Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:23:38 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh  (Đọc 23910 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #90 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2020, 10:24:04 pm »

NĂM 1939

Từ tháng 2 đến tháng 7

Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài báo gửi về nước đăng trên báo Tiếng nói của chúng ta (Notre voix), nhằm phổ biến kinh nghiệm kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc.

Trong bài “Thư từ Trung Quốc” (đầu tháng 3) Người viết: “… du kích... đánh giặc chủ yếu là bằng mưu mẹo và sự bất ngờ. Nếu khi họ thấy chưa chắc thắng được kẻ địch thì họ chưa đánh”(1).

Trong bài “Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật”, Người nêu lên một nét đáng chú ý về tổ chức du kích tại vùng mỏ Ching sing “là ở chỗ nó hình thành một mặt trận chống Nhật có tính chất quốc gia và quốc tế. Quốc gia, vì mỏ có một sự hợp tác chặt chẽ giữa ban giám đốc các mỏ và công nhân mỏ, giữa công nhân và nông dân, giữa du kích và quân đội chính quy. Quốc tế, vì có một sự cộng tác chật chẽ giữa người Trung Quốc và người nước ngoài”(2).

Trong bài “Thư từ Trung Quốc. Tổng kết sau năm đấu tranh”, Người viết: “Sách lược “làm cho người Trung Quốc này đánh người Trung Quốc khác” của chúng đã bị bẻ gãy trước Mật trận dân tộc thống nhất của chúng tôi, bọn phát xít Nhật phải chuyển sang dùng một sách lược khác: “Đánh mạnh, thắng nhanh”. Đến lượt nó, sách lược này cũng bị phá tan với chính sách của chúng tôi là “chiến tranh kéo dài. Sách lược thứ ba của Nhật Bản là “ký nhanh hòa ước kết thúc nhanh cuộc chiến tranh” đã bị thất bại thảm hại trước quyết tâm của chúng tôi là đánh đến cùng. Hiện nay, chúng đang thử “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”... Chính sách đó cũng không thực hiện được, giống như cái tham vọng muốn khai hoang một núi lửa!”(3). “Chúng tôi có “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng”(4).

Tháng 7

Từ Trung Quốc, Người gửi thư cho Trung ương Đảng, nêu ý kiến về đường lối, chủ trương của đảng trong thời kỳ Mặt trận dân chủ. Người chỉ rõ: “… Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi. Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân tao động mà gồm cả tư sản dân tộc”(5). “... Mặt trận dân chủ Đông Dương phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp, vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chù và có thể giúp rất nhiều cho ta”(6).

Người viết Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản. Về tình hình hoạt động của Nhật ở Đông Dương, Người nhặn định: “Bọn Nhật đã nhòm ngó Đòng Dương từ lâu. Điều đó rất rõ ràng. Chương trình hoạt động của chúng có thể chia ra 3 mặt tuyên truyền, xâm nhập kinh tế và hoạt động gián điệp... Từ 34 năm nay, bọn Nhật đã nuôi Cường Để, ông hoàng Việt Nam lưu vong ở trên đất chúng, chỉ mong sẽ có dịp dùng đến. Về mặt kinh tế, đặc biệt bọn Nhật tìm cách thâm nhập vào các vùng mỏ Bắc Kỳ. Chúng đã đầu tư được vào nhiều công ty khai thác”(7).

NĂM 1940

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh (Trung Quốc) để chắp liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 5, 6

+ Tại Thúy Hồ (Trung Quốc) Người nói với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh về tình hình thế giới: Đức đã đánh nhau với Ba Lan, Pháp, Liên Xô ký hiệp ước không xâm phạm với Đức là hợp với tình hình hiện tại... nhưng thế nào bọn Đức cũng tiến công Liên Xô trong một ngày gần đây. Nhưng đụng vào Liên Xô thì chúng sẽ bị tiêu diệt(8).

Người nói với đồng chí Hoàng Quốc Việt: Nếu chúng đánh Liên Xô thì Liên Xô sớm muộn thế nào củng tiêu diệt chúng, nhờ đó cách mạng nhiều nước có thể thành công. Chúng ta sẽ có không phải chỉ một Liên Xô mà nhiều nước xã hội chủ nghĩa nữa sẽ ra đời(9).

+ Khi cử các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi học ở Diên An, Người căn dặn: cố gắng học thêm quân sự(10).

Trong tháng 9

Tại Quế Lâm, Người nói với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng: Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng.

Giải đáp băn khoản của mọi người về việc chưa có vũ khí, Người nói: Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng... Cho nên cử tìm cách về nước đã, sau đó chúng ta sẽ vận động quần chúng. Khi quần chúng giác ngộ cao thì ta sẽ có vũ khí(11).

Trước âm mưu thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” của Tưởng Giới Thạch, Người đề ra chủ trương: Làm thế nào khi chúng “nhập Việt” thì chúng ta đã ở ngay trong nước và với danh nghĩa “Việt Nam độc lập đồng minh” có thể đường hoàng buộc chúng phải nói chuyện với ta(12).

Trong tháng 11

+ Được tin Nam Kỳ khởi nghĩa, Người nhận định: Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào(13).

+ Xem xét tình hình và địa thế của Cao Bằng, Người nhận định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kế sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ(14).

+ Người nói với đồng chí Đặng Văn Cáp: Du kích phải tạo điều kiện mà đánh địch. Cái gì đánh được giặc là phải dùng cả... khi có dịp phải rèn dao, mác cho du kích(15).

Trong tháng 12

Người nói với đồng chí Lê Thiết Hùng: Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Nói chính trị quân sự đi đôi thì dễ, nhưng làm thì khó. Chúng ta trở về Tổ quốc, việc trước tiên là phải có chỗ đứng chân. Lúc đầu là một điểm nhỏ, sau mở rộng thành điểm to, rồi thành căn cứ. Chỗ đứng chân phải vững chắc. Vững chắc nhất là lòng dân(16).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 81.
(2), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 89-90, 105.
(4) Sách đã dẫn, tr. 107, 114, 115.
(5), (6) Sách đã dẫn, tr. 107, 114, 115.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr. 160.
(8), (9), (11) Theo Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 233, 171-172, 234, 235.
(10) Theo Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 25.
(12), (15) Theo Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 283, 337.
(13), (14) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 31, 33.
(16) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 11-1986.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #91 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2020, 10:28:40 pm »

NĂM 1941

Trong tháng 1

Tại một địa điểm gần biên giới Việt - Trung, Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho công cuộc giải phóng. Người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh biên soạn các bài giảng. Tài liệu của lớp huấn luyện này về sau được in thành sách với nhan đề “Con đường giải phóng”. Tác phẩm này đánh dấu bước phát triển hoàn chỉnh lý luận của Người về khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Về Tình hình thế giới, phân tích triển vọng của cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra, tác phẩm chỉ rõ: “Triển vọng của cuộc chiến tranh này là: chủ nghĩa phát xít nhất định tiêu diệt, chế độ dân chủ tràn lan ra khắp thế giới, cách mạng thắng lợi hoàn toàn tại nhiều nước, nhân dân Đông Dương cũng sẽ tự giải phóng hoàn toàn”.

Phân tích tình hình Đông Dương trên các mặt địa lý, kinh tế, xã hội, chính trị, tác phẩm kết luận: “Nhật, Pháp ở Đông Dương khác nào như hai con chó ăn chung một miếng mồi. Nhật định dùng Pháp làm tay sai nhưng ghen ăn với Pháp. Pháp hàng Nhật nhưng càng ngày càng chán cảnh làm đầy tớ cho Nhật. Cả hai là giặc Nhật, Pháp đang sửa soạn hất cẳng để giữ thuộc địa cho riêng mình. Sự xung đột giữa Nhật, Pháp có lợi cho cuộc vận động của nhân dân ta không nhỏ”.

Về cách mạng Việt Nam, tác phẩm chỉ rõ: “Chủ nghĩa tân dân chủ cốt nhằm ba mục đích dưới đây: 1- Dân tộc độc lập… 2- Dân quyền tự do... 3- Dân sinh hạnh phúc...”, “Chủ nghĩa tân dân chủ của Việt Minh khác hẳn với chủ nghĩa độc tài phát xít của bọn tư sản tài chính Anh, Mỹ; nó cũng không giống chủ nghĩa Xô - viết của vô sản chuyên chính ở Nga, nó càng không giống chế độ dân chủ đại nghị thối nát ở Pháp hồi trước chiến tranh. Chủ nghĩa tân dân chủ của Việt Minh có tính chất hoàn toàn Việt Nam. Nó dựng lên một nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” lối mới, một nước Việt Nam hùng cường và tiến bộ”.

Đặc biệt tác phẩm đi sâu giải quyết những vấn đề về khởi nghĩa giải phóng dân tộc và nhận định: Khởi nghĩa là cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc rất quan trọng, rất khó khăn, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại”.

Về những điều kiện của cuộc khởi nghĩa, tác phẩm xác định: “Muốn khởi nghĩa cần đủ ba điều kiện sau đây:

1. Lực lượng của đế quốc lung lay bối rối hoặc vì chúng phải đánh nhau với đế quốc khác, hoặc vì có cuộc cách mạng bùng nổ tại chính quốc, đế quốc không đủ sức giữ địa vị như trước nữa.

2. Có một cao trào cách mạng trong quảng đại quần chúng, dân chúng vì khổ sở không chịu được nữa, căm tức tối cực điểm, quyết tâm hy sinh nổi lên tranh đấu cùng đế quốc vì hiểu ràng ngồi yên cũng chết.

3. Có một chính đảng cách mạng lãnh đạo, chính đảng ấy phải có một đoàn thể cách mọng kiên quyết, có một chính sách đúng, có một lực lượng khá để lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và được dân chúng tin cậy”.

Phân tích những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương, tác phẩm chỉ rõ:

“1. Hiện nay Pháp đã mất nước cho Đức, thuộc địa của chúng bị Anh, Mỹ lấy hết. Ở Đông Dương chúng đã hàng phục Nhật. Thế lực của chúng đã tan rã suy đồi. Còn Nhật thì một mặt bối rối khó lòng giải xong vấn đề Tàu, một mặt phải lo cuộc phản công của phe Anh, Mỹ khắp nơi, mặt trận của chúng quá dài (hơn 3.000 cây số) mà chúng có nhiều kẻ địch, nên tình thế của chúng mỗi ngày một khó khăn hơn. Như vậy điều kiện thứ nhất của cuộc khởi nghĩa gần đủ.

2. Tuy dân ta hiện nay đói khổ ai cũng oán ghét Nhật - Pháp, nhưng hãy còn một số người chưa kiên quyết ra tranh đấu với đế quốc phát xít. Điều kiện thứ hai chưa đầy đủ.

3. Việt Minh là một đoàn thể cách mạng rất kiên quyết, chính sách cứu quốc rất đúng. Tuy vậy chính sách của Việt Minh chưa được phổ biến khắp nhân dân. Điều kiện thứ ba cũng chưa đủ.

Nói tóm lại hiện giờ những điều kiện khởi nghĩa của ta chưa đầy đủ.

Nhưng Nhật ngày càng thua lớn ở khắp các mặt trận. Ở Đông Dương chúng lại hầm hè với Pháp... Còn dân chúng sẽ ngày càng cảm thấy nỗi nhục nhằn dưới ách Nhật, Pháp thì ngả hẳn về phe cách mạng. Chỉ cần chúng ta nỗ lực tuyên truyền cho rộng chính sách cứu quốc của Việt Minh và ra sức tổ chức nhiều dân chúng là có ba điều kiện sẽ mau đầy đủ. Nói tóm lại chúng ta phải “gắng sức để sửa soạn khởi nghĩa”.

Tác phẩm nêu lên phương thức tiến hành khởi nghĩa của nhân dân Đông Dương: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường hay bắt đầu từ những cuộc bãi công chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc võ trang bạo động. Ở Đông Dương ta khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần ra khắp nơi. Khởi nghĩa thường bùng ra ở những nơi rừng núi tiện cho lối đánh du kích”.

Tác phẩm chỉ ra những công tác cần thiết trong cuộc khởi nghĩa.

Trước khi khởi nghĩa “đoàn thể cách mạng phải khai một cuộc hội nghị để xét rõ đã đủ điều kiện khởi nghĩa chưa? Nếu đã thì phải bàn định kế hoạch khởi nghĩa và bầu ra một ban chỉ huy khởi nghĩa... Kế hoạch ấy phải định ngày giờ cho đúng cái hoàn cảnh, với tình thế, vì một giờ sớm quá hay muộn quá đều có thể làm cho ta thất bại”. “Phải dùng hết cách kéo tất cả các hội viên và dân chúng tham gia khởi nghĩa... về mặt chính trị phải thành lập những đội tuyên truyền tổ chức để làm việc trong dân chúng. Phải dự bị lập một chính phủ cách mạng và xét những việc chính phủ ấy phải làm ngay. Về mặt quân sự phải tổ chức những đội tự vệ để làm quân chủ lực trong khởi nghĩa. Phải chia địa phương ra từng vùng để khi khởi nghĩa thì ai cũng có việc của người nấy. Trước hết phải có một khí giới và nhằm những kho khí giới của đế quốc để cướp. Phải định đội nào là tiên phong, đội nào làm hậu bị. Phải định ra nên đánh phía nào, giữ nơi nào, phá nơi nào,... Phải dự bị lương thực và việc cứu hộ (săn sóc những người bị thương). Phải tra kỹ càng những lối liên lạc giao thông (xe, tàu) dây thép, dây nói, v.v... để dự bị chiếm lấy hay phá hoại. Nói tóm lại phải có kế hoạch tiến công”.

Trong khi khởi nghĩa “ban chỉ huy phải hết sức lãnh đạo cuộc tiến công, kiên quyết tiến công, do dự một chút là thất bại”

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, “đoàn thể cách mạng phải lập tức đem khí giới chiếm được phát cho dân chúng có tổ chức và phái người chắc chắn ra lãnh đạo họ. Đồng thời phải lập ngay chính phủ cách mang của nhân dân. Những địa phương quân du kích làm chủ có thể tổ chức ra chính quyền cách mạng, chiếm được một vùng khá rộng trong nước thì có thể tổ chức Chính phủ lâm thời cách mạng của nhân dân toàn quốc”.

Về tổ chức du kích và cách đánh du kích trong khởi nghĩa, tác phẩm chỉ rõ: “Du kích là một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều. Khởi nghĩa thắng lợi một phần lớn là do du kích tổ chức có vững vàng hay không, phát triển rộng rãi hay không”?.

Về tổ chức du kích: “Du kích là binh lính cách mạng hoặc dân chúng, hoặc binh lính cách mạng và dân chúng do đoàn thể cách mạng lãnh đạo và tổ chức ra, gồm những người hăng hái vì nước vì dân. Cũng có khi binh lính cách mạng hoặc dân chúng cách mạng tự tổ chức ra du kích rồi liên lạc với đoàn thể cách mạng, chịu đoàn thể ấy lãnh đạo. Trong một đội du kích có một đội trưởng và một người chính trị ủy viên, có những người quản lý khí giới, lương thực, quản lý việc cứu hộ, việc do thám, việc giao thông...

Về cách đánh du kích: “Phép đánh du kích có thể gồm trong mấy lời này: Làm cho quân thù què đi, điếc đi, mù đi, chết đói đi”.

“Muốn làm tròn những việc,trên đây, các bộ đội du kích phải mật thiết liên lạc với nhân dân, cùng nhân dân cùng làm”.

Tác phẩm nêu lên vai trò quan trọng của căn cứ địa: “Khi du kích đã khá đông thì có căn cứ địa, nghĩa là một vùng khá rộng hiếm trở, dân chúng tổ chức vững vàng, quân lính đế quốc khó vào được. Du kích dùng nơi đó làm nơi đứng chắc chắn, tiến có thể đánh và phát triển được, lui có thể đứng và giữ gìn lực lượng được”.
 
Tác phẩm khẳng định: “... dân chúng là chỗ nương tựa của quân du kích. Du kích như cá, dân chúng như nước. Có nước, cá mới mặc sức vẫy vùng, xa nước cả phải chết. Không có dân chúng, du kích sẽ thất bại. Được dân chúng hết sức giúp đỡ quân du kích nhất định sẽ thắng. Muốn được dân chúng giúp đỡ, quân du kích phải hết sức tôn trọng, yêu mến và bênh vực dân chúng”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #92 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2020, 10:42:28 pm »

Đầu tháng 2

Người qua cột mốc số 108 biên giới Việt - Trung trở về Tổ quốc.

Tháng 3, 4

Chỉ đạo thành lập các hội cứu quốc tại căn cứ địa Cao Bằng, Người giải thích: Muốn có đội võ trang mạnh, trước hết phải có đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững... Muốn đánh Pháp - Nhật thì ai vác súng, ai là người tự giác tự nguyện đứng dậy làm cách mạng? Đó là quảng đại quần chúng, cho nên ta phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy cách mạng mới thắng được(1).

Từ 10 đến 19-5

Thay mặt Quốc tế cộng sản, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được(2).

Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương kết liễu băng một cuộc khởi nghĩa võ trang...”(3), “... với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa phần từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”(4).

6 - 6

Người viết thư “Kính cáo đồng bào” nêu rõ tình hình trong nước, thế giới và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.

Điểm lại mấy chục năm đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, Người chỉ rõ: “Việc lớn chưa thành, không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm. Nay cơ hội giải phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thế tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh - Mỹ. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết”(5).

Người kêu gọi: “Việc cứu quốc là việc chung, ai là người Việt Nam đều kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”(6).

Trong tháng 6

+ Sau khi phát xít Đức tiên công Liên Xô, Người phân tích: Chiến tranh sớm muộn sẽ nổ ra ở châu Á - Thái Bình Dương... Trong chiến tranh thế giới 1914 - 1918 đã ra đời một Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô - viết, thì sau cuộc chiến tranh thế giới lần này, chắc chắn sẽ ra đời nhiều nước độc lập, dân chủ xã hội chủ nghĩa khác. Và đây là thời cơ tốt nhất cho nhân dân ta phát triển lực lượng cách mạng(7).

Từ tháng 8 đến tháng 11

Báo Việt Nam độc lập đăng một số bài thơ cổ động của Người nhằm kêu gọi các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi Nhật - Pháp: “Dân cày”, “Phụ nữ”, “Kêu gọi thiếu nhi”, “Công nhân”, “Ca binh lính”(8).

Tháng 10, 11

Người chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang tập trung. Đội du kích thoát ly đầu tiên gồm 12 người (có một nữ), 12 khẩu súng(9).

Trong lễ thành lập đội du kích, Người căn dặn: Muốn phát triển được tốt phải qua công tác rèn luyện mà phấn đấu, phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt... Đối với nhân dân, Đội phải như cá với nước.

Người thảo ra 10 điều kỷ luật và những nguyên tắc xây dựng, nguyên tắc hoạt động của Đội(10).

Về nguyên tắc xây dựng Đội, Người chỉ rõ:

1. Đội du kích từ nhân dân mà ra, vì nhân dân và dựa vào dân mà chiến đấu. Đội du kích với nhân dân như cá với nước...

2. Đội du kích phải thống nhất ý chí, trăm ngàn người như một, phải coi nhau như ruột thịt...

3. Kỷ luật là xương sống của Đội du kích, là kỷ luật sắt.

4. Đội phải vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác...

5. Đội phải vừa chiến đấu vừa xây dựng...

6. Đội du kích chiến đấu là để tiêu hao, tiêu diệt địch... Đánh địch nhằm bồi dưỡng lực lượng ta đồng thời là cách tuyên truyền động viên quần chúng tốt...(11)

Về nguyên tắc hoạt động của Đội, Người viết:

1. Phải hết sức giữ bí mật..; Dựa vào địa hình rừng núi là cần; chủ yếu là dựa vào nhân sơn nhân hải.

2. Chiến đấu cũng để phục vụ cơ sở... làm sao đánh được địch mà không ảnh hưởng đến cơ sở cách mạng của ta... phải có kế hoạch chống địch khủng bố.

3. Để đánh được địch, phải rõ địch, rõ ta, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đã đánh là phải thắng, vừa diệt được địch, vừa bồi dưỡng được ta.

4. Đánh to, đánh nhỏ; khi tập trung, khi phân tán; dương đông, kích tây, vận dụng cho linh hoạt.

5. Bất ngờ đột nhập, tập kích đánh phá đồn bốt... phục kích địch, dụ địch ra ngoài mà đánh.

6. Đội du kích đánh giặc, tự vệ, nhân dân cũng đánh; từng người, từng đơn vị đánh, phối hợp với nhau đánh. Đánh bằng súng, bằng mìn, chông, bằng giáo mác, gậy gộc, cuốc, xẻng...

7. Địch vận cũng là phương pháp đánh địch tốt...

8. Tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, đánh phá kho tàng vũ khí, quân trang quân dụng của địch trang bị cho ta.

9. Luôn luôn nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho Đội… Không ngừng phát triển lực lượng ta…(12).

Về huấn luyện quân sự, Người nhắc nhở: Không được quên là chúng ta còn có nền quân sự truyền thống quý giá của ông cha. Về trang bị vũ khí để phát triển du kích, Người giải thích: “Không sợ thiếu vũ khí. Chỉ sợ khi thời cơ đến thiếu người cầm vũ khí”(13).


(1) Theo Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 255-256.
(2), (3), (4) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trích văn kiện Đảng, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, H. 1979, tr. 321, 338, 340.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 148.
(7), (9) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C1, H-25-C6/20.
(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 154-159.
(10) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C2/09.
(11) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 9-1987.
(12), (13) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 9-1987.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #93 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2020, 10:49:51 pm »

Trong tháng 12

+ Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Mỹ - Anh tuyên chiến với Nhật. Người viết bài “Thế giới đại chiến và phận sự dân ta”, chỉ ra hai việc cần làm “1 là - Bất kỳ quân đội nào tới gần vùng mình, dân ta phải làm cách “nhà không vườn trống”, nghĩa là: bao nhiêu của cải, đồ ăn, đồ dùng, lương thực, súc vật đều đem giấu kín hết. Bao nhiêu đường sá, cầu cống đều phá hết. Người già, trẻ con, đàn bà con gái, đều tìm nơi chắc chắn mà trốn hết. Trai tráng thì phải ở lại trong làng, phải cùng nhau tổ chức đội tự vệ để canh phòng trộm cướp; các làng, phải giúp sức lẫn nhau. 2 là - Dân ta phải mau mau tổ chức lại... Đồng tâm hợp lực. Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”(1).

Trong năm

+ Giao nhiệm vụ cho một số đồng chí mở lớp huấn luyện quân sự, Người chỉ thị: Giờ là lúc phải tổ chức võ trang cho tới tận các địa phương. Phải làm gấp, nếu chần chừ sẽ không kịp. Chẳng mấy chốc Hồng quân sẽ tiêu diệt bọn phát xít, lúc bấy giờ ta phải có đầy đủ lực lượng để có thể đứng lên giành chính quyền(2).

+ Người hướng dẫn hai nguồn tìm kiếm vũ khí: Một là từ trong tay giặc. Hai là ở trong nhân dân: nhân dân sẽ bằng mọi cách tự tạo ra vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang con em của mình... Khẩu hiệu là: “Lấy súng giặc để giết giặc”(3).

+ Người cử các đồng chí Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo... đi học quân sự. Người căn dặn đồng chí Đàm Quang Trung: Phải học tập sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí hiện có của các nước trong phe đồng minh, của cả đối phương nữa. Sẽ đến lúc mình phải sử dụng tới(4).

+ Người viết cuốn sách “Cách đánh du kích”. Tác phẩm thể hiện tư tưởng của Người về tiến hành chiến tranh nhân dân trong thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền.

Người xác định: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Chuyến này chúng ta khởi nghĩa đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh”(5).

Người nêu lên bốn điều cần thiết để đánh du kích thắng lợi: 1- Phải có con đường chính trị đúng... 2- Phải dựa trên cơ sở quần chúng... 3- Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật... 4- Phải có một lối đánh rất tài giỏi...”(6).

Về nguyên tắc của cách đánh du kích, Người viết:

“1. Giữ quyền chủ động... là khôn khéo xử khiến quân thù, muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được... giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ...

2. Hết sức nhanh chóng... phải nhanh chóng như mưa sa gió táp, chớp nhoáng đã đánh xong một trận, quân thù chưa tỉnh thì đã biến mất rồi.

3. Bao giờ cũng giữ thế công... Du kích phải giữ quyền chủ động chính để giữ thế công... Du kích mà chỉ phòng thủ thì thế nào cũng thất bại.

4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo... Tài giỏi của du kích chính là xếp đặt kế hoạch ấy, thật là thiên biến vạn hóa, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng”(7).

Người nêu ra bốn mưu mẹo lớn trong đánh du kích: 1- Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía tây... 2- Tránh trận gay go, không sống chết giữ đất... 3- Hóa chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán), hóa linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung)... 4- Mình yên đánh quân thù động, mình khỏe đánh quân thù mệt...”(8).

Người chỉ rõ: “Du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù đánh trước... Tuy vậy, nhiều khi đội du kích vì tình thế buộc phải phòng ngự... Nhưng lối phòng ngự này là phòng ngự thế công chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá”(9).

Khẳng định vai trò quan trọng của căn cứ địa, Người viết: “Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở... Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ. Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng... Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy...”(10).

+ Trên cơ sở bản thảo của đồng chí Phùng Chí Kiên về chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, Người viết cuốn “Kinh nghiệm du kích Tàu”. Mở đầu cuốn sách, Người khẳng định: “Đánh du kích không cần phải có sức mạnh... hễ là người yêu nước, không chịu làm nô lệ, lại có chút gan dạ và mưu trí thì bất kỳ trai gái, già trẻ, bất kỳ có súng hay không, đều có thể đánh du kích”(11). Người kết luận: “Cuộc trường kỳ kháng chiến là dịp tốt cho toàn thể dân ta tỏ lòng yêu nước và tỏ tài năng mưu trí của mình. Mỗi một quốc dân phải là một người chiến sĩ. Mỗi một làng xóm phải là một ổ du kích”(12).

+ Người “dịch theo ý nghĩa” hai cuốn sách “Phép dùng binh của Tôn Tử” và “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh” giới thiệu những quan điểm nghệ thuật quân sự và nguyên tắc dùng binh, chọn tướng của hai nhà quân sự nổi tiếng nước Trung Hoa cổ.

Trong cuốn “Phép dùng binh của Tôn Tử”, Người chỉ rõ “Quân đội thắng lợi là vì họ chắc thắng rồi họ mới ra đánh. Quân đội thất bại thì ra đánh rồi mới cầu thắng”(13). “... đánh hơn trăm trận không phải là giỏi nhất. Giỏi nhất không phải đánh mà quân địch phải thua”(14).

Về tư cách người tướng, Người viết: “Một người tướng biết dùng binh là kẻ giữ gìn sinh mệnh của dân, là người làm chủ sự an nguy của đất nước”(15). “Người tướng phải tính trước. Không có lợi thì ta chớ dùng binh; không đến nguy cơ thì ta chớ chiến tranh. Không nên vì giận mà động viên. Không nên vì căm mà khai chiến. Lợi cho nước thì ta hành động: Không lợi cho nước thì thôi. Giận có khi lại vui, căm có khi lại hòa. Nhưng nước mất thì không lại còn, người chết thì không lại sống. Cho nên phải hết sức cẩn thận. Đó là cách yên nước nhà và toàn quân đội”(16).

Kết thúc cuốn sách, Người viết: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc. Muốn biết trước mọi việc thì phải dùng trinh thám”(17).

+ Trong cuốn sách “Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh”, Người nêu lên năm điều hay, bốn điều phải của người tướng:

Năm điều hay là: “1- Phải biết rõ tình hình địch. 2- Phải biết rõ cách tiến thoái. 3- Phải biết rõ tình hình trong nước. 4- Phải biết rõ khí hậu của Trời và tâm lý của người. 5- Phải biết rõ núi sông”. Bốn điều phải là: “a) Đánh phải khôn khéo. b) Mưu phải mật. c) Quân đội phải chấn chỉnh. d) Lòng người phải nhất trí”.

Về “cách ăn ở của người tướng”, Người dạy: “bộ đội chưa có nước thì tướng chưa uống. Bộ đội chưa có cơm thì tướng chưa ăn. Bộ đội chưa có lửa thì tướng chưa phàn nàn rét. Nắng chớ che quạt, mưa chớ che dù để đồng cam cộng khổ với bộ đội”.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 160-161.
(2) Theo: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 296.
(3) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 11-1986.
(4) Theo: Bác của chúng ta, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1985, tr. 85-86.
(5), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 165-166.
(7), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 169-170, 193.
(8) Sách đã dẫn, tr. 170-171.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 209.
(11) Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1970, tr. 137.
(12) Sách đã dẫn, tr. 150.
(13), (14), (15), (16), (17) Phép dùng binh của Tôn Tử, Chính trị cục xuất bản, 1947, Lưu trữ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #94 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 08:23:35 am »

NĂM 1942

Trong tháng 2

+ Nguyễn Ái Quốc viết diễn ca “Lịch sử nước ta”. Sau diễn ca Người lập niên biểu “Những năm quan trọng”, ở dòng cuối Người ghi: “1945 - Việt Nam độc lập”(1).

Tháng 3

Người chỉ thị cho tỉnh ủy Cao Bằng phải mở rộng căn cứ nối liền Cao Bằng với căn cứ địa Bắc Sơn, Vũ Nhai: xây dựng một hành lang chính trị vững chắc từ Cao Bằng về miền xuôi để giữ vững liên lạc trong mọi tình huống. Người nói: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi”(2).

Trong tháng 4

Người chỉ thị cho Đội du kích Cao Bằng phân tán đi làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương và căn dặn: Phải có nhiều cán bộ giỏi. Phải chú ý mở lớp huấn luyện để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ... Hoạt động quân sự trong lúc này phải theo phương châm: gặp địch thì tránh, tránh không được thì đánh, nhưng đánh cũng là để tránh. Có đánh thì nhằm, tiêu diệt đầu sỏ(3).

Giữa năm

Giao nhiệm vụ cho các đồng chí thực hiện chủ trương “Nam tiến” mở thông đường liên lạc từ Cao Bằng qua Bắc Cạn - Thái Nguyên về miền xuôi, Người nói: Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi(4).

Từ tháng 2 đến tháng 7

Báo Việt Nam độc lập đăng một số bài thơ của Người “Ca đội tự vệ”, “Ca sợi chỉ”, “Hòn đá”, “Nhóm lửa”, “Bài ca du kích”... kêu gọi dân ta đoàn kết đứng lên đánh đuổi Pháp, Nhật(5).

Trong tháng 8

Lấy tên Hồ Chí Minh, với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ Việt Nam của quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồng minh. Người bị chính quyền Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. Người viết tập thơ “Nhật ký trong tù” bằng chữ Hán, trong đó bài thơ “Học đánh cờ” thể hiện một số suy nghĩ của Người về nghệ thuật quân sự.

…
Tấn công, thoái thủ nên thần tốc
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.
…
Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hừng mới xứng danh
(6).

Ở những trang cuối cùng Người ghi bút ký “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”: “Tổ chức:... cần phải chặt chẽ, thống nhất. Kỷ luật: cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự. Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự. Kế hoạch: cần rất tỉ mỉ, đầy đủ... Mệnh lệnh: cần đơn giản, rõ ràng, thiết thực, chu đáo... Hành động: cần phải đều răm rắp, cùng nhất trí, nhanh chóng, xác thực... Sinh hoạt: cần chỉnh tề, sạch sẽ, giản dị, chất phác. Thời chiến bình tĩnh như thời bình. Thời bình khẩn trương, chịu đựng gian khổ như thời chiến. Tính chất: Trong sạch, đáng kính, cơ động, bí mật, toàn diện: lường được, tính đến trọn vẹn, tích cực... Thái độ: Lễ, quy củ. Một vật dùng bằng hai vật. Một người làm việc của hai người. Một ngày làm công của hai ngày”(7).

NĂM 1943

Trong tháng 9

+ Được trả lại tự do ở Liễu Châu, Người bắt liên lạc ngay với Hội giải phóng Việt Nam (bộ phận Việt Minh ở nước ngoài).

+ Người căn dặn Hồ Đức Thành trước khi đồng chí ở Trung Quốc về nước: về chính trị và tổ chức thì phải hết sức phát triển, còn về quân sự và ngoại giao thì phải chờ. Phải nhớ từng chữ một và nói đúng như thế(8).


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr 224.
(2) Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng, Bác Hồ về nước Cao Bằng, 1986, tr. 78.
(3) Theo: Tạp chí Lịch sử quân sự, số 22 năm 1987.
(4) Theo: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977, tr. 88.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr 225-235.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr 260.
(7) Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 4-1983.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C15/46.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 08:27:23 am »

NĂM 1944

Tháng 3

Nhân danh đại biểu Việt Nam độc lập đồng minh, Người đọc báo cáo tại Hội nghị Quốc tế chống xâm lược tổ chức tại Liễu Châu. Người đề nghị thành lập Phân hội Việt Nam của tổ chức này và kêu gọi giúp đỡ Việt Nam giành độc lập(1).

Trong tháng 7

+ Người về nước, ở tại Khum Đắc, tỉnh Cao Bằng. Gặp gỡ cán bộ và đồng bào địa phương, Người nói: Khi Hồng quân Liên Xô phản công bọn phát xít đến sào huyệt của chúng ở Bá Linh thì cách mạng nước ta có điều kiện giành chính quyền(2).

+ Được báo cáo về việc liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng ra nghị quyết phát động khởi nghĩa, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa và phân tích: Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên(3)...
 
+ Về tổ chức quân sự, Người chỉ thị: Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại phân tán quá. Bây giờ nên tập họp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Người đề ra những nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đội Việt Nam giải phóng quân: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của Đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo. Trong vòng một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi... Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết phố hợp chặt chẽ với nhau. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt, giúp đỡ các đội địa phương trưởng thành. Nhớ bí mật: ta ở đông, địch tưởng ta ở tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình(4).

Trong tháng 10

Trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc” đề nghị triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân ta giải phóng chỉ ở trong vòng một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”(5).

... + Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng nhận được chỉ thị của Người về việc thành lập Đội:

1. Tên đội VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện giúp đỡ vũ khí nêu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các. đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(6).

Cuối tháng 12

Người đi Côn Minh (Trung Quốc) dự Hội nghị Đồng minh chống phát xít”(7).

Người cho trung úy Sô (Shaw) - phi công Mỹ nhảy dù xuống Cao Bằng được ta cứu thoát - đi theo sang Côn Minh, ở đây Người gặp tướng Sênô (Chennault) - tư lệnh tập đoàn quân Mỹ số 14 - bàn việc phối hợp với quân Đồng minh chống phát xít Nhật(8).


(1) Tư liệu Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, DS1-108/1-024 XII.
(2) Theo: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 393.
(3) Theo: Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 130-132.
(4) Sách đã dẫn, tr. 133-135.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 376.
(6), (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 377-378, 475.
(8) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr. 101.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Năm, 2020, 01:37:20 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 08:43:56 am »

NĂM 1945

Trong tháng 3

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Người nhắc nhở: Tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước lúc này cũng chính là tích cực cho toàn dân sẵn sàng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ chính quyền cách mạng. Vì bọn thực dân phản động Pháp nhất định sẽ quay trở lại đánh chiếm Đông Dương lần nữa(1).

Trong tháng 4

Người gọi tất cả các đồng chí được cử đi học ở Trung Quốc về nước(2).

1 - 5

Người quyết định chuyển về vùng trung tâm Việt Bắc để chỉ đạo cách mạng cả nước. Người chỉ thị: cần chọn ngay trong vùng Cao - Bắc - Lạng hoặc Tuyên Quang, Thái Nguyên một địa điểm có dân tốt, có cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, có thể thuận tiện làm một trung tâm liên lạc miền xuôi, miền ngược và ra nước ngoài(3).

Đầu tháng 5

Người từ Cao Bằng về Tân Trào. Sau khi nghe báo cáo kỹ tình hình và nhất trí với nội dung chỉ thị của Thường vụ Trung ương, Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (4-1945) Người bổ sung, chỉ thị thành lập Khu Giải phóng Việt Bắc thống nhất các lực lượng vũ trang thành lập Quân Giải phóng, đề ra 10 chính sách cho Khu Giải phóng; trong đó, điều 4 ghi: “Vũ trang quần chúng, động viên quần chúng nhân dân ủng hộ du kích và tham gia Quân Giải phóng”(4).

+ Người chỉ thị cho đồng chí Vũ Anh: Lúc này là lúc có nhiều thuận lợi. Phải hết sức khẩn trương củng cố và đưa phong trào lên... chiến tranh du kích có thể bắt đầu được. Phải chú ý phát triển thêm các đội quân giải phóng và xây dựng các khu căn cứ cho vững đề phòng lúc khó khăn ta có thể giữ được phong trào. Khi thời cơ đã đến, dù gian lao, cực khổ mấy cũng cương quyết giành cho được độc lập(5).

9 - 5

Gửi thư cảm ơn hai người Mỹ: Bớc-na (bernard) và Phen (Fenn) về việc giúp huấn luyện kỹ thuật quân sự cho các chiến sĩ ta, Người viết: “Tôi mong họ có thể học vô tuyến điện và các thứ khác cần thiết cho cuộc chiến đấu chung của chúng ta chống bọn Nhật”(6).
 
Trong tháng 5

Người đôn đốc việc tổ chức giao thông liên lạc thông suốt: Mọi chủ trương phải thấm thật mau xuống quần chúng chừng nào tốt chừng ấy. Nhất là tình hình lúc bí mật gặp rất nhiều khó khăn thì giao thông liên lạc lại càng cần phải nhanh chóng. Trong lúc chuẩn bị gấp cho tổng khởi nghĩa, nếu giao thông chậm trễ sẽ bỏ lỡ mất thời cơ(7).

Trong tháng 6

+ Liên Xô và Đồng minh chiến thắng hoàn toàn phát xít Đức. Người phân tích: “Vì sao, chỉ trong mười tháng quân phát xít Đức đã chinh phục các nước châu Âu, mà chúng lại bị Liên Xô tiêu diệt một cách thảm hại như vậy? Vì dưới ngọn cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đoàn kết nhân dân thành một khối vô cùng chặt chẽ như thành đồng lũy thép. Hoàn cảnh càng gay go, nhân dân càng anh dũng”(8).

+ Với sự thỏa thuận của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ ở Trung Quốc đã cử năm sĩ quan Mỹ, do một thiếu tá chỉ huy, nhảy dù xuống Việt Bắc theo hướng dẫn của ta. Người cho thành lập đại đội Việt - Mỹ, chỉ định đồng chí Đàm Quang Trung làm đại đội trưởng, thiếu tá Tômát làm tham mưu trưởng, các sĩ quan Mỹ khác làm huấn luyện viên(9).

Trong tháng 8

+ Chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội, Người nhắc nhở: Làm cách mạng phải biết tranh thủ thời cơ từng giờ từng phút. Tất cả đường lối chủ trương lúc này phải thông suốt từ Bắc chí Nam(10). Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng không thể bỏ lỡ cơ hội... Chỉ vài ngày nữa là Nhật đầu hàng không điều kiện(11).

+ Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập... Về chiến tranh du kích, Người căn dặn: lúc phong trào lên, ta phải hết sức phát triển, vừa phát triển vừa chú trọng xây dựng căn cứ cho thật vững chắc, để đề phòng lúc khó khăn mới có chỗ đứng chân được(12).

Từ 13 đến 15 - 8

Người tham dự và phát biểu ý kiến tại Hội nghị toàn quốc của Đảng: Trước mắt phải nỗ lực phát động một cao trào khởi nghĩa. Đã có khu giải phóng rồi phải mở rộng khu giải phóng ra khắp nơi trong nước... trước khi quân Đồng minh vào. Tích cực thì nắm được thời cơ. Không tích cực thì thời cơ không chờ mình(13).


(1) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 11-1986.
(2) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H.25 - C2/02.
(3) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 200.
(4) Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và sự nghiệp, tr. 101.
(5) Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 273.
(6) Tạp chí Cộng sản, tháng 9-1985.
(7) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25 – C15/24.
(8) T.L. Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Sự thật, H. 1976, tr. 86-87.
(9) Bác của chúng ta, tr. 94.
(10) Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, tr. 159.
(11), (13) Báo Nhân dân, ngày 8-5-1960.
(12) Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1964, tr. 212-213.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 08:50:10 am »

16 - 8

Quốc dân đại hội cử Người làm Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, sau này trở thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Sau Đại hội, Người gửi “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(1).

19 - 8

Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Chuẩn bị về Thủ đô để chỉ đạo cách mạng cả nước, Người nói với các cán bộ: Ta giành được chính quyền rồi, giữ chính quyền mới là khó. Cho nên có lẽ một ngày nào đấy, chúng ta lại bỏ cả nhà cửa, bỏ cả Hà Nội, các tỉnh khác nữa, rồi lên cả đây tiếp tục đánh nhau với quân thù(2).

2 - 9

Tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(3).

5 - 9

Trước tình hình thực dân Pháp bám gót quân Anh trở lại xâm chiếm Nam Bộ, Người viết lời “Kêu gọi quốc dân”: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ là hãm dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”(4).

7 - 9

Người chỉ thị thành lập Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị và Phòng Quân nhu của quân đội.

Cử đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tổng Tham mưu trưởng. Người nói: Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang, là cơ quan Quân sự cơ mật của đoàn thể. Nó có nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện quân đội giỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta cho rõ ràng, bày mưu kế cho khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành qua cách mạng(5).

Đầu tháng 9

Khi quân đội Tưởng sắp vào miền Bắc, Người nói: Chúng sẽ ăn bám, báo hại, đưa bọn phản động về phá ta... Phải có gan nhẫn nhục, phải khôn khéo và luôn luôn tỉnh táo... phải có đối sách thích hợp(6).

Giữa tháng 9

Quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc, kéo theo bọn phản động tay sai. Thực hiện sách lược mềm dẻo, Người chỉ thị đổi tên Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn. Người căn dặn: Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột với quân Tưởng. Nêu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột(7).

Người giải thích: Vì địch mạnh, ta đang yếu. Ta tạm thời nhân nhượng và hòa hoãn để làm giảm áp lực của chúng. Nhẫn nhục chứ không khuất phục, nhằm tạo điều kiện, thời cơ để đánh thắng kẻ thù, để vượt qua những khó khăn do chúng gây ra, để tập trung ngọn lửa đấu tranh vào thực dân Pháp... Đối với quân Đồng minh ta nghênh tiếp và hợp tác với họ. Còn quân Pháp đến ta với mục đích xâm lược nước ta một lần nữa, vì thế nhất thiết phải dùng chính sách đề kháng với chúng, thực hiện làm vườn không, nhà trống kháng chiến lâu dài(8).

15 - 9

Người ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới với hai nhiệm vụ: Thu thập, mua sắm. vũ khí và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí.


(1), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr. 380, 386.
(2)Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25 - C5/01.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 9.
(5) Người cha thân yêu, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1986, tr. 14.
(6) Báo Nhân dân, ngày 8-5-1960.
(7) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, tr. 268.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25 - C5/07.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #98 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 09:01:34 am »

Trong tháng 9

Nhân dịp đến thăm Phòng Quân lương vừa được thành lập, Người nói: “Quân nhu là nhu cầu của quân đội... Cái gì bộ đội cần; quân sự yêu cầu là. ta phải giải quyết. Sẽ có khó khăn vất vả nhưng ta phải biết dựa vào dân. Được dân lo cho, được dân ủng hộ mọi việc sẽ xong”. Người giải thích thêm: “trọng tâm công tác của quân nhu lúc này là vũ khí. Phải có nhiều vũ khí, có nhiều súng đạn. Phải chuyển một số nhà máy, xí nghiệp để lo phục vụ cho quốc phòng. Quân nhu chưa đủ sức đảm nhiệm thì đã có nhân dân, có anh em công nhân giúp”(1).

Giữa tháng 9

Người, gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: “... Giặc Pháp còn lăm le quay trở lại... Phải sẵn sàng mà chống quân giặc cướp nước, đấy là bổn phận của mỗi công dân. Các em lớn chưa hẳn đến tuổi phải gánh công việc nặng nhọc ấy, nhưng các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”(2).

17 - 9

+ Người viết bài: “Nhân dịp Tuần lễ vàng”: “Tuần lễ VÀNG sẽ thu góp số VÀNG trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”(4).

+ Trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (Nghệ An), Người viết: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”(4).

23 - 9

+ Người chủ trì cuộc họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn y chủ trương khang chiến cục bộ của Xứ ủy Nam Kỳ.

+ Người ký sắc lệnh thành lập Ban căn cứ địa Việt Bắc đặt trong Chủ tịch phủ(5).

26 - 9

Người viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”(6). Người căn dặn: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng”(7).

4 - 10

+ Người cùng Trung ương Đảng quyết định tăng cường lực lượng cho Nam Bộ. Những đội quân “Nam tiến” đã nhanh chóng lên đường vào Nam.

16 - 10

Người chỉ thị thành lập sáu chiến khu ở Bắc Bộ, ba chiến khu ở Trung Bộ; sau đó thành lập ba chiến khu ở Nam Bộ. Cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự.

Trong tháng 10

+ Người viết thư gửi những người Pháp ở Đông Dương: “Chúng tôi không sợ chết, chính là vì chúng tôi muốn sống... chúng tôi chiến đấu cho nền độc lập của chúng tôi, chúng tôi chiến đấu chống sự đô hộ Pháp mà không chống những người Pháp lương thiện”(8).

+ Trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, Người viết; “Từ Nam chí Bác đồng bào ta luôn luôn sẵn sàng. Mấy triệu người như một, quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”(9).

5 - 11

+ Người viết thư gửi Việt kiều ở Pháp, hoan nghênh kiều bào đã kháng nghị với Chính phủ Anh đòi rút quân Anh ở Nam Bộ về. Người khẳng định: “Chưa bao giờ chúng ta đoàn kết chặt chẽ như ngày nay để biểu dương ý chí mạnh mẽ của một dân tộc thà chết tự do hơn là sống nô lệ”(10).

+ Tại lễ kỷ niệm “Những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến người đọc diễn văn nêu rõ ý chí bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc: “Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”(11).

8 - 11

Trong bài “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, Người viết: “Khi có chiến tranh thì phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng trong nước để chống giặc. Muốn chống nạn đói, cũng phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng của toàn quốc đồng bào”(12).

15 - 11

Nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người căn dặn: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”(13).


(1) Theo: Công tác quân nhu thời kỳ 1945 - 1954, Ban khoa học Hậu cần, tr. 2-4.
(2), (3), (4), (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1964, tr. 11-12, 15, 18, 25.
(5) Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ 217.
(7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1964, tr. 26, 43.
(9) Sách đã dẫn, tr. 45, 48, 52.
(10) Sách đã dẫn, tr. 45, 48, 52.
(11), (12), (13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 52, 53, 60.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2020, 09:14:35 am »

2 - 12

Nói chuyện tại Tổng đại hội của thanh niên Việt Nam, Người chỉ rõ: Chúng ta đã giành được độc lập, nhưng để cho nền độc lập ấy được hoàn toàn bền vững, còn rất nhiều khó khăn phải vượt qua... Thanh niên phải sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh tràn đến miền Trung và miền Bắc. Trong khi chờ đợi, ủng hộ cuộc kháng chiến vẻ vang của miền Nam(1).

3 - 12

Đọc diễn văn khai mạc Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, Người nêu rõ: “Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập còn cần đoàn kết hơn nữa”(2).

7 - 12

Trong bài “Gửi nông gia Việt Nam”, Người viết: “Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam “Thực túc” thì “binh cường”(3).

25 -12

Nhân ngày lễ Thiên chúa giáng sinh, Người viết thư gửi các vị linh mục và đồng bào công giáo Việt Nam: “Ngày nay đồng bào cả nước, giáo và lương, đều đoàn kết chặt chẽ nhất tâm nhất trí như con một nhà, cương quyết giữ vững quyền tự do độc lập. Ngoài sa trường các chiến sĩ lương và giáo đã xây nên một bức thành kiên cố vĩ đại để ngăn cản kẻ thù chung là bọn thực dân Pháp”(4).

Trong tháng 12

+ Trong thư gửi các chiến sĩ Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ, Người viết: “Để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta còn phải chiến đấu nhiều. Chỉ có chiến đấu mới vượt được những trở lực, khó khăn, chỉ có chiến đấu mới được thắng lợi vẻ vang cho Tổ quốc. Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối toàn dân đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình. Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”(5).

Cuối năm

+ Nói chuyện với các cán bộ làm việc ở Bắc Bộ phủ, Người giải thích về sách lược đối với quân đội Tương Giới Thạch: Ta vừa giành được độc lập như người trong tay đã cầm được viên ngọc quý. Bị con nhặng bẩn bâu vào, không lẽ vì muốn đập chết con nhặng mà đánh rơi cả viên ngọc quý sao. Các chú phải biết kìm mình, để mọi việc Trung ương và Chính phủ lo liệu... Việc chính trị lớn của quân đội lúc này là phải làm cho anh em thấy ý nghĩa lớn của nền độc lập quốc gia. Mục tiêu lâu dài của ta là độc lập hoàn toàn. Mục tiêu trước mắt của ta là làm sao cả bọn Nhật, cả bọn Tàu đều phải rút về nước êm thấm và bọn Pháp Anh không quay trở lại(6).

+ Trước hành động khiêu khích, phá hoại của bọn phản động, Người chỉ thị cho cán bộ chỉ huy các đơn vị giải phóng quân ở Hà Nội: 1- Phải luôn luôn cảnh giác, cẩn mật và bảo vệ vững chắc các cơ quan, cán bộ của Đảng, Nhà nước và quân đội, giữ vững an ninh trong thành phố. 2- Không mắc mưu giặc, bị nó khiêu khích mà manh động làm liều... 3- Với những tên cố tình gây rối trật tự trị an thì giao cho Ty liêm phóng (công an) và Chính phủ nghiêm trị, không dung túng(7).

Với chủ tịch các tỉnh, Người phân tích: Nói là mất đất, nhưng dân ta có hợp tác với nó, có tin nó không? Nếu dân ta không đứng về phía bọn Quốc dân đảng, không tin nó thì ta không mất gì cả! Như thế mất đất chứ không mất nước. Còn dân thì còn nước(8).


(1) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H3-C1/28.
(2) Hồ Chí Minh - Những sự kiện, Nxb Thông tin lý luận, H. 1987, tr. 94.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 65, 67.
(4), (5) Sách đã dẫn, tr. 69-70.
(6), (7) Bác của chúng ta, tr. 163-164.
(8) Tư liệu Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, H25-C3.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM