quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:17:11 pm » |
|
b) Trịnh - Nguyễn phân tranh
Sau một thời gian căng thẳng kéo dài do thái độ chống đối công khai, quyết liệt của viên trấn thủ xứ Thuận - Quảng - chúa Nguyễn Phúc Nguyên, chính quyền trung ương Lê - Trịnh quyết định mở cuộc chinh phạt thế lực họ Nguyễn ở phía Nam. Cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh chính thức bùng phát.
Tháng 3 năm Đinh Mão (1627), Trịnh Tráng cùng vua Lê “mượn tiếng xem xét địa phương, cho quân thuỷ bộ đều tiến”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 43), mở đầu cuộc chinh phạt vào đất Thuận Hóa. Sau khi sai Nguyễn Khải, Nguyễn Danh Thế làm tiên phong, đem 5.000 quân đóng ở Hà Trung (Kỳ Anh, Hà Tình), Trịnh Tráng trực tiếp thống lĩnh đại binh tiến vào Thuận Hoá. Được tin cấp báo, Nguyễn Phúc Nguyên sai Tôn Thất Vệ làm tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm giám chiến, thống lĩnh quân bộ, Hoàng tử Trung chỉ huy quân thủy nhanh chóng tổ chức cản phá quân Trịnh.
Khởi đầu cuộc chiến, tướng bên Trịnh là Lê Khuê đem kỵ binh đánh vào trận địa của quân Nguyễn, nhưng bị đại bác của quân Nguyễn bắn trả dữ dội buộc phải rút lui.
Thấy quân Trịnh đóng ở bắc sông Nhật Lệ, lợi dụng mực nước thủy triều dâng lên vào ban đêm, quân Nguyễn cho lính thuỷ mang đại bác lên thuyền bất ngờ đến tập kích vào đồn trại, gây náo loạn trong đồn trại quân Trịnh. May mắn được Trịnh Tráng mang quân đến tiếp ứng kịp thời, quân Trịnh mới giữ vững được thế trận.
Biết là kéo dài thời gian tiến công sẽ bất lợi, Trịnh Tráng tập trung binh lực, mở trận tập kích lớn vào dinh lũy quân Nguyễn. Dựa vào hệ thống thành lũy và nhất là lực lượng tượng binh ưu thế, quân Nguyễn đã nhanh chóng chặn phá, rồi phản công tiêu diệt bộ phận lớn sinh lực, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của quân Trịnh, giữ vững địa bàn. Tiếp đó, Nguyễn Hữu Dật và Trương Phúc Gia cho người phao tin Trịnh Gia và Trịnh Nhạc sắp nổi loạn. Bị thua trận lại nghe được tin thất thiệt, Trịnh Tráng và đội ngũ võ tướng thuộc quyền thấy lòng không yên, vội vàng thu quân, rút về doanh trại củng cố lực lượng chuẩn bị cho các cuộc tiến công mới1 (Xem Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.II, tr. 245-247; Đại Nam thực lục, Sđd, t.1, tr. 43).
Đây là trận giao chiến mở đầu thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh và chiến thắng thuộc về quân Nguyễn. Và cũng từ đây, nhiều người hiền tài đã tin tưởng tìm đến với Nguyễn Phúc Nguyên, góp thêm tâm trí và sức lực mới cho họ Nguyễn.
Tiếp tục thực hiện kế hoạch chinh phạt họ Nguyễn, tháng 3 năm Quý Dậu (1633), Trịnh Tráng cử Trịnh Tạc làm trấn thủ Nghệ An, đem thủy quân đóng đồn ở cửa biển Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), sai Trịnh Lệ mang quân vào đóng đồn ở châu Bắc Bố Chính.
Tháng chạp năm Quý Dậu, trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Phúc Anh (con thứ ba của Nguyễn Phúc Nguyên) hẹn với Trịnh Tráng sẽ đưa quân làm ứng viện khi quân Trịnh vào đánh Thuận - Quảng. Trịnh Tráng bèn thống lĩnh đại binh tiến thẩng đến cửa biển Nhật Lệ. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Phúc Kiều cho quân đóng cọc gỗ chặn cửa biển, Nguyễn Hữu Dật cho quân đắp lũy Trường Sa để bảo vệ lũy chính và sai Nguyễn Văn Thắng mang quân tổ chức lập thế trận nghênh chiến với quân Trịnh.
Đúng hẹn, quân Trịnh bắn súng hiệu theo quy ước, nhưng không thấy Phúc Anh đem quân đến. Trịnh Tráng sinh nghi, lui quân đóng cách xa doanh lũy của quân Nguyễn và đợi thêm hơn một tuần mà vẫn không thấy động tĩnh gì. Nhận thấy quân Trịnh tỏ ra trễ biếng do phải chốt giữ lâu trong đồn trại, quân Nguyễn bất ngờ mở trận tiến công đánh phá mãnh liệt, diệt quá một nửa số quân Trịnh chốt giữ ở cửa biển Nhật Lệ. Núng thế, Trịnh Tráng phải giao cho Nguyễn Khắc Loát ở lại trấn giữ Bắc Bô Chính (Quảng Bình), rồi dẫn quân về. Đầu năm Quý Mùi (1643), Trịnh Tráng sai Thái bảo Trịnh Tạc và Trịnh Đệ thống lĩnh đại quân, có Thị lang Nguyễn Quang Minh, Tự khanh Phạm Công Trứ và Nguyễn Danh Thọ làm tham tán quân vụ tiến đánh châu Nam Bố Chính, giết chết tướng trấn thủ họ Nguyễn ở đây, rồi nhanh chóng vượt qua cửa biển Nhật Lệ tiến vào An Bài (Bình Chính, Quảng Bình). Tiếp đó, Trịnh Tráng sai Trịnh Đào đem quân đánh doanh lũy Trung Hoà (Mỹ Hòa, Quảng Bình) của quân Nguyễn nhưng không thành công. Lúc này thời tiết nóng bức, bệnh tật phát sinh, quân sĩ chết hàng loạt, Trịnh Tráng buộc phải dẫn quân quay về.
Cuối năm Tân Hợi (1671), quân Trịnh lại tổ chức tấn công vào Nam Bố Chính. Quân Nguyễn lui vào giữ phía trong đại lũy, thực hiện kế thanh dã và đến tháng 2 năm Nhâm Tý (1672), thực hiện trận phản kích đánh bật quân Trịnh ra khỏi bờ nam sông Gianh.
Tháng 6 năm Nhâm Tý (1672), Trịnh Tráng cử Trịnh Căn làm nguyên soái thống lĩnh 10 vạn quân thuỷ, bộ (phao lên là 18 vạn quân), chia thành nhiều mũi cùng tiến đánh quân Nguyễn. Trịnh Tạc đi kèm xa giá vua Lê đến châu Bắc Bố Chính.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2021, 09:17:51 pm » |
|
Nhận được tin quân Trịnh chuẩn bị mở trận tấn công quy mô lớn, chúa Nguyễn bèn phong cho Thái tử Nguyễn Phúc Hiệp (Chưởng cơ Hiệp Đức hầu) làm nguyên soái, Nha uý Mai Phú Lĩnh và Ký lục Vũ Phi Thừa làm tham mưu, Chưởng cơ Trương Phúc Cương và Nguyễn Đức Bảo làm tả hữu tiên phong, khẩn trương tập trung lực lượng, lập thế trận ứng phó với quân Trịnh. Đồng thời, chúa Nguyễn sai tướng thần lại đốc suất quân sĩ khẩn trương chở lương thảo đến dự trữ ở các kho Lai Cách, An Trạch và Trường Dục để sẵn sàng cung cấp cho các cánh quân; mặt khác, điều động 150 thớt voi đến đóng chốt ở xã Phù Tôn.
Nhận lãnh chức trách được giao, Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp cùng các tướng thuộc quyền đốc thúc quân sĩ đến Quảng Bình phối hợp với Nguyễn Hữu Dật và Trấn thủ Quảng Bình Nguyễn Mỹ Đức đóng hàng loạt đồn lũy chặn giữ ở những nơi hiểm yếu. Nguyễn Hữu Dật được giao việc giữ lũy Sa Phụ. Nguyễn Mỹ Đức được giao giữ chính lũy. Chưởng cơ Trương Phúc Cương được giao giữ lũy Trấn Ninh. Trấn thủ Bố Chính là Triều Tín được giao giữ lũy Động Hồi. Trấn thủ Cựu Dinh là Thuận Đức được giao giữ lũy Đâu Mâu. Cai cơ Thuận Trung được giao giữ cầu Mỗi Nại. Tham tướng Tài Lễ đem chiến thuyền đóng cọc gỗ để ngăn cửa biển Nhật Lệ.
Tháng 8 (nhuận) năm Nhâm Tý (1672), quân Trịnh tiến đến châu Bắc Bố Chính, hạ trại đóng đồn từ Chính Thủy đến Sơn Đầu, từ Phú Xá đến Trấn Ninh, tiến hành đắp lũy từ Sơn Đầu đến bờ biển, bày một nghìn chiến thuyền ở sông Gianh và cửa Nhật Lệ để tiếp ứng bộ binh, thanh thế vang dậy.
Tháng 9 năm Nhâm Tý (1672), Triều Tín chia quân tiến đánh quân Trịnh nhưng không thành công bèn rút vào trong lũy Động Hồi cố thủ. Trước tình thế này, Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp sai Tham tướng Tài Lễ đem thủy quân đắp pháo đài ở lũy Trấn Ninh, sai Tham mưu Đồng Giang chiêu mộ dân ven núi làm lính để giữ những trục đường xung yếu ở các cửa nguồn đề phòng quân Trịnh đánh thọc vào.
Thấy quân Trịnh thế mạnh, chúa Nguyễn tổ chức hội kiến với bề tôi. Tại đây, Cai cơ Tống Đức Minh cho rằng: Quân Trịnh vào sâu, lợi ở sự đánh chóng, ta cứ hào sâu lũy cao, giữ mãi để quân nó nhụt đi. Vả lại, đánh thành là tai vạ của nhà binh. Quân Trịnh tiến đánh không xong, lương thảo không tiếp tế được nhất định sớm muộn cũng phải rút quân. Đây là cơ hội để ta đánh và chỉ một tiếng trống là phá được. Còn Trần Đình Ân thì hiến kế: Việc binh cần có tiếng trước rồi mới đến sự thực. Hai nước đánh nhau tất có gián điệp. Quân ta có 16 vạn, xin phao lên là 26 vạn, do chúa tự làm tướng thân chinh, để cho bọn gián điệp về bảo nhau. Thế gọi là việc binh không kiêng quyền biến. Chúa Nguyễn nghe theo mưu kế đó, lập tức cử các quan chia đi hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam để nhanh chóng loan tin khắp nơi.
Chúa Nguyễn đích thân đốc suất quân thủy bộ cùng tiến để tiếp ứng cho Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp. Đội Hữu binh cơ Tam thủy được giao giữ cửa biển Tư Dung. Đội Hậu thủy được giao giữ cửa Eo. Cơ Hậu thuỷ được giao giữ cửa Minh Linh (cửa Tùng, Quảng Trị). Chúa Nguyễn lại huy động hết hương binh năm huyện đóng giữ ở bờ biển Trường Sa. Từ đấy thanh thế quân Nguyễn rất lừng lẫy, lòng người lại yên ổn và tin tưởng. Thuyền chúa Nguyễn tiến đến Kim Đôi, thuận theo gió nam, chạy thẳng đến Cựu Dinh, đóng lại ở phủ Toàn Thắng.
Tháng 11 năm Nhâm Tý (1672), tướng Trịnh là Lê Thời Hiến đem quân tiến đánh lũy Trấn Ninh. Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp thống suất đại binh đóng ở Cừ Hà, sai các tướng mang quân ra chốt giữ đồn Sa Chủy và cửa Nhật Lệ làm hậu thuẫn cho Trấn Ninh, nên quân Trịnh đánh mãi mà không thắng được.
Bị Trịnh Tạc quở trách gay gắt, Lê Thời Hiến lại đốc thúc 3 ngàn quân sĩ tiến vào sát chân lũy san hào, lấp rãnh, đào khoét thân lũy, thả diều giấy phóng hỏa, bắn tên lửa vào lũy, gây tổn thất nghiêm trọng cho phía quân Nguyễn. Tình thế ngày càng nguy cấp, tướng giữ lũy là Trương Phúc Cương xin bỏ Trấn Ninh, lui về giữ Mỗi Nại. Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp kiên quyết phản đối và lập tức sai người đến lũy Sa Phụ yêu cầu Nguyễn Hữu Dật đem quân đến cứu viện Trấn Ninh. Cũng thời điểm này, tướng Trịnh là Tham đốc Thắng đem hơn 30 chiến thuyền từ cửa biển tiến vào, định chẹn bến sông Trấn Ninh để chặn đường viện binh của quân Nguyễn. Nguyễn Phúc Hiệp lập tức sai cai cơ Kiên Lễ nhân đêm dẫn quân thẳng tới đồn Sa Chủy, đắp đài cát, đặt súng lớn, rình thuyền của Tham đốc Thắng đến thì bắn; đồng thời sai Tham tướng Tài Lễ mang chiến thuyền ra cửa biển Nhật Lệ hiệp sức cùng đánh quân Trịnh. Đoàn Thủy binh của Tham đốc Thắng quả nhiên bị Kiên Lễ đánh úp.
Khi Nguyễn Hữu Dật dẫn quân đến nơi thì lũy Trấn Ninh đã bị phá vỡ hơn 30 trượng. Lúc này màn đêm đã buông xuống, người cách người chỉ gang tấc mà không thể nhận ra nhau. Nguyễn Hữu Dật vội đốc thúc quân lính nhanh chóng thu lượm củi và cỏ khô đốt lên làm đuốc. Quân Trịnh thấy vậy nghi là có phục binh nên không dám tới gần. Nhân cơ hội này, ngay trong đêm, Nguyễn Hữu Dật đốc thúc quân sĩ tập trung dựng ván làm phên, lấy sọt tre đựng đất đắp vá lại những đoạn lũy bị đào phá. Sáng sớm hôm sau, quân Trịnh dồn sức tiến công, nhưng lũy đã được “hàn lại” bền vững rồi, nên không thể phá được. Cuộc giành giật giữa quân Nguyễn với quân Trịnh ở Trấn Ninh diễn ra vô cùng ác liệt và thương vong của cả hai bên là rất lớn. Đến tháng chạp năm Nhâm Tý (1672), thấy đánh Trấn Ninh liên tục mấy tháng mà không mang lại kết quả, mà thời tiết lúc này đã chuyển sang đông, đất ẩm thấp, trời rét buốt, Trịnh Tạc bèn đưa vua Lê về đồn trú tại Phù Lộ, cử Lê Thời Hiến ở lại giữ đồn Chính Thủy. Ngay sau đó, Lê Thời Hiến lại hội kiến với các tướng thuộc quyền, quyết định mở trận tấn công lũy Trấn Ninh một lần nữa.
Biết được ý đồ của Lê Thời Hiến, Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp sai Cai cơ Ngô Thắng Lâm mang hơn 60 thớt voi men quanh theo bãi biển Trường Sa mà ra vào lũy Sa Phụ, đồng thời cho 4 binh thuyền của thủy đội chèo ra biển, đến ngang cửa Ròn, sáng đi chiều về để nghi binh quân Trịnh. Lập tức, Lê Thời Hiến tức tốc đốc thúc quân sĩ đánh ngay vào lũy Trấn Ninh. Dựa vào thành lũy kiên cố, lại nắm quyền chủ động, nên sĩ khí quân Nguyễn được nhân lên gấp nhiều lần, quân Trịnh vẫn không thể nào đột phá được Trấn Ninh, trong khi số thương vong lại ngày mỗi tăng. Được tin cấp báo, Trịnh Căn trực tiếp dẫn thủy quân đến ứng cứu, nhưng vừa tới sông Gianh thì bị trúng gió độc đổ bệnh phải vội trở về Bắc; Lê Thời Hiến cũng vội vàng rút quân về theo.
Đến đây chúa Trịnh và chúa Nguyễn thoả thuận lấy sông Gianh làm giới tuyến, phân chia đất nước thành hai quốc gia: phía nam sông là Đàng Trong thuộc quyền kiểm soát của chúa Nguyễn, phía bắc sông là Đàng Ngoài thuộc quyền kiểm soát của vua Lê - chúa Trịnh. Trịnh Tạc kèm xa giá vua Lê về Đông Đô. Chúa Nguyễn cũng rút quân trở về phủ Lương Phúc1 (Xem Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.II, tr. 329-330; Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 84-88). Cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh đến đây chấm dứt.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:17:47 pm » |
|
II- TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
Trong khoảng thời gian từ năm Đinh Hợi (1527) đến trước khi phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ vào năm Tân Mão (1771), đất nước ta có ba hệ thống chính quyền song song, hoặc liên tiếp tồn tại: chính quyền của nhà Mạc ở Thăng Long (1527-1592) và Cao Bằng (1592-1677), chính quyền của vua Lê - chúa Trịnh ở Thanh Hóa (1533- 1592) và Thăng Long (1592-1778), chính quyền họ Nguyễn ở Thụận Hóa (1558-1783). Trong ba thế lực cầm quyền trên, mỗi thế lực có những quan điểm tư tưởng quân sự độc lập và mỗi nội dung lại được biểu hiện không đồng đều ở từng thời kỳ nhất định trong hơn 200 năm lịch sử của giai đoạn đầy biến động này.
1. Xây dựng lực lượng quân đội mạnh làm công cụ để tranh giành quyền lực, làm chỗ dựa cho sự tồn tại của các thế lực phong kiến
Triều Lê là một triều đại được lập nên sau chiến công đánh đuổi giặc ngoại bang xâm lược, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Một trăm năm của triều đại Lê Sơ là một thời kỳ rạng rỡ bậc nhất với sự phát triển vượt bậc của chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, tư tưởng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Mặc dù các vua Lê Sơ cầm quyền trong hơn 20 năm đầu thế kỷ XVI đã đẩy đất nước vào khung hoảng trầm trọng, nhưng công lao và thành tựu rạng rỡ của triều đại này đã bén rễ ăn sâu vào tâm thức người dân, không vì những hạn chế, suy đồi trong một vài đời vua mà dễ dàng bị hủy hoại.
Trong khi đó, Mạc Đăng Dung xuất thân là một võ tướng, nhờ khôn khéo, mưu lược trong chính trị, nhất là “có công” trong việc đàn áp phong trào khởi nghĩa nông dân mà trở thành một thế lực lớn. Khi thế lực chính trị - quân sự đã đủ mạnh, năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung phế truất hoàng đệ Xuân, xóa bỏ triều Lê, dựng nên triều Mạc.
Dù triều Mạc đã thành hiện hữu, nhưng một bộ phận quan lại, võ tướng vì quyền lợi đẳng cấp và “tư tưởng trung quân” chính thống không những không chịu thần phục triều Mạc, mà ngược lại đã nổi dậy chống lại triều Mạc và khôi phục lại triều Lê. Phong trào “phù Lê, diệt Mạc” đã hình thành và phát triển ở nhiều nơi, đặc biệt nhất là xứ Thanh Hoá - vùng đất thang mộc của các vua Lê.
Công cuộc trung hưng của nhà Lê chính thức được khởi dựng với sự nghiệp của Nguyễn Kim. Ông người huyện Tống Sơn (Hà Trung), Thanh Hoá, là con đầu của Trừng quốc công Nguyễn Văn Lựu, từng làm quan trong triều. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, Nguyễn Kim lánh sang vùng Sầm Châu (Sầm Nưa, Lào) nương náu. Được vua Ai Lao lúc đó là Sạ Đẩu giúp đỡ, cấp cho đất và dân để sản xuất, tích trữ lương thảo, chiêu nạp tướng sĩ, chuẩn bị cho công cuộc trung hưng nhà Lê. Nguyễn Kim xây dựng căn cứ ở vùng núi tây nam Thanh Hoá thuộc biên giới Việt - Lào và đến năm Tân Mão (1531), Nguyễn Kim đã dẫn quân từ Ai Lao về Thanh Hoá. Mạc Đăng Dung sai quân đi đánh, nhưng bị thua.
Đầu năm Quý Tỵ (1533), Nguyễn Kim tìm được một người con của vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, đang nương náu ở Ai Lao và lập nên làm vua (tức vua Lê Trang Tông), lấy niên hiệu là Nguyên Hoà - khởi đầu triều Lê Trung hưng. Nguyễn Kim được phong làm Thái sư Hưng Quốc công, đảm trách mọi việc quân binh, triều chính.
Những năm sau đó, Nguyễn Kim mang quân về chiếm cứ một số địa phương vùng Thanh - Nghệ và đến năm Quý Mão (1543), đưa Lê Trang Tông về Tây Đô, xây dựng các hành điện, hành tại ở Vạn Lại, Yên Trường (Thọ Xuân, Thanh Hoá). Chính quyền vua Lê - chúa Trịnh (gọi là Nam triều) đã kiểm soát được nhiều vùng đất rộng lớn từ Thanh Hoá đến Quảng Bình. Đông đảo hào kiệt và nhân dân các nơi kéo về hưởng ứng, thanh thế ngày càng thêm mạnh.
Trong số võ tướng đi theo Nguyễn Kim từ lúc khởi binh, nổi bật có Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh Phúc (Vinh Lộc, Thanh Hoá), xuất thân bình dân, võ nghệ tài giỏi, được Nguyễn Kim yêu mến, gả cho con gái là Ngọc Bảo và trọng dụng vào đốc suất việc quân, xông pha trận mạc.
Năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Kim đem đại binh đi đánh nhà Mạc ở Sơn Nam. Đến Yên Mô, bị hàng tướng nhà Mạc là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất đầu độc sát hại. Ngay sau đó, Trịnh Kiểm được vua Lê Trang Tông phong làm Đô tướng tiết chế, Bình chương quân quốc, trọng sự, Thái sư Lạng Quốc công, thống lĩnh quan quân, quyết đoán mọi việc. Cũng từ đây, mối bất hoà âm ỉ bấy lâu giữa họ Nguyễn và họ Trịnh bắt đầu bộc lộ bằng những hành động thanh toán lẫn nhau trong nội bộ triều chính. Cụ thể là, sau khi thâu tóm xong mọi quyền hành trong tay, Trịnh Kiểm tìm cách loại bỏ dần ảnh hưởng của họ Nguyễn. Thậm chí, Trịnh Kiểm đã lập mưu sát hại người anh vợ của mình - Tả tướng Nguyễn Uông (con trai trưởng của Nguyễn Kim). Sớm biết được dã tâm nham hiểm của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng - con thứ của Nguyễn Kim, nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã nhờ chị gái là Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho được vào trấn thủ đất Thuận Hoá để tránh nguy cơ bị ám hại.
Chưa rõ là có biết được mục đích riêng của Nguyễn Hoàng hay không, nhưng trước hết là vì sự vững mạnh của Nam triều, nguyện vọng của Nguyễn Hoàng đã được Trịnh Kiểm chấp thuận và dâng biểu lên vua Lê biện giải rằng: “Thuận Hoá là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trỏ, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam"1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Nxb. Sử học, Hà Nội, t.1, tr.28). Được vua Lê chấp thuận, Trịnh Kiểm đã trao trấn tiết cho Nguyễn Hoàng và căn dặn: “Phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi”2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 28). Không bàn đến mưu đồ của Trịnh Kiểm là gì, nhưng rõ ràng là trong tâm tưởng sâu thẳm của mình, Nguyễn Hoàng đã mưu tính đến việc xây dựng một lãnh địa riêng. Do vậy, điều trước tiên xuất hiện trong tư tưởng của Nguyễn Hoàng nhất định phải là xây dựng một quân đội mạnh để bảo vệ mình, đồng thời để bảo vệ vùng đất trấn giữ và mở rộng cương giới.
Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng vào nhậm chức ở Thuận Hoá, “những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi”1 (). Năm Kỷ Mùi (1559), vùng Thanh Hoá, Nghệ An bị lụt lớn, nhiều gia đình bị mất nhà cửa, mùa màng thất bát, nhân dân đói khổ, nhiều người đã kéo nhau vào đất Thuận Hoá để tìm kế sinh nhai.
Năm Nhâm Thìn (1592), sau khi mở cuộc tấn công quyết định vào Thăng Long, đánh tan quân Mạc, về cơ bản kết thúc cục diện Nam - Bắc triều, Trịnh Tùng xưng Vương, xây dựng Vương phủ, thâu tóm trong tay mọi quyền hành và biến vua Lê thành bù nhìn. Thời gian này Nguyễn Hoàng đem binh thuyền ra yết kiến vua Lê, được sai đi đánh dẹp các dư đảng của nhà Mạc ở các vùng Sơn Nam, Hải Dương, Sơn Tây, Thái Nguyên... và lập được nhiều chiến công. Sự biến đổi của tình thế và vai trò nổi trội của Nguyễn Hoàng ở khắp cả trong Nam, ngoài Bắc đã làm cho mâu thuẫn giữa hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn phát triển đến mức không thể dung hòa được nữa. Tháng 11 năm Canh Tý (1600), nhân việc được điều đi đánh Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê ở cửa biển Đại An (Nam Định), Nguyễn Hoàng đã “đem cả tướng sĩ, thuyền ghe bản bộ, đi đường biển thẳng về Thuận Hoá, để hoàng tử thứ năm là Hải và hoàng tôn là Hắc ở lại làm con tin”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.35).
Trở lại Thuận Hoá, Nguyễn Hoàng quyết định đẩy mạnh việc xây dựng quân đội và củng cố bộ máy chính quyền riêng, không nghĩ đến việc quay trở về yết kiến vua Lê nữa, nhưng vẫn giữ quan hệ hoà hiếu, hằng năm nộp thuế và xin kết nghĩa thông gia với Trịnh Tùng.
Tháng 5 năm Quý Sửu (1613), ở tuổi 89, trước lúc qua đời, sau gần 60 năm gây dựng lực lượng, Nguyễn Hoàng đã di chúc lại cho con cháu và các cận thần: "Đất Thuận - Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng, sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng được cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta"2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.35).
Người tiếp tục sự nghiệp của chúa tiên Nguyễn Hoàng là chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Ngay sau khi thay cha làm trấn thủ Thuận Hóa - Quảng Nam, Nguyễn Phúc Nguyên cho “sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục”3 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.37).
Tháng 3 năm Đinh Mão (1627), Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên, nhóm lên cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nguyễn Phúc Nguyên huy động các lực lượng thủy binh, bộ binh và tượng binh tinh nhuệ đánh bại cuộc tấn công của Trịnh Tráng. Trịnh Tráng rút quân về, củng cố lực lượng chuẩn bị cho các cuộc tiến công mới với quy mô và mức độ ác liệt hơn.
Tháng 6 năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh dẫn 10 vạn quân thủy bộ (nhưng phao lên thành 18 vạn) quyết phá tan hệ thống phòng thủ của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cũng huy động cao độ lực lượng, phao tin là có 26 vạn sẵn sàng đối chiến với chúa Trịnh. Hai bên đánh nhau kịch liệt hàng tháng liền. Riêng vùng lũy Trấn Ninh, như quốc sử nhà Nguyễn chép: “quân Trịnh xác chết thành đống, quân ta (tức quân Nguyễn) cũng bị thương và chết rất nhiều”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.87). Cuối cùng quân Trịnh phải rút về phòng giữ nghiêm ngặt ở châu Bắc Bố Chính. Và sau 45 năm chinh chiến (1627-1672), quân Trịnh đã 6 lần tấn công với quy mô lớn vào khu vực phía nam sông Gianh, trong khi quân Nguyễn chỉ duy nhất có một lần đánh ra phía bắc sông Gianh, chiếm đóng 7 huyện Nghệ An trong 5 năm, nhưng kết cục là không bên nào thôn tính được bên nào. Cuối cùng chúa Trịnh và chúa Nguyễn đi đến thỏa thuận lấy sông Gianh làm ranh giới phân định đất nước thành hai “quốc gia” là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:21:07 pm » |
|
- Quân đội triều Mạc:
Kế thừa và phát triển quan điểm xây dựng quân đội trong tư tưởng quân sự triều Lê Sơ và trước đó, quân đội triều Mạc được tổ chức gồm các bộ phận: Bộ Binh (cơ quan chuyên trách hành chính - quân sự), Binh khoa, các Giám sát Ngự sử (cơ quan kiểm sát quân sự), 4 vệ quân (cấm quân), 5 phủ quân và các Đô ty (trấn quân).
Về 4 vệ quân, năm Mậu Tý (1528), Mạc Đăng Dung đặt 4 vệ quân thống lĩnh cấm quân của triều đình, gồm: Vệ Hưng Quốc (binh lính lấy từ xứ Hải Dương), Vệ Cẩm Y (binh lính lấy từ xứ Sơn Tây), Vệ Kim Ngô (binh lính lấy từ xứ Kinh Bắc), Vệ Chiêu Vũ (binh lính lấy từ xứ Sơn Nam).
Ở mỗi vệ có một viên thư ký. Quân trong các vệ được phân bổ thành các ty. Mỗi ty đặt một viên Chỉ huy xứ, 1 viên Chỉ huy Đồng tri, 1 viên Chỉ huy Thiêm sự, 10 viên Trung hiệu, 1.100 Trung sĩ, chia thành 22 phiên để túc trực. Các trung sĩ theo lệ chia phiên, mỗi phiên chia thành 5 giáp, mỗi giáp đặt 1 viên giáp thủ1 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 112; Đại Việt thông sử, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 268).
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết: “Đăng Dung lại đặt thêm vệ Hưng Quốc và vệ Chiêu Vũ, cộng với hai vệ Cẩm Y, Kim Ngô đã đặt từ trước, thành bốn vệ”2 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, t.II, tr. 102). Như vậy, cùng với 2 vệ Cẩm Y và Kim Ngô kế thừa của quân đội triều Lê, Mạc Đăng Dung đặt thêm 2 vệ Hưng Quốc và Chiêu Vũ, tổ chức lại cấm quân thành 4 vệ với những quy cách mới. Đến khoảng những năm 1549 - 1562, triều Mạc đặt lại tên cho 4 vệ quân này là Phù Nam, Phù Tây, Triều Đông và An Bắc.
Năm Canh Tuất (1550) - Tân Hợi (1551), trong cuộc giải cứu Lê Bá Ly bị vây ở trại Hồng Mai, “Vạn An hầu, Văn Phái hầu (Nguyễn Quyện) và Tả Ngự hầu mỗi người mang 3.000 cấm binh tới hộ vệ”1 (Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 290). Ít lâu sau, “tướng Tây đạo là Thái uý Đoan quốc công Nguyễn Khải Khang (...) cũng dẫn 3.000 quân dưới trướng quy thuận (vua Lê)”2 (Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 292). Quân số mỗi Vệ quân trong tổ chức 4 Vệ quân thời Mạc hẳn cũng không vượt xa con số 3.000 quân. Theo đó, Cấm quân triều Mạc, bao gồm 4 vệ quân, cũng không vượt quá xa con số 12.000 quân.
Tài liệu lịch sử còn ghi lại được về một số võ quan cao cấp đứng đầu các vệ quân này, gồm: Vạn An hầu (chưa rõ họ tên) làm Chưởng Kim Ngô vệ sự (năm Kỷ Dậu - 1549), Tả Ngự hầu (chưa rõ họ tên) quản giữ vệ Cẩm Y (năm Kỷ Dậu - 1549), Văn Phái hầu Nguyễn Quyện quản giữ vệ Phù Nam (năm Kỷ Dậu - 1549), Thạch quận công Nguyễn Quyện làm Chưởng Phù Nam vệ (năm Nhâm Tuất - 1562), Hoa quận công (không rõ họ tên) làm Chưởng Triều Đông vệ (năm Nhâm Tuất - 1562), Phò mã đô uỷ Ngạn quận công Mạc Ngọc Liễn làm Chưởng Phù Tây vệ (năm Nhâm Tuất - 1562), Phò mã tông chính Thái bảo Ninh quốc công (không rõ họ tên) làm Chưởng An Bắc vệ (năm Nhâm Tuất - 1562).
Về Ngũ phủ quân (5 phủ quân), đây là một bộ phận thuộc quân đội thường trực của triều Mạc, gồm: Đông quân đô đốc phủ, Tây quân đô đốc phủ, Nam quân đô đốc phủ, Bắc quân đô đốc phủ và Trung quân đô đốc phủ.
Theo binh chế thời Lê Thánh Tông, từ năm Quang Thuận thứ 7 (năm Đinh Hợi - 1467), mỗi phủ quân có 6 vệ, mỗi vệ có 5 hoặc 6 sở, mỗi sở có 20 đội, mỗi đội có 20 người. Như vậy, theo mô hình tổ chức, mỗi phủ quân có khoảng 12.000-14.400 quân. Tại mỗi phủ quân đặt các chức Tả Đô đốc, Hữu Đô đốc, Đô đốc Đồng tri và Đô đốc Thiêm sự để cai quản. Mỗi Vệ quân có các chức Tổng tri, Đồng tổng tri và Thiêm tổng tri. Mỗi Sở quân có các chức Quản lãnh và Phó quản lãnh.
Mỗi phủ quân đảm trách hoạt động quân sự trên một vùng lãnh thổ trọng yếu. Theo quy chế năm Quang Thuận thứ 8 (năm Mậu Tý - 1468), phạm vi hoạt động của ngũ phủ quân như sau: Trung quân phủ quản lĩnh đạo Thanh Hoa (sau đổi là thừa tuyên Thanh Hoá), Đông quân phủ quản lĩnh đạo Nam Sách (sau đổi là thừa tuyên Hải Dương), Tây quân phủ quản lĩnh đạo Quốc Oai (sau đổi là thừa tuyên Sơn Tây), Nam quân phủ quản lĩnh đạo Thiên Trường (sau đổi là thừa tuyên Sơn Nam), Bắc quân phủ quản lĩnh đạo Bắc Giang (sau đổi là thừa tuyên Kinh Bắc).
Thành lập vương triều dựa trên một cuộc “chính biến” hoà bình, Mạc Đăng Dung hầu như thừa kế được toàn bộ tư tưởng chỉ đạo về tổ chức quân đội, thậm chí là lôi kéo được cả những võ tướng (ngoại trừ một số tướng chống đối, tìm cách phục hồi triều Lê) - bộ phận rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư tưởng quân sự của triều Lê Sơ để phục vụ cho sự nghiệp của mình. Đây cũng chính là lôgích hợp lý cho thấy rằng: có rất nhiều khả năng Mạc Đăng Dung vẫn duy trì tổ chức Ngũ phủ quân như mô hình dưới thời Lê Thánh Tông, với những thay đổi phù hợp điều kiện và yêu cầu thực tiễn của vương triều mới1 (Chi tiết tổ chức Ngũ phủ quân thời Lê Thánh Tông, xin xem công trình nghiên cứu của Lê Kim Ngân: Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497), Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962, tr. 83-89). Tuy nhiên, những cứ liệu lịch sử hiện có chưa cho phép mô tả đầy đủ mô hình tổ chức Ngũ phủ quân thời Mạc. Chúng ta chỉ có thể tham chiếu về mô hình tổ chức Ngũ phủ quân thời Mạc qua mô hình Ngũ phủ quân thời Lê Thánh Tông trước đó. Điều đáng lưu ý nhất là các tư liệu lịch sử lưu giữ được còn ghi rõ về một số võ tướng từng nắm giữ Ngũ phủ quân dưới thời Mạc, như: Phổ quận công Lê Khắc Thận giữ chức Nam quân đô đốc phủ Chưởng phủ sự (năm Kỷ Dậu - 1549), Lâm quận công (chưa rõ họ tên) giữ chức Bắc quân đô đốc phủ tả đô đốc Thự phủ sự (năm Kỷ Tỵ - 1569), Hoàng quận công (không rõ họ tên) giữ chức Tây quân đô đốc phủ tả đô đốc (năm Giáp Thân - 1584) và Hoàng quận công (không rõ họ tên) giữ chức Nam quân đô đốc phủ tả đô đốc (năm Bính Tuất - 1586).
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:22:38 pm » |
|
Về tổ chức quân sự ở các địa phương: các đơn vị hành chính thời Mạc gần như được giữ như thời Lê (Lê Thánh Tông), gồm đạo, phủ, huyện, tổng và xã. Trên thực tế, triều Mạc chỉ quản lý được khu vực lãnh thổ từ Thanh Hoá trở ra Bắc, còn vùng Nghệ An, Thuận Hoá và Quảng Nam nhanh chóng bị quân nhà Lê chiếm giữ. Mặt khác, vùng miền núi Tây Bắc như Hưng Hoá, Tuyên Quang, Ninh Sóc cũng hầu như do các thế lực địa phương (Đặng Định, Vũ Văn Mật) cai quản. Như vậy, thực tế chính quyền nhà Mạc chỉ quản lý các đạo Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Sơn Nam, Lạng Sơn, Thanh Hoa và Đông Kinh.
Năm Mậu Tý (1528), khi hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền, Mạc Đăng Dung đã “đặt bốn vệ Hưng Quốc, Chiêu Vũ, Cẩm Y, Kim Ngô, năm phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của nha môn, phỏng theo quan chế triều trước, y lệ mà biên chế bổ sung”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 112). Cũng từ lôgích trên, có thể đi đến kết luận rằng Mạc Đăng Dung và các vua triều Mạc duy trì mô hình quân sự địa phương của Lê Thánh Tông. Nếu vậy, ở các đạo, triều Mạc thiết đặt Đô ty trong bộ máy chính quyền địa phương để đảm trách các vấn đề quân sự địa phương. Giả thuyết này đặt trong bối cảnh chiến sự liên miên suốt thời gian tồn tại của nhà Mạc và mối đe dọa thường trực năm này qua năm khác bởi các cuộc tiến công của quân Lê - Trịnh càng khẳng định thêm sự cần thiết phải củng cố tổ chức và lực lượng, cũng như vai trò quan trọng của quân sự địa phương.
Cũng theo mô hình bộ máy chính quyền thời Lê Thánh Tông, từ sau Hiệu định quan chế năm Tân Mão (1471), ở mỗi đạo - thừa tuyên có 3 ty do Thừa chính sứ đứng đầu, gồm Đô tổng binh sứ ty (Đô ty) phụ trách quân đội và các vấn đề quân sự, Thừa chính sứ ty (Thừa ty) phụ trách hành chính dân sự và Thanh hình hiến sát sứ ty (Hiến ty) phụ trách việc thanh tra, giám sát và hình ngục trong phạm vi đạo - thừa tuyên đó1 (Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, (Quan chức chí, Lễ nghi chí), Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961, tr. 11). Từ thời Lê Thánh Tông đã có tổ chức hoàn bị 13 đô ty nắm giữ quân đội địa phương ở 13 thừa tuyên. Đến thời Mạc, không rõ nhà Mạc tổ chức được bao nhiêu Đô ty. Nhưng chắc hẳn có các Đô ty Kinh Bắc, Đô ty Sơn Tây, Đô ty Hải Dương, Đô ty Sơn Nam, Đô ty Lạng Sơn. (Còn sự tồn tại của Đô ty Thanh Hoa (khi đạo Thanh Hoa bị chia tách thành hai đơn vị hành chính và trở thành chiến địa trong mấy chục năm), Đô ty Ninh Sóc (Thái Nguyên), Đô ty Hưng Hoá và Đô ty Tuyên Quang vẫn còn chưa xác định được).
Trong các hoạt động quân sự của triều Mạc, bên cạnh bốn vệ quân, năm phủ quân, một lực lượng thường xuyên được nhắc đến là quân bốn trấn. Những nghiên cứu liên quan cho biết bốn trấn này tức là bốn đơn vị hành chính đương thời bao quanh Kinh đô Thăng Long - Đông Kinh, gồm: Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam và Hải Dương. Tuy nhiên, về tổ chức, quy mô và tính chất của “quân bốn trấn” này vẫn còn là một vấn đề nan giải trong tình hình nghiên cứu hiện nay. Rất có thể “quân bốn trấn” chính là quân của các Đô ty ở bốn trấn này (Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam và Hải Dương) - là những địa phương mà vương triều Mạc nắm chắc được trong hệ thống quyền lực của mình.
Chắc hẳn trong bối cảnh chiến sự liên miên và sự tồn tại của vương triều phụ thuộc nhiều vào sức mạnh quân sự, triều Mạc đã có những thay đổi nhất định trong quy mô và tổ chức quân sự địa phương. Tuy nhiên, tình hình tư liệu và các kết quả nghiên cứu hiện thời chưa cho phép phục dựng chi tiết và đầy đủ mô hình tổ chức quân sự địa phướng của triều Mạc (so với thời Lê Thánh Tông)1 (Về chi tiết tổ chức Đô ty thời Lê Thánh Tông, có thể tham khảo sách Thiên Nam dư hạ tập được dẫn lại trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.II, tr. 1051-1053, 1018, 1103-1105, 1178-1179. Tham khảo thêm Lê Kim Ngân: Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497), Sđd).
Về bộ binh và các cơ quan kiểm soát quân sự, từ năm Canh Thìn (1460), Lê Thánh Tông đã lập đủ cơ cấu sáu bộ trong bộ máy chính quyền trung ương. Từ đó về sau, cơ cấu sáu bộ được duy trì trong bộ máy chính quyền phong kiến Việt Nam. Triều Mạc kế thừa trực tiếp bộ máy quyền lực của triều Lê Sơ, hẳn cũng sử dụng mô hình sáu bộ chuyên trách này, trong đó có Bộ Binh - cơ quan chuyên trách quân sự (Bộ Quốc phòng). Một vài sự kiện trong chính sử giúp chúng ta khẳng định điều này; đó là, năm Kỷ Tỵ (1569), Bắc quân Đô đốc phủ Tả đô đốc thự phủ sự Lâm quận công được thăng làm Binh bộ thượng thư Chưởng bộ sự2 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 139). Đến năm Kỷ Mão (1579), Mạc Mậu Hợp lại thăng Giáp Trưng lên chức Binh bộ thượng thư Chưởng bộ sự1 (Xem Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 325).
Nếu cho rằng triều Mạc tổ chức sáu bộ theo mô hình thời Lê Thánh Tông thì Bộ Binh sẽ như một cơ quan hành chính - quân sự đảm nhiệm công việc binh chính trong cả nước, tức là xét trong quan hệ Bộ Binh - 5 Đô đốc phủ quân thì Bộ Binh đảm nhiệm các công việc quân sự về hành chính, hậu cần, đặt quan trấn thủ các vùng biên giới, các vùng trọng yếu, ứng phó các việc khẩn cấp, còn Ngũ phủ có nhiệm vụ trực tiếp điều động, chỉ huy quân đội khi có chiến tranh.
Đứng đầu Bộ Binh là Binh bộ thượng thư (Chưởng bộ sự - hàng Tòng nhị phẩm), có Binh bộ Tả thị lang và Binh bộ Hữu thị lang (đều hàng Tòng tam phẩm) giúp việc. Bộ ba chức quan cao cấp này điều khiển tất cả mọi công việc thuộc Bộ Binh và làm việc trực tiếp với nhà vua.
Những công việc chuyên môn của Bộ Binh do hai cơ quan chuyên trách là Vũ khố thanh lại ty và Quân vụ thanh lại ty thực hiện. Mỗi Thanh lại ty có một viên Lang trung (hàng Chánh lục phẩm) đứng đầu, dưới có một chức Viên ngoại lang (hàng Tòng lục phẩm) giúp việc. Vũ khôi thanh lại ty chuyên trách về binh nhung, khí giới, hộ giá, nghi trượng, phục vụ chuẩn bị những nghi lễ lớn của triều đình (lễ đầu năm, ngày Đông chí, các đám tang,...). Quân vụ thanh lại ty chuyên trách việc tuyển chọn, bổ sung và khảo xét quân lính, hoạch định các cuộc hành binh, tham mưu các vấn đề quân sự,...
Cơ quan thường trực của Bộ Binh là Binh bộ Tư vụ sảnh. Đứng đầu cơ quan thường trực này là chức quan Binh bộ Tư vụ (hàng Tòng bát phẩm). Binh bộ Tư vụ sảnh có nhiệm vụ điều hành, giám sát các công việc thường nhật của Bộ Binh1 (Xem Lê Kim Ngân: Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497), Sđd, tr. 68).
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:28:42 pm » |
|
Dưới thời Hồng Đức (1470-1497), theo “Quan chế tổng mục” trong Thiên Nam dư hạ tập, Bộ Binh có 126 thuộc viên 2 (Xem Lê Kim Ngân: Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497), Sđd, tr. 69). Tài liệu thư tịch và văn bia thời Mạc còn cho biết một số chức quan thuộc Bộ Binh như sau: Nguồn: Đinh Khắc Thuân: Lich sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001, tr.126, có bổ sung phần Giáp Trưng từ trong Đại Việt thông sử. Ngoài ra, tham gia vào tổ chức quân sự của bộ máy nhà nước còn có Binh khoa và các chức quan Giám sát ngự sử thuộc Ngự sử đài, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát họạt động của Bộ Binh và các đơn vị trong hệ thống quân đội. Về quân số của quân đội triều Mạc, từ những tư liệu sưu tầm được và những thành tựu nghiên cứu cho đến nay chưa cho phép xác định một cách chính xác về quân số của quân đội triều Mạc. Tháng 5 năm Tân Hợi (1551), trước cuộc tấn công của Trịnh Kiểm (đã chiếm được Sơn Nam và Sơn Tây), nhà Mạc đã “gọi bắt hết hương binh ở hai đạo ấy (đạo Đông và Bắc) cho lệ thuộc vào các doanh” 1 (Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 298). Đến tháng 4 năm Đinh Sửu (1577), triều Mạc “lấy quân hạng nhất, nhì, ba ở các huyện mỗi người mang đủ 3 tháng lương ăn để chuẩn bị xâm lược Thanh Hoa” 2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr.154; xem thêm Đại Việt thông sử, Sđd, tr.323). Trong suốt thời gian cầm quyền của nhà Mạc (1527 - 1592), chưa hề thấy một ghi chép nào về việc vương triều này rút bớt quân số trong quân đội thường trực. Trong khi đó, các năm Tân Hợi (1551), Đinh Sửu (1577), triều Mạc đã “gọi bắt hết hương binh”, “lấy quân hạng nhất, nhì, ba ở các huyện”, thực là đã huy động kiệt cùng sức người cho chiến tranh. Như vậy, tư tưởng “Ngụ binh ư nông” được thực hiện từ thời Lý và được phát triển khá hoàn bị dưới triều Lê Thánh Tông đã không còn được triều Mạc thực hiện nữa. Vương triều Mạc buộc phải nhất nhất tuân thủ tư tưởng dồn sức xây dựng và duy trì một quân đội thường trực đông đảo và tập trung nhất trong khả năng của vương triều, để đảm bảo cho sự tồn tại trước sự đe dọa của quân đội Lê - Trịnh. Tuy nhiên, vương triều Mạc chỉ thiết đặt và duy trì quyền lực ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và vùng phụ cận, trong đó trọng tâm là Đông Kinh (Thăng Long) và bốn trấn là Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam và Sơn Tây. Bởi vậy, mặc dù đặc biệt chú ý xây dựng quân đội thường trực đông đảo và trung thành, nhưng do những hạn chế nhất định (phạm vi lãnh thổ cai quản và số dân, uy tín chính trị, thương vong trong chiến tranh...), vương triều Mạc đã không có được một quân đội với số quân ưu thế như mong muốn để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh Lê - Mạc. Xét cả trong thực tế hoạt động quân sự và những phân tích về tiềm năng cùng thực lực của vương triều Mạc, có thể nhận định rằng trong suốt thời gian cầm quyền (1527 - 1592), trải qua bao thăng trầm của 60 năm chiến tranh triền miên, khốc liệt và dằng dai sau đó, quân số của quân đội triều Mạc thực tế không thể vượt quá xa so với lực lượng khoảng 10 vạn quân mà nhà nước này đã huy động tận lực ở hai thời điểm quan trọng là năm 1570 và năm 1591.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:29:36 pm » |
|
Có thể nhận thấy tư tưởng về tổ chức quân sự triều Mạc kế thừa rất triệt để tổ chức quân sự triều Lê Sơ, nhất là mô hình tổ chức thời Lê Thánh Tông (1460-1497).
Tuy nhiên, do tiềm lực hạn chế của một nhà nước chỉ kiểm soát được một phần lãnh thổ quốc gia mà nó kế thừa, lại phải đáp ứng những đòi hỏi thực tế của một cuộc chiến tranh kéo dài, hệ thống tổ chức quân sự của nhà Mạc đã có những thay đổi nhất định để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Do vậy, những hạn chế về quân số của quân đội thường trực triều Mạc là điều tất yếu.
Về các chính sách ưu đãi quân đội, ngay từ cuối năm Mậu Tý (1528), Mạc Đăng Dung đã tiến hành những cải cách tương đối đồng bộ về phép binh, phép điền, phép lộc - cụ thể là xây dựng một loạt chính sách lớn về chế độ binh bị, ruộng đất, quan chức, hành chính. Trong đó nổi rõ nhất là chính sách ưu đãi đối với lực lượng quân sự, nhằm tạo sức mạnh vũ lực để bảo vệ vương triều và làm chỗ dựa cho cuộc chiến tranh giành quyền thống trị đất nước với các thế lực đối địch.
Trong các sách biên niên sử còn lưu giữ được đến nay không thấy chép lại các điền chế, lộc chế mà triều Mạc bàn định năm Mậu Tý (1528) - năm Mạc Đăng Dung lên ngôi cụ thể ra sao; nhưng đến năm Quảng Hòa thứ 3 (Quý Mão - 1543) việc cấp ruộng cho Trung hiệu, Trung sĩ chỉ rõ: Xã nào ngoài ruộng đất tư mà có ruộng quan và ruộng chùa thì tùy theo số ruộng đó chiếu cấp. Hạng nhất Trung hiệu mỗi người 2,5 phần. Xã nào không có ruộng thì mỗi người 1 phần. Xã nào tuy ruộng nhiều đáng được 2 phần thì 2 phần ấy cũng không được quá 2 mẫu, rồi tùy theo cấp bậc giảm dần còn bao nhiêu ruộng sẽ theo nhân khẩu trong xã mà chia đồng đều. Về việc này, Thiếu sư Mạc Ninh Bang bàn rằng: Như vậy đủ thấy triều đình ưu đãi Trung hiệu, Trung sĩ rất hậu. Song, việc cấp phát ruộng đất một cách đồng đều như vậy không khuyến khích được lòng người. Theo ông thì: Các quan tướng bản doanh ra lệnh cho các quan bản huyện lấy công tâm lựa chọn bảo cử người nào tinh tráng khỏe mạnh, thiện chiến làm hạng nhất chia loại, lấy thực số làm thành sổ cấp điền. Đồng thời, các quan phủ, huyện, xã trưởng chiếu theo sổ cấp điền nói trên làm quyển thứ hai, rồi đem ruộng nhất đẳng cấp cho hạng này trước để khuyến khích quân sĩ. Vua nhà Mạc là Mạc Phúc Hải đã nghe theo kiến nghị này.
Như vậy, lộc điền của nhà Mạc năm Quý Mão (1543) cấp đến hạng nhất Trung hiệu, Trung sĩ. Nguồn ruộng đất để cấp lộc điền cho các hạng võ quan này lấy từ ruộng đất công làng xã, ruộng chùa. Trong hoàn cảnh mỗi ty gồm cả Trung hiệu và Trung sĩ, có đến 1.110 viên, binh lính đến trên dưới chục vạn, nhà Mạc phải sử dụng cả ruộng chùa để chia cấp. Điều đó còn cho thấy là ruộng đất công làng xã thời Mạc không còn bao nhiêu và cũng không còn quỹ ruộng công để thực hiện chính sách quân điền.
Lúc bấy giờ, triều đình nhà Minh (Trung Quốc) lăm le can thiệp vào nội tình nước ta. Trước tình thế này, Mạc Đăng Doanh một mặt “liền tu sửa trại sách, luyện tập thủy quân; trưng cầu hết thảy các cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước. Phục chức cho Thái bảo Vũ Hộ làm Tây quân Tả đô đốc chưởng phủ sự, cho dân đào hố chôn cọc tre để bẫy quân kỵ, tung tin sẽ theo đường biển tập kích Quảng Đông...”1 (Nghiêm Tòng Giản: Thù vực chu tư lục, Cố cung bác vật viện đồ thư quán xuất bản, 1930, Q.6). Tất cả những động thái đó nhằm tạo một vị thế để thực hiện các chủ trương bảo vệ vương triều, bảo vệ phần lãnh thổ thuộc quyền, đồng thời cũng là để góp phần củng cố quân đội quốc gia triều Mạc.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:31:32 pm » |
|
- Quân đội vua Lê - chúa Trịnh:
Cán cân quyền lực trong đội ngũ quan liêu của chính quyền Lê - Trịnh từ khi còn ở Thanh Hóa cho đến khi đứng vững ở Thăng Long, mặc dù có những biến chuyển nội tại nhất định trong thành phần giới quan chức, nhưng phái võ quan - giới chức quân sự, đặc biệt là những võ quan vùng Thanh Hoá (đồng hương với chúa Trịnh) luôn luôn chiếm ưu thế2 (Xem thêm những phân tích, nhận định có liên quan của các nhà Việt Nam học là J.K.Taylor và Insun Yu. Xem K.Taylor: Surface Orientation in Vietnam" Beyond Histories of Nation and Region, The Journal of Asian Studies, No; Insun Yu: Law and Society in 17th and 18th Century Vietnam, Séoul, 1990).
Sách Lê triều chiếu lệnh thiện chính cho biết có những quy định trong triều chính cho thấy rõ sự phân biệt vị thế của các quan văn và quan võ trong đời sống chính trị Đàng Ngoài. Theo đó, các "quan võ không như quan văn, có thể đến phủ chúa bất kỳ lúc nào trong trường hợp khẩn cấp"3 (Lê triều chiếu lệnh thiện chính, Sài Gòn, 1961, tr. 164-165). Đồng thời, chúa Trịnh đã bắt buộc các quan văn cũng phải luyện tập bắn cung nỏ4 (Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr. 236) - một việc mà các quan văn “mũ cao áo dài” chưa từng phải thực hiện trước đó trong suốt tiến trình lịch sử Việt Nam. Như vậy, ưu đãi và đề cao vai trò của quan võ là một quan điểm độc đáo, cần thiết thời bấy giờ thuộc về tư tưởng quân sự của triều Lê - Trịnh.
Lê - Trịnh là một nhà nước trọng võ, các võ tướng dòng họ Trịnh nắm giữ thực quyền. Suốt trong thời gian tồn tại, nhà nước đó đã phải liên tiếp đương đầu với chiến tranh, trận mạc; đó là các cuộc chiến chống lại Bắc triều nhà Mạc, sau đó là họ Mạc ở Cao Bằng, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi tiếp đến là các cuộc khởi nghĩa nông dân và phong trào Tây Sơn.
Để xây dựng quân đội, nhà nước Lê - Trịnh chủ yếu thực thi chế độ tuyển chọn bắt lính nghĩa vụ, kết hợp với chế độ quân dự bị (cho quân luân phiên về cày ruộng) và chế độ quân tình nguyện (mộ binh lấy ở bốn nội trấn, sau đó thì bỏ).
Căn cứ vào sổ hộ khẩu các xã, nhà nước kén tuyển những đinh nam khoẻ mạnh, trên 18 tuổi. Tỷ lệ tuyển binh thay đổi tùy theo thời gian và khu vực; cụ thể là: ở các phiên ngoại trấn: 5 đinh lấy 1, ở bôn nội trấn: 3 đinh lấy 1, vùng Thanh - Nghệ: 3 đinh lấy 1; song trên thực tế nhiều khi cứ “ai có sức khoẻ là lấy hết, không có định lệ”1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.4, tr. 18). Thời gian phục vụ quân ngũ của quân lính Đàng Ngoài là 30 năm. Những ghi chép trong Lịch triều hiến chương loại chí và Lê triều hội điển cho biết chỉ khi nào người lính quá đau yếu hoặc đến tuổi 59, 60 và khi có người thay thế, mới được xuất ngũ cho về quê1 (Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.4, tr. 18).
Với phép kén chọn phức tạp, nhiều chỗ không chính xác, thêm vào đó là nạn ẩn lậu tràn lan do chiến tranh kéo dài, đời sống khó khăn, việc xác định số quân chính xác của Đàng Ngoài hầu như không có được giải pháp triệt để. Bấy giờ, đã có người tính toán rằng quân số của quân đội Đàng Ngoài là khoảng 65.700 quân. Tuy nhiên, ngay cả Phan Huy Chú cũng không tin vào con số này. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: khi mới thu phục Thăng Long, vua Lê - chúa Trịnh duyệt quân, đã có tới 120.000 quân (lấy từ Thanh - Nghệ). Như vậy, thực tế số lượng quân sĩ của Đàng Ngoài sẽ có thể nhiều hơn.
Quân thường trực dưới triều Lê - Trịnh được thừa hưởng nhiều quyển lợi: được cấp lương (tiền và gạo hằng tháng), tiền vọng (phụ cấp) thuốc men, ruộng khẩu phần (theo quy định năm Mậu Thân (1728), mỗi binh sĩ được cấp 5 mẫu ruộng hạng nhất ở quê); nếu bị tử trận, gia đình sẽ được hưởng tiền tuất và phong tặng chức tước. Ngược lại, triều đình cũng quy định nhiều hình phạt hết sức nghiêm khắc để nghiêm trị những binh sĩ bỏ trốn, hay mắc các khuyết điểm nhự kiêu lười, sơ suất.
Về tổ chức, quân đội Đàng Ngoài chia thành Ngũ phủ. Thống lĩnh quân đội là chức Tiết chế, thường giao cho các thế tử (con chúa Trịnh được chọn nối nghiệp). Binh lính được phiên chế thành các hạng:
Quân túc vệ: là lực lượng thường trực đóng ở Kinh thành Thăng Long để bảo vệ triều đình và phủ chúa. Thành phần của quân túc vệ chủ yếu là ưu binh - quân tam phủ, lấy từ ba phủ Thiệu Thiên, Hà Trung và Tĩnh Gia (Thanh Hoá) và 12 huyện thuộc Nghệ An. Vì được triều đình ưu ái, lại cậy thế đồng hương với vua Lê - chúa Trịnh, nên ưu binh thường hay khinh nhờn, ngạo mạn, gây nhiều cuộc náo loạn - “loạn kiêu binh” trong cung thành. Phan Huy Chú nhận xét: “Ưu binh từ khoảng giữa đời Lê về sau, được an nhàn lâu ngày, sinh ra kiêu hỗn... Có việc chinh chiến thì hốt hoảng sợ hãi, mà khi vô sự thì cậy thế lăng loàn, không ngăn cản nổi”1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.4, tr. 31).
Quân Phủ vệ: còn gọi là nhất binh, tuyển chọn từ các địa phương, chủ yếu từ bốn nội trấn, là lực lượng trực tiếp xông pha trận mạc. Mỗi phủ đặt một vệ do hai quan Tuần phủ (văn) và Trấn thủ (võ) quản lĩnh. Quân bộ được chia đặt thành các đơn vị là dinh, cơ, đội. Quân thủy được phiên chế thành các thuyền. Theo binh chế thời Lê - Trịnh, một dinh tương đương 800 người, một cơ tương đương 300-500 người, một đội tương đương 200-300 người, một thuyền quân tương đương 31-86 người. Mỗi khi tình hình trong nước tạm yên ổn (ví dụ như năm Quý Dậu - 1753), triều đình cho binh sĩ thay phiên nhau về quê làm ruộng, “đợi khi có việc chiếu sổ sẽ gọi ra để dùng, xong việc lại cho về làm ruộng” theo kiểu chính sách “Ngụ binh ư nông” dưới thời Lý - Trần và Lê Sơ1 (Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.4, tr. 11).
Ngoài ra, để duy trì và phát triển lực lượng địa phương và lực lượng dự bị, chính quyền Lê - Trịnh còn tổ chức các loại dân binh, hương binh ở các làng xã, đặt “một khán thủ cho chỉ huy bọn đinh tráng, hễ có việc phát xuất thì cho điều đi chặn bắt”2 (Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr. 155). Đây chính là lực lượng quân sự địa phương bảo vệ xóm làng, đồng thời làm quân dự bị sẵn sàng cho triều đình điều động khi tình hình có biến.
Bộ binh Đàng Ngoài được trang bị những vũ khí truyền thống - vũ khí “lạnh” như: gươm, đao, giáo, mác, cung nỏ... kết hợp với những vũ khí “nóng” tương đối tối tân thời bấy giờ, như: các loại súng lớn và súng trường nòng dài..., dó các quân xưởng trong nước chế tạo, hoặc mua của phường Tây (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh). Binh lính Đàng Ngoài giữ gìn súng rất cẩn thận, nhiều người mang theo những ống tre đựng súng để khỏi bị ướt khi trời mưa; thuốc súng đạn dược được cất trong những bao da đeo trên người.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:39:07 pm » |
|
Để đáp ứng nhu cầu thuốc súng phục vụ chiến tranh, chính quyền Lê - Trịnh đã nhiều lần dùng hàng hoá (chủ yếu là tơ lụa) đổi bán cho công ty Đông Ấn (Hà Lan) lấy diêm tiêu và lưu huỳnh; đồng thời, khuyến khích các thương nhân ở Kẻ Chợ (Thăng Long) và Phố Hiến (Hưng Yên) nộp chì, diêm tiêu, lưu huỳnh để được miễn thuế hoặc ban thưởng chức tước, phẩm hàm 1 (Xem Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr. 163). Bên cạnh đó, chính quyền Đàng Ngoài còn tập trung nuôi một số lớn ngựa chiến và voi chiến. Theo S.Baron, chúa Trịnh có 8.000-10.000 con ngựa và 300- 400 con voi. Riêng ở Thăng Long có tới 200 con voi được nuôi trong những chuồng dài đặt bên bờ sông Nhị và có người chăm sóc. Ngoài bộ binh, kỵ binh và tượng binh, quân đội Đàng Ngoài còn xây dựng một đội quân thuỷ binh hùng hậu, thiện chiến. Quân đội Lê - Trịnh có tới 500, 600 thuyền chiến. Nhiều thuyền bỏ neo dọc theo sông Nhị Hà trong một khoảng dài tới 50-60 dặm. Thuyền chiến Đàng Ngoài có nhiều loại kích cỡ khác nhau. Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần binh chế chí, Phan Huy Chú cho biết, quân đội Đàng Ngoài được trang bị các loại thuyền nhỏ và nhẹ như các thuyền Tiểu Hậu, Nhị Hậu (mỗi thuyền có 31 người), Trung Hậu (mỗi thuyền có 36 người), lại có những loại thuyền lớn như thuyền Ưu Nhất, Trạch Nhất (mỗi thuyền có 72 người), Kiệu Nhất (mỗi thuyền có 86 người) 1 (Xem Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, t.4, tr. 12). Trong khoảng thế kỷ XVII - XVIII, thuyền chiến Đàng Ngoài dài khoảng 50-70 feet (15,2m-21,3m), vị trí chỉ huy ngồi ở cuối thuyền, chỗ cao nhất có mái che để quan sát. Thuyền không có buồm, được trang bị súng lớn. Mỗi thuyền có tới 25-40 tay chèo mỗi bên. Người bơi chèo đứng quay mặt về phía đuôi thuyền, đẩy mái chèo ra đằng trước, thuyền sẽ tiến ngược với hướng của người chèo. Lớn nhất là loại thuyền đi biển có tốc độ nhanh, tên chữ là Mãnh, dài 60 thước, rộng 9 thước và 44 cọc chèo. Việc huấn luyện đào tạo cả đội ngũ võ tướng chỉ huy và quân sĩ cho quân đội Đàng Ngoài được tiến hành chu đáo và tương đối quy củ. Triều đình Lê - Trịnh thành lập nhiều cơ sở võ bị để giảng dạy, tập luyện và thao diễn quân sự, như Giảng Võ điện, Giảng Võ đường (trước ở phía tây Hoàng thành, sau chuyển sang phía đông, gần bờ sông Hồng và được gọi là Võ Học sở), Diễn Vũ trường, Tế Kỳ đàn... Nhiều kỳ thi võ các cấp được tổ chức (Sở cử, Bác cử) với các môn thi về binh pháp và võ nghệ (múa đao, đấu giáo trên ngựa, đấu gươm và mộc, bắn cung nỏ trên ngựa, đấu vật, bắn súng...). Do được đào luyện thường xuyên, nghiêm khắc nên quân lính Đàng Ngoài bắn súng rất giỏi, chính người Bồ Đào Nha đương thời cũng phải nể phục 1 (A.Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết công giáo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, Sđd, tr. 18). Những người giỏi võ nghệ và binh pháp, các tướng lĩnh có thể qua các kỳ thi để tiến thân. Học vị “Tạo sĩ” bên võ được công nhận như “Tiến sĩ” bên văn. Mặt khác, triều đình Lê - Trịnh cũng tiến hành mở rộng diện tuyển lính, tăng cường ưu đãi binh lính. Cụ thể là, tháng chạp năm Tân Sửu (1721), chúa Trịnh Cương cho rằng: từ lúc trung hưng nhà Lê dùng binh lính Thanh - Nghệ diệt hết “giặc” Mạc, khôi phục triều đình, rồi giữ luôn ở Kinh đô làm lính chầu chực và bảo vệ hoàng thành; còn với binh lính tứ trấn chỉ giữ có ngạch mà không có quân, lúc có việc mới bắt tập họp để phân phối, xong việc lại cho về làm ruộng..., như vậy là không đồng đều. Bỏi vậy, chúa quyết định: từ năm Tân Sửu (1721), hai xứ Thanh - Nghệ trước đây cứ 3 suất đinh tuyển 1 suất lính thì nay giảm xuống còn 5 suất đinh tuyển 1 suất lính. Ở tứ trấn cũng 5 suất đinh chọn 1 suất lính. Tất cả những binh lính được tuyển chọn ở cả tứ trấn cũng như Thanh - Nghệ đều được phân chia cho 6 doanh, mỗi doanh 800 người. Bên cạnh đó, năm Giáp Thìn (1724), chúa Trịnh cho mở thi “bác cử” ở Thăng Long 2 (Xem Ngô Cao Lãng: Lịch triều tạp kỷ, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995, t.I, tr. 186). Năm Bính Ngọ (1726), sau kỳ tuyển lính, chúa Trịnh tổ chức cho hơn một vạn lính mới tuyển ở tứ trấn và phủ Trường Yên về Thăng Long cử hành lễ duyệt binh trọng thể, ấn định thành lễ đại duyệt vào tháng trọng xuân (tháng Hai) hằng năm. Năm Đinh Mùi (1727), triều đình lập phép chọn lựa “nhất binh” - cứ mười người giữ lại một người làm việc, còn thì cho về làng sản xuất. Đặc biệt hơn cả là, bắt đầu từ năm Nhâm Dần (1722), triều đình Lê - Trịnh cho phép các hạng binh lính người nào có học thức, khi gặp các khoa thi hương được nộp đơn xin thi, nếu được xét sẽ cùng tham gia ứng thí với học trò. Gặp khoa thi võ, kỳ thi viết chữ hoặc tính toán cũng được thi khảo ở ngay Kinh đô. Đây không chỉ là chính sách mà còn là một tư tưởng chiến lược rất căn bản và quan trọng của triều đình Lê - Trịnh đối với lực lượng binh lính. Bởi, trước đó triều đình nghiêm cấm rất ngặt nghèo việc binh lính đọc sách “thánh hiền” và theo đòi khoa cử, vì e phong khí văn chương cử nghiệp sẽ làm suy nhược nhuệ khí của binh sĩ. Thậm chí, một số người lính đã thi đỗ rồi mà vẫn bị triều đình tước bỏ học vị, bắt trở lại làm lính như cũ. Điều này xảy ra ngay cả trong thời kỳ Lê Thánh Tông cầm quyền (1460-1497) vốn được cho là thời kỳ “điển lễ” của triều Lê Sơ, một mẫu mực của chính quyền phong kiến trung đại Việt Nam. Đây thực sự là một bước ngoặt thuộc về tư tưởng nói chung, tư tưởng quân sự nói riêng của triều đình Lê - Trịnh. Năm Giáp Thìn (1724), nhà nước quy định cấp ruộng công cho binh lính tứ trấn (trước đây ruộng công ở tứ trấn chỉ cấp cho ưu binh Thanh - Nghệ). Theo đó, người dân xã nào đi lính cho triều đình thì ở xã đó phải căn cứ theo số ruộng công của xã mà cấp khẩu phần ruộng công cho binh lính, có các hạng như sau 1 (Xem Ngô Cao Lãng: Lịch triều tạp kỷ, Sđd, tr. 115): Đến năm Mậu Thân (1728), quy định này được bổ sung, hoàn thiện như sau: các làng xã đem ruộng và đất bãi để quân cấp cho binh lính được tuyển. Binh lính theo thứ hạng được cấp đất bãi cùng ruộng hạng nhất 5 mẫu, ruộng loại hai, loại ba mỗi lính 6-7 mẫu. Nhưng, đến năm Bính Thìn (1736), nhận thấy lính tứ trấn “toàn là người bơ vơ nơi đầu đường xó chợ mà ruộng cấp cho lại nhiều”, “chỉ làm cho dân đau khổ”, nên chúa Trịnh cho thải số lính mới tuyển ở tứ trấn về làm dân, chỉ giữ lại số ưu binh Thanh - Nghệ như cũ. Như vậy, xét cho cùng, cũng như triều Mạc, triều đình Lê - Trịnh cũng trước sau thấu triệt tư tưởng xây dựng một quân đội mạnh làm công cụ cho việc bảo vệ quyền lợi của dòng họ và tiến hành chiến tranh với các thế lực đối lập khác để bảo vệ và mở rộng lãnh thổ cát cứ của mình. Đến năm Mậu Thân (1728), quy định này được bổ sung, hoàn thiện như sau: các làng xã đem ruộng và đất bãi để quân cấp cho binh lính được tuyển. Binh lính theo thứ hạng được cấp đất bãi cùng ruộng hạng nhất 5 mẫu, ruộng loại hai, loại ba mỗi lính 6-7 mẫu. Nhưng, đến năm Bính Thìn (1736), nhận thấy lính tứ trấn “toàn là người bơ vơ nơi đầu đường xó chợ mà ruộng cấp cho lại nhiều”, “chỉ làm cho dân đau khổ”, nên chúa Trịnh cho thải số lính mới tuyển ở tứ trấn về làm dân, chỉ giữ lại số ưu binh Thanh - Nghệ như cũ. Như vậy, xét cho cùng, cũng như triều Mạc, triều đình Lê - Trịnh cũng trước sau thấu triệt tư tưởng xây dựng một quân đội mạnh làm công cụ cho việc bảo vệ quyền lợi của dòng họ và tiến hành chiến tranh với các thế lực đối lập khác để bảo vệ và mở rộng lãnh thổ cát cứ của mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:40:55 pm » |
|
- Quân đội chúa Nguyễn:
Đồng thời với quá trình từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính quyền từ phủ chúa đến các địa phương mang nặng tính chất quân sự, chúa Nguyễn đặc biệt chú tâm xây dựng lực lượng quân đội mạnh với quân số đông, trang bị vũ khí hiện đại và tổ chức chặt chẽ.
Quân đội chúa Nguyễn bao gồm quân Túc vệ ở Kinh thành Phú Xuân, quân chính quy thường trực ở các dinh và thổ binh ở các địa phương. Sách Đại Nam thực lục cho biết, vào năm Quý Tỵ (1653), chúa Nguyễn Phúc Tần mở cuộc duyệt binh lớn tại An Cựu (Kinh đô Phú Xuân). Lực lượng tham gia cuộc duyệt binh này bao gồm: Cơ Trung hầu (10 thuyền, 300 người); Nội bộ (60 đội thuyền, hơn 3.280 người); Cơ Tả trung (14 thuyền, hơn 700 người); Cơ Hữu trung (14 thuyền, hơn 700 người); Nội thủy (58 thuyền, 6.410 người); Cơ Tả trung kiên (12 thuyền, 600 người); Cơ Hữu trung kiên (10 thuyền, 500 người); Cơ Tiền trung bộ (12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2.700 người); bốn cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực (mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1.100 người); Đội Tiền thuỷ (5 thuyền, hơn 500 người); Đội Hậu thủy (5 thuyền, hơn 500 người); Đội Tả thủy (5 thuyền, hơn 500 người); Đội Hữu thủy (5 thuyền, hơn 500 người); 8 cơ là Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng (mỗi cơ 6 thuyền, cộng hơn 2.100 người); Dinh Tả bộ (10 thuyền, cộng hơn 450 người); Đội Tiền binh (4 thuyền, hơn 200 người); Đội Hậu binh (4 thuyền, hơn 200 người); Đội Tả binh (4 thuyền, hơn 200 người); Đội Hữu binh (4 thuyền, hơn 200 người); Cơ Tả thủy (5 thuyền, hơn 200 người)1 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 62).
Vậy là, riêng lực lượng quân đội đóng ở Kinh thành Phú Xuân khi đó ít nhất cũng có hơn 22.740 quân. Theo Lê Quý Đôn, tất cả các hạng chiến binh ở thành Phú Xuân là 30.016 quân2 (Xem Lê Quý Đôn Toàn tập, Sđd, t.I, tr.188). Tổng số quân lính trong thời chúa Nguyễn Phúc Tần giữa thế kỷ XVII lên đến khoảng 160.000 quân3 (Dẫn theo Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, t.III, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960, tr. 131).
Quân đội Đàng Trong cũng có các thành phần lực lượng (binh chủng) như Bộ binh, Thuỷ binh, Đại bác thần công (Pháo binh), Tượng binh. Ngoài số vũ khí truyền thống tự chế tạo, chúa Nguyễn còn mua thêm nhiều vũ khí mới hiện đại của phương Tây và Nhật Bản. Một 80 người phương Tây cũng trực tiếp giúp đỡ chúa Nguyễn tổ chức đúc súng và huấn luyện quân sĩ.
Đặc biệt, đội ngũ võ tướng của quân đội chúa Nguyễn được gây dựng và đào tạo một cách khá bài bản, mà công lao đầu tiên thuộc về Đào Duy Từ. Với những tư chất tài năng quân sự thiên bẩm, Đào Duy Từ đã sưu tầm, ghi chép, nghiên cứu và biên soạn ra bộ sách Hổ trướng khu cơ, nhằm lưu truyền những kiến thức về vũ khí và phép dụng binh, mà trực tiếp là để làm "giáo trình" dạy cho những võ quan cầm đầu trong quân đội chúa Nguyễn. "Đó là tác phẩm quân sự duy nhất của Việt Nam còn nguyên vẹn cho đến ngày nay"1 (Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 23). Hổ trướng khu cơ "thực là quốc sĩ vô song, quỷ thần mạc trắc, không những chỉ là phép hỏa công thủy chiến, lại đến cả phép giữ trại phòng gian, vận dụng cơ quan, không cái gì là không chép đủ"2 (Binh thư yếu lược, phụ: Hổ trướng khu cơ, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 402); gồm: Quyển 1: Tập thiên, bàn về Thiên hỏa công, có: Phép diều lửa đốt giặc, Phép làm hỏa cầu (quả nổ), Phép chế yên cầu (quả mù), Phép chế hỏa đồng, Phép làm hỏa tiễn (tên lửa), Phép chôn hỏa thương dưới đất, Phép hỏa tiễn chứa thuốc độc, Phép làm súng gỗ, Phép đốt đuốc trước gió, Phép làm đền phi thiên; Phép thủy chiến, có: Phép lấy nước ngọt trong biển, Phép phá xích sắt, Phép đặt tên ngầm dưới nước, Phép đóng cọc lòng sông, Phép dùng chum tre cho quân sang sông, Cách lấy nước lên núi, Phép làm cầu phao trăm cấp, Phép làm voi vôi nổi sóng, Phép đặt thủy lôi dưới nước; Thiên bộ chiến, có: Phép thần cơ đắp lũy tạm, Phép xe súng bắn liền, Phép xe gươm phá giặc, Phép gài tên dưới nước, Phép ống tên giấu hình, Phép nấu cơm ở đầu ngựa, Phép thuốc tiên chịu đói, Phép thang hai tầng, Phép súng bắn đổ núi; Thiên giữ trại, có: Phép máy đá giữ trại, Phép nỏ thần giữ trại, Phép dây tiên trói giặc, Phép nỏ khỏe phòng gian, Phép lưới trời yểm trại, Phép làm cờ theo hướng gió.
Quyển 2: Tập địa, bàn về các trận đánh cụ thể, gồm: Yếu chỉ bàn về trận; Bàn về ba trận: Thái cực bao hàm, Thái tổ tam tài, Biến làm trận Thái thủy hồn nguyên; Bàn về hai trận: Trận Tiên thiên Hà đồ đất hẹp nhất biến, Trận Tiên thiên Hà đồ đất rộng nhị biến; Bàn về bốn trận: trận chính Bát môn kim tỏa, trận Bát môn kim tỏa nhị biến, trận Bát môn kim tỏa tam biến và trận Bát môn kim tỏa tứ biến; Bàn về các trận tiểu chu thiên: trận Tiểu chu thiên thứ nhất: Thái cực hồn thiên, trận Tiểu chu thiên nhị biến: Lưỡng nghi phân khai, trận Tiểu chu thiên tam biến: Tứ tướng đối xung, trận Tiểu chu thiên tứ biến: Trận vuông, trận Tiểu chu thiên ngũ biến: Trận tròn, trận Tiểu chu thiên lục biến: Trận cong, trận Tiểu chu thiên thất biến: Trận thẳng, trận Tiểu chu thiên bát biến: Trận nhọn, trận Tiểu chu thiên cửu biến: Trường xà đảo quyền, trận Tiểu chu thiên thập biến: Trường xà liên châu.
Quyển 3: Tập nhân, đề cập đến các vấn đề: Yếu chỉ về tướng, Phép chọn tướng luyện binh, Yếu luận về quân cơ, Phép dạy quân đánh giặc, Phép giữ thành chống giặc, Yếu luận về địa thế1 (Xem thêm Binh thư yếu lược - Hổ trướng khu cơ, người dịch: Nguyễn Ngọc Tỉnh, Đỗ Mộng Khương, hiệu đính: GS. Đào Duy Anh, Nxb. Công an nhân dân).
Hổ trướng khu cơ là minh chứng sát thực cho tư tưởng xây dựng và đào tạo đội ngũ võ tướng chỉ huy quân đội - nhân tố quyết định sự thành công của thế lực họ Nguyễn trong công cuộc bảo vệ lãnh thổ cát cứ đất phương Nam, đối phó hiệu quả với thế lực phong kiến Lê - Trịnh ở phương Bắc.
Tựu trung lại, trải qua hơn 200 năm (1527-1771) với hai cuộc chiến tranh lớn, kéo dài nhiều năm là nội chiến Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh, cùng với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra ở cả hai miền Nam - Bắc, vấn đề quân sự đã trở nên một vấn đề nổi trội, được các chính quyền thống trị đặc biệt coi trọng. Nhìn một cách tổng thể, để duy trì quyền lực thống trị và tranh giành, mở rộng phạm vi lãnh địa, các chính quyền phong kiến, dù là Bắc triều của nhà Mạc ở Đông Đô hay Nam triều của nhà Lê ỏ Thanh Hoá, dù là Đàng Trong của các chúa Nguyễn hay Đàng Ngoài của vua Lê - chúa Trịnh đều ra sức xây dựng quân đội. Trong tư tưởng quân sự, các tập đoàn thống trị này đều đồng nhất quan điểm xây dựng một quân đội hùng mạnh làm công cụ bạo lực trực tiếp cho việc thực hiện các ý đồ chiến lược đặt ra. Do vậy, để thu hút nhân lực cho việc xây dựng quân đội - tạo ưu thế quân sự, các tập đoàn phong kiến thời kỳ này đều ban hành nhiều chế độ, chính sách ưu đãi để lấy lòng quân, tiêu biểu trong đó là chế độ ban cấp ruộng đất, ngay trong khi thực hiện chế độ quân điền. Trong quan hệ quyền lực, quan võ luôn có ưu thế hơn quan văn và quyền lực phần nhiều nằm trong tay các võ tướng.
Dù vậy, trong xây dựng quân đội của các triều đại này, với việc tổ chức khảo thi và phong học vị “Tạo sĩ" cho quan võ, cho phép binh sĩ được tham gia các kỳ thi do triều đình mở..., là một quan điểm thuộc về tư tưởng quân sự rất mới, tiến bộ của triều đình Lê - Trịnh đóng góp cho lịch sử.
Trong xây dựng quân đội, các thế lực cầm quyền thời kỳ này đều tập trung tổ chức một quân đội có đủ các thành phần lực lượng (binh chủng): Bộ binh, Thủy binh, Tượng binh. Trong đó, riêng quân đội của chúa Nguyễn có ưu thế hơn về Thủy binh và Tượng binh. Số lượng bộ binh trong nhiều thời điểm là vô cùng lớn so với tỷ lệ dân số đương thời cũng như truyền thống quân sự của nước ta.
Về trang bị vũ khí: thời kỳ này nhiều thương nhân phương Tây thường xuyên tới Đại Việt buôn bán; qua đó, các tập đoàn phong kiến Đại Việt có nhiều cơ hội dung nạp vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự phương Tây (vũ khí nóng) để trang bị cho quân đội của mình, hòng tạo nên những bước đột phá về uy lực cho tác chiến trên chiến trường. Đây cũng chính là một trong những quan điểm mới trong tư tưởng quân sự của các tập đoàn phong kiến Đại Việt thời kỳ này.
Với tư tưởng xây dựng một quân đội mạnh làm công cụ cho việc thực hiện các ý đồ chính trị, bằng các chính sách và biện pháp khác nhau, các tập đoàn phong kiến cầm quyền thời kỳ này đã tạo dựng được một công cụ bạo lực tương đối mạnh, đáp ứng cơ bản được nhiệm vụ và mục đích đặt ra trong những thời gian nhất định. Dù vậy, do tính chất chiến tranh, mục đích quân sự..., quân đội của các tập đoàn phong kiến này đã bộc lộ khá nhiều hạn chế: phát triển mất cân đối về chính trị và quân sự; chính trị trong quân sự..., làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong việc xây dựng và quản lý quân đội. Ví dụ như, sự mất lòng tin vào chính quyền đã khiến cho hàng loạt tướng lĩnh Bắc triều đã bỏ nhà Mạc về với vua Lê trong nửa cuối cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều. Trong nhiều năm triển khai những cải cách của Trịnh Cương, số lượng quân, nguồn nhân lực đảm bảo cho xây dựng quân đội Đàng Ngoài vẫn loanh quanh ở điểm xuất phát. Sự phát triển lệch lạc về tư tưởng chính trị trong quân đội đã gây nên loạn “kiêu binh” làm lao đao chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Hơn nữa, cũng do tư tưởng chiến lược bao trùm là xây dựng một quân đội mạnh để bảo vệ lãnh địa cát cứ, chống lại các thế lực đối lập, nên cả triều Mạc, Lê - Trịnh và Nguyễn đều chỉ biết khai thác đến cùng kiệt nhân tài, vật lực của đất nước, của nhân dân, mà không chú ý “chăm lo sức dân” nên không những không được nhân dân đồng tình ủng hộ, thậm chí đã dần dần nổi lên chống lại triều đình. Đây thực sự là những bài học quan trọng về định hướng tư tưởng chiến lược trong xây dựng quân đội được rút ra từ thời kỳ lịch sử đầy biến động, phức tạp này và nó vẫn còn giá trị đối với các triều đại tiếp sau đó, thậm chí là cả đối với hiện nay.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
|