Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:04:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2  (Đọc 31178 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #110 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:27:24 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Trường


Nguyễn Văn Trường, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã An Bình, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ nhập ngũ năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó đặc công thuộc mặt trận miền Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Căm thù bè lũ Mỹ, ngụy tàn sát dã man đồng bào, Nguyễn Văn Trường có quyết tâm chiến đấu cao để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đồng chí đã trực tiếp tham gia 15 trận đánh, cùng đơn vị tiêu diệt 936 tên địch, chủ yếu là sĩ quan, nhân viên kỹ thuật và giặc lái máy bay, thu 70 súng, phá hủv 85 máy bay và nhiều xe quân sự.


Nguyễn Văn Trường là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, tiến công địch quyết liệt, là một cán bộ chỉ huy có tác phong sâu sát, tỉ mỉ, linh hoạt, chủ động trong mọi tình huống. Đi nghiên cứu các mục tiêu được phân công để chuẩn bị cho các trận đánh, Nguyễn Văn Trường đã vượt mọi khó khăn nguy hiểm, lọt qua hệ thống phòng thủ bảo vệ của địch, vào tận các căn cứ quân sự, sân bay của địch điều tra nắm chắc tình hình mọi mặt, có kết luận chính xác, xây dựng phương án tác chiến tỉ mỉ, cụ thể, đảm bao đã đánh là nắm chắc thắng lợi.


Tháng 2 năm 1968, trong trận đánh sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), sau khi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt nhiều mục tiêu trong sân bay, địch phản kích rất ác liệt. Nguyễn Văn Trường cùng một đồng chí khác dũng cảm trụ lại chiến đấu chặn địch để cho đơn vị rút ra ngoài trận địa an toàn. Bị kẹt lại trong sân bay, suốt ngày 2 người mưu trí, linh hoạt, cơ động rất khôn khéo làm cho quân địch dùng 1 đại đội và 14 xe M.113 càn đi quét lại nhiều lần mà không phát hiện được.


Tháng 1 năm 1969, trong trận đánh sân bay Lộ Tẻ (Cần Thơ), do điều tra nắm chắc đặc điểm địa hình, cách bố phòng của địch, Nguyễn Văn Trường táo bạo đưa cả đội hình lọt vào tận bãi để máy bay mới nổ súng. Trong chiến đấu gặp lúc có tình huống phức tạp, đồng chí vẫn bình tĩnh xử trí, điều động lực lượng, động viên đơn vị quyết tâm tiêu diệt địch. Trong trận này, Nguyễn Văn Trường chỉ huy 24 đồng chí phá hủy 75 máy bay, 8 lô cốt, diệt 200 tên địch, chủ yếu là giặc lái và nhân viên kỹ thuật không quân.


Nguyễn Văn Trường luôn luôn xung phong đi đầu trong những lúc khó khăn, gian khổ, ác liệt, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần khắc phục khó khăn, tìm ra cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ, có tác phong sâu sát, hết lòng bồi dưỡng chiến sĩ, nhất là các đồng chí mới, được tập thể mến yêu và ủng hộ.


Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và được đi dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2.


Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Trường được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tậng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #111 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:28:26 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Hùng
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Hùng (tức Nguyễn Văn Hộ) sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã An Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ năm 1964. Khi hy sinh là trung đội phó công binh, bộ đội địa phương Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lớn lên trong lúc nhân dân ta kháng chiến chống thực, dân xâm lược Pháp, Nguyễn Văn Hùng sớm được bồi dưỡng lòng yêu nước và chí căm thù giặc. Sau ngày hòa bình lập lại, 1954 đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào xâm lược đất nước ta. Chúng tàn phá quê hương, giết hại đồng bào ta, đồng chí càng nung nấu ý chí căm thù quân xâm lược, quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nguyễn Văn Hùng đã đánh 9 trận lớn nhỏ, phá sập 6 cầu, trong đó có cầu Bến Lức, đánh chìm 3 tàu, diệt nhiều tên địch.


Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn xung phong nhận bất cứ nhiệm vụ gì, dù khó khăn, nguy hiểm cũng tận tâm, tận lực hoàn thành một cách xuất sắc.


Lần đầu tiên đánh địch trên sông Sài Gòn, Nguyễn Văn Hùng ngày đêm miệt mài nghiên cứu tình hình, tìm ra cách đánh tốt nhất, luyện tập rất công phu từ cách bơi lặn, đến cách thả thuốc nổ, khi vào trận thì dũng cảm, mưu trí, lọt qua các vọng gác của địch, đánh trúng mục tiêu. Do đó, trong 3 trận đầu, đồng chí đánh chìm 3 tàu địch.


Đầu năm 1967, Nguyễn Văn Hùng làm tổ trưởng chịu trách nhiệm đánh cầu Ông Nhiên ở Thủ Đức. Cầu sắt này dài 80 mét, nằm giữa ấp chiến lược, lúc nào địch cũng có 1 đại đội canh gác. Địch chặt hết cây cối quanh cầu nên việc điều tra, nghiên cứu rất dễ bị lộ. Sau một tuần lặn lội, kiên trì điều tra tỉ mỉ tình hình, Nguyễn Văn Hùng xác định được phương án tác chiến, vì thiếu mìn, đồng chí cùng 2 tổ viên đi thu nhặt bom bi của địch, gom góp được hơn 100 ki-lô-gam thuốc nổ đem về tự chế tạo mìn đề đánh cầu. Kết quả cầu bị đánh sập, giao thông bị cắt đứt, địch gặp rất nhiều khó khăn trở ngại giữa lúc chúng chuẩn bị những cuộc càn quét lớn.


Cách 1 tháng sau, chữa xong cầu, địch bố trí canh gác tuần tra nghiêm ngặt hơn ở hai đầu cầu và dọc hai bờ sông. Chúng cho đèn pha quét mặt sông suốt đêm và bắn súng bừa bãi xuống nước bất kể lúc nào. Lại nhận nhiệm vụ phá cầu, Nguyễn Văn Hùng cùng 2 tổ viên chỉ trong vòng 3 đêm điều tra, nghiên cứu đã lập xong phương án tác chiến. Đúng 7 giờ sáng ngày thứ tư, khi tên quận trưởng bắt đầu tuyên bố lễ khánh thành, cắt băng cho xe chạy qua thì một tiếng nổ long trời phá hủy hoàn toàn chiếc cầu này.


Tháng 10 năm 1968 Nguyễn Văn Hùng nhận nhiệm vụ phá cầu Bến Lức. Chiếc cầu này nối Sài Gòn với miền Tây Nam Bộ cầu dài 530 mét, có 8 trụ, đã 2 lần bị quân ta đánh sập, được xây lại. Ngoài một lực lượng lớn canh gác và một hệ thống đèn điện bảo vệ, địch còn rào trên và dưới mặt  nước một hệ thống dây dẫn điện cao thế mà sức mạnh của dòng điện có thể giật chết người. Trên sông thường xuyên co 1 tàu lớn và 3 tàu nhỏ túc trực bảo vệ, tuần tra. Vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, Nguyễn Văn Hùng cùng tổ vào điều tra, nghiên cứu tình hình và chuẩn bị cách đánh cầu. Công việc khó khăn nhất là phải chuyển ngược dòng nước khối thuốc nổ nặng 500 ki-lô-gam cách xa mục tiêu 2 ki-lô-mét. Vì vậy khi đến cách mục tiêu 700 mét, trời đã gần sáng, anh em phải kéo khối thuốc nổ lên bờ chôn giấu và chờ hôm sau mới tiếp tục nhiệm vụ được. Sau khi đặt khối thuốc nổ vào đúng vị trí Nguyễn Văn Hùng không kể nguy hiểm, ở lại sau cùng kiểm tra thật tỉ mỉ. Do đó khi rút ra khoảng 300 mét thì mìn nổ, đồng chí bị hất văng lên bờ và ngất đi. Chiếc cầu kiên cố vững chắc nhất trên lộ 4 bị phá hủy hoàn toàn.

Trong một trận chiến đấu cuối tháng 5 năm 1969, Nguyễn Văn Hùng đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.


Nguyễn Văn Hùng là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí, đánh cầu rất tài giỏi. Đồng chí chịu khó học tập, nghiên cứu tìm ra cách đánh tốt nhất, trong công tác luôn luôn vui vẻ nhận phần khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, đoàn kết chân thành, được anh em yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 2 bằng khen, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.


Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Hùng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #112 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:29:14 pm »

Anh hùng Vũ Tiến Trung
(Liệt sĩ)


Vũ Tiến Trung (tức Vũ Hữu Bay) sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là trung đội trưởng bộ binh, bộ đội địa phương Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lớn lên trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, được giác ngộ về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, năm 18 tuổi Vũ Tiến Trung vào bộ đội hải quân. Năm 1965, đồng chí được vào chiến trường miền Nam và chiến đấu trên địa bàn Sài Gòn - Gia Định.


Vũ Tiến Trung đã tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, đánh sập 2 cầu (trong đó có cầu Bến Lức), đánh chìm 1 tàu, diệt 17 tên địch.


Trong chiến đấu, Vũ Tiến Trung rất dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, kiên quyết khắc phục mọi khó khăn gian khổ, linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ được giao.


Năm 1966, trận đầu tiên nhận nhiệm vụ đánh một đoàn tàu 7 chiếc trên sông Nhà Bè, Vũ Tiến Trung cũng tổ hành quân từ địa điểm cách địch 6 ki-lô-mét, mỗi người mang ngầm dưới nước một trái mìn nặng 100 ki-lô-gam. Tuy thời gian nghiên cứu chỉ một đêm, nhưng với quyết tâm tiêu diệt địch cao, đánh bí mật bất ngờ, các đồng chí đã đánh chìm 5 chiếc, làm bị thương 2 chiếc khác, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng.


Trong trận địch càn vào xã Long Đức, huyện Nhà Bè, chúng đổ bộ 1.000 quân có máy bay, pháo binh yểm hộ khá mạnh. Đơn vị Vũ Tiến Trung đã hiệp đồng với đơn vị bạn chống càn suốt một ngày, diệt 500 tên. Đồng chí bám trận địa, cơ động, linh hoạt đánh địch suốt ngày, tiết kiệm từng viên đạn, bắn chính xác diệt 17 tên địch. Khi có lệnh rút quân, phát hiện địch có sơ hở, Vũ Tiến Trung dũng cảm, bí mật một mình lọt sâu vào nơi địch đóng quân lấy về 2 súng máy và 1 máy thông tin.


Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy lần thứ 2 của quân và dân ta tháng 6 năm 1968, Vũ Tiến Trung nhận nhiệm vụ đánh cầu Bến Lức (cầu này quân ta đã có một lần đánh sập). Chiếc cầu quan trọng nhất trên lộ 4, từ Sài Gòn đi miền Tây Nam Bộ, được địch phòng thủ rất chu đáo. Các trụ cầu rất lớn, muốn đánh sập phải dùng lượng thuốc nổ đến hàng tạ, đưa ngầm dưới nước từ xa vào. Lần đầu khi đến cách mục tiêu 200 mét, nước xoáy mạnh làm dây tời bị đứt. Lúc này khối thuốc nổ đã gắn kíp, chỉ còn 45 phút nữa thì nổ, chìm xuống đáy sông. Quyết không để lộ nhiệm vụ, Vũ Tiến Trung bình tĩnh, lặn xuống 3 lần tháo 3 kíp nổ ở độ sâu hơn 7 mét. Khi tháo xong kíp trời đã gần sáng, đồng chí nhanh chóng buộc khối thuốc nổ vào chân cầu để giữ khỏi trôi và chờ đến đêm hôm sau, một mình đồng chí lặn lội vượt mọi nguy hiểm đưa khối thuốc về căn cứ an toàn. Ba ngày sau, nhận nhiệm vụ tiếp tục đánh cầu Vũ Tiến Trung lại cùng tổ bơi lặn đưa thuốc nổ buộc vào trụ cầu. Không quản nguy hiểm vì địch đang đi tuần tra trên cầu và kíp đang chờ nổ, đồng chí bình tĩnh kiểm tra tỉ mỉ, áp thật sát khối thuốc nổ vào trụ cầu được chắc chắn rồi mới thoát ra. Khi ra cách mục tiêu khoảng 300 mét thì mìn nổ, anh bị ngất đi cạnh bờ sông, nhưng chiếc cầu bị phá hủy hoàn toàn.

Ngày 28 tháng 8 năm 1968, trong một trận chiến đấu với lực lượng địch đông gấp bội Vũ Tiến Trung đã anh dũng hy sinh bảo vệ an toàn cho đồng đội.


Vũ Tiến Trung rất giản dị, khiêm tốn trong công tác, luôn luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết lòng đoàn kết, thương yêu đồng đội, được anh em mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 bằng khen, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Vũ Tiến Trung được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #113 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:29:51 pm »

Anh hùng Nguyễn Thanh Phủ


Nguyễn Thanh Phủ sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 4 năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 bộ binh, bộ đội địa phương Sài Gòn - Gia Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cha Nguyễn Thanh Phú bị giặc bắn chết. Được cách mạng giáo dục, đồng chí có lòng căm thủ sâu sắc bọn đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai, nên đã hăng hái hoạt động dân quân trước khi vào bộ đội.


Từ khi nhập ngũ cho đến cuối năm 1969, đồng chí đã tham gia chiến đấu 65 trận, diệt nhiều địch, thu 18 súng, 1 máy thông tin.


Nguyễn Thanh Phú có quyết tâm chiến đấu cao, chỉ huy bình tĩnh, gan dạ, xử trí các tình huống linh hoạt, kiên quyết, đánh nhanh, đánh mạnh, chủ động hiệp đồng tiêu diệt địch.


Trận đánh Đức Lập đêm 27 tháng 5 năm 1965, phối hợp với đơn vị bạn chiến đấu, giữa lúc tình huống diễn biến gay go ác liệt, đồng chí mưu trí tập trung lựu đạn, trực tiếp dẫn 1 tổ bí mật đánh vào sau lưng địch, diệt một ổ đề kháng, thu 1 súng và 1 máy thông tin, chuyển thành thế có lợi cho quân ta phát triển.


Tháng 11 năm 1966, trong trận đánh một đồn cảnh sát ở quận 6 Sài Gòn, Nguyễn Thanh Phú được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đi trên đường phố. Khi cách đồn địch 50 mét thì một mũi bị lộ, đồng chí lập tức ra lệnh cho đơn vị xung phong vượt qua hàng rào vật cản, đánh bọc sườn. Riêng Nguyễn Thanh Phú trực tiếp chỉ huy một mũi đánh qua cửa lớn của đồn, phát triển vào trong. Sau 10 phút chiến đấu, đơn vị làm chủ trận địa, diệt 20 tên, thu 38 súng các loại, riêng Phú thu 9 súng.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào Sài Gòn đợt 2, Nguyễn Thanh Phú chỉ huy 1 đại đội chọc thủng hệ thống phòng thù bên ngoài, sau đó nhanh chóng đánh chiếm toàn bộ khu vực Nhị Tỳ. Mặc dù địch nhiều lần phản kích bằng cơ giới và bộ binh hòng đánh bật ta ra, nhưng đại đội vẫn kiên cường bám trụ trong 2 ngày, đầy lùi nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 145 tên.


Đêm 24 tháng 5 năm 1969, trong đội hình của tiểu đoàn đánh địch tại Phú Định, Nguyễn Thanh Phú được giao trách nhiệm chỉ huy đại đội 1, đánh bọn địch ở hướng trọng yếu. Địch chiếm 5 nhà lầu, bố trí hỏa lực nhiều tầng chống cự ác liệt. Đồng chí cho B.40 và B.41 đánh bọc phía sau, đồng thời cho các mũi xung kích tiếp cận sát lầu đánh thốc từ dưới lên. Kết quả ta tiêu diệt hoàn toàn 1 đại đội lính thủy đánh bộ ngụy. Trong trận này, Nguyễn Thanh Phú bị thương ở chân nhưng vẫn không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu và chủ động hỗ trợ cho đơn vị bạn đang gặp khó khăn.


Nguyễn Thanh Phú là một cán bộ chỉ huy gương mẫu về mọi mặt, chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh của cấp trên, có tác phong sâu sát, tỉ mỉ, cùng tập thể xây dựng đơn vị vững mạnh mọi mặt. Đồng chí đoàn kết săn sóc anh em, làm tốt công tác thương binh, tử sĩ, được cấp dưới yêu mến, cấp trên tin tưởng.


Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, được bầu là Chiến sĩ thi đua số 1 của phân khu, được tặng 5 bằng khen.


Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Thanh Phú được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #114 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:30:30 pm »

Anh hùng Phạm Ngọc Khánh
(Liệt sĩ)


Phạm Ngọc Khánh, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Nam Nhuế, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi hy sinh đồng chí là thiếu úy, trung đội trưởng bộ binh đại đội 10, tiểu đoàn 3, trung đoàn 246, Mặt trận Đường số 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, lại được rèn luyện dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, Phạm Ngọc Khánh được bồi dưỡng lý tưởng chiến đấu cao đẹp của người thanh niên, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghia xã hội. Khi vào bộ đội anh luôn luôn thể hiện nhiệt tình cao, hăng hái học tập, công tác, tha thiết được vào chiến trường miền Nam, giết giặc Mỹ, góp phần vảo sự nghiệp thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước. Trong chiến đấu, Phạm Ngọc Khánh nêu cao tinh thần tích cực tiến công, dũng cảm, kiên quyết, bị thương không rời vị trí chiến đấu, trận đánh nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Đặc biệt, trong trận đánh chiếm điểm cao 689, ngày 28 tháng 6 năm 1968 trong chiến dịch Khe Sanh, hỏa lực địch từ trong căn cứ, từ trên máy bay bắn rất ác liệt hòng ngăn chặn đường tiến của đơn vị. Vượt qua bom đạn, bãi mìn Phạm Ngọc Khánh nhanh chóng dẫn đầu một tổ xông lên phá 2 lớp rào dây thép gai, rồi chỉ huy trung đội liên tục phát triển sâu vào trong căn cứ địch. Mặc dù địch đối phó quyết liệt bắn chặn từ nhiều hướng, đồng chí vẫn bình tĩnh quan sát phán đoán tình huống, chỉ từng hỏa điểm địch cho các tiểu đội tiêu diệt. Bị thương vào đầu, Phạm Ngọc Khánh vẫn xông xáo chỉ huy đơn vị chiến đấu thọc sâu chia cắt địch, bản thân dùng lựu đạn, tiểu liên đánh vào hầm ngầm diệt địch. Bị thương lần thứ hai, Khánh ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, anh tiếp tục chỉ huy đơn vị phát triển. Từ trong hầm ngầm, 1 đại liên địch bắn ra chặn đường tiến của quân ta. Phạm Ngọc Khánh cố trườn đến gần ổ đại liên địch, ném lựu đạn dập tắt hỏa điểm này, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển chiến đấu. Phạm Ngọc Khánh bị thương lần thứ ba vào lúc quân ta đánh chiếm hoàn toàn điểm cao 689 và anh đã anh dũng hy sinh. Kết quá trận đánh, trung đội do đồng chí chỉ huy đã diệt 60 tên Mỹ, phá hủy 5 lô cốt, 13 hầm, góp phần tích cực vào thắng lợi chung. Riêng Phạm Ngọc Khánh diệt 26 tên Mỹ, phá hủy 4 hầm, nêu gương sáng cho đơn vị học tập về tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiến công địch, vượt mọi hy sinh, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ.


Phạm Ngọc Khánh đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Phạm Ngọc Khánh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #115 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:31:20 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Nuôi


Nguyễn Văn Nuôi, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Vân Trường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ ngày 30 tháng 4 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chuẩn úy đại đội phó vận tải, Mặt trận B5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước cách mạng, gia đình Nguyễn Văn Nuôi nghèo đói, chuyên đi làm ruộng thuê, ông, bà đều chết trong nạn đói năm 1945. Sau cách mạng, gia đình được chia ruộng, vào hợp tác xã, cuộc đời được thay đổi. Nguyễn Văn Nuôi lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa và được giáo dục trong các tập thể nên anh sớm nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của người thanh niên trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Khi vừa tròn 17 tuổi, Nguyễn Văn Nuôi tình nguyện nhập ngũ sẵn sàng làm tròn bất cứ nhiệm vụ gi của quân đội giao cho.


Tháng 11 năm 1966, đơn vị Nguyễn Văn Nuôi nhận lệnh lên đường chiến đấu, anh được phân công về đơn vị vận chuyển hậu cần. Đồng chí vừa nêu gương sáng về sự nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, vừa tổ chức, động viên đơn vị làm tròn mọi đợt vận chuyền trong các chiến dịch.


Hơn 2 năm phục vụ chiến trường, Nguyễn Văn Nuôi nêu cao tinh thần xung phong gương mẫu trong mọi công tác khó khăn, gian khổ cũng như trong chiến đấu ác liệt, hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Trong những đợt vận chuyển luồn sâu phục vụ chiến đấu cho các trung đoàn 270, 138, 27, Nguyễn Văn Nuôi vượt qua bom đạn, bám sát tuyến giao thông góp phần xứng đáng vào thành công của các trận đánh.


Với ý thức chuyển được một cân gạo, một viên đạn là góp phần diệt một tên Mỹ, trả thù cho đồng bào hai miền Nam Bâc, nên khi bốc vác loại bao nặng 50 ki-lô-gam trên chặng đường 500 đến 1.000 mét, Nguyễn Văn Nuôi vác một mình một bao, trong khi bình thường phải 2 người khiêng. Đột xuất khi có loại bao 100 ki-lô-gam, đồng chí cũng vác một mình. Trên các cung đường dài, đồng chí luôn luôn đảm nhiệm khối lượng hàng vận chuyển nặng từ 40 đến 50 ki-lô-gam, liên tục đạt năng suất cao nhất trong đại đội. Hành động của anh thúc đẩy khí thế hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, anh em đã phát động thi đua phấn đấu đạt năng suất cao như đồng chí.


Ngày 20 tháng 5 năm 1967, trong đợt phục vụ cho trung đoàn 2 chiến đấu ở bờ nam sông Bến Hải, khi địch đổ bộ đánh ra khu phi quân sự, Nguyễn Văn Nuôi chỉ huy tiểu đội chiến đấu bảo vệ trung đoàn bộ tại An Xuân. Mặc dù địch có lực lượng đông, có phi pháo bắn phá ác liệt, nhưng tiểu đội gồm 7 chiến sĩ do anh chỉ huy vẫn bám sát chiến hào, kiên cường chiến đấu. Trong hoàn cành mất liên lạc với đại đội, tiểu đội chiến đấu suốt 6 giờ, đánh lui 5 đợt tiến công, diệt 150 tên Mỹ, ngụy, trong đó đồng chí diệt 23 tên, đạt Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I. Trận đánh đó đã ghìm địch tại chỗ suốt 6 tiếng đồng hồ không cho chúng vào làng An Xuân, bảo vệ được hậu cứ của trung đoàn, tạo điều kiện cho bà con trong làng sơ tán an toàn.


Trong đợt phối thuộc phục vụ trung đoàn 270 tháng 5 năm 1968 tại khu đông đường số 9, một chiến trường ác liệt, mặc dù nhiều lần bị địch pháo kích chặn đường, Nguyễn Văn Nuôi vẫn tổ chức chỉ huy trung đội đưa đạn, gạo ra tuyến trước kịp thời. Có lần địch đánh thẳng vào đội hình từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa, Nguyễn Vãn Nuôi bình tĩnh động viên anh em sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ. Bom đạn địch vừa dứt, anh em lại lên đường tiếp tục chuyển gạo cho đơn vị chiến đấu. Suốt 4 đêm liền mất ngủ, Nguyễn Văn Nuôi vẫn gắng sức bò vào tận trận địa chuyển thương binh ra tuyến sau, làm gương cho anh em trung đội noi theo. Đêm thứ 5, Nguyễn Văn Nuôi bị thương nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị vận chuyển thương binh đầy đủ và kịp thời.


Từ tháng 2 năm 1969 đến tháng 9 năm 1969, Nguyễn Văn Nuôi hai lần chỉ huy đơn vị phục vụ chiến đấu cho trung đoàn 27 với cương vị đại đội phó. Do đơn vị chiến đấu liên tục làm nhiệm vụ luồn sâu vào sau lưng địch, bộ phận phục vụ phải vượt qua nhiều vùng có thám báo, biệt kích địch hoạt động. Nguyễn Văn Nuôi dũng cảm, kiên quyết chỉ huy đơn vị thay đại đội trưởng đi vắng, bám sát trung đoàn, bất chấp mọi hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, làm tròn nhiệm vụ tải đạn, gạo ra chiến hào, đưa thương binh về tuyến sau.


Nguyễn Văn Nuôi nêu cao tinh thần bảo vệ nhân dân. Trong trận chiến đấu ở làng An Xuân, khi nhận được lệnh rút về phía sau, anh tổ chức tiểu đội đưa 30 đồng bào đi sơ tán. Mặc dù địch giội bom đạn chặn đường, đồng chí bơi qua lại 6 lượt trên sông Bến Hải để đưa hết các em thiếu nhi và cụ già về vị trí an toàn.


Nguyễn Văn Nuôi gương mẫu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh cấp trên giao, thương yêu, tận tình giúp đỡ đồng đội trong mọi hoàn cảnh, được anh em tin yêu, mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huăn chương Chiến công giải phóng hạng ba, nhiều giấy khen và bằng khen.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Văn Nuôi được Chính phù cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #116 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:32:09 pm »

Anh hùng Hoàng Kim Nông


Hoàng Kim Nông, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Thanh Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ ngày 26 tháng 6 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là phân đội phó đội 1 đặc công, Đoàn 126, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trưởng thành dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, được Đảng và Bác Hồ giáo dục, nhận rõ nhiệm vụ vẻ vang của thanh niên đối với sự nghiệp chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, năm 18 tuổi Hoàng Kim Nông gia nhập quân đội với quyết tâm sẵn sàng hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, chiến đấu ở bất kỳ chiến trường nào.


Năm 1965, Hoàng Kim Nông làm nhiệm vụ lái tàu vận tải trên biển, anh đã tham gia hơn 50 trận đánh máy bay và tàu chiến địch, trận nào cũng dũng cảm, mưu trí hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có trận tuy bị thương, nhưng Hoàng Kim Nông vẫn tiếp tục chiến đấu không rời vị trí trên tàu.


Được vào miền Nam chiến đấu Hoàng Kim Nông ra sức luyện tập kỹ thuật, chiến thuật đặc công nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Chiến đấu ở Cửa Việt (Quảng Trị), Hoàng Kim Nông thể hiện lòng dũng cảm và mưu trí, đã vượt qua các tuyến phòng thủ nghiêm ngặt cùa địch, hơn 20 lần vào ra bến cảng điều tra nghiên cứu, nắm chắc tình hình trên bộ, dưới nước, quy luật đi lại, bố phòng của địch. Trên cơ sở đó anh lập phương án tác chiến chính xác và đã đánh chìm 2 tàu vận tải của địch trong năm 1968.


Trận ngày 20 tháng 2 năm 1969, trời rét buốt, tàu địch tuần tiễu liên tục trên sông và ném lựu đạn xuống nước, Hoàng Kim Nông khắc phục mọi khó khăn, bình tĩnh, bí mật bơi lặn ngược dòng sông, tiếp cận bến cảng, rồi luồn lách qua 4 chiếc tàu nhỏ, đến chiếc thứ 5 có trọng tải lớn hơn cả mới gắn mìn vào khoang máy, phá hủy chiếc tàu này.


Trận ngày 13 tháng 4 năm 1969, dù địch tăng cường đối phó, bố trí hệ thống đèn pha chiếu sáng suốt đêm, tàu tuần tiễu liên tục ném lựu đạn, bắn súng xuống nước, Hoàng Kim Nông dùng kỹ thuật điêu luyện bơi lặn vẫn đưa được mìn vào bến cảng, đánh chìm tại chỗ chiếc tàu chở 8.000 tấn vũ khí, đạn dược.


Hoàng Kim Nông là một cán bộ gương mẫu, khiêm tốn, chiến đấu anh dũng, đoàn kết chân thành, chịu khó học tập, được anh em trong đơn vị yêu mến, sẵn sàng tạo điều kiện cho đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Hoàng Kim Nông được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #117 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:32:53 pm »

Anh hùng Lê Trung Kiên
(Liệt sĩ)


Lê Trung Kiên, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nhập ngũ ngày 20 tháng 10 năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là đại đội trưởng đại đội 202 đặc công, bộ đội địa phương cùa tỉnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Trung Kiên sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo sống bằng nghề đánh cá và làm ruộng. Được cán bộ giáo dục, anh sớm giác ngộ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, hăng hái tham gia công tác cách mạng ở địa phương. Trước khi vào bộ đội đồng chí đả xây dựng được 7 cơ sở, vận động 15 thanh niên địa phương gia nhập lực lượng vũ trang.


Lê Trung Kiên luôn dũng cảm, không sợ hy sinh gian khổ, xông xáo vào những nơi khó khăn nhất, mặc dù trong chiến đấu đã 5 lần bị thương, anh vẫn bám sát chiến trường, liên tục chiến đấu. Nhờ có chuẩn bị chiến trường kỹ càng, có phương án chiến đấu tốt, có tinh thần anh dũng, luôn luôn có mặt trong các mũi nhọn tiến công, cho nên trong các trận đánh do Lê  Trung Kiên chỉ huy, đơn vị của anh đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao phó.


Qua 48 trận đánh, với những cương vị khác nhau, nhưng trận nào Lê Trung Kiên cũng đem hết sức mình góp phần vào thắng lợi của đơn vị, riêng bản thân đã diệt được 150 tên địch, thu 15 súng các loại.


Trong trận đánh ấp Phú Cần (tháng 7 năm 1964), khi mở cửa đột phá, bị địch chống trả quyết liệt, Lê Trung Kiên vừa bình tĩnh chỉ huy đơn vị, vừa kiên quyết xông lên dập tât hỏa điểm dịch. Trận đánh phát triển thuận lợi, đơn vị anh diệt toàn bộ bọn tề ngụy ác ôn trong ấp, tạo thời cơ cho bà con nổi dậy giành quyền làm chủ, mở rộng thêm vùng giải phóng.


Tháng 10 năm 1964, Lê Trung Kiên chỉ huy một tổ bộ đội đặc công của tỉnh luồn sâu vào vùng địch kiểm soát để đánh sân bay Tuy Hòa. Trận đánh diễn biến gay go, địch chống trả quyết liệt với ý định đến sáng sẽ phản kích. Lê Trung Kiên một mình mứu trí và dũng cảm xông lên dùng bộc phá và thủ pháo phá hủy hoàn toàn kho đạn địch đặt trong sân bay, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển tiêu diệt địch.


Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968, Lê Trung Kiên hai lần chỉ huy đơn vị đánh vào sở chỉ huy của trung đoàn 47 ngụy đóng ở thị xã Tuy Hòa. Đây là trung đoàn chủ lực của ngụy có nhiệm vụ kìm kẹp đồng bào Phú Yên, càn quét và đánh phá vùng giải phóng. Trong cả hai trận đánh này, đơn vị do Lê Trung Kiên chỉ huy diệt nhiều địch, gây khi thế cho đồng bào thị xã nổi dậy giành quyền làm chủ. Lê Trung Kiên đã anh dũng hy sinh ngày 3 tháng 3 năm 1968, trong trận đánh sở chỉ huy trung đoàn 47 ngụy lần thứ 2 tại thị xã Tuy Hòa.


Lê Trung Kiên luôn luôn nêu cao ý chí tiến công quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng đồng bào, dù khó khăn gian khổ cũng kiên quyết chấp hành mọi mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên, giành khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, sống khiêm tốn, giản dị, được anh em tin yêu, mến phục.  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 năm liền được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng 23 bằng khen, 11 giấy khen.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Lê Trung Kiên được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #118 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2022, 03:33:39 pm »

Anh hùng Lê Văn Quý
(Liệt sĩ)


Lê Văn Quý, sinh năm 1926 dân tộc Kinh, quê ở xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 10 năm 1948. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đoàn trưởng đặc công, bộ đội địa phương tỉnh Bình Định, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở địa phương có phong trào cách mạng và kháng chiến cao, lại trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, nên Lê Văn Quý có tinh thần chiến đấu kiên cường chống quân xâm lược, có quyết tâm giải phóng đồng bào, giành độc lập, tự do và thống nhất cho đất nước.


Lê Văn Quý là một cán bộ chỉ huy có tác phong linh hoạt, kiên quyết, mưu trí, triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên.


Những ngày cuối năm 1967, Lê Văn Quý chỉ huy đơn vị đánh chiếm quận lỵ Tuy Phước, diệt hơn 200 xe địch, diệt gọn 2 trung đội, thu 48 súng, phá hủy nhiều kho tàng, vũ khí, các kho chứa xăng của giặc, giải thoát hàng trăm cán bộ bị địch bắt. Sau đó, đơn vị phát triển đánh vào ấp Vĩnh Quan, diệt 1 trung đội bảo an, 18 dân vệ và hầu hết bọn ác ôn ở các xã Phước Sơn, Phước Lý, Phước Hài, gồm 58 tên, thu 26 súng, giải phóng 3.000 đồng bào.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu Xuân 1968, đơn vị Lê Văn Quý nhận lệnh của Bộ chỉ huy mật trận đánh bọn ngụy quân, ngụy quyền trong thị xã Quy Nhơn. Tuy gặp nhiều khó khăn về quân số, vũ khí, thời gian chuẩn bị, Lê Văn Quý cùng tập thể ban chỉ huy hạ quyết tâm tổ chức đơn vị chia làm 2 cánh quân đánh vào thị xã: một cánh đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, một cánh do anh trực tiếp chỉ huy đánh thọc sâu vào thị xã. Sau khi cánh này chiếm được đài phát thanh, nhà thông tin, ty cảnh sát, quân vụ thị trấn, Lê Văn Quý được báo cáo là cánh quân thứ nhất gặp khó khăn chưa tiến lên được. Đồng chí nhận định thời cơ đang có lợi cho ta cần phải liên tục chủ động tiến công địch, nên chỉ huy cánh thứ hai đánh chiếm luôn dinh tỉnh trưởng. Đơn vị Lê Văn Quý chiếm giữ các mục tiêu trong mấy ngày, riêng đài phát thanh trong 7 ngày, và liên tục đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt hàng trăm tên tại chỗ, bắt giáo dục 200 tên rồi tha về. Khi được lệnh rời khỏi thị xã, Lê Văn Quý tổ chức đánh kiềm chế địch, chỉ huy các bộ phận lần lượt chuyển ra ngoài, đảm bảo cho đại bộ phận di chuyển an toàn. Trên đường hành quân trở về căn cứ, Lê Văn Quý đã anh dũng hy sinh trong sự thương tiếc, cảm phục của tất cả anh em trong đơn vị và đồng bào thị xã Quy Nhơn.


Lê Văn Quý là một cán bộ trưởng thành từ cơ sở, qua hai cuộc kháng chiến, có tác phong khiêm tốn, giản dị, luôn luôn gương mẫu dẫn đầu đơn vị trong các trận đánh, cùng ban chỉ huy đơn vị có mặt ở nhửng nơi khó khăn nhất để động viên và chỉ huy đơn vị giành chiến thắng vẻ vang. Đồng chí hết lòng thương yêu và chân thành giúp đỡ anh em nên được cấp dưới mến phục. Anh đã có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng đại đội đặc công đầu tiên của tỉnh Bình Định.


Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã được 4 lần khen thưởng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Lê Văn Quý được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #119 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2022, 04:43:28 pm »

Anh hùng Nguyễn Chơn


Nguyễn Chơn, sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Thắng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 2 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là sư đoàn phó sư đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Chơn chiến đấu ở Quảng Nam, lập nhiều thành tích, được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba. Sau một thời gian học tập ở miền Bắc, tháng 4 năm đồng chí trở lại chiến trường cũ với ý nghĩ mãnh liệt: quyết chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, sẵn sàng hy sinh, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, vì thống nhất Tổ quốc. Trưởng thành từ cán bộ đại đội lên sư đoàn phó, ở cương vị nào Nguyễn Chơn cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh luôn luôn có tinh thần kiên quyết tiến công địch, chiến đấu dũng cảm, chỉ huy mưu  trí, có tác phong tỉ mỉ, sâu sát làm việc có kế hoạch, ở các cương vị đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, được sự giúp đỡ của cấp trên và tập thể, Nguyễn Chơn đã chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận xuất sắc, diệt gọn 1 tiểu đoàn và 10 đại đội địch, đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn, 7 chiến đoàn và tiểu đoàn khác. Đồng chí đã đóng góp xứng đáng vào chiến công chung đó.


Trận Ba Gia (Quảng Ngãi) tháng 5 năm 1965, với cương vị tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Chơn chỉ huy đơn vị tiến công kiên quyết và mưu trí diệt 1 tiểu đoàn ngụy, bắt 217 tên địch, có tên chỉ huy tiểu đoàn, thu 180 súng các loại.


Trận Quang Thanh năm 1967, Nguyễn Chơn chỉ huy tiểu đoàn khắc phục nhiều khó khăn trong hành quân, trú quân, đến vị trí đúng thời gian quy định. Khi nổ súng, anh chỉ huy và động viên đơn vị tiến công kiên quyết đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên, đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của chiến dịch.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Nguyễn Chơn chỉ huy trung đoàn hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn tiến công giải phóng các quận lỵ Duy Xuyên, Khâm Đức (Quảng Nam). Trong trận này, tuy quân Mỹ đông lại có ưu thế tuyệt đối về máy bay và pháo binh, Nguyễn Chơn vẫn kiên quyết chỉ huy đơn vị táo bạo thọc sâu một mũi vào sở chỉ huy lữ đoàn địch, đánh thiệt hại nặng 3 đại đội Mỹ.


Được tập thể bồi dưỡng trưởng thành nhanh chóng, Nguyễn Chơn là một cán bộ gương mẫu, tích cực rèn luyện nâng cao bản lĩnh chỉ huy, chịu khó học tập đường lối chủ trương chính sách của Đảng, những kinh nghiệm tổng kết trong các chiến dịch, các trận đánh và kinh nghiệm chiến đấu của bản thân. Đồng chí luôn nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, đoàn kết thương yêu đồng đội, tích cực xây dựng đơn vị trưởng thành, lập công xuất sắc.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Chơn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM