Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:44:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 2  (Đọc 18552 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2021, 07:55:57 am »

Năm Bính Ngọ (1486), ban hành điều lệnh Hồng Đức quân vụ gồm 27 điều. Bộ luật Hồng Đức dành hẳn một chương - chương Quân chính gồm 43 điều (từ Điều 241 đến Điều 283) nêu rõ nghĩa vụ của các tướng lĩnh và binh sĩ. Trong đó có tới 21 điều có nội dung quy định trách nhiệm của người làm tướng lúc bình thường cũng như lúc ra trận. Với 8 điều quy định trách nhiệm của người lính nhưng nếu người làm tướng không biết hoặc biết mà dung túng, không có biện pháp ngăn ngừa thì cả lính lẫn quan đều bị xử phạt. Trong đó có những điều quy định về việc nghiêm trị tướng hiệu, quân nhân không làm đúng nhiệm vụ tập luyện, canh phòng, sẵn sàng chiến đấu như sau:

- Các tướng hiệu coi quân từ 30.000 người trở xuống, 50 người trở lên mà không biết vỗ về răn dạy, để đội ngũ không tề chỉnh, binh khí không sửa sang, biếng nhác việc quân, đến nỗi phải sửa chữa thay đổi, hao phí tiền tài, cùng là bớt xén xoay tiền, làm lợi riêng, bỏ ích chung, phàm những tội ấy, nhẹ thì xử biếm bãi, nặng thì xử đồ lưu.

- Các tướng hiệu không chăm lo huấn luyện, bắt quân nhân làm việc riêng cho nhà mình, cùng là bóc lột xoay tiền, nhẹ thì xử biếm, đồ, nặng thì xử lưu.

- Trong kỳ đại tập quân, nếu quân nhân vắng mặt thì xử 80 trượng, đồ làm quân đinh, truy tiền 3 quan gửi nộp vào nhà nước. Kẻ nhận tên thay mặt, nếu là quân nhân bản bộ thì xử 60 trượng, biếm 2 tư.


Những quy định trên cho thấy triều Lê Sơ rất coi trọng vai trò của các võ tướng trong việc rèn luyện kỷ luật quân đội, bởi vì muốn cho đạo quân thực thi nghiêm kỷ luật thì trước hết người tướng phải nghiêm. Người cầm quân không giữ nghiêm kỷ luật thì khó gây được lòng tin đối với quân sĩ.


Việc tiến hành huấn luyện quân sự thường xuyên có quy củ và thực hiện chế độ kỷ luật nghiêm minh là một yêu cầu thiết yếu trong xây dựng lực lượng quân đội dưới triều Lê Sơ. Đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho quân đội triều Lê Sơ trở thành một quân đội chính quy, tinh nhuệ, một công cụ sắc bén để bảo vệ nhà nước phong kiến Đại Việt và bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc, đồng thời góp phần làm nên sức mạnh của quân đội Đại Việt thế kỷ XV - một quân đội hùng mạnh bậc nhất ở khu vực Đông Nam Á.


Thời Lê Sơ có thể coi là thời kỳ tương đối thái bình nhưng vẫn có những biến động lớn. Chiến tranh bảo vệ và mở rộng lãnh thổ về phía Tây, phía Nam, những cuộc chinh phạt đối với các thổ tù tạo phản nhằm đè bẹp nguy cơ cát cứ và cả những cuộc đàn áp khởi nghĩa nông dân là những biểu hiện cụ thể cho thấy nhà nước cần phải chú trọng về quốc phòng và an ninh đất nước. Vì vậy, việc quan tâm đến binh lính và các võ tướng là một chủ trương của triều Lê Sơ trong quá trình xây dựng lực lượng quân đội. Nhận rõ vai trò quan trọng của binh lính trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, triều đình luôn dành cho họ sự ưu đãi cả về vật chất và tinh thần.


Trong lúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đang ở đỉnh cao, Lê Lợi luôn động viên binh lính, thưởng phạt đúng mức. Ông từng nói với các tướng lĩnh chỉ huy quân Thiết đột rằng: “Cùng lòng liều chết để phá giặc là công của các người, còn xếp đặt quy hoạch, cơm áo khen thưởng là do ở ta. Bao giờ thấy vợ con ta nghèo thiếu thì vợ con các ngươi mới nghèo thiếu, mong các ngươi một lòng đánh giặc"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 268).


Cùng với việc khen thưởng kịp thời, để tập trung cao nhất cho cuộc kháng chiến, Lê Lợi cùng bộ chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn còn rất chú trọng đến công tác hậu phương quân đội như miễn mọi thuế khóa, lao dịch 3 năm cho những gia đình có người tham gia quân ngũ; cấp ruộng đất cho binh lính. Chủ trương trên đã khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ, góp phần đẩy nhanh cuộc kháng chiến đến thắng lợi.


Năm Mậu Thân (1428), sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã cho con em các nhà đầu mục và các tướng hiệu được về quê nhận lại ruộng. Cùng năm đó, nhà vua còn hạ lệnh cho quan lại các địa phương phải kê khai tất cả các ruộng đất của các quan lại cũ, những người tuyệt tự, ngụy quan, lính trốn rồi cho lập sổ ruộng. Cho đến nay, chưa có nguồn tư liệu nào nói rõ về chính sách ưu đãi với binh lính ở thời vua Lê Thái Tổ. Nhưng chính sách quân điền của nhà nước được ban hành trong thời gian này đã được xuất phát từ thực tế tình hình đất nước sau chiến tranh mà Lê Lợi đã nhận thấy rất rõ là: Người đi chiến đấu thì không có tấc đất trong tay, kẻ du thực thì có ruộng đất quá nhiều đã cho thấy sự quan tâm của Lê Thái Tổ với những người lính đã từng đồng cam cộng khổ trong kháng chiến.


Năm Ất Mão (1435), Lê Thái Tông quy định lấy các vùng đất bãi chia cấp cho quân và dân làm sản nghiệp đời đời theo nguyên tắc quân được cấp 5 sào, dân được cấp 4 sào làm sản nghiệp thường.


Năm Đinh Dậu (1477), dưới thời Lê Thánh Tông, chính sách quân điền được chính thức ban hành và thống nhất việc thực hiện trong cả nước. Theo đó phép quân điền áp dụng đối với binh lính như sau:

Ngân dũng lực vũ sĩ ở trấn điện ty, Đề sinh dũng sĩ ở lực sĩ ty, Án lại ở hai vệ Cẩm y, Vũ sĩ ở vệ Kim ngô, Tuấn sĩ ở vệ Cẩm y được 8 phần.

Tráng sĩ thường ban ở vệ Cẩm y, thường ban ở ty tượng cừu được 7,5 phần.

Phiêu kỵ tráng sĩ ở vệ Cẩm y, tráng sĩ các ty thuộc 4 vệ hiệu lực, 5 vệ điền tiền, canh ban xá nhân, lại phiên tráng sĩ ở thần tý ty Kim ngô vệ, tướng sĩ thường ban ở trung thành binh mã được 7 phần.

Các vệ thuộc ngũ quân, 4 vệ tuần tượng, 4 vệ mã nhàn được 6 phần.

Quân lính ở các nha môn, quân lính ở ngoài, ngục lại ở ngũ hình ty được 5,5 phần.

Quân lính các vệ sĩ ở ngoài được 5 phần.

Ba bậc quân và 3 bậc sắc thuộc các vệ ở trong đạo được 4,5 phần.

Ba đẳng quân ở các nha môn, sở ở ngoài được 4 phần.

Nội dung chính sách quân điền cho thấy cùng với quan lại văn, võ các cấp, binh lính là tầng lớp được nhà nước ưu đãi hưởng khẩu phần ruộng quân điền tuy thấp hơn so với quan lại nhưng cao hơn so với các thành phần khác trong xã hội. Chính sách này được các vương triều sau tiếp tục thực hiện.


Pháp luật cũng quy định những điều luật bảo vệ quyền lợi cho binh lính khi bị ốm đau: Tướng lĩnh đem quân ra trận, quân lính có người ốm đau mà không nuôi nấng thuốc thang thì phải tội đồ, nếu vì thế mà để quân giặc bắt được, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết. Như vậy, sau quan lại, binh lính là đối tượng được nhà nước quan tâm đặc biệt. Sự quan tâm đó xuất phát từ yêu cầu cần phải có một lực lượng quân sự mạnh, trung thành, nhằm đối phó với các lực lượng chống đối, bảo vệ triều đình, độc lập chủ quyền của đất nước, mở mang lãnh thổ cũng như giữ yên trật tự xã hội mà nhà nước Lê Sơ đang phải lãnh trách nhiệm trước lịch sử.


Như vậy, xuất phát từ hoàn cảnh và thực tế của đất nước luôn phải đối phó với các nguy cơ thôn tính của các thế lực ngoại xâm và nội phản, đồng thời hiểu rõ được tầm quan trọng của lực lượng quân đội trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng vương triều, nhà nước Lê Sơ rất chú ý đến xây dựng và phát triển quân đội trên mọi phương diện với mong muốn có được một đạo quân đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Thông qua các chủ trương, chính sách đã được thực thi, chúng ta nhận thấy quan điểm tư tưởng xuyên suốt về xây dựng lực lượng quân đội dưới triều đại Lê Sơ là tạo dựng được đội quân tập trung thống nhất có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thường xuyên được rèn luyện, kỷ luật nghiêm minh. Quân đội Lê Sơ thực sự là “Quân hùng tề chỉnh” như chính Lê Thánh Tông đã viết trong bài "Ngự chế Thiên Nam động chủ đề" sau khi thân chinh chỉ huy sáu quân duyệt binh trên sông Bạch Đằng tháng 2 năm Mậu Tý (1468).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2021, 07:57:36 am »

3. Tích cực, chủ động phòng giữ biên cương, thực hiện “Biên phòng hảo vị trù phương lược”

Biên cương, lãnh thổ là vấn đề cơ bản, trọng yếu của mỗi quốc gia. Đó là cơ sở thực tế khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, một vương triều.


Bảo vệ biên cương luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia bởi biên giới là “phên dậu”, là vấn đề nhạy cảm và tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh của mỗi nước. Lãnh thổ quốc gia chỉ được bảo toàn khi biên cương được giữ vững.


Trước những âm mưu cướp phá, lấn chiếm của các thế lực nội phản và lân bang, để giữ vững chủ quyền, bảo toàn lãnh thổ quốc gia, ổn định tình hình đất nước, triều đình Lê Sơ luôn chủ động trong việc phòng giữ, bảo vệ lãnh thổ các vùng biên giới.


Trong những năm đầu của triều đại Lê Sơ, ánh hào quang của chiến công đánh thắng quân xâm lược nhà Minh đang lan tỏa. Trước uy thế của người chiến thắng, các quốc gia láng giềng ở phía Nam và phía Tây của Đại Việt phải kiêng nể và chủ động đến xin đặt quan hệ ngoại giao với nhà Lê. Nhưng điều này không đồng nghĩa với vấn đề biên giới và lãnh thổ nhà Lê sẽ được bảo đảm không có tranh chấp, trong điều kiện Đại Việt phải đối diện thường trực với nhiều quốc gia phong kiến lớn mạnh ở thế kỷ XV như đế chế Minh ở phía Bắc, Ai Lao ở phía Tây và Chămpa ở phía Nam.


Trong điều kiện đất nước thái bình, các vua Lê vẫn luôn cảnh giác, coi việc an toàn lãnh thổ và bất khả xâm phạm của biên giới là công việc trọng yếu, không thể sao nhãng bởi giữ vững biên cương có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn đến công cuộc xây dựng, phát triển đất nước thành một quốc gia cường thịnh, khiến “người nước ngoài vị nể, man di bốn cõi đều phục”.


Tư tưởng tích cực, chủ động phòng giữ biên cương của vương triều Lê Sơ được bắt đầu từ nhận thức về đất đai, bờ cõi và được biểu hiện rõ nét ở những chính sách, biện pháp cụ thể của nhà nước trong quá trình quản lý và bảo vệ lãnh thổ biên giới.


Lê Thái Tổ ngay khi nắm quyền cai quản đất nước, đã rất quan tâm đến cương giới quốc gia. Mặc dù chỉ ở ngôi 6 năm, nhưng với kinh nghiệm của người cầm quân bao phen “vào sinh ra tử” đánh đuổi giặc ngoại xâm giành lại chủ quyền qụốc gia, dân tộc, Lê Thái Tổ đã có tầm nhìn chiến lược về vấn đề biên cương lãnh thổ. Trong những năm đầu ở ngôi, sự bất an ở vùng biên cương phía Bắc luôn là mối lo của vị vua sáng lập vương triều. Tại vùng biên giới Tây Bắc luôn xảy ra cuộc nổi dậy chống đối chính quyền trung ương của các tù trưởng người dân tộc thiểu số. Để giữ yên vùng biên cương, năm Tân Hợi (1431), hai lần đích thân nhà vua phải cầm quân đi chinh phục. Sau khi dẹp xong nội loạn, trên đường trở về kinh, Lê Thái Tổ đã có bài thơ khắc vào vách núi Hào Tráng:

   Gập ghềnh hiểm hóc chẳng từ nan
   Già vẫn nguyên còn sắt đá gan
   Hào khí nghìn ma đều quét sạch
   Tráng tâm muôn núi cũng bằng san
   Biên phòng tất khéo mưu phương lược
   Xã tắc nên trù kế cửu an
   Ghềnh thác ba trăm đừng nói nữa
   Như nay dòng thuận chỉ xuôi nhàn.

Bài thơ đã nói rõ quan điểm và sự kiên quyết của Lê Thái Tổ về công việc gìn giữ biên cương, đồng thời ông cũng nhắn nhủ quần thần cùng con cháu rằng: "Biên phòng tất khéo mưu phương lược. Xã tắc nên trù kế cửu an" - tức là cần phải có phương lược, kế sách trong việc giữ gìn biên cương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, phải đảm bảo cho đất nước luôn ở trong một thế trận có sẵn để phòng chống ngoại xâm, chỉ có như vậy mới giữ vững được bờ cõi.


Kế thừa những thành quả của các đời vua trước, Lê Thánh Tông thấu hiểu giá trị của từng tấc đất, ngọn núi, con sông của cha ông để lại và xác định rõ trách nhiệm của bản thân và quần thần là phải gìn giữ biên cương lãnh thổ quốc gia.


Đối với những viên quan làm nhiệm vụ giải quyết vấn đề biên trấn, ông nhắc nhở và chỉ rõ cho họ thấy rõ vai trò, trách nhiệm, chức phận của bản thân trong việc bảo toàn từng tấc đất của tổ tiên để lại và yêu cầu quần thần phải kiên quyết bảo vệ đến cùng. Năm Quý Tỵ (1473), trong chỉ dụ cho quan Thái bảo Lê Cảnh Huy trước khi đi giải quyết vấn đề biên giới, ông căn dặn: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 462).


Như vậy, từ Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông, trong khoảng hơn 40 năm, quan điểm về biên cương lãnh thổ của những người đứng đầu vương triều Lê Sơ đã vận động, phát triển, từ một chủ trương, kế sách tiến đến thành một ý chí hành động trong công cuộc bảo toàn lãnh thổ đất nước.


Sự tổng kết, đúc rút của Lê Thái Tổ với "Biên phòng hảo vị trù phương lược" đến ý chí kiên quyết "không được tự tiện vứt bỏ một thước núi, một tấc sông" của Lê Thánh Tông trở thành tư tưởng chỉ đạo và định hướng cho việc ban hành chủ trương, chính sách và những biện pháp của nhà nước trong sự nghiệp giữ vững biên cương, bảo toàn lãnh thổ.


Tư tưởng tích cực, chủ động bảo vệ biên giới lãnh thổ của nhà nước Lê Sơ được thể hiện qua các chính sách thực thi của triều đình nhằm bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:07:55 am »

- Xác định rõ cương vực quốc gia.

Định rõ cương vực đất nước là việc thiết yếu của mỗi quốc gia nhằm bảo toàn lãnh thổ, tránh sự tranh chấp, bảo đảm sự ẩn định biên giới. Lần đầu tiên ở nước ta, dưới triều Lê Sơ, cương vực lãnh thổ được khẳng định về mặt pháp lý thông qua việc lập bản đồ. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi rõ: thời Lê Thánh Tông, “Nhà vua hạ lệnh cho các quan Thừa tuyên thân hành đi khám xét núi sông, nơi hiểm trở, nơi bình thản và sự tích đời xưa, đời nay trong địa hạt mình cai quản, vẽ thành bản đồ ghi chú rõ ràng nộp cho bộ Hộ để sáng tác bản đồ địa dư"1 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr. 1042). Cuối năm Kỷ Sửu (1469), bản đồ 12 đạo Thừa tuyên được hoàn thành, thường gọi là bản đồ Hồng Đức. Đây là bằng chứng khẳng định ý thức chủ quyền biên giới, lãnh thổ quốc gia của Lê Thánh Tông cũng như triều đại của ông đối với dân tộc và các quốc gia lân bang. Và đây cũng là bản đồ xưa nhất của nước ta còn lưu giữ được cho đến ngày nay.


Năm Tân Mão (1471), sau cuộc tiến đánh Chămpa, lãnh thổ Đại Việt được mở rộng đến đèo Cù Mông. Tại biên giới mới này, Lê Thánh Tông sai tạc bia trên sườn núi đá (núi Thạch Bi - Tuy Hòa, Phú Yên) làm mốc phân chia biên giới giữa hai nước.


Cùng với việc lập bản đồ, định mốc giới, triều Lê Sơ cũng là nhà nước đầu tiên cho soạn sách Dư đia chí. Nguyễn Trãi - một trọng thần của nhà Lê đã bỏ ra nhiều công sức đi đến các vùng quê trên mọi miền đất nước, khảo tả và ghi chép công phu về diện mạo, địa hình sông núi, tên đất, tên làng, thổ nhưỡng, thủy văn, các sản phẩm đặc trưng và phong tục tập quán của từng vùng. Nguyễn Trãi biên soạn Dư địa chí năm Ất Mão (1435). Công trình của ông được đánh giá là tác phẩm địa lý học lịch sử đầu tiên góp phần vào việc khẳng định chủ quyền quốc gia, xác định cương vực địa giới và ghi nhận những nét cơ bản về nền văn hiến Việt Nam.


- Tăng cường quyền lực của triều đình đối với vùng biên viễn.

Vùng rừng núi biên giới là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu 80. Tù trưởng là những người có quyền lực trong các bộ tộc. Thu phục được các tù trưởng đồng nghĩa với thu phục được cả bộ tộc và chính họ sẽ là “tai, mắt”, là lực lượng tiên phong của triều đình trong công cuộc giữ gìn, bảo vệ lãnh thổ biên cương. Trong những năm chiến tranh chống Minh, nhiều tù trưởng và đồng bào các dân tộc đã hết lòng ủng hộ nghĩa quân Lam Sơn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Sau khi triều Lê Sơ được thiết lập, trong chính sách đối với vùng biên viễn, cũng như các triều đại phong kiến trước, triều Lê vẫn tiếp tục duy trì quyền cai quản của các tù trưởng đối với bộ tộc của mình và cho con cháu họ được quyền thế tập. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số tù trưởng có mưu toan nổi dậy cát cứ, không chịu thần phục triều đình. Hành động này chẳng những cản trở việc tăng cường quyền lực của nhà Lê trên phạm vi cả nước, đe dọa sự thống nhất quốc gia, khối đoàn kết dân tộc mà còn tạo ra nguy cơ xâm chiếm của các thế lực ngoại bang đối với đất nước. Ý thức rõ vai trò của các thổ tù và đồng bào dân tộc trong việc bảo vệ lãnh thổ biên giới quốc gia, nhà Lê nhận thấy cần phải thu phục các tù trưởng. Theo gương các nhà nước Lý, Trần, các vua Lê tiếp tục thực hiện chính sách thu phục tầng lớp thống trị ở các miền biên viễn nhằm tăng cường sự quản lý chặt chẽ của chính quyền trung ương đối với vùng biên viễn, không để cho kẻ thù lôi kéo họ chống đối lại triều đình.


Triều Lê đặt ra một số chức quan và tước phẩm để bổ nhiệm và ban cho các tù trưởng miền núi nhằm biến họ thành những viên quan của triều đình, ràng buộc họ bằng quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của những viên quan địa phương đối với chính quyền trung ương. Các thổ tù được ban chức tước, được cai quản nhân dân trong địa bàn của họ theo chế độ, phong tục tập quán riêng của từng bộ tộc và có trách nhiệm hằng năm phải nộp cống phú cho triều đình. Năm Mậu Thân (1428), khi sắp đặt đơn vị hành chính và chấn chỉnh bộ máy thống trị, tại các châu, bên cạnh các chức Thiêm phán, Tào vận, Phòng ngự sứ, Chiêu thảo sứ, triều đình Lê Sơ còn đặt chức Tri châu, Đại tri châu dành riêng cho các thổ tù. Sử gia Phan Huy Chú chép rằng: Lê Thái Tổ đã "đặt các chức Thủ ngự, Đoàn luyện, trao cho các tù trường ngoại phiên. Giản hoặc có tù trưởng nào quy thuận có công to, cũng giao cho trọng chức, như những chức Nhập nội, Tư không, Bình chương sự, cùng các chức Thượng tướng quân, Đại tướng quân"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.2, tr. 9). Nhiều tù trưởng được nhận chức quan, được quyền thế tập như: Xa Khả Tham, tù trưởng người Thái ở Mộc Châu được phong là Nhập nội tư không coi giữ trấn Đà Giang ở vùng lưu vực sông Đà. Các con của Xa Khả Tham đều được phong là Đại tướng quân. Con trai Đèo Cát Hãn, tù trưởng châu Phục Lễ, là Đèo Mạnh Vượng sau khi quy hàng được vua Lê Thái Tông cho làm Nhập nội tư mã tri bản châu quân dân sự, tước Quan phục hầu. Chính sách này đều được thực hiện ở các triều vua kế tiếp. Dưới triều vua Lê Thánh Tông có tù trưởng được ban tước Quận công.


Ngoài việc ban chức tước, các vua Lê còn ban hành một số chính sách ưu đãi cho các tù trưởng. Vua Lê Thái Tông cho phép các quan phụ đạo, thủ lĩnh các phiên trấn, người nào có con cháu đích, hoặc cùng một tịch hay khác tịch thì đều được tha thuế và sai dịch. Một số thổ tù khi đem đồ cống nộp cho triều đình, được vua ban thưởng.


Đối với các cư dân miền núi, triều Lê Sơ cũng luôn mong họ "hòa hợp" cùng cộng đồng và dành cho họ một số ưu đãi như: tôn trọng tục lệ riêng; thực hiện việc giảm nhẹ tô thuế, những khi đói kém triều đình mở kho phát chẩn cứu tế. Nhà nước còn chú trọng khai hoang, mở rộng diện tích canh tác nhằm phát triển kinh tế những vùng biên giới, ven biển.


Cùng với những ưu đãi trên, nhà Lê còn thực thi những biện pháp cứng rắn nhằm kiềm chế các thổ quan: Các tù trưởng nhận chức tước phải chịu sự giám sát chặt chẽ của triều đình và phải thực hiện nghiêm các quy định; khi tiếp kiến với quan triều đình, các thổ quan phải đội mũ, đeo đai và thực hiện các nghi thức triều quan; các tù trưởng không được bí mật liên kết với quan lại ở Kinh thành; các thổ quan được toàn quyền tự trị nhưng con cháu họ không được quyền thế tập chức vụ ở địa phương nếu không được triều đình chấp thuận. Tháng 8 năm Mậu Tuất (1478), triều đình quy định các tù trưởng ở biên viễn phải về Kinh chầu mừng mỗi năm hai lần vào tháng giêng và tháng 7. Nếu tù trưởng nào bỏ lễ chầu một lần bị bãi chức, bỏ hai lần bị bắt về Kinh trị tội.


Triều đình kiên quyết trấn áp những hành động chống đối, cát cứ, gây bạo loạn của các tù trưởng. Cuộc nổi dậy cát cứ của hai tù trưởng là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái ở châu Thạch Lâm thuộc trấn Thái Nguyên; cuộc nổi dậy do Đèo Cát Hãn, tù trưởng châu Ninh Viễn* (Sau là châu Phục Lễ) cầm đầu xảy ra ở miền Tây Bắc đều nhanh chóng bị quân triều đình dẹp tan. Đặc biệt, tháng 3 năm Tân Hợi (1431), sau khi đánh tan quân phản nghịch của Nông Đắc Thái, Bế Khắc Thiệu, trước khi rút về Kinh, Lê Thái Tổ cho khắc bài thơ lên vách núi đá ở phía bắc thành Nà Lử - nơi đóng quân, nhằm khẳng định quyết tâm của ông và triều đình trong việc trấn áp phản loạn, bảo vệ chủ quyền quốc gia:

   Bất từ vạn lý chính sư đồ,
   Duy dục biên manh xích tử tô
   Thiên địa bất dung gian đảng tại,
   Cổ kim thùy xá bạn thần tru.
   (Chẳng từ muôn dặm cất quân đi,
   Mong cứu dân đen cõi biên thùy,
   Trời đất không dung phường gian ác,
   Xưa nay tội phản phải tru di).


Dưới các triều vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, các hành động cát cứ cũng đều bị dập tắt. Đặc biệt, đến triều vua Lê Thánh Tông, hầu hết các thổ tù đều quy phục, ít có những hành động tách khỏi sự quản lý của triều đình trung ương. Họ cùng bộ tộc là một lực lượng quan trọng phòng giữ, bảo vệ vùng địa đầu đất nước. Nhiều cuộc cướp phá của các thế lực ngoại bang được các thổ tù kịp thời cấp báo cho triều đình; các thổ binh luôn sát cánh chiến đấu cùng quân triều đình trong công cuộc giữ gìn vùng biên cương quốc gia.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:09:20 am »

- Cắt cử những viên quan tin cậy, có năng lực ở miền xuôi lên trấn trị những vùng biên viễn hiểm yếu với yêu cầu trách nhiệm cao.

Ngay sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã hạ chiếu cho các đại thần đề cử những người có khả năng đảm nhận chức vụ trấn thủ ở những nơi xung yếu. Chiếu ghi rõ: "Trấn thủ những nơi xung yếu ở đầu nguồn và các cửa biển. Những chức quan này phải dùng người tinh thục, tài năng, thanh liêm, chính trực"1 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr. 840). Những viên quan này có nhiệm vụ cai quản các vùng biên giới và giám sát các thổ quan địa phương. Đây là một nét mới của triều Lê Sơ nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh của chính quyền trung ương đối với vùng biên giới.


Các vua Lê ban nhiều sắc chỉ nhắc nhở nhiệm vụ cho các quan trấn giữ biên cương. Sử cũ còn ghi Lê Thánh Tông nhiều lần phủ dụ quan quân nơi biên trấn phải lo tròn trách nhiệm của mình.


Năm Canh Thìn (1460), ngay khi vừa lên ngôi, trong chỉ dụ cho các quan phủ, lộ, trấn, vua Lê Thánh Tông chỉ rõ: “Ai ở cõi biên giới thì phải giữ quan ải cẩn thận, không được thông đồng với người nước ngoài"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 391).


Năm Đinh Hợi (1467), vua Lê Thánh Tông ban một sắc dụ riêng cho các quan trấn thủ và phó binh các vệ ở các xứ An Bang, Lạng Sơn, Tuyên Quang: "Các ngươi chức vụ đứng đầu một phương khống chế cả cõi biên thùy, phải phòng bị điều bất trắc, để ngăn ngừa giặc ngoại xâm. Cần phải khuyên bảo các tướng hiệu răn đe quân lính, không được quen thói cũ, bỏ trốn về nhà, để trống vị trí phòng thủ, kẻ nào trái lệnh thì trị tội nặng hơn luật thường"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 427).


Năm Mậu Tý (1468), Lê Thánh Tông ra sắc lệnh về hạn định thời gian đối với những viên quan nhậm trị ở vùng biên viễn. Theo sắc chỉ đó, phàm những viên quan giữ việc ở nơi nước độc chốn biên cương xa xôi, nếu làm tốt phận sự “Biết cách nuôi vỗ dân, đốc thúc không phiền nhiễu dân mà vẫn thu đủ thuế, sau 6 năm sẽ được cho chuyển về miền xuôi; nếu ai kiếm cớ đau ốm để né tránh, nộp thuế thiếu nhiều thì lại phải bổ đi miền biên cương xa, đủ 6 năm nữa mới được quyết định lại"3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 433). Nếu những quan quân nào không làm tốt nhiệm vụ trấn giữ biên giới sẽ bị xử bằng những hình phạt nặng nhất. Trong Bộ luật Hồng Đức, Điều 243 chương Quân chính ghi: Các tướng sĩ phòng giữ nơi quan ải, nếu phòng bị không cẩn thận, dò la không đích thực để quân giặc đến bất ngờ đánh úp thì đều phải chém. Điều 278 ghi: Những quan ải không khám xét cẩn thận, để kẻ gian đưa lọt tin tức ra ngoài hay có kẻ gian lọt vào trong hạt mình thì bị xử tội đồ, tội lưu hay tử... Luật cũng có cả những quy định cụ thể về chế độ kiểm tra, kiểm soát ở các cửa sông, biển, cảng ven biển nhằm giữ gìn an ninh quốc gia và chủ quyền đất nước. Trừ thuyền riêng của những quan đại thần hàm nhị phẩm trở lên và thuyền của những quan coi giữ lăng miếu, việc đi lại của những viên quan khác đều phải khám xét theo lệ.


- Tăng cường lực lượng trấn giữ và kiểm soát các hoạt động ở vùng biên giới.

Việc gìn giữ thường xuyên các miền biên giới được triều đình giao cho các viên quan Phòng ngự sứ, Chiêu thảo sứ, quân các châu, huyện và thổ binh ở các động, sách. Lực lượng tại chỗ này có nhiệm vụ kiểm soát, canh giữ các cửa ải nhỏ và giữ gìn an ninh trật tự tại các địa phương.


Tại các cửa ải quan trọng, triều đình cho đặt các đồn lũy do quân địa phương trấn giữ như các đồn lũy Vạn Ninh, Tân Yên được lập ở An Bang để kiểm soát hoạt động ở vùng này.


Nhằm bảo vệ vùng biển quốc gia, triều đình Lê Sơ đã xây dựng thủy quân thành lực lượng độc lập với một hệ thống tổ chức chặt chẽ, biên chế thống nhất, có một chế độ huấn luyện riêng biệt phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của binh thủy. Chế độ kiểm tra, kiểm soát ở các vùng ven biển, các cửa sông, cửa biển cũng được quy định cụ thể trong Bộ luật Hồng Đức.


Với tinh thần chủ động và những biện pháp tích cực trong việc bảo vệ biên cương nên một thế kỷ trị vì của triều Lê Sơ, mọi âm mưu xâm phạm của các thế lực thù địch bị thất bại, đất nước không bị nạn ngoại xâm.


Vậy là, tích cực chủ động phòng giữ lãnh thổ biên cương, thực hiện “Biên phòng hảo vị trù phương lược” thực sự là một trong những quan điểm nổi bật trong tư tưởng quân sự của triều đại Lê Sơ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:10:56 am »

4. Đối ngoại quân sự khôn khéo để giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

Nhằm tạo lập nền hòa bình để phục hưng đất nước, trong quan hệ với các quốc gia lân bang, triều đình Lê Sơ chủ trương thiết lập mối bang giao hòa bình, không muốn xảy ra chiến tranh. Tùy tình hình, thái độ và thực lực của mỗi nước, triều đình Lê Sơ đã có những chính sách đối ngoại quân sự khác nhau, khi mềm dẻo, lúc cứng rắn nhằm đạt được mục đích giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

- Tránh gây căng thẳng với nhà Minh ở phía Bắc.

Nhà Minh là một đế chế mạnh, từng thiết lập ách đô hộ ở nước ta hơn 20 năm. Mặc dù đã bị đánh bại, nhưng cũng như các triều đại trước, triều Minh không bao giờ muốn từ bỏ ý đồ áp đặt ách cai trị đối với Đại Việt. Do vậy, để giữ vững chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, triều đình Lê Sơ chủ trương thực hiện đường lối ngoại giao "vừa nhu vừa cương", một mặt tỏ ra chịu thần phục, thực hiện nghĩa vụ triều cống của nước nhỏ đối với nước lớn; mặt khác, kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ quốc gia trước những hành động gây rối, lấn chiếm vùng biên giới. Vấn đề quan hệ với nhà Minh đã được Lê Lợi - lãnh tụ tối cao của quân Lam Sơn - vị vua đầu tiên của vương triều Lê Sơ suy tính ngay từ năm cuối của cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.


Cuối năm Bính Ngọ (1426), mặc dù diễn biến chiến sự đã nghiêng hẳn về phía nghĩa quân, nhưng Lê Lợi vẫn quyết định không đánh thành Đông Quan - căn cứ đầu não của quân xâm lược nhà Minh, mà chỉ tổ chức vây hãm để thuyết phục chúng đầu hàng. Quyết định này không chỉ nhằm đỡ tổn thất xương máu cho cả hai bên, mà còn là một chiến lược ngoại giao có tầm nhìn xuyên thế kỷ, với mục đích vì một nền hòa bình, tránh tái diễn chiến tranh.


Cuối năm Đinh Mùi (1427), sau khi các đạo viện binh bị tiêu diệt, Vương Thông phải chấp nhận giảng hòa, xin được rút quân về nước. Trước những tội ác của quân thù đối với nhân dân, nhiều tướng sĩ đề nghị Lê Lợi cho giết hết quân giặc; nhưng để tránh một cuộc chiến tranh trong tương lai, buộc kẻ thù phải từ bỏ ý đồ thôn tính và thừa nhận nền độc lập của ta, đồng thời mở đường cho mối quan hệ bình thường sau này, Lê Lợi và bộ thống soái nghĩa quân quyết định kết thúc cuộc chiến một cách nhân đạo, đỡ làm mất mặt "thiên triều". Giải thích cho tướng sĩ về việc làm này, ông nói: "Phục thù báo oán là thường tình của mọi người. Nhưng không muốn giết người là bản tâm của bậc nhân giả. Vả chăng, người ta đã hàng mà mình giết đi thì không còn gì ghê gớm hơn việc làm không lành ấy. Nếu vì hả giận trong chốc lát mà để muôn đời mang tiếng giết kẻ đã hàng thì chi bằng để sống muôn vạn người mà dập tắt mối chiến tranh về sau, sử xanh ghi chép nghìn thủa còn thơm, há chẳng tốt đẹp sao?”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 281).


Vì lẽ ấy, Lê Lợi đã cho tổ chức Hội thề (thực chất là lễ đầu hàng) ở phía nam thành Đông Quan với sự tham dự của đại diện nghĩa quân và các tướng lĩnh cao cấp của đạo quân xâm lược nhà Minh. Tại hội thề, thay mặt toàn quân, chủ tướng giặc Vương Thông trịnh trọng xin thề rút ngay toàn bộ quân về nước, từ bỏ ý đồ xâm chiếm. Với lòng nhân đạo, nghĩa quân chuẩn bị đầy đủ lương thực, phương tiện và đảm bảo an toàn tính mạng cho quân Minh lên đường về nước. Nhân dân các lộ Bắc Giang, Lạng Giang sửa chữa lại đường sá, cầu công cho chúng rút quân dễ dàng. Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 500 chiếc thuyền, vài nghìn ngựa cùng lương ăn cho gần 10 vạn quân đã được lo đủ trong hoàn cảnh đất nước ta vừa trải qua nhiều năm chiến tranh. Việc làm của nhân dân ta khiến quân Minh cảm phục, trước ngày lên đường cả quân lẫn tướng kéo đến quân doanh Bồ Đề lạy tạ Bình Định vương Lê Lợi. Cũng trong thời gian này, Lê Lợi còn cử một phái đoàn do Lê Thiếu Dĩnh cầm đầu sang nhà Minh dâng biểu cầu phong.


Những việc làm nói trên của Lê Lợi và bộ thống soái nghĩa quân Lam Sơn nhằm thực hiện một mục đích cao cả: "Sửa hòa hiếu cho hai nước. Tắt muôn đời chiến tranh", tạo điều kiện để mối quan hệ bang giao giữa hai nước sang một trang khác.


Mặc dù đã phải rút quân ra khỏi Đại Việt, nhưng cậy thế nước lớn, triều Minh không ngừng đưa ra những yêu sách về cống nạp, tù binh, vũ khí... đòi nhà Lê phải đáp ứng.


Để giữ vững hòa khí với nhà Minh, vua Lê Thái Tổ cùng triều đình vừa mềm dẻo, vừa kiên quyết đấu tranh bác bở những đòi hỏi quá đáng của chúng, đồng thời cũng yêu cầu triều Minh phải đáp ứng một số yêu cầu của ta (trả lại những người Việt đã bị quân Minh bắt đưa về Yên Kinh, trong đó có người con gái của Lê Lợi; thừa nhận Lê Lợi là vua Đại Việt...). Sau những cuộc trao đổi giữa sứ thần hai nước, các yêu cầu của hai bên được giải quyết ổn thỏa. Năm Canh Tuất (1430), vấn đề người và vũ khí của quân Minh được giải quyết. Điều này được phản ánh rõ qua sắc chỉ của Minh Tuyên Tông gửi cho Lê Thái Tổ do Đào Công Soạn mang về tháng 4 năm Canh Tuất (1430): "Vũ khí là dùng để bảo vệ dân. Dân An Nam tất thảy đều là con đẻ của trẫm. Nay giữ ở đấy hay để ở đây củng vậy thôi, tạm hãy gác lại không hỏi tới nữa"1 (Lê Lợi và Thanh Hóa trong khởi nghĩa Lam Sơn (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb. Thanh Hóa, Thanh Hóa, 1988, tr. 115). Đến năm Tân Hợi (1431), nhà Minh cho phái đoàn sứ thần do Hữu thị lang Chương Xưởng làm chánh sứ mang sắc phong sang Đại Việt, phong Lê Lợi làm "Quyền thự An Nam quốc sự". Với sắc phong này, nhà Minh mặc dù chưa phong vương vị nhưng đã công nhận chính quyền của Lê Lợi và thừa nhận quyền đứng đầu đất nước của ông, tức là đã công nhận nền độc lập của Đại Việt. Cũng từ đây, triều Lê giữ lệ 3 năm nộp cống một lần cho nhà Minh. Sự kiện trên cho thấy mối quan hệ giữa Đại Việt với Đại Minh đã được thiết lập. Đây là thắng lợi đầu tiên của triều Lê Sơ trong lịch sử. Đúng như Phan Huy Chú nhận xét: "Buổi đầu nhà Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần, dùng lời nói dịu dàng mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo đã chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho, trải ba năm mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Như thế cũng đủ thấy sự thế bấy giờ là khó"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1963, t.4, tr. 142). Việc triều Minh không tiếp tục gây chiến tranh, kiến lập quan hệ ngoại giao chính thức với nhà Lê và thông qua quyết định tấn phong Lê Lợi vào tháng 11 năm Tân Hợi (1431) khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại khôn khéo của Lê Thái Tổ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:12:22 am »

Dưới các đời vua kế tiếp, mối quan hệ bang giao vẫn được giữ vững và tiếp tục phát triển. Mỗi khi triều đình có vua băng hà hoặc lập vua mới, hai bên đều thông báo cho nhau và cử đoàn sứ thần sang điếu lễ hoặc chúc mừng. Nhưng khi nhà Minh có những hành động xâm lấn ở biên giới, nhà Lê kiên quyết bảo vệ lãnh thổ bằng mọi biện pháp, khi giải quyết bằng ngoại giao, khi bằng sức mạnh quân sự. Vua Lê Nhân Tông thường khuyên răn các tướng ngoài biên ải phải cẩn trọng trong việc giải quyết vấn đề biên giới. Năm Mậu Thìn (1448), nghe tin nhà Minh cho sứ sang hội khám biên giới ở Quảng Tây, trước khi có hành động đối phó, vua cho cử quan lại đi khám xét thực hư, sau đó mới lệnh cho các địa phương tập hợp lực lượng.


Từ năm Đinh Tỵ (1437), nhà Minh bắt đầu tấn phong Vương cho các vua triều Lê Sơ, mở đầu là Lê Thái Tông được phong là An Nam quốc vương. Điều này chứng tỏ nhà Minh đã phải thừa nhận quyền làm chủ chính thống của dòng họ Lê ở Đại Việt, sự ngang hàng của các vua Lê với các quốc gia khác.


Trong thế kỷ XV, vấn đề biên giới giữa hai nước cũng luôn xảy ra những tranh chấp.

Dưới đời vua Lê Thái Tông, vào những năm Mậu Ngọ (1438), Nhâm Tuất (1442) xảy ra một số vụ tranh chấp đất đai và cướp phá tài sản giữa hai châu giáp ranh là châu An Bình, Tư Lăng thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và châu Tư Lang Hạ thuộc tỉnh Cao Bằng (Đại Việt). Quan lại hai châu đều có thư báo cáo sự việc lên triều đình hai nước. Triều đình nhà Lê yêu cầu triều đình nhà Minh “nghiêm cấm các châu ấy không được xâm phạm cướp bóc”1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1963, t.4, tr. 651). Để giải quyết vấn đề, vua nhà Minh đưa ra phương thức cùng cử người đến nơi xảy ra sự việc xem xét, xác minh, vua nhà Lê đồng ý với cách giải quyết trên. Nhưng trên thực tế có những lần triều tình nhà Minh không cho người đến hội khám như đã giao ước. Để đạt được mục đích hai bên giữ yên bờ cõi và không xâm chiếm lẫn nhau, triều đình nhà Lê kiên trì trao đổi thông tư với triều đình nhà Minh và quan tỉnh Quảng Tây, đề nghị tiến hành hội khám. Đến năm Đinh Mão (1447), đường biên giới giữa hai vùng đã được giải quyết thỏa đáng đáp ứng được lợi ích của cả hai bên.


Lê Thánh Tông là vị vua yêu hoà bình, không muốn có chiến tranh, nhưng ông cũng rất kiên quyết, không nhân nhượng kẻ thù một khi chúng xâm phạm biên cương Tổ quốc. Quan điểm của Lê Thánh Tông là phải kiên quyết tranh biện, nếu họ không nghe, thì sai sứ sang trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Vấn đề tranh chấp ở vùng biên giới phía Bắc dưới triều Lê Thánh Tông được giải quyết khôn khéo, cứng rắn, đầy mưu lược, biểu hiện ở một số vụ điển hình sau:

Vào năm Đinh Hợi (1467), Sầm Tổ Đức người phủ Trấn An, Quảng Tây đem hơn 1.000 người tung tin là đi bắt tên giặc Sầm Vọng đang trốn chạy rồi thừa cơ tiến sâu vào châu Thông Nông, phủ Bắc Bình (Cao Bằng) của Đại Việt cướp trâu bò, súc vật và bắt người... Sau đó lại chiếm cứ vùng châu Bảo Lạc. Nhưng lại tâu báo rằng có hai thôn Man Ly, Man Nhung của Đại Việt giả vờ quy phục Trấn An để cướp súc vật. Triều đình Lê Thánh Tông xem xét sự việc thấy rằng đây đều là những vu cáo của Sầm Tổ Đức, lệnh cho triều thần làm tờ tư thẩm cho bố chính ty Quảng Tây, đòi lại người và súc vật đã bị cướp.


Hoặc, năm Quý Tỵ (1473), Quan Ngọc ở Long Châu được sự đồng tình của thổ quan Long Châu, Bằng Tường đã vượt biên vào châu Văn Uyên thuộc Lạng Sơn buôn lậu, rồi mua tranh bán cướp dẫn đến đánh nhau và kiện cáo, hơn nữa còn nhục mạ các đầu mục địa phương. Triều đình nhà Lê chỉ thị cho các quan sở tại bắt và tạm giữ Quan Ngọc và hàng hoá tranh chấp. Mục đích tạm giữ được nói rõ trong tờ tâu của bộ Lễ là: nhằm ngăn tệ xấu của bọn gian, để tắt mối rắc rối ở biên giới sau này. Bọn thổ quan ở Long Châu, Bằng Tường vì việc này đã trả thù bằng cách gây khó dễ việc cống sứ ngay năm sau (Giáp Ngọ - 1474), chúng đã bắt giữ chánh sứ triều đình nhà Lê là Hoàng Dục đến 4 tháng không thả. Triều đình Đại Việt một mặt tư cho Tổng đốc Quảng Tây, mặt khác thông qua viên Khâm sai theo đường Vân Nam để đưa tờ tư lên cho vua Minh. Trong đó triều Lê đã kết hợp lý và tình để đấu tranh với triều Minh, khẳng định việc xâm phạm biên giới, bắt sứ bộ là hoàn toàn sai, phía triều đình nhà Minh phải có trách nhiệm xử phạt các quan địa phương của mình.


Không chỉ dùng lý lẽ để đấu tranh, triều Lê Thánh Tông còn có những biện pháp cứng rắn, quyết liệt để chống lại những hành động lấn chiếm, cướp bóc, xâm phạm chủ quyền của phong kiến phương Bắc. Sử cũ chép:

Vào những năm Quý Tỵ (1473), Ất Mùi (1475), Đinh Dậu (1477)... Đại Việt đem quân đi dẹp quân lấn chiếm. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: “Nhân có bọn Hoàng Chương Mã người Bảo Lộc, vệ Tuyên Quang tụ tập bọn xấu thành đảng cướp bóc dân các vùng biên giới, triều đình cho phép vệ Tuyên Quang đem quân truy nã. Đồng thời có đưa thư cho phía Trấn An, Quảng Nam thuộc Quảng Tây phối hợp đuổi bắt. Có lúc quân của vệ Tuyên Quang đuổi bắt vượt cả sang vùng Quảng Tây và Vân Nam”1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.2, tr. 659).


Trong thư tịch Trung Quốc cũng ít nhiều nhắc đến những sự kiện vừa nêu trên. Minh sử chép: Trước kia An Nam nhập cống phần nhiều đem đồ riêng, đi theo đường Bằng Tường, Long Châu, thiếu người vận chuyển, lại hay gây hấn. Mùa đông năm Thành Hoá thứ 15 (1479), Hạo (chỉ vua Lê Thánh Tông) đem hơn 800 quân vượt quá địa giới Mông Tự - Vân Nam, nói phao là đi bắt cướp, tự tiện dựng nhà làm doanh trại để ở. Các bề tôi giữ biên giới hết sức ngăn chặn, mới trở về.


Từ những dòng ghi chép trên của hai phía đã cho chúng ta thấy triều vua Lê Thánh Tông đã chủ động giữ từng tấc đất biên cương, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Lê Thánh Tông cùng triều thần đã dựa vào thực lực của mình, xây dựng được quốc gia Đại Việt mà kẻ thù cũng phải thừa nhận là "Quốc phú binh cường" để đấu tranh với chúng. Chính sách hoà thân với các quan trấn trị địa phương phía Bắc của triều Lê Thánh Tông đã tạo thành một sức mạnh, một uy thế lớn khiến cho quan lại triều đình nhà Minh cũng phải nể phục. Là người đứng đầu quốc gia, vua Lê Thánh Tông luôn theo dõi nội tình của triều đình nhà Minh trong từng thời kỳ để đưa ra những phương sách phù hợp, để đạt được kết quả.


Thắng lợi to lớn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cùng chính sách khôn khéo, cương quyết của Lê Thái Tổ và các vua kế nhiệm đã bảo toàn được lãnh thổ quốc gia, buộc nhà Minh phải thiết lập mối quan hệ bình thường với nhà Lê và không thể thực thi được mưu đồ cát cứ. Có thể nói, mối quan hệ với nhà Minh dưới thời Lê Sơ cực kỳ phức tạp và tế nhị vì triều Minh luôn cậy là nước lớn đứng trên thế mạnh và luôn mượn cớ để gây sự xâm chiếm nhưng triều đình nhà Lê đã có một đối sách khôn khéo vừa mềm dẻo, vừa kiên quyết. Do vậy, biên giới nước ta ở phía Bắc được ổn định và bảo toàn trong suốt hơn 3 thế kỷ. Đạt được kết quả đó còn do sự cường thịnh về mọi mặt của Đại Việt ở thế kỷ XV mà triều Lê Sơ đã có nhiều công lao khiến triều Minh phải kiêng nể. Phan Huy Chú đã nhận xét về mối quan hệ của Đại Việt với đế chế Trung Hoa: "Từng xét, đời Đinh, đời Lê được sách phong gọi là quận vương, đến đời Lý mới phong là An Nam Quốc Vương. Đời Trần thì hạn ba năm một kỳ cống, đến đời hậu Lê mới định lệ 6 năm cống cả hai kỳ, xem sự thể không giống nhau thấy thế nước mỗi lúc một khác. Bởi vì thanh danh rạng rỡ, phong khí ngày một mở mang, văn vật ngày một mới mẻ nên Thượng quốc phải coi trọng, phong cho danh hiệu vẻ vang nào khác như được ngôi bắc thần đoái đến. Còn như khi sứ giả đi lại thì có lễ tiếp đãi, bờ cõi hai nước thì có văn thư biện bạch, đó đều là việc có quan hệ đến quốc thể và lân giao"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1963, t.4, tr. 135).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:17:04 am »

- Kiên quyết đập tan các hành động lấn chiếm của Chămpa ở phía Nam

Là nước láng giềng ở về phía Nam của Đại Việt, Chămpa vốn lập quốc từ rất sớm và đã từng có một lịch sử phát triển lâu dài, một nền văn hoá rực rỡ.

Trong buổi đầu triều Lê Sơ, lãnh thổ Đại Việt ở phía Nam đến vùng Thuận Hoá. Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ xác định Hoá Châu là trọng trấn nên đã phái các trọng thần vào trấn thủ vùng đất này. Đèo Hải Vân là cương giới phân chia giữa hai nước Việt - Chămpa. Dưới các triều đại trước, Chămpa và Đại Việt luôn có các cuộc xung đột tranh giành một số vùng đất của nước Chămpa đã thuộc về Đại Việt. Thế kỷ XV, tuy là nước yếu nhưng các vua Chămpa đều muốn giành lại những vùng lãnh thổ đã mất, vương triều Lê Sơ kiên quyết không để mất lãnh thổ của quốc gia, vì thế vùng biên giới hai nước luôn xảy ra xung đột vũ trang.


Trong những năm đầu, chiến công đánh thắng quân Minh của Lê Thái Tổ khiến Chămpa kính nể Đại Việt. Ngay từ năm Đinh Mùi (1427), khi Lê Lợi đang đóng đại bản doanh ở Bồ Đề (Gia Lâm - Hà Nội), vua Chămpa đã cho sứ thần mang sản vật địa phương đến tiến công và xin đặt quan hệ hoà hiếu. Nhưng đến năm Quý Sửu (1433), vua Lê Thái Tổ băng hà, Thái tử Nguyên Long mới 11 tuổi lên ngôi, vua Chămpa là Ba Đích Lại nhân cơ hội này muốn khôi phục lại những vùng đất đã mất trước đây liền đích thân đem quân đến đóng sát biên giới Đại Việt, đồng thời sai chiến thuyền đột nhập vào vùng biển cửa Việt, bắt một số người Việt đem về nước để dò hỏi tình hình phòng thủ của nhà Lê ở vùng Thuận Hoá. Hành động của quân Chămpa đã bị nhân dân địa phương đánh trả. Được tin quân Chămpa có những hành động quấy phá biên giới, triều đình nhà Lê phái Tư mã Lê Liệt đốc suất quân các đạo Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá đi kinh lược vùng biên giới Đại Việt - Chămpa, tăng cường phòng thủ những nơi hiểm yếu. Sau đó lại cử các tướng Lê Khôi, Lê Chuyết đem quân vào tiếp ứng. Trước lực lượng hùng hậu của các đạo quân nhà Lê, xét thấy không thể đương đầu nổi, vua Chămpa vội vã cho quân rút khỏi biên giới, đồng thời thả những người Việt đã bắt và sai sứ mang lễ vật sang xin giảng hoà, nối lại quan hệ hoà hiếu. Triều đình nhà Lê cũng cho sứ sang nước Chămpa đáp lễ, củng cố thêm tình láng giềng thân thiện giữa hai quốc gia. Trong đời vua Lê Thái Tông, quan hệ bang giao giữa hai nước đã được nối lại.


Năm Tân Dậu (1441), Ba Đích Lại chết, cháu là Bí Cai lên nối ngôi (1441-1446). Bí Cai cho người sang cống và xin thần phục triều Minh, muốn dựa vào nhà Minh chống lại Đại Việt. Năm Quý Hợi (1443), vua Lê Thái Tông mất, Bang Cơ mới 2 tuổi lên ngôi. Mặc dù thực lực không mạnh, nhưng chớp cơ hội triều Lê đang gặp khó khăn, năm Giáp Tý (1444), Bí Cai dẫn quân Chămpa theo đường thủy tiến vào vây hãm thành Hoá Châu, cướp bóc các vùng lân cận. Tướng nhà Lê trấn thủ thành Hoá Châu là Lê Chuyết phải dùng kế cho quân đào đường ngầm xuyên qua thành, bất ngờ tung quân ra đánh, tiêu diệt và bắt được nhiều tù binh, buộc Bí Cai phải lui quân. Ít ngày sau, quân Chămpa lại kéo đến đánh úp Hóa Châu lần thứ hai nhưng cũng thất bại. Trước các cuộc tiến công liên tiếp của quân Chămpa, triều đình Lê liền phái Thái bảo Lê Bôi và tướng Lê Khả đem 10 vạn binh vào tiếp ứng khiến quân Chămpa không chống đỡ kịp phải vội vã rút quân về bên kia biên giới. Năm Ất Sửu (1445), một lần nữa Bí Cai lại đem quân vào cướp phá thành An Dung ở Hoá Châu. Lúc này đang là mùa lụt, Lê Chuyết lợi dụng nước sông dâng cao chỉ huy thuỷ binh đang đêm tiến công vào đội hình của quân Chăm, tiêu diệt được nhiều tên và bắt được hơn 200 chiến thuyền. Bí Cai cùng tàn quân ngay trong đêm phải tìm đường trốn chạy. Thừa thắng, Lê Chuyết cho quân đuổi theo khiến quân Chămpa phải bỏ thuyền lên bộ theo đường núi mới chạy thoát về nước.


Tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của quân dân Thuận Hoá đã được vua Lê Nhân Tông khen ngợi và ban chiếu dụ tha tô thuế trong 3 năm cho những ấp nào bị giặc cướp phá. Tổng quản Lê Chuyết được ca ngợi là "bức tường dài muôn dặm ở phương Nam".


Những cuộc xung đột biên giới diễn ra trong thời gian này đều do phía Chămpa phát động với mục đích giành lại vùng đất Thuận Hoá. Còn với triều Lê, đây thực sự là những cuộc chiến đấu mang tính tự vệ, nhằm bảo toàn cương giới lãnh thổ quốc gia; bởi Thuận Hoá mặc dù là đất cũ của Chiêm Thành (châu Ô và châu Lý), nhưng từ năm 1306 vua Chế Mân đã cắt dâng cho vua Trần làm đồ sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Vùng đất này đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và được khai thác qua nhiều đời, cư dân ở đây phần lớn là người Việt.


Những hành động cướp phá biên giới liên tục của Chămpa khiến triều đình Lê Sơ không thể làm ngơ, phải xuất quân đánh dẹp. Tháng giêng năm Bính Dần (1446), vua Lê Nhân Tông sai đô đốc Lê Thụ, Lê Khả, thiếu phó Lê Khắc Phục thống lĩnh 60 vạn quân đi đánh Chămpa.


Tháng 2, quân nhà Lê tiến vào đất Chămpa, đến các xứ Ly Giang (nay thuộc đất Thăng Bình, Quảng Nam), Đa Lang, Cổ Lũy (nay thuộc đất Quảng Ngãi). Sau khi khai thông đường thuỷ, dựng đồn đắp thành lũy, đánh tan các đạo quân phòng thủ biên giới của nước Chămpa, quân nhà Lê tiến thẳng vào cửa biển Thị Nại (thuộc Quy Nhơn), bao vây thành Chà Bàn. Sau một thời gian vây hãm, lại có một bộ phận quân Chămpa làm nội ứng, đến tháng 4, quân nhà Lê hạ được thành Chà Bàn, bắt sống vua Bí Cai và toàn bộ phi tần, bộ thuộc, thu nhiều voi ngựa, khí giới mang về Thăng Long.


Sau khi quân nhà Lê rút về nước, Ma Ha Quý Lai sai cận thần mang lễ vật và biểu sang dâng vua Lê xin được làm vua và làm phiên thần của Đại Việt. Quan hệ hai nước trở thành quan hệ thần thuộc.


Sang thời Lê Thánh Tông (1460-1497), ngay khi mới lên ngôi, vua Lê Thánh Tông yêu cầu Chămpa phải duy trì quan hệ với Đại Việt như với triều đình nhà Minh. Ngoài những lễ vật cống hằng năm, còn phải hiến dâng những sản vật quý, như voi trắng, tê giác, châu báu... Vua Chămpa là Trà Toàn không chịu, quyết định cắt đứt quan hệ với triều đình nhà Lê và nhiều lần cho quân đánh phá Hóa Châu. Năm Mậu Tý (1468), thủy quân Chămpa tiến vào đánh phá Hoá Châu. Đặc biệt hơn, năm Canh Dần (1470), Trà Toàn đích thân chỉ huy hơn 10 vạn quân gồm cả thủy, bộ tiến đánh Hóa Châu, tướng giữ thành là Phạm Văn Hiển không chống cự nổi.


Những hành động bạo ngược của Trà Toàn càng thúc đẩy vua Lê Thánh Tông quyết định khởi binh chinh phạt Chămpa. Ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470), vua Lê Thánh Tông hạ chiếu xuất quân chỉ rõ: Chămpa "coi khinh dân ta hơn cỏ rác, nảy dã tâm sâu độc hại người; tưởng chiếm nước ta dễ tự chơi cờ... muôn đạp đổ tông miếu dòng giống nhà ta..."1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 443); Mục đích cuộc tiến công là nhằm "Giết kẻ thù chín đời theo nghĩa Xuân Thu, định mưu kế vẹn toàn cho yên đất nước. Cứu muôn dân thoát khỏi vòng điêu đứng, dẹp nước loạn đã trái đạo lâu năm. Đánh phản nghịch, cứu sinh dân, trồng mầm nhân, nhổ cội ác"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 444).


Thái sư Đinh Liệt được cử làm Chinh lỗ tướng quân cùng Thái bảo Lê Niệm làm Phó tướng chỉ huy thủy quân ba phủ vệ Đông, Nam, Bắc gồm 15 vạn lên đường. Vua Lê Thánh Tông sau khi cáo Thái miếu, thân xuất đại quân tiếp theo.


Tháng chạp năm Canh Dần (1470), các đạo quân đến Thiết Sơn (thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An). Đầu tháng 2 năm Tân Mão (1471), đại quân tiến vào hai cửa biển Tân Áp và Cựu Tọa (thuộc đất Quảng Nam ngày nay). Ngày 27 tháng 2 năm Tân Mão (1471), đại quân nhà Lê đánh bại quân Chămpa ở cửa biển Thị Nại; ngày 28, tiến đến bao vây thành Trà Bàn, sau đó dùng thang đột nhập thành; 3 ngày sau chiếm được thành, giết hơn 4 vạn, bắt hơn 3 vạn quân Chămpa trong đó có vua Trà Toàn.


Sau khi đánh bại quân Chămpa, Lê Thánh Tông chiếm lại đất Đại Chiêm (Quảng Nam), Cổ Lũy (Quảng Ngãi) - tức đất phủ Thăng Hoa, vùng đất trước kia họ Hồ đã khai mở. Đến tháng 6 năm Tân Mão (1471), toàn bộ vùng đất vừa giành lại từ quân Chăm được xác lập thành đạo thứ 13 - đạo Quảng Nam, gồm 3 phủ, 9 huyện. Đối với phần đất đai còn lại của Chămpa (từ phía nam Đại Lãnh trở vào), triều Lê thực hiện chính sách chia nhỏ (chia thành ba nước: Chămpa, Nam Bàn, Hoa Anh) nhằm làm cho lực lượng Chămpa suy yếu và mãi lệ thuộc vào Đại Việt. Nước Chămpa là vùng đất phía nam Thạch Bi giao cho Bô Trì Trì (một viên tướng của Chămpa sau khi Trà Bàn thất thủ đã đầu hàng nhà Lê); Nam Bàn là vùng đất phía tây (Thủy xá và Hỏa xá - miền Kon Tum và Buôn Ma Thuột) và nước Hoa Anh. Hai nước này phong cho dòng dõi vua Chămpa cũ.


Sau sự kiện này, Chămpa ngày càng suy yếu, kiệt quệ và bị các triều đại sau Lê Sơ xâm lấn dần, đến cuối thế kỷ XVII bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong thời Lê Sơ, cũng có lần người Chămpa vùng dậy hòng khôi phục lại đất nước nhưng đều bị triều Lê trấn áp ngay.


Như vậy, từ các cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới, giai cấp thống trị Chămpa đã đưa chiến tranh về lãnh thổ của mình. Cuộc tiến công năm Tân Mão (1471) của vua Lê Thánh Tông đã chấm dứt hoàn toàn các cuộc lấn chiếm của người Chămpa và quốc gia Chămpa bị chia nhỏ không còn như trước. Với quy luật "mạnh được, yếu thua" của thời đại phong kiến, sự suy yếu dẫn đến diệt vong của quốc gia Chămpa sau đó là điều tất yếu. Vấn đề Chămpa đã được giải quyết cơ bản dưới triều Lê Sơ mà đòn quyết định chính được thực hiện dưới thời vua Lê Thánh Tông - thời kỳ cực thịnh nhất của triều đại này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:18:29 am »

- Trấn áp các hành động lấn chiếm của Ai Lao ở phía Tây.

Ai Lao là nước láng giềng tiếp giáp phía Tây của Đại Việt, hai bên có đường biên giới chung dài hàng trăm kilômét đường núi rừng hiểm trở. Ngay từ thời kỳ còn là quân khởi nghĩa hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hoá, Lê Lợi đã tạo được mối quan hệ tốt đẹp với Ai Lao. Ai Lao là đất đứng chân và từng giúp đỡ quân khởi nghĩa về lương thảo, khí giới, voi chiến và che chở cho những lãnh tụ và nghĩa quân khi bị quân giặc truy đuổi.


Từ năm Canh Tý (1420), quan hệ hoà hiếu, giúp đỡ ấy không còn bởi sự gièm pha của Lộ Văn Luật và sự mua chuộc, uy hiếp của quân Minh. Đã có những lần Ai Lao đem quân tập kích sau lưng nghĩa quân Lam Sơn nhưng đều bị đánh bại.


Sau cuộc đại thắng quân Minh, uy thế của Đại Việt không ngừng được nâng cao, Ai Lao nhiều lần cử sứ giả sang giao hiếu và triều cống. Khi vương triều có biến, Ai Lao còn nhò sự giúp đỡ của triều Lê. Trong khoảng 10 năm (1428-1438), nội bộ giai cấp thống trị Ai Lao bước vào thời kỳ khủng hoảng, tranh giành quyền lực diễn ra gay gắt. Năm Giáp Dần (1434), vua Ai Lao là Côn Cô bị bầy tôi là Nữu Tại uy hiếp lật đổ, triều đình Ai Lao đã cho người sang Đại Việt cầu cứu. Triều Lê sai Lê Bạn sang dàn xếp nhưng không có kết quả. Côn Cô lại sai sứ sang triều công và xin vua Lê đưa quân sang can thiệp. Triều đình quyết định cử Thiếu uý Xa Miên là một tù trưởng người Thái ở Mộc Châu đem quân địa phương sang giúp Côn Cô. Khi quân của Xa Miên sang tới nơi thì Côn Cô đã bị giết và Dụ Quần đã được lập nên làm vua. Dụ Quần dâng 3 thớt voi và nhiều vàng bạc, lễ vật xin hàng nhà Lê. Sau đó Xa Miên được lệnh rút quân về nước. Từ đó về sau Ai Lao vẫn giữ lệ một nước phiên thần, đều đặn nộp cống cho triều đình Lê. Tuy vậy, trong thời gian này, một số thổ tù người Thái thuộc Ai Lao ở vùng biên giới phía Tây Bắc vẫn thường liên kết với một vài thổ tù người Thái ở vùng Hưng Hoá của Đại Việt kéo quân sang cướp phá. Mỗi lần như vậy, triều đình nhà Lê đều phải cử tướng hoặc chính nhà vua thân chinh đem quân lên đánh đuổi quân Ai Lao ra khỏi biên giới và trấn áp uy hiếp các tù trưởng thiểu số.


Năm Ất Mão (1435), quân Ai Lao đánh vào Mường Viễn, năm Đinh Tỵ (1437), sang cướp phá châu Mã Giang và châu Mộc (Sơn La ngày nay). Những cuộc tiến quân này đều bị quân nhà Lê đánh lui.


Từ năm Mậu Ngọ (1438), do dần ổn định và phục hưng được đất nước, nên Ai Lao không những từ bỏ việc triều cống cho nhà Lê, mà còn thường gây hấn, quấy phá biên giới Đại Việt, những cuộc xung đột vũ lực giữa hai bên liên tiếp xảy ra: Năm Kỷ Mùi (1439), 3 vạn quân Ai Lao do Nữu Hoa chỉ huy tràn vào biên giới Đại Việt cướp phá châu Phục Lễ, bị vua Lê Thái Tông trực tiếp cầm quân đánh bại. Năm Đinh Hợi (1467), vua Lê Thánh Tông sai Hành tổng binh Khuất Đả đem hơn 1.000 quân phối hợp với quân đồn thú trấn Gia Hưng đánh Ai Lao đòi lại động Cư Lộng.


Đến năm Tân Mão (1471), sau sự kiện vua Lê Thánh Tông cầm quân tiến đánh bắt được vua Chămpa và chiếm một phần lãnh thổ của quốc gia này nhập vào Đại Việt, thì Ai Lao cũng như một số quốc gia lân cận khác đều nể sợ, phải cho sứ sang triều cống. Nhưng vài năm sau, Ai Lao lại phối hợp cùng Bồn Man xuất binh đánh sang biên giới phía Tây Đại Việt hòng chiếm lại phủ Trấn Ninh.


Bồn Man là bộ lạc người Thái thuộc Ai Lao do người dòng họ Cầm thay nhau làm hào trưởng. Bộ lạc này nằm tiếp giáp với biên giới phía tây và có mối quan hệ lâu đời với các bộ lạc người Thái của Đại Việt. Dưới các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Bồn Man vẫn thường sang triều cống nhà Lê. Tháng 7 năm Đinh Mão (1447), Bồn Man sai sứ mang voi và lễ vật sang công và xin với vua Lê Nhân Tông được nội thuộc vào Đại Việt. Năm Mậu Thìn (1448), nhà Lê chính thức sáp nhập đất Bồn Man vào Đại Việt và đổi thành châu Quy Hợp thuộc phủ Lâm An. Dòng họ Cầm vẫn truyền nối nhau được phong chức tước và cai quản bộ lạc của mình như cũ. Năm Bính Tý (1456), nhà Lê phong Cầm Công làm Trấn viễn thượng tướng quân và ban thưởng cho áo đoạn màu hồng dệt hoa kim tuyến, mũ cao sơn, đai thếp bạc, yên ngựa, ghế dựa, án thư... Đến đời Lê Thánh Tông, châu Quy Hợp được đổi thành phủ Trấn Ninh, gồm bảy huyện và bắt đầu đặt quan phủ huyện nhưng quyền lực vẫn thuộc về dòng họ Cầm. Dù vậy, nếu đến kỳ mà họ Cầm không chịu nộp cống phẩm, thì triều đình nhà Lê lập tức phái quân lên chinh phạt. Ví như, năm Canh Thìn (1460), họ Cầm không tiến cống, ngay cuối năm ấy, triều đình Lê cử Thái phó Lê Lựu, Thái bảo Lê Lăng thống lĩnh một đạo quân lên trấn áp.


Năm Kỷ Hợi (1479), Ai Lao cùng với Bồn Man lại mang quân đánh sang biên giới phía Tây Đại Việt, quyết chiếm lại vùng đất Trấn Ninh. Cuộc chiến giữa quân nhà Lê với liên quân Ai Lao - Bồn Man đã diễn ra.


Trước hiểm họa của đất nước, ngày 7 tháng 6 năm Hồng Đức thứ 10 (Kỷ Hợi - 1479), vua Lê Thánh Tông hạ chiếu chinh phục Bồn Man. Ngày 22 tháng 7, Thánh Tông hạ chiếu đánh Ai Lao. Theo đó, ngày 23 tháng 8, một đạo quân gồm 18 vạn, được chia làm năm mũi bắt đầu xuất phát tiến đánh sang Ai Lao.


Cả năm cánh quân sau khỉ vượt biên giới, cùng lúc tiến vào Kinh đô Lạn Xạng, nhanh chóng chiếm Kinh thành và tổ chức truy đuổi quân Ai Lao đến tận vùng biên giới Diến Điện. Quốc vương Ai Lao là Tia Ka Phát bỏ chạy về phía tây. Nhưng rồi trước dũng khí kiên cường chiến đấu bảo vệ đất nước của quân và dân Ai Lao (có nơi họ đã bỏ thuốc độc xuống giếng nước ăn hòng giết hại quân nhà Lê; Hoàng tử Thèn Kham cũng khẩn trương tập trung lực lượng, tổ chức phản công quân nhà Lê...) khiến quân nhà Lê phải nhanh chóng rút quân về nước.


Tháng 10 năm Hồng Đức thứ 10 (Kỷ Hợi - 1479), Lê Thánh Tông giao cho Quận công Lê Niệm chỉ huy 30 vạn quân tiến sang trừng phạt Bồn Man. Trước đạo quân hùng hậu của nhà Lê, Cầm Công thấy không thể chống cự nổi phải bỏ chạy và chết ngay sau đó. Lê Niệm cho quân lính đốt phá thành trì, tiêu huỷ hết lương thực, của cải tích trữ của người Thái khiến Bồn Man phải cử người đứng ra xin hàng. Triều đình nhà Lê phong cho một người trong dòng họ Cầm là Cầm Đông làm Tuyên úy đại sứ để cai quản người Thái, nhưng đặt quan phủ huyện trấn trị và kiềm chế cai quản chặt chẽ hơn trước.


Vậy là, công cuộc quật khởi của Bồn Man và công cuộc khôi phục lại một vùng đất đã bị sáp nhập vào Đại Việt của nước Ai Lao bị thất bại hoàn toàn. Đất Bồn Man trong suốt thời Lê Sơ là phủ Trấn Ninh gồm 7 huyện của nước Đại Việt, do họ Cầm thế tập làm tù trưởng dưới sự kiềm chế của những viên quan phủ do triều đình cử đến giám sát. Từ chỗ tù trưởng họ Cầm tự xin nội phụ, triều Lê đã dần sáp nhập hẳn đất Bồn Man vào lãnh thổ Đại Việt. Đây chính là nguyên nhân gây ra những cuộc xung đột ở biên giới phía Tây giữa giai cấp thống trị hai nước trong suốt thế kỷ XV.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2021, 08:19:12 am »

Từ những diễn tiến trong quan hệ với các quốc gia nói trên chúng ta thấy tư tưởng đối ngoại quân sự của nhà nước Lê Sơ nổi lên một số vấn đề sau:

Mục đích của chính sách ngoại giao trong thời kỳ đầu của vương triều là xác lập chủ quyền và vị thế của quốc gia đối với các nước xung quanh, nhất là đối với triều Minh, nước luôn có ý đồ xâm chiếm và cai trị nhân dân ta. Đồng thời phải tạo ra được môi trường thuận lợi để đất nước sinh tồn và phát triển, trong đó việc ngăn ngừa các cuộc chiến tranh, giữ vững và bảo toàn lãnh thổ được đặt lên hàng đầu.


Như vậy, phải trải qua một cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh với kẻ thù mạnh hơn gấp bội trong hàng chục năm mới giành lại được chủ quyền cho đất nước, độc lập tự do cho dân tộc, nên những người đứng đầu nhà nước Lê Sơ luôn nhận thức một cách sâu sắc về chủ quyền quốc gia, nền hoà bình và sự toàn vẹn của cương vực lãnh thổ. Lê Thái Tổ cùng các tướng lĩnh, quan lại của mình đã tìm nhiều giải pháp buộc triều đình nhà Minh phải công nhận quyền đứng đầu quốc gia Đại Việt của dòng họ Lê. Phải qua hàng chục năm đấu tranh gay gắt, đến năm Đinh Tỵ (1437), triều đình Lê Sơ mới đạt được kết quả như mong muốn. Triều đình nhà Minh từ chỗ chỉ chấp nhận phong Lê Thái Tổ là “Quyền thự An Nam quốc sự' đã phải phong “An Nam quốc vương” cho Lê Thái Tông vào năm Đinh Tỵ (1437), quan hệ hai nước được thiết lập theo truyền thống.


Bằng những sách lược khôn khéo, mềm dẻo trên cơ sở giữ vững nguyên tắc bảo toàn biên cương lãnh thổ, triều đình Lê Sơ đã làm tiêu tan ý đồ xâm chiếm Đại Việt của đế chế Minh trong suốt thời gian trị vì. Đây là thắng lợi quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước sau nhiều năm chiến tranh.


Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta đều biết phong kiến Trung Hoa đã từng thiết lập ách cai trị trên đất nước ta hàng ngàn năm. Sau khi Ngô Quyền đánh bại quân xâm lược Nam Hán (kháng chiến chống quân Nam Hán lần thứ hai), năm 938, lập ra nhà Ngô, mở đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài cho đất nước, cho tới thời Lê Sơ, chúng ta vẫn liên tục phải chống trả các cuộc xâm chiếm của phong kiến "Bắc triều". Có những triều đại phải nhiều lần đối chọi với các thế lực ngoại xâm như thời nhà Trần đã phải 3 lần chống quân Nguyên. Thế nhưng trong suốt trăm năm trị vì của nhà Lê Sơ, phong kiến phương Bắc không một lần xâm chiếm. Lý giải điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là dư âm của võ công đánh thắng các đạo quân tiếp viện hùng mạnh và ách đô hộ của nhà Minh cùng cách ứng xử nhân nghĩa đối với kẻ bại trận của quân dân ta khiến chúng vẫn phải kiêng nể. Khi các cuộc xung đột biên giới xảy ra, nhà Lê đã giải quyết mềm dẻo và kiên quyết cùng hệ thống phòng thủ vững chắc nên đã tránh được mầm hoạ của các cuộc chiến tranh. Sự vững mạnh về mọi mặt của đất nước cũng khiến kẻ thù không dễ gây hấn. Qua một số cuộc xung đột ở biên giới và cách giải quyết của triều Lê Sơ ở trên đã giúp cho chúng ta hiểu thêm được tư tưởng đối ngoại của triều dính được thực hiện theo một nguyên tắc không thay đổi là không để mất một tấc đất, một ngọn núi, con sông của ông cha để lại nhưng vẫn giữ được quan hệ hữu nghị, tôn trọng và không chịu bị nước lớn uy hiếp. Ngay cả khi phải dùng lực lượng quân sự chống trả, phòng vệ cũng vì mục đích “cốt giữ gìn đất đai, không gây hiềm khích”.


Cùng với đề cao cảnh giác và chủ động xử lý mềm mỏng nhưng cũng rất kiên quyết trong việc giành, giữ từng thước đất, ngọn núi, con sông của ông cha để lại đã trồ thành quan điểm tư tưởng chỉ đạo thường xuyên và thống nhất trong suốt triều đại Lê Sơ. Đất nước trong một thế kỷ tồn tại của vương triều Lê Sơ đã không xảy ra chiến tranh lớn, lãnh thổ quốc gia được giữ vững. Điều đó góp phần quan trọng để Đại Việt phát triển vững chắc và ổn định trong thế kỷ XV.


Yêu cầu đặt ra đối với vương triều Lê Sơ trong thế kỷ XV là giữ vững chủ quyền dân tộc, bảo toàn lãnh thổ quốc gia. Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, triều đình đã có nhiều chủ trương, chính sách trên lĩnh vực quân sự nhằm tạo ra một lực lượng quân sự và tiềm lực quốc phòng vững mạnh nhằm duy trì trật tự an ninh quốc gia, phá tan các hành động xâm phạm lãnh thổ, ngăn ngừa chiến tranh, duy trì một nền hoà bình trong suốt một thế kỷ.


Từ thực tiễn lịch sử đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng đất nước đầy gian lao và anh dũng của dân tộc ta dưới thời Lê Sơ có thể khẳng định rằng: cũng như các triều đại phong kiến Việt Nam trước và sau đó, tư tưởng quân sự triều Lê Sơ là “sản phẩm” nằm trong hệ tư tưởng quân sự của dân tộc trong đó có những nội dung được kế thừa của các triều đại phong kiến trước đó một cách có chọn lọc, phát triển lên một đỉnh cao mới; có những nội dung được hình thành trong điều kiện lịch sử riêng biệt của thời kỳ này. Tất cả được đúc kết thành những tư tưởng quân sự của vương triều Lê Sơ - một vương triều hưng thịnh của chế độ phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam với những đặc trưng riêng biệt. Trong đó nổi bật nhất là: Tư tưởng kết hợp “kiến quốc” với “vệ quốc”, (kết hợp xây dựng với bảo vệ đất nước); Tư tưởng xây dựng quân đội tập trung thống nhất, vững mạnh để giữ nước; Tư tưởng tích cực chủ động, phòng giữ biên cương, thực hiện “biên phòng hảo vị trù phương lược"; Tư tưởng đối ngoại quân sự khôn khéo để giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đây thực sự là những nhân tố rất quan trọng góp phần tạo nên sự vững mạnh của triều Lê Sơ; đồng thời tiếp tục phát triển và làm phong phú thêm nội dung của lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:01:26 pm »

Chương II
I- KHÁT QUÁT TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ THỜI LÊ - MẠC VÀ
TRỊNH - NGUYỄN PHÂN TRANH


Trong tiến trình lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng, giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, tức là từ khi Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê lập ra triều Mạc (1527) cho đến trước sự bùng nổ của phong trào nông dân Tây Sơn (1771), là một giai đoạn khá đặc biệt.


Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung phế truất Hoàng đệ Xuân, tự làm vua, lập ra triều Mạc. Ngay sau đó, các cựu thần nhà Lê tập hợp quần chúng, lập ra triều đình riêng mong duy trì và “trung hưng” nhà Lê, dần chiếm lĩnh được miền đất từ Thanh Hoá trở vào, đối chọi với triều đình nhà Mạc ở Thăng Long. Chiến tranh Nam triều (triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá) - Bắc triều (triều đình nhà Mạc ở Thăng Long) tranh giành quyền thống trị đất nước diễn ra suốt gần một thế kỷ. Năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng dẫn quân Nam triều đánh bật quân Mạc ra khỏi Thăng Long, đẩy vương triều Mạc thoái lui lên Cao Bằng cố thủ.


Vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều, đất nước ta lại bước vào một cuộc xung đột mới. Năm Đinh Mão (1627), Trịnh Tráng “phò” vua Lê dẫn quân tiến đánh con cháu Nguyễn Hoàng ở Thuận Quảng - chiến tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ. Cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài từ năm 1627 đến năm 1672, với 7 lần giao chiến lớn, nhưng không phân thắng bại. Năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh và chúa Nguyễn đi đến thoả thuận lấy sông Gianh làm giới tuyến phân chia đất nước thành hai “quốc gia” riêng biệt, phía Bắc thuộc quyền cai trị của tập đoàn phong kiến họ Trịnh gọi là Đàng Ngoài, phía Nam thuộc quyền cai trị của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn gọi là Đàng Trong.


Ngọn lửa binh đao “huynh đệ tương tàn” phân chia quyền lực phong kiến vừa dịu xuống thì khởi nghĩa nông dân bắt đầu nổi lên. Phong trào mở rộng trên phạm vi cả nước với sự tham gia của nhiều tầng lớp, lực lượng. Cuộc đấu tranh của nhân dân lao động bùng phát dữ dội vào nửa đầu thế kỷ XVIII và đạt đỉnh điểm là phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ năm 1771.


Có thể nhận thấy nét nổi bật trong bối cảnh đất nước từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII là sự “đứt gãy” của chế độ phong kiến Việt Nam - sự phân chia phạm vi thống trị của các tập đoàn Mạc, Lê - Trịnh, Nguyễn, với những thể chế chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội khác nhau; và hoạt động quân sự diễn ra triền miên, hết sức cam go và khốc liệt giữa các tập đoàn phong kiến với nhau là nét đặc trưng nổi bật nhất trong thời kỳ lịch sử này.

1. Những biến đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội

a) Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội triều Mạc

Trong suốt thời gian tồn tại ở Đông Đô (1527-1592) và Cao Bằng (1592-1677), nhà Mạc tuân thủ chế độ truyền ngôi theo dòng đích. Mạc Đăng Dung lên ngôi tháng 6 năm Đinh Hợi (1527). Đến tháng chạp năm Kỷ Sửu (1529), ông quyết định truyền ngôi cho con trưởng là Mạc Đăng Doanh, lên làm Thái Thượng hoàng. Một mô hình đã từng xuất hiện và kiểm chứng có hiệu quả qua thực tiễn xã hội Đại Việt dưới triều Trần khi đất nước phải đương đầu với hiểm họa ngoại xâm một lần nữa được lặp lại vào thời đầu triều Mạc.

PHẢ HỆ TRIỀU MẠC

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM