Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:22:16 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 2  (Đọc 31456 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #140 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 03:27:03 pm »

Anh hùng Phùng Quang Thanh


Phùng Quang Thanh sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ năm 1967. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, trung đội trưởng thuộc đại đội 9, tiểu đoàn 9, trung đoàn 64, sư đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sân Việt Nam.


Năm 1968, Phùng Quang Thanh tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, làm nhiệm vụ trinh sát. Nhiều lần đồng chí cùng tổ trinh sát vào căn cứ địch điều tra tình hình, giúp cấp trên chỉ huy tác chiến thắng lợi.


Tháng 2 và tháng 3 năm 1971, Phùng Quang Thanh tham gia chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, chỉ huy trung đội đánh 2 trận đều đạt hiệu suất cao, góp phần tích cực cùng tiểu đoàn diệt gọn 1 tiểu đoàn và 1 đại đội địch. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần chủ động hiệp đồng và tạo thuận lợi cho đơn vị bạn chiến đấu tốt. Phùng Quang Thanh vừa chỉ huy, vừa chiến đấu dũng cảm, diệt 12 tên địch, bắt 1 tên, thu 1 súng.


Ngày 10 tháng 2 năm 1971, Phùng Quang Thanh trực tiếp chỉ huy 1 tiểu đội chốt giữ đồi Không Tên. Địch dùng 1 đại đội có máy bay yểm trợ, chia làm hai mũi tiến công chốt. Anh bình tĩnh chỉ huy từng tổ chờ địch vào thật gần mới nổ súng. Kết quả, tiêu diệt 38 tên địch, giữ vững chốt. Riêng Phùng Quang Thanh diệt 8 tên. Hai ngày sau, địch lại tiến công chốt, tuy bị thương, một mảnh pháo găm vào bả vai trái, tay trái không cử động được, cấp trên cho về tuyến sau, nhưng anh xin ở lại chiến đấu. Để khắc phục khó khăn do vết thương gây nên, Phùng Quang Thanh nhờ chiến sĩ tháo sẵn nắp 17 quả lựu đạn cho vào túi đeo quanh người, nhờ y tá băng treo cánh tay trái cho đỡ vướng rồi dẫn đầu đơn vị xung phong đánh tạt sườn quân địch, phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn diệt gọn 1 đại đội địch. Riêng trung đội Phùng Quang Thanh diệt 37 tên, bắt 1 tên, thu 2 súng.


Phùng Quang Thanh luôn gương mẫu, nêu cao tinh thần trách nhiệm, chỉ huy linh hoạt, dù khó khăn gian khổ cũng không lùi bước, kiên quyết tiến công quân địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công hạng ba, được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ ưu tú, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và giấy khen.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Phùng Quang Thanh được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhần dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #141 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 03:27:42 pm »

Anh hùng Lê Văn Ức


Lê Văn Ức, sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, phân đội trưởng thuộc đại đội 2 đặc công đoàn 126 Bộ Tư lệnh Hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ đầu năm 1969 đến năm 1971, Lê Văn Ức tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, dự 30 trận, đánh trận nào cũng dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Lê Văn Ức đã góp phần cùng đơn vị đánh chìm, đánh hỏng hàng chục tàu địch. Riêng anh đánh chìm 3 tàu. Trong chiến đấu, dù khó khăn ác liệt thế nào, Lê Văn Ức cũng kiên quyết đưa được thương binh ra nơi an toàn.


Đêm 19 tháng 3 năm 1969, Lê Văn Ức phụ trách một tổ đánh tàu địch đậu trên sông Cửa Việt. Khi đến cồn cát giữa sông thì bị lộ, địch ở trên tàu bắn như vãi đạn. Trên bờ bẳc sông Cửa Việt, bộ phận cảnh giới của ta đang đánh bọn bộ  binh và xe tăng địch chặn đường. Khu vực này quân địch đã rất chú ý, Lê Văn Ức vẫn kiên quyết đưa tổ ra đánh, lúc này tàu địch thường cơ động luôn, không đánh được. Lê Văn Ức nhanh chóng cùng đồng đội vượt sang bờ nam, ra khỏi khu vực địch đang theo dõi, vận động đến đánh chìm chiếc tàu LCU của địch. Đêm đó và cả ngày hôm sau, tổ chiến đấu Lê Văn Ức nằm lại trong vùng kiểm soát của địch, đêm sau về đơn vị an toàn.


Đêm 9 tháng 3 năm 1971, Lê Văn Ức chỉ huy phân đội đánh tàu địch ở Xuân Khánh. Phân đội đang xuất kích thì phát hiện có địch phục kích, anh bình tĩnh tìm đường đi tắt, dẫn phân đội ra bờ sông, bố trí đánh địch. Sự chỉ huy linh hoạt và kiên quyết đó của Lê Văn Ức đã góp phần cùng phân đội đánh chìm 3 tàu chiến địch.


Đêm 17 tháng 7 năm 1969, Lê Văn Ức làm nhiệm vụ trinh sát dẫn đường cho đơn vị đánh tàu. Khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, địch bắn chặn đường dữ dội, anh bò sau phát hiện thấy một đồng chí bị thương, mặc dù đang lúc nguy hiểm, Lê Văn Ức kiên quyết cõng thương binh ra ngoài an toàn. Sau đó cùng tổ trở lại tìm 2 thương binh nữa đưa về đơn vị.


Đêm 19 tháng 12 năm 1969, đơn vị đang trên đường đi chiến đấu thì gặp địch phục kích; khi rút ra vị trí an toàn thấy còn thiếu 2 người, Lê Văn Ức xung phong cùng tổ trở lại, tìm đưa về 1 thương binh và 1 tử sĩ.


Đồng chí được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Lê Văn Ức được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #142 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 03:28:15 pm »

Anh hùng Triệu Tiến Xuân


Triệu Tiến Xuân sinh năm 1947 dân tộc Mán, quê ở xã Đắc Xuân, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, nhập ngũ năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, pháo thủ số 1, thuộc đại đội 3 pháo 130 tiểu đoàn 1 trung đoàn 204 Bộ tư lệnh Pháo binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1967 đến cuối năm 1968, Triệu Tiến Xuân chiến đấu tại Quảng Trị, anh trực tiếp tham gia đánh nhiều trận vào các cứ điểm, kho tàng của địch ở bờ nam sông Bến Hải. Trận đánh nào Triệu Tiến Xuân cũng bình tĩnh, dũng cảm, hiệp đồng chặt chẽ cùng đồng đội bắn chính xác. Triệu Tiến Xuân đã góp phần cùng đại đội diệt gần 500 tên Mỹ, phá hủy 7 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh của địch.


Ngày 6 tháng 3 năm 1968, đơn vị tập kích địch ở Hà Thôn, Triệu Tiến Xuân vừa làm pháo thủ số 1, vừa  làm pháo thủ số 3, vẫn thao tác kịp thời, hiệp đồng chặt chẽ cùng đồng đội bắn chính xác vào mục tiêu. Khi máy bay, pháo binh địch đánh vào trận địa, Triệu Tiến Xuân bị sức ép nặng, nhưng anh vẫn cố gắng giữ vững vị trí chiến đấu. Khi được lệnh bắn gấp, Triệu Tiến Xuân đã nạp liên tục 34 quả đạn (lúc bình thường chỉ nạp liên tục được 8 quả), góp phần tích cực cùng khẩu đội phát huy hỏa lực mạnh mẽ, bắn trúng kho đạn của địch, cháy suốt 6 giờ liền.


Ngày 20 tháng 6 năm 1968, khẩu đội Triệu Tiến Xuân bắn vào căn cứ Đông Hà, anh bình tĩnh nạp đạn cùng khẩu đội bắn, diệt nhiều tên địch. Sau đó, anh em trong khẩu đội về nghỉ ở tuyến sau; Triệu Tiến Xuân được phân công ở lại trực pháo. 10 giờ đêm, khẩu đội nhận được lệnh bắn gấp, anh em lên chưa kịp, một mình anh vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Triệu Tiến Xuân tự điều chỉnh pháo, bắn 4 quả đạn đều trúng mục tiêu. Kho địch bốc cháy dữ dội, nhiều tên địch bị chết. Tính chung trong ngày, Triệu Tiến Xuân đã góp phần cùng khẩu đội và đại đội diệt hàng trăm tên Mỹ, bắn hỏng 8 khẩu pháo, bắn cháy 7 máy bay, 12 kho đạn và xăng dầu của địch.


Triệu Tiến Xuân luôn luôn xung phong gương mẫu trong mọi công việc, tích cực học tập, giúp đỡ mọi người, khiêm tốn, giản dị, được anh em yêu mến.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải nhóng hạng ba, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Triệu Tiến Xuân được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #143 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:52:38 pm »

Anh hùng Trịnh Tố Tâm


Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ năm 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 21 công binh thuộc đoàn 4 Quân khu Trị - Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1967 đến năm Trịnh Tố Tâm tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, ở cương vị nào, anh cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trịnh Tố Tâm đã chỉ huy đơn vị đánh 58 trận, diệt 1.500 tên địch (có 700 tên Mỹ), phá hủy 61 xe quân sự, đánh lật 19 đoàn tàu hỏa, đánh sập 28 cầu, cống. Riêng anh diệt 272 tên địch, trong đó có 185 tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng.


Trịnh Tố Tâm hoạt động ở địa bàn xa căn cứ ta, địch thường xuyên càn quét nhằm đẩy lực lượng vũ trang của ta ra xa để bảo vệ giao thông của chúng. Điều kiện hoạt động vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng anh luôn kiên định, vững vàng; chỉ huy đơn vị bám đất, bám dân; kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu với phát động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng; tận tình giúp đỡ bộ đội địa phương và du kích đánh giặc.


Năm 1968, có lần Trịnh Tố Tâm đi trinh sát 3 đêm liền ở đèo Hải Vân. Phát hiện bọn lính Mỹ đi tuần, gần sáng chúng thường về cụm lại tại một điểm cao cạnh đường, anh dẫn một tổ lên đặt mìn sẵn trên điểm cao đó. Gần sáng, trung đội Mỹ về tập trung trên bãi mìn. Trịnh Tố Tâm điểm hỏa, diệt 60 tên, tổ rút về an toàn.


Đầu năm 1970, Trịnh Tố Tâm là đại đội phó. Khi đi nghiên cứu trận địa để đánh đoàn tàu hỏa địch, anh phán đoán khi đoàn tàu bị đánh thế nào địch cũng đổ quân chặn đường rút của ta. Trịnh Tố Tâm cho đơn vị gài mìn vào bãi địch có thể đổ quân. Quả nhiên, khi đoàn tàu bị đánh lật, máy bay lên thẳng của chúng liền đổ quân xuống bãi mìn. Trịnh Tố Tâm chỉ huy đơn vị cho mìn nổ và nổ súng vào cụm quân Mỹ, diệt 2 trung đội, phá hủy 2 máy bay lên thẳng.


Trịnh Tố Tâm được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 5 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Trịnh Tố Tâm được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #144 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:53:08 pm »

Anh hùng Lương Tấn Thịnh


Lương Tấn Thịnh sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nhập ngũ năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 202 đặc công bộ đội địa phương thuộc tỉnh đội Phú Yên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội, Lương Tấn Thịnh thường xuyên bám sát cơ sở, len lỏi vào các tuyến phòng thủ của địch để trinh sát; chỉ huy chiến đấu dũng cảm, mưu trí, kiên quyết tiến công tiêu diệt quân địch. Đồng chí đã tham gia đánh 120 trận, trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh 24 trận, diệt 1.000 tên địch, phá hủy 13 kho đạn, 10 khẩu đại bác, 15 xe quân sự. Riêng Lương Tấn Thịnh diệt 225 tên, phá hủy 1 xe, thu 1 súng.


Đêm 7 tháng 7 năm 1969, Lương Tấn Thịnh đánh địch ở Mò O, một mũi gặp khó khăn không lên được, anh vừa động viên đơn vị, vừa dẫn một tổ thọc sâu, đánh thẳng vào vị trí địch, tạo thuận lợi cho toàn đơn vị xung phong tiêu diệt gọn 1 đại đội địch.


Trong trận Xuân Phước ngày 28 tháng 8 năm 1970, Lương Tấn Thịnh chỉ huy đơn vị luồn qua 18 lớp rào,  bãi chông, mìn của địch, bí mật thọc sâu, bất ngờ đánh từ trong ra, diệt gọn một đại đội và 3 trung đội địch.


Lương Tấn Thịnh luôn luôn chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, được mọi người tin yêu.


Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng, 2 bằng khen.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Lương Tấn Thịnh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #145 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:53:50 pm »

Anh hùng Bùi Đức Sơn


Bùi Đức Sơn sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nhập ngũ tháng 5 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại đội trưởng đại đội 72 đặc công thuộc trung đoàn 12 Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1965 đến năm Bùi Đức Sơn tham gia chiến đấu ở chiến trường thuộc Quân khu 5, đã trực tiếp đánh 50 trận, trận nào cũng bình tĩnh, dũng cảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi làm y tá, anh chiến đấu đến cùng để bảo vệ thương binh, băng bó kịp thời và cõng 24 thương binh từ trận địa ra nơi an toàn. Khi làm cán bộ, Bùi Đức Sơn chỉ huy linh hoạt, nhiều tình huống khó khăn, ác liệt vẫn kiên quyết tiến công địch, tích cực góp phần vào chiến công chung của đơn vị. Riêng Bùi Đức Sơn đã diệt 70 tên địch (có 41 tên Mỹ), bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 kho vũ khí, thu 15 súng.


Ngày 7 tháng 2 năm 1966, Bùi Đức Sơn tham gia đánh trận Chợ Cát, diệt 12 tên Mỹ, bắn rơi một máy bay, bị thương vẫn tiếp tục chiến đấu.


Ngày 17 tháng 12 năm 1968, Bùi Đức Sơn làm y tá, cùng đơn vị đánh địch ở An Định, anh vừa băng bó, cấp cứu thương binh, vừa dũng cảm chiến đấu, diệt 9 tên địch. Khi đơn vị cơ động, Bùi Đức Sơn ở lại bảo vệ thương binh. Địch tiến công, một mình anh chiến đấu diệt thêm 3 tên. Sau đó, Bùi Đức Sơn cho nổ lựu đạn khói để che mắt địch, rồi anh cõng 1 thương binh ra nơi an toàn. Trời gần sáng, Bùi Đức Sơn cõng thương binh lên núi cất giấu, hái rau, đào củ rừng nuôi thương binh, ban đêm lại cõng thương binh tìm về đơn vị.


Trong trận đánh ở Gò Ú, Bùi Đức Sơn làm đại đội phó, chỉ huy đơn vị vào đến hàng rào thì bị lộ. Địch bắn ra ác liệt, Bùi Đức Sơn kịp thời chỉ huy bộ đội nhanh chóng thọc sâu, tạo thuận lợi cho đơn vị diệt gọn quân địch. Anh vừa chỉ huy, vừa chiến đấu dũng cảm, đánh sập 3 nhà, 1 lô cốt, diệt hàng chục tên địch, thu 1 đại liên.


Đêm 29 tháng 8 năm 1970, với nhiệm vụ đại đội trưởng, Bùi Đức Sơn dẫn đầu đơn vị đánh địch ở Kiến An. Khi gần tới vị trí chiến đấu, phát hiện địch phục kích, anh để đơn vị tạm dừng ở ngoài, còn mình bò vào kiểm tra lại tình hình địch cụ thể. Nhờ có quyết tâm cao, Bùi Đức Sơn đã động viên và chỉ huy đơn vị diệt gọn 1 đại đội và 1 trung đội địch.


Có lần Bùi Đức Sơn xông vào khu vực máy bay địch đang đánh bom, cứu sống 1 cụ già, 1 em bé, được nhân dân và đồng đội tin yêu. 


Đồng chí được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 7 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Bùi Đức Sơn được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #146 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:54:28 pm »

Anh hùng Bùi Văn Thuyên


Bùi Văn Thuyên (tức Bùi Văn Quẹo), dân tộc Kinh, quê ở xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nhập ngũ tháng 1 năm 1961, xuất ngũ năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là xã đội phó xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.    


Từ năm 1961 đến năm 1963, Bùi Văn Thuyên chiến đấu ở một đơn vị bộ đội tỉnh Tây Ninh, anh đã tham gia đánh 13 trận, cùng đơn vị diệt hàng trăm tên địch. Riêng Bùi Văn Thuyên diệt 8 tên, thu 3 súng.


Năm 1964, do yêu cầu công tác, Bùi Văn Thuyên được điều về xã Thái Bình, cùng cán bộ cơ sở thành lập đội du kích, tuyên truyền vận động nhân dân bám đất, bám làng sản xuất và chiến đấu. Đồng chí kiên trì chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, xây dựng phong trào du kích vững mạnh, chiến đấu kién cường, lập nhiều thành tích xuất sắc.


Trong 2 năm 1969 và 1970, Bùi Văn Thuyên đã cùng đội du kích đánh hàng chục trận, diệt 260 tên địch. Riêng đồng chí diệt 71 tên Mỹ, thu 5 súng, phá hủy 4 xe quân sự.


Bùi Văn Thuyên đã nhiều lần gài mìn trên đường 13 và 22, đánh sập 4 cầu, cống, diệt hàng chục tên địch.


Đặc biệt, trận đánh địch ở Bàu Sen giữa tháng 1 năm 1970, Bùi Văn Thuyên cùng một du kích đi lọt vào trận địa phục kích của địch. Vừa nổ súng thì đồng đội hy sinh, Bùi Văn Thuyên bị thương khắp người và bị ngất. Khi tỉnh dậy, thấy một khúc ruột lòi ra ngoài bụng, anh định băng thì phát hiện 3 tên Mỹ đang xáp tới. Bùi Văn Thuyên chưa kịp bắn thì 3 tên Mỹ đã nổ súng, lại bị thêm 2 vết thương nữa: 1 viên đạn xuyên từ ngực qua lưng, 1 viên vào khớp chân, anh dùng hết sức lực bắn 2 quả M79, diệt 3 tên Mỹ rồi nhét đoạn ruột vào bụng, băng lại. Bọn Mỹ đem đại liên bắn xả vào khu vực đồng chí đang nằm. Quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ tử sĩ, Bùi Văn Thuyên tiếp tục bắn hàng chục quả M79, diệt khẩu đại liên và nhiều tên địch. Bọn còn lại phải tháo chạy. Bị nhiều vết thương khắp người, sức yếu, anh gắng sức bò trên đoạn đường 400 mét tìm về đơn vị. Trong khi bò, 8 lần bị ngất, nhưng Bùi Văn Thuyên kiên quyết giữ khẩu M.79 và 3 quả lựu đạn.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 7 bằng khen và giấy khen.    


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Bùi Văn Thuyên được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:55:33 pm »

Anh hùng Mai Dinh


Mai Dinh sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đội trưởng đặc công đoàn Quyết Thắng, thành phố Hồ Chí Minh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1968 đến năm Mai Dinh tham gia chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt năm 1968, đồng chí cùng đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh vào các mục tiêu phía bắc nội thành Sài Gòn. Sau đợt này, đơn vị rút ra và bám trụ tại vùng ven, ngay sát nách Sài Gòn. Suốt 2 năm trời bám trụ trên đồng nước, làm nhiệm vụ đánh các mục tiêu chiến lược nằm trong tuyến phòng thủ ngoại vi, Mai Dinh luôn nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, vượt qua mọi nguy hiểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Mặc dù quanh năm phải sống trên đồng nước, địch càn quét liên miên, cuộc sống bị thiếu thốn mọi thứ, Mai Dinh vẫn luôn tỏ ra vững vàng, kiên định, động viên anh em trong đơn vị bám trụ làm nhiệm vụ. Trong công tác điều tra, nghiên cứu tình hình địch, nhiều khi phải lội sình, nhịn đói hai, ba ngày, anh vẫn kiên trì chịu đựng, trinh sát kỹ lưỡng, tạo điều kiện cho đơn vị tác chiến thắng lợi.


Mai Dinh đã tham gia nhiều trận đánh trong nội thành; có trận gặp tình huống gay go, anh bình tĩnh, phát huy hết sở trường và kinh nghiệm của mình, xử trí linh hoạt, kịp thời, hoàn thành nhiệm vụ với hiệu suất cao.


Đặc biệt trong trận đánh kho bom Gò Vấp, Mai Dinh được giao nhiệm vụ cùng tổ 3 người vào đánh kho. Cả tổ bám sát từ tối đến quá nửa đêm vẫn không lọt được vào khu kho. Nếu cứ ở khu cửa mở lâu thì chẳng những không đánh được mà có thể bị phát hiện. Thời gian quy định đặt mìn đã sắp hết. Trước tình hình phức tạp đó Mai Dinh hội ý anh em trong tổ, rồi quyết định để anh em ở ngoài, mình anh ôm khối thuốc nổ nặng 10 ki-lô-gam, bất chấp mọi nguy hiểm, vượt qua tường cao, lọt vào khu kho. Mai Dinh bình tĩnh tìm đúng kho bom, đặt khối thuốc nổ vào nơi có khả năng phá hủy nhiều nhất, gắn kíp hẹn giờ, rồi nhanh chóng thoát ra ngoài. Kết quả, kho bom nổ tung, đồng thời kích thích nổ sang các kho khác. Tiếng nổ kéo dài ngày đêm liền, phá hủy 35.000 tấn bom đạn của địch.


Mai Dinh luôn đi đầu trong mọi công tác, thường xuyên chăm lo xây dựng đơn vị tiến bộ về nhiều mặt, khiêm tốn, giản dị, được quần chúng tin yêu. 


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 3 bằng khen và giấy khen.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Mai Dinh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #148 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:56:12 pm »

Anh hùng Võ Thị Huynh


Võ Thị Huynh sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã An Điền, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 6 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội phó kiêm y tá thuộc đội quân y, bộ đội địa phương huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1960, Võ Thị Huynh đã tham gia hoạt động du kích tại địa phương, đưa đón cán bộ vào hoạt động trong vùng địch an toàn. Trong gia đình, lần lượt từ bố, anh em ruột, chồng con đều bị địch giết hại, chị chịu 8 cái tang trong vòng 4 năm, nhưng Võ Thị Huynh vẫn kiên trì hoạt động. Tháng 6 năm 1968, chị vừa làm hộ lý vừa học y tá tại quân y huyện Bến Cát, công tác có nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng Võ Thị Huynh luôn hết lòng phục vụ thương binh, bệnh binh. Nhiều lần, chị nhận hàng chục thương binh, vừa điều trị vừa nuôi dưỡng dưới địa đạo. Trong điều kiện khó khăn, ác liệt, lương thực, thuốc men thiếu thốn, Võ Thị Huynh tìm mọi biện pháp khắc phục, điều trị cho thương binh mau khỏi, trở về đơn vị chiến đấu. Nhiều lần máy bay, pháo binh địch đánh vào đội điều trị, chị dũng cảm cứu chữa và bảo vệ thương binh an toàn. Có thời kỳ Võ Thị Huynh phải đi đào củ rừng nuôi thương binh hơn một tháng liền. Nhiều lần Võ Thị Huynh tham gia đi khiêng thương binh từ trận địa về trạm phẫu và từ trạm phẫu ra tuyến ngoài. Hoạt động trong vùng địch kiểm soát, chị vẫn vững vàng ý chí, dũng cảm, kiên cường, luôn gương mẫu đi đầu trong khó khăn, ác liệt.


Có lần được giao nhiệm vụ đưa gần hai chục thương binh ra tuyến ngoài, trong tay không có một hạt gạo, Võ Thị Huynh vẫn vui vẻ nhận nhiệm vụ, rồi tự mình tìm kiếm lương thực cho thương binh ăn trên đường đi. Kết quả, đồng chí đã đưa được thương binh qua vùng địch kiểm soát, về tới đich an toàn.


Võ Thị Huynh luôn thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, chịu đựng gian khổ, ác liệt, thiếu thốn dài ngày, tích cực học tập văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, sống giản dị, khiêm tốn, được mọi người tin yêu.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 2 bằng khen.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Võ Thị Huynh được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #149 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 04:57:02 pm »

Anh  hùng Nguyễn Hữu Trí


Nguyễn Hữu Trí (tức Nguyễn Văn Bốn), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Vĩnh Lợi, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ tháng 10 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đoàn phó thuộc Cục Tham mưu, Bộ Tư lệnh Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Ba năm đầu nhập ngũ, Nguyễn Hữu Trí ở đơn vị chiến đấu. Những năm sau, đồng chí được điều động công tác ở phòng tham mưu Khu 8. Trong lúc thi hành nhiệm vụ bị địch bắt, chúng tra tấn nhiều đòn ác hiểm hòng khuất phục đồng chí, nhưng Nguyễn Hữu Trí vẫn giữ vững lòng trung thành với cách mạng.


Kháng chiến chống Pháp, đồng chí đã lập nhiều thành tích và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba. Năm 1954 đồng chí được ra Bắc tập kết, sau đó được chuyển về miền Nam tham gia hoạt động bí mật. 


Với tinh thần chủ động tiến công địch, dựa vào quần chúng tốt, dựa vào người thân trong gia đình, Nguyễn Hữu Trí đã nhanh chóng hợp pháp hóa, mạnh dạn mở quan hệ "đánh" vào các đối tượng hợp với nhu cầu công tác. Chỉ một thời gian ngắn đồng chí đã cung cấp nhiều tin tức và tài liệu có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc chiến đấu ở miền Nam cũng như chiến tranh phá hoại bẳng không quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.


Nguyễn Hữu Trí đã xây dựng được một "lưới" tình báo tin cậy đối với cơ quan chỉ đạo. Quá trình hoạt động, khi thấy "lưới" có khả năng bị nguy hiểm, không quản gian nguy, vượt mọi trở ngại, ra sức xây dựng tổ chức mới thay thế kịp thời để giữ nguồn tin liên lạc cho chỉ huy và lãnh đạo.


Đồng chí rất chú trọng giác ngộ cơ sở từ thấp đến cao, dám nhận công việc khó khăn nguy hiểm. Đồng chí đã bí mật đưa điện đài vào nội thành đặt ở những gia đình tin cậy, hoạt động trong thời gian dài, bảo đảm thông tin nhanh chóng với cấp trên.


Suốt 8 năm liền hoạt động giữa đô thành, Nguyễn Hữu Trí vẫn giữ vững phẩm chất, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong công tác, đồng chí luôn hăng hái, mạnh dạn; có năng lực tổ chức, bình tĩnh xử trí nhiều tình huống lúc khó khăn và làm công tác vận động quần chúng giỏi.


Nguyễn Hữu Trí đã góp nhiều kinh nghiệm tốt cho ngành, đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 20 tháng 9 năm 1971, Nguyễn Hữu Tri được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM