Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 06:49:03 am » |
|
Tuy chúng ta có “các thuốc chữa ung thư 5 năm” và AZT, việc điều trị và chẩn đoán cho ung thư giai đoạn cuối và AIDS vẫn còn cực kỳ xấu đối với nhiều bệnh nhân.
Trong những năm 1960, tôi bắt đầu nghiên cứu “vi khuẩn ung thư”, là tác nhân lây nhiễm đi đôi với ung thư và các bệnh miễn dịch khác. Vi khuẩn cũng là “đồng nhân tố” lây nhiễm không nhận ra, cần thiết cho sự phát triển đầy đủ AIDS. Không may là mọi mặt nghiên cứu vi khuẩn ung thư đã bị các cơ quan y tế thẩm quyền bỏ qua. Các chi tiết về một thế kỷ nghiên cứu vi khuẩn ung thư đã được ghi lại trong cuốn sách của tôi Vi khuẩn ung thư (1990).
Vi khuẩn ung thư tồn tại trong máu và trong tổ chức bị tổn thương vì ung thư và AIDS. Sự hiểu biết về vi khuẩn này và độc tính của nó là nhân tố cốt yếu để hiểu tại sao AIDS và ung thư là những căn bệnh tàn phá như vậy. Trước khi tác nhân lây nhiễm này được nhận ra, người ta ngờ rằng y học sẽ chẳng bao giờ đạt tới điều trị có hiệu quả AIDS và ung thư.
Theo quan điểm của tôi, phát hiện khoa học quan trọng nhất của thế kỷ này là nhận dạng được vi khuẩn ung thư. Vi khuẩn ung thư thì “đa hình”, nghĩa là vẻ bề ngoài trên kính hiển vi của nó có thể thay đổi, phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của nó. Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng nó có thể giống các vi rút và vi trùng. Vi khuẩn ung thu tồn tại trong mọi sinh vật.
Việc phát hiện các vi rút ung thư ở người và động vật có liên quan tới sự có mặt khắp nơi của vi khuẩn ung thư trong mọi vật chất sống. Việc các nhà khoa học không đủ năng lực nhận ra tầm quan trọng sinh học sâu sắc của vi khuẩn ung thư đã dẫn tới các cuộc thử nghiệm vi rút động vật nguy hiểm và nghiên cứu chiến tranh vi trùng. Kết quả của toàn bộ nghiên cứu công nghệ cao đó là sự sản xuất và gieo rắc “các vi rút siêu đẳng” đột biến, giờ đây đe dọa lây nhiễm toàn thể loài người.
Vi khuẩn ung thư cư trú trong mỗi tế bào, và y học không nhận biết được. Khi một tế bào bị thương tổn (vì bất cứ lý do gì), vi khuẩn ung thư trở nên hoạt động. Khả năng của vi khuẩn ung thư đa hình có thể hiện ra như một vi rút và như một vi trùng, thách thức mọi quy luật của vi sinh học. Tính đa hình của vi khuẩn ung thư giống như con tắc kè luôn biến dạng là lý do chính tại sao vi khuẩn đã không được giới y học “thừa nhận”.
Vi khuẩn ung thư đã được chứng minh bằng kính hiển vi trong các bệnh miễn dịch, trong ung thư, và trong tổ chức bị thương tổn vì AIDS. Vi khuẩn ung thư là tác nhân lây nhiễm gây nên u ác tính trên da (KS). Vi khuẩn này đã được nhận ra trong mô tế bào bị KS, trong các hạch bạch huyết bị sưng đi đôi với AIDS và trong các cơ quan bị AIDS làm thương tổn. Tuy nghiên cứu này đã được công bố trong các tạp chí y học có tiếng, giới thẩm quyền về AIDS vẫn hoàn toàn làm ngơ.
Nhiều dạng khác nhau của vi khuẩn ung thư cư trú trong máu của các cá thể khỏe mạnh và ốm yếu. Một hệ thống miễn dịch bình thường cho phép vi khuẩn ung thư tồn tại trong sự cân bằng thích hợp bên trong cơ thể. Tuy nhiên, trong trạng thái có bệnh, vi khuẩn ung thư sẽ sinh sôi nảy nở. Sự phát triển các mầm bệnh đó trong máu và trong các tổ chức của bệnh nhân là nguyên nhân của phần lớn sự nhiễm độc và tê liệt kèm theo ung thư và AIDS. Sự thiếu máu nghiêm trọng của các bệnh nhân ốm nặng chủ yếu do các vi khuẩn ung thư phá hủy các hồng huyết cầu. Các thuốc độc như AZT tăng cường quá trình hủy hoại đó. Mặc dầu có một thế kỷ nghiên cứu vi khuẩn ung thư, các nhà khoa học vẫn tin rằng máu bình thường là “vô trùng”. Song, sự quan sát đơn giản về máu bằng cách dùng một kính hiển vi “trường tối” đã cho thấy rõ ràng các yếu tố của vi khuẩn ung thư.
Các hạt nhỏ nhất của vi khuẩn là những dạng sống, là những khối cấu trúc nhỏ nhất của tự nhiên. Tiến sĩ Y khoa Virginia Livingston, người đã nghiên cứu vi khuẩn ung thư hơn 40 năm, tin rằng các vi rút ung thư đều liên quan với vi khuẩn ung thư có ở khắp nơi. Livingston, chết năm 1990 ở tuổi 84, đã viết rất nhiều về vi sinh vật học ung thư, và làm nhiều việc để phổ biến về vi khuẩn ung thư hơn bất kỳ thầy thuốc nào khác của thế kỷ này. Bà đã phải chịu nhiều đau khổ vì những niềm tin của mình, và bị giới y học ngược đãi vì những phương pháp điều trị ung thư không chính thông của bà, bao gồm vắc xin “tự phát” được làm từ chính vi trùng ung thư của bệnh nhân.
Cuốn sách của bà Cuộc chinh phục bệnh ung thư (1984) đã tạo ra tiếng vang trong cộng đồng khoa học. Một bài báo không có tính chất tán dương, viết về những ý tưởng cách mạng của bà trong vấn đề vi trùng ung thư đã xuất hiện trên tờ Thời báo Los Angeles (6/4/1984).
Trong nhiều năm, Virginia Livingston đã là bạn và thầy của tôi, và tôi kính trọng bà hơn bất kỳ thầy thuốc nào tôi biết. Trong nghiên cứu được công bố của tôi, tôi đã khẳng định nhiều quan sát của bà về vi trùng trong ung thư và các bệnh miễn dịch khác. Trong bài viết cho tờ Thời báo tôi đã bảo vệ quan điểm không chính thống của Virginia Livingston về tính chất truyền nhiễm của ung thư.
Các đối thủ khoa học của Livingston lên án công trình của bà một cách không thương tiếc. Tờ Thời báo hỏi ý kiến ông Robert Gallo, ông này đâu cũng có mặt, về sự nghiệp nghiên cứu ung thư của Virginia Livingston. Ông ta nói giọng huênh hoang: “Cái gì đang diễn ra ở đất nước này? Đấy là sự điên rồ. Bà ấy có thể có thuyết riêng của mình và tôi có thể nói gì đây? Tôi không có cơ sở nào để ủng hộ nó”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:37:47 am » |
|
Cũng năm ấy người ta hỏi Gallo về phát hiện của tôi về vi trùng trong KS trong một cuộc phỏng vấn do James D’Eramo tiến hành trên tờ Người New York (9/9/1984). Gallo đáp: “Tôi không biết nguyên nhân của KS. Điều phỏng đoán của tôi là nó có thể liên quan tới HTLV.3A (HIV) theo cách nào đó”. D’Eramo hỏi tại sao KS lại xảy ra phần lớn ở đàn ông đồng tính. Gallo trả lời: “Tôi không biết. KS làm tôi bối rối".
Mấy năm sau, vào năm 1991, Gallo vẫn im lặng về các báo cáo được công bố của tôi về vi trùng trong KS. Khi nói với các nhà khoa học về AIDS, ông ta tuyên bố mình đang tìm kiếm tới cùng “đồng nhân tố bí ẩn” trong KS. “Tôi muốn nói với các vị rằng chúng ta đã tìm kiếm 7 năm, và chúng ta không tìm thấy bất kỳ vi rút hay vi khuẩn nào khác. Điều đó không có nghĩa là nó không có ở đó, mà có nghĩa là chúng ta hay bất cứ ai khác đã không tìm thấy mối liên hệ bị thiếu”.
Các phương diện nghiên cứu vi khuẩn ung thư có liên quan đến nghiên cứu hiện nay của Luc Montagnier, người phát hiện ra vi rút AIDS. Montagnier công bố tại Hội nghị AIDS quốc tế lần thứ sáu rằng ông ta đang nghiên cứu một vi khuẩn rất nhỏ gọi là một “mycoplasma”1 mà ông đã thấy ở AIDS. Các mycoplasma là các tác nhân gây nhiễm, là một phần vi rút và một phần vi trùng. (Nhớ lại những năm 1950 và 1960, Virginia Livingston đã công bố công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng vi khuẩn ung thư có một giai đoạn giống mycoplasma).
Tại Hội nghị AIDS San Francisco năm 1991, Montagnier khẳng định rằng một mycoplasma có thể là một đồng nhân tố cần thiết để vi rút AIDS trở nên nguy hiểm chết người. Nhà nghiên cứu của Viện Pasteur tuyên bố mycoplasma tìm thấy trong máu các bệnh nhân AIDS có thể là một nguồn lây nhiễm bổ sung.
Tuy nghiên cứu về mycoplasma của Montagnier liên quan tới công trình nghiên cứu vi khuẩn ung thư, ông ta không bao giờ thừa nhận mối liên hệ đó, ông cũng không hề nhắc đến bất kỳ tài liệu y học nào chứng tỏ có các vi trùng đa hình và giống như mycoplasma trong KS và AIDS.
KS luôn làm bối rối các chuyên gia, đặc biệt là làm thế nào mà bệnh ung thư đã có hàng thế kỷ đó lại gắn vào bệnh dịch AIDS mới, gây nên bởi HIV. Khi AIDS lần đầu tiên bùng phát trong những người đồng tính ở Manhattan, KS đã trở thành dấu hiệu chỉ điểm của căn bệnh mới này.
Đầu những năm 1980, u da ác tính ở Mỹ là một bệnh rất hiếm, thoạt tiên được thấy ở những người đàn ông Italia và Do Thái nhiều tuổi. Sau khi vi rút AIDS được đưa vào năm 1978, u da ác tính đột nhiên trở nên một căn bệnh của dân đồng tính.
Một báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật về một nghìn ca AIDS đầu tiên nói rằng các ca KS của dân đồng tính sớm nhất được chẩn đoán trong quí một năm 1978. Liệu các ca KS năm 1978 có phải là “KS liên quan đến AIDS” hay không thì không rõ vì các quan chức Trung tâm kiểm soát bệnh tật giải thích rằng các ca này “có lẽ tiêu biểu cho diễn biến “nền” hoàn toàn bình thường của KS — tức là căn bệnh KS không đi đôi với AIDS”.
Trong số những người được công nhận có công phát hiện các ca đầu tiên chắc chắn là KS của người đồng tính có: chuyên gia da liễu Alvin Friedman Kien, nhà huyết học Linda Laubenstein, nhà bệnh lý học Geoffrey J. Gottleib, và nhà dịch tễ học Michael Marmor, tất cả đều có quan hệ với Trung tâm Y học Đại học New York. Tất cả bốn người đều xuất hiện như những người góp phần vào báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật về KS liên quan đến AIDS, công bố ngày 3 tháng 7 năm 1981 (U ác tính trên da và viêm phổi pneumocystis trong những đàn ông đồng tính — Thành phố New York và California).
Trong AIDS: Dịch u ác tính trên da và các lây nhiễm cơ hội (1984) Friedman Kien khẳng định: “Cuối thu năm 1979 và mùa xuân năm 1981, một số ca u ác tính trên da lây lan đột nhiên được phát hiện ở thành phố New York và California”.
Trong một cuộc phỏng vấn của tờ Người New York (15/7/1984), ông tuyên bố “AIDS không tồn tại ở Mỹ trước năm 1979”. Ông cũng bảo một phóng viên tạp chí New York rằng ông đã chẩn đoán ca KS đầu tiên của người đồng tính vào tháng 2 năm 1981. Tại cuộc họp hằng năm vào năm 1982 của Hội Da liễu Mỹ, Friedman Kien công bố rằng “các ca KS đầu tiên đã được chẩn đoán vào tháng 11 năm 1979”.
Nhà dịch tễ học Michael Marmor cũng xác nhận rằng người ta nhận thấy 20 đàn ông đồng tính bị KS ở Đại học New York giữa tháng 3 năm 1979 và tháng 8 năm 1981. Trong cuốn sách giáo khoa về AIDS của mình, Geoffrey Gottlieb xác định thời gian các ca KS sớm nhất của người đồng tính là vào “đầu năm 1979, hoặc có lẽ đôi chút sớm hơn”. Ông viết “năm 1979 các ca u ác tính trên da chẩn đoán ở các nam thanh niên được báo cáo rải rác từ các cơ sở y tế (đặc biệt ở thành phố New York), một ca mà bản thân tôi gặp là vào mùa thu năm 1979”.
---------------------- 1. Một loại trong nhóm các vi sinh vật rất nhỏ không di động, không có thành tế bào cứng và vì thế có thể có nhiều dạng (N.D).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:38:27 am » |
|
Các chuyên gia KS đó chứng nhận sự thực là các ca được thừa nhận sớm nhất xảy ra năm 1979. Các cuộc thử vắc xin viêm gan B chính thức bắt đầu năm 1978. Như vậy, KS của người đồng tính bắt đầu xuất hiện ngay sau cuộc thử nghiệm với dân đồng tính.
Năm 1980, các cuộc thử nghiệm mới bắt đầu ở San Francisco, Los Angeles, Denver, Chicago và St. Louis. Vào mùa thu 1979, ca viêm phổi pneumocystis đầu tiên ở bờ biển phía Đông được chẩn đoán ở thành phố New York. Mùa thu năm 1980 các ca AIDS đầu tiên ở bờ biển phía Tây xuất hiện ở Los Angeles và San Francisco.
Năm 1989, mười năm sau khi các ca KS đầu tiên được chẩn đoán ở Manhattan, một nghiên cứu do nhóm nghiên cứu của Robert Biggar tiến hành đã báo cáo không có các ca KS nào trong các nam thanh niên ở New York trong những năm từ 1973-1976. Tuy nhiên, vào năm 1985, số trường hợp KS ở “những đàn ông chưa bao giờ lấy vợ” ở Manhattan tăng 1850 lần, và ở San Francisco mức KS tăng trên 2000 lần.
Nhân tố duy nhất chịu trách nhiệm về việc tăng kỳ lạ trong các thanh niên đồng tính ở hai thành phố đó là việc “đưa” HIV vào cộng đồng đồng tính nam giới. Sự thật về việc hai thành phố là những nơi thử vắc xin viêm gan B trong những năm từ 1978-1980 không bao giờ được nêu như một nhân tố trong sự bùng nổ KS.
Một báo cáo năm 1990 trong tờ Lưỡi dao chích, viết bởi Valerie Beral và ba thầy thuốc dịch tễ học khác tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật ở Atlanta, kết luận rằng KS giờ đây xuất hiện ở các bệnh nhân AIDS thường xuyên hơn 20.000 lần so với ở dân chúng nói chung. Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng mức độ các ca KS mới liên quan đến AIDS đang suy giảm trong giới đàn ông đồng tính.
Một nghiên cứu mổ xác năm 1985 cho thấy rõ rằng 94% các bệnh nhân AIDS từ các nhóm nguy cơ khác nhau có KS bên trong. Bất chấp nghiên cứu đó, các bác sĩ Trung tâm kiểm soát bệnh tật giờ đây báo cáo rằng KS xẩy ra chỉ ở 15% đàn ông đồng tính (giảm xuống từ hơn 30% vào lúc bắt đầu bệnh dịch). Lý do của sự suy giảm KS thì không rõ ràng. Có lẽ có ít hơn các ca KS được báo cáo, đặc biệt nếu bệnh nhân AIDS cũng bị các lây nhiễm cơ hội khác. Ví dụ, các nhà nghiên cứu của trung tâm thừa nhận rằng một ca KS “không được báo cáo nếu nó xảy ra sau khi ca AIDS đã được báo cáo về trung tâm”. Có thể một lý do khác về sự suy giảm KS là có ít hơn các tổn thương da ở KS được lấy sinh thiết và báo cáo về trung tâm theo dõi ung thư. Bây giờ các thầy thuốc đã quen hơn với biểu hiện của KS, người ta cần ít hơn các sinh thiết để chẩn đoán. Ngoài ra, về phía các nhà bệnh lý học họ cũng sợ truyền nhiễm nên rất ít khi mổ xác các ca AIDS. Khi không có mổ xác, nhiều ca KS bên trong rõ ràng không được chẩn đoán và báo cáo.
Các thông kê của Trung tâm kiểm soát bệnh tật thoạt tiên phản ánh các ca KS bên trong. Nhưng KS (kaposVs sarcoma khối u ác tính trên da) vừa là một ung thư da bên ngoài và ung thư bên trong ở các bệnh nhân AIDS. Vì lý do đó mức 15% hiện tại của KS ở AIDS là rất đáng nghi vấn nếu không nói là con số thông kê vô nghĩa.
Sau khi hoàn thành cuộc nghiên cứu của bà ở Trung tâm kiểm soát bệnh tật, Valerie Bernal và một nhóm các nhà dịch tễ học Anh tiến hành một nghiên cứu KS tương tự tại một trung tâm giám sát bệnh truyền nhiễm ở Oxford. Báo cáo cuối cùng của họ có nhan đề “Nguy cơ u ác tính trên da ở các bệnh nhân AIDS ở Anh có tăng hay không nếu các bạn tình đến từ Mỹ hay châu Phi?” xuất hiện trong Tập san Y học Anh (16/3/1991)
Trong nghiên cứu của Bernal, những người đàn ông đồng tính Anh được hỏi về “nước nào có khả năng là nguồn lây nhiễm HIV”. Sau khi phân tích thông kê, đi đến kết luận rằng KS xảy ra ở 31% đàn ông có nguồn lây nhiễm từ Mỹ (mức KS cao này tương tự với 30% mức của “KS đồng tính” trong những năm đầu bệnh dịch này ở Mỹ). Beral thấy KS ở 26% đàn ông có nguồn tiếp xúc với châu Phi; và ở 19% đàn ông có nguồn từ chính những người trong nước.
Trong một kết luận thống kê giật mình trình bày ở tạp chí Tin tức bệnh ứng và ngoài da (tháng 10 năm 1991), các nhà dịch tễ học Anh tuyên bố: “Các phát hiện này chỉ rõ rằng tác nhân gây ra KS được đưa vào dân Anh chủ yếu từ Mỹ”. Một nghiên cứu gần đây hơn của Bernal đề xuất một nguồn gốc phân miệng đối với tác nhân lây nhiễm KS đáng ngờ ở giới đàn ông đồng tính. Rõ ràng nghiên cứu này sẽ ủng hộ quan điểm của một số kẻ kỳ thị tin rằng “bọn đàn ông đồng tính ăn phân”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:38:51 am » |
|
Khi nghiên cứu các báo cáo dịch tễ học đó tôi thấy dường như các thông kê chính thức đang được nhào nặn để phù hợp với giọng điệu của cơ quan chính phủ bảo trợ cho nghiên cứu ấy. Ví dụ như ở một đàn ông Anh đồng tính với vô vàn bạn tình, làm thế nào có thể xác định chắc chắn rằng một người Mỹ hay một người châu Phi cụ thể nào đó truyền HIV cho bệnh nhân ấy? Theo tôi, các kết luận rút ra từ các thống kê KS của Anh đó là có tính kỳ thị, phân biệt chủng tộc, chống Mỹ và không khoa học.
Trong thế kỷ XIX, KS đầu tiên là một bệnh của người Áo. Một thế kỷ sau, “dịch” KS được mọi người biết đến như một căn bệnh của người châu Phi da đen, trong khi vẫn chưa được biết đến ở những người Mỹ gốc châu Phi. Hai mươi năm trước đây, ở thành phố New York và Los Angeles nó được coi là một “căn bệnh của đàn ông Do Thái”. Đột nhiên vào đầu những năm 1980, KS trở thành một bệnh của dân đồng tính “đến từ châu Phi”. Một bệnh dịch châu Phi của người có tính dục khác giới da đen đã tự biến đổi một cách lạ lùng thành một căn bệnh của người đồng tính da trắng ở Manhattan. Giờ trong những năm 1990, KS của người Anh đã đột nhiên trở thành một căn bệnh “phân miệng” của dân đồng tính nhập khẩu từ Mỹ và châu Phi.
Không bao giờ có một căn bệnh hoàn toàn giống AIDS và KS. Đó là một hay là hai bệnh? Nó là căn bệnh mới hay cũ? Nó là căn bệnh của người Áo, người châu Phi, người Do Thái, người da trắng, ngươi da đen, người đồng tính hay người có tính dục khác giới? Câu trả lời dường như phụ thuộc vào ai đang tiến hành nghiên cứu — và đằng sau họ là ai.
Để tiếp tục làm rối tinh rối mù các sinh viên nghiêm túc nhất về AIDS, một số nhà dịch tễ học hàng đầu nay lại khẳng định một nguyên nhân “khác” của KS. Và họ tuyên bố tiếp rằng dịch KS không có gì quan hệ với AIDS và HIV. Nói cách khác, KS giờ đây được cho là một bệnh dịch riêng rẽ gây nên bởi một tác nhân lây nhiễm khác chưa từng được biết trước đây đang lây lan qua con đường tình dục trong giới đồng tính (nhưng không trong cộng đồng tình dục khác giới).
Quan điểm mới này được đề xuất bởi Alvin Friedman Kien, là người đã phát hiện “KS của dân đồng tính” ở Manhattan năm 1981. Bất chấp các báo cáo da liễu về vi trùng ung thư ở KS, nghiên cứu về vi sinh vật học của Friedman Kien chỉ ra rằng KS có thể được gây ra bởi một loại vi rút mụn cơm mới ( Thời báo da liễu tháng 1 năm 1992).
Ý tưởng về một tác nhân lây nhiễm KS mới lây truyền bằng con đường tình dục dường như ngớ ngẩn. Trong một thế kỷ, chưa từng có một ca ghi lại trong đó một người đàn ông Do Thái, người Italia hay người châu Phi da đen truyền KS cho bạn tình của mình. Ngay cả trong các cặp đồng tính nhiễm HIV, cũng không hay thấy KS trong cả hai người. Loại bệnh hoa liễu truyền nhiễm nào lây truyền giữa những người đồng tính, mà không giữa những người tính dục khác giới? Hay lây truyền giữa những đàn ông, chứ không giữa những người phụ nữ? Hoặc lây lan chung trong cộng đồng người châu Phi da đen. nhưng không trong số những người Mỹ gốc Phi?
Trong phòng khám bận rộn của tôi ở Hollywood nằm ở một trong những trung tâm AIDS lớn nhất, không ai trong số 8 bác sĩ da liễu của chúng tôi từng thấy KS ở một phụ nữ. Khi hỏi 20 thầy thuốc khác trong nhóm y tế của tôi, làm việc liên tục với các bệnh nhân AIDS, không ai thấy một phụ nữ có KS. Một thầy thuốc nhớ đã thấy một ca tại một cơ sở khác: bệnh nhân là một phụ nữ đã chuyển giới tính.
Thế còn mối liên hệ của người Haiti và điều nhiều người tin rằng dân đồng tính chung chạ bừa bãi đã mang HIV trở về Cảng Hoàng tử thì sao? Thuyết này thường được nhắc đi nhắc lại trên báo chí trong những năm đầu của bệnh dịch, nhưng có ít cơ sở.
Theo các nhà dịch tễ học Jean Pape và Warren Johnson thì “bệnh nhân đầu tiên bị u ác tính trên da được chẩn đoán ở Haiti tháng 6 năm 1979, và bệnh nhân đầu tiên bị lây nhiễm cơ hội được thấy vào tháng 2 năm 1980”. Ghi chép từ ba bệnh viện tư ở Cảng Hoàng tử không tiết lộ ca KS nào trong thời kỳ từ 1968-1983. Xem lại tất cả số liệu về AIDS ở Haiti cho thấy rằng “AIDS có lẽ không tồn tại ở Haiti trước năm 1978”.
Trong những năm đầu của bệnh dịch, người Haiti sống ở Mỹ được phân loại là “có nguy cơ cao”. Sau nhiều áp lực chính trị, cuối cùng Trung tâm kiểm soát bệnh tật loại Haiti ra khỏi nhóm có nguy cơ cao.
Trong cuốn Dịch tễ học về AIDS, Richard Kaslow và Donald Francis tưởng tượng ra nguồn gốc của HIV, họ viết: “Người ta dễ cho rằng sự lây nhiễm đầu tiên là do một du khách đi tới ở một vùng xa xôi và nguyên thủy”. Kaslow và Francis “ngờ rằng nguồn gốc của vi rút sẽ không bao giờ được biết đến một cách đầy đủ”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:39:10 am » |
|
Bất chấp sự bi quan đó, Pape và Johnson tin rằng AIDS bắt nguồn ở châu Phi, sau đó lan đến Mỹ và châu Âu, “và sau đó được đưa vào Haiti hoặc bởi các khách du lịch hoặc những người Haiti trở về nước”.
Không có sự thảo luận nào về khoa học AIDS là hoàn chỉnh nếu không nhắc đến tuyên bố của Peter Duersberg, một giáo sư người Berkeley về sinh học phân tử, khẳng định rằng HIV không phải là nguyên nhân của AIDS. Theo Duersberg, AIDS là kết quả của ma túy và quan hệ tình dục bừa bãi và HIV không có liên quan gì với AIDS. Quan điểm của Duersberg dường như đặc biệt hấp dẫn đối với những người đồng tính bị nhiễm HIV, là những người bác bỏ quan điểm chính thức rằng họ bị nhiễm thứ vi rút chết người.
Khi được phỏng vấn trong tờ Thời báo Chủ nhật Luân Đôn (26/4/1992), Duerberg tin rằng AIDS “là kết quả của sự bùng nổ việc sử dụng các loại ma túy trí như côcain, đã phá hoại nghiêm trọng hệ thống miễn dịch”. Ông ta coi HIV chỉ như một “kháng nguyên” của máu đi đôi với hành vi chung chạ bừa bãi và sử dụng ma túy bậy bạ.
Phần lớn các nhà khoa học không đồng ý với ý kiến của Duersberg cho rằng HIV không gây ra AIDS. Dù vậy, những ý tưởng của Duersberg cũng có ý nghĩa nào đấy đối với một số nhà hoạt động thuộc giới đồng tính, các bác sĩ theo phái tổng thể, và ngay cả một vài chuyên gia AIDS đáng kính. Các chi tiết trong thuyết không chính thông của Duersberg đã xuất hiện trên các tập san khoa học có uy tín như Nghiên cứu Ung thư và Khoa học. Ông ta cũng làm cho các quan điểm của mình trở nên giật gân bằng cách kể cho các phóng viên báo chí rằng ông sẽ cho tiêm HIV vào mình để chứng tỏ vi rút đó vô hại. Tuy nhiên, Duersberg từ chối tiêm chủng vi rút của Gallo. Người ta kể ông đã bảo Gallo: “Vi rút đó không thể lấy từ phòng thí nghiệm của ông, nó phải sạch hơn vi rút này” ( bảo AIDS, ngày 6 tháng 7 năm 1987).
Duersberg tuyên bố rằng thuốc AZT, vẫn được kê đơn để chữa lây nhiễm HIV, “không phù hợp với sự sống”. Ông tin rằng cần có một “đồng nhân tố” khác với HIV để sản sinh ra AIDS “phát triển đầy đủ”. Tôi đồng ý với Duersberg về hai điểm này. Có lẽ Duersberg sẽ kiểm tra công trình nghiên cứu vi khuẩn ung thư đã được công bố, và bình luận về ý kiến cho rằng AIDS là một bệnh dịch do con người tạo ra với một vi rút được tạo bằng công nghệ gien trong phòng thí nghiệm.
Không may là các nhà điều tra AIDS hàng đầu không muốn xem xét mọi phương diện của khoa học AIDS, ngay cả các mặt còn đang tranh cãi. Lý do thật rõ ràng. Nghiên cứu AIDS là một công chuyện làm ăn lớn. Do đó, nhiều nhà khoa học hết sức bảo vệ công trình nghiên cứu của riêng mình. Họ thường từ chối đề cao các nhà nghiên cứu khác cũng làm công việc tương tự, đặc biệt nếu nghiên cứu đó cạnh tranh với nghiên cứu của riêng họ.
Những nhân vật dẫn đường trong nghiên cứu AIDS dường như quan tâm đến tiền bạc, danh tiếng, sự chú ý của giới truyền thông, thỏa mãn cái tôi, quyền hành khoa học và giải Nobel hơn là đến chia sẻ các nghiên cứu để tìm cách chữa trị bệnh AIDS.
Sau bốn thập kỷ hành nghề y, tôi hoàn toàn mất ảo tưởng với “khoa học” y. Tôi bị thuyết phục rằng giới thẩm quyền y học không thực sự muốn có một phương thuốc chữa trị ung thư hay AIDS.
Tôi có các đồng nghiệp cố tránh các cuộc hội chẩn bệnh nhân HIV dương tính. Tôi biết có các bác sĩ không muốn đụng chạm vào da của những người đàn ông đồng tính. Tôi đã nghe nói có các thầy thuốc bảo những người bị AIDS rằng người ta không muốn có các bệnh nhân như họ. Tôi biết có các bác sĩ Do Thái đội mũ chỏm đối xử trịch thượng với những người Do Thái đồng tính bị AIDS. Tôi biết có các thầy thuốc Cơ đốc giáo trích dẫn kinh thánh trong khi lên án đồng tính luyến ái. Đó không phải là hoang tưởng, cũng không phải sự tưởng tượng của tôi.
Trong tạp chí MD (tháng 1 năm 1987) một thầy thuốc ở bang Georgia viết: “AIDS tiêu biểu cho những hậu quả khi xúc phạm các quy luật của chúa về tình dục”. Một bác sĩ phẫu thuật ở bang Pennsylvania tuyên bố “chúng ta trước đây thường căm ghét đàn ông đồng tính do cảm tính, nay chúng ta có lý do chính đáng”. Một bác sĩ nội khoa từ Oklahoma tin rằng “Đồng tính luyến ái là một tội đáng bị tử hình”.
Một báo cáo năm 1986 trong Tập Y học phương Tây khảo sát 2.364 thành viên của Hội Y học hạt San Diego (California) về thái độ của các thầy thuốc đối với sự đồng tính luyến ái, các đồng nghiệp và bệnh nhân đồng tính. Một phần tư các bác sĩ giữ thái độ cực kỳ tiêu cực đối với những người đồng tính, và 30% sẽ không nhận một người đồng tính vào trường y. Hầu hết 40% sẽ thuyết phục những người đồng tính đừng học khoa nhi và khoa tâm thần.
Một cuộc khảo sát sau này, cũng được công bố trong Tập san Y học phương Tây (12/1/1992) có những số liệu cũng gây sốc như vậy. Trong số 400 thầy thuốc chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Los Angeles được phỏng vấn, 36% từ chối chăm sóc các bệnh nhân nhiễm HIV, và 12% khác tỏ rõ họ không muốn làm việc đó nếu những bệnh nhân ấy đến văn phòng của họ.
Charles Lewis, Giáo sư y học tại UCLA và tác giả của cuộc nghiên cứu đó nói với Thời báo Los Angeles (12/12/1991): “Nhiều thầy thuốc Nam California tỏ ra thành kiến đối với các nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất của HIV - cụ thể là những người đồng tính và những người nghiện ma túy tiêm ven. Họ cũng sợ bị lây nhiễm và lo rằng các bệnh nhân nhiễm HIV có thể làm các bệnh nhân khác xa lánh. Có khá nhiều thầy thuốc rõ ràng đã quyết định không khám bệnh cho các bệnh nhân này. Sự chống đối quá mạnh trong nhiều thầy thuốc đến nỗi việc muốn thay đổi thái độ của họ sẽ là phí thời gian và nỗ lực.
Rõ ràng là nếu không có sự thay đổi thái độ về phía các nhà khoa học và thầy thuốc về AIDS nói chung, thì ít có hy vọng cuộc khủng hoảng AIDS toàn thế giới sẽ được giải quyết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:40:24 am » |
|
11. GIẢI PHÁP CUỐI CÙNG Từ ngôi nhà của tôi trên đồi nhìn về phía nam, tôi thấy khói bốc lên từ những đám cháy trên đại lộ Hollywood. Những đám cháy, được cố ý đốt lên trong các khu người da đen của thành phố, đã lan về phía bắc. Bây giờ những ngọn lửa cách nhà tôi không đầy nửa dặm. Người ta đồn rằng các băng nhóm da đen và Latinh sắp đốt toàn bộ thành phố, và tôi sợ bọn đốt nhà điên cuồng sẽ châm lửa vào các bụi cây khô ở các khe bên trên Hollywood. Đội cứu hỏa vốn đã vất vả, không thể dập tắt các đám cháy lớn trên những ngọn đồi. Thành phố đã trở nên điên rồ do hậu quả phán quyết của Rodney King. Những người da đen đánh đập người da trắng và người Latinh Các cửa hàng của người Triều Tiên bị đốt. Trong cơn bạo lực và giết chóc, dân chúng sợ hãi bảo vệ tài sản của họ bằng súng. Và cảnh sát dường như bất lực không chấm dứt được sự phá phách. Cái xã hội ở LoS Angeles chắp từ nhiều mảnh chủng tộc nhạy cảm đột nhiên bị rách toang. Khi tôi đến đây đầu những năm 1960, Los Angeles là một thành phố mà người da trắng chiếm ưu thế, nhưng trong những năm tiếp theo bộ mặt của nó đã hoàn toàn biến đổi. Những năm 1980, việc nhập cư ồ ạt đã biến cộng đồng nơi đây thành một nơi hỗn cư gồm 40% người Anglo, 40% người Latinh, 10% người da đen và 10% dân châu Á. Thành phố của các thiên thần bùng nổ thành một thành phố của địa ngục, sự phá phách được ghi lại tỉ mỉ bởi các đội quay phim từ trên các máy bay trực thăng bay hàng đàn bên trên các đám đông vô luật pháp. Tôi như mụ đi vì những cảnh trên vô tuyến chiếu sự cướp bóc các cửa hàng quen thuộc của Hollywood mà tôi vẫn ghé mua hàng. Những người Latinh, hai tay đầy hàng ăn cắp được, chạy tán loạn vào các đường phố nơi tôi ở, trong khi cảnh sát túm tụm bên trong các xe tuần tra và quan sát sự cướp phá trong thành phố. Dĩ nhiên có mù mới không thấy các cảnh bạo loạn. Trong nhiều năm, trên báo chí đầy những mẩu tin câu khách về lối sống ngày càng suy đồi của Los Angeles và những mối nguy hiểm của nó. Thống kê tội phạm trong hạt thật sự là cơn ác mộng: 55.000 vụ cướp mỗi năm, 70.000 vụ trộm, 65.000 vụ hành hung, 150.000 xe hơi bị lấy cắp. Tờ Thời báo Los Angeles (17/5/1991) cảnh báo: “Dân chúng hạt Los Angeles đang sống dưới súng đạn. Nhiều người bị bắn chết hơn là bị chết vì tai nạn xe cộ. Năm ngoái, ít nhất 8.600 người bị trúng đạn - hầu như gần mỗi người một giờ - trong khi hàng nghìn người khác suýt nữa bị bắn”. Từ những năm 1960, dân chúng đã thấy sự biến đổi dần của Los Angeles từ một thành phố đẹp và khá an toàn thành một thành phố xấu xa. Ớ nơi mà một thời các phố xá nhộn nhịp rực rỡ, giờ đây tràn ngập rác rưởi và các mảnh vỡ. Các hình vẽ hoặc chữ viết bậy bạ trên tường có ở khắp nơi, gây nhức mắt, ngay cả ở những khu dân cư trù phú nhất. Những kẻ vô gia cư, nghiện ngập, tâm thần và ăn xin lang thang khắp thành phố. Một ủy ban liên bang báo cáo rằng một nửa số người Mỹ bị AIDS là vô gia cư, hoặc là sắp vô gia cư, 15% số dân sống lang thang trên phố bây giờ có HIV dương tính. Thành phố một thời tuyệt vời, giờ đây có những cảnh tượng của một thành phố bị bần cùng hóa của thế giới thứ ba. Dân nhập cư nghèo từ khắp thế giới đổ về Los Angeles. Một nửa học sinh của trường tiểu học địa phương là gốc Latinh, một phần tư 1à gốc Mỹ. Một nửa số dân ở Los Angeles không nói tiếng Anh ở nhà. Cứ ba người thì một người được sinh ra ở nước ngoài. Nghèo khổ ở khắp nơi. Một trong bảy người trong hạt sống bằng tiền trợ cấp. Trong vùng Nam trung tâm Los Angeles bạo loạn tơi bời, một nửa số thanh niên da đen bị thất nghiệp hoặc bị gạt ra khỏi lực lượng lao động. Sự tuyệt vọng và nạn nghiện ma túy lan tràn trong khu người da đen. Trong ba ngày bị bao vây, thành phố biến thành một vùng chiến tranh. Mọi người không được phép ra ngoài khi trời tối. Giống như bất kỳ người nào khác bị kìm hãm trong cơn ác mộng chủng tộc và dân tộc, tôi rất tức giận. Tôi đã làm việc vất vả để có chỗ đứng trong xã hội, và giờ đây vị thế của tôi bị đe dọa bởi một bầy người cùng sống nơi đây với những bó đuốc chiến tranh trong tay. Tôi nghĩ đến những kẻ thù của nước Mỹ mà người ta đã khích lệ tôi căm thù và sợ hãi trong cuộc đời mình: người Nhật, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Đức, Nga, và cộng sản. Nhưng trong vụ đốt Los Angeles này, không có những kẻ âm mưu, không có cánh tả hay cánh hữu, không CIA. Chỉ chúng tôi thôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:41:14 am » |
|
Cuộc chiến tranh Los Angeles bùng nổ trong khi viết cuốn sách này là chứng cớ nữa về sự điên rồ của xã hội chúng ta. Sự tàn phá cộng đồng đồng tính bởi AIDS không khác gì với sự tàn phá Los Angeles có chủ tâm. về bản chất, cả hai sự tàn phá là “do con người tạo ra”.
Chống lại quan điểm cho AIDS là sự diệt chủng, lý lẽ phổ biến nhất là những người Mỹ sẽ không bao giờ cố ý giết nhau bằng chiến tranh vi trùng. Không may là, lịch sử thế giới hiện đại cho ta vô số ví dụ về việc người ta giết lẫn nhau ngay trong một quốc gia. Các nhóm tôn giáo khác nhau ở Nam Tư1 hiện đang tìm cách tiêu diệt nhau để nắm quyền lực. Toàn bộ dân Hồi giáo của Bosnia-Herzegovina nay đang bị dân Cơ đôc đe dọa tiêu diệt. Giới truyền thông có một từ mới chỉ sự giết chóc ấy: “thanh lọc sắc tộc”.
Ở Irắc, ở Liên Xô (cũ), ở các quốc gia châu Phi và bất cứ nơi đâu trên hành tinh này, người ta tiếp tục giết lẫn nhau mà chỉ có Chúa biết lý do vì sao. Yêu nhau thì khó; giết nhau thì dễ.
Tại sao có người muốn tiêu diệt hàng triệu người trên hành tinh này? Câu trả lời là sự quá tải dân số. Chỉ vì có quá nhiều người tranh nhau các nguồn tài nguyên hạn chế. Trong nhiều thập kỷ, một số nhà quy hoạch thế giới khẳng định rằng cần có những biện pháp giảm dân số thế giới. Không may là các chương trình kiểm soát sinh đẻ bắt buộc đã tỏ ra không hiệu quả.
Tại Hội nghị thượng đỉnh về trái đất ở Rio de Janeiro tháng 6 năm 1992, chủ đề về sự tăng nhanh dân số thế giới đã bị hoãn lại, thoạt tiên do áp lực từ Vaticăng và những người Hồi giáo chính thống. Các biện pháp hạn chế tăng dân số bị coi là “không đúng đắn về chính trị”.
Sự lây nhiễm HIV đã chứng tỏ là một công cụ kiểm soát sinh đẻ có hiệu quả cao để giảm dân số ở những khu vực nhất định của thế giới, đặc biệt là châu Phi. Người ta dự đoán rằng Uganda sẽ có 20 triệu dân trong vòng 15 năm, thay cho 24 triệu, do có thể chết vì lây nhiễm vi rút AIDS.
Các thống kê hiện tại về sự tăng không có kiểm soát của dân số nhân loại thật đáng kể. Theo tài liệu do Tổ chức tăng trưởng dân số số không thì “trong 6 giây mà bạn đọc xong câu này, dân số thế giới đã tăng thêm 24 người, trong vòng một giờ tăng lên 11.000, hết ngày hôm nay tăng 260.000. Và 2 ngày nữa tính từ bây giờ, tổng số dân tăng thêm sẽ đủ ở đầy một thành phố cỡ San Francisco. Chúng ta đang tăng thêm 95 triệu người mỗi năm. Không lấy làm lạ người ta gọi đó là cuộc chạy thi dân số!”. Dân số thế giới hiện nay là 5,3 tì chắc sẽ tăng tới 10 tỉ vào năm 2050.
Giới truyền thông Mỹ đã kiểm duyệt mọi sự bàn bạc nghiêm túc về AIDS như một căn bệnh do con người tạo ra, và đã bác bỏ những lời tố cáo, coi như sự tuyên truyền xấu xa nhất. Thực khó tin là câu chuyện chiến tranh vi trùng đã bị dập đi trong hơn một thập kỷ. Tuy nhiên, trong vài năm qua, mọi người đã có được nhận thức sâu sắc về chính phủ “bí mật” đã điều hành nước Mỹ và thường xuyên nói dối công chúng. Ngày hay, người ta đã biết rõ rằng các cơ quan bí mật như FBI và CIA và các tổ chức lén lút như mafia đều có ảnh hưởng đến các công việc quan trọng của nước Mỹ. Các cơ quan đó đều hoạt động ngoài ý muốn của nhân dân Mỹ.
Những phim như JFK của Oliver Stone đã gây nên một làn sóng công phẫn đối với việc ỉm đi chứng cớ và các sự việc xung quanh vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy. Ngày nay, 30 năm sau vụ giết Kennedy, những người Mỹ đã biết nhiều về âm mưu của Chính phủ Mỹ dẫn đến việc giết Kennedy trong “cuộc đảo chính” năm 1963.
Người ta hẳn nghĩ rằng câu chuyện chiến tranh vi trùng sẽ là bản tin tuyệt vời trên vô tuyến, một nền công nghiệp chuyên say mô cóc trò giải trí, tình dục, và xì căng đan. Chẳng hạn “Bản tin mười một giờ” của đài ABC (19/5/1992) đưa tin về các sự kiện đáng đưa tin sau đây trong ba mươi phút buổi tối: Một cuộc phỏng vấn với Tom Cruise và Nicole Kidman đang gắng công thực hiện bộ phim mới Xa cách biệt, các trích đoạn của bộ phim sắp trình chiếu Người ngoài hành tinh 3, một tác phẩm ngắn của Ringo Starr cựu thành viên ban Beatle trước kia, một mẩu tin về việc có thể tìm lại “nịt ngực” của Madonna bị lấy trộm mất ở Hollywood, một câu chuyện về việc Larry Fortensky (chồng của Elizabeth Taylor) bị kiện ra tòa về tội lái xe khi đang say. Các mẩu tin khác gồm tin ngắn về các chú chó cảnh sát, những gay go về pháp lý của một người đàn ông Georgia bị tố cáo hiếp dâm một phụ nữ bị rối loạn nhân cách, sự tiết lộ rằng cái chết của “Brady Bunch” cha (Robert Reed) có liên quan đến AIDS, và một mẩu tin về bệnh sởi ở Đức. Hai đoạn tin quan trọng nhất liên quan đến Jesse Jackson (“Tất cả chúng ta phải học sống cùng nhau”), và phó Tổng thống Dan Quayle tìm cách trở lại “các giá trị gia đình” và việc ông lên án nhân vật trên vô tuyến “Murphy Brown” có con ngoài giá thú. Ngoài ra, tin thể thao và tin thời tiết (và vô số tin thương mại) bổ sung cho “các sự kiện quan trọng” trong ngày.
--------------------- 1. Ngày 4-2-2003, Nhà nước Sécbia và Môngtênêgroo đã chính thức được tuyên bố thành lập, thay thế Liên bang Nam Tư sau 75 năm tồn tại (B.T).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 06:41:38 am » |
|
Những người mê tín về các âm mưu biết rằng giới truyền thông chủ yếu bị kiểm soát bởi các nhóm lợi ích làm ăn lớn. Những kẻ kiểm soát, điều hành và kiểm duyệt giới truyền thông biết rõ các hàm ý chính trị và xã hội của câu chuyện chiến tranh sinh học AIDS. Một số nhà nghiên cứu các âm mưu tin rằng việc giới truyền thông ỉm đi câu chuyện về AIDS làm cho nó thậm chí đáng tin hơn.
Ngày nay, muốn có nhiều thông tin thì cần biết nhiều thứ hơn là chỉ nghe đài hay tin trên vô tuyến và đọc báo hằng ngày. Các cuốn sách bao giờ cũng là nguồn thông tin tốt hơn, nhưng bây giờ ít người đọc. Một cuộc khảo sát mới đây của Hội bán sách Mỹ tiết lộ 60% gia đình Mỹ không mua một cuồn sách nào trong năm 1991. Trong số 40% người mua sách thì 99% liệt họ vào loại “da trắng”. Hai phần ba số sách được mua là “tiểu thuyết”.
Mặc dầu có những âm mưu ỉm đi câu chuyện chiến tranh sinh học AIDS, những mẩu tin vẫn dần dần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Trên chương trình “Giải trí ngày nay” (một chương trình vô tuyến của CNN phát vào Ngày lễ Tạ ơn năm 1991), Bill Cosby làm khán giả sửng sốt khi nói “AIDS được con người khơi xướng nhằm đuổi đi những người mà họ không thích”. Sau này Cosby nói với tờ Người điều tra quốc gia (24/12/1991): “Tôi tin AIDS đã được con người tạo ra. Những người tạo ra AIDS không nhận ra sự hủy diệt họ sẽ gây nên”. Một bài xã luận của tờ Bưu điện New York (ngày 4 tháng 12) phê phán những lời của Cosby là “chuyện xấu xa” và “rất có ích cho những kẻ muốn gây hằn thù giữa các nhóm người và kích động bạo lực”.
Khi một phóng viên tờ Luật sư (10/9/1991) hỏi Grace Jones về AIDS, nữ hoàng disco da đen nổi tiếng này của những năm 1970 nhận xét: “Tôi thực sự nghĩ rằng AIDS là một cái gì đó được gieo rắc - một cuộc chiến tranh vi trùng tuột khỏi vòng kiểm soát”. Trong một cuộc phỏng vấn khác của tờ Luật sư (25/2/1992), phóng viên tin tức Geraldo Rivera được hỏi liệu AIDS có phải là một âm mưu hay một cuộc thử nghiệm y học thất bại. Rivera lảng tránh câu hỏi bằng cách nói: “Tôi nghĩ những nguồn gốc của AIDS ít liên quan đến điều ta bàn hơn nhiều so với cung cách lan truyền AIDS”.
Diễn viên Steven Seagal, người đã làm vài phim hành động nổi tiếng, đã viết một kịch bản về AIDS như một căn bệnh do người tạo ra. Seagal nói kịch bản của ông đã bị các nhà sản xuất phim bác bỏ, cho ý tưởng của ông là “vô trách nhiệm về mặt xã hội”. Diễn viên này nói với tờ Tin thế giới trong tuần (11/2/1992): “Tôi tin rằng chúng ta đã bị dối trá về AIDS. Tôi tin nó là một vi rút do con người tạo ra, chứ không phải từ những con khỉ xanh”.
Trong tờ Đá lăn, nhà làm phim người da đen Spike Lee viết rằng một ngày nào đó nhiều người sẽ phải đưa ra rất nhiều lời giải thích về AIDS. Làm thế nào mà một căn bệnh bí hiểm và không chữa trị được có thể xuất hiện không biết từ đâu và nhắm đặc biệt vào những người đồng tính và các nhóm thiểu số? Lee nghĩ căn bệnh bí hiểm này “cũng bí hiểm như như nạn diệt chủng”. Ông tin “AIDS là một căn bệnh do chính phủ tạo ra. Họ không bao giờ nhận ra rằng nó không bị giới hạn ở những nhóm người mà người ta định quét sạch”. Lee có phải là người hoang tưởng không? Ông tuyên bố: “Bạn có thể nghĩ tôi điên khi nói vậy. Tôi không nghĩ thế”.
Hiện nay, ngay cả người Mỹ hoài nghi nhất cũng biết rằng thực sự có những hoạt động giấu giếm và những âm mưu của chính phủ. Trong một câu chuyện của tờ Thời báo Los Angeles (9/2/1992), Dan Oldenburg nêu vắn tắt các thuyết chính về âm mưu, hiện đang phổ biến. Đứng đầu dãy liệt kê của ông là thuyết cho rằng “AIDS là một căn bệnh của nhà thiết kế” được các nhà khoa học của Chính phủ Mỹ tạo ra trong những phòng thí nghiệm tối mật nhằm các mục đích cải tạo giống và nhằm diệt chủng những người đồng tính, những người dùng ma túy, người da đen và những người ít đặc quyền trong xã hội”. Oldenburg không bàn về chiến tranh sinh học AIDS, chọn cách phân loại thuyết này như một trong nửa tá “các câu chuyện thực mà họ không muốn chúng ta biết”.
Cách trả lời thông thường hoàn toàn bác bỏ (và có thể hiểu được) đối với ý kiến cho rằng AIDS là một chương trình diệt chủng lén lút. Trong khi thành phố Los Angeles đang cháy, tôi có phần đứng về phía bác bỏ. Tôi nghĩ toàn bộ chuyện này là một cơn ác mộng và tôi sẽ sớm tỉnh dậy. Sự phá hoại và giết chóc là những ảo giác, không thật. Những sự bắn giết, đốt phá điên cuồng, những âm thanh của cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Bâyrút, không phải ở đây trong cái thành phố tôi đang sống.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 11:48:26 am » |
|
Bộ máy tâm lý phòng vệ của con người như thế được gọi là “bác bỏ”, là lý lẽ mạnh nhất chống lại việc coi AIDS là căn bệnh do người tạo ra. Đối với nhiều người, ý tưởng đó quá đau đớn không chịu nổi, nên họ nhanh chóng gạt nó ra khỏi đầu óc. Và mọi người cứ tiếp tục vờ như nó không bao giờ có thể có.
Theo kinh nghiệm của tôi, các thầy thuốc là những người không dễ tiếp nhận nhất đối với các khái niệm chiến tranh sinh học AIDS. Phần lớn các bác sĩ cho ý tưởng đó là vô lý. Chủ đề
AIDS như là một cuộc chiến tranh sinh học ít khi được nói tới trong ấn phẩm y học, và thường bị coi là vô lý không đáng phân tích. Ví dụ, trong Tập san Y học Anh có uy tín (“Nguồn gốc của AIDS”, số ra ngày 13/5/1989), Myra McClure và Thomas Schultz mau chóng bác bỏ lời khẳng định rằng AIDS thoát ra từ một phòng thí nghiệm chiến tranh vi trùng. Họ chỉ viết: “Việc thiếu chứng cớ ủng hộ đã loại trừ việc thảo luận nghiêm túc giả thuyết kỳ quái như vậy. Bài tổng quan này bàn về các thuyết về nguồn gốc của HIV có thể tin được về mặt khoa học”. Hết thảo luận.
Một cách đáp lại thông thường của các nhà nghiên cứu AIDS đối với vấn đề chiến tranh sinh học là họ quá bận cố tìm cách chữa trị AIDS đến nỗi họ không có thời gian điều tra điều ngu ngốc ấy. Ngay cả các nhà hoạt động AIDS đồng tính cũng dùng mánh khóe này.
Giám đốc điều hành Martin Delaney của Dự án Thông tin, một tổ chức phi lợi nhuận của cộng đồng đồng tính cung cấp dịch vụ chữa trị AIDS cho hơn 60.000 người, cho ta một ví dụ về kiểu trả lời như vậy. Viết trên tờ Luật (5/5/1992), Delaney hỏi liệu các vắc xin bại liệt của người châu Phi những năm 1950 có bị nhiễm HIV không. Nếu vắc xin đã bị nhiễm, Delaney gợi ý điều đó “có thể tạo sự hỗn loạn trong các phiên tòa... và nó sẽ đặt một gánh nặng ân hận kinh khủng lên những người mà trong những năm 1950 đã đấu tranh để cứu thế giới khỏi bệnh dịch bại liệt”. Ông ta kết luận: “Cho tới nay thuyết bại liệt vẫn chỉ là sự suy đoán. Nhiều nhà khoa học thấy thà cứ để nó như vậy thôi, sợ rằng một phát hiện dương tính có thể khiến công chúng thiên về chống lại việc thử vắc xin AIDS khi nó cực kỳ cần. Việc xét nghiệm các mẫu có thể là cách duy nhất để chấm dứt sự suy đoán. Đây vẫn là cái kiểu cùng lắm là đảnh lạc hướng khỏi những vấn đề thực sự của AIDS”.
Tại sao các nhà hoạt động AIDS tránh chủ đề chiến tranh sinh học AIDS? Rõ ràng là họ sợ một cuộc đối đầu về vấn đề này. Các nhà hoạt động luôn nài nỉ chính phủ tài trợ thêm. Việc tố cáo các viên chức cố tình diệt chủng dân đồng tính có thể khiến chính phủ chấm dứt lắng nghe những yêu cầu của dân đồng tính.
Trong khi các chuyên gia AIDS đang bận rộn tìm một cách chữa trị hay một phương thuốc hoặc vắc xin hiệu quả cho AIDS, con số người chết trên toàn thế giới vẫn tăng lên.
Thống kê của WHO năm 1992 cho thấy rằng 11 triệu người ở các nơi trên thế giới đang mang vi rút AIDS. Cuối thế kỷ 20, 40 triệu người lớn và trẻ em chắc sẽ chết vì căn bệnh này. Ở một số nơi thuộc châu Phi, trên một phần ba số người lớn bị nhiễm bệnh. Vào năm 2015, Cục thống kê dân số Mỹ dự đoán sẽ có 70 triệu ca bệnh ở châu Phi và 16 triệu trẻ em mồ côi. Vào giữa những năm 1990, 3 triệu người châu Á sẽ bị nhiễm.
Ngay sau khi WHO đưa ra thống kê năm 1992, Liên minh Chính sách AIDS toàn cầu đặt cơ sở ở Harvard ước tính rằng có tới 110 triệu dân sẽ bị nhiễm HIV vào năm 2000. Con số này cao hơn 70 triệu so với ước tính của WHO. Báo cáo nghiên cứu của Đại học Harvard, trình bày tại Hội nghị Quốc tế lần thứ tám về AIDS, cho thấy rằng có tới 2,6 triệu người hiện có AIDS phát triển đầy đủ, và 13 triệu người nữa đang bị nhiễm.
Thống kê năm 1993 cho thấy rằng 250 ngàn người Mỹ mắc phải AIDS. Số người chết là 155.000, tương đương tổng dân số New Haven, bang Connecticus, hoặc dân số những thành phố như Orlando của Florida, Peoria của Illinois, Ann Arbor của Michigan, hay Youngtown Ở Ohio.
Hiện tại 33% các ca bệnh ở Mỹ là người da đen, 17% Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, 12% phụ nữ. Trong số các thanh thiếu niên bị AIDS, 37% là người da đen, 19% người Latinh. Năm 1991, mỗi ngày có 100 người Mỹ chết vì AIDS. Năm 1993 con số đó là 300 mỗi ngày.
Mức bị AIDS cao trong cộng đồng da đen một lần nữa lại làm hiện lên bóng ma diệt chủng người da đen. Một bài xã luận Thời bảo York (“kế hoạch AIDS chống người da đen”, ngày 12 tháng 5 năm 1992) nhấn mạnh lại rằng: “Dường như có vẻ kỳ quặc đối với phần lớn mọi người, nhiều người Mỹ da đen tin rằng AIDS và các biện pháp y tế dùng để chữa AIDS là một phần của âm mưu quét sạch chủng tộc da đen. Một số người da đen tin rằng AZT, phương thuốc khắc nghiệt dùng để chống căn bệnh này là một âm mưu đầu độc họ”. Bài xã luận kêu gọi các lãnh tụ da đen như Magic Johnson lên tiếng chống lại “những lời đồn đại độc địa và gây chán nản”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 11:48:52 am » |
|
Trong một bài xã luận ngày 25 tháng 5 năm 1992, Charles Orteb, nhà xuất bản tờ báo của dân đồng tính Người New York, khẳng định rằng thuốc AZT độc hại chữa AIDS được Cơ quan quản lý dược - thực phẩm Hoa Kỳ duyệt là một phần của chương trình diệt chủng chống những người đồng tính và người da đen. Ông công kích tờ Thời báo là “cái loa của các “nhà nghiên cứu” AIDS suy đồi và không có năng lực”.
Cuộc tranh cãi xung quanh phát hiện của Robert Gallo về vi rút AIDS không cho thấy các dấu hiệu suy giảm. Phóng viên đài truyền hình ABC Sam Donaldson đã có một đoạn chương trình về nhà nghiên cứu AIDS hàng đầu thế giới này trong chương trình Trực tiếp lúc cao điểm (2/4/1992). Những người ngang hàng với Gallo đã thẳng thừng lên án đạo lý của ông ta.
Donald Francis, người giám sát cuộc thử nghiệm viêm gan của dân đồng tính, bảo Donaldson rằng phát hiện HIV của Gallo là “một điều dối trá”.
Randy Shilts, phóng viên về AIDS, người đã khởi xướng câu chuyện Bệnh nhân số không, cũng chê bai Gallo bằng cách nói thêm: “Mọi người điều biết rõ là ông ta đã chơi những cú lừa bịp khoa học lớn nhất của thế kỷ 20”.
Luc Montagnier cười khẩy giải thích cẩn thận: “Dĩ nhiên chúng tôi là người đầu tiên cô lập vi rút ấy”.
Suzanne Hadley của Văn phòng Khoa học tại Viện Y tế quốc gia, đứng đầu một cuộc điều tra chính thức về phòng thí nghiệm của Gallo và đưa ra một báo cáo gây choáng váng về nghiên cứu và đạo đức của ông ta. Báo cáo của Hadley làm chính những người giám sát bà tức giận đến nỗi bà bị chuyển ra khỏi ủy ban điều tra và đưa sang một phòng khác của Viện Y tế quốc gia.
Gallo từ chối cuộc phỏng vấn của Donaldson. Khi người phóng viên này dùng cách ép buộc ông nói trước ống kính về vấn đề liên quan đến Viện Y tế quốc gia, nhà khoa học về AIDS gạt Donaldson sang bên và gọi anh ta là “một kẻ khó chịu”.
Donaldson cố hỏi: “Ông có điều gì giấu giếm không?”
Rõ ràng quá bực tức, Gallo lặp lại: “Tôi nói, thưa ông Donaldson, ông là một kẻ khó chịu!”
Donaldson: “Có thể như vậy, nhưng chúng tôi đang hỏi ông liệu ông có phải là người phát hiện đầu tiên của vi rút AIDS hay không”.
Gallo: “Hãy tự hỏi anh ấy”.
Sau khi bản báo cáo không khoan nhượng của Suzanne Hadley bị bỏ, một báo cáo cáo khác của Viện Y tế quốc gia được chuẩn bị. Lần này Gallo được miễn hoàn toàn mọi cáo buộc xấu xa trong khoa học. Bản báo cáo hiện đang được James Mason, Thứ trưởng Bộ Y tế và Phúc lợi con người duyệt lại.
Gallo vẫn chưa thoát gay go. Theo tờ Khoa học (12/4/1992'), giám đốc Viện Y tế quốc gia Bernadine Healy không thỏa mãn và tuyên bố bản báo cáo không trả lời “những câu hỏi lớn”. Vi rút có bị phòng thí nghiệm của Gallo ăn cắp không? Danh hiệu phát hiện vi rút có bị ăn cắp không? Healy nói đó là những câu hỏi mà công chúng Mỹ muốn được trả lời.
Tờ Người New York hết sức phê phán cái khoa học bắt nguồn từ phòng thí nghiệm “đầy tội ác” của Gallo. Phóng viên Neenyah Ostrom nhắc người đọc rằng hai trong số những người cùng cánh hàng đầu của Gallo, Prem Sarin và Syed Zaki Salahuddin bây giờ bị coi là trọng phạm vì những tội ác phạm phải trong khi làm việc cho Gallo. “Sarin bị kết án biển thủ tiền dành cho nghiên cứu AIDS; và Salahuddin thú nhận đã nhận tiền biếu bất hợp pháp. Cả hai làm lệch lạc các thể thức tài chính của chính phủ”. Dẫu vậy, tên của Salahuddin vẫn xuất hiện trên các tờ báo khoa học do Viện Hàn lâm khoa học quôc gia xuất bản. Ostrom hỏi: “Nếu Sarin và Salahuddin cố ý nói dối và ăn cắp, vậy công trình khoa học của họ có đáng được chấp nhận không có nghi vấn gì hay không?”.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ tám về AIDS, tổ chức ở Amsterdam tháng 7 năm 1992, các nhà khoa học thế giới bị báo động với các báo cáo về một “retrovirus trong túi chứa dịch của người” đã tấn công hệ thống miễn dịch, gây ra một bệnh giống như AIDS. Chín người ở Quận Cam, bang California có chứng cớ của loại bệnh mới do vi rút đó gây ra. Tất cả đều có xét nghiệm âm tính với HIV, và tất cả những người đó có một căn bệnh không phân biệt được với AIDS.
Một reirovirus mới nữa được tìm thấy trong một nhóm bệnh nhân ở thành phố New York. Một lần nữa, tất cả đều có bệnh giống như AIDS và xét nghiệm HIV âm tính. Dự đoán trước đây của Robert Strecker đang trở thành sự thực. Nhiều năm trước đây ông nói các căn bệnh mới gây ra bởi retrovirus được tạo ra bằng công nghệ gien sẽ “liên tiếp trút xuống”. Ông thường nhận xét “AIDS chỉ là sự bắt đầu. Chẳng bao lâu nữa, các bệnh khác giống như AIDS sẽ được phát hiện - tất cả đều với các vi rút có nguồn gốc không biết”.
Có phải căn bệnh bí hiểm mới ảnh hưởng tới các cựu binh chiến tranh vùng Vịnh là một bệnh khác được tạo ra? Vài trăm đàn ông từ các đơn vị khác nhau kêu họ hoàn toàn khỏe mạnh trước khi trở về nhà từ Trung Đông và rồi bị ốm với những triệu chứng thể trạng quái lạ và một hệ thống miễn dịch bị ức chế. Những người lính nằm bệnh viện thì cực kỳ kiệt sức, các khớp sưng và đau, lợi chảy máu và rụng răng, tóc rụng, phát ban lạ và nhức đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|