Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:50:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2  (Đọc 31211 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #120 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2022, 04:45:58 pm »

Anh hùng Nguyễn Hữu Quang


Nguyễn Hữu Quang, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 9 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 90 công binh, sư đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân từ một gia đình có bố, mẹ và em đều tham gia công tác cách mạng, bản thân thấy rõ tận mắt bè lũ Mỹ - ngụy tàn sát đồng bào rất dã man, Nguyễn Hữu Quang sớm có lòng căm thù sâu sắc quân giặc và quyết tâm chiến đấu giành tự do, độc lập cho Tổ quốc.


Nguyễn Hữu Quang đã tham gia 54 trận đánh, bản thân diệt 105 tên địch (trong đó có 29 tên Mỹ, 5 ác ôn), bắt 2 tù binh, phá 18 xe quân sự, thu 16 súng và chỉ huy đơn vị phá sập 7 cầu lớn, 1 đoàn xe lửa quân sự 13 toa. Trong chiến đấu và chỉ huy đơn vị, Nguyễn Hữu Quang bình tĩnh, mưu trí, có quyết tâm cao tiêu diệt  địch, gan dạ, xung phong vào những nơi ác liệt, cổ vũ đơn vị noi theo.


Năm 1965, đơn vị Nguyễn Hữu Quang được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Phú Phong và cắt đứt đường số 19 trong 15 ngày. Lúc đó đơn vị anh hầu hết là chiến sĩ mới. Tin tưởng ở sức mạnh tiềm tàng của quần chúng, Nguyễn Hữu Quang ra sức huấn luyện kỹ thuật bơi lặn cho anh em. Và sau một thời gian ngắn anh em thành thạo kỹ thuật đánh cầu. Nhờ vậy đơn vị của anh đã hoàn thành nhiệm vụ đánh sập chiếc cầu dài 120 mét, có 8 trung đội địch canh gác. Ngay sau trận đánh, địch gấp rút sửa cầu nhằm khôi phục lại tuyến giao thông quân sự quan trọng này. Quyết không cho địch thực hiện âm mưu nối lại tuyến đường, với số thuốc nổ còn lại, sau khi xin ý kiến tập thể, Nguyễn Hữu Quang quyết định đánh thêm cầu Bà Lá. Kế hoạch đã được thực hiện. Cầu Bà Lá bị sập, đơn vị anh đã thực hiện được nhiệm vụ cắt đứt đường số 19, vượt thời gian quy định.


Năm 1967, sau khi hoàn thành nhiệm vụ điều tra cầu Bồng Sơn, lúc trở ra Nguyễn Hữu Quang bị địch phát hiện. Lính địch chạy dọc theo sông, trên trời máy bay lên thẳng bắn pháo sáng, dưới sông ca nô đuổi theo ném lựu đạn. Tình thế hết sức hiểm nghèo. Khi ca nô đuổi kịp, bọn địch xúm lại định kéo anh lên để bắt sống. Quyết không chịu sa vào tay giặc, Nguyễn Hữu Quang bình tĩnh nổ súng ngắn diệt ngay tên Mỹ rồi tiếp tục lặn. Bọn địch lại đuổi theo. Chúng vừa bắn vừa ném lựu đạn để chặn đường, cố tình bắt sống đồng chí. Biết rõ ý đồ đen tối đó của địch, Nguyễn Hữu Quang vừa đánh trà địch vừa tìm cách vượt vòng vây. Để cho một chiếc ca nô đến gần, Nguyễn Hữu Quang nổ tiếp 3 phát súng ngắn, diệt 1 tên Mỹ nữa. Trong lúc bọn địch hốt hoảng vớt tên giặc này lên, anh nhanh nhẹn lặn vào bờ và lấy rơm đập lên người và ngất đi. Khi tỉnh lại, thấy mắt mình không mở ra được vì sức ép của lựu đạn dưới nước, anh tìm đường ra, không may lại sa vào hố chông, chân bị thương. Tuy vậy, Nguyễn Hữu Quang vẫn kiên trì tìm về được với đơn vị.


Năm 1968, đơn vị Nguyễn Hữu Quang nhận nhiệm vụ đánh sập cầu Ông Diệu, khơi ngòi nổ cho chiến dịch, với thời gian chuẩn bị chỉ có một đêm. Đồng chí tự vào tận nơi nghiên cứu địa hình, chuẩn bị phương án tác chiến, do đó đã góp phần với đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh sập cầu, diệt gọn trung đội bảo an, mở màn cho chiến dịch.


Nguyễn Hữu Quang là một cán bộ gương mẫu, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và chỉ huy. Trong mọi hoàn cảnh, đồng chí luôn luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, có tinh thần khiêm tốn học tập, được tập thể hết lòng bồi dưỡng, được anh em yêu mến, tin cậy.


Đồng chí nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng thưởng 2 giấy khen, 4 bằng khen, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Hữu Quang được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #121 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2022, 04:46:40 pm »

Anh hùng Nguyễn Hồng Quảng


Nguyễn Hồng Quảng, sinh năm 1942, dân tộc Mường, quê ở xã Phú Long, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng đại đội 48 cao xạ, tiểu đoàn 44, Mật trận Tây Nguyên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Được sự giáo dục của chế độ xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Hồng Quảng hiểu rõ nghĩa vụ vẻ vang của tuổi trẻ các dân tộc trên đất nước phải cùng nhau đoàn kết, sẵn sàng đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần. Khi vào bộ đội, anh nguyện hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gi cấp trên giao cho.


Nguyễn Hồng Quảng đã tham gia 330 trận, cùng đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch.

Trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế, phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Nguyễn Hồng Quảng nêu cao tinh thần dũng cảm tiên công tiêu diệt địch, gương mẫu động viên anh em chiến đấu trong những điều kiện rất gay go ác liệt.


Ngày 19 tháng 2 năm 1965, ở Sầm Nưa, đơn vị hành quân vừa nghỉ lại thì máy bay địch ập đến đánh thẳng vào đội hình. Các khẩu đội khác sau một hồi chiến đấu đều có thương vong nặng, chỉ còn khẩu đội của Nguyễn Hồng Quảng, anh tiếp tục nổ súng đánh trả địch, trả thù cho đồng đội. Đồng chí cùng chính trị viên đơn vị động viên khẩu đội còn lại kiên quyết chiến đấu. Kết quả các anh bắn rơi 8 chiếc F.105, trong đó có chiếc rơi cách trận địa 500 mét.


Hồi 17 giở ngày 15 tháng 6 năm 1965, trong khi đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ của bạn, máy bay địch chia làm nhiều tốp đến bắn phá dữ dội. Đơn vị kịp thời nổ súng, nhưng một loạt bom rơi vào giữa trận địa làm cho chính trị viên và trung đội trưởng hy sinh, một số anh em khác bị thương, chỉ còn ba khẩu súng chiến đấu được. Trong tình thế hết sức khó khăn đó, Nguyễn Hồng Quảng động viên 3 khẩu đội chiến đấu, bắn mảnh liệt, chính xác vào lũ máy bay địch. Đồng chí chỉ huy anh em kịp thời đào đất cứu đại đội trưởng và anh em khác bị vùi lấp. Trận chiến đấu kết thúc lúc trời tối, ta bắn rơi 3 phản lực Mỹ, bảo vệ được mục tiêu căn cứ của bạn.


Trở về nước, tham gia bảo vệ khu vực Hàm Rồng - Thanh Hóa, Nguyễn Hồng Quảng chỉ huy đại đội chiến đấu hơn 200 trận bắn rơi nhiều máy bay giặc, có trận diệt 5 chiếc.


Đầu năm 1968, đại đội Nguyễn Hồng Quảng hành quân vào chiến trường miền Nam.


Trong trận ngày 24 tháng 2 năm 1969, đơn vị Nguyễn Hồng Quảng chiến đấu bảo vệ trận địa pháo 85 và 105 mi-li-mét, đơn vị anh chiến đấu suốt từ 12 giờ đến 17 giờ. Nguyễn Hồng Quảng bình tĩnh chỉ huy, ra lệnh nổ súng kịp thời, bắn rơi 1 máy bay địch ngay loạt đạn đầu.


Ngày 4 tháng 3 năm 1969, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay ném 42 tấn bom, phóng 3 quả tên lửa xung quanh trận địa. Nguyễn Hồng Quàng đứng vững trên công sự theo dõi mục tiêu, hạ lệnh nổ súng kịp thời, chính xác. Một quả bom nổ gần hất anh xuống đất ngất đi. Khi tỉnh dậy, Nguyễn Hồng Quang đứng ngay vào vị trí, chỉ huy đơn vị tiếp tục chiến đấu. Trong trận này, đơn vị bắn rơi 4 máy bay địch (3 F.105 và 1 AD.6.)


Ngày 10 tháng 5 năm 1969, chỉ huy đơn vị đánh bọn biệt kích, Nguyễn Hồng Quảng để cho bọn chúng đến gần mới hạ lệnh nổ súng bất ngờ, đồng loạt, diệt 44 tên. Sau đó, đơn vị đánh lui 9 đợt phản kích của địch, bắn rơi 2 trực thăng, thu 4 súng.


Nguyễn Hồng Quảng liên tục chiến đấu ở nhiều chiến trường, luôn luôn nêu cao tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị. Trong những tình huống gay go, ác liệt, Nguyễn Hồng Quảng đi sát cổ vũ anh em lập công xuất sắc. Đồng chí đã góp phần tích cực xây dựng và giữ vững danh hiệu Đơn vị anh hùng cho đại đội, nên được ạnh em tin yêu, mến phục, cấp trên tin tưởng.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 7 bằng khen, 2 giấy khen, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua, 1 lần Chiến sĩ Quyết thắng, đạt danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng, Dũng sĩ diệt, máy bay.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Nguyễn Hồng Quảng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #122 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2022, 04:47:12 pm »

Anh hùng Lê Hữu Tựu


Lê Hữu Tựu, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 4 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 3, tiểu đoàn 14 phòng không, thuộc sư đoàn 2, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Pháp, gia đình Lê Hữu Tựu là cơ sở cách mạng, cha là đảng viên, cán bộ xã, anh đi bộ đội. Được giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa và phát huy truyền thống cua gia đình, trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Tổ quốc, đang làm nhiệm vụ người công nhân tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, anh xung phong tòng quân trực tiếp cầm súng đánh giặc, cứu nước.


Lê Hữu Tựu đã tham gia 13 chiến dịch, đánh hơn trận (trong đó có 28 trận trực tiếp bẳn máy bay), bắn rơi 31 chiếc trực thăng, diệt 64 tên giặc lái và lĩnh bộ binh.


Lê Hữu Tựu là một xạ thủ mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, trong hoàn cảnh nào cũng tích cực tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay địch.


Mùa Thu năm 1967, qua quá trình rèn luyện, thử thách, Lê Hữu Tựu được xếp vào chân xạ thủ phụ. Tuy là xạ thủ phụ nhưng anh rất hăng hái. Có lần trận địa bị máy bay địch đánh phá, thêm vào đó, lại bị cây to che khuất nên không đánh trả được. Bất chấp nguy hiểm, Lê Hữu Tựu trèo lên cây chặt cành, tạo thuận lợi cho khẩu đội nổ súng đánh địch, bảo vệ trận địa. Trong trận này, riêng anh bắn rơi 8 máy bay lên thẳng, vì thế được chuyển lên làm xạ thủ chính.


Mùa Đông năm 1967, đơn vị Lê Hữu Tựu chiến đấu với bọn không quân Mỹ trong 5 ngày. Ngay từ ngày đầu, khi 3 chiếc máy bay lên thằng lao đến, bằng 2 loạt đạn chính xác, Lê Hữu Tựu bắn rơi 2 chiếc, chiếc còn lại tháo chạy. Hôm sau địch rải chất độc hóa học xuống trận địa và cho 2 trung đội hộ binh đánh lên chốt. Đơn vị dùng nước uống đề rửa mắt khắc phục chất độc, vừa xong thì đã thấy địch ở phía sau. Lê Hữu Tựu nhanh trí cùng đồng đội hạ nòng súng xiết cò diệt nhiều tên Mỹ. Địch bỏ chạy tán loạn, các đồng chí nhanh chóng chiếm lại điểm cao. Buổi chiều, địch dùng 4 chiếc máy bay lên thẳng bắn rốc két vào trận địa. Lê Hữu Tựu bình tĩnh với 3 điểm xạ ngắn, diệt 3 chiếc rơi tại chỗ. Khẩu đội bạn nắm thời cơ diệt chiếc còn lại. Sau trận này Lê Hữu Tựu được đề bạt làm khẩu đội trưởng.


Mùa Hè năm 1968, đại đội chốt trên núi ngang. Trận địa được bố trí giữa 2 cứ điểm địch. Lê Hữu Tựu đã chỉ huy khẩu đội chiến đấu suốt 40 ngày đêm khi bắn máy bay địch tại chỗ, lúc cơ động săn máy bay địch sát cứ điểm của chúng. Bị thương Lê Hữu Tựu vẫn chống gậy hành quân cùng khẩu đội. Nhưng khi máy bay địch đến là anh lại nén đau cùng khẩu đội bắn rơi chiếc máy bay lên thẳng.


Lê Hữu Tựu đã gương mẫu rèn luyện, khiêm tốn học tập, đoàn kết và chăm lo xây dựng khẩu đội tiến bộ về mọi mặt, góp phần xây dựng đại đội thành đơn vị Anh hùng.


Lê Hữu Tựu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Lê Hữu Tựu được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #123 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 05:20:47 pm »

Anh hùng Rơ Chăm Ớt


Rơ Chăm Ớt, sinh năm 1949, tại làng Ó, B5 khu 4 nay là xã Yasao, Chưpâh, Gia Lai, dân tộc Gia Rai, tham gia cách mạng năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội phó xã B5. Đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ đầu năm 1969 đến năm 1970, Ớt đã chiến đấu trận, diệt 124 địch, có 70 Mỹ, bắn cháy 12 xe quân sự, có 9 xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay, có chiếc bị bắn rơi bằng 2 viên đạn súng trường, đánh sập 13 lô cốt, 5 nhà kho, nhà lính, nhà xe, 19 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ, được biểu dương ở Hội nghị du kích toàn huyện. Đại hội thi đua tỉnh và được mặt trận B3 tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.


Trong trận đánh ngày 16 tháng 4 năm 1969, chỉ huy 2 tổ du kích tập kích vào nhà chiếu bóng (khu điện ảnh của quân đoàn 2 ngụy), Ớt phân công một tổ ở lại cảnh giới sẵn sàng đánh địch, còn mình và ba đồng chí nhanh chóng thọc vào bên trong, Ớt lướt qua lô-cốt 2 tầng ở ngoài cùng vào đến nhà chiếu bóng thấy bọn địch đang ngồi xem liền bắn một quả B40 vào nhà, ba đồng chí khác, dùng lựu đạn, thủ pháo lần lượt đánh sập 3 lô-cốt rồi bắn luôn 3 quả B40 diệt 3 xe bọc thép đang nổ máy chuẩn bị chạy trốn. Địch bắn loạn xạ, anh em nhanh chóng lợi dụng tường đất ẩn mình lúc địch ngừng bắn, Ớt lao lên ném thủ pháo vào lô-cốt ngoài cùng rồi rút an toàn. Trong trận này với 7 qua đạn B40, 1 thủ pháo Ớt đã diệt 8 mục tiêu địch.


Ngày 24 tháng 4 năm 1969, du kích phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu, Ớt chỉ huy 6 đồng chí tập kích vào vị trí Cơ-ty-pơ-rông. Để nắm chắc địch, Ớt cải trang đi xe đạp ở mép rào để điều tra và tối dẫn tổ vào. Sau khi phân công cụ thể từng rnục tiêu, chỉ trong ít phút chiến đấu ta đã làm chủ trận địa. Trận này, Ớt diệt 4 lô cốt và 3 xe M113. Khi rút ra, không may bị mảnh đạn bắn vào mắt, vào lưng và tay, không đi được đồng chí được anh em du kích cõng về đơn vị. Sau một thời gian nằm viện một mắt bị hỏng, vết thương vừa lành, Ớt xin ra viện, trở lại chiến đấu.


Tháng 6 năm 1969, vừa ở viện về, đồng bào báo cho du kích biết có 3 xe địch chốt trên đường, Ớt dẫn 4 đồng chí ra đánh. Lần này, Ớt giao súng B40 cho Nhợi để Nhợi cũng bắn được như mình. Nhợi kê súng lên ngắm chiếc xe đầu bóp cò, chiếc xe bị diệt tại chỗ, chiếc thứ hai bị thương nhẹ tháo chạy, chiếc thứ ba bò qua chỗ Ớt nằm. Ớt nhanh chóng cầm thủ pháo lao ra xe, hai tên Mỹ nhìn thấy sợ quá nhảy ra ngoài không kịp lấy súng, Ớt dùng thủ pháo tung vào thùng xe rồi nhảy xuống nép vào phía dưới. Thủ pháo nổ, xe bị diệt, khẩu đại liên trên xe bị gẫy nòng, hai tên Mỹ trong xe cũng bị diệt, Ớt đuổi theo 2 tên Mỹ vừa chạy trốn diệt nốt.


Rơ Chăm Ớt là xã đội phó du kích chiến đấu gan dạ, lập công xuất sắc trên vành đai diệt Mỹ Plây Cu, dẫn đầu phong trào du kích chiến tranh các tỉnh Tây Nguyên: được bà con buôn làng và anh chị em du kích mến phục.


Ngày 15 tháng 2 năm 1970, Rơ Chăm Ớt được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #124 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 05:21:55 pm »

Anh hùng Võ Văn Tăng


Võ Văn Tăng, sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Thuận Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 6 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng pháo mặt đất, tiểu đoàn 22, sư đoàn 5 bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Viật Nam.


Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, cha, mẹ tham gia đoàn thể cách mạng, anh em đều đi bộ đội hoặc dân quân, Võ Văn Tăng được ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình nên sớm có lòng căm thù bè lũ Mỹ - ngụy và rất thiết tha với sự nghiệp giải phóng quê hương, thống nhất Tổ quốc.


Đồng chí đã chiến đấu 22 trận, bản thân diệt 4 xe tăng và xe bọc thép, bắn sập 10 lô cốt và diệt hơn 100 tên Mỹ, ngụy. Trận chiến đấu nào Võ Văn Tăng cũng dũng cảm, bình tĩnh, mưu trí, luôn luôn xung phong vào nơi khó khăn ác liệt. Khi ở cương vị chỉ huy, đồng chí là một người cán bộ có tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh cùng tập thể khẩu đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu.


Trong trận Bàu Cối năm 1963, 2 đại đội biệt kích có 4 xe M.113 yểm hộ đánh thẳng vào căn cứ của ta. Tuy là pháo thủ số 3, Võ Văn Tăng phải thay thế pháo thủ số 1 bị ốm. Sau khi đợt tiến công thứ nhất bị đẩy lùi, bọn giặc tập trung hỏa lực pháo, bộ binh cùng 4 xe bọc thép mở đợt tiến công mới vào trận địa ta. Tuy đây là lần đầu tiên đánh xe bọc thép, đồng chí bình tĩnh, tự tin, để cho địch đến gần mới nổ súng chính xác, liên tiếp diệt 2 xe M.113 của địch, làm cho 2 chiếc khác quay đầu tháo chạy, bỏ rơi bọn bộ binh lại phía sau. Diệt xong xe địch, Võ Văn Tăng được lệnh tiếp cận tiêu diệt bộ binh địch. Với tư thế vác súng ĐKZ quỳ bắn thành thạo, đồng chí diệt nhiều hỏa điểm và 30 tên địch làm cho chúng tê liệt không chống cự nổi, tạo thời cơ cho bộ binh ta tiến lên diệt gọn 2 đại đội biệt kích địch.


Trận Kim Long năm 1967, khẩu đội Võ Văn Tăng được phối thuộc với đại đội bạn. Sau khi diệt 2 xe tăng địch, trận địa pháo của đồng chí bị lộ, bọn Mỹ tập trung hỏa lực bắn dữ dội làm cho pháo thủ số 1 và khẩu đội trưởng hy sinh. Theo dự kiến phân công thay thế từ trước, đồng chí lên thay làm khẩu đội trưởng. Võ Văn Tăng bình tĩnh cùng khẩu đội, lấy thước ngắm chính xác, bắn liên tiếp hai phát đạn diệt 2 xe tăng địch. Sau đó, đồng chí bị thương nặng nhưng vẫn cùng anh em giữ vững trận địa. Đến khi được lệnh rút ra ngoài, Võ Văn Tàng động viên anh em khỏe vác súng ĐKZ ra trước, còn bản thân sau khi băng bó vết thương, đồng chí tự bò ra sau cùng. Trong trận này, khẩu đội Võ Văn Tăng diệt 6 xe tăng, riêng bản thân đồng chí diệt 2 chiếc.


Trong trận Tân Hiệp, tháng 5 năm 1968, đơn vị súng cối 82 mi-li-mét của đồng chí phối hợp với đơn vị đặc công đánh 1 tiểu đoàn Mỹ đi càn. Sau khi vượt qua nhiều đồng trống lầy lội, trời đã sáng, đơn vị phải trụ lại Tân Hiệp. Khoảng 9 giờ sáng, địch dùng 1 tiểu đoàn Mỹ có nhiều xe tăng yểm hộ từ lộ 26 chia làm 3 mũi mở nhiều đợt tiến công vào Tân Hiệp. Trận chiến đấu đang diễn ra gay go, ác liệt thì bên ta súng cối bị hỏng, nhiều đồng chí bị thương vong. Võ Văn Tăng cùng 4 đồng chí khác trong khẩu đội dùng súng trường, súng máy, lựu đạn cùng đơn vị bạn chiến đấu ngoan cường chống lại 1 tiểu đoàn Mỹ cho đến 6 giờ chiều. Trong trận chống càn này, quân ta diệt hơn 100 tên Mỹ.


Võ Văn Tăng chiến đấu dũng cảm, có tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng đội, gương mẫu trong mọi lúc khó khăn ác liệt, được mọi người yêu mến, tin cậy, được tập thể bồi dưỡng trưởng thành.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 13 bằng khen, 28 giấy khen, 2 lần Dũng sĩ diệt cơ giới và 1 lần Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, 4 năm là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Võ Văn Tăng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #125 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 05:23:00 pm »

Anh hùng Nguyễn Văn Mười
(Liệt sĩ)


Nguyễn Văn Mười (tức Mười Đấu) sinh năm 1934 dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nhập ngũ năm 1963 phục viên năm 1968. Khi hy sinh đồng chí là tổ viên tổ dân quân thương binh tỉnh Mỹ Tho, mặt trận Trung Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Được cán bộ cách mạng tuyên truyền giáo dục Nguyễn Văn Mười sớm có lòng yêu nước và căm thù đế quốc phong kiến. Năm 1952, đồng chí tham gia công tác kháng chiến ở địa phương, làm chiến sĩ tự vệ giữ nhiệm vụ giao thông liên lạc, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Năm 1963, Nguyễn Văn Mười nhập ngũ, làm việc ở công trường lò than của ban quân sự huyện Cái Bè. Tuy bị thương cụt một chân, trong lao động sản xuất, đồng chí rất cần cù, chăm chỉ, luôn luôn vượt chỉ tiêu sản xuất than, phục vụ nhiệm vụ chế tạo vũ khí của địa phương.


Trong chiến đấu, Nguyễn Văn Mười rất dũng cảm, không quản ngại hy sinh nguy hiểm, mặc dù có thương  tật, vẫn luôn luôn tích cực chủ động tìm địch mà diệt bằng vũ khí tự chế tạo.


Cuối năm 1967, địch càn quét nhiều lần vào công trường của đồng chí, nhưng lần nào bọn chúng cũng bị thất bại thảm hại. Vừa bảo vệ sản xuất, vừa chiến đấu, đơn vị Nguyễn Văn Mười, đã diệt 200 tên địch, riêng đồng chí diệt 8 tên.


Trong thời gian này, tuy bị thương cụt một chân, đồng chí vẫn hăng hái lao động sản xuất, tích cực chống giặc đi càn quét, bảo vệ cơ sở. Tháng 5 năm 1968, do bị thương một lần nữa, cả hai chân bị cụt, Nguyễn Văn Mười được chuyển ra ngoài quân đội, về tham gia hoạt động kháng chiến trong tổ thương binh ở xã Mỹ Lợi.


Các đồng chí tích cực tuyên truyền vận động nhân dân làm xã chiến đấu, rào làng, đào hầm, chế tạo mìn, lựu đạn đánh giặc. Tuy thương tật rất nặng, Nguyễn Văn Mười vẫn rất gương mẫu tự tay làm được 15 hầm chông, gài được 5 lựu đạn, 30 đạp lôi, đào công sự. Đặc biệt, đồng chí rất tích cực đi thu tìm lựu đạn về cài bẫy diệt địch. Do đó, địch đánh hàng chục lần nhưng không vào được trong xã. Trong một lần chống càn, Nguyễn Vãn Mười đeo một thùng lựu đạn ở cổ, dũng cảm luồn lách, lội xuống mương cài bẫy lựu đạn trong lúc địch đang bắn phá. Suốt 4 ngày chiến đấu, tổ thương binh 3 người đã diệt 15 tên địch. Có lần địch dùng máy bay lên thẳng bắn rồi đổ quân vào nơi tổ dân quân thương binh ở. Các đồng chí bình tĩnh, nhanh chóng bò ra gài thêm lựu đạn, đạp lôi và chuyển 3 em nhỏ cùng tài liệu ra ngoài an toàn. Địch xông vào bị lựu đạn nổ làm một số tên chết, số còn lại bỏ chạy tán loạn.


Tính trong 3 tháng cuối năm 1968, xã chiến đấu đã diệt trên 100 tên địch, tổ thương binh diệt 49 tên, riêng đồng chí diệt 9 tên. Đồng chí đã anh dũng hy sinh trong một trận chống địch càn quét.


Nguyễn Văn Mười là một thương binh kiên cường bám đất, bám dân, cùng tổ dân quân thương binh hăng say đánh giặc nêu tấm gương sáng tận trung, tận hiếu, chiến đấu đến hơi thở cuối nùng vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đồng chí hết lòng đoàn kết, giúp đỡ đồng đội và bà con trong thôn xã, được mọi người rất yêu mến.


Đồng chí đã được khen thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Nguyễn Văn Mười được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #126 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 05:24:14 pm »

Anh hùng Lê Văn Phích


Lê Văn Phích, sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 1 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đại đội A (Đơn vị Anh hùng), bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 15 tuổi Lê Văn Phích đã tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương, vào tự vệ ấp, xây dựng làng chiến đấu. Năm 17 tuổi đồng chí vào đội dân quân xã trực tiếp cầm súng bảo vệ quê hương. Do bơi lội giỏi, tháng 1 năm 1968, đồng chí được bổ sung vào đội công binh bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.


Đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh, phá hủy cầu, phà, đánh chìm tàu chiến, tiêu diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng. Trong chiến đấu, Lê Văn Phích rất dũng cảm, bình tĩnh dùng kỹ thuật  bơi lặn giỏi, tìm mọi cách vượt khó khăn nguy hiểm, hoàn thành nhiệm vụ.


Tháng 9 năm 1968, ban chỉ huy đại đội giao cho Lê Văn Phích nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu đề xuất phương án đánh đoàn 4 chiếc tàu chiến Mỹ, trong đó có 1 tàu chiến nhỏ mang 6 khẩu pháo, đóng ở đầu kênh Chẹt Sậy. Cách chỗ đoàn tàu chiến đậu 50 mét, có một chiếc cầu trên đó có 1 trung đội ngụy tuần tra, ở móng cầu có bốt gác chiếu đèn pha suốt đêm khắp mặt sông. Trên bờ bọn Mỹ đóng rải rác. Qua 2 đêm dày công bơi lặn nghiên cứu, đồng chí vào sờ từng chiếc tàu, xác định điểm đặt mìn và lập phương án chiến đấu. Được cấp trên chuẩn y kế hoạch, đêm 24 tháng 9, tổ của Lê Văn Phích phải đưa trái mìn đi dưới sông từ xa 600 mét và phải qua một ngã ba rộng 200 mét nước xoáy mạnh. Lợi dụng lúc đèn pha quét sang hướng khác, cả tổ vượt qua ngã ba và áp vào tàu buộc mìn xong không đầy 5 phút. Nhưng không may, mìn bị hỏng, chữa đi chữa lại hàng tiếng đồng hồ vẫn không được, cả tổ phải bí mật rút về căn cứ. Đêm sau, các đồng chí lại tiếp tục đánh. Lần này tuy địch có bắn súng và ném lựu đạn quanh tàu mấy lần, nhưng với kỹ thuật điêu luyện và tinh thần dũng cảm, mưu trí, các đồng chí đặt được mìn vào nơi đã định và rút ra an toàn. Mìn nổ dìm xuống sông chiếc tàu chiến có 6 khẩu pháo và toàn bộ bọn lính trên tàu.


Tháng 11 năm 1968, Lê Văn Phích tham gia trận đánh tàu chiến trên sông Hàm Luông. Một đoàn 7 chiếc tàu chiến cùng 300 tàu, xuồng lớn nhỏ kéo đến sông Hàm Luông để yểm hộ cho trận càn lớn vào Giồng Trôm. Nhận nhiệm vụ đánh đoàn tàu này, Lê Văn  Phích và 3 đồng chí khác phải hành quân cách 10 ki-lô-mét và chuyển mìn dưới nước 3 ki-lô-mét. Địch nhiều lần bắn súng, ném lựu đạn bừa bãi vào các đám bèo, tàu tuần tra của chúng chạy sát cách đồng chí 5 mét làm cho tổ xáo động đội hình, liên lạc với nhau rất khó khăn. Lợi dụng thời cơ địch mải theo dõi bắn ra vòng ngoài, Lê Văn Phích áp sát vào mục tiêu đặt mìn và cả tổ nhanh chóng rút ra ngoài khu vực nguy hiểm. Sau 10 phút, mìn nổ tung dìm 1 tàu chiến cùng 14 tàu khác với hàng trăm tên giặc Mỹ xâm lược xuống sông.


Cuối năm 1969, tiểu đội Lê Văn Phích nhận nhiệm vụ đánh cầu Bình Chánh. Cầu này dài 100 mét, nằm trên đường Bến Tre - Giồng Trôm, được rào bằng 2 lớp kẽm gai dày, có bốt gác ở hai đầu cầu và dưới trụ cầu. Đồng chí điều tra nghiên cứu 3 tháng liền mới lập xong phương án đánh.


Lần đánh thứ nhất, Lê Văn Phích cùng một đồng chí khác đem mìn vào. Nhưng không may, địch bắn súng vu vơ xuống nước làm đồng đội hy sinh, mìn chìm xuống đáy sông, kế hoạch phải hoãn lại.


Sau 2 tháng điều tra, nghiên cứu lại quy luật hoạt động của địch, Lê Văn Phích đề nghị và được chuẩn y cho đánh cầu vào lúc bắt đầu sáng, là lúc địch đổi gác và rút bớt lính gác cầu. Đúng 5 giờ 30 sáng Lê Văn Phích bí mật, khéo léo đặt mìn phá 2 nhịp cầu, diệt 15 tên địch cắt giao thông của chúng trong 2 tháng.


Lê Văn Phích chiến đấu mưu trí, dũng cảm, không chịu lùi bước trước khó khăn, luôn luôn suy nghĩ tìm mọi sáng kiến thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên giao cho. Đồng chí có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, khéo léo tuyên truyền, giáo dục nhân dân, gây cơ sở để hoạt động bí mật.


Đồng chí đã được tặng thưởng 4 bằng khen, 7 giấy khen, Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 9 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, được bầu là lá cờ đầu của đại đội A, Đơn vị Anh hùng.


Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Văn Phích được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #127 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 05:00:28 pm »

Anh hùng Lê Thanh


Lê Thanh (tức Lê Văn Phòng), sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 10 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là chính trị viên phó tiểu đoàn 516 bộ binh, đơn vị Anh hùng, Mặt trận Trung Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 16 tuổi, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Lê Thanh đã tham gia các hoạt động cách mạng ở địa phương. Với ý chí tiến công cao, đồng chí vượt qua mọi khó khăn gian khổ, liên tục bám đất, bám dân, xây dựng phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Năm 1960, trước yêu cầu phát triển lực lượng vũ trang, Lê Thanh xung phong gia nhập quân đội.


Trên mặt trận đấu tranh vũ trang, đồng chí đã tham gia 121 trận đánh lớn nhỏ: đánh đồn, tập kích, chống càn, phục kích và đánh vào thị xã, thị  trấn. Lê Thanh là một cán bộ chỉ huy kiên cường, xông xáo, dũng cảm và mưu trí, 5 lần bị thương vẫn không rời vị trí, tiếp tục chỉ huy chiến đấu.


Ngày 13 tháng 4 năm 1966, sau 6 đêm đi điều tra, nghiên cứu, đồng chí phụ trách đại đội mũi chính đánh vào trường huấn luyện ngụy ở Phú Hưng. 5 đại đội ngụy có công sự kiên cố, có hỏa lực nhiều tầng, điên cuồng chống cự, làm cho các mũi tiến công của ta có lúc bị dừng lại. Tuy bị thương, Lê Thanh vẫn củng cố bộ đội rồi dẫn đầu đơn vị tiếp tục thọc sâu, diệt toàn bộ hầm ngầm của bọn chỉ huy, góp phần to lớn vào thắng lợi của toàn đơn vị, tiêu diệt 5 đại đội địch, thu nhiều vũ khí.


Tháng 10 năm 1966, đơn vị vừa hành quân đến Bình Khánh thì gặp địch đi càn. Máy bay và pháo binh địch bắn phá dữ dội để dọn đường cho bộ binh đánh vào. Lúc này công sự của ta đều bị ngập nước và chưa liên lạc được với tiểu đoàn. Lê Thanh bình tĩnh đến từng chiến hào động viên anh em chiến đấu. Sau khi đánh lui 6 đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên tại chỗ. đại đội được lệnh chuyển ra ngoài. Đồng chí tổ chức hiệp đồng tốt, đưa đơn vị rời khỏi trận địa an toàn trong lúc địch tập trung xe bọc thép cùng bộ binh đánh bao vây quân ta.


Trong đợt 1 cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, đơn vị Lê Thanh nhận nhiệm vụ đánh vào 4 mục tiêu trong thị xã Bến Tre. Mặc dù địch bố trí phòng thủ dày, có nhiều ổ đề kháng ngăn chặn quân ta phát triển, đồng chí mưu trí chỉ huy đơn vị hiệp đồng chặt chẽ, diệt từng ổ, đánh chiếm trại Kim Sắt và sở chỉ huy tiểu khu của địch, thu và phá hủy 1.000 súng các loại.


Tháng 11 năm 1968, Mỹ - ngụy cho 9 tiểu đoàn, 20 đại đội cùng hàng trăm tàu lớn nhỏ càn vào vùng giải phóng Sơn Phú - Giồng Trôm. Chúng cho máy bay giội bom và pháo bắn suốt ngày. Mặc dầu ác liệt như vậy, Lê Thanh vẫn bình tĩnh cùng ban chỉ huy đại đội phán đoán tình hình, linh hoạt xử trí, chỉ huy các mũi bẻ gảy 20 đợt xung phong của địch, chặn đứng 12 chiếc M113, không cho chúng tiếp cận trận địa ta, góp phần cùng với tiểu đoàn tiêu diệt hơn 500 tên địch, giữ vững trận địa.


Được tập thể bồi dưỡng trưởng thành nhanh chóng, Lê Thanh là một cán bộ có tác phong gương mẫu đi sâu đi sát, luôn luôn có mặt ở những nơi khó khăn ác liệt, cổ vũ anh em. Cùng tập thể ban chỉ huy xây dựng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng chí được anh em yêu mến, cấp trên tin tưởng.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lê Thanh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #128 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 05:00:56 pm »

Anh hùng Võ Viết Thanh


Võ Viết Thanh, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhập ngũ tháng 2 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó, thuộc xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sinh ra và lớn lên ở một địa phương có phong trào đấu tranh sôi nổi chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh nhập ngũ với quyết tâm sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì để góp phần chống Mỹ, cứu nước. Trong cao trào đồng khởi của địa phương, được phân công hoạt động trong thị xã, Võ Viết Thanh vận động bạn bè cùng mình dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết kiên  cường và ý chí chiến đấu bất khuất của người chiến sĩ cách mạng.


Từ tháng 8 năm 1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa thấp, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình phục vụ và quyết tâm diệt địch cao, đồng chí nỗ lực tìm tòi, học tập, miệt mài nghiên cứu cải tiến kỹ thuật dám nghĩ dám làm, sản xuảt được nhiều loại mìn, lựu đạn, vừa dễ làm vừa đỡ tốn kém đạt hiệu quả diệt địch cao.


Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, nguyên vật liệu thiếu thốn, yêu cầu phục vụ ngày càng cao, Võ Viết Thanh đã góp sức lãnh đạo đơn vị vượt qua khó khăn ác liệt, trực tiếp phụ trách một bộ phận của xưởng, bám sát chiến trường, trong 2 năm 1967, 1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu, tự lực tìm bom, đạn lép của địch để sản xuất vũ khí tại chỗ, kịp thời cung cấp cho bộ đội đánh địch. Trước yêu cầu chiến đấu ngày càng cao, cần có hỏa lực mạnh để diệt đồn, bốt địch, Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thừ nghiệm công phu và đã chế tạo thành công những khẩu súng cối và đại bác không giật, kịp thời trang bị cho các đơn vị bộ đội tỉnh đánh địch trong mùa Xuân 1968. Ngoài ra, Võ Viết Thanh đã có trên 50 sáng kiến lớn nhỏ, trong đó có những sáng kiến dùng nguyên liệu dễ tìm kiếm, dễ làm, để sản xuất các loại lựu đạn, mìn. Sáng kiến dùng vỏ đồ hộp làm vỏ lựu đạn đã tăng năng suất từ 150 đến 500%, tiết kiệm cho công quỹ hàng chục vạn đồng trong một năm, cung cấp thêm nhiều vũ khí, đầy mạnh phong trào toàn dân đánh giặc trong tỉnh.


Vừa sản xuất vừa chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực tiến công, Võ Viết Thanh đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ - ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay lên thẳng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục. Võ Viết Thanh có đức tính giản dị, khiêm tốn, chịu khó học tập và giúp đỡ đồng đội học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chăm lo xây dựng xưởng tiến bộ mọi mặt, được đồng đội và nhân dân nơi đóng quân yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huấn chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.


Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Võ Viết Thanh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #129 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 05:01:40 pm »

Anh hùng Huỳnh Phi Hùng
(Liệt sĩ)


Huỳnh Phi Hùng, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 6 năm 1966. Khi hy sinh đồng chí là trung đội phó, đại đội 3, tiểu đoàn 303, Mặt trận Tây Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Xuất thân gia đình rất nghèo, được cách mạng chăm sóc, cho đi học tại trường Lý Tự Trọng trong vùng giải phóng, Huỳnh Phi Hùng sớm được bồi dưỡng lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Năm 16 tuổi, đồng chí tình nguyện nhập ngũ để trực tiếp giết giặc, cứu nước.


Trong 3 năm chiến đấu, Huỳnh Phi Hùng tham gia 26 trận, diệt 74 tên giặc, bắn rơi 3 máy bay, phá hủy 2 xe quân sự, bắn chìm 1 tàu chiến và bắn cháy 3 chiếc khác, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, đánh giặc mứu trí, táo bạo, diệt nhiều địch.


Trong trận tập kích Xà Xiêm, một hỏa điểm địch bố trí rất kín bắn chặn bước tiến của đơn vị. Được lệnh của ban chỉ huy đại đội lên trinh sát tìm ụ súng nguy hiểm đó, Huỳnh Phi Hùng dũng cảm, khéo léo bò lên quan sát địa hình chung quanh, nhanh chóng chiếm địa hình có lợi. Từ vị trí đó, đồng chí bấm đèn pin chỉ mục tiêu cho hỏa lực của ta tập trung dập tắt ụ đề kháng. Hỏa điểm chặn đường bị diệt tạo điều kiện cho đại đội xung phong tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch.


Trận chống càn ở Thác Lác cuối năm 1967, sau khi đẩy lùi 7 đợt tiến công ồ ạt của địch, hầu hết các công sự của ta bị sập. Anh em vừa bắn mãnh liệt diệt những tốp địch đến gần, vừa củng cố lại công sự. Địch ỷ vào lực lượng đông, mặc dù đã bị chết khá nhiều, vẫn cố dốc sức đánh vào. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, Huỳnh Phi Hùng mưu trí, cơ động như con thoi trên phạm vi 150 mét trận địa, sử dụng 3 khẩu súng, bắn chính xác, tiết kiệm đạn, diệt nhiều tên địch ngay trước công sự. Cuộc càn quét lớn của địch bị thất bại thảm hại trước sức chiến đấu ngoan cường của đại đội đồng chí. Trong trận chống càn này, riêng đồng chí tiêu diệt 40 tên địch.


Đầu Tết Mậu Thân, Huỳnh Phi Hùng nhận nhiệm vụ dẫn mũi chủ yếu của đại đội đánh vào sân bay Lộ Tẻ. Sau khi phá 3 hàng rào dây thép gai, tuy bị thương vào đầu, đồng chí vẫn đỡ rào gai cho anh em đánh thọc sâu vào sân bay. Huỳnh Phi Hùng tự băng lấy vết thương, rồi cố bò vào trong trận địa tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Đồng chí dùng thủ pháo diệt 2 ụ súng của địch, góp phần cùng đại đội tiêu diệt gọn 1 đại đội và 1 trung đội Mỹ.


Trong nhiệm vụ đánh tàu địch trên sông Cái Lớn, đơn vị đồng chí bắn cháy nhiều tàu của chúng nhưng chưa bắn chìm được chiếc nào. Huỳnh Phi Hùng quyết tâm tìm ra cách đánh tốt hơn. Sau một thời gian nghiên cứu, đồng chí mạnh dạn đưa công sự ra tận mép nước, ngụy trang kín đáo, làm nạng tỳ súng nên đã bắn chìm 1 tàu địch. Kinh nghiệm tốt đó được phổ biến rộng rãi trong đơn vị. Đợt chiến đấu tiếp sau, toàn tiểu đoàn giành được thắng lợi to lớn: bắn chìm 56 tàu địch.


Tháng 5 năm 1969, trong một trận chiến đấu với lực lượng địch đông gấp bội, Huỳnh Phi Hùng đã anh dũng hy sinh.


Huỳnh Phi Hùng là một cán bộ xuất sắc, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao, triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, đoàn kết thương yêu đồng đội, được anh em mến phục.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 8 giấy khen, 5 bằng khen.


Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Huỳnh Phi Hùng được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM