Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:12:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh  (Đọc 23953 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:13:01 am »

“Việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 thực sự là nước cờ “Tài trí cơ mưu” của Hồ Chí Minh”(3).

Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ký tại Hà Nội lúc 16 giờ ngày 6 tháng 3 năm 1946. 18 giờ cùng ngày, những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Pháp đổ bộ lên bến cảng Hải Phòng.

Thực hiện chủ trương “Hòa để tiến” là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp. Thực dân Pháp liên tiếp phá hoại Hiệp định và lấn tới. Về phía Việt Nam, đây là một quá trình giáo dục, tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi trên phạm vi cả nước.

Sau Hiệp định sơ bộ, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở phía Nam thay đổi có lợi cho ta. Quân Anh rút khỏi Nam Việt Nam. Quân Nhật về nước. Quân Pháp phải phân tán lực lượng, đưa những đơn vị mạnh nhất ra miền Bắc Việt Nam. Ngụy quyền hoang mang dao động. Nhân thời cơ và điều kiện chính trị có lợi, nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ vùng lên tiến công kẻ thù. Từ các vùng căn cứ, một phong trào nổi dậy loang ra đến sát các đô thị và các đường giao thông. Từng mảng hội tề bị quét sạch. Đến mùa thu năm 1946, chính quyền cách mạng được thành lập lại tại 1,100 xã trong tổng số 1.200 xã toàn Nam Bộ. Mặt trận Việt Minh và các tổ chức cứu quốc phát triển mạnh mẽ. Chính sách giảm tô giảm tức được thực hiện. Tự vệ du kích phát triển rộng khắp. Bộ đội tập trung hình thành ở từng tỉnh. Lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ phát triển mạnh mẽ, đứng chân vững chắc ở khắp các địa phương.

Sau ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp đã vào Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Phủ Lạng Thương, Lạng Sơn, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng. Chúng âm mưu sau khi chiếm đóng những vị trí chiến lược trọng yếu, sẽ từ những hành động mang tính chất quân sự tiến tới một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền cách mạng.

Chính phủ và nhân dân ta kiên quyết đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định, đòi Chính phủ Pháp phải mở cuộc đàm phán chính thức tại Pa-ri.

Tranh thủ thời, gian tạm hòa bình sau khi Hiệp định sơ bộ được ký kết, Trung ương Đảng và Chính phủ đã triển khai một khối lượng công việc hết sức rộng lớn nhằm tăng cường lực lượng về mọi mặt, thể chế hóa bộ máy nhà nước, đẩy mạnh sản xuất, phát triển văn hóa, giáo dục, nhanh chóng xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Đến cuối tháng 6 năm 1946, hầu hết quân Tưởng đã về nước. Âm mưu của bọn “Việt quốc”, “Việt cách” chuẩn bị một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Chính phủ bị đập tan. Những hang ổ phản động trên các tỉnh phía Bắc bị quét sạch. Khối đoàn kết toàn dân được tăng cường. Nền chuyên chính dân chủ nhân dân được củng cố.

“Hòa để tiến” là một chủ trương kỳ diệu, một nước cờ cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước kia, Người đã khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa Mỹ - Tưởng và Anh - Pháp để hòa hoãn với quân Tưởng ở phía Bắc, đánh Pháp ở phía Nam; nay Người lại khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng để hòa hoãn với Pháp, gạt 20 vạn quân Tưởng ra khỏi miền Bắc Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một đạo quân lớn đã vào chiếm lĩnh các địa bàn chiến lược trên đất nước ta với ý đồ xâm lược và lật đổ, rút cục bị đẩy ra hết. Với việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, ta đã phân hóa được kẻ thù, thoát ra khỏi tình thế cô lập, giành chủ động, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược tranh thủ thời gian sửa soạn kháng chiến toàn quốc.

Đánh giá kết quả to lớn của chủ trương “Hòa để tiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: “... gần một năm tạm hòa bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản”(2). Người nói: Việc ký Hiệp định 6 tháng 3 “cũng làm cho nhiều người thắc mắc và cho đó là chính sách quá hữu. Nhưng các đồng chí và đồng bào Nam Bộ thì lại cho là đúng. Mà đúng thật. Vì đồng bào và đồng chí ở Nam đã khéo lợi dụng dịp đó để xây dựng và phát triển lực lượng của mình”(3).


(1) Lăng Kỳ Hàn: Đằng sau việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản tại Hà Nội, Nxb Tri thức thế giới, bản đánh máy, ký hiệu VL 2452, Viện Lịch sử quân sự.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Sự thật, H. 1986, tr. 22, 21.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2020, 10:22:20 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:15:21 am »

*
*   *

Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn dự cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-bờ-lô đi cùng một chuyến máy bay với Người.

Trước khi sang Pháp, Người viết thư “Gửi đồng bào Nam Bộ” khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(1). Người trao chức vụ Quyền Chủ tịch nước cho cụ Bộ trưởng Bộ nội vụ Huỳnh Thúc Kháng. Khi chia tay, Người nói với cụ Huỳnh câu châm ngôn “dĩ nhu xử cương, dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Trong thời gian ở Pháp, hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng cao địa vị của nước Việt Nam trên trường quốc tế. Quốc kỳ Việt Nam tung bay tại thủ đô Pháp. Chính phủ Pháp, nhân dân Pháp và thế giới hiểu vấn đề Việt Nam hơn trước. Người đã liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp. Người gặp đại diện Tổng công hội Pháp, Đảng xã hội Pháp và nhiều đảng phái, đoàn thể khác của nước Pháp. Người tiếp xúc với nhiều yếu nhân trong Chính phủ Pháp. Một số đông người Pháp trở thành bạn hữu của nhân dân Việt Nam, tán thành Việt Nam độc lập và Việt - Pháp hợp tác một cách thật thà. Người đã gặp đại diện nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và lao động Việt Nam được, các đoàn thể quốc tế công nhận là hội viên. Bức màn bưng bít của chủ nghĩa đế quốc vây quanh nước Việt Nam mới bị phá vỡ. Từ một nước thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã trở thành mối quan tâm của nhiều nước. Nhân dân Việt Nam thêm bạn, bớt thù.

Thực dân Pháp ra sức phá hoại cuộc đàm phán Việt - Pháp tại Phông-ten-nơ-bờ-lô, đồng thời đánh chiếm nước Lào và lấn tới ở Việt Nam. Ở bàn hội nghị chúng đưa ra một bản dự thảo Hiệp định với những điều khoản mà Việt Nam không thể chấp nhận.

Ngày 13 tháng 9 năm 1946, Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô tan vỡ. Sáng 14 tháng 9, phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa về nước.

Để có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến và để cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới càng hiểu rõ thiện chí của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã một mình quyết đoán ở phút cuối cùng. Đêm 14 tháng 9 năm 1946, Người quyết định ký một bẳn Tạm ước với đại diện Chính phủ Pháp và Ma-ri-uýt Mu-tê, Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại. Tạm ước ngày 14 tháng 9 quy định: hai bên đình chỉ xung đột, phía Pháp đảm bảo thực hiện các quyền tự do dân chủ ở Nam Bộ và thả những người Việt Nam yêu nước bị bắt; phía Việt Nam đảm bảo quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại Việt Nam; cuộc đàm phán giữa hai bên sẽ tiếp tục vào tháng 1 năm 1947.

Đây là quyết định đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tranh thủ đến cùng khả năng “Hòa để tiến”. Đây cũng là bước nhân nhượng cuối cùng, nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước và quyền lợi tối cao của dân tộc.

Đêm 14 rạng ngày 15 tháng 9 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một cuộc nói chuyện với nhà báo Mỹ Đa-vit San-bờ-rơn. Khi cuộc nói chuyện gần kết thúc, Đa-vit hỏi: ông có tin rằng ông sẽ bị bắt buộc phải chiến đấu không?”. Đa-vit kinh ngạc khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có, chúng tôi sắp phải chiến đấu. Người Pháp đã ký kết một Hiệp ước và họ đã treo cờ. Nhưng tất cả điều đó chỉ là sự giả nhân giả nghĩa. Trên thực tế, chúng tôi chưa có quyền độc lập thật sự: thuế quan riêng, ngoại giao riêng, tiền tệ riêng. Đất nước chúng tôi đang bị gặm nhấm. Họ đã dựng lên những chế độ bù nhìn ly khai ở miền Nam... Đúng, tôi ngại rằng cuối cùng, chúng tôi sẽ bị bắt buộc phải chiến đấu”(2).

Sáng 16 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pa-ri. Chiều 17 tháng 9 năm 1946, tuần dương hạm Đuy-mông Đuyếc-vin nhổ neo rời quân cảng Tu-lông đưa Người về nước.

Ngày 21 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến thủ đô Hà Nội.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 139.
(2) Hăng-ri A-dô: Dịp may cuối cùng. Lê Tùng Ba dịch, bản in rô-nê-ô lưu tại Viện Lịch sử quân sự. Ký hiệu A76, tr. 7.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:19:03 am »

*
*   *

Ngay sau khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định gấp rút chuẩn bị để “nếu phải đánh toàn thể thì có thể tức thời giáng cho thực dân phản động những đòn chí tử và chống nhau với chúng lâu dài đến toàn thắng”(1).

Trong sổ tay của Người còn lưu lại những trang bút ký viết ngày 5 tháng 11 năm 1946, nhan đề: “Công việc khẩn cấp bây giờ”. Trong đó, Người nêu rõ những ý định chiến lược về cuộc kháng chiến toàn quốc sắp diễn ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cuộc kháng chiến toàn quốc mà nhân dân ta sẽ tiến hành là một cuộc “trường kỳ kháng chiến rất gay go cực khổ, “địch thua đến 99%, nó cũng ráng sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam, thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang”(2). Chúng “sẽ tàn phá khủng bố rất dữ dội. Mục đích là mong làm cho dân ta hoảng sợ, do hoảng sợ đến đầu hàng. Nhưng ta phải hiểu: lực lượng địch chỉ có chừng ấy thôi. Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn “chớp nhoáng” đó, thì địch sẽ xẹp, ta sẽ thắng. Vì vậy, ta phải có và phải làm cho dân ta có Tín tâm và Quyết tâm. Dùng lời lẽ giản đơn, rõ rệt mà giải thích cho quần chúng. “Cố ráng sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân”(3).

Để tiến hành cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “kháng chiến và kiến quốc” đi đôi “tổ chức du kích khắp nơi”, “tăng gia sản xuất khắp nơi”, “một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết. Phá hoại để ngăn địch, kiến thiết để đánh địch”(4).

Người xác định cả hai việc kháng chiến và kiến quốc “đều phải có người, có nhiều người”(5).

Nêu lên câu hỏi “Người ở đâu ra”, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải đáp:

“1. Là các đảng viên nam nữ hiện có.

2. Trong lúc này tỏ ra nhiều phần tử hăng hái, hoặc trong lúc chiến đấu, hoặc trong công việc khác. Phải ra sức kéo họ. (Phải làm khéo, vì có người hăng hái, nhưng không tán thành Đỏ).

3. Phải chọn một số khá đông thanh niên, để huấn luyện họ, đào tạo họ”(6).

Đối với đảng viên là đội ngũ nòng cốt trong chiến tranh Người dạy: “Cần phải rửa sạch những thói hẹp hòi, phụ diễn, tự đại, ỷ lại, lười biếng, nhút nhát, hủ hóa. cần phải kỷ luật, hoạt bát, siêng năng, dũng cảm, có sáng kiến, làm kiểu mẫu. Trước hết, phải ăn ở làm sao cho dân phục, dân yêu, dân nghe. Đó là các bảo đảm cho thắng lợi”(7).

“Công việc khẩn cấp bây giờ” là một văn kiện quan trọng vạch ra những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến và kế hoạch huy động nhân tài, vật lực vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, việc chuẩn bị kháng chiến toàn quốc được tiến hành gấp rút ở khắp các địa phương.

Cả nước chia thành 12 chiến khu. Bộ Tổng Tham mưu và Bộ chỉ huy các chiến khu vạch kế hoạch tác chiến ở các thành phố có Pháp đóng quân, nhằm chủ động đánh địch.

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng được Người trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức chuyên chở gạo, muối lên Việt Bắc, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, sẵn sàng đón các cơ quan Đảng và Chính phủ “trở lại Tân Trào”. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa được Người trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất vũ khí tại các vùng căn cứ.

Trong không khí cả nước chuẩn bị kháng chiến, tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I họp kỳ thứ 2 nhất trí thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Quốc hội hoàn toàn tín nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy nhiệm Người đứng ra lập Chính phủ kháng chiến và giao cho Chính phủ mới toàn quyền đối phó với thực dân Pháp. Phát biểu tại Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chính phủ mới phải là một chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài, phải là một chính phủ liêm khiết, phải là một chính phủ biết làm việc, gan góc, quyết tâm đi vào mục đích vừa kiến thiết vừa tranh thủ độc lập, thống nhất cho nước nhà. Anh em trong Chính phủ sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy, cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho”(8).


(1) Báo Sự thật, số 54, ngày 20-9-1946.
(2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 180, 179,181.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 180.
(8) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 532.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:27:24 am »

*
*   *

Trong lúc giải quyết công việc đối nội, đối ngoại hết sức phức tạp, cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ra sức chuẩn bị cơ sở tư tương và lý luận cho chiến lược kháng chiến.

Từ ngày 17 tháng 5 đến ngày 13 tháng 12 năm 1946, báo Cứu quốc lần lượt đăng những luận văn quân sự của Người với các bút danh Q.Th. và Q.T. gồm 15 bài với những nhan đề như: “Hình thức chiến tranh ngày nay”, “Chiến đấu vì chính nghĩa”, “Chiến lược của quân ta và quân Pháp”, “Phương pháp tác chiến”, “Phương pháp dùng gián điệp”, “Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình”, “Chiến tranh tư tưởng”, “Động viên kinh tế”, “Vấn đề quân nhu và lương thực”... Các luận văn quân sự này giới thiệu kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh của nhiều danh nhân quân sự trên thế giới từ Tôn Tử đến Na-pô-lê-ông và Nen-xơn(1), đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của quân và dân ta trong hơn một năm kháng chiến, giới thiệu kinh nghiệm kháng chiến của Liên Xô. Các luận văn ấy nêu lên một số vấn đề lý luận về chiến lược, chiến thuật và nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Về tính chất của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Trước kia chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó thì không thể thắng lợi được”(2).

Người nêu rõ: “Trước khi khai chiến, nghĩa là lúc đương định kế hoạch chiến tranh”, phải xem xét “chính sách của chính phủ đối với dân chúng. Chính sách này phải hợp với nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng. Đối với dân, chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết, cải thiện đời sống cho dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa... Có như thế dân chúng mới đoàn kết xung quanh chính phủ, mới vì quyền lợi thiết thân của mình mà hy sinh sống chết giết giặc. Có như thế thì dù tình thế nguy khốn đến bậc nào, dân chúng không sợ hãi gì hết mà cố sức quyết chiến quyết thắng”(3).

Đây là nền tảng tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân.

Về chiến lược quân sự. Người nhận định: chiến lược của Pháp là chiến lược tiến công, đánh chớp nhoáng để chiếm cứ thật nhanh một khu vực. Sau khi đã củng cố vị trí, chúng lại bắt đầu tiến công để ngoạm một miếng khác. Chứng định tiêu diệt quần chủ lực ta, ra tay khủng bố, chém giết, hòng bắt ta phải khuất phục(4).

Người xác định: “Chúng ta quyết chiến đấu đến cùng, kỳ đánh bại được quân địch tiến công mới nghe... Vấn đề quan trọng hơn hết là làm thế nào bảo tồn cho được lực lượng, để chờ thời cơ trừ diệt địch quân”. “Sự chiếm đoạt một khoảng đất hay một thành phố chưa thể quyết định được sự hơn thua”. “Dù có phải rút lui ở một vài căn cứ cũng không lấy gì làm ngạc nhiên. Đó là con đường phải qua trong cuộc chiến tranh tự vệ”(5).

Người đề ra chiến thuật của quân và dân ta là “áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến”(6). “Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số lớn quân địch. Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương, vừa quấy rối, vừa làm hao mòn lực lượng của chúng”(7). Người chủ trương “ta không cố chiếm hoặc không cố giữ trận địa, trừ khi nào cần và có lợi cho tiến hành vận động chiến”(8).

Đây là tư tưởng của Người về chiến lược quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ địch tiến công, ta dùng “lối phòng ngự thế công”(9), thực hiện cách phòng ngự có hiệu quả nhất là phòng ngự tích cực bằng tiến công.

Người nêu cao địa vị của chiến tranh du kích. Người chỉ rõ: “Để thực hiện du kích chiến, chúng ta tổ chức ra đội cảm tử, đội phá hoại, đội đánh bốt, đội đánh mai phục, đội cướp lương thực, súng đạn, đội trinh sát. Kế hoạch vườn không nhà trống, kế hoạch bất hợp tác phải được đem áp dụng một cách triệt để. Trong thành phố, ngoài những hầm hố, những chướng ngại vật, chúng ta phải biến mỗi nhà thành một ổ kháng chiến, phải đào đường hào thông từ nhà nọ sang phố kia. Trên các ngả đường quan, phải đắp nhiều ụ đất, đặt nhiều địa lôi, nhất là ở những chỗ có cầu cống. Nếu có xe tăng, xe thiết giáp qua đó, sẽ giật địa lôi làm nổ tung cầu hay đường thành hố sâu ở nơi kín đáo, đặt ụ súng đại bác hoặc súng liên thanh. Chúng ta phải dùng mọi biện pháp để cản trở quân địch không thể tiến được. Để kháng chiến lâu dài, mỗi làng ngay từ bây giờ phải biến thành một lũy kháng chiến”(10).

Về Nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng các nguyên tác: nhanh chóng, bí mật bất ngờ, đánh tiêu diệt.

Người dạy: “Các nhà danh tướng đời trước mỗi khi ra trận đều đánh thật nhanh, cướp được phút nào hay phút ấy. Thừa lúc quân địch nhọc mệt, trễ nải không đề phòng, hay bỏ ngỏ một mặt nào, phải quyết đoán, phải dũng cảm, tiến đánh cho thật nhanh. Nếu trù trừ do dự, sẽ mất cơ hội tốt. Nhưng đánh thật nhanh không phải là hấp tấp vội vàng mà quên cả cơ mưu, phải vừa nhanh vừa có cơ mưu mới quyết định được thắng lợi. về binh pháp, bất luận một động tác gì, cũng phải nhanh. Hành quân nhanh, trận đánh nhanh, súng bắn càng nhanh càng có lợi”(11).

Người chỉ rõ: “Chiến tranh chỉ là thủ đoạn để đạt mục đích chính trị”, nên phải nghi binh lừa địch, “cốt sao thắng được địch để bảo vệ đất nước”. “Mình có tài năng mấy cũng làm như mình không có tài năng gì”. “Thời kỳ tiến đánh quân địch đã đến nơi nhưng làm thế nào để cho quân địch tưởng là chưa đánh vội”(12).


(1) Nen-xơn (Nelson, 1758-1805), thủy sư đô đốc người Anh.
(2) Q.Th. “Hình thức chiến tranh ngày nay”, Báo Cứu quốc, ngày 20-9.1946.
(3) Q.Th. “Binh pháp Tôn Tử”, Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.
(4) Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.
(5), (6), (7), (8) Báo Cứu quốc, ngày 17-9-1946.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr.193.
(10) Q.Th. Chiến lược của quân ta và của quân Pháp, Báo Cứu quốc, ngày 13-12-1946.
(11) Q.Th. Phương pháp tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 14-6-1946.
(12) Q.Th. Đặt kế hoạch tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 7-6-1946.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 10:31:39 am »

Đánh tiêu diệt là nguyên tắc chỉ đạo tác chiến được Người đặc biệt quan tâm. Người dạy: “Trừ diệt lực lượng của địch là điều kiện có thể quyết định thắng lợi. Đối với một người, làm thương tổn 10 ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn một ngón tay. Về quân sự cũng vậy, đánh bại 10 sư đoàn không bằng trừ diệt một sư đoàn... Dù ở thế thủ hay thế công ta cũng phải dùng mọi phương pháp tiêu diệt lực lượng của địch quân”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “nhân hòa, địa lợi và thiên thời” là những nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh, trong đó nhân hòa là nhân tố quan trọng bậc nhất.

Nhân hòa là nhân dân cả nước một lòng đánh giặc, cứu nước, nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ. Người chỉ ra rằng:

“Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hòa là phe ấy thắng. Chỉ phe nào vì chính nghĩa mà chiến đấu, phe ấy mới có đủ điều kiện nhân hòa”(2). Người phân tích: “Từ khi giựt được chính quyền trong tay phát xít Nhật, chúng ta luôn luôn chiến đấu để bảo vệ đất nước bằng mọi hình thức: chính trị, kinh tế, quân sự. Quân đội Việt Nam và dân chúng Việt Nam đã liên kết thành một khối quyết không chịu làm nô lệ dưới một chế độ thuộc địa nào. Trong khi chiến đấu, chúng ta được nhân dân thế giới ủng hộ, được dư luận thế giới tán đồng, nhất định chúng ta sẽ thắng”(3).

Địa lợi theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có sông sâu núi hiểm, mà gồm cả con người sinh trưởng tại chỗ quyết tâm đánh giặc, vận dụng được những cách đánh có hiệu quả phù hợp với đặc điểm địa hình, địa thế. Người chỉ rõ: “Từ hang cùng ngõ hẻm, núi cao rừng rậm đâu đâu cũng là đất nước Việt Nam, đâu đâu cũng có dân Việt Nam ở. Quân địch tiến đến chỗ nào cũng không thuộc địa hình, địa vật bằng dân quân Việt Nam ở chỗ đó. Chúng sẽ bị đánh úp bất ngờ”(4). Dân quân du kích phá hủy cầu cống, đường sá, chiếm đoạt quân nhu, lương thực làm cho địch hao mòn lực lượng. Địch đóng quân ở đâu thì ở đó nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống” và bất hợp tác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn nhiều về thiên thời. Người xem thiên thời trước hết là điều kiện khí hậu, thời tiết, là “lợi dụng ngày, đêm, sớm, tối, mưa nắng, nóng rét”(5). Người quan niệm thiên thời còn là điều kiện thời gian. Thời gian là lực lượng. “Tất cả các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều có thể tùy lúc, tùy nơi mà lợi dụng, nhưng điều kiện thời gian, điều kiện nhanh chóng vẫn là quan trọng”(6). Người dẫn câu nói nổi tiếng của Nen-xơn: “Trong chiến tranh giờ phút có quan hệ lắm. Chỉ sai nhau 5 phút, có thể quyết định được thắng bại”(7). Thiên thời còn là điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện mùa màng từng lúc. Vào cuối năm 1946, Người viết: “Dân ta năm nay được mùa không phải lo đói, lo rét như hồi đầu năm. Với điều kiện vật chất đầy đủ, dân chúng đã có đủ lực lượng để chiến đấu đến cùng”(8).

Người kết luận: “Có đủ ba điều kiện nhân hòa, địa lợi và thiên thời như trên, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thành công”. Đây là kết luận nêu lên trong bài chiến đấu vì chính nghĩa” đăng trên báo Cứu quốc ngày 6 tháng 12 năm 1946, mười ngày trước khi Người cùng với Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.

Các luận văn quân sự trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn, phát hiện ra những đặc điểm và quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam, từ mục tiêu chính trị và động lực của chiến tranh đến các hình thái chiến tranh, các phương thức tác chiến nguyên tắc chỉ đạo tác chiến. Các luận văn ấy chuẩn bị cơ sở tư tưởng, lý luận cho đường lối kháng chiến của Đảng.

Từ Cách mạng tháng Tám đến trước ngày toàn quốc kháng chiến là một giai đoạn lịch sử ghi đậm nhãn quan chính trị và tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kiên quyết về chiến lược, mềm dẻo về sách lược, Người đã tranh thủ được thời gian để củng cố Đảng, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố chính quyền nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng hậu phương, chuẩn bị tư tưởng và lý luận cho đường lối kháng chiến. “Lực lượng căn bản” được xây dựng trong thời gian này tạo tiền đề phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong các giai đoạn kháng chiến tiếp sau.


(1) Q.T. Chiến đấu vì chính nghĩa, Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.
(2), (3), (4) Q.T. Chiến đấu vì chính nghĩa, Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.
(5) Q.Th. Binh pháp Tôn Tử, Báo Cứu quốc, ngày 17-5-1946.
(6) Q.Th. Phương pháp tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 14-6-1946.
(7) Q.Th. Phương pháp tác chiến, Báo Cứu quốc, ngày 14-6-1946.
(8) Q.T. Chiến đấu vì chính nghĩa, Báo Cứu quốc, ngày 6-12-1946.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 08:17:24 pm »

II. PHÁT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN
QUYẾT KẾ KHÁNG CHIẾN TRƯỜNG KỲ

Đến cuối năm 1946, Chính phủ Pháp đã ngả hẳn sang chính sách xâm lược Việt Nam bằng vũ lực. Tháng 11 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, đổ bộ lên Đồ Sơn, Cát Bà, đưa thêm quân vào Đà Nẵng, Hà Nội. Với binh lực đứng sẵn tại Thủ đô và các thành phố lớn, thực dân Pháp âm mưu đánh úp cơ quan đầu não ta tại Hà Nội, tiêu diệt chủ lực ta, đánh chiếm cả nước Việt Nam bằng chiến lược “chớp nhoáng”.

Cố gắng tránh chiến tranh bằng mọi cách, ngày 7 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp kêu gọi nhà cầm quyền Pháp ra lệnh cho quân Pháp trở về các vị trí trước ngày 20 tháng 11. Chính phủ Pháp không trả lời. Thượng sứ Pháp tại Đông Dương là Đác-giăng-li-ơ tuyên bố khôi phục các điều ước bán nước, do triều đình nhà Nguyễn ký năm 1884, coi Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng là lãnh thổ của nước Pháp.

Dân tộc Việt Nam đứng trước hai con đường: một là cúi đầu trở lại kiếp nô lệ, hai là chiến đấu đến cùng để giữ độc lập tự do.

Ngày 13 tháng 12 năm 1946, trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Pa-ri - Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách.

Chúng tôi tha thiết với nền độc lập, nhưng nước Việt Nam độc lập ở khối liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”(1).

Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Trung ương Đảng điện cho các đảng bộ địa phương gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Hà Nội và thành phố có Pháp đóng quân triển khai kế hoạch chiến đấu.

Ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1946, tại làng Vạn Phúc cách thủ đô Hà Nội 12 ki-lô-mét, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị bất thường mở rộng dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị quyết định phát động toàn quốc kháng chiến và đề ra những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến.

Cùng ngày 17 và 18 tháng 12, Bộ chỉ huy quân Pháp gửi đến Chính phủ Việt Nam hai tối hậu thư, đòi triệt phá các lũy chướng ngại trên đường phố Hà Nội, đòi trao cho quân đội Pháp quyền giữ trật tự trong thành phố. Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội lại trao cho Chính phủ Việt Nam tối hậu thư thứ ba, đòi trong vòng 24 giờ Việt Nam phải triệt thoái quân đội, giải giáp tự vệ và công an ở Hà Nội.

Chiều 19 tháng 12 năm 1946, chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy ra lệnh cho toàn thể Vệ quốc quân và dân quân tự vệ bước vào chiến đấu.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nổ súng đánh quân Pháp tại thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn. “Nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên”(2). Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.

Sáng 20 tháng 12 năm 1946, từ núi Trầm cách Hà Nội 20 ki-lô-mét, đài Tiếng nói Việt Nam phát đi “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, hất kỳ người già. người trẻ. không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thi phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”(3).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 201.
(2) Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, t. 2, Nxb Sự thật, H. 1976, tr. 22.
(3) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 202-203.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 08:21:24 pm »

“Lời kêu gọi toàn quốc khảng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hịch cứu nước nói lên quyết tâm kháng chiến của nhân dân Việt Nam, thể hiện cô đọng, hoàn chình và hào hùng tư tưởng toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Đó là tư tưởng chỉ đạo mọi kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của quân và dân ta.

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. Chỉ thị vạch rõ: mục đích kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. Tính chất kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, thực hiện toàn dân kháng chiến, đoàn kết với Campuchia, Lào và các dân tộc yêu chuộng hòa bình, liên hiệp với nhân dân Pháp, chống thực dân phản động Pháp. Cách đánh là triệt để dùng du kích chiến và vận động chiến, bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài vừa đánh, vừa vũ trang thêm; vừa đánh, vừa đào tạo cán bộ.

Chỉ thị của Trung ương Đảng đề ra chương trình kháng chiến gồm 12 điểm cụ thể về các nhiệm vụ chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao; nhằm thực hiện kháng chiến toàn diện, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã viết một loạt bài báo về sau in thành sách dưới nhan đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” để giải thích đường lối kháng chiến. Tác phẩm này góp phần quan trọng tuyên truyền giáo dục tư tưởng, đường lối quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng trong cán bộ và nhân dân.

Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta và của thế giới đã được khái quát, tổng hợp và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để vạch ra những phương châm quyết chiến với quân thù.

Người chỉ rõ: “Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại. Vậy ta dùng chiến lược trường kỳ kháng chiến, để phát triển lực lượng, tăng thêm kinh nghiệm. Ta dùng chiến thuật du kích, để làm cho địch hao mòn, cho đến. ngày ta tổng phản công, để quét sạch lũ chúng”(1).

Với cán bộ, Người giảng giải: “Hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai hòn cùng vỡ, hai cái cứng cùng chọi nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái trứng, một cái mềm thì khi chọi nhau một cái mới còn... Pháp có xe tăng đại bác, thì ta phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì ta kéo dài. Nhất định ta thắng”(2). “Địch có tàu bay, tàu bò, tàu thủy nhưng nó có chừng nên nó muốn đánh chớp nhoáng. Sét đánh không trúng, chớp soi không thấu thì hết cơn sấm sét là yên. Nhưng trong khi sấm sét thì ghê gớm lắm. Nó có thể dùng viện binh để đánh ta. Nó có thể đánh tràn, nhưng số viện binh đó không thể tập trung vào một nơi... Nếu nó rải ra từ Nam Quan đến Cà Mau cùng chẳng làm gì được ta, ta càng dễ đánh. Nó dùng vũ khí tối tân thì ta đánh du kích, nó trên trời thì ta dưới đất. Ta trường kỳ kháng chiến thì ta thắng lợi... nó lấy vũ lực ta không sợ. Nó lấy chính trị, ta không mắc mưu. Nó lấy kinh tế phong tỏa thì ta lấy kinh tế ta đánh nó. Ta tăng gia sản xuất. Ta lợi hơn nó là nó không thể kéo dài được, mà ta thì có thể kéo dài”(3).

Với đông đảo đồng bào, Người nói: “Giồng khoai ba tháng mới có củ, giồng lúa bốn tháng mới được ăn. Giồng tự do và độc lập ít nhất cũng phải một năm hoặc năm, bảy tháng... Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thưa, ta nhất định thắng”(4).

Có người băn khoăn: toàn dân kháng chiến là thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải đáp: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ”(5).


(1), (2) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 378, 277.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 279-280, 211-212.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 08:23:02 pm »

Có người hỏi: Chiến sĩ đánh trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì?

Người trả lời: chiến sĩ hy sinh xương máu, để giữ đất nước. Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc. Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc, đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương. Muốn giúp cho chiến sĩ ăn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tăng gia sản xuất, nuôi nhiều gà, vịt, lợn, bò, giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu. Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lợi. Thế là đồng bào hậu phương cũng ra sức tham gia kháng chiến”(1).

Tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diên, trường kỳ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng thấm nhuần trong các tầng lớp nhân dân. Một sức mạnh mới hình thành: sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc.

Cách Hà Nội 20 ki-lô-mét. tại Thanh Oai (Hà Đông), tiếp đó tại Quốc Oai (Sơn Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến đấu trong cả nước.

Cuộc tiến công của quân và dân Hà Nội và các thành phố lớn đã đánh bại kế hoạch của thực dân Pháp định đánh úp cơ quan đầu não và tiêu diệt lực lượng vũ trang ta. Tại Hà Nội, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, quân Pháp bị vây đánh nhiều ngày trong thành phố.

Tết Đinh Hợi, Tết kháng chiến đầu tiên. Trên chiến lũy giữa lòng Hà Nội, chiến sĩ thủ đô đón thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người biểu dương: “Các em là đội quyết tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”(2).

Người khuyến khích. “Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em”(3).

Cuối tháng 1 năm 1947, quân Pháp tiến ra các cửa ô nhằm đẩy quân ta ra xa Hà Nội, rồi quay vào quyết tiêu diệt lực lượng ta tại trung tâm thành phố. Quân và dân Hà Nội chiến đấu cực kỳ oanh liệt, giữ từng căn nhà, từng góc phố.

Thực hiện phương châm chiến lược “bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài”, chiều 14 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Tổng chỉ huy rút lực lượng chiến đấu ở trung tâm Hà Nội ra khỏi thành phố.

Ngay khi tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Bộ Ngoại giao và Ủy ban kháng chiến Hà Nội dùng danh nghĩa Hồng thập tự Việt Nam để gặp đại diện Bộ chỉ huy Pháp, trao cho họ những kiều dân Pháp bị bắt hoặc bị thương. Những cuộc gặp định kỳ của Hồng thập tự hai bên đã được thực hiện ngay tại trận địa, có đại diện Anh, Mỹ, Trung Hoa và phóng viên thông tấn, báo chí nước ngoài tham dự. Tại các cuộc gặp này, đại diện ta đã chuyển nhiều thư và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp và nhiều nước khác. Phóng viên các nước cũng được thông báo tin tức về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và nhận được những bài Người trả lời phỏng vấn của họ.

Từ giữa, vòng vây đế quốc, tiếng nói chính nghĩa của dân tộc Việt Nam vang đi khắp năm châu.

Những thư, điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Pháp trong đầu năm 1947, cùng những thư của Người gửi đến tướng lĩnh, Bộ trưởng và Tổng thống Pháp trong thời gian này là một “Quân trung từ mệnh tập” vạch rõ phải trái đúng sai, nêu bật điều hơn lẽ thiệt, tiến công vào hàng ngũ địch trên mặt trận chính trị tư tưởng.


(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 211-212.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1975, tr. 26.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 08:29:42 pm »

Người vạch rõ: “Chính sách “phản bội các thỏa hiệp”, chính sách “việc đã rồi” và chính sách vũ lực mà các nhà đại diện Pháp ở Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã bắt buộc nhân dân Việt Nam phải võ trang tự vệ”(1). “Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà”(2). Người nêu lên viễn cảnh của cuộc chiến tranh: “Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến hẳn khỏi cõi Á châu”(3). Người đề nghị phương sách chấm dứt chiến tranh: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm đứt được những tai biến này; hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc”(4).

Với Lơ-cléc, viên tướng Pháp đã từng chống phát xít Đức để giải phóng nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?

Phải chăng đó là một công việc bạc bẽo đau đớn cho ngài?”(5).

Với binh lính Pháp trong đạo quân viễn chinh xâm lược, Người viết: “Giữa các bạn và chúng tôi, không có sự thù hiềm gì cả, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà bọn thực dân phản động khơi ra những xung đột. Lợi lộc chỉ họ hưởng, chết chóc thì các bạn phải chịu, huy chương thắng trận thì về phần bọn quân phiệt. Nhưng đối với các bạn và gia đình các bạn, chỉ là sự đau khổ khốn cùng”(6). Người kêu gọi binh lính Pháp: trở lại với chúng tôi, các bạn sẽ được tiếp đãi như bầu bạn của chúng tôi”(7).

Với phụ nữ Pháp có chồng con, anh em, chồng chưa cưới hoặc bạn bè đang làm quân dịch ở Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “... tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau”(8). Người kêu gọi các bà mẹ Pháp: “... hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những sự hiểu lầm và mau chóng xây dưng mối tình hữu nghị và tinh thần hòa hợp giữa các con em chúng ta. Và các bà sẽ nhận được tấm lòng biết ơn của người con không chỉ của thanh niên Pháp mà cả của thanh niên Việt Nam”(9).

Những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Quốc hội, Chính phủ, nhân dân và binh lính Pháp thể hiện lập trường chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình và lòng nhân ái của Người, đồng thời nêu lên một mẫu mực về tiến công chính trị vào hàng ngũ địch, một mũi tiến công có ý nghĩa chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong khi cuộc chiến đấu ở Hà Nội và các thành phố lớn còn đang diễn ra quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán một cuộc tiến công lớn của quân Pháp. Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Người ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào: “Thực dân Pháp sẽ đem hết lực lượng của chúng, để tấn công ta. Chúng sẽ không phân biệt già, trẻ, gái, trai gặp là chúng giết hại. Chúng sẽ không phân biệt thôn quê, thành thị gặp là chúng sẽ đánh phá cướp bóc”(10).

Người chỉ thị: “Mỗi một nhà, mỗi một làng phải làm ngay những việc sau đây:

1. Đào hầm trú ẩn để tránh nạn tàu bay.

2. Của cải và lương thực thì cất giấu cẩn thận, phòng địch đốt phá.

3. Phải có kế hoạch sẵn sàng, khi cần thì tản cư có trật tự, không lộn xộn.

4. Phải có kế hoạch rộng để tăng gia sản xuất, một mặt kháng chiến, một mặt làm ăn”(11).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật; H. 1984, tr. 258.
(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 314, 243, 235-236, 227, 209,161.
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 161, 240, 241.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2020, 08:33:53 pm »

Tiếp đó, Người gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “phá hoại để kháng chiến” và “kiên quyết tản cư”.

Người vạch rõ: “Đánh thì phải phá hoại”, phá để chặn địch lại, “không cho chúng tiến lên”, “không cho chúng lợi dụng”, kháng chiến thắng lợi rồi sẽ “sửa sang tu bổ lại hết”, “sẽ làm những đường sá, cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn và xứng đáng một dân tộc tự do độc lập hơn”(1).

Người chỉ ra rằng: “Tản cư cũng là kháng chiến, ở tiền tuyến, chiến sĩ hy sinh xương máu để bảo vệ non sông. Ở hậu phương, toàn thể quốc dân hy sinh mồ hôi nước mắt để giúp việc kháng chiến. Các đồng bào tản cư cam chịu linh đinh cực khổ chứ không chịu đội trời chung với quân thù”; “dời vào hậu phương, các đồng bào mỗi người phải làm một việc, không nên một ai ăn rồi ngồi không”(2).

Tháng 2 năm 1947, Bộ Tổng chỉ huy họp Hội nghị quân sự tại Chương Mỹ (Hà Đông). Quán triệt nhiệm vụ chiến lược quân sự do Người và Trung ương Đảng đề ra lúc này là “bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài”. Hội nghị chủ trương: “tránh mũi dùi chủ lực của địch để bảo toàn chủ lực và duy trì sức chiến đấu của bộ đội ta, phát động chiến tranh du kích, không cho địch phát triển vị trí và tiến quân mau lẹ”. Hội nghị nhắc nhở cán bộ và chiến sĩ không được hành động “chỉ theo tiếng gọi của lòng dũng cảm, hy sinh oanh liệt mà quá hao tổn lực lượng”, cũng không được mượn tiếng bảo toàn chủ lực để “chưa đánh đã rút”, phải nắm vững bộ đội khi địch đánh rộng ra, phải vận dụng chiến thuật căn bản của ta là du kích chiến và vận động chiến, “chú trọng đánh những trận tiêu diệt để làm cho ta hy sinh ít mà thu được kết quả nhiều, thực hiện càng đánh càng mạnh(3).

Đúng như dự đoán của Người, mùa xuân năm 1947, thực dân Pháp đánh rộng ra xung quanh các thành phố lớn, lùng diệt cơ quan đầu não kháng chiến, khủng bố nhân dân. Chiến sự lan rộng trên gần 30 tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ.

Trong khi thực dân Pháp mở cuộc tiến công lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ thì ở Nam Bộ chiến tranh du kích nổi lên mạnh mẽ. Quân và dân Nam Bộ đánh địch trên khắp các mặt trận, góp sức cùng cả nước phá cuộc tiến công của chúng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, buộc thực dân Pháp phải để lại ở phía Nam một phần binh lực để giữ các đô thị, đường giao thông, các đồn điền cao su.

Trước cuộc tiến công lớn của địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào cả nước: “Chúng ta đã đoán biết trước rằng một ngày kia địch sẽ cố chiếm các thành thị và các đường giao thông”(4). Nhưng “địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng”(5).

Với đồng bào ở các vùng bị địch chiếm, Người nói: “Chính phủ và toàn thể nhân dân không bao giờ quên đồng bào vì đang lúc mọi người đều được tự do dưới chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì riêng đồng bào bị lâm vào cảnh nô lệ.

Vì những lẽ đó mà Chính phủ, bộ đội và nhân dân ta không quản gian lao khó nhọc, ra sức chiến đấu hy sinh để mau giải phóng đồng bào ra khỏi chỗ nước sôi lửa bỏng”(6). Người nhắc nhở chính quyền các cấp vô luận thế nào cũng “không được bỏ dân bơ vơ”. Lúc này, ở nhiều nơi cán bộ có người bối rối lúng túng, có người bỏ chạy đi nơi khác Người chỉ thị cho Bộ Nội vụ phải “phái người đến những vùng địch đang chiếm, một là để giữ vững tinh thần của nhân dân, làm cho dân biết Chính phủ không quên họ. Hai là giải thích nhiệm vụ và kế hoạch cho các ủy ban hành chính và điều tra những người bất lực, thì phải cắt chức đi, tìm người khá hơn thay vào”(7).

Đây là quan điểm “dân bám đất, cán bộ bám dân, bộ đội bám địch” được Người nêu lên từ những ngày đầu kháng chiến toàn quốc. Trước cuộc tiến công của địch, Người không chủ trương rút lui chiến lược. Người đề xướng tinh thần tiến công để giành chủ động, duy trì lực lượng vũ trang ở khắp các địa phương, củng cố cơ sở quần chúng ở các vùng địch tạm chiếm, tiến hành đánh du kích để tiêu diệt địch. Tinh thần đó dẫn tới các chủ trương sau này của Đảng nhằm phát động chiến tranh du kích ở sau lựng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta.

Giữa lúc quân Pháp tiến công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”, và “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ” đề ra những yêu cầu khẩn cấp về chính trị tư tưởng đối với toàn thể cán bộ, đảng viên và các cấp bộ đảng.


(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 248-249, 270-271.
(3) Nghị quyết Hội nghị quân sự lần thứ nhất, Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 34.
(4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 303, 391, 317.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM