìn ra với ý định để sửa chữa rồi sẽ đánh lại một lần nứa. Rất mưu trí và bình tĩnh vượt bao khó khăn, đồng chí lấy được quả mìn đem ra một phố bên cạnh. Nhưng bất ngờ mìn nổ làm Việt Hổng bị thương nặng ở hai chân. Bà con trong phố chạy ra vực đồng chí dậy, nhưng bọn cảnh sát ngụy cũng lao tới cướp Việt Hồng mang đi. Dù bị kẻ thù dùng cực hình tra tấn rất dã man, đồng chí vẫn kiên cường giữ vững khi tiết cách mạng, không khai một lời. Bọn chúng đưa Việt Hồng vào bệnh viện để điều trị, hòng dụ dỗ, mua chuộc, nhưng đồng chí giữ vững lòng trung kiên, bất khuất, tiếp tục vạch trần tội ác của lũ bán nước và quân cướp nước, hiên ngang tiến công địch đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn Thị Việt Hồng đã anh dũng hy sinh ngày 17 tháng 3 năm 1969. Nguyễn Thị Việt Hồng nêu tấm gương sáng về lòng trung thành vô hạn với dân, với nước và tinh thần chiến đấu anh dũng tuyệt vời, được nhân dân cảm phục, khiến kè thủ phải khiếp sợ. Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thị Việt Hồng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
|