Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:07:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Âm mưu diệt chủng bí mật bằng AIDS  (Đọc 12319 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:03:36 am »


        Như dự đoán của các chuyên gia chiến tranh vi trùng, các vi rút quái vật gây ung thư mới được tạo ra có tác động chết người lên hệ miễn dịch. Trong một thí nghiệm được báo cáo vào năm 1974, các con tinh tinh mới sinh được tách khỏi mẹ chúng khi ra đời và được nuôi dưỡng bằng sữa lấy từ các con bò bị nhiễm vi rút. Một số con tinh tinh bị ốm và chết do hai bệnh chưa từng thấy ở tinh tinh — thứ nhất là viêm phổi pneumocystis carinii1 (sau này được gọi là “viêm phổi của người đồng tính” bị bệnh AIDS); thứ hai là bệnh bạch cầu, một bệnh ung thư máu.

        Có ít nhà khoa học tỏ ra quan tâm về sự an toàn của các phòng thí nghiệm nơi có các vi rút đột biến và vi trùng siêu đẳng nguy hiểm đó. Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong những con vi trùng công nghệ gien chết người đó thoát ra khỏi phòng thí nghiệm.

        Tháng 11 năm 1973, một hội nghị cấp cao tên là “Các tai biến trong nghiên cứu sinh học” được triệu tập ở Asilomar, gần Pacific Grove ở Bắc California. Các chuyên gia vi rút học ung thư hàng đầu đã sẵn sàng thừa nhận rằng không có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự đào thoát của các vi rút gây ung thư rất nguy hiểm đó vào cộng đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp có “tai nạn”, các kế hoạch đã được vạch ra để bảo đảm rằng việc đưa một vi rút ấy vào cộng đồng người có thể được phát hiện và điều tra.

        Tại hội nghị, các chương trình bệnh dịch học phức tạp và công phu đã được vạch ra. Các cơ quan chính phủ sẽ giám sát các nhóm hay “đám đông” người “có thể bị ảnh hưởng bởi nguy cơ” vi rút thoát ra trong tương lai. Các nhóm khác “trước đây đã bị ảnh hưởng bởi nguy cơ” của vi rút gây ung thư cũng sẽ được đặt dưới sự giám sát. Các nhà nghiên cứu ở Asilomar đã biết rõ những rủi ro nghiêm trọng của công cuộc nghiên cứu vi rút ung thư. Song họ cũng hiểu sứ mệnh khoa học của họ, là chứng tỏ rằng các vi rút ung thư của loài vật có thể gây ung thư ở người.

        Các nhà khoa học như Francis Black của Trường đại học Yale không chống lại việc chấp nhận rủi ro. “Nếu chúng ta thực sự tin vào sứ mệnh của mình là cố tìm cách kiểm soát ung thư, thì nên chấp nhận một mức rủi ro nào đấy. Nếu như, như người ta nói, năm hay mười người có thể mất mạng, điều đó có thể là một giá nhỏ để nhiều mạng người khác được cứu”.

        Khoa học và đạo đức đã chính thức cắt đứt quan hệ.

        Ngay sau khi Gallo tuyên bố vào tháng 4 năm 1984 rằng mình là người phát hiện vi rút AIDS, Luc Montagnier khẳng định mình đã phát hiện vi rút AIDS một năm trước Gallo. Montagnier, một nhà nghiên cứu ở Viện Pasteur đã cô lập được loại vi rút của mình khỏi các hạch bạch huyết bị sưng của một người Pari đồng tính đã có quan hệ tình dục ở Manhattan năm 1979. Tháng 1 năm 1983, Montagnier gửi loại vi rút của mình cho phòng thí nghiệm của Gallo để nhận dạng.

        Montagnier và Viện Pasteur giờ đây tố cáo Gallo đã ăn cắp vi rút của Pháp và trình bày với giới khoa học như là phát hiện của mình. Những người Pháp đòi hỏi rằng họ phải được công nhận là những người thực sự phát hiện ra vi rút AIDS.

        Gallo đã bác bỏ lời tố cáo, khẳng định rằng vi rút của Montagnier không phải là vi rút AIDS thực sự.

        Trung tâm kiểm soát bệnh tật đứng về phía Gallo, nhấn mạnh rằng vi rút của Pháp và vi rút AIDS của Gallo là hai loại vi rút hoàn toàn khác nhau. Cuối cùng thì hai vi rút “khác nhau” đó được chứng minh là một.

        Năm 1985, Viện Pasteur đệ đơn kiện Chính phủ Mỹ. Những người Pháp biện luận rằng họ là những người thực sự phát hiện vi rút AIDS, và họ muốn được hưởng toàn bộ phần lợi tức của mình từ công nghiệp AIDS mới. Các luật sư Pháp nói bóng gió về những điều không đúng về mặt khoa học và những sự thay đổi các tài liệu khoa học về phía những người Mỹ. Các luật sư cũng biết về những sai lầm nghiêm trọng trước kia của Gallo trong việc nhận dạng vi rút. Chẳng hạn, “phát hiện” năm 1975 của Gallo về một vi rút HL-23 “mới” và “của người” cuối cùng được chứng tỏ là ba loại vi rút khỉ không đuôi bị nhiễm trùng (vi rút vượn, vi rút ung thư mô liên kết của khỉ, và vi rút nội sinh khỉ mõm chó). Gallo kêu là ông ta không hiểu tại sao các vi rút đó đã nhiễm vào nghiên cứu của ông.

        Chứng cớ pháp lý khác còn tai hại hơn. Gallo đã nói đi nói lại rằng vi rút của Montagnier không phải là vi rút thật. Ông ta cũng khẳng định vi rút của Montagnier không nhiễm vào các chỗ nuôi cấy của ông. Nhưng việc điều tra sau này chứng tỏ rằng hai loại vi rút AIDS đó chỉ là một loại mà thôi. Các luật sư Pháp có thể dễ dàng chứng minh Gallo đã ăn cắp vi rút AIDS của Montagnier.

-------------------
        1. Xem chú thích trang trước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:03:59 am »


        Đầu năm 1987, Thủ tướng Pháp và Tổng thống Ronald Reagan can thiệp vào vấn đề đang ngày càng nhạy cảm đó. Sau các cánh cửa đóng kín, người ta đã quyết định rằng việc tranh cãi khoa học về AIDS ở trước tòa sẽ có thể gây ra những rắc rối to. Vấn đề chiến tranh vi trùng là đặc biệt nhạy cảm. Và không chính phủ nào muốn có bất kỳ sự ám chỉ bóng gió nào về chiến tranh vi trùng được đưa ra trước công chúng.

        Người ta đã có một cuộc dàn xếp nhanh chóng bên ngoài tòa án với số tiền không được tiết lộ, và công chúng mất dấu một vụ xì căng đan khoa học của thế kỷ. Người Pháp được chính thức chấp nhận là những người cùng phát hiện ra vi rút AIDS, và năm sau Gallo và Montagnier cùng bắt đầu thu 100.000 đôla hằng năm từ bản quyền phát minh về thử máu dùng để phát hiện các kháng thể vi rút HIV.

        Câu chuyện nguồn gốc từ khỉ của Gallo vẫn còn là câu chuyện AIDS chính thức. Dẫu sao thì một số rạn nứt trong thuyết khỉ đã xuất hiện trên sách báo. Ngày 2 tháng 6 năm 1988, một bài nhan đề “Nghiên cứu bác bỏ ý kiến cho rằng vi rút AIDS ở người bắt nguồn từ khỉ” xuất hiện trên tờ Thời báo Los Angeles. Trong quá trình giải mã và so sánh cấu trúc gien của vi rút khỉ với vi rút AIDS của người, các nhà sinh học phân tử Nhật Bản phát hiện ra rằng các chuỗi gien của hai loại vi rút đó khác nhau hơn 50%. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu kết luận rằng không có mối quan hệ gien giữa khỉ xanh và vi rút AIDS. Phát hiện của các nhà sinh học phân tử Nhật Bản hoàn toàn trái ngược với quan điểm chính thức của Gallo và Essex.

        Các nhà điều tra Nhật Bản đặc biệt phê phán Myron (Max) Essex và Phyllis Kanki của Khoa Y trường Đại học Havard, là những người “đã phát hiện” một vi rút AIDS thứ hai ở khỉ xanh châu Phi mà ban đầu đã được thông báo trong giới y học và giới truyền thông. Nhưng loại vi rút AIDS “thứ hai” của Essex và Kanki tỏ ra là một loại vi rút “ô nhiễm” khác. Nguồn gốc của vi rút khỉ ô nhiễm được dò ra là ở phòng thí nghiệm riêng của các nhà nghiên cứu ở Đại học Havard.

        Nếu vi rút AIDS của người không liên quan tới khỉ xanh châu Phi thì nguồn gốc của nó là gì? Theo Robert Steinbrook, người viết về những vấn đề y học trên tờ Thời báo Los Angeles: “Những phát hiện mới (của Nhật Bản) hỗ trợ những cách giải thích khác về nguồn gốc vi rút AIDS của người. Đó là, chúng khởi đầu từ những tổ tiên chung của người và linh trưởng, chúng hiện diện trong các nhóm người biệt lập vài trăm hay vài nghìn năm, hay sự tồn tại của vi rút giống như AIDS nguyên mẫu trước đây chưa được nhận ra, lần đầu tiên nhiễm sang người trong thời hiện đại. Tôi cố hiểu người viết định nói gì, nhưng dường như đó là cách nói lập lờ để che dấu tư tưởng khoa học rối rắm và nguồn gốc thật sự của HIV.

        Phi vụ làm ăn từ con khỉ của Gallo thật ra là một sự xào nấu sự thật và viễn tưởng. Điều rõ ràng là vị chuyên gia vi rút hàng đầu thế giới ấy không thể bao giờ cũng phân biệt được giữa các vi rút ở loài vật và vi rút ở người, cũng không thể lúc nào cũng phân biệt được các vi rút phòng thí nghiệm ô nhiễm với vi rút thực. Tuy vi rút HIV của ông và vi rút của Pháp được chứng minh là đồng nhất, ông ta vẫn khẳng định chúng là những vi rút hoàn toàn khác nhau. Thế mà ông vẫn là vị vua về AIDS, được kính trọng, tôn vinh, được thưởng và thưởng hậu hĩ bởi giới quan chức khoa học và y học.

        Gần đây vương quốc của Gallo tại Viện Ung thư quốc gia có dấu hiệu sụp đổ. Các nhà điều tra độc lập tại Viện Ưng thư quốc gia đã kết luận rằng ông đã giả mạo và mạo nhận các ấn phẩm khoa học của mình. Tiến sĩ Prem Sarin, nguyên phó phòng của ông ở phòng thí nghiệm Viện Ưng thư quốc gia, bị bồi thẩm đoàn truy tố về tội đã nhận tiền bất hợp pháp từ một công ty thuốc và dối trá trong các bản khai tài chính. Các viên chức Viện Y tế quốc gia tố cáo Gallo có hành vi vô đạo đức và kiến nghị vĩnh viễn không cho Mikulas Poporic, phó phòng hiện nay của ông, được nghiên cứu y học.

        Hòa cùng những phiền toái khoa học hiện tại của Gallo là những lời ầm ỹ trong giới truyền thông gợi ý rằng AIDS có thể đã bắt đầu từ các cuộc thử nghiệm trên người hay các vắc xin bị nhiễm trùng.

        AIDS có phải là một bệnh dịch do người tạo ra? Một số câu chuyện trên sách báo những năm 1991-1992 dường như chỉ theo hướng đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:05:04 am »


6. NHỮNG NGUỒN GỐC CỦA HIV

        Cuối những năm 1980, giới truyền thông trước kia mê mẩn Gallo nay trở nên chê bai đạo đức của ông và “phát hiện” của ông về vi rút AIDS. Câu chuyện khỉ xanh và quan điểm AIDS “từ châu Phi” vẫn còn lan truyền rộng rãi, nhưng các thuyết khác về nguồn gốc của AIDS đã được phép trình bày.

        Ngày 11 tháng 5 năm 1987, một câu chuyện rất quan trọng về AIDS xuất hiện trên trang đầu của tờ Thời báo Luận , một trong những tờ báo uy tín nhất thế giới. Tiêu đề bài báo là “Vắc xin đậu mùa kích hoạt vi rút AIDS”. Câu chuyện do biên tập viên khoa học Pearce Wright viết, gợi ra rằng chương trình vắc xin xoá bệnh đậu mùa do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bảo trợ chịu trách nhiệm về việc để AIDS lan tràn ở châu Phi.

        Giữa những năm từ 1966-1977, hầu hết 100 triệu người da đen sống ở Trung Phi đã được

        WHO tiêm chủng. Giờ đây các nhà khoa học đoán rằng vắc xin đậu mùa có thể đã đánh thức sự lây nhiễm của vi rút AIDS “đang ngủ” trên lục địa này.

        Pearce Wright nhận xét rằng mối liên quan của vắc xin đậu mùa với AIDS có thể giải thích tại sao Braxin, nước Nam Mỹ duy nhất được nằm trong chiến dịch xóa bệnh của WHO, có số trường hợp AIDS cao nhất trong khu vực. Ngoài ra, xấp xỉ 14.000 người Haiti làm việc ở Trung Phi đã được tiêm chủng trong chiến dịch đậu mùa, điều đó giải thích tại sao AIDS cũng bùng phát ở Haiti.

        Một viên chức WHO thừa nhận: “Bây giờ tôi tin thuyết vắc xin đậu mùa là lời giải thích cho sự bùng nổ AIDS ở châu Phi”. Robert Gallo nói thêm: “Mối liên hệ giữa chương trình của WHO và bệnh dịch là một giả thuyết quan trọng và đáng chú ý. Tôi không thể nói rằng nó thực sự đã xảy ra, nhưng tôi cho rằng trong một số năm việc sử dụng vắc xin sống như loại dùng cho bệnh đậu mùa có thể đã kích hoạt nguồn lây nhiễm đang ngủ như HIV”.

        Phóng viên Jon Rappoport nghiên cứu câu chuyên của tờ Thời báo và viết một bài ngắn cho tờ Tuần báo Los Angeles (5/6/1987). Khi được Rappoport hỏi, các chuyên gia y học địa phương có xu hướng nghi ngờ thuyết vắc xin: “Hãy nói với tờ tuần báo rằng vắc xin đậu mùa có lẽ không phải là cái kích hoạt AIDS, mà nếu như nó liên quan đến AIDS - có nhiều lý do để nghi ngờ điều này - thì nó đúng hơn là vật đã mang các vi sinh vật gây ra AIDS mà không được nhận ra”.

        Rappoport hoang mang vì tại sao không thấy nói gì đến câu chuyện đậu mùa trên các phương tiện truyền thông chính của Mỹ. Ông đã tiếp xúc với các phát ngôn viên của Associated Press (Hiệp hội Báo chí) ở Boston, Washington và New York; Reuters ở Liên Hợp Quốc và Liên đoàn Báo chí quốc tế ở New York. Tất cả các cơ quan đó “nói rằng họ không nghe nói gì về câu chuyện từ Luân Đôn”.

        Sau khi câu chuyện đó bị ỉm đi ở Mỹ, Gallo không bao giờ nêu lại vấn đề đậu mùa trong công luận. Việc ém nhẹm hoàn toàn tin tức về mối liên quan giữa vắc xin đậu mùa với AIDS là một ví dụ nổi bật cho người ta thấy rõ các cơ quan truyền thông chủ yếu đang bị kiểm soát và kiểm duyệt ở Mỹ.

        Trong những năm 1966-1967, Tổ chức Y tế thế giới quản lý 2,4 tỷ liều vắc xin đậu mùa trên toàn thế giới. Có thể nào một số lô vắc xin trong số đó chứa vi rút chế tạo bằng công nghệ gien nhằm mục đích chiến tranh vi trùng không? Theo Những phát súng thần kỳ của Allan Chase “Liên Xô tặng 140 triệu liều vắc xin, Mỹ 40 triệu, hai mươi quốc gia khác tổng cộng tặng 220 triệu liều khác”. Số còn lại hai tỉ liều vắc xin được chế trong các phòng thí nghiệm mới lập ở các nước thế giới thứ ba với sự giúp đỡ của các chuyên gia WHO”.

        Liệu AIDS có được đưa vào nhiều triệu người châu Phi trong chương trình vắc xin của WHO không? Các tế bào người và động vật chứa chấp mọi loại vi rút, bao gồm các vi rút vẫn chưa được khám phá. Việc nuôi cấy tế bào mô động vật thường được dùng trong chế tạo các vắc xin chống vi rút. Do đó, khả năng nhiễm vi rút động vật vào vắc xin là một mối nguy hiểm thường trực trong sản xuất vắc xin của ngành dược.

        Phần lớn mọi người cho là vắc xin “vô trùng” và không có mầm bệnh. Các dụng cụ và hàng y tế có thể tẩy trùng bằng lò hấp ở nhiệt độ và áp suất cao. Tuy nhiên, việc khử trùng vắc xin sẽ làm hỏng prôtêin miễn dịch cần thiết trong vắc xin. Như vậy, vắc xin có thể được “khử hoạt tính”, nhưng không phải là vô trùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:05:27 am »


        Mặc dầu rất cẩn thận tỉ mỉ trong chế tạo vắc xin cho người, người ta biết rằng các vi rút động vật gây lây nhiễm vẫn sống sót qua quá trình chế vắc xin. Trong những năm 1950, hàng triệu người đã được tiêm các vắc xin bại liệt tình cờ bị nhiễm vi rút khỉ gây ung thư tên là “SV 40”. Nguồn vi rút động vật này là các tế bào thận khỉ xanh sử dụng trong sản xuất vắc xin bại liệt. Các vấn đề nhiễm trùng vắc xin như vậy được giữ kín trước công luận, và mặc dầu biết trước có nguy hiểm, các công ty thuốc và các thầy thuốc thường bất chấp các ý kiến cho rằng AIDS có thể đã nảy sinh từ các vắc xin động vật bị nhiễm vi rút.

        Các vi rút ung thư động vật cũng có trong huyết thanh bê bào thai, một sản phẩm của máu thường sử dụng như chất dinh dưỡng trong phòng thí nghiệm để nuôi cấy tế bào mô động vật và người. Kết quả là các vi rút chứa trong huyết thanh bê có thể dịch chuyển như “các nhân tố lây nhiễm” vào sản phẩm vắc xin cuối cùng.

        Vấn đề nhiễm trùng vắc xin bởi huyết thanh bê bào thai và mối liên hệ có thể có với HIV là chủ đề một bức thư của J.Grote nhan đề “Vi rút visna bò và nguồn gốc HIV”, được công bố trên Tập san của Hội Y học Hoàng gia ( Đôn) tháng 10 năm 1988. Vi rút visna bò (trông tương tự HIV) được biết đã lây nhiễm sang huyết thanh bê bào thai dùng để sản xuất vắc xin. Bằng kính hiển vi cực mạnh, các hạt trông giống như vi rút đã bị phát hiện trong các vắc xin được chứng nhận dùng cho lâm sàng. Grote cảnh báo: “Dường như điều hết sức cốt tử là mọi vắc xin phải được xét nghiệm HIV trước khi dùng, và vi rút visna bò phải được tiếp tục điều tra về mối quan hệ với HIV và vai trò nhân quả có thể của nó trong sự tiến hóa thành AIDS”.

        Hàng triệu người châu Phi bây giờ bị nhiễm vi rút AIDS. Một số lớn người như vậy hẳn không thể bị lây nhiễm trong một thời gian ngắn chỉ bởi tác động của vi rút khỉ xanh “nhảy loài” sang một người châu Phi. Lời giải thích logic nhất về sự lây nhiễm hàng triệu người châu Phi da đen là: các vắc xin sử dụng trong các chương trình tiêm chủng hàng loạt của WHO đã bị nhiễm vi rút sản sinh ra AIDS.

        Sự lây nhiễm đó là tình cờ hay có dụng ý? Việc chế tạo vắc xin đậu mùa trong những con bê là một “quá trình sạch” nhưng không phải là một quá trình vô trùng. Bị trói vào cái bàn mổ, các con bò cái bị giết và rồi treo ngang từ trên trần trong bảy ngày để làm vắc xin. Sau đó, các con bê con bị rạch và rút kiệt máu. Trong khi sản xuất vắc xin không thể ngăn ngừa sự lây nhiễm các vi rút bò. Các chi tiết kỹ thuật chính xác cho việc sản xuất vắc xin đậu mùa được Cơ quan quản lý dược - thực phẩm Hoa Kỳ và WHO thiết lập.

        Vi rút đậu mùa (bệnh đậu bò) cũng là một vi rút rất tốt dùng cho các mục đích công nghệ gien. Bằng cách cấy ghép vào các gien ADN của vi rút đậu bò, các nhà khoa học có thể gắn thêm các phần của vi rút sinh bệnh khác như cúm, viêm gan và các bệnh khác. Sự an toàn của công nghệ gien mới này vẫn chưa được xác định đầy đủ.

        Tiến sĩ Frederich Deinhardt ở Munich, Đức nói lên sự lo lắng về những mối nguy tiềm tàng của các vắc xin “tái tổ hợp” tại Hội nghị vắc xin bệnh đậu bò, được tổ chức tại Chevy Chase, Maryland tháng 11 năm 1984. Liệu một vi rút được đưa vào vắc xin đậu mùa có “ổn định về mặt di truyền”? Giả sử vi rút Epstein-Barr (vi rút đi kèm “hội chứng mệt kinh niên” giống như AIDS) được gắn vào vi rút đậu bò - đậu mùa, thì điều gì sẽ xảy ra “nếu một vi rút như vậy đột nhiên nhiễm vào và nhân lên trong các tế bào B của người”? (Giống các tế bào T, các tế bào máu trắng B rất cần thiết cho bảo vệ miễn dịch).

        Sau đó Deinhardt hỏi một câu hỏi có ý nghĩa sâu sắc đối với thính giả tại hội nghị vắc xin cao cấp nhất đó: “Liệu chúng ta có một AIDS B không?”. Nhà khoa học Đức này tuyệt đối nghiêm túc. “Tôi không có ý đùa cợt về việc này”, ông nói thêm. Sau khi nêu câu hỏi về độ an toàn của vắc xin, mà không có câu trả lời nào,

        Deinhardt kết luận: “Thực sự có rất nhiều yêu cầu nghiên cứu cơ bản cần được chú ý đến”.

        Không cần biết đến những lo lắng và nguy hiểm đó, quá trình chế tạo gien tái tổ hợp đó cứ tiếp tục. Một vi rút được gắn vào một vi rút khác trong sự hỗn loạn vô tận - và năm này qua năm khác nguy cơ về các bệnh mới “do người tạo ra” cho người và động vật trở nên ngày càng lớn hơn.

        Đối với những người quan sát và người nghiên cứu âm mưu vi rút, “khoa học” xung quanh AIDS đưa ra nhiều câu hỏi. Đâu là nguồn gốc thật của các vi rút đột biến lạ lùng đó? Làm thế nào có thể xác định vi rút nào xuất hiện “trong tự nhiên” và vi rút nào do con người tạo ra trong phòng thí nghiệm bằng công nghệ tái tổ hợp gien. Vi rút nào là “của người” và vi rút nào đến từ các động vật?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:05:45 am »


        Nhà thú y Max Essex, cũng như Robert Gallo, đôi khi cũng vấp phải vấn đề nhầm lẫn vi rút này sang vi rút khác. Essex là nhà nghiên cứu AIDS đứng thứ hai trong nước. Những thử nghiệm trước khi có AIDS của ông với retrovirus của mèo giống như AIDS đã khiến ông nổi danh như một nhà vi rút học động vật hàng đầu. Năm 1986, Essex và đồng nghiệp của mình là Phyllis Kanki công bố khám phá của họ về một loại vi rút AIDS (HTLV-4) “mới” trong các mẫu máu của những người Tây Phi khỏe mạnh. Cái ông Luc Montagnier của Viện Pasteur lúc nào cũng có mặt lại kêu lên rằng ông ta là người đã khám phá ra virút HTLV-4 đầu tiên. Montagnier cũng đã phát hiện thấy vi rút này trong máu người Tây Phi và đặt tên là LAV-2.

        Để làm phức tạp thêm các vấn đề khoa học, loại vi rút HTLV-4 của Essex có sự tương đồng nổi bật với retrovirus khỉ tên là STLV-3. Người viết về y học và cũng là thầy thuốc Lawrence K.Altman của tờ Thời báo New York (9/4/1987) đã bàn về tình trạng khó xử đó trong một bài báo nhan đề “Hai loại vi rút AIDS thực sự tương tự đã làm nảy sinh vấn đề mới trong công tác nghiên cứu”. Altman viết: “Liệu có loại vi rút khỉ khác nhảy loài vào dân châu Phi da đen không? Nếu điều đó là thực, loại vi rút đó hẳn có thể đã tiến hóa thêm thành vi rút AIDS, tuy các nhà khoa học không có chứng cớ trực tiếp về điều đó”.

        Người viết cho tờ Thời báo Los Angeles, Robert Steinbrook tuyên bố điều bí ẩn đó đã được giải quyết ngày 18 tháng 12 năm 1988. Loại vi rút HTLV-4 mới “của người” của Essex hóa ra là một loại vi rút khỉ đã tình cờ nhiễm vào các mẫu máu người của Essex. Nguồn lây nhiễm từ khỉ là do các mẫu máu của một con khỉ được cho nhiễm thử nghiệm một loại vi rút giống như AIDS tại Trung tâm Nghiên cứu Linh trưởng thuộc khu vực New England ở Southborough, Massachusetts.

        Rõ ràng các chuyên gia vi rút danh tiếng nhất thế giới gặp khó khăn khi xác định nguồn gốc các loại vi rút. Vi rút bắt nguồn từ người hay động vật, hay nó đến từ một phòng thí nghiệm? Câu trả lời chính xác dường như phụ thuộc vào uy tín của chuyên gia vi rút. Robert Steinbrook đưa ra lời cảnh báo từ Carol Mulder của Trường Đại học Y Massachusetts: “Câu chuyện này cần coi như một lời cảnh báo mạnh mẽ đối với tất cả các chuyên gia vi rút để kiểm tra mọi loại vi rút mới được phát hiện, đối chiếu với các loại vi rút đã có trong phòng thí nghiệm”.

        Tuy các nhà khoa học Nhật Bản kết luận không có mối quan hệ di truyền giữa vi rút khỉ xanh châu Phi và vi rút AIDS, các chuyên gia vi rút hàng đầu của Mỹ cứ bám chặt lấy thuyết khỉ về nguồn gốc AIDS. Jonas Salk, người khởi đầu thần thoại của vắc xin bại liệt đã công bố rằng vi rút khỉ thoát vào cộng đồng người khoảng 900 năm trước đây. Ông tin rằng những người châu Phi đã chết vì bệnh AIDS không được chuẩn đoán ra trong nhiều năm. Ý kiến cho rằng HIV tiên hóa từ các thí nghiệm động vật do các chuyên gia vi rút và các bác sĩ thú y thực hiện, đã không bao giờ được xem xét. Điều gì xảy ra đôi với các con vật sau khi chúng được sử dụng trong các cuộc thử nghiệm vi rút ung thư? Có phải chúng đều bị giết sau khi thử?

        Trong cuốn Cuộc truy lùng những kẻ giết người, June Goodfleld quả quyết rằng các con tinh tinh sử dụng cho cuộc thử nghiệm viêm gan B đến từ hai khu động vật: một khu ở Louisiana và khu kia từ một đảo ngoài khơi bờ biển châu Phi của Liberia. Các con tinh tinh là những động vật duy nhất dễ mắc vi rút viêm gan B của người. Bà nói rằng, những con vật này không bị giết sau khi chúng được tiêm vắc xin viêm gan B. Sau thí nghiêm, các con tinh tinh được trả về khu vực thuộc Louisiana; còn các con tinh tinh Liberia được dần dần thích ứng lại với đời sống hoang dã.

        Người ta không biết bao nhiêu động vật ở phòng thí nghiệm được trả về môi trường ban đầu của chúng. Tuy nhiên, việc chuyển các con vật trong phòng thí nghiệm đã bị nhiễm vi rút vào môi trường tự nhiên có thể giải thích “nguồn gốc” của một số vi rút được phát hiện thấy động vật “hoang dã”.

        Năm 1991, giới truyền thông đưa ra một thuyết mới gợi ý rằng AIDS châu Phi có thể đã bùng phát do các cuộc thử nghiệm về bệnh sốt rét tiến hành trong những năm 1950 và trước nữa. Sự náo động được khơi mào nhờ một bài báo đăng trên tờ Nature  (Thiên nhiên) ra ngày 28 tháng 11 năm 1991: “AIDS; các con khỉ và bệnh sốt rét” của tác giả Charles Gilks, một nhà nghiên cứu ở Oxford và Viện nghiên cứu Y học Kênya.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:06:14 am »


        Khi lục qua sách báo y học châu Phi cũ, Gilks thấy các thí nghiệm y học trong đó các nhà nghiên cứu tiêm vào chính họ máu của tinh tinh và khỉ xồm đuôi dài nhằm xác định xem ký sinh trùng sốt rét của động vật có chuyển sang người được không. Các nghiên cứu đó có vài chục người tham gia. Gilks tự hỏi: “Các retrovirus của linh trưởng có thể đã được truyền sang người hay các con khỉ khác do các thí nghiệm với bệnh sốt rét của linh trưởng hay không? Câu trả lời cho câu hỏi đó có thể giải thích nguồn gốc bệnh dịch AIDS. Hy vọng rằng những ai tiếp cận tài liệu này sẽ kiểm tra giả thuyết của tôi để cuộc tranh luận về nguồn gốc của AIDS có thể trở nên khoa học hơn”.

        Vài tháng sau khi trình bày thuyết sốt rét của Gilks, giới truyền thông quay sang một thuyết có tính khiêu khích khác công bố trong tạp chí Rolling Stone (Đá lăn) ra ngày 19 tháng 3 năm 1992: “Nguồn gốc của AIDS: một thuyết mới gây sửng sốt nhằm trả lời câu hỏi: Đó là hành động của Chúa hay một hành động của con người?”. Phóng viên Tom Curtis cho rằng cuộc bùng phát ở châu Phi có thể là do các vắc xin bại liệt bị nhiễm “SV 40”, một vi rút khỉ. Giữa những năm 1954 và 1963, ba mươi triệu người châu Phi đã được tiêm vắc xin bại liệt.

        Vì không có các mẫu vắc xin gốc để kiểm tra, các chuyên gia vi rút mau chóng chỉ ra rằng thuyết của Curtis không thể được chứng minh hay bác bỏ. Curtis tất nhiên hỏi ý kiến chuyên môn của Gallo, kết quả là có năm đoạn thông tin khó hiểu về vi rút của Gallo được đăng báo. Song khi Curtis báo cho Gallo về việc chuẩn bị và phân phát vắc xin bại liệt trong những năm 1950, Gallo thừa nhận rằng sự lây nhiễm AIDS theo cách đó là “có khả năng về lý thuyết”. Cả Gallo lẫn Curtis đều không nhắc đến mối liên hệ của vắc xin đậu mùa với AIDS vốn là các đề tài trên tờ Thời báo Luân Đôn hồi tháng 5 năm 1987.

        Sự liên hệ của vắc xin bại liệt với AIDS được lan truyền rộng rãi trên đài phát thanh và truyền hình. Nhưng câu chuyện “SV 40” chỉ là tin cũ đối với các nhà hoạt động chống vắc xin, những người đã nói nhiều năm rằng vắc xin bị nhiễm trùng có thể nguy hiểm. Dẫu thế nào thì câu chuyện của Curtis cũng quan trọng vì nó báo động cho công chúng việc vắc xin thương mại có thể chứa các vi rút động vật gây ung thư.

        Tờ Tin tức Mỹ và Báo cáo Thế giới (30/3/1992) đăng thuyết vắc xin trên trang bìa và nhắc độc giả về các thuyết AIDS khác. “Thuyết vắc xin bại liệt chắc chắn không phải là ý đồ đầu tiên giải thích nguồn gốc của AIDS, và nó cũng không phải là thuyết lạ lùng nhất. Còn có thuyết “tình dục kỳ quái”, dựa trên các báo cáo rằng có những bộ lạc ở Tây Phi tiêm máu khỉ vào đùi và lưng để tăng hưng phấn tình dục. Năm ngoái, một bức thư xuất hiện trên tập san y học Anh Lưỡi dao , nói đến những ý đồ kỳ quặc không kém (không kể là thất bại) của các bác sĩ châu Âu trong những năm 1920 muốn tăng cường năng lực tình dục yếu kém của những đàn ông có tuổi bằng cách tiêm một chất lấy từ tinh hoàn khỉ”.

        Câu chuyện vắc xin viêm gan B và chuyện vắc xin đậu mùa của WHO được giữ bí mật không cho công chúng Mỹ biết. Nhưng giờ đây khi mà công chúng đã được biết các cuộc thí nghiệm bệnh sốt rét và các vắc xin bại liệt bị nhiễm trùng có thể là những nguồn gốc của AIDS, Strecker và tôi không hiểu có phải giới truyền thông đang chuẩn bị tinh thần cho công chúng về một câu chuyện lôgic hơn rằng AIDS là căn bệnh do con người gây ra bằng vi rút công nghệ gien trong phòng thí nghiệm hay không.

        Tất cả những sự không bình thường đó của khoa học về AIDS không thể qua mặt các nhà điều tra và nghiên cứu về âm mưu đang tìm kiếm sự thật về nguồn gốc của AIDS. Jonathan Vankin ghi nhận rằng nhiều nghiên cứu do chính phủ Mỹ bảo trợ là bí mật - còn các nghiên cứu khác chỉ các nhà khoa học khác hiểu được. Trong cuốn Âm mưu, giấu giếm và tội ác: Sự điều khiển và kiểm soát ý nghĩ ở Mỹ, Vankin viết: “Sự hiểu biết khoa học của công chúng thì hạn hẹp, phụ thuộc hoàn toàn vào phía thứ ba là những người giải thích và các chuyên gia giỏi, những người có những mối quan tâm riêng. Vì thế mà hiểu biết chung về khoa học, và quan trọng hơn là hiểu khoa học vận hành ra sao, là cực thấp. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đang có được sự thật khách quan, khi thực sự thấy là một quá trình chính trị mang nặng tính cá nhân, bao gồm hàng tỉ đô la, những danh tiếng lớn, những cái tôi và các hệ thông đức tin đã và đang kiểm duyệt những khoảng lớn sự thật và lý thuyết”.

        Vankin có tin AIDS là “một thử nghiệm khoa học ma quỷ” hay không? Ông giải thích: “Ai biết được? Chính tôi có khuynh hướng nghi ngờ nó. Dĩ nhiên nó có thể, vì khi nó đã xảy ra, không ai ở cương vị thực hiện một điều như vậy lại cho rằng đó là thử nghiệm ma quỷ”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2020, 11:07:22 am »


7. AIDS: CĂN BỆNH MỚI HAY CŨ?

        AIDS có được “đưa” vào cộng đồng đồng tính thông qua thử nghiệm viêm gan B ở thành phố New York tháng 11 năm 1978 hay không? Hay HIV có trong dân đồng tính ở Manhattan trước năm đó? Những câu hỏi quan trọng đó chưa bao giờ được trả lời đầy đủ bởi cơ quan có thẩm quyền về AIDS.

        Có sự nhất trí chung là các mẫu máu cũ (trước năm 1978) của người Mỹ đều có xét nghiệm âm tính đôi với các kháng thể HIV. Đây là lý do tại sao hầu hết các nhà dịch tễ học tin HIV được đưa vào Mỹ khoảng năm 1978.

        Các mẫu máu trước năm 1978 lấy từ những người đàn ông đồng tính trong cuộc thử nghiệm viêm gan của Szmuness có xét nghiệm âm tính với HIV. Tuy nhiên, việc xem xét các mẫu máu của các năm 1978-1979 lưu giữ tại Trung tâm Máu thành phố New York được báo cáo là có 6,6% số người đồng tính được tiêm vắc xin viêm gan là dương tính HIV.

        Làm thế nào mà những người đồng tính trở thành dương tính HIV trong năm 1978? HIV có mặt ở thành phố New York trước năm 1978 hay không? Và nếu HIV có mặt trong dân đồng tính trước năm 1978, vi rút đó có nhiễm vắc xin của Szmuness được làm từ máu của những đàn ông đồng tính mang vi rút viêm gan B hay không?

        Không có lẽ nguồn lây nhiễm của HIV là máu gom lại của dân đồng tính được dùng để làm vắc xin thí nghiệm, vì phải mất 65 tuần lễ để chế tạo vắc xin. Điều đó có nghĩa là việc sản xuất vắc xin của Szmuness bắt đầu từ năm 1977. Nếu HIV đã có trong cộng đồng người đồng tính Manhattan từ năm 1977, thì một số mẫu máu người đồng tính phải có xét nghiệm dương tính. Nhưng, như đã nói, các xét nghiệm máu người đồng tính năm 1977 là âm tính HIV.

        HIV có được “đưa vào” vài trăm người đồng tính tình nguyện đã được tiêm vắc xin trong các tháng trước khi cuộc thử nghiệm của Szmuness chính thức bắt đầu tháng 11 năm 1978 hay không? Khả năng này không thể bỏ qua.

        Mặc dầu các câu hỏi đó không được trả lời, dường như rõ ràng rằng nguồn gốc của vi rút AIDS là từ cuộc thử nghiệm với dân đồng tính của Szmuness. Hơn nữa, không có trường hợp nào chứng minh có AIDS ở Manhattan được ghi trong các năm 1976, hoặc 1977 hay 1978. Theo các nhà dịch tễ học của Trung tâm kiểm soát bệnh tật, trường hợp chứng minh có AIDS đầu tiên ở người đồng tính xuất hiện ở Manhattan năm 1979, một thời gian ngắn sau khi cuộc thử nghiệm bắt đầu.

        Năm 1982, một năm sau khi “chính thức” diễn ra dịch AIDS, 30% số đàn ông trong cuộc thử nghiệm của Szmuness là dương tính HIV. Trong đó, mức lây nhiễm cực cao ấy cũng là mức nhiễm HIV cao nhất chưa từng ghi nhận đối với bất kỳ nhóm “nguy cơ cao” nào trong các sách báo y học về AIDS. Mức 30% của năm 1982 đó vượt xa mức lây nhiễm đối với bất kỳ dân cư nào của châu Phi, nơi mà Gallo và những người khác khẳng định căn bệnh này đã tồn tại “hàng thập kỷ” hay “hàng nghìn năm”.

        Năm 1981, mười hai năm sau khi “chính thức” bắt đầu của dịch AIDS, không một chuyên gia nào về AIDS từng bình luận về mối liên quan rõ rệt giữa cuộc thử nghiệm trên dân đồng tính và sự bùng phát đặc biệt của AIDS trong cộng đồng đồng tính.

        Sau khi Tiến sĩ Robert Strecker công bố quan điểm của mình năm 1986, và sau khi cuốn sách AIDS và các bác sĩ thần chết được xuất bản năm 1988, các chuyên gia đã phát minh những thuyết mới để giải thích AIDS đã bắt đầu ra sao trong cộng đồng đồng tính nam. Tiến sĩ Strecker và tôi cho là các nhà nghiên cứu AIDS của Chính phủ Mỹ đang tung ra những câu chuyện cho giới truyền thông nhằm đánh bại nghiên cứu của chúng tôi về nguồn gốc của AIDS.

        Tiến sĩ Mathilde Krim, đồng Chủ tịch (cùng với Elizbeth Taylor) của Tổ chức Nghiên cứu AIDS của Mỹ, cũng trình bày một thuyết khác nhưng nó nhanh chóng biến mất. Trong tạp chí Phỏng vấn (tháng 2 năm 1987) Krim giải thích AIDS đã bắt đầu trong cộng đồng đồng tính như thế nào: “Chúng ta có lẽ đã bắt đầu đưa AIDS vào những người đàn ông đồng tính bằng cách tiêm chủng họ với globulin gama bị lây nhiễm, có lẽ đó là những gì đã xảy ra”. (Globulin gama là một sản phẩm máu tiêm được, hiện diện kháng nguyên, đôi khi được sử dụng để tạm thời tăng cường sự miễn dịch chống lại bệnh tật như viêm gan và các bệnh do vi rút khác).

        Theo Krim, máu gom lại được dùng trong sản xuất globulin gama đã tình cờ bị nhiễm vi rút AIDS. Máu bị nhiễm đó có lẽ lấy từ các tù nhân bị giam ở châu Phi và Caribê. Bà ta mau chóng bác bỏ mọi sự liên hệ với cuộc thử nghiệm viêm gan B năm 1978 bằng cách tuyên bố (sai lầm) rằng “chúng ta đã có các ca AIDS trước đó”. Bà khăng khăng cho rằng các ca AIDS “xảy ra ít nhất 5 năm trước đó” và kết luận rằng “AIDS hẳn phải xảy ra vào đầu những năm 1970”. (Như đã nêu trên, Trung tâm kiểm soát bệnh tật đã tìm ra ca AIDS đầu tiên ở thành phố New York năm 1979).

        Mặc dầu Krim có đưa ra quan điểm về nguồn gốc của AIDS, tôi không bao giờ thấy lại thuyết của bà trên các sách báo, hay nghe thấy bất kỳ nhà nghiên cứu AIDS nào bình luận về nó. Lý do có lẽ là thuyết của bà có quá nhiều lỗ hổng và sự không chính xác khiến không ai có thể ủng hộ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 11:31:05 am »


        Trong việc đánh giá nguồn gốc của AIDS, điều quan trọng là nhận ra rằng không có sự nhất trí khoa học về hai câu hỏi chủ chốt về AIDS và HIV: AIDS là một bệnh mới hay bệnh cũ? và HIV là một vi rút mới hay vi rút cũ?

        Hai câu hỏi đó bị làm phức tạp thêm bởi sự thực là AIDS vừa là một bệnh vừa là một sự xác định. Là sự xác định, AIDS phải gây ra bởi HIV, vi rút AIDS. Cũng là sự xác định, “bệnh” AIDS bao gồm những lây nhiễm “cơ hội” đặc thù, phần lớn các lây nhiễm đó là các bệnh “cũ” (có trước khi “đưa vào” vi rút AIDS).

        Ví dụ, các bệnh liên quan đến AIDS như u ác tính trên da đã được biết đến trên một thế kỷ;

        bệnh viêm phổi pneumocystis carinii đã được biết đến trên một nửa thế kỷ. Tình trạng bối rối không biết AIDS là bệnh mới hay cũ càng tồi tệ thêm khi các nhà nghiên cứu AIDS tuyên bố phát hiện lại các ca “cũ” của u ác tính trên da và viêm phổi pneumocystis ghi trong ấn phẩm y học - và rồi kết luận rằng “các ca AIDS đã từng có ở đâu đó một thời gian dài”.

        Cho tới gần đây, phần lớn các chuyên gia AIDS đã thừa nhận rằng HIV là một vi rút “mới”, có (ở Mỹ) từ những năm 1970; cụ thể hơn là năm 1978. Trong cuốn Săn lùng vi rút, Robert Gallo tuyên bố: “Vi rút AIDS chắc chắn trở nên lan tràn lần đầu tiên chỉ trong những năm 1970, ít nhất là ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác, nhưng đã tồn tại ở con người trước khi nó được nhận ra”. Như đã nêu, nhà khoa học huyền thoại Jonas Salk nói rằng vi rút AIDS đã có 900 năm nay rồi.

        Còn một nguồn gây bối rối nữa là máu “cũ” có thể có xét nghiệm “giả dương tính” HIV. Một số xét nghiệm máu người châu Phi thoạt tiên được báo cáo là “dương tính” sau này được xét nghiệm bằng các phương pháp tinh vi hơn lại thấy là “âm tính”. Ấy vậy mà những xét nghiệm “giả dương tính” đó đã được sử dụng làm chứng cớ rằng việc nhiễm HIV đã có ở châu Phi “trong một thời gian dài”.

        Một kỹ thuật mới trong phòng thí nghiệm dựa trên “dò ADN” được coi là một xét nghiệm “cụ thể” về nhiễm HIV, song điều đó còn cần xem xét. Một số nhà nghiên cứu AIDS bây giờ dùng xét nghiệm ADN để chứng minh các lây nhiễm “cũ” (trước năm 1978) gây nên bởi HIV. Trong vi sinh vật học, việc chứng minh tuyệt đối về nguyên nhân gây bệnh, theo truyền thống đòi hỏi phải “cấy” và xét nghiệm sinh hóa vi trùng “sống” bị nghi ngờ, lấy từ tổ chức bệnh hay các chất lỏng của cơ thể. Nhưng không bao giờ nó lại bao gồm “chứng cứ” các phân tích ADN của các mô chết. Công nghệ ADN mới có chứng tỏ 100% chính xác phát hiện lây nhiễm một tác nhân vi sinh vật “cụ thể” hay không, điều đó còn cần phải xem xét. Nhưng một số nhà khoa học đã chấp nhận các kết quả xét nghiệm ADN như chứng cớ tuyệt đối rằng các lây nhiễm AIDS là “cũ” với sự có mặt của HIV.

        Mọi người đồng ý rằng các xét nghiệm máu HIV hiện tại không chính xác 100% trong chẩn đoán nhiễm vi rút AIDS. Các xét nghiệm HIV “giả dương tính” có thể xảy ra khi các xét nghiệm một mẫu máu là “dương tính” dù rằng không có HIV. Ví dụ, mùa thu năm 1991, bác sĩ nội trú của tôi cương quyết đề nghị tôi tiêm vắc xin chống vi rút cúm “Bắc Kinh” đang lan đến, vì dịch này dự đoán là nghiêm trọng (thực ra nó không nghiêm trọng).

        Thông thường tôi từ chối tiêm vắc xin vì có những lý do rõ ràng. Tuy nhiên, bác sĩ của tôi cứ khăng khăng phải tiêm. Để khỏi làm ông ta thất vọng, tôi đồng ý. Hai tháng sau khi tiêm vắc xin cúm, tôi đọc trong tờ Thời báo New York (19/12/1991) rằng một số người cho máu mà đã tiêm phòng cúm Bắc Kinh được xét nghiệm dương tính HIV - và cũng có xét nghiệm dương tính với hai loại vi rút khác! Khi xét nghiệm máu tiếp, các xét nghiệm “dương tính” HIV được xác định là “giả dương tính”.

        Các nhà khoa học bối rối. Bình luận về sự bí ẩn đó của khoa học, James Mason, Trưởng ban Y tế công cộng cam đoan với công chúng rằng “không có khả năng vắc xin chứa bất kỳ loại nào trong ba loại vi rút ấy”. Là người đã tiêm vắc xin cúm, tôi hy vọng đánh giá của Mason chính xác. Toàn bộ câu chuyện đó khiến tôi lại nghi ngờ rằng nếu những người nhận vắc xin cúm Bắc Kinh có thể có xét nghiệm “dương tính” HIV, thì độ tin cậy của các xét nghiệm AIDS như thế trong trường hợp phát hiện các ca AIDS “cũ” trước năm 1978 chắc chắn là đáng ngờ.

        Trong thực tế, khoa học về AIDS là một “giả khoa học”. Giả khoa học nhằm làm nhầm lẫn và bối rối đến tuyệt vọng những ai đi tìm lý do và sự thật. Các nhà khoa học về AIDS đã thường có lỗi trong việc tăng cường các thông tin đánh lạc hướng bằng cách cố thuyết phục mọi người rằng sai là đúng, và đúng là sai.

        Lý do để đưa tin lạc hướng về AIDS là rõ ràng: che dấu nguồn gốc rằng chính con người tạo ra bệnh này.

        Mùa thu năm 1987, một nhóm các thầy thuốc đã báo cáo một ca AIDS “cũ” từ năm 1968. Bệnh nhân là một thiếu niên da đen 15 tuổi tên là Robert, hơi chậm phát triển đến từ St. Louis, Missouri. Trong năm cuối đời, Robert ốm gầy mòn với căn bệnh quái dị gây phù nề nghiêm trọng hai chân và bộ phận sinh dục. Khi mổ xác, nhà bệnh lý học thấy các tổn thương bên trong của u ác tính trên da, bệnh ung thư mà hai thập kỷ sau sẽ đi đôi với AIDS.

        Sự việc cậu bé có triệu chứng u ác tính trên da (KS) ở trực tràng khiến các bác sĩ suy đoán có thể dịch AIDS “phát triển” từ trường hợp này. Được lưu giữ trong trạng thái đông lạnh từ năm 1969, mẫu máu cũ của cậu bé được xét nghiệm HIV. Người ta cũng làm xét nghiệm ADN với các mô tế bào còn lưu giữ. Các kết quả xét nghiệm máu và ADN được báo cáo là dương tính HIV. Trường hợp của Robert được báo cáo trong Tập  san Hội Y học Mỹ (JAMA) ngày 14 tháng10 năm 1988.

        Có phải vi rút của cậu bé “đồng nhất” với HIV? Theo JAMA, “cậu thiếu niên có hoạt động tình dục này bị nhiễm một loại vi rút liên hệ chặt chẽ hoặc đồng nhất với vi rút suy giảm miễn dịch người (HIV) loại 1”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 11:31:42 am »


        Giới truyền thông lấy câu chuyện này như là “chứng cớ mạnh mẽ” rằng AIDS có mặt ở Mỹ trong những năm 1960. Tiến sĩ Strecker nghĩ đó là một âm mưu khác nhằm đánh lạc hướng công chúng.

        Khuynh hướng tình dục của Robert thì không rõ, nhưng các bác sĩ hết sức cố gắng nói bóng gió rằng cậu bé 15 tuổi bị phù đã chết là người đồng tính. Khi mổ xác, sự khám nghiệm bệnh lý học phát hiện trực tràng bị viêm mạn tính với bệnh trĩ rất rõ, có các mụn cóc hậu môn và rất nhiều chỗ trầy, rách. Đưa ngón tay vào trực tràng xem xét thì thấy “cơ thắt hậu môn lỏng”. Cơ thắt hậu môn lỏng (thường hay gọi hơn là lỗ hậu môn lỏng), cùng với các dấu hiệu khác ở hậu môn, tất cả được giải thích như các dấu hiệu cho thấy cậu bé là đồng tính.

        Tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu nhà bệnh lý học khác khi cho ngón tay vào lỗ hậu môn của những xác chết có thể xác định ai là đồng tính và ai có tính dục khác giới. Có lẽ một cuộc thử nghiệm trực tràng ở những người còn sống có thể quyết định độ chính xác về cảm nhận của các ngón tay các nhà bệnh lý học khi xác định thiên hướng tình dục.

        Tờ Tuần Tin tức(9/11/1987) cũng tỏ ý khâm phục độ nhạy và tính tin cậy của việc xét nghiệm bằng ngón tay sau khi chết. Tuy người ta khẳng định Robert có quan hệ tình dục với một cô gái hàng xóm trước khi cậu bị ốm, Tiến sĩ William Drake, người tiến hành mổ xác “thấy những dấu hiệu của hành vi đồng tính, bao gồm bệnh trĩ và viêm, nói lên rằng cậu ta đã thường xuyên giao hợp qua đường hậu môn”. Tôi ngẫm nghĩ: Những kẻ bị trĩ sẽ cảm thấy hối hận.

        Mặc dầu có sự thật là cậu bé 15 tuổi nằm bệnh viện với sức khỏe xấu dần đi trong 16 tháng cuối của cuộc đời ngắn ngủi, giới truyền thông suy đoán bừa về bản năng giới tính của Robert và chẩn đoán sau khi chết về tình dục đồng giới.

        Memory Elvin-Lewis, một nhà vi sinh vật học đã nghiên cứu trường hợp của Robert, tuyên bố với tờ Tin tức Y học Mỹ (11/12/1987) rằng “Chúng ta phải gọi đúng với tên của nó - một cậu bé giao hợp thường xuyên qua đường hậu môn”. Khi được phỏng vấn cho tờ tạp chí Nhân Dân, Tiến sĩ Lewis tin chắc các ca AIDS khác đã tồn tại từ những năm 1960, “nhưng lúc đó bệnh mới ở giai đoạn đầu”. Theo nhà vi sinh vật học: “Cơn dịch bệnh thật sự cần có những sự thái quá trong cách mạng tình dục của những năm 1970. Điều kiện đó xảy ra khi mà dân đồng tính chung chạ bừa bãi và nạn nghiện ma túy khiến vi rút bành trướng và lan tràn”.

        Năm 1990, giới truyền thông bám vào một ca AIDS “cũ” khác bắt nguồn ở Manchester, nước Anh, năm 1959. Bệnh nhân là một thủy thủ hải quân không lấy vợ, đã chết vì viêm phổi pneumocystis carinii và nhiễm cytomegalovirus1. Các chi tiết về ca bất thường này lần đầu tiên được báo cáo trong tập san y học Anh Lưỡi dao chích năm 1960. Ca này một lần nữa lại được báo cáo trong tập san y học “ dao chích (12/11/1983) như là khả năng có thể có một ca AIDS cũ từ năm 1959. Trong một báo cáo thứ ba của tập san y học Lưỡi dao chích (7/7/1990), ca này được nêu chắc chắn là “nhiễm HIV ở Manchester vào năm 1959”. Trong lần này, xét nghiệm AIDS dương tính dựa trên công nghệ ADN áp dụng cho những mô tế bào còn lưu giữ lại của người thủy thủ, “chứng tỏ” anh ta nhiễm HIV.

        Giới truyền thông lại tóm lấy câu chuyện. Tờ Thời báo New York (24/7/1990) giành một nửa trang 3 cho “ca AIDS cũ nhất được ghi chép lại, phát hiện bằng kỹ thuật mới”. Tiến sĩ Strecker tin rằng đây là trò rùm beng để giới truyền thông đánh lạc hướng những lời đồn đại đang tăng lên rằng AIDS là một cuộc thử nghiệm chiến tranh vi trùng.

        Báo cáo ngắn, có năm đoạn trong tháng 7 trên tập san y học Lưỡi dao chích không nói gì đến chiến tranh vi trùng, nhưng những tờ báo lớn trên thế giới sử dụng trường hợp người thủy thủ này để bác bỏ câu chuyện chiến tranh vi trùng. Tờ Thời báo viết: “Ca này cũng bác bỏ những lời tố cáo công bố rộng rãi do các quan chức Xô viết đưa ra vài năm trước đây rằng AIDS phát sinh từ một vi rút thoát ra từ cuộc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm bị thất bại hoặc là một tác nhân chiến tranh vi trùng. Vào thời điểm lây nhiễm của ca này, người ta chưa biết đến nhóm retrovirus của người bao gồm vi rút AIDS. Lúc đó các nhà khoa học cũng không có các kỹ thuật công nghệ gien cần thiết để tạo ra một vi rút mới”.

        Việc xác định HIV trong người thủy thủ đã chết từ lâu nhắc tôi nhớ đến cuộc tranh cãi về việc Gallo ăn cắp vi rút của Montagnier. Khi phải đối mặt với vi rút LAV “sống” của Montagnier, Gallo khẳng định nó nhất định không phải là vi rút AIDS. Sau này “vi rút HIV của Gallo” và “vi rút LAV của Montagnier” được chứng minh là một loại virút. Thực ra, các chuyên gia thấy rằng thành phần gien của các vi rút AIDS của Gallo và của Montagnier giống nhau về cấu trúc hơn bất kỳ hai loại vi rút AIDS nào khác đã được nghiên cứu. Tìm được các chủng vi sinh HIV “đồng nhất” là cực hiếm vì HIV là một vi rút rất không ổn định, đột biến rộng và thay đổi cấu trúc gien đến mức 1% một năm. Nếu các nhà khoa học có thể phát hiện HIV trong tổ chức đã chết, lưu giữ trong 31 năm, tôi không hiểu tại sao các chuyên gia vi rút không dùng cách dò ADN mới trong cuộc tranh cãi Gallo - Montagnier để xác định dứt khoát vi rút nào ra vi rút ấy.

        Trong toàn bộ quá trình đọc và nghiên cứu, tôi thấy dường như “khoa học” chính thức của ngành y đầy rẫy một chất làm ô nhiễm mọi thứ liên quan với việc nghiên cứu AIDS, chất đó là “chuyện nhảm nhí”.

-------------------
        1. Một loại vi rút thuộc nhóm vi rút herpes (N.D).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 11:32:50 am »


8. NHỮNG NGƯỜI DA ĐEN

        Những người da đen hiểu rất rõ sự diệt chủng. Trong ba thế kỷ, họ đã bị bắt cóc từ các làng mạc châu Phi, bị xích rồi chở bằng tàu thủy đến châu Mỹ, và đem bán làm nô lệ. Thời đó tình trạng nô lệ được coi là đúng về chính trị và được sự ủng hộ nhiệt tình của nhiều người cơ đốc da trắng. Sự đối xử vô nhân đạo đối với người da đen không gây nên mối quan tâm lớn nào đối với dân da trắng sống theo giáo lý của Giêsu và kinh thánh. Những người da đen bị coi là các con vật. Như vậy, những giáo lý của kinh thánh về tình anh em và tình yêu không áp dụng cho nô lệ.

        Dân da đen hoàn toàn hiểu quyền lực và tai họa từ phía dân da trắng. Không may là người da đen vẫn còn chịu những ảnh hưởng tồi tệ của thành kiến bao thế kỷ bị xã hội bỏ rơi. Nạn giết người và AIDS nay là những nguyên nhân hàng đầu đem đến cái chết cho thanh niên da đen.

        Mỗi người da đen đã nghe đồn đại rằng AIDS là một vi rút được tạo ra bằng kỹ thuật gien để giết hết chủng tộc da đen. Theo kết quả thăm dò của tờ Thời bảo New York (29/10/1990), 30% dân da đen ở New York được đều thực sự tin rằng AIDS có thể là một vũ khí sinh học phân chủng đặc biệt được làm ra trong phòng thí nghiệm nhằm gây lây nhiễm và giết người da đen.

        Louis Farrakhan, lãnh tụ tinh thần của dân tộc Hồi giáo tố cáo, các bác sĩ Do Thái đã tiêm AIDS cho các hài nhi da đen. Ông giảng giải rằng những người Do Thái giàu có đứng đằng sau chương trình diệt chủng, y như cách họ đã câu kết chặt chẽ trong việc buôn nô lệ rất có lãi với các cơ sở của người Hà Lan.

        Khi bàn về những niềm tin có tính chất kích động của Farrakhan, Morris Wolfe khẳng định rằng “nhiều người da đen, đặc biệt đàn ông, bao gồm cả số lượng đang tăng lên các sinh viên đại học, bây giờ tìm đến sự lãnh đạo của Farrakhan. Ở đây có một cương lĩnh đơn giản: Không nam nữ bình đẳng hay các quyền của dân đồng tính, không nạo thai, không thịt lợn, không ma túy hay rượu, không bàn cãi”.

        Khi lần đầu tiên tôi gặp Tiến sĩ Strecker, tôi đã hỏi về “mối liên hệ” của AIDS trong dân đồng tính với châu Phi. “Không có gì cả”, ông trả lời. “Tất cả cái đó là màn che lớn để giấu giếm sự thật. Những người châu Phi đã bị nhiễm bệnh đó trong chương trình tiêm vắc xin đậu mùa. Châu Phi da đen bị định đoạt phải chết”.

        Thoạt tiên, dự đoán của Tiến sĩ Strecker về châu Phi dường như không có cơ sở. Nhưng tờ Thời báo (16/2/1987) dẫn lời Sam Okware, Bộ trưởng Y tế Uganda nói: “Trong năm 2000, cứ một trong hai người lớn hoạt động tình dục sẽ bị nhiễm bệnh”.

        Năm năm sau, bìa tờ Tạp chí Thời báo Los Angeles (1/3/1992) có hình một bà mẹ châu Phi da đen ôm con trong lòng. Tiêu đề là: “Bản án tử hình của châu Phi: nơi mà phụ nữ bất lực, AIDS đang lan tràn không ngừng từ chồng sang vợ, mẹ sang con. Và một lục địa đang chết”. Câu chuyện của Scott Kraft khẳng định rằng vào năm 2000, ước tính có 15 triệu người da đen châu Phi sẽ chết vì AIDS. Hiện tại cứ bốn trong năm phụ nữ bị nhiễm AIDS là ở châu Phi. Tuy dân châu Phi chỉ chiếm 10% dân số thế giới, lục địa này chiếm hai phần ba số ca AIDS trên thế giới.

        WHO ước tính rằng 25% lực lượng lao động châu Phi sẽ bị quét sạch trong hai mươi năm tới, và tuổi thọ trung bình sẽ bị sụt từ 60 xuống 47.

        Tiến sĩ Robert Strecker tin rằng “kế hoạch” độc ác đối với châu Phi được giải thích rõ ràng trong một bản ghi nhớ năm 1972 được công bố trong Bản tin WHO. Báo cáo đó chỉ rõ rằng sự lây nhiễm các retrovirus nào đó có thể đưa đến “sự tổn hại” đối với hệ thống miễn dịch, đặc biệt đối với các tế bào máu trắng được gọi là “các tế bào T”. Sự tổn hại hệ thống miễn dịch đó cũng có thể dẫn đến ung thư. WHO kiến nghị “đánh giá có hệ thống” các retrovirus ức chế miễn dịch ấy. Phần hai của bản ghi nhớ duyệt lại những kết quả của các cuộc thử nghiệm lên động vật trước đây “dính líu nghiêm trọng đến bệnh của người và nghiên cứu lâm sàng”.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM