Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:01:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật quân sự trong chiến đấu ★★  (Đọc 18787 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2020, 07:30:28 am »

TRẬN CÂU LẠC BỘ SĨ QUAN MỸ (NCO) CỦA BIỆT ĐỘNG THÀNH PHỐ NHA TRANG
(3.9.1967)

Trận tập kích của tổ biệt động thành phố Nha Trang (5 người), trang bị 5 mìn Claymo và 8 kíp nổ hẹn giờ do Hoài Phong chỉ huy vào câu lạc bộ sĩ quan Mỹ (NCO) trên đường Duy Tân (nay là khách sạn số 38 - Trần Phú) thành phố Nha Trang, được một tiểu đội địch bảo vệ, thường xuyên có 400 đến 500 sĩ quan sinh hoạt vào các buổi tối; nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực cao cấp của địch, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng.

20 giờ ngày 30 tháng 8, năm chiến sĩ biệt động dùng xe đạp chở theo 5 quả mìn bí mật vượt qua cổng tiến vào hàng rào phía bắc câu lạc bộ, dùng móc lưỡi câu móc 4 quả mìn Claymo vào lưới chống đạn B40 (mỗi quả cách nhau 10m, cao l,2m), rút chốt hẹn giờ, rồi nhanh chóng trở ra ngoài an toàn. Cùng thời gian, Lê Thị Ngọc Mai vào góc rào đông bắc và cài xong quả mìn vào nơi quy định.

20 giờ 30 phút, cả 5 quả mìn đã bố trí xong, cả tổ chuẩn bị lui quân thì phát hiện bên ngoài nhà Võ Đình Dung, gần chỗ các quả mìn ta vừa bố trí có mấy cháu nhỏ chạy ra sân chơi đùa, nếu mìn nổ thì rất khó bảo toàn được tính mạng cho các cháu, nên Hoài Phong quyết định gỡ các quả mìn và lùi trận đánh vào một ngày khác.

20 giờ 30 phút ngày 3 tháng 9, vẫn theo phương án đã chuẩn bị, tổ bí mật tiếp cận mục tiêu, bố trí các quả mìn vào vị trí quy định. Lần này ta chỉ sử dụng ba qua mìn Claymo, hai quả (một quả 3,2kg, một quả 2kg) bố trí ở hàng rào phía bắc và một quả (2kg) bố trí ở hàng rào phía đông bắc. Bố trí xong mọi người về vị trí đã định.

21 giờ 2 phút, bất ngờ ba tiếng nổ bùng lên từ câu lạc bộ sĩ quan Mỹ, tiêu diệt và làm bị thương 216 tên (chủ yếu là sĩ quan).

Thắng lợi của trận đánh cho thấy: phải chuẩn bị chiến đấu chu đáo, chặt chẽ, tỷ mỷ. Chính làm tốt những điều trên mà ta đã giữ được bí mật, bất ngờ và an toàn tuyệt đối, đánh địch với hiệu suất chiến đấu cao.

TRẬN HỔNG THANH CỦA DU KÍCH ĐỊA PHƯƠNG
(18.9.1967)

Trận phục kích bắn máy bay trực thăng địch của du kích xã Hồng Thanh (8 người), huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận do Trần Tấn Tiễn chỉ huy, trang bị một khẩu Mas 36, một khẩu K44, một khẩu súng trường Mỹ và 60 viên đạn; nhằm chống địch càn quét, đánh phá và hạn chế khả năng bắn phá của máy bay địch vào căn cứ, bảo vệ nhân dân.

6 giờ ngày 18 tháng 9, tổ trực chiến Trần Tấn Tiễn, Nguyễn Thanh Bình, Trần Thanh Hiền và Nguyễn Lộc ở trận địa phục kích, sẵn sàng chiến đấu theo đúng kế hoạch.

7 giờ 15 phút, một chiếc HU-1A của địch xuất hiện và bay thẳng về phía công sự của Trần Thanh Hiền, anh ngắm ngay đầu máy bay bắn liền hai phát. Chiếc HU-1A vội vọt lên cao, dùng đại liên và M79 bắn xuống.

Lợi dụng lúc máy bay địch đang rà, lượn, bắn phá hầm của Hiền, Tiễn bình tĩnh giương súng ngắm chính xác, bắn liền 4 viên đạn vào máy bay địch. Chiếc HU-1A bốc cháy và rơi cách trận địa khoảng 1km.

Sau khi chiếc HU-1A của địch bị bắn cháy và lao xuống biển, một chiếc “cán gáo” của địch ở phía nam lao tới tìm mục tiêu. Khi chiếc “cán gáo” sà xuống gần hầm của Bình và Lộc, Bình chớp thời cơ bắn hai phát đạn. Chiếc “cán gáo’’ trúng đạn, lao xuống cách trận địa khoảng 500m về phía bắc.

Sau khi bắn rơi hai chiếc trực thăng của địch du kích lui quân về vị trí quy định, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Trận Hồng Thanh thắng lợi nhờ biết tổ chức xây dựng trận địa phục kích bắn máy bay bay thấp; nhờ nắm vững thời cơ, bất ngờ nổ súng tiêu diệt máy bay địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2020, 07:31:23 am »

TRẬN AN TRƯỜNG CỦA ĐẠI ĐỘI 6 TIỂU ĐOÀN 8
(27.9.1967)

Trận phòng ngự của Đại đội 6 Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 (43 người), trang bị 5 khẩu B40, một khẩu đại liên, một khẩu cối 60mm, còn lại là súng trường, tiểu hên, trung liên, được tăng cường một trung đội 12,7mm; chống lại lữ đoàn 2 sư đoàn 25 ở khu vực Tuần Dưỡng đánh vào trận địa chốt tại khu vực An Trường (Gia Hội); nhằm giữ vững trận địa, tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng.

10 giờ ngày 27 tháng 9, trinh sát tiểu đoàn báo cáo có 57 xe thiết giáp địch từ Tuần Dưỡng về hướng Gia Hội. Đại đội quyết định điều chỉnh lực lượng, bố trí lại thế trận, động viên bộ đội đánh xe tăng, xe bọc thép địch bằng trang bị hiện có, giữ vững trận địa.

10 giờ 45 phút, xe tăng địch qua Gia Hội đến gần trận địa trung đội 12,7mm, trung đội tổ chức lùi về sau, địch phát hiện sử dụng một mũi vu hồi hướng điểm cao 59 chặn đường và dùng lực lượng đánh vào đội hình trung đội.

11 giờ 30 phút, địch tổ chức hai mũi tiến công vào trận địa Đại đội 6. Trên hướng đông nam, Trung đội 3 bắn cháy hai chiếc đi đầu, địch hoảng sợ lùi ra xa dùng pháo, đại liên trên xe bắn rồi lợi dụng hoả lực đánh mạnh, chúng cho xe bí mật theo sườn nam, một mũi theo sườn đông đánh vào trận địa của Trung đội 2; Trung đội 2 bắn hỏng một chiếc. Địch tiếp tục dùng pháo trên xe, pháo ở Tuần Dưỡng, máy bay phản lực ném bom bắn phá ác liệt.

Từ 9 giờ ngày 27, Đại đội 6 không liên lạc được với tiểu đoàn và trung đoàn, khi trung đội 12,7mm về sở chỉ huy trung đoàn báo cáo tình hình Đại đội 6, trung đoàn lập tức cho người bắt liên lạc với Đại đội 6 và lệnh cho Tiểu đoàn 8 sử dụng một trung đội bộ binh trang bị B40, B41 do tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy ra chi viện cho Đại đội 6.

13 giờ 40 phút, địch tổ chức hai mũi tiếp tục tiến công vào trận địa. Ở hướng nam, Trung đội 1 bắn cháy hai chiếc, nhưng lực lượng địch còn mạnh nên khi mũi hướng bắc của ta đánh vào đã cắt đội hình địch thành hai cụm phía đông và phía tây. 14 giờ 30 phút, trung đoàn sử dụng Đại đội ĐKZ (6 khẩu) do chủ nhiệm pháo binh vận động đến chi viện cho Đại đội 6. Địch tập trung 8 xe đột phá vào trận địa Trung đội 2, bị bắn cháy một chiếc, các chiếc còn lại không dám tiến công vào nữa.

Trung đội bộ binh của tiểu đoàn và Đại đội ĐKZ của trung đoàn đến chi viện cho Đại đội 6 nhưng không tiếp cận được mục tiêu, bỏ lỡ thời cơ diệt địch.

Sau một ngày chiến đấu kiên cường, đại đội diệt 5 xe bọc thép, bắn bị thương một chiếc khác; loại khỏi vòng chiến đấu 45 tên địch.

Trận An Trường, một trận đánh không cân sức, quân ta ít hơn, vũ khí kém hơn so với bộ binh cơ giới của địch, nhưng ta đã đẩy lui các đợt tiến công của chúng, giữ vững trận địa. Điều đó cho thấy: “Một phân đội quân ta với vũ khí mang vác, được tổ chức chỉ huy tốt có thể đánh bại cỡ tiểu đoàn bộ binh cơ giới của địch tiến công, giữ vững trận địa”.

TRẬN GÒ ĐU CỦA TIỂU ĐOÀN BỘ BINH 90
(8.10.1967)

Trận vận động tiến công của Tiểu đoàn 90 Trung đoàn bộ binh 1 Sư đoàn 2 Quân khu 5 (được tăng cường một đại đội súng máy phòng không 12,8mm, hai khẩu cối 82mm); nhằm đánh vào một đại đội lính dù địch thuộc sư đoàn 101 đang càn quét và trụ lại ở gò Đu thuộc thôn Hoá Trung, xã Sơn Tú, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Sau khi nhận nhiệm vụ, tiểu đoàn xây dựng các phương án chiến đấu và tổ chức đội hình sẵn sàng đánh địch.

Theo kế hoạch, Đại đội 1 đứng chân ở đông Bàn Cờ, dựa vào rừng rậm và ruộng bậc thang để triển khai; Đại đội 2 triển khai đội hình ở tây gò Đu, nam Bàn Cờ, hướng về đường 16; Đại đội 3 bố trí ở đông thôn Bàn Cờ; Đại đội 4 bố trí ở luỹ tre trước làng. Các đại đội súng máy phòng không 12,8mm, cối 82mm do tiểu đoàn chỉ huy, bố trí ở đông Bàn Cờ, gần làng.

Quá trình chiến đấu, tiểu đoàn được cối của trung đoàn chi viện, có Đại đội 2 Tiểu đoàn 40 ở bắc sông Trầu sẵn sàng vận động qua cầu Tây An Tây hiệp đồng với Tiểu đoàn 90 đánh địch ra phía bắc gò Đu.

23 giờ ngày 7 tháng 10, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

8 giờ ngày 8 tháng 10, phát hiện địch đốt nhà dân ở đông bắc gò Đu, tiếp đó chúng đốt nhà, cướp phá khu vực Nhà máy xay, sau đó chia làm hai cánh, một cánh theo sườn gò Đu xuống, một cánh theo phía đông bắc gò Đu 10 giờ 30 phút, địch trở lại gò Đu.

11 giờ 30 phút, tiểu đoàn lệnh cho các đơn vị xuất kích chặn đánh cánh quân ở đông bắc gò Đu. Lúc này Đại đội 1 lên hướng đông bắc Bàn Cờ, Đại đội 2 ra hướng chính diện, Đại đội 3 thay vị trí Đại đội 1 (làm dự bị). Được tin một đại đội địch đang tới gần gò Đu, tiểu đoàn được lệnh dừng lại triển khai đội hình chuẩn bị đánh địch. Sau khi điều chỉnh quyết tâm, tiểu đoàn sử dụng một bộ phận của Đại đội 1 ngăn chặn địch, dùng một trung đội của Đại đội 2 đánh địch chính diện, còn hai trung đội vòng bên phải đánh tạt sườn.

Bị đánh bất ngò, địch quay sang chống đỡ hướng tiến công của Đại đội 2.

Nghe tiếng súng Đại đội 1 nhanh chóng cơ động bao vây địch ở gò Đu, hiệp đồng với Đại đội 2 diệt địch. Khi hoả lực bắn vào gò Đu, tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 3 vu hồi theo sườn nam gò Đu đánh vào sau lưng địch.

Lợi dụng địch đang tập trung hoả lực chống đỡ với đại đội 1 và 2, Đại đội 3 bí mật tiếp cận sát địch, dùng hoả lực bất ngờ diệt ngay khẩu đại liên; sau đó chia thành từng mũi nhỏ, dùng lựu đạn, thủ pháo, bắn gần diệt từng ụ súng, hoả điểm của địch.

Cùng lúc Tiểu đoàn 90 đánh địch, trung đoàn lệnh cho cối của Tiểu đoàn 40 bắn vào quân địch đang ở Tranh - An Tây.

14 giờ 15 phút một bộ phận địch ở làng phía đông gò Đu chạy lên khu vực hòn đá cao, trung đoàn lệnh cho Đa đội 2 Tiểu đoàn 40 xuất kích diệt địch.

Sau 40 phút chiến đấu, 196 tên địch bị diệt. Ta thu 54 súng các loại.

Trận đánh thắng lợi đã nâng cao trình độ tổ chức vân dụng hình thức chiến thuật vận động tiến công của đơn vi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:04:18 am »

TRẬN HOẰNG TRƯỜNG CỦA TRUNG ĐỘI LÃO DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(14.10.1967)

Trận phục kích của Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường (18 người) do cụ Hợp làm trung đội trưởng, trang bị 3 khẩu 12,7mm, biên chế thành ba khẩu đội, trận địa đặt ở bắc điểm cao 201 thuộc xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, nhằm bắn rơi máy bay Mỹ, cùng con cháu bảo vệ quê hương.

Sau một thời gian tập luyện sử dụng vũ khí và phương án đánh địch, xã tổ chức lễ xuất quân trang trọng, ba khẩu đội được bố trí ở khu vực điểm cao 201, các cụ vừa trực chiến vừa luyện tập thêm.

12 giờ ngày 14 tháng 10 năm 1967, một tốp máy bay F4H từ biển bay vào vòng qua trận địa, chiếc thứ nhất bổ nhào cắt bom ở độ cao lớn hơn so với tầm bắn, các cụ chưa nổ súng. Không thấy hoả lực bắn lên, chiếc thứ hai bổ nhào thấp và gần hơn. Đúng phần tử bắn, cả ba khẩu 12,7mm đồng loạt nhả đạn, chiếc F4H trúng đạn bốc cháy lao ra biển rơi cách bờ khoảng 1 hải lý.

Không đầy 5 phút từ lúc máy bay xuất hiện, các cụ đã hạ một chiếc F4H. Đây là chiếc máy bay thứ 2.400 của Mỹ bị quân và dân miền Bắc bắn rơi. Chiến công của các cụ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen: “Tuổi cao chí càng cao” và tặng Huy hiệu của Người cho các cụ vào ngày 25 tháng 8 năm 1970, Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường đã được Quốc hội, Chính phủ tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

TRẬN HÀ RE CỦA PHÂN ĐỘI DÂN QUÂN GÁI VÕ NINH
(10.11.1967)

Trận phục kích của phân đội dân quân gái (26 người), trang bị ba khẩu súng máy phòng không 12,7mm, do xã đội phó Phạm Thị Phú chỉ huy (ở Hà Re thuộc xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) nhằm đánh máy bay Mỹ, bảo vệ phà Quán Hàu và các đoàn xe qua xã chi viện cho miền Nam ruột thịt.

14 giờ ngày 10 tháng 11 năm 1967, ba chiếc F4H từ ngoài biển bay vào, cả phân đội sẵn sàng nổ súng. Ba máy bay bay thấp lướt qua phà Quán Hàu, vòng về phà Trúc Ly (phà 2). Bất ngờ chiếc đi đầu chuyển hướng bay về khe Đình Thuỷ rồi vòng trở lại, hai chiếc tiếp sau theo sông Nhật Lệ bay về hướng Long Đại. Một chiếc F4H chiếm độ cao nhằm phà Quán Hàu bổ nhào, cắt bom rồi lướt qua trận địa. Cả 3 khẩu súng máy phòng không 12,7mm đồng loạt nhả đạn, chiếc máy bay bốc cháy và lao xuống xã Gia Ninh.

Bằng 34 viên đạn, phân đội dân quân gái Võ Ninh bắn rơi một máy bay F4H của không quân Mỹ. Trận đánh thắng lợi để lại nhiều kinh nghiệm về huấn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật; xây dựng niềm tin vào khả năng bắn rơi máy bay phản lực Mỹ; nghiên cứu nắm chắc quy luật hoạt động của địch, tổ chức xây dựng lực lượng và bố trí trận địa phù hợp để phát huy sức mạnh đánh thắng địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:04:49 am »

TRẬN AN SƠN CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(8-9.1.1968)

Trận vận động tiến công của Trung đoàn bộ binh l Sư đoàn 2 Quán khu 5 vào quân địch ở khu vực An Sơn, An Cường, Cẩm Tú thuộc xã Sơn An, huyện Quế Tiên (nay là xã Quế Thọ, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam); nhằm tiêu diệt địch, bắt tù binh, thu vũ khí.

Sau khi chiếm điểm cao Liệt Kiểm, lữ đoàn 196 địch xây dựng thành căn cứ; tại đây có sở chí huy lữ đoàn, một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội pháo 105mm và một số tiểu đoàn được bố trí cơ động vòng ngoài. Hàng ngày, chúng tổ chức từng đại đội càn quét xung quanh để bảo đảm an toàn.

Trung đoàn bộ binh 1 có 3 tiểu đoàn (40, 60, 90), một đại đội cối 82mm, một đại đội 12,7mm. Nhận nhiệm vụ tiêu diệt quân địch, trung đoàn hạ quyết tâm liên tục tiến công tiêu diệt từ một vài đại đội tiến tới đánh thiệt hại nặng từng tiểu đoàn của chúng.

Thực hiện quyết tâm trên, trung đoàn bố trí đoàn 40 ở An Cường và nam đèo Rập Cu; Tiểu đoàn 60 ở Phước Tuy, tây bắc Liệt Kiểm; Tiểu đoàn 90 ở Cẩm Tú và khu vực Nhà máy xay; hoả lực 12,7mm ở núi Trắp và ở núi Trắp và ở Rập Cu, đèo Răm; hoả lực cối 82mm ở An Cường để chi viện chung.

Tai khu vực đứng chân, trung đoàn xây dựng nhiều phơng án đánh địch bằng nhiều hình thức chiến thuật khác nhau như vận động tiến công, phục kích, tập kích khi quân địch dừng lại…

7 giờ 30 phút ngày 8 tháng 1, địch cho nhiều đại đội nống ra các khu vực nhưng không đúng dự kiến của ta nên không đánh được.

Theo dõi quy luật hoạt động của địch, trung đoàn ra lệnh các tiểu đoàn sẵn sàng vận động tiến công tiêu diệt chúng.

12 giờ 20 phút, trung đoàn lệnh cho cối 82mm của trung đoàn và của Tiểu đoàn 90 tập trung hoả lực đánh vào quân địch ở trước làng cẩm Tú.

Các tiểu đoàn 40, 90 nhanh chóng xuất kích diệt một số địch. Bị đánh bất ngờ, địch chống cự không nổi phải bỏ chạy. 16 giờ, trung đoàn phát hiện một số địch còn lại ở khu quyết chiến điểm, đã ra lệnh cho các bộ phận trinh sát, vệ binh tổ chức thành hai mũi đánh dọc sông Trầu cùng các tiểu đoàn diệt địch.

16 giờ 40 phút, trung đoàn lệnh Tiểu đoàn 60 vận động xuống khu vực Tiểu đoàn 90 đang tác chiến phối hợp đánh địch. Nhưng 18 giờ, Tiểu đoàn 60 mới đến; lúc đó địch đã co cụm nên trung đoàn lệnh không tập kích, vì địch ở trong công sự dùng hoả lực chống cự mạnh.

Một ngày liên tục đánh địch, trung đoàn loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, thu nhiều vũ khí.

Ngày 9 tháng 1, trung đoàn quyết định tổ chức đánh địch ra lấy xác đồng bọn.

Từ 8 giờ 20 phút, được phi pháo chi viện, địch chia thành 3 mũi tiến vào khu vực Nhà máy xay và trận địa của các tiểu đoàn 40, 60. Trung đoàn dùng hoả lực chi viện để các tiểu đoàn vận động tiêu diệt địch. Trận đánh kéo dài đến 19 giờ, ta diệt một đại đội, tiêu hao hai đại đội khác và ban chỉ huy tiểu đoàn địch, bắn rơi 3 máy bay; thu nhiều vũ khí.

Sau hai ngày liên tục vận động tiến công, trung đoàn loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 500 tên, bắt một số tên; bắn rơi 4 máy bay; thu nhiều vũ khí, trang bị.

Trận An Sơn thắng lợi cho thấy sâu sắc hơn, để thắng địch giòn giã, hạn chế thương vong phải: Có chủ trương, kế hoạch phù hợp, mạnh dạn đưa đội hình lót sẵn vào vùng địch, tạo ưu thế bất ngờ với chúng. Đánh có tập trung, có trọng điểm, tiến công kiên quyết, táo bạo, mạnh dạn sử dụng toàn bộ lực lượng khi cần, kể cả vệ binh trinh sát và chỉ huy, cơ quan xuống trực tiếp giải quyết những tình huống then chốt. Nắm chắc khả năng phản ứng của địch, nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, sẵn sàng trụ lại đánh bồi, đánh nhồi tiêu diệt nhiều địch. Kết hợp chặt chẽ việc động viên tinh thần bộ đội với việc tổ chức chiến đấu sáng tạo, hiệp đồng chặt chẽ của cán bộ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:05:40 am »

TRẬN NÚI TRƯỜNG CỦA DÂN QUÂN CÁC XÃ HOẰNG HẢI VÀ HOẰNG TRƯỜNG
(16.1.1968)

Trận đánh máy bay Mỹ của dân quân các xã Hoằng Hải và Hoằng Trường (trang bị 4 khẩu súng máy phòng không 12,7mm) ở núi Trường (điểm cao 201), nhằm bảo vệ tàu, thuyền của ta trú tại cửa Lạch Trường thuộc xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Từ khi không quân Mỹ đánh phá miền Bắc (5 tháng 8 năm 1964), chúng thường dùng máy bay trinh sát cửa lạch và dọc bờ biển từ Lạch Trường đến Hòn Mê, tập trung nhất vẫn là cửa Lạch Trường để phát hiện tàu hải quân, các đoàn thuyền vận tải của ta ra vào lạch. Nhất là từ sau những ngày 14 và 24 tháng 10 năm 1967, Trung đội lão dân quân bắn rơi hai máy bay, không quân Mỹ càng tăng cường trinh sát và đánh phá cửa lạch.

Trước tình hình địch tăng cường đánh phá, Đảng uỷ và uỷ ban các xã Hoằng Trường và Hoằng Hải quyết định thành lập hai đội nữ dân quân để bảo vệ cửa lạch, bảo vệ các tàu, thuyền vận tải của ta tại cửa lạch, kiên quyết bắn rơi máy bay Mỹ.

Để bắn máy bay Mỹ, mỗi xã tổ chức một trận địa chiến đấu độc lập trên dãy núi Trường (Trung đội dân quân xã Hoằng Trường bố trí ngay trên trận địa cũ của trung đội lão dân quân; trận địa của xã Hoằng Hải bố trí phía tây Yên Ngựa, điểm cao 201, gần trận địa của xã Hoằng Trường).

13 giờ 5 phút ngày 16 tháng 1, hai chiếc máy bay AD6 từ biển bay vào, lượn vòng quanh trở lại trinh sát, cả 4 khẩu 12,7mm bám sát đường bay, chờ cho địch vào đúng cự ly nổ súng. Phát hiện tàu thuyền ta ở cửa Lạch Trường máy bay địch bất ngờ hạ độ cao tiến công. Chờ cho máy bay địch vào cự ly hiệu quả, cả hai trận địa đồng loạt nổ súng, hai máy bay địch trúng đạn, bốc cháy. Như vậy từ 5 tháng 8 năm 1964 đến 16 tháng 1 năm 1968, tám máy bay Mỹ đã phải đền tội tại cửa Lạch Trường.

Thực tiễn chiến đấu của dân quân Hoằng Hải, Hoằng Trường cho thấy, để bắn rơi được máy bay Mỹ phải: Có phương án chiến đấu cụ thể, tổ chức huấn luyện nghiêm, trong đó coi trọng huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật giỏi, hiệp đồng chặt chẽ. Kiên trì phục kích, bí mật, bất ngờ, phán đoán chính xác, chớp thời cơ nổ súng tiêu diệt địch.

TRẬN MANG CÁ CỦA TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 12 VÀ TIỂU ĐOÀN 1 TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 6
(31.1.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn đặc công 12 hiệp đồng với Tiểu đoàn bộ binh 1 (thiếu một đại đội) Trung đoàn 6 Quân khu Trị Thiên; đánh vào bộ tư lệnh sư đoàn 1, một đại đội tổng hành dinh, một đại đội quân nhu, một đại đội quân y, một đại đội bảo vệ của địch (được trang bị trung liên, đại liên và ĐKZ, thường xuyên có 3 xe M113 của trung đoàn thiết giáp 7 đóng ở Tam Thai vào thường trực chiến đấu); nhằm tiêu diệt địch, chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội thành, tạo bàn đạp cho các lực lượng vào đánh chiếm toàn bộ thành phố Huế.

Thực hiện nhiệm vụ của trên giao, Tiểu đoàn 12 hạ quyết tâm dùng một bộ phận nhỏ bí mật đánh chiếm thành phía bắc, từ cửa An Hòa đến cửa Hậu, thọc sâu đánh chiếm một phần sở chỉ huy sư đoàn 1, sau đó đánh chiếm toàn bộ Sở chỉ huy sư đoàn ở Mang Cá Lớn, chiếm và giữ cho được cửa An Hoà, làm bàn đạp cho bộ binh tiến vào thành.

Để tiêu diệt địch, Tiểu đoàn 12 tổ chức 4 mũi, mỗi mũi 8 người, trang bị B40, B41, tiểu liên và thủ pháo bí mật áp sát các mục tiêu được phân công. Tiểu đoàn bộ binh 1 sử dụng các đại đội 2, 3; có nhiệm vụ: sau khi đặc công chiếm được các mục tiêu đầu cầu, bộ binh nhanh chóng tiếp sức phát triển đánh chiếm quận Hương Trà, Bảo Vinh, Mang Cá.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968, các đơn vị bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa, các mũi tiềm nhập áp sát mục tiêu được giao.

2 giờ 33 phút ngày 31 tháng 1 năm 1968, đội trưởng ra lệnh nổ súng, ĐKZ bắn vào khu vực tam giác, cối bắn vào Mang Cá. Hết thời gian chuẩn bị, đội trưởng ra lệnh các mũi xung phong.

Được lệnh, các mũi xung phong đánh chiếm các mục tiêu. Khi ta chiếm được cổng, địch dùng 3 xe M113 cùng bộ binh ra phản kích, đồng thời từ các khu nhà cao tầng đại liên, trung liên bắn ra rất mạnh làm cho mũi 2 không phát triển vào được. Đội trưởng tổ chức hoả lực B40, B41 diệt xe M113 và các hoả điểm để đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 1.

Khi mũi 1 tiến về cổng chính thì mũi 3 và 4 cường tập, vượt qua các lớp rào vào đến chân thành trong Mang Cá, nhanh chóng dùng thủ pháo đánh các nhà dọc theo tường và chiếm lô cốt số 1. Mũi phó mũi 3 và mũi 4 không bắt được liên lạc với mũi trưởng mũi 3, chạy doc theo đường thành nên bị vấp mìn, 6 người bị thương vong, số còn lại vượt rào ra cổng chính gặp đội trưởng.

Cùng thời gian trên, 12 người của mũi 3 và 4 đặc công và một số mũi của Đại đội 3 bộ binh từ trong cổng chính tây cũng vận động đến. Đặc công và bộ binh đánh chiếm cổng chính, dùng hoả lực kiềm chế địch, tạo điều kiện cho đặc công và bộ binh đánh chiếm sở chỉ huy địch. Nhưng khi xung phong bộ binh không vào được, bị thương thêm một số. 4 giờ 5 phút, đội trưởng đặc công giao cổng chính lại cho một bộ phận của Đại đội 3 giữ và đánh thu hút hoả lực địch, đội trưởng dẫn lực lượng còn lại quay lại lô cốt số 3 để tổ chức đánh. Khi đến gần lô cốt số 3, ta bắn một quả B40; lúc này một người của mũi 3 ở trong khu Mang Cá nghe tiếng súng nổ đến bắt liên lạc. Đội trưởng đặc công chỉ huy bộ đội đột nhập vào thành. Lực lượng đặc công vào thành có 14 người, chia thành hai mũi, một mũi đánh chiếm khu vực nhà quân y, đại đội bảo vệ, một mũi chiếm nhà cải huấn và làm chủ khu vực này. Đại đội bộ binh 2 vào được 12 người, đánh chiếm được 3 nhà gần lô cốt, không phát triển tiếp, còn gần một trung đội bố trí ngoài hàng rào để ngăn chặn địch ở bên ngoài đề phòng chúng tập kích sau lưng ta.

Trong lúc trời còn tối đã có một số địch ra hàng, vì địch nhiều nên ta bố trí chúng ngồi dồn vào góc thành đông nam; trời sáng, thấy lực lượng ta ít chúng bỏ chạy vào các nhà và chống cự lại.

9 giờ, địch phản kích ra chiếm lại cổng chính, đẩy được lực lượng ta ra. Và khoảng 6 giờ 30 phút, Đại đội bộ binh 3 sau khi xung phong không vào được phải bố trí giữ cổng chính. Địch dùng súng cối và súng phóng lựu bắn vào đội hình, đại đội phải lui ra xa.

Địch dùng hoả lực mạnh không chế liên tục, ép lực lượng đặc công vào một góc lô cốt, do quá trình chiến đấu chờ lực lượng bộ binh đến bị thương vong nhiều mà vẫn không bắt được liên lạc, trung đoàn phải lệnh cho đặc công rút ra ngoài Mang Cá. Ta diệt 100 tên, bắt 19 tên, thu hai cối cá nhân...

Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm quý về chuẩn bị tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ trước khi vào chiến đấu; về tổ chức huấn luyện bổ sung cho đơn vị sát phương án chiến đấu; về xác định mũi hướng tiến công phù hợp, tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chặt chẽ tạo sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:06:09 am »

TRẬN NGÔ XÁ ĐÔNG CỦA TIỂU ĐOÀN 5
(5.2.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 5 (thiếu Đại đội 3) Trung đoàn 812 Sư đoàn 324 (trang bị 5 khẩu B40, 50 khẩu tiểu liên, 22 khẩu súng trường, 3 khẩu B41, 2 khẩu cối 82mm; được tăng cường một đại đội của Tiểu đoàn 8, một tổ trinh sát, một tổ đặc công) vào một đại đội kỵ binh bay ở Ngô Xá Đông thuộc xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; nhằm tiêu diệt địch, làm chủ trận địa, chốt giữ, sẵn sàng đánh địch phản kích.

20 giờ ngày 4 tháng 2, các đơn vị xuất phát bám địch, 5 giờ ngày 5 tháng 2, các mũi tiềm nhập vào được một phần ba làng nhưng vẫn chưa gặp địch. 6 giờ, Đại đội 1, Tiểu đoàn bộ, Đại đội 4 vào đến ngang nhà thờ, Đại đội 2 vào bắc làng thì gặp địch vừa ngủ dậy. Lợi dụng còn sương mù, đại đội trưởng triển khai hoả lực B40, B41 cách địch khoảng 70m, các mũi bộ binh cách địch khoảng 30m.

Được lệnh, Đại đội 2 bất ngờ dùng hoả lực bắn mạnh vào đội hình địch, Trung đội 2 nhanh chóng thọc vào gia đội hình của chúng; các trung đội 1, 3 chia thành hai mũi phát triển sang hai bên hỗ trợ cho Trung đội 2.

Ở khu nhà thờ, tiểu đoàn trưởng quan sát được diễn biến chiến đấu của Đại đội 2, lệnh cho cối 82mm bắn vào phía đông làng, đồng thời lệnh cho Đại đội 1 đánh vào sườn phải quân địch ở phía nam làng chi viện cho Đại đội 2, nhưng vướng hàng rào dây thép gai phải khắc phục nên bị chậm.

6 giờ 10 phút, địch ở phía nam làng bắn vào đội hình Đại đội 2 làm đại đội phát triển chậm lại. Cùng lúc đó, Đại đội 1 tiếp cận gần địch, xung phong diệt một số tên, số địch còn lại chạy ra hướng Cồn Mả, co cụm chờ máy bay đến chi viện.

6 giờ 20 phút, ta đánh bật địch ra khỏi làng. Địch bị cô lập, lực lượng còn lại cố giữ bãi tha ma để yêu cầu phi pháo chi viện. Tại thời điểm này, một tiểu đội của Trung đội 2 lợi dụng địa hình nhanh chóng đánh vào giữa đội hình địch ở bãi tha ma.

Sau khi diệt được một số địch, Đại đội 2 nhanh chóng phối hợp với tiểu đội của Trung đội 2 diệt địch ở bãi tha ma. Khi thấy Đại đội 2 đánh địch ở bãi tha ma, Đại đội 1 nhanh chóng vận động xuống phía nam đường, nhưng địa hình trống trải, đại đội phải dừng lại dùng hoả lực chi viện cho Đại đội 2 chiến đấu.

Tại vị trí chỉ huy tiểu đoàn, một bộ phận chốt giữ nhà thờ, tiểu đoàn trưởng chỉ huy phân đội cối chế áp địch ở bãi tha ma chi viện cho Đại đội 2. Đến 7 giờ, nhiều tên địch bị diệt, số còn lại chạy về điểm cao phía bắc lợi dụng công sự cố thủ, dùng hoả lực ngăn chặn ta xung phong.

Pháo địch ở mộ Ông Chưởng, La Vang bắn vào làng, 4 chiếc trực thăng vũ trang quần lượn và bắn đạn rốc két vào Đại đội 2 ở bãi tha ma. Lợi dụng sự chi viện của phi pháo, một toán khoảng 20 quân địch nấp trong làng phản kích tạt sườn vào vị trí chỉ huy của tiểu đoàn ở trong nhà thờ. Bị địch đánh bất ngờ, chính trị viên tiểu đoàn và tham mưu phó trung đoàn đã chiến đấu và anh dũng hy sinh.

Sau khi chiếm được bãi tha ma, sức chiến đấu của Đại đội 2 giảm, lại bị trực thăng đánh vào đội hình, đại đội trưởng vừa chỉ huy hoả lực kiềm chế địch ở điểm cao, vừa tổ chức rút từng tổ nhỏ ra khỏi khu vực bãi tha ma.

8 giờ 30 phút, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 tổ chức cán bộ trinh sát cùng với du kích dẫn đường chia từng bộ phận nhỏ tìm kiếm thương binh, tử sĩ chuyển về tuyến sau. Lực lượng còn lại chia thành từng bộ phận nhỏ, ngụy trang, rút về hướng Ngô Xá Tây, tập kết ở Thâm Triều, sau đó di chuyển sang vị trí mới.

Sau nhiều giờ chiến đấu, ta diệt 110 tên địch, bắn rơi một máy bay trực thăng vũ trang, phá hai đại liên, thu hai khẩu AR15, một khẩu M79.

Trận đánh thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch trong mọi điều kiện, diệt được nhiều địch, đánh thiệt hại nặng đại đội kỵ binh bay Mỹ, phá được kế hoạch bảo vệ vòng ngoài Thành Quảng Trị, gây tâm lý hoang mang trong hàng ngũ quân ngụy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:08:12 am »

TRẬN LỖ GIÁNG CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(8.2.1968)

Trận đánh điểm diệt viện của Trung đoàn bộ binh 1 (thiếu Tiểu đoàn 2) thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5, nhằm tiêu diệt địch ở khu vực thôn Lỗ Giáng và thôn Cổ Mận thuộc xã Hòa Đa (nay là xã Hòa Xuân), huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng).

Đồn Lỗ Giáng được xây dựng ở Hòa Đa do một trung đội hỗn hợp Mỹ - ngụy (12 quân Mỹ, 19 dân vệ) chiếm giữ. Trang bị gồm 1 khẩu đại liên, 1 khẩu cối 61mm, 1 khẩu ĐKZ 57mm. Xung quanh có ba lớp rào dây thép gai; có công sự, lô cốt xây bằng bao cát.

Sau khi nhận lệnh tiến vào Đà Nẵng để tăng sức đột kích, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng, có thời cơ thì phát triển vào Đà Nẵng, Trung đoàn bộ binh 1 sử dụng các tiểu đoàn 1, 3 và các lực lượng trực thuộc, trang bị vũ khí đầy đủ, lương thực, thực phẩm gọn nhẹ bí mật cơ động vào mục tiêu được bí mật.

Để tiêu diệt địch, trung đoàn sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 được tăng cường một khẩu ĐKZ diệt đồn Lỗ Giáng. Tiểu đoàn 3 được tăng cường hai khẩu ĐKZ làm nhiệm vụ diệt viện. Tiểu đoàn 1 làm lực lượng dự bị. Phân đội cối 82mm chi viện cho Đại đội 2 đánh địch ở Lỗ Giáng và chi viện cho Tiểu đoàn 3 đánh viện. Đại đội súng 12,7mm đánh máy bay bay thấp và bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn.

16 giờ 30 phút ngày 7 tháng 2, bộ đội vượt dòng sông Vĩnh Điện vào chiếm lĩnh vị trí tiến công. Riêng Tiểu đoàn 3 do phải ưu tiên cho Đại đội 2 đánh điểm nên 0 giờ ngày 8 tháng 2, tiểu đoàn mối vào chiếm lĩnh làm công sự.

0 giờ ngày 8 tháng 2, Đại đội 2 nổ súng tiến công. Lúc đầu cối và ĐKZ của ta bắn mạnh làm địch bị tê liệt. Ta đánh bộc phá phá rào, nhưng bên trong rào còn một hàng rào nữa nên phải cho mở nốt. Địch phát hiện bắn chặn, các bộc phá viên thương vong hết, tiểu đoàn phái trinh sát đánh để mở cửa cho các lực lượng ta vào đánh địch trong đồn. Lúc này địch đã phục hồi chống cự nên hàng rào mở xong mà bộ đội không xung phong được. Một mũi khác thấy vậy cũng nằm im không đột phá, yêu cầu chi viện.

Gần sáng ta vẫn chưa giải quyết xong, địch còn giữ được một số lô cốt, dùng đại liên, 12,7mm bắn ra. Đến 6 giờ 30 phút, trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn đưa thêm B40 vào chi viện cho lực lượng xung phong đánh địch.

14 giờ 30 phút, thừa thắng trung đoàn lệnh cho ĐKZ 75mm triển khai cùng với Đại đội 2 diệt hai lô cốt còn lại, địch chạy về Cồn Dầu - Trung Lương và được một đại đội bộ binh lên đón.

15 giờ trở đi, toàn bộ cứ điểm và trận địa từ Lỗ Giáng trở vào ta làm chủ, thu dọn chiến trường, tiếp tục tảo trừ địch.

23 giờ trận đánh kết thúc, ta tiêu diệt cứ điểm Lỗ Giáng, loại khỏi vòng chiến đấu 180 tên, bắt 2 tên, bắn rơi 2 máy bay, bắn cháy một xe M113; thu 13 khẩu pháo các loại, nhiều vũ khí, trang bị.

Trận đánh thắng lợi cho thấy: Tác chiến ở đồng bằng phải dự kiến nhiều tình huống đánh địch trên các hướng. Hoạt động ở vùng sâu phải chuẩn bị mọi mặt thật chu đáo.

TRẬN BÚNG CỦA TIỂU ĐOÀN 6
(4.3.1968)

Trận tập kích của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 165 Sư đoàn 7 bộ đội miền Đông Nam Bộ, được lực lượng vũ trang địa phương phối hợp nhằm đánh quỵ tiểu đoàn 2 trung đoàn 8 và một đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 7 sư đoàn 5 địch tại thị trấn Búng (nay là xã An Thạnh, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

Thực hiện nhiệm vụ trung đoàn giao, Tiểu đoàn 6 chuẩn bị phương án tiêu diệt một đại đội địch ở vườn cây và trung đội dân vệ cùng cảnh sát ở bốt Nhà Làng. Nhưng khi hành quân đến ấp Thanh Bình, cán bộ ta vào nắm tình hình thì cơ sở cho biết: địch mới đưa về khu tiểu đoàn 2 (thiếu) trung đoàn 8 và một đại đội của tiểu đoàn 3 trung đoàn 7. Chỉ huy tiểu đoàn hạ quyết tâm chuyển sang tiêu diệt lực lượng địch vừa đến.

Từ 21 giờ 40 phút đến 23 giờ 26 phút, được du kích dẫn đường, các đơn vị vào vị trí chiến đấu theo kế hoạch.

23 giờ 28 phút, từ các hướng hoả lực của tiểu đoàn bắn vào các mục tiêu quy định. Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta và địch giành giật với nhau từng căn nhà. Địch cho trực thăng lên bắn chặn các mũi tiến công của ta. Đại đội súng máy phòng không 12,7mm bắn rơi một chiếc. Mặc dù một số chiến sĩ thương vong, nhưng cán bộ các cấp động viên, hướng dẫn bộ đội diệt từng mục tiêu, từng đơn vị địch. Trận chiến đấu kéo dài, quân ta các loại đạn hoả lực hết, thấy tiếp tục đánh địch sẽ không thuận lợi, tiểu đoàn 1 quyết định cho đơn vị lui quân trước lúc trời sáng. 5 giờ ngày 5 tháng 3, các đơn vị rời khỏi khu vực chiến đấu. Ta diệt khoảng 500 quân địch, phá huỷ 2 xe bọc thép, 2 xe Jeép, 2 khẩu cối 61mm.

Thực tế trận Búng cho thấy: Phải dựa vào lực lượng tại chỗ để tiến hành chuẩn bị chiến đấu và giải quyết hậu quả của trận đánh. Phải xử trí các tình huống chiến đấu linh hoạt để giành thế chủ động, tạo bất ngờ, gây cho địch thiệt hại và lúng túng ngay từ đầu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:09:32 am »

TRẬN TRUNG NGHĨA CỦA TIỂU ĐOÀN 304
(11.3.1968)

Trận đánh điểm diệt viện của Tiểu đoàn 304 - Kon Tum (4 đại đội), được tăng cường 40kg bộc phá, sáu khẩu B40, hai khẩu M79, đánh vào đại đội bảo an (120 quân), trang bị cối 81mm, 61mm, hai khẩu đại liên chiếm giữ đồn Trung Nghĩa nằm án ngữ, khống chế trục đường từ thị xã Kon Tum đi Krông, nhằm tiêu diệt địch, tạo điều kiện đánh viện.

Sau khi nghiên cứu địch, địa hình, tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho Đại đội 2 và Đại đội 3 (75 người), được tăng cường sáu khẩu B40, 40kg thuốc nổ, hai khẩu M79, tiến công tiêu diệt địch giữ đồn Trung Nghĩa. Đại đội 1 và Đại đội 4 làm dự bị, sẵn sàng đánh địch tăng viện. Ngày 10 tháng 3, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa.

1 giờ ngày 11, tiểu đoàn nổ súng tiến công. Đại đội 2 thành 3 mũi nhanh chóng dùng bộc phá, B40 đánh các lô cốt, nhà chỉ huy và trận địa cối. Đại đội 3 thành hai mũi đánh vào lô cốt, trận địa cối, khẩu đại liên địch. Đến 4 giờ, địch co cụm, lợi dụng các lô cốt và công sự ở tây bắc cứ điểm chống cự quyết liệt làm các mũi tiến công của ta chậm lại. Tiểu đoàn sử dụng bộ phận trinh sát tăng sức đột kích cho Đại đội 2. Đến 5 giờ, toàn bộ quân địch bị tiêu diệt. Ta giải quyết thương binh, tử sĩ, thu vũ khí, trang bị; sau đó sử dụng một trung đội của Đại đội 3 chốt lại sẵn sàng đánh địch ra phản kích.

8 giờ ngày 11, địch dùng máy bay đánh phá thẳng vào đồn Trung Nghĩa. Đại đội 3 được lệnh rời khỏi trận địa. Khi Đại đội 3 di chuyển, địch phát hiện, chúng đưa khoảng một đại đội từ thị xã đến ấp Đắc Đe, tiến công chiếm lại đồn Trung Nghĩa. 10 giờ ngày 11, Đại đội 1 được lệnh vận động phục kích địch trên đoạn đường từ ấp Đắc Đe đi Trung Nghĩa để tiêu diệt địch ra phản kích. 11 giờ 30 phút, đội hình địch lọt vào trận địa, đại đội nổ súng; bị đánh bất ngờ, địch lúng túng; đại đội xung phong, bao vây, chia cắt tiêu diệt nhiều địch, số địch còn lại chạy về hướng thị xã, ta truy kích diệt thêm một số.

Sau một ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 304 diệt gọn đại đội bảo an ở đồn Trung Nghĩa; đánh thiệt hại đại đội “Cọp đen” ra phản kích, diệt 25 tên, thu 25 súng, một máy thông tin PRC25.

Nét đặc sắc của trận Trung Nghĩa là chỉ huy tiểu đoàn đã xử trí kịp thời các tình huống chiến đấu; vận dụng khôn khéo các hình thức chiến thuật để đánh điểm, diệt viện.

TRẬN “TA CAN” PA THÍ CỦA PHÂN ĐỘI ĐẶC CÔNG QUÂN KHU TÂY BẮC
(11.3.1968)

Trận tập kích của phân đội đặc công Quân khu Tây Bắc vào quân địch ở “Ta Can” trên núi Pa Thí (Sầm Nưa, Lào) nhằm tiêu diệt địch, phá phương tiện chiến tranh của địch.

Từ tháng 3 năm 1967, Mỹ xây dựng trên đỉnh núi Pa Thí một trạm chỉ huy dẫn đường bay “Ta Can” để phát hiện máy bay ta, gây nhiễu và chỉ huy toàn bộ máy bay phản lực Mỹ ở các căn cứ Thái Lan vào đánh phá vùng giải phóng Lào và một số nơi như Hà Nội, Thái Nguyên, Việt Trì thuộc miền Bắc Việt Nam.

Trung tâm trên đỉnh núi Pa Thí địch tổ chức thành các khu: Khu nhân viên kỹ thuật do quân đánh thuê phụ trách có hai trung đội đặc biệt, được tăng cường hoả lực bảo vệ. Khu “Ta Can” có 20 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ cùng hai tiểu đội đặc biệt bảo vệ. Khu trung tâm kỹ thuật, thông tin của Mỹ có một trung đội đặc biệt bảo vệ. Khu trận địa pháo 105mm và sở chỉ huy. Sân bay trực thăng, trận địa pháo 85mm và khu bảo vệ tiền tiêu (phía đông). Khu tiền tiêu phía nam (trên điểm cao 1687) do một trung đội đặc biệt bảo vệ. Khu vực đồi 5 mỏm có một tiểu đoàn bảo vệ khu “Ta Can” của Mỹ và giữ Pa Thí.

Ngoài ra, để bảo vệ vòng ngoài trên các hướng bắc. đông bắc, đông - đông nam, nam - tây nam, tây - tây bắc mỗi khu vực có từ hai đại đội đến hai tiểu đoàn đóng giữ, bọc “Ta Can” trong một cái vỏ khá vững chắc.

Phân đội đặc công làm nhiệm vụ đánh địch ở “Ta Can” do Trương Mực chỉ huy gồm 33 người; trang bị 3 súng B40, 23 khẩu tiểu liên, 4 khẩu súng trường, 2 khẩu súng ngắn; vào chiến đấu được tăng cường một tiểu đội đặc công (9 người), trang bị 1 khẩu B40, 7 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 57 quả lựu đạn và thủ pháo, một tiểu đội thông tin (có một máy 15W, hai máy 71B).

Để chuẩn bị chiến đấu, chỉ huy trận đánh tổ chức thành hai mũi và bộ phận dự bị.

Mũi 1, do Trương Mực trực tiếp chỉ huy, chia làm 5 tổ: Tổ 1 có ba người; trang bị 1 khẩu B40, 1 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 19 quả lựu đạn và thủ pháo; làm nhiệm vụ đánh chiếm khu trung tâm thông tin Mỹ. Tổ 2 có ba người; trang bị 3 khẩu tiểu liên, 21 lựu đạn và thủ pháo, phối hợp với tổ 1 đánh chiếm khu. thông tin Mỹ, sau đó phát triển vào phía đông sân bay, hiệp đồng với tổ 4 đánh máy bay. Tổ 3 có năm người; trang bị 1 khẩu B40, 2 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 1 khẩu súng ngắn, 26 quả lựu đạn, thủ pháo và 2 khối bộc phá 2kg; làm nhiệm vụ đánh chiếm khu “Ta Can”, tiêu diệt quân Mỹ, phá huỷ phương tiện kỹ thuật của địch. Tổ 4 có bốn người trang bị 4 tiểu liên, 28 lựu đạn, thủ pháo, làm nhiệm vụ tiêu diệt địch ở đầu phía tây sân bay trực thăng, sau đó phát triển về phía đông, sẵn sàng đánh địch phản kích lên khu trung tâm thông tin và khu “Ta Can”. Tổ 5 có ba người; trang bị 2 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng trường, 18 lựu đạn và thủ pháo, làm dự bị cho mũi 1.

Mũi 2, do Nguyễn Việt Hưng chỉ huy, được tăng cường một máy thông tin 71B chia làm 4 tổ: Tổ 1 có ba người; trang bị 1 khẩu B40, 1 khẩu tiểu liên, 1 khẩu súng ngắn, 12 lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ đánh chiếm đài khí tượng và trận địa súng trọng liên 12,7mm. Tổ 2 có ba người; trang bị 4 khẩu tiểu liên, 21 quả lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đội canh gác phía tây nam đài khí tượng. Tổ 3 có hai người; trang bị 2 khẩu tiểu liên, 14 quả lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ diệt bộ phận quân Thái Lan trong hai lều bạt. Tổ 4 có bốn người; trang bị 4 tiểu liên, 28 lựu đạn và thủ pháo, làm nhiệm vụ tiêu diệt trung đội canh gác phía đông nam đài khí tượng.

Bộ phận dự bị do tiểu đội đặc công của tiểu đoàn bộ binh đảm nhiệm.

18 giờ ngày 1 tháng 3, từ căn cứ Mường Câu, phân đội hành quân vào vị trí tập kết. 17 giờ ngày 7 tháng 3, phân đội thành hai mũi tiến vào chân núi Pa Thí. 1 giờ ngày 11 tháng 3, các tổ theo kế hoạch bí mật tiếp cận các mục tiêu được phân công.

3 giờ 45 phút, tổ 1 mũi 1 gặp vọng gác bí mật của địch, ta nhanh chóng cướp được súng của tên đang gác, nhưng địch kịp ném lựu đạn rồi bỏ chạy. Lập tức, ta cho B40 bắn vào nhà có ăngten, sau 15 phút chiến đấu, tổ 1 và tổ 2 chiếm được khu thông tin, một tên Mỹ bị diệt và một số bị thương. Cùng lúc, mũi 3 bắn B40 vào máy phát điện; các chiến sĩ ta dùng lựu đạn, thủ pháo, B40 đánh vào khu rađa. Bị đánh bất ngờ, địch chạy tán loạn ra ngoài, chỉ một ít kịp chống cự. 4 giờ 15 phút, tổ 5 được lệnh vào chiến đấu chi viện cho tổ 3. 4 giờ 45 phút, ta chiếm được “Ta Can”. Trong lúc các tổ đánh địch ở “Ta Can” và khu thông tin, tổ 4 đánh chiếm khu nhà địch ở đông sân bay trực thăng nhưng bị hoả lực địch bắn chặn và cắt đội hình của tổ. Trong tình huống rất khẩn trương, tổ trưởng Lê Bá Chòm đã xung phong diệt 5 tên địch và bắn bị thương một số tên khác. Phát hiện lực lượng ta ít, địch định bắt Lê Bá Chòm, nhưng đồng chí đã khôn khéo lợi dụng địa hình vừa chống trả, vừa về bắt liên lạc được với lực lượng ta đánh chiếm “Ta Can”.

6 giờ, địch dùng hoả lực đánh phá và cho bộ binh phản kích, nhưng bị tổ 2 chặn đánh diệt 4 tên, buộc chúng phải lui ra. Tiếp đó, địch liên tục cho phi pháo đánh phá và nhiều lần cho bộ binh phản kích định chiếm lại “Ta Can”. Quân ta lợi dụng địa hình mũi đá liên tiếp đánh lại các cuộc tiến công của địch, giữ “Ta Can” đến hết ngày 18, sau đó được lệnh lui quân về vị trí tập kết.

Sau 7 ngày chiến đấu, ta diệt 42 tên, làm bị thương một số tên khác; buộc địch rút bỏ căn cứ ở núi đá với 1 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu pháo 85mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm, 4 khẩu ĐKZ 57mm, 6 khẩu cối 61mm, 9 khẩu đại liên cùng nhiều quân trang, quân dụng; phá huỷ trung tâm điều khiển máy bay của địch chỉ huy đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Chiến thắng “Ta Can” đã đập tan một trong hai sào huyệt lớn của lực lượng đặc biệt Mẹo ở Bắc Lào, phá huỷ nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, giáng một đòn mạnh vào lực lượng chiến lược trong chiến tranh đặc biệt của địch ở Bắc Lào.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:10:13 am »

TRẬN CẨM ĐIỀN CỦA PHÂN ĐỘI DÂN QUÂN ĐỊA PHƯƠNG
(12.3.1968)

Trận phục kích của phân đội dân quân xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương do trung đội trưởng Nguyễn Văn Đổng chỉ huy đánh máy bay Mỹ ban đêm bằng súng bộ binh.

Phân đội dân quân trực chiến có 10 người, 6 nam, 4 nữ; trang bị 4 khẩu đại liên và một khẩu súng trường, ngày đêm trực chiến tại Đông Con Gà, thôn Mậu Tài.

2 giờ 50 phút ngày 12 tháng 3, một tốp máy bay A6A của hải quân Mỹ từ biển bay vào Thái Bình, qua sông Giang, Gia Lộc, thị xã Hải Dương lên Hà Bắc đánh phá rồi bay vòng lại qua Cẩm Giàng. Nghe tiếng máy bay địch, cả 4 khẩu súng của phân đội đều đón đánh địch từ hướng tây nam. Mặc dù trời mưa phùn, tối mù mịt, khi nghe rõ tiếng máy bay, phán đoán hướng bay của địch và đã vào đúng tầm bắn, cả 4 khẩu đại liên đồng loạt nhả đạn. Trên bầu trời đen đặc, một tia chớp loé sáng, máy bay địch bốc cháy, kéo theo một luồng lửa lao xuống biển. Một máy bay A6A của giặc Mỹ bị bắn rơi bằng 46 viên đạn đại liên. Chiến công bắn rơi một máy bay Mỹ bằng súng bộ binh ban đêm đã được Nhà nước tặng “Huân chương Chiến công hạng nhì”.

TRẬN AN TỊNH CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 1
(25.3.1968)

Trận vận động phục kích của Trung đoàn bộ binh 1 Sư đoàn 9, được tăng cường một đại đội ĐKZ 75mm, một đại đội đại liên, đánh vào đoàn xe chiến đấu của quân Mỹ ở quốc lộ 22 (đoạn từ ấp Giao Huỳnh đến bốt Biện Sen) thuộc xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

18 giờ ngày 24 tháng 3, trung đoàn vào vị trí triển khai chiến đấu chờ địch. 8 giờ 20 phút ngày 25 tháng 3, trinh sát phát hiện địch từ hướng Suối Sâu lên Trảng Bàng. Các đơn vị được lệnh sẵn sàng cơ động.

Từ 8 giờ 55 phút, các đơn vị chặn đầu, đối diện được lệnh vận động ra đường chặn địch.

9 giờ 2 phút, Đại đội 1 hoàn thành nhiệm vụ chặn đứng đội hình của quân địch, Tiểu đoàn 1 đánh mạnh, chia cắt địch ra làm nhiều cụm để tiêu diệt, không cho chúng co cụm. Các đơn vị trên các hướng vận động ra, hình thành nhiều mũi đánh địch trên hướng được phân công. 9 giờ 50 phút, các đại đội bắt đầu liên lạc được với nhau, tiếp tục diệt địch và phát triển về hướng Trường Chùa, nơi địch co cụm và chống cự quyết liệt. Tiểu đoàn 1 phải tổ chức, củng cố lại lực lượng, chuẩn bị phương án đánh địch co cụm.

10 giờ 25 phút, được tin địch xin đổ bộ đường không bằng trực thăng xuống ấp An Bình, trung đoàn trưởng quyết định đưa Tiểu đoàn 3 lui về vị trí chiếm lĩnh ban đầu, chuẩn bị đánh quân đổ bộ đường không.

Từ 12 giờ 10 phút, địch đưa quân đến chi khu Trảng Bàng. Đài quan sát của ta phát hiện được cánh quân khoảng 30 xe tiến theo quốc lộ, ta chặn đánh; nhiều xe tăng, xe bọc thép, xe chở quân bị tiêu diệt, những chiếc còn lại phải lùi ra xa; ta dùng hoả lực diệt địch, giữ vững trận địa.

Tiến công không thành, địch lui ra xa và dùng hoả lực đánh mạnh vào đội hình của ta. 13 giờ 30 phút, địch lại tiến công trận địa ta. Các đơn vị ta kiên quyết ngăn chặn địch, đồng thời tổ chức phản kích, đẩy lùi quân địch.

17 giờ, địch lùi ra xa và cụm lại hai hướng. Trung đoàn trưởng ra lệnh cho bộ đội lui quân.

Qua một ngày chiến đấu, trung đoàn loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên địch, phá hủy 52 xe quân sự, bắn rơi 10 máy bay trực thăng, thu nhiều đồ dùng quân sự.

Chiến thắng An Tịnh cho thấy: Đánh địch ở đồng bằng, gần dân, gần các căn cứ địch phải làm tốt công tác bảo đảm bí mật, tạo bất ngờ. Đánh địch ở đồng bằng, nơi chúng chiếm đóng, kiểm soát, cần dự kiến nhiều phương án đánh địch tiếp theo. Phục kích giao thông trên đường có đồn bốt, cần kết hợp chặt chẽ đánh địch đang cơ động trên đường với tiêu diệt lực lượng chốt giữ để vận động tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2020, 08:11:06 am »

TRẬN TRÁNG LIỆT CỦA TRUNG ĐỘI NỮ DÂN QUÂN XÃ
(31.3.1968)

Trận phục kích bắn rơi một máy bay A6A của trung đội nữ dân quân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đêm 31 tháng 3 năm 1968 tại thị trấn Ninh Giang là một trận chiến đấu đạt hiệu suất cao.

Thị trấn Ninh Giang, một giao điểm của các tuyến đường bộ, đường thuỷ. Đường bộ từ Hà Nội đi cửa Diêm Điền, Thụy Anh; từ Hà Nội đi Kiến An, Hải Phòng. Đường thuỷ từ Hải Phòng về Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định theo sông Hồng lên Hà Nội. Vì vậy, không quân Mỹ coi đây là một trọng điểm cần đánh phá. Khi đánh phá, chúng thường từ cửa sông Thái Bình bay vào, chia làm nhiều tầng, nhiều hướng; nhiều khi chúng dùng tốp nhỏ bay theo triền sông Luộc đánh các mục tiêu di động. Để tạo bất ngờ gây thiệt hại cho ta, chúng thường đánh từ 22 giờ đêm hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau.

Trung đội nữ dân quân Tráng Liệt được biên chế 22 người, do Đặng Thị Minh làm trung đội trưởng; trang bị bốn khẩu 12,7mm. Cùng chiến đấu bảo vệ thị trấn Ninh Giang còn có trung đội tự vệ thị trấn Ninh Giang, trung đội nữ dân quân Tráng Liệt, trung đội nữ dân quân Long Xuyên (Bình Giang), trung đội trực chiến xã Hiệp Lực (Ninh Giang) và trung đội trực chiến Hà Kỳ (Tứ Kỳ). Các trung đội được bố trí thành cụm chiến đấu ở bãi giáp sông Luộc. Riêng trung đội Tráng Liệt làm nhiệm vụ cơ động đánh địch, bố trí trận địa ở bãi giáp sông Luộc, gần bến đò Tranh thuộc đất Phụ Dực (Thái Bình).

23 giờ ngày 31 tháng 3 năm 1968, máy bay địch vào đánh phá Nho Lân, Phường Kỳ (Tứ Kỳ) rồi vòng qua thị trấn Ninh Giang. Nghe tiếng máy bay và tiếng bom nổ, trung đội Tráng Liệt chuẩn bị sẵn sàng nhả đạn khi địch bay qua.

Đúng như dự đoán, tốp máy bay địch sau khi đánh phá, chúng bay ra qua Ninh Giang. Khi máy bay địch vào đúng cự ly bắn, trung đội trưởng ra lệnh nổ súng, tất cả bốn khẩu đều bắn vào một mục tiêu. Trong trời đêm bỗng có đám lửa từ thân máy bay, vệt lửa kéo dài ra đến biển. 23 giờ 10 phút, chiếc máy bay A6A của Mỹ lao đầu xuống biển khơi.

Bằng 57 viên đạn, trung đội nữ dân quân Tráng Liệt đã vít cổ một máy bay A6A của giặc Mỹ xuống đất, ghi chiến công bằng trí tuệ Việt Nam và ý chí “Giặc đến nhà dàn bà cũng đánh”.

TRẬN HỮU ĐỊNH CỦA BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẾN TRE
(7.5.1968)

Trận chống càn của các tiểu đoàn 1, 2, Đại đội ĐKZ 75mm (4 khẩu), Đại đội súng máy phòng không 12,7mm (4 khẩu), Đại đội đặc công, Đại đội thông tin, Trung đội cối 82mm (3 khẩu), Trung đội ĐKZ 57mm (3 khẩu); hai trung đội công an vũ trang, hai trung đội trinh sát bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chỉ huy, đánh vào lực lượng địch gồm tiểu đoàn bộ binh 1 trung đoàn 10, tiểu đoàn 3, lực lượng bảo an, dân vệ càn quét xã Hữu Định (cách thị xã Bến Tre 4km về phía đông bắc); nhằm tiêu diệt địch, phá kìm, bảo vệ cơ quan đầu não của tỉnh, tạo thuận lợi cho quần chúng nổi dậy.

Để chống càn thắng lợi, tỉnh đội quyết định tập trung toàn bộ lực lượng của tỉnh xây dựng trận địa phòng ngự chống càn liên hoàn, vững chắc với nhiều tình huống diễn biến khác nhau: tiêu diệt địch càn quét đánh phá khu vực xã Hữu Định và xã Phước Thành; giữ vững căn cứ kháng chiến của tỉnh đội.

Thực hiện kế hoạch đã định, chỉ huy trận đánh sử dụng công binh tỉnh đánh cầu Bắc rạch Miễu, tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu, làm nghẽn giao thông trên đường 6, buộc trung đoàn 10 (bộ binh) địch phải đi giải toả.

2 giờ ngày 7 tháng 5, công binh đánh sập cầu Bắc rạch Miều, tiêu diệt gọn trung đội địch bảo vệ cầu, cắt giao thông trên đường số 6.

6 giờ 30 phút cùng ngày, trung đoàn 10 địch đưa lực lượng ra giải toả và đánh phá khu vực Hữu Định như dự đoán của ta.

6 giờ 55 phút, địch tới Hữu Định. Tiểu đoàn 1 sử dụng một tiểu đội ra nhử địch vào vị trí trận địa bố trí sẵn của ta. Ngay lập tức, tiểu đoàn 3 của địch cho quân đánh vào sườn của bộ phận ta đang nhử địch, đồng thời cho đại bộ phận tiểu đoàn vượt qua lộ đất, hòng bao vây lực lượng ta.

Đợi địch vào gần, Tiểu đoàn 1 đồng loạt nổ súng. Trong thời gian ngắn, hơn một đại đội địch bị diệt, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3. Bị đòn đau, địch cho phi pháo đánh vào trận địa ta; đồng thời gom tàn quân của tiểu đoàn 3 lại chuẩn bị cho trận tiếp theo.

8 giờ 20 phút, tiểu đoàn 3 của địch được tăng cường đại đội thám báo 10 mở đợt tiến công tiếp theo hướng cũ, đồng thời trung đoàn 10 cho tiểu đoàn 1 theo đường trong vườn và lộ đất ngoài kênh Chẹt Sậy lên cầu Biện Phan hiệp đồng với tiểu đoàn 3.

10 giờ ngày 7 tháng 3, tiểu đoàn 3 và đại đội 10 của địch tới điểm hẹn, lập tức bị Tiểu đoàn 1 của ta nổ súng diệt khoảng 80 tên, buộc chúng phải cụm lại chống đỡ và yêu cầu tiểu đoàn 1 đến cứu nguy.

11 giờ 20 phút, tiểu đoàn 1 của địch đánh vào vị trí phòng ngự của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1. Đại đội 2 chờ cho địch vào thật gần mới nổ súng và tổ chức ba lần xuất kích nhỏ, diệt 60 tên địch. Địch dùng phi pháo đánh phá mạnh vào trận địa, Đại đội 2 rút khỏi tuyến công sự thứ nhất. 19 giờ, tiểu đoàn phó chỉ huy Đại đội 2 cùng Đại đội đặc công phản kích khôi phục trận địa, diệt khoảng 100 tên địch.

Trước khí thế diệt địch của đơn vị, chỉ huy trận đánh quyết định tập trung toàn bộ lực lượng tiêu diệt gọn quân địch ở trước trận địa Tiểu đoàn 1.

Sau khi chỉ huy các tiểu đoàn 1, 2 triển khai thế trận đúng kế hoạch, 16 giờ 15 phút, quân ta nổ súng tiến công. Từ các hướng, quân ta liên tục bao vây, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận quân địch; đến 17 giờ 30 phút, ta làm chủ chiến trường từ cầu Biện Phan đến cầu Hội.

Trận đánh kết thúc, 550 tên địch chết và bị thương, 34 tên bị bắt. Ta thu 112 súng các loại, 11 máy vô tuyến điện, bắn cháy một xe GMC; bắn rơi một máy bay trực thăng.

Thắng lợi của trận chống càn Hữu Định cho thấy: Muốn đánh bại địch tiến công phải tạo thế có lợi, buộc địch phải bị động triển khai lực lượng đối phó, ta chủ động nắm thời cơ tiêu diệt chúng; sử dụng lực lượng dự bị kịp thời, chính xác, tạo sức mạnh quyết định kết thúc trận đánh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM