Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:47:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 2  (Đọc 18434 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:03:11 pm »

Trong buổi đầu thành lập, triều Mạc vừa cố gắng thiết lập, củng cố bộ máy chính quyền, kỷ cương xã hội, đồng thời tìm cách dung hòa các mâu thuẫn trong nội tại đất nước.


Mùa xuân năm Mậu Tý (1528), Mạc Đăng Dung phong trật, ban tước cho 56 người. Qua đợt thăng trật này cho thấy quan chức của triều Mạc cũng gồm đủ các ban văn võ như triều Lê Sơ. Các chức quan và các ty hiệu vẫn dùng như cũ. Cơ cấu quan triều Mạc có Tam Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo), ở giai đoạn đầu, nhiều chức quan này nguyên là triều thần nhà Lê như Nguyễn Quốc Hiến làm Phò mã Thái bảo Lâm Quốc công, Mạc Quốc Trinh làm Thái sư Lân Quốc công, Nguyễn Thì Ung làm Thiếu bảo Thông Quốc công,... Quan hàng võ thì có Đô chỉ huy sứ, Đô chỉ huy đồng tri, Đô chỉ huy thiêm sự.


Từ cuối năm Mậu Tý (1528), triều Mạc đã thực thi một loạt cải cách về chế độ binh bị, ruộng đất, quan chức, hành chính.

Các đơn vị hành chính cơ bản vẫn giữ như thời Lê, với hệ thống các đạo như thời Lê Thánh Tông (1460-1497). Cấp đạo có Giám sát ngự sử, Tham chính; cấp phủ có Phủ sĩ. Cấp huyện có Huyện thừa, Tri huyện; cấp tổng có Tổng chính, Trùm tổng. Cấp xã có Xã sử, Xã chính, Xã quan, Câu đương...


Cũng như các triều đình phong kiến khác, với quan niệm “phi nông bất ổn”, nhà Mạc thực thi nhiều chính sách coi trọng nông nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng song song tồn tại ruộng công, ruộng tư, tình trạng “biến ruộng công thành ruộng tư” vốn đã tiềm tàng, thường trực, đến đây càng có điều kiện bùng phát. Ruộng đất công làng xã thời Mạc không còn bao nhiêu và cũng không còn quỹ ruộng công để thực hiện chính sách quân điền.


Thực trạng xã hội ấy khiến nhà Mạc ngay từ khi mới thành lập đã phải đối diện cùng một lúc với nhiều mâu thuẫn không dễ giải quyết. Một mặt phải kéo được nông dân trở về với làng xã, với ruộng đất để ổn định nông nghiệp, nông thôn sau gần 20 năm liên miên nội chiến phe phái. Mặt khác, phải tăng cường xây dựng và củng cố chỗ dựa trực tiếp của chính quyền là đội ngũ võ tướng, binh lính với số lượng khá lớn đã có công giúp họ Mạc đánh dẹp các thế lực đối địch, thâu tóm được quyền hành thống trị đất nước.


Trong suốt thời Mạc, quá trình thực hiện chế độ lộc điền, ruộng thế nghiệp, phân điền được phép tự do mua bán, chuyển nhượng, cúng tặng chứng tỏ sự phát triển của chế độ ruộng tư hữu khá tự do.


Bên cạnh chính sách nông nghiệp, Mạc Đăng Dung cho đúc tiền Thông Bảo theo kiểu đồng tiền cũ, rồi lại cho đúc các loại tiền gián pha kẽm và sắt ban hành thông dụng khắp các xứ trong nước phục vụ cho việc buôn bán.


Buổi đầu mới thành lập, khi chưa bị cuốn vào cuộc nội chiến triền miên với Nam triều, nhất là từ nửa cuối thế kỷ XVI, trên địa bàn chủ yếu ở vùng châu thổ Bắc Bộ, kinh tế nông nghiệp được phục hồi, nông thôn yên ổn. Các sử thần triều Lê dù không thiện cảm với nhà Mạc cũng phải ghi nhận: thường được mùa to, trong cõi tạm yên với cảnh tượng, nhịp sống, sản xuất rất an bình: không có trộm cướp, trâu bò thả không phải đem về, chỉ mỗi tháng điểm soát một lần, đêm ngủ cổng ngoài không đóng... Vùng đất quê hương của nhà Mạc là Cổ Trai - Nghi Dương được nâng lên cấp thành Dương Kinh. Sau khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, cùng lợi thế tự nhiên cửa sông, ven biển thông thoáng giao thương, vùng Nghi Dương có thêm những điều kiện chính trị, kinh tế để triều đình Mạc đầu tư thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn ở ven biển. Tại vùng Dương Kinh, nhà Mạc đã cho đào đắp, nắn uốn một loạt các dòng kênh để thuận tiện đỉ lại, dẫn nước vào đồng; mặt khác tiến hành đắp đê Chân Kim, đê Kinh Điền (vùng Kiến Thụy, An Lão thuộc Hải Phòng)... Sự phát triển của vùng trung tâm Dương Kinh kéo theo sự khởi sắc của các huyện xung quanh như Tân Minh, Vĩnh Lại, Thủy Đường (vùng Tiên Lãng, An Lão, Vinh Bảo, Thủy Nguyên thuộc Hải Phòng), Thanh Lâm (Thanh Hà thuộc Hải Dương) với nhiều công trình xây dựng, mở mang (ngày nay còn lại một loạt dấu tích như thành lũy, kênh triều, bãi, đê, đường mang tên nhà Mạc ở vùng An Lão, Thủy Nguyên).


Tuy nhiên, thời gian yên bình đó không kéo dài; bởi, ngay từ khi ra đời, nhà Mạc đã phải lo đối phó vối thế lực Lê - Nguyễn Kim ở phía Nam, tiếp đó là cuộc nội chiến triền miên đã tác động xấu đến đời sống của nông dân làng xã, tàn phá và kìm hãm sức sản xuất nông nghiệp.


Bên cạnh đó, dưới thời Mạc, thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng có sự chấn hưng một bước. Đây vốn là những ngành, nghề truyền thống quen thuộc gắn liền với lợi thế của điều kiện tự nhiên, môi trường vùng châu thổ sông Hồng - địa bàn căn bản của họ Mạc, nổi bật nhất là sản xuất gốm, sứ và tơ lụa. Các làng sản xuất gốm sứ từ các thế kỷ trước như có sức bật mới, vươn lên với hai trung tâm: Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và Chu Đậu (Thái Tân, Nam Sách, Hải Dương). Trong thời gian này dẫu tình hình chính trị của Đại Việt hết sức phức tạp, không thuận lợi cho việc duy trì, mở rộng quan hệ bang giao, trao đổi mậu dịch chính thức giữa nhà Mạc với các nước trong khu vực và quốc tế, nhưng thông qua con đường giao thương dân gian, cùng với gốm, sứ đã có một lượng lớn tơ lụa được đưa tới Malacca bởi người Cochinchinese1 (Xem Momoki Shiro: Đại Việt và thương mại ở biển Đông từ thế kỷ X đến XV, Kỷ yếu hội nghị khoa học Đông Á, Đông Nam Á - những vấn đề lịch sử và hiện tại, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2004, tr. 324).


Các vua triều Mạc đặc biệt chú trọng giáo dục và thi cử Nho học. Trong hơn 60 năm tồn tại, nhà Mạc đã tổ chức 22 kỳ thi Hội, tuyển chọn được 485 tiến sĩ các hạng, trong đó có 13 trạng nguyên (mặc dù chỉ chiếm 7% về thời gian, nhưng về số lượng đã chiếm tới 16% số tiến sĩ, gần 28% số trạng nguyên trong toàn bộ lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam từ năm 1075 đến năm 1919). Hai năm sau ngày thành lập, triều Mạc tổ chức kỳ thi đầu tiên (1529). Từ đó hầu như đều đặn 3 năm một lần, nhà Mạc tổ chức kỳ thi Hội. Trong khi cùng thời, mãi đến năm 1554 chính quyền Lê - Trịnh mới đặt chế khoa và đến năm 1580, mới bắt đầu tổ chức thi Hội. Vậy là, sau triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497) thì chỉ duy có triều Mạc tổ chức được các kỳ thi Hội đều đặn như vậy.


Từ Mạc Đăng Dung đến các vua về sau vẫn chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Khổng, vào kết quả thi cử Nho học để hoạch định chính sách và tuyển dụng quan lại các cấp. Chính sách và các hoạt động văn hóa, giáo dục tích cực của triều Mạc đã tiếp tục kích thích, lôi cuốn và định hướng lập thân cho đông đảo sĩ tử Đại Việt, góp phần tạo ra cho triều Mạc nói riêng, Đại Việt nói chung những trí thức Nho học, những nhà giáo dục xuất sắc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiến, Giáp Hải... Cũng chỉ dưới thời nhà Mạc, lần đầu tiên, duy nhất trong lịch sử, thi cử Nho học cấp cao nhất ở Đại Việt đã xuất hiện nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ1 (Về tên gọi của nữ Tiến sĩ này, các nguồn tài liệu ghi khác nhau: Hải Dương phong vật chí, ký hiệu A.882, ghi bà còn có các tên là Duệ, Du, Toàn. Chí Linh phong vật chí ghi tên là Nguyễn Thị Duệ. Chí Linh phong cảnh - VHv.167, bia Lập cử tự bi năm 1653, ký hiệu N.19543-19544 ghi tên là Nguyễn Thị Ngọc Toản).


Với quá trình tổ chức thi cử và các hoạt động thực tế trên, chứng tỏ dưới triều Mạc, Nho giáo luôn được đề cao, là tư tưởng chính thống, rường cột của hệ thống chính trị quân chủ. Nho giáo tiếp tục đóng vai trò độc tôn trong giáo dục khoa cử của Đại Việt.


Ngay từ khi nhà Mạc lên nắm quyền, rồi triều Lê Trung hưng thành lập, đất nước bị chia cắt, trí thức Nho học buộc phải đối mặt trước sự kiểm nghiệm nguyên tắc chính danh và lòng trung thành của kẻ thần tử: hoặc chống lại nhà Mạc, hoặc đi theo nhà Mạc. Chọn cách đầu tiên không nhiều, chỉ có một số trí thức Nho học hàng đầu từ cuối thời Lê Sơ như Trạng nguyên Lại bộ Thượng thư Trình Khê hầu Vũ Duệ, Bảng nhãn Ngô Hoãn, Tiến sĩ Đàm Thân Huy. Trong khi đó hàng loạt trí thức trưởng thành cuối thời Lê Sơ, sang thế kỷ XVI lại chọn cách thứ hai, vượt qua nguyên tắc tối thượng được tiếp nhận từ kinh điển Nho giáo “Trung thần bất sự nhi quân” đã đi theo nhà Mạc như: Hoàng giáp Vũ Hữu, Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, Bảng nhãn Hứa Tam Tỉnh, Thám hoa Trần Phỉ, các Tiến sĩ Nguyễn Mậu, Đào Nghiễm, Nguyễn Bạt Tụy, Nguyễn Trọng Hiền. Trong số 56 đại thần được phong đợt đầu tiên như là những công thần khai sáng triều đại không chỉ là quan lại cũ triều Lê mà tuyệt đại là kẻ Nho học (văn quan). Song mặt khác của cách hành xử này là: không ít các bậc đại thần của triều Mạc lại chạy vào Thanh Hóa theo nhà Lê - Trịnh như Lê Bá Ly, Lê Khắc Thận, Nguyễn Khắc Thiến; ngược lại, cũng có nhiều trí thức Nho học từ triều Lê - Trịnh chạy sang phụng sự triều Mạc: Nguyễn Quyện, Nguyễn Miên; hoặc lúc theo Mạc, lúc quay về với Lê - Trịnh: Nguyễn Khải Khang, Đặng Huấn...


Như vậy, trên thực tế, hệ thống trụ cột căn bản, thống nhất “tam cương, ngũ thường” của giáo lý Nho giáo đã bị đổ vỡ, bị vượt qua ở khâu đầu tiên quan trọng, đã bộc lộ sự bất lực trước việc giải quyết cuộc khủng khoảng chính trị - xã hội đương thời.


Trong khi Nho giáo bị lâm vào tình cảnh như vậy, thì Phật giáo lại có đà hưng khỏi, lan tỏa trên hầu khắp các địa bàn và trong nhiều tầng lớp xã hội. Nhiều ngôi chùa lớn từ các thế kỷ trước như Phật Tích, Bút Tháp, Vĩnh Nghiêm, Luy Lâu (thuộc Kinh Bắc), Quỳnh Lâm, Sùng Quang, Đông Sơn (thuộc Hải Dương) được trùng tu; nhiều chùa mới được xây dựng, trong đó có không ít chùa do các hoàng thân, hoàng tộc của họ Mạc, họ Lê - Trịnh, quan lại các cấp góp tiền của.


Thế kỷ XVI cũng là thời kỳ thể hiện rõ rệt của Đạo giáo ở Đại Việt. Một số quán đạo giáo được xây dựng hoặc trùng tu: quán Thụy Ứng (Hải Dương) được tu sửa năm Ất Sửu (1565); quán Tiên Phúc (Hải Dương) được xây dựng, quán Linh Tiên (xã Cao Xá, Hà Tây) được tu sửa vào năm Giáp Thân (1584); quán Viên Phương (Hà Tây) sửa năm Kỷ Sửu (1589); quán Chân Thánh (Hải Dương) sửa năm Tân Mão (1591)... Đây chính là sự trở lại, tìm về cội nguồn, đồng thời thể hiện sự phong phú, đa dạng, cỏi mở của tư tưởng, tín ngưỡng thời Mạc.


Bên cạnh những tôn giáo quen thuộc nhiều thế kỷ với xã hội Đại Việt, một tôn giáo hoàn toàn mới mẻ đối với phương Đông cũng du nhập vào Đại Việt thời Mạc là đạo Thiên Chúa. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, ngay từ năm Quý Tỵ (1533), một giáo sĩ Bồ Đào Nha tên là Y Nê Khu đã “lén đến giảng đạo ở Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ (Nam Định)”. Tuy nhiên, do không biết tiếng Việt, chưa có kinh nghiệm nên hoạt động truyền giáo ở thế kỷ này chưa đạt kết quả.


Tất cả những thể hiện của đời sống, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng (Nho giáo, Phật giáo, Đạo)... đã chứng tỏ xã hội Đại Việt đến thế kỷ XVI đã có sự chuyển biến căn bản, rõ nét trước hết về tư tưởng. Xu hướng “tam giáo đồng tôn” vốn đã có từ những thế kỷ trước ngày một tăng cường với những nét khác biệt. Có thể nhận thấy, xã hội thời Mạc, khi đã trải nghiệm thậm chí bằng máu lửa giáo lý mấu chốt trong hệ tư tưởng đạo Nho, đã thức tỉnh một tư tưởng thực tiễn sâu sắc; và một phần nào đó có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng quân sự.


Về văn học, thế kỷ XVI vắng dần những tác phẩm văn học đề cao công đức vua, ca tụng triều đình, mà tập trung vào phản ánh hiện thực cuộc sống, những trăn trở, suy tư của trí thức về thời đại, gần gũi với tiếng nói của nhân dân, phản ánh những bất công xã hội vốn khơi nguồn, dắt dẫn bền bỉ từ cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI đã bùng lên mạnh mẽ với Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng, Đào Duy Từ. Văn thơ Nôm trở nên phổ biến hơn. Cũng với những nhà trí thức, văn hóa trên có người đã trở thành những nhà tư tưởng quân sự xuất sắc.


Vậy là, lợi dụng sự suy yếu toàn diện của bộ máy chính quyền trung ương cuối thời Lê Sơ, Mạc Đăng Dung đã nổi dậy lật đổ triều Lê, dựng nên triều Mạc là một tất yếu lịch sử. Nhưng rồi triều Mạc cũng không có đủ thời gian và điều kiện cần thiết để giải quyết một cách triệt để những mâu thuẫn của xã hội đương thời. Và kết cục là triều Mạc lại mở đầu cho cục diện bi thương của quốc gia, dân tộc: nội chiến Nam triều - Bắc triều, rồi tiếp đến là Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài hơn hai thế kỷ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:04:48 pm »

b) Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Đàng Ngoài

Thời Lê - Trịnh (gần trùng với triều Lê Trung hưng1 (Lê Trang Tông lên ngôi măm 1533. Trịnh Kiểm thống lĩnh binh quyền năm 1545. Chính quyền Lê-Trịnh sụp đổ năm 1789)) tồn tại xấp xỉ 250 năm - triều đại phong kiến dài nhất trong lịch sử Việt Nam, trên địa bàn lãnh thổ xứ Đàng Ngoài (từ sông Gianh thuộc Quảng Bình trở ra Bắc).


Dưới thời Lê - Trịnh, triều đình trải qua 17 đời vua Lê và 12 đời chúa Trịnh2 (17 đời vua Lê là: Trang Tông (1533-1548), Trung Tông (1549-1556), Anh Tông (1557-1573), Thế Tông (1573-1600), Kính Tông (1600-1619), Thần Tông (1619-1643), Chân Tông (1643-1649), Thần Tông - lần 2 (1649-1662), Huyền Tông (1663-1671), Gia Tông (1672-1675), Hy Tông (1676-1705), Dụ Tông (1705-1729), Lê đế Duy Phường (1729-1732), Thuần Tông (1732-1735), Ý Tông (1735-1740), Hiển Tông (1740-1786), Mẫn Đế - Chiêu Thống (1787-1788). 12 đời chúa Trịnh là: Trịnh Kiểm - Thái Vương (1545-1569), Trịnh Tùng - Bình An Vương (1570-1623), Trịnh Tráng - Thanh Đô Vương (1623-1657), Trịnh Tạc - Tây Đô Vương (1657-1682), Trịnh Căn - Định Vương (1682-1709), Trịnh Cương - An Đô Vương (1709-1729), Trịnh Giang - Uy Nam Vương (1729-1740), Trịnh Doanh - Minh Đô Vương (1740-1767), Trịnh Sâm - Tĩnh Đô Vương (1767-1782), Trịnh Cán - Điện Đô Vương (1782), Trịnh Khải (1782-1786), Trịnh Bồng - Án Đô Vương (1787-1788)). Các chúa Trịnh đều được phong tước Vương, thế tập cha truyền con nối. Riêng chúa đầu tiên - Trịnh Kiểm, lúc sống chỉ được mang tước Công (sau khi chết mới được truy phong tước Vương). Những chúa Trịnh trong thời gian đầu đều là những võ tướng và những nhà chính trị tài giỏi, có bản lĩnh, tuổi thọ cao.


Dưới thời Lê - Trịnh, các chúa Trịnh (Vương Phủ) luôn tồn tại bên cạnh vua Lê (triều đình, triều đường). Từ chỗ mang danh nghĩa "phù Lê", chúa Trịnh đã tiến lên nắm giữ thực quyền, vua Lê chỉ là "biểu tượng tinh thần" của quốc gia. Trong chế độ quân chủ tuyệt đối ở Việt Nam, cục diện vua Lê - chúa Trịnh là một hiện tượng độc đáo, chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong lịch sử. Dù vậy cũng không nên cường điệu sự “chuyên quyền” và “bù nhìn”, nhấn mạnh tính chất mâu thuẫn, đối lập giữa hai thiết chế, hai ngôi vị mà không kể đến hoặc coi nhẹ sự chênh lệch, xung đột về tính cách và năng lực của những cá nhân cụ thể.


Các vua thời Lê Trung hưng thường được đưa lên ngôi từ khi còn ít tuổi và cũng thường mất sớm. Trong khi đó, các chúa Trịnh (nhất là trong thời gian đầu) lại từng là những võ tướng xông pha chiến trận hoặc là những vị chúa già dặn kinh nghiệm nơi chính trường. Trong hoàn cảnh đó, sự trội vượt về uy thế của chúa Trịnh đối với vua Lê là điều có thể hiểu được. Sự tồn tại của phủ chúa Trịnh bên cạnh triều đình vua Lê nên được coi là sự điều phối giữa hai thiết chế và hai phương thức điều hành của một chính quyền thống nhất hơn là sự song song tồn tại và tranh chấp giữa hai quyền lực riêng rẽ.


Mặt khác, trên thực tế, chúa Trịnh và vua Lê đã có nhiều lợi ích chung để liên kết, gắn bó với nhau trên nhiều khía cạnh. Cùng chung quê hương, cùng nương tựa nhau khởi dựng sự nghiệp, quan hệ hôn nhân ràng buộc bền chặt1 (Các Thái tử vua Lê thường được sắp xếp lấy các quận chúa họ Trịnh. Lê Kính Tông lấy Trịnh Thị Ngọc Trinh, con gái Trịnh Tùng; Lê Thần Tông có mẹ đẻ (Đoan từ Thái hậu) và vợ (Trịnh Thị Ngọc Trúc) là chị em và con gái của Trịnh Tráng). Phan Huy Chú kết luận: “Không chỉ có riêng một vua, cũng không chỉ có riêng một chúa, nhưng quyền lực của cả hai người bao trùm thiên hạ”2 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.1, tr. 41). Bùi Sĩ Tiêm nhấn mạnh: “Nhà vua và nhà chúa như bánh xe và thân xe nương tựa nhau, như cột nhà với kèo nhà cùng chống đỡ, phải nên giúp nhau như cùng một thân thể”3 (Đại Việt sử ký tục biên, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2011, tr. 121). Cặp vua Lê Thần Tông - chúa Trịnh Tráng có thể coi là một mẫu mực điển hình cho mối quan hệ tốt đẹp và sự phối hợp gắn bó trong công việc trị nước lúc đó.


Triều đình và phủ chúa là hai thiết chế tối cao của hệ thống chính quyền Lê - Trịnh. Vua Lê đứng đầu triều đình, thường xuyên ở cung cấm bên trong Hoàng thành, rất ít khi đi ra ngoài, trừ những dịp phải tiến hành các đại lễ (tế Nam Giao, lễ Tịch Điền, tế Giám...). Vua truyền ngôi cho con trai (Thái tử), lúc còn ít tuổi được dạy dỗ, huấn luyện ở Đông cung. Chúa Trịnh đứng đầu Vương phủ, sống ở phủ chúa Trịnh bên ngoài phía đông nam Hoàng thành. Các chúa Trịnh mang tước vương, được quyền thế tập, truyền ngôi vị cho con trai (Thế tử), người này cũng có phủ đệ riêng (Lượng phủ).


Vua Lê được nhà Thanh (Trung Quốc) công nhận làm An Nam quốc vương, còn chúa Trịnh làm An Nam phó quốc vương.


Triều đình vua Lê có vai trò, chức năng của một “Hội đồng nhà nước” mở rộng. Một tháng hai kỳ (ngày sóc - mùng một, ngày vọng - rằm âm lịch) và những dịp đại lễ vua Lê họp chầu ở điện Thị triều trong Cung thành, triệu tập đông đảo các quan đến dự, nghi thức rất long trọng. Chúa Trịnh ngồi bên tả, ngang hàng cạnh vua Lê, nhưng bệ ngồi thấp hơn. Vua Lê ngự trên ngai vàng, nghe tấu sớ, ban thưởng phạt, sai công bố những chiếu dụ nêu lên những đường hướng chính trong công việc trị nước.


Phủ chúa có chức năng một “chính phủ hành pháp”, bàn bạc cụ thể những chủ trương, chính sách, các biện pháp tổ chức và thực thi điều hành. Hằng tháng, chúa Trịnh chủ tọa chín phiên họp, số lần họp nhiều hơn nhưng thành phần họp ít hơn bên triều đình. Vua Lê không tham dự các buổi họp này.


Triều đình được chia thành hai ban: Văn ban (đứng đầu là Quốc sư hay Chính đường) và Võ ban (đứng đầu là Tiết chế, thường do Thế tử đảm nhận, hoặc Đại tư đồ, thường giao cho Hoàng tử1 (Về sau có thêm Giám ban (hoạn quan))). Thông thường, các chức quan cao cấp này do các quan đứng đầu bên phủ chúa kiêm nhiệm.


Trong triều, có Lục bộ (6 bộ): bộ Lại (coi về tổ chức, quan lại), bộ Hộ (kinh tế, tài chính), bộ Lễ (lễ nghi, ngoại giao, giáo dục), bộ Binh (việc quân binh), bộ Hình (tư pháp), bộ Công (công việc xây đắp, thợ thuyền). Đứng đầu bộ là Thượng thư, giúp việc có Tả Hữu Thị lang, dưới có Lang trung, Viên ngoại, Tư vụ (ghi chép, chuyển gửi các văn bản giấy tờ) và một số Lại sử.


Cơ quan cấp cao lãnh đạo bên phủ Chúa là Ngũ phủ Phủ liêu, đứng đầu là hai quan võ Ngũ phủ (Chưởng phủ hoặc Thự phủ, Quyền phủ) và hai quan văn phủ liêu (Tham tụng, Bồi tụng).

Lục phiên của phủ Chúa được thành lập bên cạnh và tương ứng với Lục bộ của triều đình.

Lục bộ và Lục phiên được phối hợp phân công trách nhiệm theo lĩnh vực, vừa theo địa vực. Nhìn chung, triều đình và các bộ chịu trách nhiệm chính trong các công tác ngoại giao (đón tiếp sứ thần), lễ nghi (tổ chức nghi thức tế lễ), giáo dục (trông nom việc học hành và tổ chức các kỳ thi). Trong khi đó, phủ Chúa và các phiên đặc trách về quân sự (xây dựng quân đội, chỉ huy tác chiến), kinh tế - tài chính (thu thuế, phụ trách ngân sách, giữ và chi tiền), nhân sự (sắp xếp tướng sĩ, quan chức cấp cao).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:05:40 pm »

Bộ và phiên cùng được phân công phụ trách theo khu vực (địa bàn phụ trách gọi là Cung), cai quản chính sự như các việc tài chính, thuế, hộ khẩu, quân lính, dân sự.


Tổ chức hành chính địa phương thời Lê - Trịnh kế thừa thời Lê Sơ. 13 Thừa tuyên cũ được đổi thành 13 Trấn (còn gọi là Đạo hay Xứ, cũng có khi lấy lại tên cũ là Thừa tuyên). Trong đó bốn nội trấn quanh kinh thành (tứ trấn) là: Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Nam. Kinh đô Thăng Long là phủ Phụng Thiên trực thuộc triều đình, có hai huyện là Vĩnh Xương (sau là Thọ Xương) và Quảng Đức (sau là Vĩnh Thuận), bao gồm 36 phường.


Đứng đầu mỗi trấn là Trấn thủ hay Đốc trấn (ở những trấn biên giới như Nghệ An, Cao Bằng, Lạng Sơn) thường do một võ quan cao cấp đảm nhiệm. Điều đó nói lên ưu thế của giới quân sự trong bộ máy chính quyền Lê - Trịnh. Trong trấn, có ba ty là: Trấn ty (Đô ty trước kia đổi thành, phụ trách quân sự), Thừa ty (phụ trách các vấn đề chính trị, kinh tễ) và Hiến ty (phụ trách tư pháp, giám sát). Dưới Trấn thủ có các chức Đốc đồng (ở trấn lớn là Đốc thị), Tuần phủ. Các đơn vị hành chính dưới trấn là phủ (miền núi gọi là châu), huyện, xã. Đứng đầu Kinh đô Thăng Long (phủ Phụng Thiên) là các chức quan Phủ doãn (phụ trách chung về chính trị, kinh tế) và Đề lĩnh (phụ trách công việc trật tự trị an). Xã là đơn vị hành chính cơ bản nhỏ nhất.


Ngoài cơ cấu quan chế ở trung ương và địa phương, thời Lê - Trịnh còn có một số cơ quan chuyên môn, như Ngự Sử đài (có chức năng can gián vua, đàn hặc các quan, xét lại các vụ kiện lớn), Hàn Lâm viện (khởi thảo các chế, biểu, văn kiện), Thái Y viện (cơ quan chăm sóc sức khoẻ cho vua chúa), Quốc Sử quán (cơ quan chép sử),


Quốc Tử Giám (coi sóc Văn Miếu, giảng dạy, rèn tập sĩ tử), Tư Thiên giám (cơ quan làm lịch)... Các cơ quan này do các nho sĩ, trí thức đảm nhận, công việc ít phức tạp, bận rộn hơn các cơ quan quản lý, đời sống quan chức cũng thanh bạch hơn.


Cũng giống như các triều đại khác, các quan chức Lê - Trịnh xuất thân từ nhiều con đường khác nhau. Thời gian đầu, con em họ hàng và người đồng hương với chúa Trịnh, dựa theo chế độ nhiệm tử tập ấm và tiêu chuẩn thân (thân thuộc), huân (công trạng) đã nắm giữ nhiều chức quan trọng trách. Nhà nước cũng thi hành nhũng chế độ tiến cử (giới thiệu người có thực tài, không kể danh phận), bảo cử (đề nghị người có danh vọng, khoa bảng, cho làm quan những người đã hiến nộp cho nhà nước thóc gạo, quân nhu (diêm tiêu, lưu huỳnh, tiền của)). Trong thời kỳ sau, áp dụng phổ biến chế độ dùng khoa cử để tuyển lựa quan lại. Các quan chức thời Lê - Trịnh cũng chịu một sự kiểm soát nghiêm ngặt từ trên xuống qua các đợt khảo khoá định kỳ (kiểm điểm thành tích để thăng, giáng). Sự giám sát từ dưới lên đối với quan lại thông qua dư luận (lấy ý kiến dân chúng) có được tiến hành trong các năm Ất Tỵ (1725), Nhâm Tý (1732), Nhâm Tuất (1742)..., nhưng hời hợt và ít có hiệu quả.


Với thi cử Nho học, bắt đầu từ năm Tân Mão (1711), triều đình Lê - Trịnh chỉnh đốn lại thể thức ra đề thi hương. Đối với trường Quốc học, nhà nước dùng Tế tửu và Tư nghiệp giữ chức quan giảng dạy. Con cháu các công thần văn võ đều được học cùng với các học trò khác. Mỗi tháng có một kỳ tiểu tập thi khảo hạch học trò do giáo thụ và học chính phụ trách. Bốn tháng (tháng hai, tháng năm, tháng tám, tháng mười một) có kỳ đại tập, thi khảo học sinh hương công. Người nào trúng cả 4 kỳ đại tập trên, được quan Quốc Tử Giám bảo cử. Bộ Lại sẽ theo thứ tự cất nhắc, bổ dụng. Với trường hương học, hiệu quan chuyên giữ việc dạy bảo sinh đồ và đồng sinh có tài trí trong phạm vi phủ. Mỗi năm có 2 kỳ thi khảo. Ai trúng 8 kỳ thi sinh đồ thì được miễn các kỳ thi khảo; hằng năm đồng sinh thì sẽ được thi hương. Số lượng người được thi hương với huyện lớn là 200 người, huyện vừa là 150 người và huyện nhỏ là 100 người. Quan huyện phúc khảo chọn lấy người trội nhất; quan phủ và hai ty Thừa chính, Hiến sát phúc khảo để phân thành hạng sảo thông, thứ thông. Học trò nếu chưa vừa lòng, cho phép được khiếu nại, so sánh kết quả xếp hạng trên.


Luật pháp thời Lê Trung hưng là sự tiếp nối và phát triển của luật pháp thời Lê Sơ, qua các thời kỳ có điều chỉnh và bô sung một số luật và điều lệ mới để thích ứng và phù hợp với tình hình lịch sử xã hội cụ thể. Hương ước (khoán ước) đã xuất hiện từ thế kỷ XV là văn bản do các nho sĩ, chức sắc làng xã soạn thảo, điển chế hoá các lệ làng, sau khi đã tham khảo, hỗn dung và thỏa hiệp với phép nước, trong đó tính địa phương có phần ưu trội (phép vua thua lệ làng). Thời Lê - Trịnh, những khi nhà nước nới lỏng sự kiểm soát, ít can thiệp vào đời sống tự trị của làng xã, hương ước lại có điều kiện phát triển. Cũng như triều Lê Sơ, nhà nước Lê - Trịnh rất chú trọng đến việc giáo hoá, răn dạy dân chúng bằng lễ - đức. Dùng biện pháp lễ - đức (răn bảo nhân dân), nhà cầm quyền Lê - Trịnh muốn phát huy yếu tố văn hoá và vai trò giáo dục của luật pháp, bên cạnh mặt cưỡng chế, trừng trị bằng hình phạt với quan điểm “tập tục tốt đẹp thì không cần bày ra hình phạt nữa”1 (Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr. 143). Nhà nước Lê - Trịnh đã cố gắng điển chế hoá một nền nhân trị, lễ trị bằng một hệ thống pháp luật. Điều này không có nghĩa đó là một chế độ pháp trị, càng không phải là ý định hướng tới một nhà nước pháp quyền.


Nhà nước Lê - Trịnh rất có ý thức về những vấn đề kinh tế - tài chính. Trong cơ cấu chính quyền, Phủ chúa và Lục phiên nắm giữ các trọng trách có liên quan đến vấn đề thuế, hộ khẩu, ruộng đất; lại lập ra Lục cung, giao cho Lục phiên quản lý từng địa bàn được phụ trách. Có thể những vấn đề kinh tế-xã hội này đã phục vụ trực tiếp cho việc cung cấp binh lương, tiền của, đáp ứng những nhu cầu của một đội quân đông đảo trấn giữ các địa phương cũng như xông pha ngoài trận mạc.


Những chính sách kinh tế, xã hội của chính quyền Lê - Trịnh thường nặng tính chiết trung, thoả hiệp giữa một bên là những nguyên tắc truyền thống Nho giáo bảo thủ, giáo điều (trọng nghĩa hơn trọng lợi, trọng nông ức thương) và một bên là những quan điểm thực dụng, cách tân, trọng lợi (tìm mọi cách để tăng ngân sách nhà nước, ít can thiệp vào đời sống của nhân dân, cởi mở trong giao thương quốc tế). Nhiều chính sách thường tỏ ra do dự, ngả nghiêng giữa việc bảo vệ lợi ích của nhà nước và của nhân dân, người giàu và người nghèo. Vì vậy, các chủ trương kinh tế của nhà nước thường không nhất quán, hay thay đổi. Trong một thời gian ngắn có thể có nhiều chính sách mâu thuẫn, thậm chí phản bác nhau.


Nhìn chung, nhà nước Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài đã duy trì được thế ổn định kinh tế, xã hội cho đến khoảng gần giữa thế kỷ XVII; sau đó, dần lún sâu vào khủng hoảng trầm trọng, rồi đi đến sụp đổ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:06:39 pm »

Thuế khoá ở Đàng Ngoài trong những thế kỷ XVII - XVIII rất khắc nghiệt. Theo tính toán, nông dân phải nộp tô thuế tới trên 50% số thu hoạch1 (Xem Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất Việt Nam thế kỷ XI-XIII, Sđd, t.II, tr. 125). Các loại thuế khác cũng nặng nề. Nạn hà lạm phổ biến, “thậm chí bổ tiền ngoại gấp mười số nguyên tang (mức phải nộp), chuyền tay chiếm phần để bỏ túi riêng” (Khải của Bùi Sĩ Tiêm năm Tân Hợi - 1731)2 (Xem Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr. 123). Phan Huy Chú phê phán: “Vì sự trưng thu quá mức, vật lực kiệt không thể nộp đến nỗi người ta thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp. Có người vì thuế sơn sống mà phải chặt cây sơn, có người vì thuế vải lụa mà phải phá khung cửi. Cũng có kẻ phải nộp gỗ cây mà bỏ rìu búa, vì phải bắt cá tôm mà xé lưới chài, vì phải nộp mật mía mà không trồng mía nữa, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược...”3 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.II, tr. 266).


Bức tranh toàn cảnh về nông nghiệp - nông thôn Đàng Ngoài thời Lê - Trịnh là một bức tranh màu xám. Những nét nổi trội của tình hình nông thôn lúc bấy giờ là sự phát triển có phần không lành mạnh của chế độ ruộng tư, sự thu hẹp đáng kể của bộ phận ruộng công đi liền với sự phá sản của phép quân điền, cuộc sống của đông đảo nông dân làng xã dần bị bần cùng hoá.


Bộ phận ruộng tư ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII đã phát triển một cách không bình thường (nghĩa là không hoàn toàn thông qua việc mua bán một cách hợp pháp). Các loại ruộng ban cấp, bổng lộc của tầng lớp quan liêu (trong đó có loại ruộng thế nghiệp, được kế thừa cho con cháu), kể cả những ruộng khẩu phần của dân chúng, qua một thời gian lịch sử dài, đã có nhiều xáo động, dần dần biến thành ruộng tư. Chiến tranh loạn lạc, đồng ruộng bỏ hoang. Những ruộng bãi khẩn hoang sau đó, gọi là ruộng thông cáo, chiếm xạ, được miễn giảm thuế, một số lớn cũng trở thành ruộng tư. Phần lớn ruộng tư đã được đem phát canh cho tá điền với mức tô phổ biến là 50%1 (Theo tờ khải của Bùi Sĩ Tiêm: Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr. 124). Một số quý tộc và nhà giàu đã đem ruộng tư hiến cho nhà chùa làm công đức.


Trong một thời gian dài, nhà nước Đàng Ngoài chưa ý thức đúng mức về sự phát triển của ruộng tư. Các ruộng tư đều được miễn thuế, hàm ý đây không phải là ruộng của nhà nước cho thu tô (tức đánh thuê). Nhưng khi tỷ lệ ruộng tư trong xã hội ngày một cao, nhà nước bị thất thu một số lớn tiền thuế đáng lý có thể nộp vào ngân sách.


Cùng với sự phát triển của ruộng tư, lúc này bộ phận ruộng công làng xã ở Đàng Ngoài đã không ngừng bị thu hẹp và phép quân điền dần bị phá sản.


Dù vậy, trong khoảng thời gian hai thế kỷ rưỡi tồn tại, triều Lê - Trịnh cũng có những khoảng thời gian nhất định được coi là thịnh trị. Một số chúa Trịnh và quan đầu triều cố gắng thi hành những chính sách chăm lo và cải thiện đời sống nhân dân. Các hoạt động buôn bán với nước ngoài được mở ra tuy mức độ còn có hạn, nhưng đã góp phần cải thiện mức sống của một số tầng lớp cư dân đô thị, những thợ thủ công và thương nhân. Song, do tình hình kinh tế Đàng Ngoài, nhất là nông nghiệp, không có điều kiện phát triển ổn định, nên đời sống của đại đa số nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Từ thế kỷ XVIII, nhất là từ khoảng giữa thế kỷ, nạn mất mùa, đói kém xảy ra càng ngày càng nghiêm trọng; các mâu thuẫn xã hội phát triển đến đỉnh điểm dẫn đến việc bùng phát các phong trào nổi dậy quyết liệt của nhân dân.


Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, phong trào nổi dậy bùng lên rộng khắp, liên tục và rầm rộ suốt từ miền xuôi đến miền núi, từ đồng bằng ven biển đến vùng Trung châu thổ... làm rung chuyển cả Đàng Ngoài. Dù mỗi cuộc nổi dậy lúc đầu chỉ mang tính cục bộ, địa phương, lấy một vùng làm trung tâm, nhưng càng về sau, các phong trào này đã liên kết và mở rộng địa bàn. Khi cuộc nổi dậy này bị đàn áp, thì cuộc nổi dậy khác lại kế tiếp. Từ địa bàn đầu tiên ở miền thượng Thanh Hoá, nghĩa quân Lê Duy Mật phát triển ra khắp thượng du Thanh - Nghệ; từ Ninh Xá, nghĩa quân Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ đã thổi bùng ngọn lửa nổi dậy, mở rộng phạm vi hoạt động ra khắp vùng Hải Dương, Kinh Bắc. Từ căn cứ Đồ Sơn, nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu đã phát triển sang Kinh Bắc, xuống Sơn Nam liên kết với Hoàng Công Chất... Lấy Sơn Nam làm địa bàn khỏi dựng, nghĩa quân của Hoàng Công Chất đã mở rộng sang liên kết với Vũ Đình Dung, Nguyễn Hữu Cầu, rồi lên Tây Bắc liên kết với phong trào các thủ lĩnh người Thái... Khi các cuộc khởi nghĩa nhỏ bị đàn áp, những người nổi dậy đã tụ về với Nguyễn Dương Hưng; thủ lĩnh Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ bị đàn áp, những nghĩa quân còn lại theo về với Nguyễn Hữu cầu tiếp tục nhen nhóm lực lượng, phất lên ngọn cờ khởi nghĩa...


Lãnh tụ các cuộc khởi nghĩa xuất thân từ nhiều thành phần: nhà sư như Nguyễn Dương Hưng; nông dân nghèo như Nguyễn Hữu Cầu; quan lại như Vũ Trác Oánh; quý tộc họ Lê như Lê Duy Mật... Phong trào đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp trong xã hội tham gia mà đông đảo nhất là nông dân nghèo, với khí thế dũng mãnh và mục tiêu rõ ràng: “Hễ giơ tay hô một tiếng thì chốc lát lại sum họp như mây, vì thế mà có thể tung hoành” và mục tiêu rất rõ ràng: “lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”.


Như vậy, phong trào khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài nửa đầu thế kỷ XVIII là sự phản ánh tình trạng “bất mãn” của đông đảo các tầng lớp xã hội với tập đoàn thống trị Lê - Trịnh đương thời. Từ cuộc sống bất ổn, nghèo đói, khánh kiệt đến cùng cực và bất mãn sâu sắc với tình hình chính trị, xã hội đương thời, đông đảo các tầng lớp nhân dân (từ nông dân bần cùng, địa chủ, người đi buôn bán, sĩ phu Nho học đến quan lại phong kiến) khắp Đàng Ngoài đã đứng lên khởi nghĩa, bất chấp mọi gian khổ, thậm chí đổi cả mạng sống của bản thân mình để giành quyền sinh sống, để bảo vệ bản thân, gia đình, cộng đồng mình, tấn công liên tục vào hệ thống chính quyền Lê - Trịnh. Nhưng, tất cả các cuộc khởi nghĩa ấy đều bế tắc, luẩn quẩn không có đường ra. Mà, nguyên nhân chính là không có tư tưởng, đường lối chỉ đạo thống nhất, phù hợp và kéo theo nó là hạn chế cả về xây dựng, rèn luyện tổ chức lực lượng, chiến thuật cụ thể. Mặt khác, điều không thể phủ nhận là thực tế chính quyền Lê - Trịnh tuy đã lâm vào khủng hoảng sâu sắc, song lực lượng quân sự và tiềm lực kinh tế của chính quyền Trịnh còn mạnh hơn nhiều so với thực lực của các cuộc khởi nghĩa. Các tướng lĩnh của họ Trịnh phần lớn đều dày dạn kinh nghiệm trận mạc, lực lượng quân đội của họ Trịnh “chuyên nghiệp” hơn từ trang bị, huấn luyện... Hơn thế, chính quyền họ Trịnh lúc đó ưu tiên số một cho nhiệm vụ đàn áp và tiêu diệt các cuộc nổi dậy của nông dân. Bản thân Trịnh Doanh mưu lược, thâm hiểm và quyết đoán, biết tận dụng cơ hội, khoét sâu hạn chế phân tán, cục bộ của phong trào nông dân. Chính quyết sách tập trung binh lực, vật lực, ưu tiên bình định, giữ vững địa bàn trọng điểm, phá thế liên kết của các nghĩa quân, bẻ gãy lần lượt các cuộc nổi dậy đã chứng tỏ sự từng trải, lão luyện của Trịnh Doanh trong việc đàn áp phong trào nông dân.


Hơn một phần ba thế kỷ bùng nổ và lan rộng của các cuộc khởi nghĩa nông dân đã làm rung chuyển cả Đàng Ngoài, giáng đòn mạnh mẽ vào chính quyền Lê - Trịnh, đẩy chính quyền Lê - Trịnh lún sâu vào cuộc khủng hoảng sâu sắc, toàn diện vào nửa sau thế kỷ, chuẩn bị mảnh đất thuận lợi cho phong trào Tây Sơn phát triển mạnh mẽ ra Đàng Ngoài sau đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:08:14 pm »

c) Tình hỉnh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Đàng Trong

Đàng Ngoài và Đàng Trong chính thức trở thành hai thể chế chính trị riêng biệt, đối lập nhau bắt đầu từ năm Nhâm Tý (1672) và về cơ bản kết thúc vào năm Mậu Thân (1788) - khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lần thứ hai, xoá bỏ ranh giới sông Gianh, lũy Thầy, mở ra tiền đề cho việc thống nhất đất nước.


Từ năm Tân Mão (1471), lãnh thổ Đại Việt kéo dài đến đèo Cù Mông. Trên vùng đất từ phía nam sông Gianh cho đến đèo Cù Mông, nhà Lê đặt ra hai xứ thừa tuyên là Thuận Hoá và Quảng Nam (trong tổng số 13 xứ thừa tuyên của cả nước), đồng thời từng bước hoàn thiện hệ thống chính quyền địa phương với mô hình tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty). Kể từ khi vào làm trấn thủ Thuận Hoá năm Mậu Ngọ (1558) đến khi kiêm quản cả xứ Quảng Nam năm Canh Ngọ (1570), Nguyễn Hoàng giữ đầy đủ quan hệ một phiên thần đối với nhà Lê. Phủ chúa vẫn giữ nguyên tổ chức tam ty, tức là một chính quyền địa phương trong hệ thống chính quyền nhà Lê và “quan lại tam ty do nhà Lê đặt ra đều theo lệnh của chúa”1 (Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, t.I, tr. 28). Chính vua Lê đã đánh giá: “Ông trấn thủ hai xứ, dân nhờ được yên, công ấy rất lớn”2 (Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, t.I, tr. 33); và “thường nộp thuế má, không thiếu năm nào”3 (Lê Quý Đôn toàn tập, Phủ biên tạp lục, Sđd, t.I, tr. 51).


Đến năm Canh Tý (1600), mặc dầu đã tự ý cắt đứt quan hệ lệ thuộc với chính quyền trung ương (nhà Lê), nhưng cơ cấu chính quyền chúa Nguyễn vẫn chưa có sự thay đổi. Năm Quý Sửu (1613), Nguyễn Hoàng qua đời, Nguyễn Phúc Nguyên lên kế ngôi, bộ máy chính quyền khu vực Thuận Hóa - Quảng Nam bắt đầu có những thay đổi. Đó là:

Năm Giáp Dần (1614), Nguyễn Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty theo hệ thống của nhà Lê. Tại Chính dinh, ông đặt ra các ty Xá sai (coi việc văn án từ tụng, do Đô tri và Ký lục giữ), Tướng thần lại (coi việc trưng thu tiền thóc, phát lương cho quân các đạo, do Cai bạ giữ) và Lệnh sử (coi việc tế tự, lễ tiết và chi cấp lương cho quân đội Chính dinh, do Nha uý giũ). Bên cạnh đó còn có các ty Nội Lệnh sử kiêm coi các thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ. Tại các dinh ở ngoài, tuỳ theo từng nơi, có nơi Nguyễn Phúc Nguyên chỉ đặt một ty Lệnh sử, nhưng cũng có nơi đặt hai ty là Xá sai và Tướng thần lại, có nơi kiêm đặt hai ty Xá sai và Lệnh sử để trông coi việc từ tụng của quân dân, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế ruộng1 (Xem Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.I, tr.38-39).


Đầu năm Ất Mão (1615), các quy chế mới về chức trách và quyền hạn của các phủ, huyện được ban hành. Theo quy chế này thì Tri phủ, Tri huyện giữ việc từ tụng; các thuộc viên: Đề lại, Thông lại chuyên việc tra khám, Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự...


Năm Canh Thân (1620), Nguyễn Phúc Nguyên lấy lý do chúa Trịnh vô cớ gây chiến đã quyết định chấm dứt hoàn toàn việc nộp công thuế cho chính quyền Lê - Trịnh. Năm Canh Ngọ (1630), chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc của chúa Trịnh Tráng2 (Xem Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, t.I, tr.45-46). Đây là sự khẳng định dứt khoát chính quyền chúa Nguyễn ở phía Nam là chính quyền độc lập, cắt đứt hẳn mọi quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê - Trịnh. Chiến tranh Trịnh - Nguyễn càng đẩy sự phân cách này ra xa hơn và do không bên nào giành được thắng lợi quyết định nên cuối cùng sông Gianh, lũy Thầy đã thành giới tuyến phân cách giữa hai chính quyền đối lập.


Những năm tiếp theo là những năm lãnh thổ Đàng Trong nhanh chóng mở rộng xuống phía Nam. Đến thập kỷ cuối thế kỷ XVII và thập kỷ đầu thế kỷ XVIII, với việc đặt ra các dinh Trấn Biên (Biên Hoà), Phiên Trấn (Gia Định), tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải và việc Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên..., lãnh thổ Đàng Trong mở rộng xuống đến Hà Tiên, Cà Mau, ra tận các hải đảo giữa Biển Đông.


Năm Giáp Tý (1744), Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, xây dựng chính quyền ở Phú Xuân thành một triều đình riêng, biến xứ Đàng Trong thành vương quốc độc lập và đối lập với Đàng Ngoài. Ông xuống chiếu đại xá thiên hạ, cho đúc ấn “Quốc vương”, xưng là Thiên vương với các thuộc quốc và truy tôn hiệu các đời. Ông đổi Ký lục làm Lại bộ, Vệ uý làm Lễ bộ, Đô tri làm Hình bộ, Cai bạ làm Hộ bộ và đặt thêm Binh bộ và Công bộ. Trên sáu bộ là “Tứ trụ đại thần” gồm Tả nội, Tả ngoại, Hữu nội, Hữu ngoại. Ông cũng đổi Thân quân thành Ngự lâm quân, đổi Văn chức làm Hàn lâm viện; đồng thời ra lệnh đổi áo mũ, thay phong tục cổ truyền theo thể chế Trung Hoa1 (Xem Lê Quý Đôn toàn tập, Phủ biên tạp lục, Sđd, t.I, tr.66).


Nguyễn Phúc Khoát cũng tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành chính, chia đặt toàn bộ Đàng Trong ra làm 12 dinh, gồm Chính dinh (kinh đô Phú Xuân) là Đô thành, Cựu dinh (Ái Tử), Quảng Bình dinh (An Trạch), Lưu Đồn dinh (Võ Xá), Bố Chính dinh (Thổ Ngõa), Quảng Nam dinh (Quảng Nam), Diên Khánh dinh (Diên Khánh), Bình Khang dinh (Bình Khang), Bình Thuận dinh (Bình Thuận), Trấn Biên dinh (Phúc Long), Phiên Trấn dinh (Tân Bình), Long Hồ dinh (Định Viễn). Tại các dinh, chúa Nguyễn đều đặt các chức Trấn thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Mỗi dinh thường được giao quản hạt một phủ. Riêng dinh Quảng Nam quản hạt ba phủ, trong đó các phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn có các chức Tuần phủ, Khám lý trông coi. Khu vực Hà Tiên được đặt thành một trấn độc lập do Đô đốc đứng đầu. Bên dưới dinh là cấp phủ (do Tri phủ đứng đầu) và cấp huyện (do Tri huyện đứng đầu); dưới huyện là tổng, xã (khu vực đồng bằng), thôn, phường, nậu, man (khu vực miền núi và miền ven biển).


Khi mới vào Nam dựng nghiệp, chúa Nguyễn chọn tiến cử làm phương thức chủ yếu tuyển dụng quan lại. Phương thức này vẫn còn được sử dụng rộng rãi cho đến cuối thế kỷ XVIII, tuy nhiên từ giữa thế kỷ XVII trở đi đã bị thu hẹp một bước. Cũng bắt đầu từ năm Bính Tuất (1646), chúa Nguyễn Phúc Lan quy định phép thi Hội vào mùa thu. Theo phép này, cứ 9 năm một kỳ các học trò về khoa Chính đồ (tương tự thi Hương, thi Hội) và khoa Hoa văn (thi lấy người viết chữ tốt ra làm Lại) đều đến công phủ để ứng thí. Chế độ khoa cử ở Đàng Trong đã xuất hiện muộn, lại không được tổ chức đều đặn, nên số quan lại được tuyển chọn theo con đường này không nhiều và không đóng vai trò thực sự quan trọng. Trong khi đó chế độ mua bán quan tước, chế độ nộp tiền để được thăng chức càng ngày càng phát triển và trở thành phương thức chủ yếu để tuyển chọn quan lại Đàng Trong ở thế kỷ XVIII. Hơn thế nữa, chúa Nguyễn không cấp lương bổng cho quan lại, mà tất cả đều thu ở dân, đều bắt dân đóng góp để nuôi bộ máy quan liêu ngày một phình to và có nhiều đặc quyền đặc lợi. Lê Quý Đôn nhận xét: “Quảng Nam, Thuận Hoá chỉ hai trấn thôi mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hương trưởng, kể có hàng nghìn, nhũng lạm quá lắm. Tất cả bổng lộc đều lấy ở dân, dân chịu sao được”1 (Lê Quý Đôn toàn tập, Phủ biên tạp lục, Sđd, t.I, tr.146). Đây chính là chỗ yếu căn bản của bộ máy chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:09:23 pm »

Năm Ất Dậu (1765), Nguyễn Phúc Khoát qua đời, Nguyễn Phúc Thuần là con thứ 16, mới 12 tuổi đã nổi tiếng ham chơi, dâm loạn và bệnh hoạn, lên nối ngôi chúa. Nguyễn Phúc Thuần phó thác mọi việc triều chính trong tay Quốc phó Trương Phúc Loan. Những người được chúa Nguyễn Phúc Thuần tin tưởng giao trọng trách đều không xứng đáng cả tài và đức. Chính những trụ cột thối ruỗng này đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình suy bại và tan rã của toàn bộ hệ thống chính quyền Đàng Trong. Ít lâu sau, chính quyền chúa Nguyễn nhanh chóng sụp đổ tan tành trước cuộc tấn công của phong trào Tây Sơn.


Về kinh tế: đến thế kỷ XVII, đất Thuận Quảng được mở rộng thêm nhiều về phía Nam. Cùng với các biện pháp quân sự, họ Nguyễn chiêu tập lưu dân đưa đến khai khẩn vùng Đà Diễn (lưu vực sông Đà Rằng). Đến năm Quý Tỵ (1653), Nguyễn Phúc Tần mở rộng cương giới đến sông Phan Rang: “Từ phía đông sông đến địa đầu Phú Yên chia làm hai phủ là Thái Khang (Ninh Hoà) và Diên Ninh (Diên Khánh)”2 (Đại Nam thực lục, Sđ d, t.I, tr.62). Đến năm Quý Dậu (1693), toàn bộ phần đất còn lại của phía Nam đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong.


Vào thế kỷ XVI, khu vực Thuận Hóa - Quảng Nam kinh tế còn lạc hậu, đất hoang còn nhiều và dân cư thưa thớt. Nhà nước phong kiến đã chiếm vùng đất này và lập ra các đồn điền. Bên cạnh đó, những người nông dân bị phá sản ở phía bắc đã tự động di cư vào đây để khai phá đất đai làm ăn. Họ mở thêm được nhiều vùng đất mới và lập ra được nhiều làng mới.


Nhưng công cuộc khai hoang vùng Thuận Hóa - Quảng Nam chỉ thực sự phát triển mạnh khi họ Nguyễn vào dựng nghiệp. Để tăng cường thế lực, họ Nguyễn đã lợi dụng thành quả lao động của nông dân di cư vào khai phá vùng đất này từ các đời trước và thi hành chính sách khẩn hoang. Lực lượng lao động chủ yếu để thực hiện chính sách khẩn hoang của chúa Nguyễn là nông dân di cư và nhất là số tù binh bị bắt trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Lan đã từng khẳng định chính sách nhất quán đối với tù binh bắt được trong cuộc chiến Trịnh - Nguyễn rằng: “Hiện nay từ miền Thăng (tức phủ Thăng Bình), Điện (tức phủ Điện Bàn)..., dân cư thưa thớt, nếu đem chúng (tức các tù binh) an tháp vào đất ấy, cấp cho canh ngưu điền khí chia ra từng bộ, từng xóm, tính nhân khẩu cấp cho lương ăn để chúng khai khẩn ruộng hoang, thời trong khoảng mấy năm, thuế má thu được có thể đủ giúp quốc dụng, và sau hai mươi năm, sinh sản ngày nhiều, có thể thêm vào quân số có gì mà lo về sau”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.59).


Thực tế là, trong cuộc giao tranh năm Mậu Tý (1648), bắt được nhiều võ tướng và khoảng 3 vạn tù binh quân Trịnh, Nguyễn Phúc Lan đem “chia số binh ra cho ở các nơi, cứ 50 người làm một ấp, đều cấp cho lương ăn nửa năm. Lại ra lệnh cho nhà giàu bỏ thóc cho họ vay và cho họ được tìm thấy nhũng lợi núi đầm mà sinh sống. Từ đó Thăng, Điện đến Phú Yên, làng mạc liền nhau, về sau thành hộ khẩu”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.59).


Với chính sách này, đương nhiên số ruộng đất khai hoang được xung làm ruộng đất công của làng ấp mới thành lập và đặt dưới quyền sở hữu tối cao của chúa Nguyễn. Người nông dân cày ruộng đất đó phải nộp tô, thuế và làm nghĩa vụ lao dịch, binh dịch cho chính quyền họ Nguyễn.


Trải qua quá trình thực hiện chính sách khai hoang, vùng đất Thuận Hóa - Quảng Nam nhanh chóng trở thành khu vực kinh tế nông nghiệp phát triển, với các xóm làng đông đúc và cơ cấu tổ chức xóm làng có nhiều nét giống với Đàng Ngoài. Ở đây ruộng đất công làng xã tồn tại khá phổ biến. Bên cạnh đó còn có một diện tích đáng kể thuộc quyền sở hữu nhà nước. Họ Nguyễn gọi loại ruộng đất này là quan đồn điền và quan điền trang và coi đó là tài sản riêng của mình.


Ruộng đất và thuế khoá ở Thuận Hóa - Quảng Nam thời Nguyễn Hoàng hầu như vẫn được duy trì theo các quy định cũ của nhà Lê. Sách Đại Nam thực lục tiền biên cho biết: "Thuế ruộng hai xứ Thuận Hóa - Quảng Nam chưa có định ngạch, mỗi năm gặt xong sai người chiếu theo số ruộng đất hiện cấy mà thu thuế"1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.32). Số ruộng cày cấy hằng năm là con số mà các phủ, huyện tự khai và chúa Nguyễn cho tổng hợp lại rồi báo cáo về triều đình, đồng thời cũng tính được tổng số lượng thuế phải nộp. Từ sau năm Canh Dần (1600), mặc dù từ chối việc trở về triều đình yết kiến vua Lê, nhưng trong thực tế các chính sách về ruộng đất và thuế khoá mà Nguyễn Hoàng thực thi cũng chưa có thay đổi đáng kể. Mọi kỳ vọng “dựng lên nghiệp lớn” và biến Đàng Trong thành giang sơn riêng của dòng họ mình, Nguyễn Hoàng phó thác cả vào Nguyễn Phúc Nguyên.


Ruộng tư ở khu vực Thuận Hóa - Quảng Nam thời kỳ chúa Nguyễn mới vào dựng nghiệp cũng đã xuất hiện nhưng chắc chắn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Tuy nhiên hành động “chiếm công vi tư” vẫn thường diễn ra và ngày một gay gắt. Chúa Nguyễn nhận thấy tư hữu hoá ruộng đất là xu thế không thể ngăn cản nổi, từ năm Kỷ Dậu (1669) đã chấp nhận một thực tế là “nếu có người khai khẩn rừng hoang mà cày thành ruộng thì cho trưng làm ruộng tư (bản bức tư điền) cho cày mãi mà nộp thuế riêng, xã dân không được tranh chiếm”2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.82). Đây là lần đầu tiên chúa Nguyễn chính thức khẳng định quyền sở hữu tư nhân của người khai khẩn và thừa nhận ruộng đất mới được khai khẩn thêm là ruộng tư. Người sở hữu ruộng tư cũng phải nộp mức thuế không khác ruộng công (tuy nhiên không phải nộp thêm các tiền sai dư, gạo cước, thường tân, tiết liệu... như ruộng công). Chính sách này là một bước đột phá, thúc đẩy nhanh hơn quá trình khai phá, mở rộng đất đai xuống phía Nam, làm thay đổi căn bản bức tranh sở hữu ruộng đất ở Đàng Trong. Tuy nhiên, ở khu vực Thuận Hóa - Quảng Nam lúc này công cuộc khai hoang về cơ bản đã hoàn thành, số ruộng “bản bức tư điền” được bổ sung thêm không đáng kể (chủ yếu chỉ ở khu vực Quảng Nam), do đó tỷ lệ ruộng tư ở Thuận Hoá là thấp nhất, tiếp đến Quảng Nam và càng tiến dần xuống phía Nam thì tỷ lệ ruộng tư càng chiếm ưu thế tuyệt đối so với ruộng công.


Khu vực từ Phú Yên trở xuống phía Nam và nhất là khu vực Nam Bộ cho đến những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XVII, đất hoang vẫn còn rất nhiều. Chúa Nguyễn cho phép biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân và tạo điều kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu có ỏ Thuận Hóa - Quảng Nam chiêu mộ những người dân nghèo vào khai phá đất đai. Ngoài việc tổ chức khai khẩn, những địa chủ trên vùng đất mới còn ra sức mua bán, thậm chí là chiếm đoạt ruộng đất của nông dân nghèo và cả ruộng công làng xã, hình thành một tầng lớp đại địa chủ giàu có, tập trung trong tay rất nhiều ruộng đất.


Địa chủ ở Đàng Trong phần lớn đều thực hiện phương thức phát canh thu tô, bóc lột theo quan hệ địa chủ - tá điền. Đi sâu vào khu vực phía Nam, nhiều đại địa chủ lại áp dụng tương đối rộng rãi chế độ nô tỳ trong sản xuất nông nghiệp.


Từ cuối những năm 60 đến những năm 70 của thế kỷ XVIII, do tình trạng chiếm đoạt ruộng đất và sưu cao, thuế nặng của giai cấp địa chủ phong kiến nên vùng đất này bắt đầu lâm vào tình trạng nông dân lưu tán, ruộng đồng bỏ hoang hoá, mất mùa và đói kém xảy ra thường xuyên. Và phong trào nổi dậy chống lại chính quyền chúa Nguyễn liên tiếp diễn ra ỏ khắp mọi nơi trên lãnh thổ đất Đàng Trong, mà tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Tây Sơn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:11:19 pm »

2. Những hoạt động quân sự chủ yếu

a) Nội chiến Nam - Bắc triều

Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều (còn gọi là chiến tranh Lê - Mạc) kéo dài từ năm Quý Tỵ (1533) đến năm Nhâm Thìn (1592), tức là được mở đầu khi Nguyễn Kim lập Lê Trang Tông làm vua, thành lập Nam triều và dẫn quân về chiếm giữ Thanh Hóa làm căn cứ chống lại triều Mạc cho đến khi Trịnh Tùng đem quân Nam triều đánh bật quân Mạc ra khỏi Kinh thành Thăng Long và khu vực lân cận. Trong 60 năm đó (1533-1592), cuộc chiến tranh có thể chia thành ba giai đoạn chính với 38 trận đánh lớn nhỏ:

- Giai đoạn 1533-1569: Đây là thời kỳ Lê - Mạc cầm cự giằng co, chưa bên nào thắng bên nào. Nam triều tấn công liên tiếp, trong khi Bắc triều mâu thuẫn nội bộ, thế lực suy yếu buộc phải giữ thế phòng thủ. Trong khi quân Nam triều tấn công 11 lần thì quân Bắc triều chỉ tấn công được 4 lần. Nam triều đánh chiếm, xây dựng căn cứ ở vùng Thanh Hóa - Nghệ An, tấn công vùng Sơn Nam và tiến ra cả những vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhưng không có thắng lợi quyết định. Bắc triều tổ chức phản công, tấn công căn cứ địa của Nam triều ở Thanh - Nghệ, nhưng cũng không thành công.


Sau khi từ Lào về xây dựng lực lượng ở Thanh Hoá, Nam triều (vua Lê và Nguyễn Kim, sau là Trịnh Kiểm) đã nhiều lần đem quân lần lượt đánh chiếm các địa bàn vùng Thanh - Nghệ (vào các năm Quý Tỵ (1533), Kỷ Hợi (1539), Canh Tý (1540), Nhâm Dần (1542), Quý Mão (1543)), trong đó có huyện Lôi Dương và thành Tây Đô.


Vào những năm Ất Tỵ (1545), Đinh Tỵ (1557), Mậu Ngọ (1558), Quý Hợi (1563), quân Nam triều nhiều lần tiến đánh vùng Yên Mô, Sơn Nam, nhưng không giành được thắng lợi quyết định. Mặt khác, ngay từ năm Tân Hợi (1551), Trịnh Kiểm đã sai hàng tướng Lê Bá Ly và tù trưởng Vũ Văn Mật (Tuyên Quang) đem quân tiến sát đến Kinh đô Thăng Long, buộc vua Mạc phải rút chạy về vùng Hải Dương.


Từ năm Kỷ Mùi (1559), tiếp theo là những năm Tân Dậu (1561), Nhâm Tuất (1562), Giáp Tý (1564), Ất Sửu (1565), Trịnh Kiểm đã đem quân tiến sâu vào khu vực kiểm soát của nhà Mạc, theo đường núi thượng đạo từ Thanh Hoá qua Yên Mô, Thiên Quan (Ninh Bình, Hoà Bình) ra Sơn Nam, Sơn Tây (Hà Tây), Hưng Hoá, Tuyên Quang vòng qua tấn công các vùng Kinh Bắc, Hải Dương, uy hiếp Kinh thành Thăng Long. Vua Mạc phải lập phòng tuyến sông Hồng, án giữ từ Bạch Hạc (Phú Thọ) đến Nam Xang (Lý Nhân, Hà Nam) để bảo vệ Kinh thành, đồng thời rời Hoàng thành ra lập hành cung tại huyện Thanh Trì. Tuy nhiên, quân Trịnh không ở lại lâu dài, mà sau đó đã rút quân về Thanh Hoá. Cũng trong thời gian này, hào kiệt các nơi và nhiều võ tướng nhà Mạc đã về Thanh Hoá quy thuận Nam triều, làm cho “thanh thế nhà vua rất là lẫy lừng”1 (Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 293).


Cùng trong giai đoạn này, quân Bắc triều cũng mở được một số đợt tấn công lớn (tuy số lượng không nhiều bằng Nam triều) vào vùng căn cứ Thanh - Nghệ của Nam triều. Người chỉ huy quân đội Bắc triều là danh tướng Mạc Kính Điển, con trai Mạc Đăng Doanh, em Mạc Phúc Hải, được Lê Quý Đôn đánh giá là “tính nhân hậu, linh mẫn, dũng cảm có thừa”. Mạc Kính Điển đã một lòng trung thành, chèo lái chống đỡ cơ đồ nhà Mạc.


Năm Ất Mão (1555), diễn ra trận Kim Sơn - Đại Lại - Quân Yên. Mạc Kính Điển đem đại quân thuỷ bộ tiến đánh Thanh Hoá, cử 100 chiến thuyền làm quân tiên phong chiếm giữ cửa biển Thần Phù, hội quân ở sông Đại Lại (sông Lèn, một nhánh sông Mã), đóng ém quân bản bộ ở núi Kim Sơn (Biện Sơn).


Trịnh Kiểm dùng kế phục binh, sai các hàng tướng Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến mai phục ở phía nam sông Đại Lại, từ núi Yên Định đến núi Quân Yên. Trịnh Kiểm đích thân phục binh ở phía bắc sông, từ núi Bạch Thạch (thuộc huyện Đông Sơn) đến núi Kim Sơn. Hàng tướng Nguyễn Quyện được giao đem thuyền án ngữ mạn thượng lưu, tạo thế ỷ dốc. Khi quân Mạc lọt vào trận địa mai phục, các cánh quân Trịnh nhất tề xông ra đánh. Quân Mạc thua to, nhiều tướng bị bắt, vài vạn binh sĩ tử trận. Mạc Kính Điển vội thu tàn quân tháo chạy về Thăng Long.


Năm Đinh Tỵ (1557), quân Mạc chia thành hai cánh, một cánh quân do Phạm Quỳnh và Phạm Dao chỉ huy tiến đánh Nghệ An, một cánh quân thủy bộ do Mạc Kính Điển chỉ huy tấn công Thanh Hóa. Quân Mạc tiến đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn, Nga Sơn, đốt phá cầu phao. Trịnh Kiểm cử Thanh quận công giữ Nga Sơn, Thụy quận Hà Thọ Tường giữ Tống Sơn, đều sử dụng những lực lượng tinh nhuệ để chống giữ. Quân Mạc không tiến lên được. Sau đó, Trịnh Kiểm đích thân chỉ huy đại quân, có voi chiến yểm trợ, bí mật tiến đến chân núi Yên Mô rồi thẳng tới cửa biển, tung quân ra đánh quân Mạc. Vũ Lăng hầu Phạm Đức Kỳ lao thuyền xông vào giữa đội hình thủy quân Mạc, áp sát rồi tung người nhảy qua thuyền của Mạc Kính Điển. Bị đòn bất ngờ, Mạc Kính Điển trở tay không kịp phải nhảy xuấng sông tẩu thoát. Quân Mạc mất chỉ huy và nhanh chóng bị quân Trịnh đánh bại. Số may mắn thoát chết trong đó có Mạc Kính Điển tìm cách lẩn trốn vào núi rừng rồi dần tìm đường trở về Đông Kinh. Quân Trịnh thu được rất nhiều thuyền chiến và khí giới của quân Mạc.


Sau khi đã đánh bại cánh quân của Mạc Kính Điển, Trịnh Kiểm dùng ngay thuyền chiến của Mạc Kính Điển chở quân tinh nhuệ, cắm cờ hiệu của quân Mạc dưới sự chỉ huy của Phạm Đốc, tiến tới cửa biển Đan Nhai (xã cổ Đan, chỗ giáp giới hai huyện Nghi Xuân và Chân Lộc, Nghệ An) để ứng cứu Nghệ An. Các tướng Bắc triều là Phạm Quỳnh và Phạm Dao chỉ huy quân chốt giữ Tả Ao (Nghi Xuân), trông thấy chiến thuyền, tưởng là quân tiếp ứng của Mạc Kính Điển nên không đề phòng, do vậy bị Phạm Đốc dẫn quân tiến thẳng tới đánh úp, phá tan quân Mạc1 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 130-131; Đại Việt sử lược, Sđd, tr. 303-304; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.II, tr.134-135). Cuộc tấn công quy mô lớn của nhà Mạc hoàn toàn thất bại.


Năm Ất Sửu (1565), nhân lúc Trịnh Kiểm đem theo hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tiến sâu vào vùng Sơn Nam, chỉ để Vũ Sư Thước và Lại Thế Khanh ở lại trấn giữ hậu phương, Mạc Kính Điển đem quân vượt biển vào cửa Lạch Trường, tiến đánh vùng Hậu Lộc, Thanh Hoá. Quân Mạc phục binh, lừa đối phương vào chỗ hiểm để tiêu diệt. Quân Trịnh thua to, nhiều tướng tử trận, quân chết hàng nghìn. Trịnh Kiểm ở Sơn Nam phải vội đem binh về ứng cứu, Mạc Kính Điển cũng rút quân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:12:44 pm »

- Giai đoạn 1570-1580: Từ khi Trịnh Tùng nắm binh quyền đến khi tướng Mạc Kính Điển chết. Đây là giai đoạn nội bộ Nam triều mâu thuẫn, đánh giết lẫn nhau, làm cho thế lực suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc triều phản công. Quân Bắc triều tấn công 13 lần, còn quân Nam triều chỉ lo chống đỡ, không mở được cuộc tấn công nào đáng kể.


Năm Canh Ngọ (1570), Trịnh Kiểm ốm chết, gây nên cuộc tranh chấp quyền lực, làm suy yếu nội bộ Nam triều. Con trưởng Trịnh Kiểm là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối được giao thay lĩnh binh quyền nhưng kiêu ngạo, mất lòng quân sĩ. Trước tình thế này, con thứ Trịnh Kiểm là Phúc Lương hầu Trịnh Tùng - một viên tướng giỏi, quyết đoán, được nhiều người ủng hộ, bèn tập hợp lực lượng làm binh biến, giành quyền thống lĩnh quân Nam triều.


Trịnh Tùng cùng các tướng Lê Cập Đệ, Trinh Vinh Thiệu, Phan Công Tích, Trịch Bách và Đặng Huấn kéo quân về hành tại An Tràng, đưa vua Lê rút vào trong cửa ải Vạn Lại, chia quân đóng giữ cửa lũy để phòng thủ. Trịnh Cối đích thân cùng các tướng Lại Thế Mỹ, Lại Thế Khanh, Nguyễn Sư Doãn, Vương Trân, Lê Khắc Thận, Nguyễn Hữu Liêu và Phạm Văn Khoái chỉ huy hơn một vạn quân, đuổi theo quân Trịnh Tùng đến cửa ải Vạn Lại. Trịnh Tùng đóng chặt cửa lũy, kiên quyết không ra hàng. Vua Lê sai người đi hoà giải, nhưng Trịnh Cối không chấp nhận. Vua Lê bèn cử Trịnh Tùng thống lĩnh quân đội, dựa vào thành lũy ở sách Vạn Lại kiên quyết chống cự với Trịnh Cối.


Trịnh Cối tổ chức bao vây và liên tiếp công phá lũy Vạn Lại trong mấy tháng trời mà vẫn không tiêu diệt được quân Trịnh Tùng, vả lại, đúng lúc này, quân Mạc lại đang ồ ạt tiến vào Thanh Hóa, nên Trịnh Cối buộc phải thu quân rút về doanh Biện Thượng. Đồng thời, Trịnh Cối sai Vũ Sư Thước đem quân giữ cửa Linh Tràng và cửa Hội Triều, Lại Thế Khanh giữ cửa Chi Long và cửa Thần Phù, Nguyễn Sư Doãn giữ cửa Du Xuyên (cửa Bạng) và cửa Ngọc Giáp (cửa Hãn) để phòng ngừa quân Mạc; mặt khác sai Lại Thế Mỹ, Nguyễn Khắc Thận, Nguyễn Hữu Liêu và Phạm Văn Khoái chia quân đóng đồn ở bờ sông để phòng ngừa Trịnh Tùng mang quân từ Vạn Lại đánh ra.


Thấy quan tướng Nam triều nội bộ bất hoà, đánh giết lẫn nhau để tranh giành quyền bính, tướng trấn giữ châu Bố Chính của nhà Lê là Quận công Lập Bạo bèn dẫn quân về đầu hàng và cung cấp tin tức nội tình chính trị, quân sự của Nam triều cho nhà Mạc. Mạc Kính Điển rất mừng, phong cho Lập Bạo tước Tiên quận công, rồi sai làm tướng tiên phong dẫn đường cho quân Bắc triều tiến vào đánh Nam triều.


Ngày 16 tháng 8 năm Canh Ngọ (1570), Mạc Kính Điển đốc suất tướng sĩ các đạo, vượt biển chia đường tiến đánh quân Lê - Trịnh. Tới Thanh Hóa, Mạc Kính Điển giao cho Mạc Đôn Nhượng cùng với tướng Bắc đạo là Thái bảo Gia quốc công Mạc Đình Khoa và phó tướng Mậu quận công đem một bộ phận lực lượng chốt giữ cửa biển Thần Phù; đồng thời chia số quân còn lại thành 6 đội: tướng Bắc đạo Hoằng quận công chỉ huy đội quân thứ nhất, tướng Nam đạo Thạch quận công Nguyễn Quyện chỉ huy đội quân thứ hai, tướng Tây đạo Ngạn quận công Mạc Ngọc Liễn chỉ huy đội quân thứ ba, tướng Đồng đạo Hoa quận công và Kỳ quận công chỉ huy đội quân thứ tư, Mạc Kính Điển tự mình đốc suất số quân trung doanh làm thành đội quân thứ năm, các tôn vương họ Mạc thống lĩnh quân vệ Triều đông và quân các đội Nội vệ làm thành đội thứ sáu. Ngay sau đó, theo kế hoạch, các đội quân tiến vào hội quận ở xã Bút Cương, đóng doanh trại dọc hai bờ sông Hà Trung, chuẩn bị sẵn sàng cho trận tấn công quân Lê - Trịnh. Khói lửa trong các trại quân Mạc bốc lên nghi ngút kéo dài hơn mười dặm.


Lượng định thấy không đủ sức chống cự nổi quân Mạc, mặt khác lại bị quân Trịnh Tùng đóng giữ ở Vạn Lại chặn phía sau, đánh và rút đều khó, Trịnh Cối bèn dẫn hơn một vạn quân cùng các tướng Lại Thế Mỹ, Nguyễn Sư Doãn, Trương Quốc Hoa, Vương Trân, Vũ Sư Thưóc cùng gia quyến ra hàng quân Mạc. Mạc Kính Điển thu nạp tất cả và phong tước Trung Lương hầu cho Trịnh Cối, Khánh quận công cho Lại Thế Mỹ, Lý quận công cho Nguyễn Sư Doãn, Sơn quận công cho Vương Trân, Thuỷ quận công cho Vũ Sư Thước, rồi sai các hàng tướng này mang quân cùng tiến đánh quân Lê - Trịnh.


Ngày 25 tháng 8 năm Canh Ngọ (1570), Mạc Kính Điển chỉ huy tất cả các đạo quân đánh thẳng vào lũy An Trường. Quân Mạc tấn công mãnh liệt ngày đêm không ngừng. Dân chúng địa phương, người cõng già, người dắt trẻ chạy trốn khắp nơi, cảnh ly tán, chết chóc đầy đường.


Lúc này, vua Lê Anh Tông đã phong tước Trưởng quận công cho Phúc Lương hầu Trịnh Tùng và giao cho toàn quyền điều khiển tất cả các doanh quân. Trịnh Tùng cùng 30 võ tướng là Vinh quận công Hòàng Đình Ái, Tấn quận công Trịnh Mô, Nghĩa quận công Đặng Huấn và Dương quận công Nguyễn Hữu Liêu... và 12 quan văn đồng tâm hiệp lực, ngày đêm bàn định kế sách, chia quân giữ các đồn trại, đào hào đắp lũy, quyết tâm cố thủ trước sức tấn công của quân Mạc.


Theo mưu kế của Lê Cập Đệ, chỉ trong một đêm, quân Lê - Trịnh dùng tre nứa ken thành hình bức thành, rồi trát bùn đất bên ngoài, trên mặt thành cắm chông tre vót nhọn dựng ở bên ngoài thành chính, chu vi hơn 10 dặm để đánh lừa quân Mạc. Sớm hôm sau, thấy bức tường thành sừng sững án ngữ trước mặt, Mạc Kính Điển vô cùng kinh ngạc và nói với các tướng thuộc quyền rằng: Không ngờ binh sĩ nhà Lê ngày nay vẫn còn có kỷ luật, pháp lệnh rất nghiêm minh! Chỉ đắp trong một đêm, mà hoàn tất một bức thành đồ sộ! Tất là họ còn có nhiều binh sĩ liều chết cố giữ, cho nên công việc mới mau chóng như vậy, khiến lòng ta không yên. Chuyến này mà không thành công, thì sau đây chưa dễ gì bình định được. Nếu không đánh gấp, quyết kế tiễu trừ, tất sẽ lưu lại mối họa về sau.


Mạc Kính Điển bèn đích thân đốc thúc tướng sĩ ngày đêm tiến đánh. Khắp miền tả ngạn từ châu Da, châu Tàm trỏ xuông; miền hữu ngạn từ đầu nguồn huyện Lôi Dương, huyện Nông Cống trở xuống đều biến thành chiến trường cho các cuộc xung đột Nam - Bắc triều. Nhân dân các huyện trong xứ Thanh Hóa đều cố sức chạy trốn mong thoát thân, làng xóm tiêu điều, tan tác.

Tháng 10 năm Canh Ngọ (1570), quân Mạc giao chiến với quân Lê - Trịnh ở sông Bảo Lạc và sông Long Sùng.

Các tướng Nam triều thường dùng kỳ binh, ban ngày thì cố thủ, ban đêm thì đánh phá doanh trại, quấy rối quân Mạc, khiến cho quân Mạc phấp phỏng lo sợ bị tấn công về ban đêm. Dần dần, quân Mạc tuy đông, nhưng tinh thần sa sút, càng ngày càng có nhiều người bỏ trốn. Mạc Kính Điển nhận thấy đánh mãi không được, bèn rút lui về giữ dinh Hà Trung, bao vây cấm vận muối quân Trịnh ở trong lũy.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:14:27 pm »

Cùng lúc đó, Vũ Sư Thước - viên tướng của Trịnh Cối hàng Mạc Kính Điển trước đó đã bí mật liên lạc với vua Lê, xin được làm nội ứng giúp quân Lê - Trịnh tiêu diệt quân Mạc. Ngay lập tức, vua Lê phong Trịnh Tùng làm tả tướng tiết chế tướng sĩ các dinh quân thuỷ bộ các xứ, chỉ huy các tướng đem đại binh tiến đánh quân Mạc. Quân Nam triều được chia thành ba đạo cùng tiến:


Đạo quân thứ nhất do An quận công Lại Thế Khanh, Đoan vũ hầu Lê Cập Đệ, Văn phong hầu Trịnh Vĩnh Thiệu, Tấn quận công Trịnh Mô chỉ huy tiến theo cánh trái, từ Yên Định qua Vĩnh Phúc, đánh lấy huyện Tống Sơn.


Đạo quân thứ hai do vua Lê đích thân làm Đô tướng, thống đốc đại quân tiến theo cánh giữa, từ huyện Thuỵ Nguyên qua Yên Định thẳng đến đóng ở huyện Đông Sơn.

Đạo quân thứ ba do Vinh quận công Hoàng Đình Ái, Nghĩa quận công Đặng Huấn, Lại quận công Phan Công Tích, Vệ Dương hầu Trịnh Bách chỉ huy tiến theo cánh phải, qua các huyện Lôi Dương và Nông Cống, đánh lấy miền Quảng Xương.


Khi vua Lê tiến quân đến đóng dinh ở huyện Đông Sơn, Vũ Sư Thước đem 500 quân bản bộ, nửa đêm bí mật bỏ dinh quân Mạc ra đi và sáng hôm sau đã có mặt tại dinh vua Lê đóng ở Đông Sơn. Từ đấy khí thế quân Nam triều ngày càng lừng lẫy. Quân Mạc liên tiếp bại trận, buộc phải lui về giữ địa bàn vùng Bút Cương.


Ngày 20 tháng 10 năm Canh Ngọ (1570), vua Lê cùng Tả tướng Trịnh Tùng chỉ huy quân Nam triều vượt sông An Liệt, tiến qua xã Kim Tử (Vĩnh Lộc), Thuần Hựu (Hậu Lộc) đánh thẳng vào các dinh quân Mạc. Vũ Sư Thước chiêu tập hơn 1.000 quân lính cũ, tổ chức thành mũi tiên phong khiêu chiến quân Mạc ở bến sông Lôi Tân (Vinh Lộc). Lại Thế Khanh và Lê Cập Đệ nhanh chóng đánh chiếm được cả Tống Sơn và Nga Sơn. Quân Nam triều đi đến đâu quân Mạc bị đánh bại đến đó và từng bước giành lại thế chủ động trên chiến trường.


Sau 9 tháng tấn công liên tục nhưng không giành được thắng lợi quyết định, sợ quân lính ở lại lâu bất lợi, tháng 12 năm Canh Ngọ, Mạc Kính Điển quyết định rút quân về Bắc1 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 143-144; Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 316-319).


Sau một thời gian củng cố, bổ sung lực lượng, trong 10 năm (Tân Mùi (1571) - Canh Thìn (1580)), quân Mạc nhiều lần tổ chức tấn công quân Nam triều ở vùng Thanh - Nghệ, song kết cục đều thất bại, phải rút quân về Bắc. Ngược lại, quân Nam triều do biết tổ chức thế trận phòng ngự, chặn đánh hiệu quả các trận tiến công của quân Mạc, không tiến quân đánh Bắc triều lần nào, nên không những bảo tồn được thế, mà còn phát triển về lực lên một bước mới.


- Giai đoạn 1580-1592: Năm Canh Thìn (1580), Mạc Kính Điển qua đời đã làm cho “lòng người trong cõi (nhà Mạc) đều dao động”1 (Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 327). Phụ chính ứng vương Mạc Đôn Nhượng được giao thống lĩnh binh quyền, nhưng chỉ ham yến tiệc, chơi bời, thiếu quyết đoán trong chính sự; do vậy triều Mạc dần bước sang “thời kỳ cực bĩ, thế nước lung lay”.


Ngày 10 tháng 9 năm Tân Tỵ (1581), Mạc Đôn Nhượng cùng Nguyễn Quyện và Mạc Ngọc Liễn đem quân vượt biển vào đóng quân ở núi Đường Nang (Quảng Xương, Thanh Hoá), chuẩn bị tấn công quân Nam triều.


Để ứng chiến với quân Bắc triều, Trịnh Tùng cử Hoàng Đình Ái thống lĩnh các tướng mang quân chia thành bốn đạo: Nguyễn Hữu Liêu chỉ huy đội quân tiên phong; Hoàng Đình Ái đích thân đốc suất đại quân làm chính đội, tiến quân đối trận với quân Mạc; Trịnh Bính, Hà Thọ Lộc chỉ huy cánh quân tả đội chống cự với cánh quân của Nguyễn Quyện; Trịnh Văn Hải chỉ huy cánh quân hữu đội chống cự cánh quân của Mạc Ngọc Liễn; Trịnh Đồng, Trịnh Ninh chỉ huy cánh quân hậu đội sẵn sàng tiếp ứng.


Cuộc giao chiến giữa quân Trịnh với quân Mạc diễn ra vô cùng ác liệt. Với khí thế vượt trội, quân Trịnh sát hại hơn 600 quân Mạc, bắt các tướng Mạc là Chấn quận công Nguyễn Công và Phù Bang hầu (không rõ tên) làm tù binh. Mạc Đôn Nhượng phải vội vã thu nhặt tàn quân rút lui. Quân Nam triều toàn thắng, giữ vững địa bàn Thanh - Nghệ. Và “từ đấy binh uy (quân Trịnh) lừng lẫy, quân Mạc không dám lại dòm ngó nữa, dân Thanh Hóa, Nghệ An mới được yên nghiệp”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 157).


Tiếp đến, tháng 7 năm Quý Mùi (1583), Mạc Mậu Hợp lại xuất quân tiến công vào Thanh Hóa, đánh phá các huyện ven sông, nhưng bị quân Trịnh đánh cho đại bại, buộc phải rút về2 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 159).


Sau những thất bại nặng nề và liên tiếp này, Bắc triều từ bỏ hẳn ý định tấn công vùng Thanh - Nghệ, lui về củng cố thế phòng ngự trên vùng lãnh thổ của mình, đặc biệt là khu vực xung quanh Kinh đô Thăng Long.


Ngược với Bắc triều, bắt đầu từ năm Ất Dậu (1585), sau khi chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, quân Nam triều liên tiếp mở các trận tiến công ra vùng Sơn Nam: tập kích các huyện Yên Mô, Yên Khang, hoặc theo đường Thiên Quan tiến đánh các vùng miền tây Bắc Bộ, tới tận Sài Sơn (Hà Tây), sau đó lại rút về Thanh Hóa.


Sang tháng 10 năm Đinh Hợi (1587), quân Nam triều lại đánh phá các huyện Gia Viễn, Yên Hoá, Phụng Hoá (thuộc các phủ Trường Yên, Thiên Quan), chợ Rịa (Nho Quan, Ninh Bình) và phá rã dinh của Tân quận công nhà Mạc. Tháng 11 cùng năm, Trịnh Tùng tiếp tục đưa quân tiến đánh ra huyện Mỹ Lương (Chương Mỹ, Hà Tây) và huyện Lương Sơn (Hoà Bình)...


Để chống lại quân Nam triều, tướng Tây đạo của Bắc triều là Mạc Ngọc Liễn xuất quân tiến ra huyện An Sơn (Hà Tây), đánh vào sườn trái đạo quân của Trịnh Tùng. Tướng Nam đạo là Nguyễn Quyện mang quân đến huyện Chương Đức, rồi vượt sông Do Lễ, đánh vào sườn phải đạo quân của Trịnh Tùng; đồng thời sử dụng một bộ phận lực lượng mai phục ở hai bên con đường nhỏ dưới chân núi, chặn đường tải lương của quân Trịnh.


Do thám nắm được ý đồ của quân Mạc, Trịnh Tùng sai tướng Hoàng Đình Ái đang đêm bí mật đưa một đạo quân về giữ Thanh Hóa; giao cho Hà Thọ Lộc và Ngô cảnh Hựu ở lại phía sau canh giữ binh lương; sai Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Đỗ mang quân đi cầm cự với Mạc Ngọc Liễn nhằm phân tán thế lực của quân Mạc. Dàn dựng xong thế trận, Trịnh Tùng đích thân đốc suất đạo trung quân tiến đánh Nguyễn Quyện. Bị đòn bất ngờ, đạo quân của Nguyễn Quyện nhanh chóng vỡ trận. Phục binh của Nguyễn Quyện bố trí từ trước cũng theo chính binh mạnh ai nấy chạy, tranh nhau qua sông, chết đuối rất nhiều. Thừa thắng, Trịnh Tùng đem đại quân tấn công vào các huyện An Sơn, Thạch Thất, gây thêm cho quân Mạc những thiệt hại lớn. Đến tháng chạp, Trịnh Tùng cùng các tướng thu quân, theo đường qua Thiên Quang, rút về Thanh Hoá1 (Xem Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.II, tr. 180-181; Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 163-164; Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 348-349).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:15:47 pm »

Bị đại bại liên tiếp, thế lực ngày thêm suy yếu nghiêm trọng, nhà Mạc nhanh chóng chuyển hướng chiến lược sang tập trung củng cố hệ thống phòng ngự, lập phòng tuyến, đắp lũy xây thành. Năm Bính Tuất (1586), vua Mạc hạ chỉ cho quân dân các xứ đắp hệ thống lũy đất, trên trồng tre gai, dài vài trăm dặm từ sông Hát đến huyện Sơn Minh (Phú Xuyên, Hà Tây) để bảo vệ sườn phía tây của Kinh thành. Mặt khác, đốc thúc quân lính sửa sang đường sá, gia cố lại Hoàng thành, rồi đưa xa giá từ các hành cung ở ngoại thành vào đóng hẳn trong chính điện.


Năm Mậu Tý (1588), triều đình Mạc “hạ lệnh cho binh dân các huyện trong bốn trấn, đắp thêm ba lần lũy ngoài thành (...) dài mấy mươi dặm để bao bọc lấy kinh thành”2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 164).


Cuối năm Mậu Tý (1588), Trịnh Tùng lại đem đại binh ra đánh các vùng Trường Yên, Thiên Quan. Năm Kỷ Sửu (1589), Mạc Đôn Nhượng cử đại binh dốc toàn lực tấn công Yên Mô, gắng đánh một trận quyết định với Lê - Trịnh. Trịnh Tùng dùng giả kế rút lui, lừa quân Mạc vào chỗ hiểm ở núi Tam Điệp để tiêu diệt. Trận Tam Điệp đã làm sụp đổ hy vọng cuối cùng của nhà Mạc, dọn đường cho quân Lê - Trịnh mở cuộc tổng tấn công ra Bắc.


Cuộc tổng phản công ra Bắc của quân Lê - Trịnh năm Nhâm Thìn (1592): Cuối năm Tân Mão (1591), giáp Tết Nhâm Thìn (1592), thấy thời cơ đã chín muồi, Trịnh Tùng quyết định mở cuộc tổng tấn công ra Bắc tiêu diệt nhà Mạc. Trịnh Tùng huy động 6 vạn quân, chia thành năm đạo, từ Tây Đô theo đường thượng đạo qua Ninh Bình, Hoà Bình, Hà Tây và 10 ngày sau đã hội quân tại Tốt Lâm (bên sông Hát).


Để chống lại quân Trịnh, Mạc Mậu Hợp cùng các tướng Mạc Ngọc Liễn, Nguyễn Quyện, đem 10 vạn binh ra nghênh chiến. Ngày 27 tháng chạp năm Tân Mão (1591), quân Trịnh và quân Mạc đã mở trận giáp chiến lớn tại Phấn Thượng (Tùng Thiện, Hà Tây). Kết quả là quân Mạc đại bại, hàng vạn binh sĩ tử trận. Mạc Mậu Hợp phải khó khăn lắm mới thoát được vòng vây rồi cùng đám bại binh xuống thuyền qua sông Hát tháo chạy. Ngày 30 Tết, Trịnh Tùng cho quân vượt sông Hát (sông Cù) tiến vào áp sát phía tây Kinh thành Thăng Long.


Ngày mồng 5 Tết Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng chỉ huy đại quân theo ba cửa ô: cầu Dừa (Chợ Dừa), cầu Muông (Kim Liên) và cầu Dền tiến vào Thăng Long. Mạc Mậu Hợp bỏ thành, vượt sông Nhị đến đóng tại bến Bồ Đề. Cuộc đọ sức giữa quân Trịnh và quân Mạc diễn ra vô cùng ác liệt tại khu vực lũy cầu Dền. Tại đây, tướng Mạc là Nguyễn Quyện đem đại binh và súng lớn (bách tử) quyết tử với cánh quân Trịnh do Hoàng Đình Ái chỉ huy có sự tiếp ứng của cánh quân từ Hồng Mai (Bạch Mai) do Trịnh Tùng cầm đầu. Dù có chiến lũy hậu thuẫn, nhưng do chênh lệch về lực lượng và tinh thần binh sĩ bạc nhược, quân Mạc nhanh chóng bị đánh bại. Nguyễn Quyện bị bắt, hai con trai của Nguyễn Quyện và hàng ngàn binh sĩ nhà Mạc tử trận. Cung điện, nhà cửa ở Kinh thành bị thiêu trụi.


Làm chủ Kinh thành, Trịnh Tùng ngừng tiến quân, đốc thúc tướng sĩ san bằng lũy đất Đại La. Sau hai tháng tiến hành bình định, dẹp yên những vùng chung quanh Kinh thành, Trịnh Tùng rút quân về Thanh Hoá.


Vua Mạc trở lại Thăng Long, nhưng chính sự ngày càng đổ nát, quân sĩ và lòng dân ly tán, một số trốn sang hàng Lê - Trịnh. Thừa cơ, cuối năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng đem đại quân ra Thăng Long đánh trận quyết định. Mạc Mậu Hợp chạy về Kim Thành (Hải Dương). Không lâu sau đó, Mạc Mậu Hợp bị quân Trịnh truy kích và bắt được tại một ngôi chùa ở huyện Phượng Nhãn (Bắc Giang) đem về Kinh thành xử tử. Đến đây, nội chiến Nam - Bắc triều kết thúc. Triều Mạc về cơ bản bị sụp đổ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM