Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:02:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh  (Đọc 23950 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:17:00 pm »

“Con đường giải phóng” xác định chiến thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang là chiến thuật du kích. Tác phẩm chỉ ra rằng: “du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều. Khởi nghĩa thắng lợi hay không một phần lớn là do du kích tổ chức có vững vàng hay không, phát triển có rộng rãi hay không”. “Về địa vị của căn cứ du kích trong chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa”, tác phẩm viết: “Khi du kích đã khá đông thì phải có “căn cứ địa” là một vùng khá rộng và hiểm trở, ở đó dân chúng được tổ chức vững vàng, quân lính đế quốc khó vào được. Du kích dùng nơi đó làm chỗ đứng chân, tiến có thể đánh và phát triển lực lượng, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng”. Tác phầm cũng đề ra những nguyên tắc chủ yếu của tác chiến du kích và những hình thức chiến đấu du kích.

“Con đường giải phóng” đánh dấu sự phát triển hoàn chỉnh lý luận của Nguyễn Ái Quốc về khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Tiếp theo “Con đường giải phóng” Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách “Các đánh du kích” gồm 13 chương, vạch ra những nguyên tác và phương pháp tác chiến của lực lượng vù trang trong thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền. Nguyễn Ái Quốc viết: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh”(1). Những điều kiện để đánh du kích thắng lợi là: “Có con đường chính trị đúng”; “dựa trên cơ sở quần chúng”; nên tổ chức vững chắc và nghiêm mật”; “có một lối đánh rất tài giỏi”2. Tổ chức du kích có thể từ tiểu tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội đến chi đội. Như vậy đánh du kích không phải là những hoạt động của cá nhân hay những nhóm nhỏ dựa vào những âm mưu manh động, mà là hoạt động của những tổ chức vũ trang cách mạng có kỷ luật chặt chẽ, dựa vào đường lối chính trị đúng đắn của đoàn thể cách mạng tiên phong và dựa vào cao trào cách mạng của quần chúng, tiến hành vào lúc có tình thế trực tiếp cách mạng; đó là một hình thức khởi nghĩa và tiến hành chiến tranh của nhân dân.

Trong “Cách đánh du kích”, Nguyễn Ái Quốc vạch những nguyên tắc tác chiến du kích là: “giữ quyền chủ động”; “hết sức nhanh chóng”; bao giờ cũng giữ thế công”; “có kế hoạch thích hợp và chu đáo” Người đề ra những thủ đoạn tác chiến du kích là: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; tránh những trận gay go, không sống chết giữ đất; “hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh”; đánh lúc quân địch đang vận động hoặc lúc quân địch mệt mỏi. Người xác định những hình thức tác du kích là: lừa gạt quân địch, trinh sát quân địch, làm cho quân địch khốn quẫn, làm cho quân địch đói khổ, ngăn cản quân địch, làm cho quân địch mù mịt hoảng hốt, dụ quân địch vào bẫy để đánh, tập kích, phục kích, truy kích quân địch...

Nguyễn Ái Quốc nêu cao tầm quan trọng của việc xây dựng các vùng căn cứ làm những nơi đứng chân xây dựng lực lượng của quân du kích. Đó là những nơi có địa thế hiểm yếu che chở có dân chúng cảm tình ủng hộ; việc xây dựng các vùng căn cứ du kích phải gắn liền với việc giành và củng cố chính quyền cách mạng ở địa phương. “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”. “Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được”(2).

Nguyễn Ái Quốc chủ trương: “Du kích bao giờ cũng tiến công”(3). Cách tiến công của du kích là: đánh úp, đánh lén, đánh lúc quân thù không ngờ, không phòng. Người viết: “Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng, quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc(4). Nguyễn Ái Quốc vạch ra hai cách tiến công chính là tập kích và phục kích. Người cho rằng: “phục kích dễ thắng lợi hơn tập kích”(5). Người hướng dẫn cụ thể nội dung các bước trinh sát, vạch kế hoạch chuẩn bị chiến đấu, thực hành chiến đấu và các động tác sau khi phục kích hoặc tập kích. Người đặc biệt chú ý việc tập kích các thành lũy kiên cố bằng nội ứng hoặc bằng kỳ tập và việc phục kích quân viện của địch khi chúng đi ứng cứu những nơi bị tập kích hoặc phục kích. Các cách phục kích quân địch đi lẻ, quân địch đi tập trung, phục kích đoàn vận tải, xe cơ giới, kỵ binh, phục kích trên đường sắt, trên sông... và các việc tổ chức thông tin liên lạc, hành quân, trú quân, đánh đuổi quân địch tháo chạy... cũng đều được Người hướng dẫn cụ thể.

Nguyễn Ái Quốc coi phá hoại là một thủ đoạn trọng yếu trong cách đánh du kích. Phá hoại có thể ngăn cản được bộ đội cơ giới, kỵ binh và làm chậm bước tiên của bộ binh địch. Người hướng dẫn cụ thể các việc phá hoại, từ phá hoại đường dây thông tin của địch đến phá hoại cầu cống, đường ô tô, đường xe hỏa, phá thành quách đồn lũy... Người dạy: “Muốn phá hoại phải có dân chúng ủng hộ và giúp sức. Đồng thời dân phải làm vườn không nhà trống thì mới có hiệu quả nhiều. Quân giặc đến đâu, đường sá, cầu cống đều bị phá tiệt lại phải đói khát khốn khổ”(6).

Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi”(7). Nhưng Người cũng thừa nhận nhiều khi đội du kích phải chiến đấu phòng ngự vì tình thế bắt buộc, như lúc hoạt động trong vùng địch chiếm, lúc bất ngờ bị quân địch tập kích, lúc chiến đấu bảo vệ cho đội chủ lực rút ra khỏi khu vực tác chiến, hay lúc bảo vệ vùng căn cứ... “Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá”(8). Phải động viên nhân dân tham gia đánh giặc, phải dùng mọi cách ngăn cản quân địch tiến công, đồng thời phải đưa chủ lực quân du kích chuyển đi đánh vào những nơi địch yếu, đánh vào sườn, vào sau lưng địch.

Ngắn gọn, súc tích, rõ ràng như điều lệnh chiến đấu, tác phẩm “Cách đánh du kích” nêu bật tư tưởng quân sự của Nguyễn Ái Quốc về chiến tranh du kích trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng.

“Con đường giải phóng” và “Cách đánh du kích” có giá trị lý luận và thực tiễn lớn. Hai tác phẩm ấy là sự chuẩn bị về lý luận, tư tưởng và tổ chức cho việc tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật; H. 1983, tr. 167,168.
(2), (3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 209. 173, 165, 182.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 202, 193.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:20:03 pm »

*
*   *

Trong thời kỳ nay, Nguyễn Ái Quốc còn nghiên cứu, biên soạn nhiều tài liệu quân sự, tổng hợp kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh của nhiều nước.

Thâu tóm quan điểm nghệ thuật quân sự của nhà quân sự nổi tiếng thời Xuân Thu ở Trung Quốc là Tôn Vũ, Người viết cuốn sách nhỏ nhan đề “Phép dùng binh của Tôn Tử”. Khái quát phần quân sự trong bộ Khổng Minh Toàn tập, tóm tắt kinh nghiệm điều khiển chiến tranh của nhà quân sự nổi tiếng thời Tam Quốc ở Trung Quốc là Gia Cát Lượng, Người viết cuốn sách ngắn nhan đẽ “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của ông Khổng Minh”.

Hai tác phẩm này trình bày những quy tắc chỉ đạo chiến tranh, tu thân, tuyển tướng của nhà quân sự Trung Hoa cổ với những lời bình sắc bén của Nguyễn Ái Quốc.

Người lược dịch từ tiếng Nga cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản (bônsêvích) Liên Xô” xuất bản ở Mát-xcơ-va năm 1937, qua đó giới thiệu quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm ba cuộc cách mạng ở Nga: Cách mạng dân chủ tư sản năm 1905, Cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai năm 1917 và Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười năm 1917.

Trên cơ sở bản thảo của đồng chí Phùng Chí Kiên về chiến tranh du kích của nhân dân Trung Quốc chống quân Nhật Bản xâm lược, Nguyễn Ái Quốc viết lại thành cuốn sách ngắn nhan đề “Kinh nghiệm du kích Tàu”, giới thiệu một số trận đánh du kích tiêu biểu. Người còn biên soạn hai tác phẩm quân sự khác với nhan đề “Kinh nghiệm du kích Pháp”, “Kinh nghiệm du kích Nga” về sau cuốn “Kinh nghiệm du kích Pháp” được Người bổ sung và cho xuất bản lần đầu năm 1948.

Nguyễn Ái Quốc tóm tắt lịch sử Việt Nam thành bài diễn ca, nêu lên đặc điểm các phong trào đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Người lập một niên biểu ghi lại những niên đại quan trọng nhất trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong đó có niên đại của 15 cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam, từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 sau Công nguyên) đến các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương (1940-1941). Niên đại quan trọng cuối cùng ghi trong niên biểu là: “1945: Việt Nam độc lập”(1). Chỉ 5 năm sau, lịch sử đã chứng minh dự đoán này hoàn toàn chính xác.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn bồi dưỡng và chỉ đạo các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn hai tác phẩm: “Chính trị viên trong quân đội” và “Công tác chính trị trong quân đội cách mạng”. Đây là những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam, về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân, bước đầu xác định một số nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang tập trung về chính trị. Các nguyên tắc ấy là:

Đội du kích là đội quân cách mạng thực hiện nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Nó là đội quân của nhân dân, là một bộ phận giác ngộ và dũng cảm đứng ra dùng khí giới tiêu diệt quân thù. Mỗi người trong đội du kích, từ chỉ huy đến đội viên đều phải nhận rõ nhiệm vụ cách mạng đánh đuổi đế quốc, phải giữ vững con đường chính trị, tự giác tuân theo kỷ luật cách mạng.

Người đứng ra tổ chức lãnh đạo các đội du kích là “Đoàn thể chúng ta” - tức Đảng Cộng sản Đông Dương. Đoàn thể phái vào các đội du kích những cán bộ đã trải qua sinh hoạt quân sự, đã có kinh nghiệm chiến đấu, hoặc đã được rèn luyện về quân sự.

Đoàn thể phải chú ý đào tạo cán bộ lãnh đạo và chỉ huy các đội du kích. Các đồng chí cán bộ ấy cũng phải “tự đào tạo lấy mình”. Nếu Đoàn thể chuyên tâm đào tạo cán bộ cho các đội du kích, làm cho đội ngũ cán bộ ấy đủ đông và vững, thì các đội du kích sẽ “theo con đường đúng mà tiến tới”. Nếu Đoàn thể không chú ý điều đó, không biết đào tạo hay đào tạo không đúng những cán bộ cốt cán của các đội du kích, thì “ảnh hưởng về sau rất tai hại”.

Công tác chính trị có mục đích giữ vững “đội du kích là tổ chức quân sự của Đoàn thể”. Nó có nhiệm vụ làm cho toàn thể cán bộ và đội viên của đội du kích hiểu rõ con đường cách mạng cứu nước, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho cán bộ và đội viên, khiến mọi người có phẩm chất đạo đức cách mạng, “tận tâm tận lực, vui lòng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng”.

Đối với nội bộ, nhiệm vụ của công tác chính trị là “đúc bền và nâng cao sức chiến đấu” của đội du kích, bằng cách làm cho toàn đội hiểu rõ con đường cách mạng, dùng giáo dục chính trị giúp cho việc nâng cao trình độ quân sự của toàn đội, rèn luyện cho đội du kích có kỷ luật quân sự tự giác.

Đối với nhân dân, nhiệm vụ của công tác chính trị là “thực hiện quân dân nhất trí”, một mặt đảm bảo đội du kích luôn luôn là “đội quân của nhân dân, ở trong nhân dân, bênh vực quyền lợi cho dân, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu”; mặt khác “hô hào, giáo dục nhân dân cùng đánh đuổi đế quốc”. Tại các vùng chưa có cơ sở quần chúng, “công tác tuyên truyền, tổ chức và huấn luyện quần chúng bước đầu do đội du kích đảm nhiệm”.

Đối với quân đội địch, nhiệm vụ của công tác chính trị là “lôi kéo sĩ quan và binh lính địch, nhất là binh lính người Việt, dùng chính trị làm tan rã hàng ngũ địch”.

Vai trò của công tác chính trị rất quan trọng. “Không có công tác chính trị đúng, các đội du kích dễ mất tính chất cách mạng, dễ đi vào sai lầm có hại cho cách mạng”.

“Chính trị viên là linh hồn của đội du kích”. Chính trị viên phải đi đúng đường lối chính trị của Đoàn thể, phải có nhận thức cách mạng vững vàng, có trình độ giác ngộ cách mạng sâu sắc, có lý luận cách mạng, có năng lực tự động công tác khi đội du kích hoạt động độc lập. Năng lực lãnh đạo của chính trị viên phải gồm đủ mọi mặt: quân sự và chính trị, tuyên truyền, tổ chức và xếp đặt kế hoạch hoạt động của đội du kích, chẳng những giải quyết được kịp thời các việc cấp bách mà giải quyết được đúng đắn cả các việc sinh hoạt tinh thần, vật chất hằng ngày của đội du kích. Chính trị viên phải “nhúng tay vào tất cả mọi việc để dìu dắt người khác”.

Đây chính là những nguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam Với những nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị được vạch ra rất sớm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị nền tảng tư tưởng và tổ chức cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đúng đắn ngay từ đầu, làm cho lực lượng ấy thực sự là của Đảng, của nhân dân.

Trong một thời gian ngắn, với cường độ làm việc rất lớn lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu tập hợp kinh nghiệm quân sự của nhiều nước và của dân tộc Việt Nam, phổ biến trong cán bộ và nhân dân những kiến thức quân sự cần thiết cho cuộc đấu tranh sắp diễn ra. Đây là những trước tác quân sự có ý nghĩa quan trọng làm tiền đề tư tưởng, lý luận cho những thắng lợi quân sự sau này của cách mạng Việt Nam.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 224.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:22:23 pm »

*
*   *

Từ khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở và làm việc tại hang Cốc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng).

Khi còn ở nước ngoài, Người đã nhìn thấy tầm quan trọng của vùng căn cứ Cao Bằng. Đây là nơi có tổ chức đảng từ năm 1930, có điều kiện liên lạc quốc tế, nếu nối được với Thái Nguyên và thông được xuống phía nam tiếp xúc với toàn quốc, thì khi phát động khởi nghĩa vũ trang, thuận lợi có thể tiến, khó khăn có thể giữ.

Ở Cao Bằng, Người trực tiếp chỉ đạo đảng bộ địa phương xây dựng vùng Cao Bằng thành căn cứ địa cách mạng. Các hội cứu quốc phát triển nhanh. Đến cuối năm 1941, nhiều xã và một vài tổng ở các huyện Hà Quảng, Hòa An đã trở thành những xã “hoàn toàn” và tổng “hoàn toàn”. Tại các nơi này, hầu hết nhân dân vào hội cứu quốc nhưng vẫn làm ăn sinh sống hợp pháp. Nhiều tổng lý kỳ hào, lính dõng làm việc với quan lại và thực dân Pháp theo sự chỉ đạo của ban Việt Minh xã. Những tên gian ác bị bao vây, giám sát.

Các địa phương có hội cứu quốc đều tuyển lựa những người hăng hái lập thành đội tự vệ cứu quốc làm nhiệm vụ báo vệ quần chúng, bao vây các phần tử phản động. Mỗi xã lại chọn một số đội viên tự vệ cứu quốc lập thành đội tự vệ chiến đấu của xã. Tự vệ chiến đấu là lực lượng cơ động, làm nòng cốt trong việc canh gác bảo vệ cán bộ, bảo vệ các hội nghị, các lớp huấn luyện mở tại xã, giữ vững giao thông liên lạc với cấp trên, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ quân sự khác khi có lệnh. Sau khi được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho phép, các ban Việt Minh xã hô hào cán bộ và quần chúng mua súng để giữ nhà, giữ mình, khi cần đoàn thể có thể huy động. Phong trào mua sắm vũ khí lan rộng.

Tháng 11 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Đội vũ trang Cao Bằng gồm một số cán bộ và đội viên, tự vệ chiến đấu tuyển chọn trong các xã thuộc tổng Lục Khu, huyện Hà Quảng. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo, giữ vững giao thông liên lạc, giáo dục quần chúng, huấn luyện quân sự cho tự vệ chiến đấu. Người trực tiếp duyệt chương trình giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự của Đội. Người chỉ thị Đội vũ trang huấn luyện trong một tuần lễ rồi đi hoạt động ngay. Người dạy: phải hết sức giữ bí mật, ở đâu địch không biết, đến đâu địch không hay. Dựa vào rừng núi là cần, chủ yếu là dựa vào “nhân sơn nhân hải”. Đi hoạt động ngay chính là để tạo ra cái núi người biển người ấy. Người tự tay thảo “Mười điều kỷ luật” và những vấn đề nguyên tắc xây dựng Đội vũ trang về chính trị.

Sau một năm xây dựng cơ sở dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ “lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa” trải qua bước ban đầu là bước gian nan”, đến cuối năm 1941, ở Cao Bằng “cách mạng đã vững chân” và có đà “ồ ạt lan tràn khắp xứ”(1).

Mặc dủ thực dân Pháp mở nhiều cuộc đàn áp bắt bớ, có quần chúng bị bắt và có cán bộ hy sinh, nhưng nhờ cán bộ dũng cảm bám sát cơ sở, nhờ nhân dân địa phương một lòng bảo vệ cách mạng, phong trào được giữ vững. Đến giữa năm 1942, các châu huyện ở Cao Bàng đều có tổ chức Việt Minh, nhiều nơi có phong trào mạnh mẽ, trở thành những châu “hoàn toàn”, huyện “hoàn toàn”(2). Hệ thống tổ chức của Mặt trận Việt Minh thông suốt từ xã này sang xã khác, từ các châu, huyện lên đến tỉnh. Nhiều hội viên trung kiên được kết nạp vào Đảng. Phần lớn các xã có phong trào đã thành lập được chi bộ đảng. Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng được thành lập.

Theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội vũ trang Cao Bằng hoạt động một thời gian rồi được giải thể, đưa cán bộ và đội viên về lập các đội du kích xã.

Cùng với sự phát triển của phong trào chính trị, phong trào học tập quân sự và tổ chức tự vệ lên mạnh. Hầu hết thanh niên nam nữ trong các xã “hoàn toàn” đều tham gia tự vệ và tự vệ chiến đấu. Mỗi xã có một hoặc hai đội tự vệ chiến đấu được tổ chức và huấn luyện quân sự khá chặt chẽ.

Một thứ chính quyền hai mặt và một tình thế hai chính quyền song song tồn tại xuất hiện tại các châu, huyện Cao Bằng. Đây là một hiện tượng mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hết sức chú trọng xây dựng đường liên lạc với Trung ương Đảng ở miền xuôi và cả nước. Sau Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, Người thấu cách liên lạc bằng giao thông bí mật không đáp ứng diễn biến của tình hình. Người chỉ rõ: “Liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”(3). Theo chỉ thị của Người, liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng tổ chức nhiều đội xung phong Nam tiến làm nhiệm vụ gây cơ sở quần chúng, đánh thông đường hên lạc từ Cao Bằng xuống Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, từ đó liên lạc với Trung ương Đảng ở Hà Nội. Người phân tích: có như thế mới tranh thủ được thời cơ khi cách mạng tiến lên tổng khỏi nghĩa. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Người trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức đội xung phong Nam tiến mở đường liên lạc từ Nguyên Bình (Cao Bằng) qua Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Cạn) đến Chợ Chu, Đại Từ (Thái Nguyên).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 232-233.
(2) Châu “hoàn toàn”, huyện “hoàn toàn” là châu hoặc huyện đã có tổ chức và phong trào cách mạng rộng khắp từ xã trở lên (BT).
(3) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 88.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 08:27:09 pm »

Dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cách mạng Việt Nam đã có căn cứ địa vững chắc tại Cao Bằng, dựa vào rừng người và rừng cây, phát triển cơ sở sang các tỉnh khác trên vùng rừng núi và nông thôn Việt Bắc.

Tháng 7 năm 1942, với tên Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc tập hợp thêm lực lượng, tranh thủ viện trợ quốc tế chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới ở Việt Nam.

Vừa ra khỏi biên giới, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Quốc dân đảng Trung Hoa bắt giữ tại phố Túc Vinh, huyện lỵ Tĩnh Tây (Quảng Tây). Cách mạng Việt Nam gặp biến cố lớn. Trong hơn 370 ngày, bị giải đi qua gần 30 nhà tù, dầm mưa dãi nắng, “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang vòng xích”, “ngày mang gông, đêm cùm chân”(1), Người phải chịu đựng biết bao gian khổ, nhưng tâm trí Người ngày đêm hướng về Tổ quốc, về đồng chí, đồng bào. Nỗi khổ tâm nhất của Người là không được hoạt động trong khi thời cuộc diễn biến nhanh chóng, phong trào cách mạng Việt Nam sôi động trong cả nước.

Trong thời gian bị giam cầm, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” (Ngục trung nhật ký) bằng chữ Hán. Đây là một tác phẩm tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam.

Trong bốn bức tường nhà giam, lãnh tụ Hồ Chí Minh suy nghĩ về đấu tranh vũ trang. Người thể hiện tư duy nghệ thuật quân sự sâu sắc qua bài thơ nổi tiếng “Học đánh cờ”:

Nhàn rỗi đem cờ học đánh chơi,
Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.

Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.

Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh.


Bài thơ nêu rõ tư tưởng chiến lược tiến công, nghệ thuật tạo lực, tạo thời, đánh giặc bằng mưu, bằng thế, giành thắng lợi trong chiến tranh.

Đầu năm 1943, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị đưa đến Liễu Châu, nơi có tổng hành dinh của Trương Phát Khuê, một viên tướng Quốc dân đảng Trung Hoa khét tiếng chống cộng đang trực tiếp chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt”.

Trong cuốn sổ tay của Người, tiếp sau hơn một trăm bài thơ viết trong tù, những trang cuối là bản ghi chép viết bằng chữ Hán dưới nhan đề: “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”.

Đây là những ý kiến ghi chép của Hồ Chí Minh qua đọc một số tài liệu quân sự Trung Quốc đương thời, gồm các vấn đề xây dựng quân đội chính quy về tổ chức biên chế, chỉ huy, kỷ luật, sinh hoạt, huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị tư tưởng, chuẩn bị hậu phương chiến tranh...

Bản ghi chép chỉ rõ quân đội chính quy tổ chức từ “tiểu đội đến sư đoàn, quân đoàn”. Quân đội ấy phải có “kỷ luật nghiêm minh”, được chuẩn bị về “lương thực, vũ khí, thông tin liên lạc và thể lực”. Quân đội ấy phải có “động tác nhanh chóng; mệnh lệnh đơn giản, rõ ràng, thiết thực; hành động nhất trí, chính xác; sinh hoạt chỉnh tề, sạch sẽ, giản dị; thời chiến bình tĩnh như thời bình, thời bình khẩn trương và chịu đựng gian khổ như thời chiến”. Quân đội ấy phải được xây dựng toàn diện, “có phẩm chất trong sạch đáng kính, có khả năng cơ động tích cực và bí mật, nội bộ thân ái đoàn kết, cán bộ trung thực, thi đua hỗ trợ nhau, cùng nhau phê bình, thảo luận, nghiên cứu”. Trong quân đội ấy, “người chỉ huy phải đích thân làm đến cùng mọi việc, phải khắc phục các thiếu sót trong công việc, phải: đầu nghĩ, miệng nói, mắt nhìn, tay sờ, chân đến một cách thực sự thực tế”, mọi người “không sợ khó sợ khổ, làm hết nghĩa vụ, càng vất vả càng hăng hái, gian khổ không lùi”. Quân đội ấy có hậu phương chiến tranh ở đó “một người làm việc của hai người, một ngày làm công của hai người, một vật dùng bằng hai vật”. Quân đội ấy “liên hiệp sự đồng tình lâu dài của thế giới với quốc gia dân tộc, đấu tranh cho hòa bình và chính nghĩa chung trên thế giới”(2). Những hiểu biết cơ bản ấy giúp ích cho việc tổ chức và xây dựng quân đội ta sau này.

Tháng 9 năm 1943, chính quyền Tưởng Giới Thạch buộc phải trả lại tự do cho Hồ Chí Minh.

Mùa thu năm 1944. Hồ Chí Minh trở về vùng căn cứ Cao - Bắc - Lạng giữa lúc cách mạng Việt Nam tiên lên cao trào khỏi nghĩa cùng Trung ương Đảng chỉ đạo giải quyết những vấn đề chính trị, quân sự cấp bách của cách mạng Việt Nam.


(1) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H. 1975, tr. 95-96.
(2) Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 4-1983.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 09:26:49 pm »

III. KHỞI NGHĨA TỪNG PHẦN, TIẾN LÊN TỔNG KHỞI NGHĨA

Từ sau Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, ở miền xuôi Đảng tăng cường hoạt động mở rộng Mặt trận Việt Minh. Uy tín Mặt trận ngày càng lớn. Ảnh hưởng cách mạng ngày càng tăng. Phong trào cứu quốc phát triển trong cả nước.

Đầu năm 1943, tình hình thế giới có những biến chuyển quan trọng. Hồng quân Liên Xô thắng lớn ở Xta-lin-grát, chuyển sang phản công chiến lược trên khắp các mặt trận. Thắng lợi đó cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Việt Nam. Tháng 2 năm 1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở ngoại thành Hà Nội ra nghị quyết phát triển Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa.

Giữa năm 1944, tình hình chuyển biến nhanh. Việc bọn phát xít bị tiêu diệt chỉ còn là vấn đề thời gian. Ngày 7 tháng 5 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 8 năm 1944, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi “Sắm vũ khí, đuổi thù chung”. Không khí cách mạng sôi sục, lan rộng khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam.

Ở đồng bằng, các đảng bộ tích cực củng cố những đội tự vệ sẵn có, tổ chức thêm nhiều đội mới, mua sắm vũ khí, cử người lên chiến khu học quân sự, thành lập những khu du kích, chuẩn bị khởi nghĩa từng phần ở các địa phương, ở Cao Bằng và Bắc Sơn -Vũ Nhai, không khí chuẩn bị khởi nghĩa càng sôi nổi.

Cuối năm 1944, đế quốc Pháp mở cuộc càn quét lớn vào Vũ Nhai, chuẩn bị càn quét vùng căn cứ Cao Bằng. Quần chúng cách mạng ở Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng căm phẫn đòi nổi dậy.

Tại Vũ Nhai, tháng 10 năm 1944, ban lãnh đạo của Đảng ở địa phương đã phát động quần chúng khởi nghĩa và tiến hành chiến tranh du kích. Đội du kích Bắc Sơn (từ năm 1941 đổi tên thành Cứu quốc quân) lúc này phát triển mạnh, đánh địch ở nhiều nơi. Nhân dân làm vườn không nhà trống, rút lên các vùng núi cao với quân du kích. Được tin cuộc khởi nghĩa Vũ Nhai nổ ra, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã đánh giá những ưu điểm, phê phán những khuyết điểm, sai lầm, rút ra những bài học bổ ích, chỉ thị cho Đảng bộ Bắc Sơn - Vũ Nhai phải lập tức đình chỉ khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh du kích, dùng những hình thức đấu tranh thông thường của quần chúng mà chống địch khủng, bố, đưa lực lượng du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai sang vùng Yên Thế (Bắc Giang) củng cố, chờ đón thời cơ.

Mùa đông năm 1944, ở Cao Bằng, nhân dân đã sẵn sàng khởi nghĩa vũ trang. Tiếng súng diệt ác trừ gian đã nổ ở một số nơi. Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chuẩn bị họp lần cuối để quyết định ngày giờ phát động chiến tranh du kích:

Giữa lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh về đến vung căn cứ Cao Bằng. Sau khi kiểm tra tình hình, Người chỉ thị cho liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng hoãn cuộc khởi nghĩa. Chủ trương sáng suốt này đã tránh cho phong trào, ở Cao - Bắc - Lạng khỏi bị tổn thất, giữ gìn và phát triển lực lượng cho tổng khởi nghĩa.

Người chỉ ra rằng: “Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng là mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phương, mà chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới chỉ thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục. Các địa phương khác trong toàn quốc tuy phong trào cách mạng đang lên cao nhưng hiện nay chưa nơi nào có điều kiện vũ trang chiến đấu để sẵn sàng hưởng ứng”. Người kết luận: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động khởi nghĩa vũ trang ngay thì quân thù sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên. Nếu phát động đấu tranh mà mỗi khi địch đến, nhân dân lại phải tản cư cả vào rừng núi, thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Phải làm sao cứ hoạt động vũ trang mà dân ở đâu cứ ở đấy sản xuất, chỉ cần tăng cường canh gác đề phòng không bị địch bắt, hại những người hoạt động”(1).

Sớm thấy rõ vai trò chiến lược của bộ đội chủ lực, Người chủ trương lập đội quân giải phóng, vạch ra những nét chính về Đội Việt Nam giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động và vấn đề cung cấp lương thực, đạn dược. Người duyệt danh sách các cán bộ và đội viên được chọn lọc từ các đội tự vệ chiến đấu và các đội du kích địa phương lên thành lập đội vũ trang tập trung đầu tiên hoạt động trên một địa bàn rộng, dùng hành động vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng trong quần chúng, phát triển cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang. Người nhắc nhở: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo”(2).

Tháng 10 năm 1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, đề nghị triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội để thành lập chính quyền cách mạng Trung ương. Với tầm nhìn chiến lược, Người thấy thời cơ tổng khởi nghĩa đang tới gần: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”(3).

Tháng 12 năm 1044, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Chỉ thị viết:

“1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phái duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(4).


(1), (2) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 129-130.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 376.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 377-378.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 09:31:13 pm »

“Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” là văn kiện lịch sử mang tính chất một cương lĩnh quân sự, gồm các vấn đề khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân và vũ trang toàn dân, xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và tự vệ du kích. Chỉ thị ấy vạch rõ phương thức hoạt động của lực lượng vũ trang cách mạng là kết hợp quân sự với chính trị, hình thức hoạt động thích hợp với yêu cầu của thời kỳ quá độ từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang là vũ trang tuyên truyền và chiến thuật của lực lượng vũ trang tập trung lúc này là chiến thuật du kích. Chỉ thị đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa ở Việt Nam.

Được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy ngày 22 tháng 12 năm 1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, thảo ra “Mười lời thề danh dự”, vạch kế hoạch hoạt động của Đội.

Ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã hạ đồn Phai Khắt và hôm sau, tiêu diệt đồn Nà Ngần, bắt sống toàn bộ binh lính địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Bằng công tác vũ trang tuyên truyền, trong vòng vài tháng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mở rộng khu vực có cơ sở cách mạng từ vùng rừng núi huyện Hòa An (sát tỉnh lỵ Cao Bằng) đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Rã và vùng phụ cận các triền núi Phia Uắc, Phia Bioóc. Các khu vực này trở thành những “căn cứ hoàn toàn”, làm bàn đạp phát triển phong trào về phía nam. Lực lượng của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cũng từ trung đội đầu tiên khi mới thành lập, phát triển lên thành nhiều đại đội.

Những chủ trương của lãnh tụ Hồ Chí Minh về phương thức đấu tranh và tổ chức lực lượng vũ trang lúc này đã được thực tiễn, lịch sử chứng minh là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo.

Đúng như dự đoán của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đánh đổ thực dân Pháp, độc chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật trên toàn cõi Đông Dương.

Ngay trong đêm 9 tháng 3 năm 1945, dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Ngày hôm sau, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Trung ương Đảng quyết định thay đổi khẩu hiệu và hình thức đấu tranh trong cả nước, chuyển sang những hình thức tuyên truyền, tổ chức mới thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, lãnh đạo nhân dân phá các kho thóc của đế quốc phát xít để cứu đói, động viên đông đảo nhân dân xuống đường biểu tình. Trung ương Đảng chủ trương phát động chiến tranh du kích, đẩy mạnh phong trào chống Nhật, cứu nước, sẵn sàng chuyển lên tổng khởi nghĩa khi có điều kiện.

Cao trào chống Nhật, cứu nước dâng lên mạnh mẽ trong cả nước. Mặt trận Việt Minh có thêm hàng triệu hội viên. Đội quân chính trị ở thành thị và nông thôn phát triển nhanh chóng. Lực lượng vũ trang cách mạng mở rộng các vùng căn cứ. Khỏi nghĩa từng phần bùng nổ ở nhiều địa phương. Hoạt động du kích xuất hiện ở nhiều nơi.

Tại Việt Bắc, nhân dân làm chủ nhiều châu, huyện.

Tại trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, nhân dân nổi dậy phá kho thóc cứu đói, trừng trị phản động, phát triển tự vệ du kích, lập các chiến khu.

Tại Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ, tù chính trị ở Quảng Trị, Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột phá ngục về địa phương lãnh đạo phong trào. Khởi nghĩa Ba Tơ bùng nổ, đội du kích Ba Tơ ra đời. Tại Nam Bộ, các đội tự vệ, đội xung phong phát triển nhanh chóng ở Sài Gòn, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc... Tinh thần Nam Kỳ khởi nghĩa bừng trở lại.

Tháng 4 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất chỉ huy các chiến khu, tổ chức tự vệ và tự vệ chiến đấu ở khắp nơi, thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân, thành lập Ủy ban quân sự cách mạng để chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương, đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa.

Tháng 5 năm 1945; lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Sơn Dương (Tuyên Quang). Theo chỉ thị của Người, Ủy ban nhân dân Khu giải phóng Cao Bắc Lạng - Thái Hà Tuyên được thành lập. Xã Tân Trào, nơi ở và làm việc của Người trở thành thủ dô của Khu giải phóng. “Việt Bắc trở thành một thứ “đất thánh” của cuộc cách mạng dân tộc”(1). Tại đây, “những bước đi đầu tiên của nền dân chủ mới đã được áp dụng”(2).

Ngay trong tháng 5, phát xít Nhật mở nhiều cuộc tiến công vào các vùng căn cứ nhằm tiêu diệt giải phóng quân và cơ quan đầu não cách mạng.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: quân địch không thể vào được khu căn cứ nếu ta, quyết tâm và biết cách tổ chức chiến đấu chặn chúng lại ở các chiến khu, giải phóng quân, du kích, tự vệ kiên quyết đánh địch, bảo vệ vùng căn cứ. Từ Việt Bắc đến Ninh Bình, Quảng Yên, Yên Bái, Quảng Ngãi, các toán quân Nhật tiến vào các vùng căn cứ đều bị chặn đánh và buộc phải rút lui.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 5, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 351.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2020, 09:33:58 pm »

Những điều kiện bảo đảm thắng lợi của tổng khởi nghĩa mà lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ ra trong tác phẩm “Con đường giải phóng” đã trở thành hiện thực. Tại Tân Trào, Người khẩn trương chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội. Mặc dù đang ốm nặng, Người vẫn làm việc, viết nhiều chỉ thị và thư hỏa tốc, phái giao thông đặc biệt đi các hướng để triệu tập các đại biểu nhanh chóng về họp. Người nhấn mạnh: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(1).

Ngày 7 tháng 5 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng không điều kiện.

Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và từ ngày 9 tháng 8 mở cuộc tiến công vào quân Nhật ở Mãn Châu (Trung Quốc). Sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn tính từng giờ.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đại diện cho 5.000 đảng viên trong cả nước khai mạc tại Tân Trào dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Hội nghị quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa trong cả nước và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13 tháng 8, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, tuyên bố: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh”.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám bắt đầu.

Sáng 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc tại Tân Trào dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa. Đại hội quy định Quốc kỳ, Quốc ca, thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Cũng trong ngày 16 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”.

“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ”(2).

Bão táp cách mạng cuồn cuộn nổi dậy.

Dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, khắp cả nước từ thành thị đến nông thôn, hàng chục triệu quần chúng nhất tề vùng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn thân Nhật, đập tan xiềng xích nô lệ. Với lực lượng chính trị mạnh mẽ của nhân dân, có lực lượng vũ trang và nửa vũ trang trợ lực, lại biết vận dụng sách lược đấu tranh thích hợp với quân đội Nhật đang hoang mang bối rối, tổng khởi nghĩa nhanh chóng thắng lợi từ Bắc chí Nam.

“Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách, mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(3).

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội. Nhân dân tưng bừng phấn khởi mừng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”. Người nêu rõ: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”(4). Nhân danh Chính phủ lâm thời, Người tuyên bố với toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(5).

Với thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhân dân Việt Nam sau hàng ngàn năm nô lệ đã bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do.

*
*   *

Quá trình chuẩn bị tiến hành Cách mạng tháng Tám cũng là quá trình hình thành, hoàn chỉnh tư tưởng và lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc ở thời đại mới.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về vùng biên giới Trung - Việt trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Người có ảnh hưởng quyết định đối với việc hoàn thành sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc phát xít, xây dựng căn cứ địa cách mạng, thành lập lực lượng vũ trang cách mạng. Người xác định hình thức hoạt động của lực lượng vũ trang trong bước quá độ từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang, chỉ đạo tiến hành khởi nghĩa từng phần, nắm thời cơ thuận lợi cùng Trung ương Đảng phát động Tổng khỏi nghĩa trong cả nước.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám chứng minh sự sáng tạo đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc.

Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này là cơ sở để xây dựng nên đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng trong chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc. Các trước tác quân sự của Người, tiêu biểu là “Con đường giải phóng”, “Cách đánh du kích”, “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” đã giải quyết đúng đắn những vấn đề cơ bản của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đặt những viên đá tảng xây dựng nền khoa học quân sự Việt Nam hiện đại. “Tuyên ngôn độc lập” của Người nói lên ý chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và chủ quyền dân tộc.

Toàn dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền, toàn dân đem tất cả tinh thần và lực lượng để giữ vững độc lập, tự do. Tư tưởng quân sự ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành, hoàn chỉnh và trở thành hiện thực trong giai đoạn lịch sử này.


(1) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 203.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 380.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 18.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 3, 4.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Năm, 2020, 10:20:03 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:05:44 am »

Chương III
PHÁT TRIỂN HOÀN CHỈNH TƯ TƯỞNG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN,
ĐƯA KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ĐẾN THẮNG LỢI (1945- 1954)

Cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xám lược và bọn can thiệp Mỹ từ 1945 đến 1954 là “dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao”(1) và là sự thử thách đối với chế độ dân chủ cộng hòa Việt Nam ra đời trong Cách mạng tháng Tám.

Là lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ trong suốt chín năm kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang. Mỗi giai đoạn kháng chiến là một bước phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, đồng thời là một bước phát triển đường lối quân sự của Đảng ta.

I. KIÊN QUYẾT BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN VÀ CHỦ QUYỀN
DÂN TỘC, TRANH THỦ THỜI GIAN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CĂN BẢN

“Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm”(1).

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước đế quốc Anh, Pháp. Mỹ và Trung Hoa dân quốc xúm lại quyết đè bẹp nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trẻ tuổi đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo.

Trong tình hình gay go và cấp bách ấy, chính quyền cách mạng gặp muôn vàn khó khăn: bộ máy nhà nước mỏng manh, quân đội còn thơ ấu, tài chính kiệt quệ. Nạn đói khủng khiếp do đế quốc Pháp và phát xít Nhật gây ra đầu năm 1945 vẫn còn đe dọa.

Đây là thời kỳ nguy kịch nhất của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Vận mệnh Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Trước mưu đồ hiểm độc của lực lượng “Đồng minh” đang ồ ạt vào nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thiên tài của Người trên tất cả các mặt hoạt động: chính trị, quân sự, kinh tế ngoại giao, cùng Trung ương Đảng lái con thuyền cách mạng Việt Nam qua những thác ghềnh nguy hiểm.

Tại cuộc họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và các cuộc họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng lúc này; Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên những nhiệm vụ cấp bách: phát động tăng gia sản xuất chống nạn đói; mở phong trào chống nạn mù chữ diệt giặc dốt; xây dựng chính quyền nhân dân, tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội; vũ trang toàn dân và xây dựng quân đội của nhân dân; động viên tổ chức nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất; đặt luật lao động, thực hiện giảm tô, giảm tức, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; xây dựng văn hóa mới; tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết. Những nhiệm vụ ấy đều nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết của toàn dân, phát triển thực lực cách mạng để đối phó với thù trong giặc ngoài.

Ngày 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”(3).

Người thảo chỉ thị “Kháng chiến và kiến quốc” vạch nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân là củng cố chính quyền cách mạng, cải thiện đời sống nhân dân, chống thực dân Pháp ở phía Nam, hòa hoãn với quân Tưởng ở phía Bắc, kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và chủ quyền dân tộc.

Người gửi thư cho các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các địa phương và kiều bào ở nước ngoài, xác định địa vị và trách nhiệm của mỗi công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lời Người thắm tình yêu nước thương nòi đã nâng cao ý thức dân tộc và tinh thần làm chủ đất nước của mọi người. Nhân dân Việt Nam vừa thoát khỏi cuộc dời nô lệ đã nhanh chóng thấy ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ anh minh quên mình vì dân, vì nước, vì đồng bào ủy thác mà gánh vác chức vụ Chủ tịch nước “như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước, mặt trận”(4).

Một cao trào cách mạng mới dấy lên trong cả nước.

Phong trào tăng gia sản xuất, nhường cơm, sẻ áo sôi nổi khắp nơi. Nạn đói bị đẩy lùi. Phong trào “Bình dân học vụ” rầm rộ ở cả thành thị và nông thôn. Nạn mù chữ được thanh toán dần dần. Cuộc sống mới bừng lên trong độc lập tự do.

Trong cao trào cách mạng mới, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ. Đồng bào nô nức gia nhập các đoàn thể cứu quốc. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo được tăng cường. Đây là lực lượng chính trị quần chúng hùng hậu và có tổ chức chật chẽ, giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám.

Hệ thống chính quyền nhân dân từ Chính phủ lâm thời Trung ương đến ủy ban hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã hình thành. Dân quân, tự vệ phát triển lên hàng chục vạn người, thành một mạng lưới khắp thành thị, nông thôn, là lực lượng giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ chính quyền nhân dân ở cơ sở. Quân giải phóng Việt Nam trở thành quân đội của Nhà nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân có một chính quyền và một quân đội thực sự là của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giáo dục cán bộ về bản chất của chính quyền cách mạng. Người dạy: “... các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân”(5). Người nhấn mạnh: “... nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(6). Người nghiêm khắc lên án những thói xấu đã xuất hiện trong một số cán bộ có chức có quyền, như: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người kêu gọi những cán bộ đã phạm khuyết điểm phải sửa chữa ngay, nếu không Chính phủ sẽ không khoan dung.

Với các lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giáo dục bản chất cách mạng tinh thần quân dân nhất trí. Người dạy: “... dân là chủ. Lực lượng bao nhiêu là ở dân hết”(7), “trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”(8).


(1),(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 9.
(3),(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 100.
(5),(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 36, 35, 60.
(8) Ban Nghiên cứu lịch sử quân sự - Tổng cục Chính trị; Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t. 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1974, tr. 236.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:07:57 am »

Người trực tiếp sắp xếp cán bộ lãnh đạo các cơ quan chiến lược quân sự. Người xác định Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan quân sự cơ mật của Đảng, có nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện quân đội cho giỏi, tổ chức “nắm địch, nắm ta” cho rõ ràng, bày mưu kế cho khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác, để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng. Người chăm lo việc mua vũ khí, thành lập Phòng quân giới để tổ chức sản xuất vũ khí. Với nhãn quan chiến lược rộng lớn, tháng 9 năm 1945, Người thành lập Ban căn cứ địa Việt Bắc trực thuộc Chính phủ để theo dõi và tham gia ý kiến vào việc thực hiện các kế hoạch của Chính phủ ở căn cứ địa.

Chỉ một thời gian ngắn sau Cách mạng tháng Tám, cả dân tộc đoàn kết chặt chẽ xung quanh chính phủ và lãnh tụ của mình. Các đạo quân Đồng minh vào Việt Nam tháng 9 năm 1945 đều thấy trước mắt họ là một lực lượng cách mạng lớn mạnh, một chính quyền cách mạng đàng hoàng được nhân dân hết lòng ủng hộ.

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp được quân Anh hậu thuẫn đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ tại Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ, nhân dân Sài Gòn nhất tề đứng dậy quyết chiến với quân thù. Một trang sử mới của dân tộc Việt Nam bắt đầu: Nam Bộ kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư “Gửi đồng bào Nam Bộ”. Người biểu dương lòng quyết ái quốc của đồng bào. Người khích lệ tinh thần quyết chiến; “Thà chết tự do hơn sống nô lệ”(1). Người kêu gọi đồng bào cả nước: “Nam Bộ thì ra sức kháng chiến, Trung Bộ và Bắc Bộ thì ra sức giúp đỡ đồng bào Nam Bộ và ra sức đề phòng”(2).

Phân biệt rõ nhân dân Pháp với thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đồng bào: “... đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng, phải làm cho thế giới, trước hết cho dân Pháp, biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”(3).

Được cả nước tiếp sức, nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ anh dũng đánh trả quân xâm lược. Với gậy tầm vông và mọi thứ vũ khí có trong tay, tự vệ công nhân và nhân dân Sài Gòn trong đánh ngoài vây sáng tạo nhiều cách đánh giặc, vây hãm quân Pháp dài ngày trong thành phố.

Cuối tháng 10 năm 1945, có thêm viện binh, thực dân Pháp phá vòng vây xung quanh Sài Gòn, đánh chiếm các tỉnh lỵ, thị trấn ở cả miền Đông, miền Trung và Tây Nam Bộ, mở rộng vùng chiếm đóng ra nông thôn đồng bằng Nam Bộ. Những đơn vị quân Pháp chạy sang Thái Lan sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 quay lại chiếm đóng Campuchia và Lào đến vĩ tuyến 16 độ Bắc. Từ Nam Bộ, Campuchia và Lào, chúng đánh ra Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên.

Ngay trong tháng 10 năm 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã công nhận Chính phủ lâm thời của nước Lào độc lập và thỏa thuận với Chính phủ Lào lập liên quân Lào - Việt, bảo vệ thành quả cách mạng Lào. Đồng thời, Ủy ban nhân dân Nam Bộ cũng liên lạc ngay với các nhà yêu nước Campuchia, góp phần tích cực thành lập Mặt trận Khơ-me độc lập.

Chỉ thị “Kháng chiến và Kiến quốc” được quần chúng tiếp nhận và trở thành hành động cách mạng sôi nổi. Cán bộ, đảng viên, dân quân tự vệ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên kiên quyết bám địa phương, dùng lối đánh du kích và bất hợp tác với địch để kháng chiến lâu dài. Nhiều căn cứ du kích được xây dựng. Nhiều đội du kích được thành lập. Chi đội bộ đội tập trung đầu tiên ở Nam Bộ ra đời. Cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ được giữ vững. Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Chính phủ tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 25, 51
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 26.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:10:39 am »

Từ thực tiễn những tháng kháng chiến đầu tiên ở miền Nam, Người rút ra những kết luận có ý nghĩa chiến lược quân sự. Trong lời kêu gọi đồng bào cả nước tháng 2 năm 1946. Người chỉ ra rằng “một dân tộc đang chiến đấu như dân ta bây giờ ắt phải luôn luôn chuẩn bị, đồng thời phải luôn trấn tĩnh, cương quyết, sẵn sàng đối với mọi tình thế, không bao giờ rối trí sợ sệt”(1). Trước hết, nhân dân ta phải xác định “tinh thần bại không nản, thắng không kiêu, thua trận này đánh trận khác, được trận này không chểnh mảng, chung sức, đồng tâm, nhất trí, giữ gìn trật tự, tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ”(2). Người nêu lên “cách thực hành trường kỳ kháng chiến và toàn dân kháng chiến bằng quân sự (dũng cảm, kỷ luật), bằng chính trị (đoàn kết, trật tự), bằng kinh tế (tăng gia sản xuất); bằng ngoại giao (thêm bạn, bớt thù)”(3). Những kết luận này bước đầu nêu lên quy luật giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam chống chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.

Ở phía Bắc, đến cuối tháng 9 năm 1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã vào Hà Nội và các thành phố, thị xã. Theo chân chúng là lũ tay sai Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mệnh đồng minh hội. Âm mưu của chúng là sau khi “Hoa quân nhập Việt”, sẽ tiêu diệt Đảng cộng sản, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động đánh đổ chính quyền nhân dân, lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Chính phủ lâm thời gặp những người cầm đầu quân Tưởng, hạn chế sự sách nhiễu của họ, nhắc nhở họ đã làm đúng nhiệm vụ của quân đội Đồng minh, nếu xâm phạm chủ quyền của Việt Nam thì nhân dân Việt Nam kiên quyết tự vệ.

Ngày 4 tháng 10 năm 1945, tập đoàn Tưởng Giới Thạch cử tướng Hà Ứng Khâm, Bộ trưởng chiến tranh đến Hà Nội. Chính phủ Việt Nam chỉ được thông báo khi máy bay chở viên tướng quân phiệt này đã trên bầu trời Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới ngay tổng hành dinh quân Tưởng tại Phủ toàn quyền cũ, gặp Hà Ứng Khâm. Một cuộc tuần hành thị uy hàng chục vạn dân nội ngoại thành với các khẩu hiệu: “Hoa - Việt thân thiện”, “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Độc lập hay là chết”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”, đã diễn ra trước tổng hành dinh quân Tưởng chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi Hà Ứng Khâm đến Hà Nội. Trước khí thế của toàn thể dân tộc Việt Nam đoàn kết xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tập đoàn Tưởng Giới Thạch không dám thực hiện kế hoạch “diệt Cộng, cầm Hồ”.

Quân Tưởng chuyển sang dùng bọn tay sai “Việt quốc”, “Việt cách” tổ chức bạo loạn hòng lật đổ Chính phủ lâm thời. Trước tình hình phức tạp ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã bằng mọi cách tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố chính quyền nhân dân, phát triển thực lực cách mạng. Lúc này. “không thể do dự. Do dự là hỏng hết”(4). Người và Trung ương Đảng đã quyết đoán, kể cả dùng những biện pháp đau đớn để cứu vãn tình thế. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự ý giải tán, thực tế là rút vào hoạt động không công khai. Một số Bộ trưởng đại diện Mặt trận Việt Minh trong Chính phủ lâm thời tự nguyện rút lui, nhường ghế cho đại diện các đảng phái khác. Quân giải phóng Việt Nam đổi tên thành Vệ quốc đoàn, rút ra khỏi các thành phố, thị xã có quân Tưởng. Với các khẩu hiệu: “Phản đối chia rẽ”, “Đoàn kết chống thực dân Pháp”..., đảng bộ và ủy ban nhân dân các địa phương kiên quyết vạch, trần bộ mặt bán nước hại dân của bọn “Việt quốc”, “Việt cách”, kịp thời ngăn chặn bạo loạn, trừng trị những tên ngoan cố hoạt động phá hoại, giáo dục lôi kéo những người lầm đường, phân hóa hàng ngũ chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì thương lượng với quân Tưởng. Người đưa ra chủ trương cải tổ Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời. Nhiệm vụ của Chính phủ liên hiệp lâm thời là tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức. Sau đó Người còn chấp thuận để 70 đại biếu của “Việt quốc” và “Việt cách” tham gia Quốc hội không qua tổng tuyển cử.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tồng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tổ chức trên cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử tại thủ đô Hà Nội với số phiếu cao nhất.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa họp phiên đầu tiên. Chính phủ lâm thời được thành lập tại Tân Trào ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử. Quốc hội hoàn toàn tín nhiệm Chính phủ chính thức do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới bàn tay chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã vượt qua một bước thử thách cực kỳ nghiêm trọng.

Đầu năm 1946; thế và lực của cách mạng Việt Nam đã vững thêm. Ở phía Bắc chính quyền nhân dân được củng cố. Ở phía Nam, âm mưu bình định trong bốn tuần lễ của thực dân Pháp thất bại.

Để cứu vãn quyền lợi chung, Mỹ - Tưởng và Anh - Pháp tạm thời dẹp mâu thuẫn bộ phận ở Đông Dương, nhân nhượng với nhau. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký tại Trùng Khánh cho quân Pháp vào Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng. Ngày 1 tháng 3 năm 1946, hạm đội Pháp rời Sài Gòn đưa quân ra Bắc Việt Nam, lợi dụng nước thủy triều lên cao nhất trong tiết xuân phân để ngược sông cửa Cấm vào Hải Phòng.

Trước tình hình nguy kịch mới này, một lần nửa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mau chóng quyết đoán. Ngày 3 tháng 3 năm 1946, Người cùng đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh và các Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng có mặt tại Hà Nội quyết định chủ trương “Hòa để tiến”. Chủ trương này dẫn đến việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Việt Nam và Pháp.

Theo Hiệp định sơ bộ, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong “Khối liên hiệp Pháp” là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng; Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép 15.000 quân Pháp được vào một số địa điểm ở Bác Việt Nam trong thời hạn 5 năm để thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch; việc thống nhất nước Việt Nam do nhân dân Việt Nam quyết định trong cuộc “trưng cầu dân ý” sẽ tổ chức sau; quân đội hai bên ở Nam Việt Nam phải lập tức ngừng bắn, đóng quân tại chỗ đợi hai Chính phủ Việt Nam và Pháp đàm phán đi đến một hiệp ước chính thức.


(1), (2), (3) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, t.1, Nxb Sự thật, H. 1958, tr. 73, 74.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 21.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM