Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:48:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 2  (Đọc 18437 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:41:59 pm »

2. Xây dựng và sử dụng thành lũy trong chiến đấu (phòng thủ) bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ

Trong suốt hơn 200 năm (1527-1771), trong khi nội bộ đất nước bất ổn kéo dài thì những nguy cơ đe dọa từ bên ngoài dường như là ít cấp bách hơn so với các thời kỳ trước đó (ngoại trừ cuộc tiến quân đe dọa của nhà Minh sau khi Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê, lập ra triều Mạc).


Trọng tâm của các hoạt động quân sự, từ chuẩn bị nhân tài, vật lực, thế trận quốc phòng bảo vệ Tổ quốc và tiến hành kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước trong suốt nhiều thế kỷ trước đó, đến thế kỷ XVI-XVIII được chuyển thành quá trình xây dựng và phát triển quân đội của các tập đoàn phong kiến dòng họ. Và các hoạt động quân sự lúc này chủ yếu để phục vụ cho mục đích bảo vệ và mở rộng quyền lợi của các dòng họ cầm quyền; trong đó nổi cộm hơn cả là các cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến dòng họ. Đất nước bị chia cắt triền miên.


Mỗi thế lực phong kiến, dù là các quan tướng phò tá cho cuộc trung hưng nhà Lê, với những bước khởi đầu khá gian nan ở Thanh Hóa, hoặc thế lực của dòng họ Mạc sau khi thất thủ ở Đông Kinh (Hà Nội) và Dương Kinh (Hải Dương) buộc phải rút lên Cao Bằng mong dựa vào sự hiểm yếu của vùng đất này và sự bảo trợ của nhà Minh mà tồn tại, hay con cháu Nguyễn Kim - Nguyễn Hoàng muốn tìm một vùng đất riêng cho mình sau khi quyền lực Nam triều đã bị người anh rể là Trịnh Kiểm thâu tóm, đều có chung một mưu đồ là phải tìm một vùng đất “dụng võ” để “hùng cứ một phương”. Không chỉ có vậy, các thế lực này đều mong trở thành một thế lực hùng mạnh để bảo vệ lãnh thổ cát cứ của mình và thậm chí sẽ tiến hành thôn tính các thế lực khác để độc quyền thống trị đất nước.


Nam triều, kể từ khi thành lập cho đến giữa thế kỷ XVI, mặc dù có hoàng đế nhà Lê và một triều đình được tổ chức theo mô hình “chuẩn mực” kiểu Lê Sơ, đã phải đối mặt với liên tiếp các cuộc truy quét của triều Mạc - một triều đại mới được hình thành thông qua cuộc “chính biến” hòa bình đã kế thừa trực tiếp và hầu như nguyên vẹn bộ máy chính quyền và lực lượng của triều Lê Sơ. Trong cuộc nội chiến Nam - Bắc triều, chiến trường thường xuyên là vùng bắc Thanh Hóa và nam Sơn Nam. Có năm triều Mạc tiến công thuận lợi, đẩy phạm vi lãnh thổ của Nam triều lùi xa hơn về phía Tây và phía Nam, có khi đe dọa cả vua Lê và bộ máy triều đình Nam triều ở sâu trong hậu phương của họ Lê. Có năm Nam triều tiến quân thuận lợi, bao vây, đe dọa cả Đông Kinh, khiến vua Mạc phải chạy sang phía bắc sông Hồng lánh nạn. Những cuộc tấn công hoặc phòng thủ thành công và thất bại liên tiếp của cả hai bên khiến cho cả Nam triều và Bắc triều đều ra sức xây dựng hệ thống thành lũy ở nhiều nơi, với những quy mô, kiểu dáng, vật liệu... khác nhau. Đây thực sự là những tấm “lá chắn” - điểm tựa bảo vệ hữu hiệu bậc nhất cho các thế lực cát cứ thực hiện ý đồ giữ vững và mở rộng vùng lãnh thổ chiếm đóng của mình trước các thế lực đối địch.


Sau năm Nhâm Thìn (1592), khi lần lượt cả Đông Kinh và Dương Kinh thất thủ, triều Mạc bị quân nhà Lê đánh bật ra khỏi đồng bằng Bắc Bộ. Con cháu họ nhà Mạc rút lên cố thủ ở đất Cao Bằng, hy vọng với sự bảo trợ của nhà Minh - mà trong suốt mấy chục năm triều Mạc đã cúc cung tận tụy triều cống như một phiên thần, thêm vào đó là nhờ sự hiểm trở, xa cách của vùng núi non Đông Bắc xa xôi, trước hết là để hùng cứ một phương, duy trì hương hỏa của dòng họ, tiếp đến là để củng cố, nuôi dưỡng và phát triển lực lượng, chờ cơ hội thuận lợi sẽ tiếp tục tham chiến tranh giành bá quyền thống trị với các thế lực đối địch khác.


Lực lượng còn lại của họ Mạc sau mấy chục năm chinh chiến triền miên, đặc biệt là thất bại nặng nề trong trận quyết chiến năm Nhâm Thìn (1592), rồi lại phải đương đầu với các cuộc truy quét quyết liệt của họ Trịnh, hơn lúc nào hết, họ Mạc cần phải có những "lá chắn” - điểm tựa vững chắc để duy trì phần lãnh thổ “đứng chân” cuối cùng của mình. Do vậy, cùng với thời gian, một hệ thống thành lũy được nhanh chóng xây dựng ở Cao Bằng và các địa bàn kế cận.


Đối với các chúa Nguyễn, sau mấy chục năm ẩn nhẫn gây dựng thế và lực, khi thấy đã đủ mạnh, Nguyễn Phúc Nguyên quyết định ly khai chính quyền trung ương ở Đông Kinh - chia cắt đất nước, xây dựng một giang sơn riêng cho dòng họ. Mặc dù đã có mấy chục năm chuẩn bị, nhưng chính quyền của chúa Nguyễn Phúc Nguyên vẫn mang tính chất địa phương. Lãnh địa mà họ Nguyễn hùng cứ vẫn là một vùng đất mới. Cả nhân lực và vật lực của họ Nguyễn không thể sánh được với chính quyền Lê - Trịnh. Và tất nhiên, chính quyền của chúa Nguyễn không thể tránh khỏi những đòn trừng phạt, tiêu diệt của chính quyền Lê - Trịnh. Trong cuộc đọ sức này rõ ràng họ Nguyễn ở vào một vị thế thấp yếu hơn nhiều. Do vậy, mục đích trước nhất của họ Nguyễn nhất định chưa phải là tranh giành với chúa Trịnh quyền thống trị đất nước, mà chỉ dừng lại ở mức độ phân chia phạm vi lãnh thổ. Thực tế lịch sử đã minh chứng rằng: từ năm Đinh Mão (1627) đến năm Nhâm Tý (1672), quân Trịnh sáu lần xuất binh tiến vào Đàng Trong hòng tiêu diệt quân Nguyễn, trong khi đó quân Nguyễn chỉ một lần duy nhất tiến ra đánh lại Đàng Ngoài, nhưng cũng chỉ dừng lại chiếm giữ vùng bắc Quảng Bình, thu thóc lúa và đưa dân chúng đi khai hoang các vùng đất mới phía Nam mà thôi. Chính bởi vậy, ngay khi cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh bùng nổ, vấn đề phòng ngự, phòng thủ đã trở thành quan điểm tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đối với các hoạt động quân sự của quân đội chúa Nguyễn. Hệ quả trực tiếp của quan điểm về chiến tranh phòng thủ - phòng ngự đó được thể hiện trực tiếp qua kế sách của các mưu sĩ Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật (năm Canh Ngọ - 1630) hiến cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên về việc xây dựng hàng loạt các chiến lũy phòng thủ được gọi chung là lũy Thầy (trong đó có lũy Nhật Lệ, lũy Trường Dục).


Như vậy, trong thời kỳ 1527-1771, những vùng lãnh thổ cát cứ của các tập đoàn phong kiến đã liên tiếp được dựng nên, với những quyết tâm khác nhau và trở thành hệ quả hoặc tiền đề cho các cuộc chiến tranh giành quyền lực, trong đó tiêu biểu là nội chiến Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh. Lãnh thổ cát cứ của các tập đoàn phong kiến có khi chỉ là một vùng tương đối nhỏ nhưng hiểm trở như Cao Bằng đối với triều Mạc sau năm Nhâm Thìn (1592), có khi là một vùng rộng lớn như vùng đất Thuận Hóa - Quảng Nam của các chúa Nguyễn. Lãnh thổ cát cứ được dựng nên, tách ra, có khi nhằm mục đích tìm một căn cứ đứng chân để dần mở rộng địa bàn, như vùng cát cứ ở miền núi Thanh Hóa giáp Ai Lao của buổi đầu Nam triều, có khi là để hùng cứ một phương như các chúa Nguyễn, có khi lại là nhằm mục đích ẩn thân chờ thời, như trường hợp nhà Mạc chiếm giữ Cao Bằng sau năm Nhâm Thìn (1592)... Vấn đề nổi bật về tư tưởng quân sự thời kỳ 1527-1771 chính là tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy trong chiến đấu phòng ngự - phòng thủ, nhằm mục đích trước mắt và sống còn là bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ của các tập đoàn phong kiến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:43:33 pm »

- Thành lũy triều Mạc ở phía Bắc:

Tháng 8 năm Bính Tuất (1586), trước tình hình quân Nam triều ngày càng giành được ưu thế quân sự, chiến tranh ngày càng đẩy sâu vào vùng kiểm soát của nhà Mạc, liên tiếp uy hiếp Đông Đô, Thái bảo Giáp Trưng bàn với vua Mạc rằng: “Việc dụng binh là một việc rất cần thiết hiện nay. Kính mong bệ hạ giữ thói kiệm nước, giảm sự tiêu bừa, tích của để dùng vào việc binh, ủy cho Phụ chính ứng vương phải nghiêm hiệu lệnh, đặt tướng tá trong các doanh, phải chọn bậc anh dũng; quân sĩ phải tuyển hạng tinh nhuệ; sắm thuyền bè, duyệt thủy quân, luyện voi ngựa, chuẩn bị khí giới súng ống và cung nỏ, để làm kế sách đánh địch.


Về phương tây nam, những chỗ xung yếu giáp giới bên địch, thì nên đắp lũy cao, đào hào sâu, đặt bẫy nỏ, nghiêm phòng bị và đặt thêm đồn trại, chia quân giữ nơi hiểm yếu.

Thành Đại La, từ Cửa Nam, Ông Mạc đến Nhật Chiêu, những lũy đất nên đắp cao thêm và khai sâu thêm những con hào ở đấy.

Trên mặt Hoàng thành, từ cửa Nam đến cửa Bắc, nên tu sửa những bức tường thấp ở trên mặt thành cho thật cao, để bảo hiểm trong thành.

Một khi chiến cụ đã đầy đủ, phòng vệ trong ngoài đã chu đáo thì giữ sẽ vững, đánh sẽ thắng. Giặc ngoài đã dẹp, trong nước tự yên, hạ thần tuy hưu dưỡng tại nơi điền viện, cũng được dự hưởng phúc thái bình”1 (Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 346-347).


Theo đó, nhà Mạc bèn tổ chức sửa sang đường sá ngoại thành Thăng Long, lại huy động quân dân hai xứ Tây và Nam dồn sức đắp lũy đất, trên lũy trồng tre gai, trên từ sông Hát xuống đến sông Hoa Đình thuộc huyện Sơn Minh, kéo dài đến vài trăm dặm, tạo thành các bức lũy vững chắc phòng ngừa quân Trịnh kéo ra2 (Xem Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.2, tr. 178-179).


Năm Mậu Tý (1588), Mạc Mậu Hợp lại huy động quân dân các huyện trong bốn trấn đắp thêm các lớp lũy ngoài thành Đại La ở Thăng Long, từ phường Nhật Chiêu (nay là phường Nhật Tân, Hà Nội) vượt qua Hồ Tây, qua cầu Dừa (nay thuộc phường Thịnh Quang, Hà Nội) đến cầu Dền (nay là Ô cầu Dền, gần Bạch Mai, Hà Nội) kéo dài suốt đến Thanh Trì, giáp phía tây bắc sông Nhị Hà, cao hơn thành Thăng Long đến khoảng vài trượng, đào 3 lớp hào, đều trồng tre ken dày, hết sức kiên cố, toàn bộ lũy đất kéo dài mấy mươi dặm để bao bọc lấy phía ngoài thành Thăng Long1 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 164).


Như vậy, ngay trước cuộc quyết chiến năm Nhâm Thìn (1592) quyết định kết cục cuộc nội chiến Nam - Bắc triều giữa quân đội nhà Mạc với quân đội Lê - Trịnh, triều Mạc đã huy động đến tận cùng sức người sức của, dựng nên quanh Kinh thành Thăng Long một hệ thống bờ lũy dài, kiên cố bao quanh bảo vệ chính quyền trung ương của mình. Đây là bức lũy dài nhất của Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử. Đồng thời cũng là chiến lũy lớn nhất, công phu nhất mà triều Mạc đã tổ chức xây dựng và sử dụng trong suốt thời gian cầm quyền. Bức lũy này là thành tựu hiện thực lớn nhất của tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy trong chiến đấu phòng ngự - phòng thủ bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ của triều Mạc. Tuy vậy, cố gắng cuối cùng và lớn nhất của triều Mạc về xây dựng thành lũy cho đến trước khi bị đánh bật ra khỏi đồng bằng Bắc Bộ cũng đã không giúp cho vua tôi triều Mạc bảo vệ được Đông Kinh, bảo vệ được vùng lãnh thổ mà họ đã dày công mở rộng và ra sức giữ gìn trong gần 70 năm cầm quyền. Quân Lê - Trịnh đã nhanh chóng chọc thủng được hệ thống thành lũy của nhà Mạc, chiếm Đông Kinh.


Sau khi bị đánh bật ra khỏi Kinh thành Thăng Long, tiếp đến là Hải Dương, Yên Quảng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, cuối cùng nhà Mạc phải rút lên vùng rừng núi biên giới Cao Bằng, hy vọng nương nhờ vào sự can thiệp của nhà Minh và sự hiểm yếu của vùng rừng núi Đông Bắc xa xôi để cát cứ. Trong cuộc tiễu trừ dư đảng nhà Mạc ở Cao Bằng (lúc đó gọi là Cao Bình) của chính quyền Lê - Trịnh, tính chất của một cuộc nội chiến giữa hai thế lực để giành quyền thống trị ngày càng phai nhạt, với sự suy yếu rõ nét của họ Mạc. Họ Mạc đã lui về trở thành một thế lực cát cứ ở vùng núi, như thủ lĩnh của một bộ tộc muốn ly khai, tách ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương để làm chủ một “góc trời” sơn cước - một hiện tượng tương đối phổ biến ở vùng núi Đông Bắc - Tây Bắc nước ta trong lịch sử, như Nùng Trí Cao, Đèo Cát Hãn... trước đó.


Để bảo vệ chính quyền và lãnh thổ của mình trước các cuộc truy diệt của chính quyền Lê - Trịnh, họ Mạc đã dựng nên ở khu vực Cao Bằng một hệ thống “lá chắn” - căn cứ chính là những thành lũy. Những thành lũy này đã nhiều lần ngăn chặn thành công các cuộc tấn công của quân Lê - Trịnh, trong đó có những cuộc tiến công quy mô lớn do đích thân chúa Trịnh chỉ huy. Những thành lũy này cũng là bàn đạp vững chắc, bảo vệ một hậu phương yên ổn, để từ đây, hơn một lần, quân Mạc đã tiến xuống đồng bằng Bắc Bộ, chiếm giữ được Đông Kinh một thời gian, khiến cả triều đình vua Lê - chúa Trịnh phải tạm lánh vào Thanh Hóa. Những “lá chắn” của họ Mạc đã bảo vệ một “tàn quân” suốt hơn 30 năm (1592-1623), tạo nên một thế lực cát cứ, tuy không thực hùng mạnh, nhưng bền chắc và tồn tại dai dẳng trên miền núi Đông Bắc Tổ quốc.


Khảo sát qua tài liệu thư tịch và các di tích tại địa phương cho thấy, trên một dải vùng Đông Bắc nước ta vẫn còn dấu tích của một hệ thống quan ải, thành lũy phân bố tương đối đồng đều tại các trấn Yên Bang (Yên Quảng), Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hoá. Ở Lạng Sơn hiện còn một cửa ải quan trọng dọc tuyến biên giới phía Bắc là cửa Nam Quan (trấn Nam Quan, Đại Nam Quan, Mục Nam Quan). Cửa này nguyên là cửa ải Pha Lũy ở thế kỷ XV. Tên trấn Nam Quan được nhắc đến lần đầu tiên trong sự kiện năm Canh Tý (1540), khi Mạc Đăng Dung tới hành sảnh của quân Minh xin đầu hàng. Trấn Cao Bằng có tới 13 cửa ải, thành lũy. Các cửa Tụ Long và Bạch Đích là cửa ải lớn thuộc Tuyên Quang. Trấn Hưng Hoá có ba cửa ải lớn là Bảo Thắng, Bát Xát và Phòng Thu.


Những tài liệu thư tịch còn lưu giũ và được khai thác cho đến nay chưa cho phép phục dựng quá trình xây dựng và sự tham gia của các thành lũy này trong cuộc chiến đấu bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ của họ Mạc những năm 1592-1623. Tuy nhiên, chính sự tồn tại dai dẳng của thế lực nhà Mạc sau những “lá chắn” này, cùng những dấu tích còn lại của hệ thống thành lũy của họ Mạc ở vùng núi Đông Bắc, tiêu biểu là di tích thành nhà Mạc hiện còn được giữ gìn ngay trong lòng thị xã Cao Bằng, thành phố Lạng Sơn... là những minh chứng đầy thuyết phục cho sự tồn tại của hệ thống thành lũy được nhà Mạc xây dựng và sử dụng trong chiến đấu phòng ngự - phòng thủ bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ trong lịch sử đất nước cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, đồng thời cũng là một minh chứng cho một quan điểm nổi bật trong tư tưởng quân sự của nhà Mạc - tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy trong chiến đấu phòng ngự - phòng thủ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:45:19 pm »

- Thành lũy của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong:

Năm Canh Tý (1600), Đoan quận công Nguyễn Hoàng sau khi tham gia đánh dẹp nhà Mạc đã tìm cách trở về Thuận Hóa - Quảng Nam nhằm tránh xa sự khống chế, sát hại của họ Trịnh. Thời gian đầu, họ Nguyễn ở Thuận Hóa - Quảng Nam vẫn là một bộ phận của chính quyền Lê - Trịnh. Nhưng từ năm Kỷ Mùi (1619), Nguyễn Phúc Nguyên cự tuyệt chính quyền Lê - Trịnh, chiêu nạp Đào Duy Từ làm quân sư, đắp lũy Trường Dục ở Quảng Bình, cắm cọc giăng xích ở các cửa sông làm kế phòng thủ chống nhau với quân Trịnh. Hệ thống thành lũy trong chiến đấu (phòng thủ) bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ được hình thành trong tư tưởng quân sự của chúa Nguyễn và đội ngũ võ tướng của họ Nguyễn. Và một hệ thống thành lũy cũng đã nhanh chóng được chính quyền họ Nguyễn hiện thực hóa và sử dụng trong cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh đang sắp sửa bùng nổ dữ dội.


Người có vai trò quan trọng bậc nhất, cũng là người đã khai mở tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy trong chiến đấu (phòng thủ) để bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ của họ Nguyễn chính là Đào Duy Từ1 (Đào Duy Từ quê ở huyện Ngọc Sơn, Thanh Hóa. Sinh ra trong gia đình làm nghề ca xướng, Đào Duy Từ  từ nhỏ đã tỏ ra trí thông minh bẩm sinh, học rộng biết nhiều, nhưng không được chính quyền Lê - Trịnh cho đi thi. Lúc bấy giờ, Nguyễn Hoàng ở Thuận Hóa ra sức vỗ về nhân tâm, yêu dân, trọng kẻ sĩ, đang tìm cách chiêu tập hào kiệt dựng cơ sở cho ý đồ "hùng cứ một phương". Đào Duy Từ quyết chí vào Nam lập nghiệp. Được một người tâm phúc của họ Nguyễn tiến cử, Đào Duy Từ lập tức được họ Nguyễn tin dùng. Chúa Nguyễn phong Đào Duy Từ làm Nha úy nội tán, tước Lộc Khê hầu, quyền cai quản quân cơ trong ngoài, tham dự bàn bạc chính sự quốc gia).


Năm Kỷ Tỵ (1629), thực hiện mưu đồ “giải quyết vấn đề miền Nam”, áp đặt sự thống trị trên toàn quốc, Trịnh Tráng sai Nguyễn Khắc Minh đem sắc tấn phong Nguyễn Phúc Nguyên làm Thái phó quốc công, giục ra Đông Kinh đi đánh giặc. Khắc Minh đến Thuận Hoá, Chúa bèn triệu quần thần vào bàn bạc. Đào Duy Từ nói rằng: “Đó là chúa Trịnh mượn mệnh lệnh vua Lê để dử ta đấy. Nhận sắc mà không đến, thì họ còn trách ta được, nếu không nhận tất họ động binh. Việc hiềm khích ngoài biên một khi hé ra, không phải là phúc sinh dân! Hơn nữa phía ta, thành quách chưa kiên cố, quân sĩ chưa luyện tập, một khi giặc đến, lấy gì chống được? Chi bằng nay hãy tạm nhận sắc, cho họ không nghi, ta được chuyên tâm sửa sang phòng giữ bờ cõi. Rồi sau dụng kế trả sắc, thì họ không làm gì được ta”1 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1997, t.I, tr.91-92). Chúa Nguyễn nghe lời Đào Duy Từ, bèn nhận sắc, hậu đãi sứ giả rồi tiễn về Đông Đô.


Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn Phúc Nguyên đừng nộp lễ cống và thu thuế cho họ Trịnh. Chúa nói: “Tiên vương (chỉ Nguyễn Hoàng - TG) tài trí hơn đời cũng phải đi lại thông hiếu. Ta nay nhỏ mọn không bằng tiên vương, đất đai binh giáp lại không bằng một phần mười của Đông Đô, nếu không nộp cống thì lấy gì mà giữ đất đai để nối nghiệp trước?”. Đào Duy Từ bèn bàn rằng: “Thần nghe nói dẫu có trí tuệ, không bằng nhân thời thế. Cứ uy vũ anh hùng, mưu kế sáng suốt của tiên vương, không phải là không giữ được đất đai. Song thời bấy giờ những thuộc tướng ở ba ty đều tự do Trịnh cắt đặt (thời thế Tông nhà Lê, Mai Cầu làm Tổng binh Thuận Hoá, thời Kính Tông nhà Lê, Vũ Chân làm Hiến sát Thuận Hoá), phàm cử động việc gì cũng bị bọn họ kiềm chế, nên tiên vương phải nhẫn nại như thế. Nay chúa thượng chuyên chế một phương, quan liêu tự quyền cắt đặt, một lời nói ra ai còn dám trái. Thần xin hiến một kế, theo kế ấy thì không phải nộp thuế, mà giữ được đất đai và có thể dựng nên nghiệp lớn”2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 44-46) - đó chính là kế sách xây dựng thành lũy.


Đào Duy Từ cho rằng: “Nay, dựng nghiệp đế vương, cốt phải vẹn toàn. Người xưa nói không nhọc một lần thì không được rảnh lâu, không tốn một lần thì không được yên mãi. Tôi xin lấy quân và dân hai xứ (Thuận Hoá - Quảng Nam) đắp lũy dài, trên từ núi Trường Dục dưới đến bãi cát Hạc Hải, nhân thế đất đặt lũy hiểm cho vững, việc phòng bị ngoài biên, quân giặc dẫu đến cũng không làm gì được”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 44-46).


Nghe theo Đào Duy Từ, mùa xuân năm Canh Ngọ (1630), chúa Nguyễn điều động quân dân Thuận - Quảng đắp lũy Trường Dục và chỉ sau hơn một tháng thì hoàn thành. Đây là tòa lũy - “lá chắn” đầu tiên của chúa Nguyễn được xây dựng để chuẩn bị cho cuộc giao chiến với họ Trịnh.


Sách Đại Nam thực lục tiền biên mô tả lũy Trường Dục: “cao 1 trượng 5 thưốc, ngoài đóng gỗ lim, trong đắp đất, làm 5 bậc, voi ngựa đi được, dựa núi men khe, dài hơn 3.000 trượng, mỗi trượng đặt một khẩu pháo quá sơn, cách 3 hoặc 5 trượng lập một pháo đài, đặt một khẩu súng nòng lớn. Thuốc đạn chứa như núi. Mấy tháng đắp xong luỹ, thành một nơi ngăn chặn hẳn hai miền Nam - Bắc. Lại đặt xích sắt chắn ngang các cửa biển Nhật Lệ và Minh Linh”2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 48-49).


Mùa đông năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn xuất quân đánh chiếm châu Nam Bố Chính (Bố Trạch, Quảng Bình). Bấy giờ, tướng Trịnh là Nguyễn Khắc Kham giữ châu Bắc Bố Chính, còn châu Nam Bố Chính do Tri châu Nguyễn Tịch trấn giữ. Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn nên đánh lấy vùng đất của Nguyễn Tịch trước, để giữ sông Gianh, tạo ra một vùng đệm ngăn cách hẳn miền Nam của chúa Nguyễn với miền Bắc của chúa Trịnh. Chúa Nguyễn tán đồng, bèn cử Nguyễn Đình Hùng dẫn quân đi đánh. Nguyễn Đình Hùng dẫn quân đánh úp quân Trịnh, chém chết Nguyễn Tịch, chiếm Nam Bố Chính đặt làm dinh Bố Chính (dinh Ngói), biến sông Gianh làm ranh giới Nam - Bắc, đặt 24 thuyền quân do Trương Phước Phấn chỉ huy trấn giữ.


Năm Tân Mùi (1631), sau khi cùng Nguyễn Hữu Dật đi Quảng Bình xem xét hình thế sông núi, Đào Duy Từ bàn với chúa Nguyễn rằng: “Tôi xem từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu thuộc Đồng Hới ngoài có khe ngòi sâu, bùn lầy, dùng để làm hào, trong đắp lũy dài, lại hiểm hơn lũy Trường Dục gấp 10 lần”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 47). Lúc đầu, chúa Nguyễn thấy công việc khó khăn, tốn kém, e ngại không làm; nhưng trước lời lẽ thuyết phục, khẩn thiết của Đào Duy Từ, chúa Nguyễn lại nghe theo và sai Đào Duy Từ cùng Nguyễn Hữu Dật đảm trách đốc thúc việc xây đắp lũy Thầy (lũy Thầy dưới triều Nguyễn sau này được đổi tên là Định Bắc trường thành, hay trường thành Quảng Bình). Công trình quân sự này đúng như dân gian xác nhận: “Dẫu rằng có cánh khó qua Lũy Thầy”. Và, trên thực tế, lũy Thầy đã góp phần chủ yếu để quân Nguyễn ngăn chặn hiệu quả tất cả các cuộc tấn công xuống phía Nam của quân Trịnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:47:58 pm »

Năm Nhâm Dần (1632), sau khi đánh tan quân Trịnh vào xâm lấn Nam Bố Chính, chúa Nguyễn quyết định đắp lũy Trấn Ninh. Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật được giao trông coi công việc đắp lũy này. Vài tháng sau, lũy Trấn Ninh hoàn thành. Từ đó, với các chiến lũy kế tiếp nhau, công việc phòng thủ của quân Nguyễn càng trở nên vững vàng hơn1 (Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1997, t.I, tr. 102).


Mùa đông năm Quý Dậu (1633), Trịnh Tráng đem quân thuỷ bộ tiến công Nam Bố Chính. Quân Trịnh tiến thẳng đến cửa biển Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật đem quân đi chống cự. Nguyễn Hữu Dật bèn đắp thêm lũy Trường Sa để hộ vệ chính lũy (lũy Thầy). Quân Trịnh tổ chức tấn công liên tiếp khoảng 10 ngày nhưng đều bị chặn lại trước hệ thống lũy vững chắc. Nhận thấy quân Trịnh tinh thần hoang mang, nhuệ khí giảm sút, Nguyễn Hữu Dật bất ngờ mang quân xông ra đánh dữ dội. Quân Trịnh bị thiệt hại quá nửa. Trịnh Tráng bèn cử người giữ châu Bắc Bố Chính, rồi dẫn quân về Đông Đô2 (Xem Đại Nam liệt truyện, Sđd, t.I, tr. 104).


Đến năm Mậu Tý (1648), chúa Trịnh lại cử tướng Trịnh Đào đem đại quân đánh miền Nam. Khi tiến đến Vũ Xá, quân Trịnh cũng tổ chức đắp lũy phòng ngự. Chúa Nguyễn cử Thế tử Dũng Lễ hầu Nguyễn Phúc Tần thống lĩnh các doanh quân, chia đường tiến đánh. Nguyễn Hữu Dật cùng Tôn Thất Lộc lĩnh bộ binh làm tiên phong. Khi đến lũy Trường Dục, gặp lúc gió ngược nổi to, nhiều tướng muốn dừng quân trụ lại cố thủ; nhưng Nguyễn Hữu Dật cho rằng: quân giặc dẫu nhiều nhưng theo ven núi mà đi, chưa biết địa hình chỗ nào hiểm, chỗ nào dễ. Ta chẹn chỗ hiểm mà xông ra đánh, tất phá được quân giặc. Theo đó, quân Nguyễn đội ngũ tề chỉnh tiến lên rất gấp, phá tan đạo quân tiên phong của quân Trịnh. Thừa thắng, Nguyễn Phúc Tần cử Nguyễn Hữu Tiến tập trung quân bộ có tượng binh làm tiên phong, nhân đêm tối đánh thẳng vào lũy của quân Trịnh. Quân Trịnh đại bại. Lũy mới đắp của quân Trịnh bị phá tan. Trịnh Đào đang đóng quân ở đồn Nam Bố Chính nghe tin thất trận vội vã bỏ quân chạy trốn1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 57-58).


Tháng 6 năm Quý Tỵ (1653), chúa Nguyễn tổ chức đắp thêm đồn Sa Chủy (lũy Mũi Dùi) ở cửa biển Nhật Lệ2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 62).

Tiếp đến, năm Ất Mùi (1655), Phạm Tất Đồng chỉ huy quân Trịnh vượt qua sông Gianh xâm chiếm Nam Bố Chính. Gặp lúc Nguyễn Phúc Tần cũng muôn tiến đánh Bắc Hà, liền cử Nguyễn Hữu Dật đi tuần ngoài biên giới, xem xét hình thế núi sông. Khi trở về, Nguyễn Hữu Dật hiến kế cho chúa Nguyễn rằng: “Gần đây, mấy năm dụng binh, quân ta chưa từng qua sông sang Bắc. Nay tôi xin chia quân làm ba đạo: Thượng đạo trước đánh Tất Đồng. Trung đạo tiến theo sau để làm thanh thế tiếp ứng. Trịnh Đào ở doanh Hà Trung được tin, tất cho rằng quân ta kéo đến chỉ nhằm đánh Tất Đồng mà thôi, thế nào Đào cũng, bỏ trại không mà đem quân đi cứu Tất Đồng. Quân hạ đạo của ta lén ra Hoành Sơn, đánh úp Lê Hữu Đức, nhân sơ hở cướp lấy doanh Hà Trung. Thế là kế điệu hổ lìa núi, đánh một trận có thể thu được toàn thắng”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 63-64). Được chúa Nguyễn đồng ý, Nguyễn Hữu Dật lập đài đốt lửa báo hiệu ở các cửa biển Quảng Bình để báo tin tức cho nhanh chóng, kịp thời; mặt khác, tổ chức đặt kho ở lũy Trường Dục, sai tướng sĩ các doanh Quảng Bình, Bố Chính chuẩn bị quân nhu để đợi trưng phát, rồi tải lương thảo chứa vào đó để cung cấp lâu dài cho quân sĩ chiến đấu. Khi công việc chuẩn bị đã cơ bản hoàn tất, Nguyễn Hữu Dật được cử làm Đốc chiến cùng Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến đem quân thủy, bộ vượt qua sông Gianh, tiến đánh quân Trịnh ở Bắc Bố Chính. Quân Nguyễn đi đến đâu, đánh trận phần lớn giành được toàn thắng, chiếm giữ đất 7 huyện của Nghệ An.


Mùa hạ năm Bính Thân (1656), chúa Nguyễn ra Quảng Bình, đóng trại ở An Trạch; Nguyễn Hữu Dật đến yết kiến và bàn rằng: “Dụng binh hai năm nay, mới tạm định được 7 huyện Nghệ An, lấy được rất khó mà tốn của rất nhiều. Nay chưa có thể tiến đánh, xin hãy đắp lũy ở bờ nam sông Lam để giữ và đợi cơ hội”2 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 69). Chúa Nguyễn bèn cho khởi công đắp thêm một dãy lũy ở bờ nam sông Lam (dòng sông đổ ra cửa biển Đan Nhai ở Nghệ An). Nguyễn Hữu Dật cũng chia quân đóng giữ ở bờ nam sông Lam, dựa vào lũy mới đắp để cố thủ.


Mùa thu năm Đinh Dậu (1657), Nguyễn Hữu Dật đem quân đánh úp quân Trịnh đóng ở lũy Đồng Hôn, giành được thắng lợi rồi lui về.

Mùa thu năm Mậu Tuất (1658), Nguyễn Hữu Tiến đem quân đánh phá các huyện Đông Thành, Hưng Nguyên và Nam Đường (Nghệ An). Quân Trịnh phòng thủ hết sức nghiêm cẩn. Nguyễn Hữu Dật cùng Nguyễn Hữu Tiến hội quân tiến đánh quân Trịnh đóng ở lũy Đồng Hôn. Quân Trịnh kinh sợ tan vỡ. Tướng trấn thủ của họ Trịnh là Vân Khả trốn về An Trang. Quân Nguyễn toàn thắng. Nguyễn Hữu Tiến lại dẫn quân về.


Mùa thu năm Canh Tý (1660), thực hiện ý đồ chiếm toàn bộ đất Nghệ An, Nguyễn Hữu Dật dẫn quân vượt sang sông Tam Chế, đánh quân Trịnh ở lũy Đồng Hôn. Quân Trịnh liệu thế không chống cự được đã bỏ chạy về An Tràng. Thừa thắng, Nguyễn Hữu Tiến đốc thúc quân sĩ vượt qua sông Lam, tổ chức chốt giữ từ lũy Đồng Hôn đến xã Lăng Khê để làm thế ỷ dốc. Quân Nguyễn làm cầu phao qua sông để tiến sang bờ nam sông Lam. Thanh thế của quân Nguyễn ngày càng lừng lẫy. Trịnh Căn nghe tin hoảng sợ, muôn bỏ Nghệ An, lui về giữ Thanh Hoá. Các thuộc tướng ra sức can ngăn, Trịnh Căn mới cố sức giữ Nghệ An.


Sau đó, chúa Nguyễn cho rằng đang lúc giao thời mùa thu và mùa đông, mưa to gió rét, chỗ đóng quân lại không có địa thế hiểm trở có thể làm chỗ dựa được, bèn hạ lệnh cho quân rút về lũy cũ cố thủ đợi tới mùa xuân sẽ lại đem quân đánh tiếp. Nguyễn Hữu Dật cùng Nguyễn Hữu Tiến bèn sai dỡ cầu phao, rút quân về bờ nam sông, củng cố bờ lũy đã đắp trước đó ở bờ nam sông Lam để cố thủ.


Mùa xuân năm Tân Sửu (1661), sau khi được thăng làm Chưởng cơ, trấn thủ doanh Bố Chính, Nguyễn Hữu Dật ra sức sửa sang thành lũy, vỗ về quân dân, việc phòng thủ quân Trịnh ngày càng thêm vững vàng. Để củng cố hơn nữa thành trì nơi biên ải, Nguyễn Hữu Dật dời đồn đến xã Phúc Lộc, lại đắp lũy từ cửa biển xã Am Náu đến chân núi xã Chu Thị, tiếp liền với lũy lớn Động Hồi. Trên lũy thiết đặt pháo đài, sửa sang đường đi, làm kế phòng thủ cầm cự lâu dài1 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 78).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #54 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2021, 07:49:37 pm »

Mùa đông năm Tân Sửu (1661), khi Trịnh Căn đem quân đến đánh, Nguyễn Hữu Dật làm kế “vườn không nhà trống”, đưa dân châu Nam Bố Chính vào phía trong đại lũy để cố thủ.

Mùa xuân năm Nhâm Dần (1662), quân Nguyễn dời đồn đến Vũ Xá, đắp thành lũy để chống quân Trịnh. Nguyễn Hữu Dật lập mưu, sai Trương Văn Vân cho quân sĩ đóng giả làm quân Trịnh, nhân lúc đêm tối, ngầm đi ra ngòi Động Hồi, bất ngờ tập kích doanh trại của Trịnh Đào, diệt hơn một trăm quân Trịnh. Cũng vào thời gian trên, tại lũy Vũ Xá, quân Nguyễn nổi trống mõ, hò reo vang dội. Tưởng rằng quân Nguyễn đang kéo đến tăng cường, tướng Trinh vội vàng thúc quân sĩ bỏ lũy chạy trốn. Quân Nguyễn tổ chức truy đuổi đến sông Gianh, bắt được hầu hết voi ngựa, khí giới, chiếm các đồn lũy của quân Trịnh.


Cũng năm Nhâm Dần, quân Nguyễn lại tiến hành đắp thêm lũy Trấn Ninh để phòng giữ đường biển. Toà lũy mới đối nhau với lũy Sa Bộ tạo nên thế ỷ dốc cho nhau, rất lợi hại.

Đến mùa hạ năm Nhâm Tý (1672), Trịnh Căn một lần nữa mang 10 vạn quân (phao lên là 18 vạn) tiến vào đánh quân Nguyễn. Trịnh Tạc đích thân kèm xa giá vua Lê đốc thúc hậu quân.


Được tin cấp báo, tháng 7 năm Nhâm Tý, chúa Nguyễn cử Nguyễn Phúc Hiệp làm Nguyên soái, thống lĩnh ba quân đánh trả quân Trịnh. Tiến đến phủ Tân Thắng (Quảng Bình), Phúc Hiệp sai Nguyễn Hữu Dật giữ lũy Sa Phụ, Trấn thủ Quảng Bình là Nguyễn Mỹ Đức giữ chính lũy, Chưởng cơ Trương Phúc Cương giữ lũy Trấn Ninh, Trấn thủ Bố Chính là Triều Tín giữ lũy Động Hồi, Trấn thủ Cựu Dinh là Thuận Đức (không rõ họ) giữ lũy Đâu Mâu, Cai cơ Thuận Trung (không rõ họ) giữ cầu Mỗi Nại. Tham tướng Tài Lễ tổ chức quân sĩ đóng cọc gỗ để ngăn cửa biển Nhật Lệ. Quân thủy quân bộ giữ vững liên lạc, ở thế dựa vào nhau1 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 84).


Tháng 9 năm Nhâm Tý, quân Trịnh tiến đến lũy Động Hồi. Triều Tín chia quân tiến đánh quân Trịnh không được, bèn đem dân chúng vào trong lũy cố thủ. Quân Trịnh đóng từ Chính Thủy đến Sơn Đầu, từ Phú Xố đến Trấn Ninh, lại đắp lũy từ Sơn Đầu đến bờ biển, bày một nghìn chiến thuyền ở sông Gianh và cửa Nhật Lệ để tiếp ứng bộ binh, thanh thế vang dậy. Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp nghe tin, cử Tham tướng Tài Lễ đem thủy quân đắp pháo đài ở lũy Trấn Ninh. Tham mưu Đồng Giang (không rõ họ) chiêu mộ dân ven núi làm lính để giữ những đường xung yếu ở các cửa nguồn đề phòng quân Trịnh đánh thọc vào1 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 85).


Chúa Nguyễn thấy quân Trịnh thế mạnh, triệu bề tôi họp gấp để bàn định phương kế đối phó. Cai cơ Tông Đức Minh thưa rằng: Quân Trịnh vào sâu, lợi ở sự đánh chóng, ta cứ hào sâu lũy cao, giữ mãi để quân nó nhụt đi. Vả lại việc đánh thành là tai vạ của nhà binh. Quân Trịnh tiến đánh không được, lương thực không tiếp tế được, thế tất sẽ phải nhân đêm trốn đi, ta thừa thế đánh, một tiếng trống là phá được2 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 86).


Tháng 11 năm Nhâm Tý, quân Trịnh tiến đến vây đánh lũy Trấn Ninh. Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp thống suất đại binh đóng ở Cừ Hà, cử các tướng chia đóng ở đồn Sa Chủy và cửa Nhật Lệ để phân chia thế lực quân Trịnh. Chỉ huy quân Trịnh là Lê Thời Hiến đốc thúc 3 nghìn quân tiến đến sát chân lũy, san hào, lấp rãnh, hợp sức đánh gấp. Chỉ trong vòng một ngày mà lũy Trấn Ninh sắp bị hạ tới ba, bốn lần. Trương Phúc Cương hoảng sợ xin bỏ lũy Trấn Ninh, lui giữ Mỗi Nại. Nguyên soái Nguyễn Phúc Hiệp ra lệnh phải “gắng sức cố giữ bằng được lũy, ta đến cứu ngay”; và tức khắc sai Nguyễn Hữu Dật đi cứu lũy Trấn Ninh. Lúc đầu, Nguyễn Hữu Dật cho rằng: “Chức vụ của ta là giữ lũy Sa Bộ, còn Trấn Ninh không phải phận sự của ta, ta không dám bỏ đây mà đi”1 (Đại Nam liệt truyện, Sđd, t.I, tr. 114). Nhưng sau đó lên bờ lũy quan sát thấy phía Trấn Ninh lửa sáng rực trời, súng vang như sấm, biết là tình hình đã rất gấp, Nguyễn Hữu Dật bèn dẫn quân đi tiếp cứu ngay. Quả thật, khi đến nơi lũy Trấn Ninh đã bị chọc thủng đến hơn 30 trượng, dường như không thể chống đỡ được.


Bấy giờ trời đã tối, Nguyễn Hữu Dật sai quân sĩ buộc rơm cỏ làm đuốc đốt sáng rực trời ngăn không cho quân Trịnh đến gần; đồng thời tập trung quân sĩ khẩn trương chặt cây làm kè, dựng ván làm phên, lấy sọt tre đựng đất để đắp vá những chỗ bị đào phá. Sáng ra, quân Trịnh hết sức bàng hoàng bởi lũy đã được hàn vá lại một cách rất vững chắc rồi, không thể đánh phá nổi.


Lúc này, chúa Nguyễn trú đóng ở xã Toàn Thắng, nghe tin Trấn Ninh nguy cấp, liền sai sứ phi ngựa đến hỏi tình hình; Nguyễn Hữu Dật tâu rằng: “Trước kia quân ta đi sâu vào Nghệ An là đất lạ, quân Trịnh còn không phạm được huống chi nay ta lũy cao, hào sâu, lấy thế chủ mà ứng phó với khách, lại còn sợ gì”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 88).


Đến mùa đông năm Nhâm Tý (1672), thấy cuộc giao chiến đã kéo dài nhiều tháng mà vẫn không lấy được Trấn Ninh, chúa Trịnh và chúa Nguyễn thoả thuận lấy sông Gianh làm giới phân định đất nước thành hai “quốc gia” là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đạo Lưu Đồn và các lũy Trấn Ninh, Sa Bộ, Trường Dục trở thành bức tường thành vững chắc phân chia Nam - Bắc.


Cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh đến đây là kết thúc. Trong cuộc chiến tranh này, những thành lũy mà các chúa Nguyễn dựng nên đã phát huy tác dụng lớn lao trong khả năng tác chiến của quân đội cũng như thế tương quan lực lượng của hai bên.


Tóm lại, trong suốt thời gian từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII, trong bối cảnh các hoạt động quân sự diễn ra liên miên, sự du nhập nhiều kỹ thuật quân sự Tây phương và những sự quan tâm vượt bậc của các tập đoàn phong kiến cầm quyền đã đem lại cho tư tưởng quân sự Việt Nam những sự phát triển quan trọng. Trong đó, xây dựng và sử dụng thành lũy phục vụ trong các hoạt động chiến đấu phòng ngự - phòng thủ trở thành một quan điểm tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình chiến tranh của các thế lực phong kiến cát cứ ở Đại Việt.


Song, tư tưởng xây dựng thành lũy của triều Mạc, triều Nguyễn giống nhau ở chỗ là đều phục vụ cho mục đích phòng thủ, phòng ngự và đôi khi, đôi chỗ là cho chiến đấu tiến công. Còn điểm khác nhau cơ bản lại chính là quan điểm lựa chọn vị trí (địa bàn) để xây dựng các hệ thống thành lũy đó: nhà Mạc thì chủ yếu xây dựng hệ thống thành lũy ở ngay dinh lũy trú đóng trực tiếp của triều đình, cụ thể như Đông Đô, Hải Dương, sau đó là Lạng Sơn, Cao Bằng... mà không chú ý chọn những vùng đất hiểm yếu để xây dựng những công trình phòng thủ nhằm ngăn chặn, đánh địch từ xa. Do vậy, kết quả tất yếu là khi tuyến (hệ thống) phòng thủ bị uy hiếp, thất thủ cũng đồng nghĩa với cuộc chiến đã thất bại. Có thế nói, đây chính là điểm hạn chế trong tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy phục vụ công cuộc chiến đấu phòng thủ, phòng ngự để bảo vệ lãnh địa cát cứ của triều Mạc. Ngược lại, chúa Nguyễn lại chọn các địa bàn hiểm yếu vùng đất Quảng Bình (nơi có sông Nhật Lệ, cửa biển Nhật Lệ, sông Gianh, địa hình và chất đất thuận lợi cho việc chọn vị trí và đào đắp các thành lũy) để xây dựng nên các thành lũy phục vụ công cuộc phòng thủ, phòng ngự bảo vệ lãnh thổ chiếm đóng của mình. Mặt khác, hệ thống phòng ngự, phòng thủ của chúa Nguyễn cũng như đội ngũ võ tướng thuộc quyền được xây dựng với tư tưởng chỉ đạo là phải xây dựng hệ thống thành lũy có nhiều tầng, nhiều lớp liên hoàn, nối tiếp nhau (phòng ngự có chiều sâu và chiều rộng), bảo đảm vững chắc cho chiến đấu thắng lợi. Đây cũng chính là lý do cắt nghĩa một phần cho thắng lợi của tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy của chính quyền họ Nguyễn trong cuộc đọ sức cam go với chính quyền Lê - Trịnh.


Thực tế lịch sử thời kỳ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đã cho phép khẳng định rằng: Xây dựng các công trình phòng thủ bảo vệ Tổ quốc là một luận điểm lớn trong tư tường quân sự của bất cứ triều đại nào, thời đại nào trong lịch sử Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #55 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2021, 12:46:36 pm »

3. Đối ngoại quân sự vừa mềm dẻo vừa cứng rắn để giữ vững biên cương đất nước


Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều kéo dài tới 60 năm là sự khởi đầu cho tình trạng phát triển không ổn định trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam thòi trung đại. Cuộc xung đột này đã ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình phát triển mọi mặt của đất nước. Riêng với việc biên phòng, dù cả hai bên, Nam triều và Bắc triều đều tập trung vào việc tiêu diệt lẫn nhau để tranh giành quyền độc tôn thống trị đất nước; song họ đều thống nhất quan điểm tư tưởng đối ngoại quân sự vừa mềm dẻo vừa cứng rắn để giữ vững biên cương, và cả để mở mang bờ cõi của phần lãnh địa cát cứ.

- Quan hệ của triều Mạc với triều Minh:

Sáu tháng sau khi lên ngôi - tháng 2 năm Mậu Tý (1528), Mạc Đăng Dung đã cử phái đoàn sứ thần sang Yên Kinh báo biểu: Con cháu họ Lê không còn ai thừa tự, cho nên di chúc cho đại thần họ Mạc tạm quản việc nước, nhà Minh không tin, mật sai người sang Đại Việt “thăm dò tin tức, gạn hỏi căn do”. Đăng Dung cùng bầy tôi thường đặt lời lẽ để đối đáp, lại dùng vàng bạc để đút lót những viên tướng nhà Minh canh giữ biên thùy, nhờ họ che chở.


Chính sách “đi trước một bước” này của triều Mạc không phải là không có hiệu quả. Chỉ ngay trong năm Kỷ Sửu (1529), anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang, cựu thần nhà Lê, chạy sang triều đình nhà Minh tố cáo Đăng Dung cướp ngôi, và xin viện binh để đánh dẹp đã bị chính các quan nhà Minh ở biên giới giữ lại, phong tỏa tin tức không cho lọt vào sâu trong nội địa. Cũng vì biên giới nội địa bị giám sát như vậy, khiến Trịnh Duy Liêu, sứ giả của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh do Nguyễn Kim phái sang triều đình Minh năm Bính Thân (1536) để tố cáo “tội trạng” của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh cất quân đánh Mạc, phải tìm đi đường biển1 (Sự kiện này Đại Việt sử ký toàn thư chép vào năm Nguyên Hòa thứ nhất, năm 1533). Không ngẫu nhiên mà một số quan lại phụ trách vùng Lưỡng Quảng đứng về phía tán thành chủ trương không phát binh lực sang Đại Việt trong cuộc bàn luận ở triều đình nhà Minh.


Cũng năm Bính Thân (1536), nhân dịp Hoàng hậu nhà Minh sinh hoàng tử, vua Minh sai sứ mang chiếu thư đi báo cho các nước tùy thuộc biết đến mừng. Viên quan Bộ Lễ tâu: “Nước An Nam bỏ cống đã hai chục năm nay”. Bên cạnh đó, việc Trịnh Duy Liêu mang lời khẩn cầu của tập đoàn Lê - Trịnh sang đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa sĩ diện và cuồng vọng bành trướng của triều đình nhà Minh. Vua Minh giao cho Bộ Binh thực hiện cuộc Nam chinh “hỏi tội” triều Mạc.


Tuy nhiên, liền trong nhiều tháng, cuộc bàn luận của vua tôi triều đình Minh vẫn chưa ngã ngũ. Quan Thị lang Hộ bộ là Đường Trị dâng sớ bày tỏ bảy điều tác hại của cuộc chinh phạt, coi “bãi bỏ việc Nam chinh là điều may mắn lớn cho thiên hạ”. Thị lang Phan Trân viết sớ can ngăn cuộc tiến binh. Tổng đốc Lưỡng Quảng Phan Đán (con trai Phan Trân) đồng tình với cha, với quan niệm “Mạc Đăng Dung cướp ngôi họ Lê cũng như họ Trần cướp ngôi, nếu Đăng Dung chịu dâng biểu, nạp cống thì đối với quốc thể cũng là đủ" và trình sớ lên vua Minh. Tuần án ngự sử Quảng Đông là Dư Quang cũng không tán thành phát binh. Hậu quả là Phan Trân bị vua Minh quở mắng, cách chức, Dư Quang bị tước bổng lộc.


Kết quả của cuộc bàn luận kéo dài này là nhà Minh quyết định phát binh “trừng phạt” triều Mạc. Năm Đinh Dậu (1537), nhà Minh cử Hàm Ninh hầu Cừu Loan làm Tổng đốc quân vụ, Binh bộ Thượng thư Mao Bá Ôn làm Tham tán quân vụ đem quân sang biên giới nước ta. Hộ bộ Thị lang Hồ Liễn, Cao Công Thiều đến trước vùng Vân Quý, Lưỡng Quảng để điều động quân lương. Đô đốc Thiêm sự Giang Hoàn và Ngưu Hoàn làm Tả Hữu phó tổng binh đốc quân đi trước còn đại tướng thì cử sau1 (Minh sử, Minh thông giám, Tây Nam thư cục ấn hành, Q.57, tr. 2145).


Theo dõi sát sao và nhanh chóng đánh giá được tình hình, nhà Mạc cử Văn Trường bá Phạm Chánh Nghị mang thư cáo cấp đến Vân Nam, giải thích việc chấp chính của mình và phủ nhận gốc tích không rõ ràng của Lê Ninh: “Họ Lê không có con nối, khi Khoáng sắp mất có bàn với quân thần, cha con Đăng Dung đều có công với nước, vậy giao ấn tín cho y để giữ nước. Bởi thế cả nước suy tôn Dung lên ngôi. Sở dĩ không dâng biểu xưng thần và nộp cống là vì năm trước Trần Thăng (tức Trần Cung) chiếm cứ Lạng Sơn, nghẽn đường không qua được, về sau lại bị các quan giữ cửa ải của Thượng quốc đóng cửa không cho qua. Còn như Lê Ninh là con của tên loạn thần Nguyễn Kim, mạo xưng họ Lê chứ không phải là con trai của Huệ”1 (Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 271, 277).


Khi biết tình thế của cuộc chiến tranh do nhà Minh phát động đến gần, Mạc Đăng Doanh một mặt “liền tu sửa trại sách, luyện tập thủy quân; trưng cầu hết thảy các cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước. Phục chức cho Thái bảo Vũ Hộ làm Tây quân Tả đô đốc Chưởng phủ sự"2 (Nghiêm Tòng Giản: Thù vực chu tư lục, Q.6), cho dân đào hố chôn cọc tre để bẫy quân kỵ, tung tin sẽ theo đường biển tập kích Quảng Đông...


Mặt khác, nhà Mạc cử Nguyễn Văn Thái sang Yên Kinh dâng biểu xin hàng. Nhà Minh cho rằng: “Những lời trong biểu bưng bít, lừa dối. Vả lại tuy xin hàng mà lời lẽ vẫn không thành khẩn khuất phục, Đăng Dung lại không tự trói mình để chịu tội"3 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.2, tr. 112). Chuyến đi sứ không thành.


Năm Kỷ Hợi (1539), Mao Bá Ôn đến Quảng Tây, đóng quân dựng đồn và truyền hịch rằng: Hễ ai bắt được cha con Mạc Đăng Dung thì thưởng cho quan tước và 2 vạn lạng bạc. Song, mặt khác Mao Bá Ôn cũng ra điều kiện nếu cha con Mạc Đăng Dung biết tự trói mình đợi tội, thành khẩn dâng hết các sổ sách về đất đai và nhân dân thì sẽ lui binh.


Trước tình hình đó, Mạc Đăng Dung cùng cháu là Văn Minh và 40 bề tôi, trong đó có Nguyễn Như Quế, Đỗ Thế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vinh... qua trấn Nam Quan dâng biểu xin hàng, nộp sổ sách và cắt đất 5 động1 (Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 121) ở Đông Bắc vốn được sáp nhập vào Đại Việt từ đầu thời Lê Sơ trả lại cho nhà Minh.


Mao Bá Ôn tâu về Yên Kinh: Đăng Dung phần sợ uy trên, phần mến đức độ, đã tự trói mình đợi tội, dâng đất đai theo chính sóc và “biện hộ” cho nhà Mạc, rằng: “Nếu như xem Mạc Đăng Dung là kẻ có tội đầu hàng mà chưa có thể khinh suất cho tước và đất thì cháu hắn là Mạc Phúc Hải hiện nay còn đợi lệnh. Nếu mang ơn cho tội thì hoặc có thể cho làm các chức đô hộ Tổng quản theo như việc của nhà Hán, nhà Đường... Còn như Lê Ninh tự xưng là con cháu họ Lê nhưng cứ theo các ty tra xét thì tung tích khó biết rõ ràng. Trịnh Duy Liêu thì có ngầm đến động trại Thạch Lâm nước ấy, gắn liền với thổ quan Quảng Tây, diện mạo của Lê Ninh thế nào không từng biết, cho nên hoặc gọi là Lê Ninh, hoặc gọi là Lê Hiến, hoặc gọi là Quang Chiếu, Quang Hòa hoặc lại bảo là họ Trịnh trá xưng, mà Trịnh Viên thì nói rằng ở động Tất Mã tuy có Lê Ninh nhưng lai lịch tông phái không biết rõ, bày tỏ sự tình, tuổi tác, nét mặt lại khác với lời báo trước đầy của Trịnh Duy Liêu đều khó lấy làm bằng cứ. Hãy cho ở Tất Mã mà chờ lệnh. Nếu không phải là con cháu họ Lê thì bỏ đấy. Còn Trịnh Duy Liêu thì cho sở thuộc Quảng Đông tùy nghi cấp lương, cho ruộng và nhà đừng để phải bơ vơ. Xử nhân như thế ngõ hầu mới chu tất”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.III, tr. 122-123).


Sau hành động trên, quan hệ nhà Minh (Trung Quốc) - nhà Mạc (Đại Việt) trở lại bình thường. Nhà Mạc chấp nhận làm phiên thần về mặt hình thức với vua Minh, theo lệ quy định mà cống nộp trong suốt hơn nửa thế kỷ ở Thăng Long và còn tiếp tục giữ các mối quan hệ ngoại giao khá tốt đẹp với nhà Minh ngay cả khi đã rút lên cát cứ ở Cao Bằng.


Tháng 10 năm Tân Sửu (1541), nhà Minh đổi tên nước An Nam thành An Nam đô thống sứ ty, phong Mạc Đăng Dung làm Đô thống sứ, ban ấn chướng và cho con cháu được thế tập, quy định thể lệ triều cống 3 năm một lần. Hằng năm triều Mạc cử người lên Nam Quan đón lịch Đại thống của nhà Minh. Các lễ cống năm trước nếu thiếu thì phải bổ sung.


Tháng 3 năm Nhâm Dần (1542), Mạc Phúc Hải đến trấn Nam Quan để xét nghiệm và “hội khám” cùng nhận 1.000 bản lịch Đại thông của nhà Minh. Tháng 8, nhà Mạc sai Mạc Kính Điển, Nguyễn Công Nghi sang tạ ơn triều Minh. Tháng 12, nhà Minh phong Mạc Phúc Hải nối chức An Nam Đô thống sứ ty Đô thông sứ.


Năm Quý Mão (1543), nhà Mạc sai sứ sang nhà Minh. Vua Minh ra lệnh ban cấp cho sứ giả của triều Mạc theo thể lệ như cũ, nhưng bãi bỏ việc ban yến, giảm bớt cỗ bàn để tỏ ra không phải là lễ tiếp bồi thần. Đến năm Mậu Thân (1548), Lê Tiến Quý lại được cử sang sứ nhà Minh. Đến năm Giáp Tý (1564), Mạc Mậu Hợp sai Nguyễn Doãn Khâm, Nguyễn Năng Thuân sang cống triều Minh, từ đó đổi lệ định cứ 6 năm triều cống một lần.


Kể từ ngày thành lập cho đến suốt cả thời gian tồn tại, nhà Mạc đã bị cuốn vào cuộc nội chiến khốc liệt triền miên ở trong nước. Hậu quả là không chỉ có tiềm lực quốc gia bị cùng kiệt, mà tâm lý chán ghét chiến tranh đã lan toả khắp các tầng lớp nhân dân. Dù vậy, với triều Minh thì bên cạnh việc tăng cường phòng bị, bằng hàng loạt các biện pháp chính trị - ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo, triều Mạc đã tránh được chiến tranh, bảo vệ được chủ quyền quốc gia.


Việc cắt 4 động thuộc 2 châu cho nhà Minh vào năm Mậu Tý (1528) là có thật; nhưng, đây vốn là đất của nhà Minh mà một thế kỷ trước, thổ tù vùng này chịu quy phục và cắt nộp cho nhà Lê. Trong tình hình đối nội, đối ngoại phức tạp của nhà Mạc lúc đó, thì việc trả lại 4 động vốn của nhà Minh là một ứng xử hợp lý, có tính toán chiến lược của triều Mạc: lấy đại cục và lợi ích cơ bản làm mục tiêu cao nhất. Đây chính là một quan điểm thuộc về tư tưởng đối ngoại quân sự của triều Mạc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #56 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2021, 12:48:12 pm »

- Quan hệ của triều Lê - Trịnh với triều Minh, Thanh và Ai Lao:

Tất cả các quan ải, cửa sông, cửa biển ở Đàng Ngoài đều được nhà nước tổ chức bảo vệ và giữ được về căn bản như đã có từ thời Lê Sơ.

Tại các vùng biên giới, tùy tính chất quan hệ biên giới ở những khoảng thời gian khác nhau, chính quyền Lê - Trịnh thiết đặt hệ thống đồn binh phòng thủ dọc biên giới. Năm Nhâm Dần (1722), khi việc tranh chấp mỏ đồng Tụ Long trở nên căng thẳng, viên trấn thủ Tuyên Quang bấy giờ là Nguyễn Thành Lý dâng sớ về triều đình xin đóng thêm 3 đồn binh dọc biên giới. Và như vậy, dọc biên giới thuộc châu Bảo Lạc và Vị Xuyên (Tuyên Quang) bấy giờ có tất cả 6 đồn binh là Tĩnh Biên, Hà Giang, Linh Trường, Tụ Long, Ninh Bắc và Trung Mang, với tổng số 2.315 quân. Ngoài ra, còn có 77 binh lính người dân tộc thiểu số của các thổ mục Hoàng Văn Tuy và Hoàng Văn Toàn hỗ trợ tuần xét biên giới1 (Xem Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung: Ông cha ta bảo vệ biên giới (từ thời Hùng Vương đến nhà Nguyễn), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 134-135). Bên cạnh đó, trong suốt thời Lê - Trịnh, triều đình Đàng Ngoài tiếp tục áp dụng chính sách ràng buộc đối với các tù trưởng miền núi biên giới để quản lý đất đai và dân sự. Để quản lý chặt chẽ cương vực đất đai, từ năm Giáp Tuất (1694), các xã, động vùng biên phải tiến hành lập sổ “tu tri bạ” ghi rõ địa giới, hình thế núi sông, những nơi hiểm yếu của địa phương gửi lên để hợp biên vào bản đồ của trấn.


Với Ai Lao, thế kỷ XVII, Ai Lao thịnh vượng được gần nửa thế kỷ và có quan hệ bang giao hoà bình với Đại Việt. Nhưng từ năm Canh Ngọ (1690), vua Ai Lao là Xulinha Vôngxa băng hà, đất nước bị chia thành ba vương quốc nhỏ là Luổng Phạbang, Viêng Chăn và Chămpaxắc. Trong nhiều năm tiếp đó, các vương quốc này xung đột với nhau ngày càng quyết liệt, tạo cơ hội cho Xiêm La (Thái Lan) can thiệp ngày càng sâu vào nội tình. Dù vậy, chính quyền Đàng Ngoài luôn duy trì chính sách ngoại giao quân sự mềm mỏng nhưng có nguyên tắc đối với chính quyền Ai Lao. Vì thế, quan hệ ngoại giao Đàng Ngoài - Ai Lao tương đối tốt đẹp. Ai Lao không còn quấy rối ở vùng biên giới với Đại Việt, vùng phía Tây biên cương nước ta khá yên ổn.


- Chúa Nguyễn cương nhu với Chămpa và Chân Lạp:

Năm Mậu Ngọ (1558), Đoan Quận công Nguyễn Hoàng được chính quyền Nam triều cử vào trấn thủ Thuận Hoá. Đến năm Canh Ngọ (1570), ông kiêm quản luôn cả vùng Quảng Nam giáp với Chămpa. Kể từ đây Nguyễn Hoàng ra sức ổn định và củng cố miền biên giới phía Nam này để tạo dựng cơ sở cát cứ. Sự kiện này đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình mở cõi xuông phía Nam, thâu nhập thêm các vùng đất mới và những cộng đồng cư dân mới.


Vào khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII, vương quốc Chân Lạp liên tục bị Xiêm La chèn ép, xâm thực đến mức không tự bảo vệ được mình và họ buộc phải dựa vào đồng minh gần gũi là chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong. Mối quan hệ láng giềng gần gũi cùng với thời gian đã dẫn đến hệ quả tất yếu là các mặt kinh tế, văn hoá, chính trị và xã hội giữa người Cao Miên và người Việt ngày càng giao hòa bền chắc.


Năm Tân Hợi (1611), chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho quân giúp Chân Lạp đánh đuổi quân Xiêm La. Đổi lại thiện tình giao hảo đó, vua Chân Lạp đã cho phép họ Nguyễn đưa dân vào khai khẩn sinh sống ở vùng đất hoang vu, sình lầy ở Đồng Nai, Biên Hoà, lập dinh điền ở Bà Rịa, lập sở thu quan thuế ở khoảng Chợ Lớn, Bến Nghé hiện nay. Năm Mậu Tuất (1658), vua Chân Lạp cam kết với chúa Nguyễn giúp đỡ người Việt đang sinh sống ở Đồng Nai, Bà Rịa. Từ đây, lưu dân người Việt đến ở chung với người Cao Miên để khai khẩn ruộng đất, chung tay xây dựng quê hương mới. Đến những năm Kỷ Tỵ (1689), Canh Ngọ (1690), miền đất phía bắc sông Tiền đã được cư dân cũ và mới ra sức khai khẩn, biến những vùng chằm phá, rừng rú hoang vu, rậm rạp thành đất canh tác nông nghiệp.


Năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược vùng đất đồng bằng sông Cửu Long, đặt huyện Phúc Long (Đồng Nai), dựng dinh Trấn Biên (Biên Hoà), dinh Phiên Trấn (Gia Định). Người Việt được chiêu mộ thêm đến vùng đất mới an cư, lập nghiệp. Sau năm Kỷ Mão (1699), vùng đất từ phía bắc sông Tiền liền một dải với đất xứ Đàng Trong chính thức được ghi vào bản đồ xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn - một phần lãnh thổ của quốc gia Đại Việt. Quá trình “Nam tiến” được tiến hành bền bỉ và hợp lý. Tính đến năm Đinh Sửu (1757), chúa Nguyễn đã khéo léo kết hợp các biện pháp đối ngoại quân sự và kinh tế - xã hội để thâu nhập vào lãnh thổ xứ Đàng Trong toàn bộ dải đất từ châu Nam Bố Chính (Quảng Bình) tới vùng biển đảo phía Tây Nam.


Vùng đất Nam Bộ ngày nay, ở vào thế kỷ XVI - XVII còn là một vùng đất mới, rộng mênh mông mà dân cư lại vô cùng thưa thớt, về danh nghĩa, khu vực này thuộc quyền kiểm soát của Chân Lạp, nhưng trong thực tế ngay cả trong những thời kỳ hưng thịnh, Chân Lạp cũng chưa từng xác lập được quyền cai quản thật sự, chặt chẽ và trực tiếp của mình. Cũng bắt đầu từ đầu thế kỷ XVII, những nhóm di dân tiên phong của người Việt đã đến vùng đất Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hoà) khai khẩn đất hoang, lập ra những làng Việt đầu tiên trên đất Nam Bộ.


Năm Canh Thân (1620), chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cả của mình là công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp là Chey Chettha II làm Hoàng hậu. Dưới sự bảo trợ của bà Hoàng hậu người Việt của Vương triều Chey Chettha II và chính sách đối ngoại quân sự của chính quyền chúa Nguyễn, cư dân Việt từ vùng Thuận Hóa - Quảng Nam vào làm ăn, sinh sống ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm. Đây là cơ sở thuận lợi cho chúa Nguyễn dần dần hợp pháp hoá quyền kiểm soát của mình đối với vùng đất đã được người Việt khai khẩn.


Năm Quý Hợi (1623), chúa Nguyễn đã cho lập thương điếm ở Prey Kôr (khu vực chợ Cầu Kho thuộc quận I Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thuế. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng của người Việt trên con đường chính thức hoá công cuộc khai phá vùng đất phương Nam, tiến thêm một bước quan trọng trong việc khẳng định vai trò, vị thế ở khu vực phía Nam.


Đối với các vùng đất người Việt đã khai khẩn được và những khu vực lãnh thổ nhạy cảm ở biên giới, bên cạnh chính sách ngoại giao tích cực để phát triển vùng đất khẩn hoang, các chúa Nguyễn có thái độ rất kiên quyết đối với những hành động quân sự xâm phạm lãnh thổ. Năm Mậu Tuất (1658), vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân tiến quân đến vùng đất Mô Xoài, chúa Nguyễn Phúc Tần coi đó là hành động “xâm phạm biên cảnh” và sai quân đến Mô Xoài bắt giữ lại1 (Xem Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.III, tr. 91). Tuy nhiên, ngay sau đó, Nguyễn Phúc Tần lại đưa Nặc Ông Chân trở lại làm vua nước Chân Lạp với mục đích thắt chặt mối quan hệ ràng buộc, triều công và biến vua Chân Lạp trở thành phiên thần phụ thuộc, có trách nhiệm phải bảo vệ những cư dân Việt sang làm ăn, sinh sống ở khu vực Đồng Nai, Gia Định...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #57 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2021, 12:49:31 pm »

Trong bối cảnh quan hệ trong khu vực đang có những tiến triển khá thuận lợi cho chúa Nguyễn như vậy, thì ở Trung Quốc, nhân việc nhà Thanh thay thế nhà Minh, một số quan lại và quân lính trung thành với triều đình nhà Minh không chấp nhận sự thống trị của nhà Thanh đã vượt biển sang Đàng Trong tìm đất sinh sống. Họ góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ. Sách Đại Nam thực lục chép: Kỷ Mùi, năm thứ 31 (1679), mùa xuân, tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn Tổng binh Dương Ngạn Địch và Phó tướng Hoàng Tiến cùng với Tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm Trần Thượng Xuyên và Phó tướng Trần An Bình đem hơn 3.000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bô thần nhà Minh, quyết không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến quy hàng xin làm tôi tớ. Biết rõ phong tục, tiếng nói của họ đều khác, khó bề sai dung, nhưng xét thấy họ bị thế cùng bức bách mới tìm đến đây nên chúa Nguyễn quyết định dung nạp và phán xử rằng: Nay đất Đông Phố (tên cổ của Gia Định), nước Chân Lạp đồng ruộng phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý, chi bằng nhân lấy sức của họ cho đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều. Theo đó, chúa bèn sai đặt yến tiệc uý lạo, trao cho quan chức khiến đến khai khẩn đất Đông Phố. Nhưng đồng thời, chúa Nguyễn cũng không quên Cáo dụ nước Chân Lạp rằng làm như thế là có ý không để nước Chân Lạp ra ngoài. Sau khi đến cửa khuyết tạ ơn, binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp (nay thuộc đất Gia Định), đến đóng ở Bàn Lân (nay thuộc Biên Hoà). Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Chà Và đi lại tấp nập...1 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr.72).


Sách Đại Nam nhất thống chí xác nhận ở khu vực Biên Hoà vào năm Kỷ Mùi (1679) có “bọn trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm nước Minh cũ xin phụ thuộc, lấy đất Giản Phố cho họ ở, bọn họ mở đất, lập phô, đất ấy ngày một đông đúc, có phong tục như Trung Hoa”1 (Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.V, tr. 535). Cũng tương tự như vậy, ở khu vực Định Tường, “bọn Dương Ngạn Địch là tướng Long Môn nhà Minh lấy tư cách là bầy tôi nhà Minh xin quy phụ, cho họ ở địa phương Mỹ Tho, dựng nhà cửa, họp người Kinh, người Di, kết thành làng xóm. Sau đó dựng 9 trường biệt nạp là Quy An, Quy Hoá, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lạch, Bả Cạnh, Tân Thinh cho dân lập ấp khai khẩn ruộng đất cày cấy; lại lập thành trang, trại, man, nậu, nhân dân đều theo nghề nghiệp của mình làm ăn để nộp thuế"2 (Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.V, tr. 84-85). Như vậy, các chúa Nguyễn đã khéo léo sử dụng lực lượng lưu vong của triều Minh làm trung gian trong các quan hệ với Chân Lạp, để biến vùng Gia Định, Biên Hoà và Mỹ Tho dần dần trở thành những trung tâm kinh tế sầm uất dưới quyền cai quản của chúa Nguyễn. Cùng thời gian này, Mạc Cửu là người xã Lôi Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), cũng vì việc nhà Minh mất mà “để tóc chạy sang phương Nam, đến nước Chân Lạp làm chức ố Nha, thấy phủ Sài Mạt ở nước ấy có nhiều người buôn các nước tụ họp, bèn mở sòng gá bạc để thu thuế gọi là hoa chi, lại được hố bạc chôn nên thành giàu. Nhân chiêu tập dân xiêu dạt đến các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Giá Khê, Lũng Kỳ, Hương Úc, Cà Mau (thuộc tỉnh Hà Tiên) lập thành 7 xã thôn”3 (Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.V, tr. 22). Mạc Cửu đã biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên - Long Xuyên - Bạc Liêu - Cà Mau (gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực cát cứ của dòng họ mình, hoàn toàn độc lập, không còn lệ thuộc vào chính quyền Chân Lạp nữa.


Trước tình hình phát triển hết sức nhanh chóng của khu vực Gia Định dưới sự tổ chức và quản lý của chính quyền chúa Nguyễn, Mạc Cửu càng ngày càng nhận thấy muốn phát triển lực lượng trên vùng đất này, họ không thể không dựa vào chính quyền chúa Nguyễn, không thể không đem toàn bộ vùng đất họ đang cai quản về với chúa Nguyễn. Tháng 4 năm Tân Mão (1711), Mạc Cửu đem vùng đất Hà Tiên về quy phục chúa Nguyễn, được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Việc Mạc Cửu quyết định đem vùng đất Hà Tiên về dâng cho chúa Nguyễn thực sự là bằng cứ xác nhận đến đầu thế kỷ XVIII lãnh thổ Đàng Trong dưới quyền kiểm soát của chúa Nguyễn đã kéo dài đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau.


Năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai. Tại đây, ông tiến hành “chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (Biên Hoà), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (Gia Định), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thuỷ bộ tinh binh và thuộc binh... Thiết lập xã, thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệnh thuế tô dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập làm xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn, lập làm xã Minh Hương. Từ đó, người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ (của ta)”1 (Đại Nam thực lục, Sđd, t.I, tr. 111). Lúc này, Chân Lạp chỉ còn tồn tại là một lực lượng yếu ớt và nội bộ mâu thuẫn, chia rẽ. Có thế lực muốn dựa hẳn vào chúa Nguyễn và trái lại có thế lực lại muốn chạy theo vua Xiêm. Các lực lượng đối địch luôn tìm mọi cơ hội thuận lợi để thôn tính, tiêu diệt lẫn nhau. Với việc chúa Nguyễn tiếp tục dùng các biện pháp đối ngoại quân sự khôn khéo và hài hoà, đặc biệt trong việc giúp Nặc Tôn lên ngôi vua Chân Lạp, những phần đất còn lại ở miền tây Nam Bộ dần dần được chính vua Chân Lạp dâng cho chúa Nguyễn. Đến đây, toàn bộ vùng đất Nam Bộ cả trên danh nghĩa và thực tế đã thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn.


Với tư tưởng đối ngoại quân sự hợp lý, lúc cương lúc nhu với chính quyền Chân Lạp, các chúa Nguyễn đã thành công trong việc giữ yên biên giới phía Nam đất nước, đồng thời chính thức sáp nhập hẳn toàn bộ vùng đất Nam Bộ vào lãnh thổ Đàng Trong. Trên các vùng biên viễn, chính quyền Đàng Trong đã tổ chức các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền đến tận các thôn xã, thực thi quyền lực nhà nước trong việc quản lý đất đai, hộ khẩu, trưng thu các nguồn lợi tự nhiên và thu thuế qua việc trao đổi vối thương nhân nước ngoài. Sài Gòn - Gia Định dần dần trở thành trung tâm hành chính - chính trị, trung tâm kinh tế và văn hoá của cả vùng đất Nam Bộ.


Như vậy, trong suốt thời kỳ 1527-1771, những mâu thuẫn chính trị, xã hội có xu hướng dẫn đến việc giải quyết bằng các hoạt động quân sự. Đây cũng là điểm nổi bật trong biên niên sử thời kỳ này. Chiến tranh luôn cận kề và trở thành mối quan tâm, cũng là niềm quan ngại của mọi giai tầng xã hội.


Cả hai vương triều Lê Trung hưng và Mạc được dựng nên trong một bối cảnh xã hội cực kỳ phức tạp và đầy những biến động. Tình trạng hỗn loạn từ những thập kỷ trước vẫn còn để lại di họa cho cả Nam và Bắc triều. Mục tiêu chủ yếu của cả hai phía là tìm mọi biện pháp để triệt hạ lẫn nhau. Cho nên, công việc quan trọng đầu tiên, kể cả triều Mạc và triều Lê Trung hưng đều phải làm là xây dựng và củng cố lực lượng quân sự vững mạnh. Ngay sau khi tạo dựng vương triều Mạc - Bắc triều, Mạc Đăng Dung đã cho xây dựng Dương Kinh ở Hải Dương làm thế “ỷ dốc” cho Thăng Long và coi đây là căn cứ dự phòng cho triều đình khi có biến; đồng thời nhanh chóng cải tổ lại quân đội, tăng thêm quân số, chia đặt lại các vệ ty. Lực lượng quân sự của Bắc triều tương đối đông đảo, có lúc lên đến 12 vạn người, được tổ chức chặt chẽ và dùng chính sách kinh tế (chủ yếu là ruộng đất) và phong thưởng chức tước để khuyên khích ưu đãi binh lính. Bắc triều cũng thường xuyên tuyển mộ thêm binh lính để bổ sung cho quân số bị thương vong trong cuộc chiến với Nam triều. Nam triều tuy địa bàn cát cứ hẹp hơn, nhưng quân đội cũng có khoảng 6 vạn người.


Trong cuộc Trịnh - Nguyễn phân tranh, cả hai bên đều huy động lực lượng lớn. Ngay từ lần tấn công đầu tiên, chúa Trịnh cũng đã huy động đến 20 vạn quân thủy bộ (trong đó có 12 vạn bộ binh), 500 voi, 600 chiến thuyền lớn và 500 thuyền tải lương thực. Ngoài ra, thường trực có khoảng 6 vạn quân đóng giữ biên giới phía Nam. Năm Giáp Dần (1674), binh lực của họ Nguyễn có khoảng 133 chiến thuyền và 4 vạn bộ binh. Cuộc tranh chấp Trịnh - Nguyễn đã gây ra rất nhiều tổn thất, đau thương cho nhân dân cả hai miền đất nước. Nó đã thu hút biết bao sức người sức của, tàn phá biết bao làng mạc, đồng ruộng, đã giết hại biết bao người dân vô tội.


Hơn 200 năm với hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, các bên tham chiến đã huy động hàng chục vạn quân, chủ yếu là những trai tráng khoẻ mạnh vốn là lực lượng lao động chính của xã hội. Chiến tranh đã huy động đến mức tối đa nhân tài, vật lực của đất nước, sản xuất nông nghiệp bị ngưng trệ do thiếu lực lượng lao động chủ yếu và sức tàn phá của chiến tranh. Mặt khác, cuộc nội chiến đã đem lại cho nhân dân lao động bao cảnh tang tóc, chia lìa. Chiến tranh lan vào từng ngôi nhà, ngõ xóm.


Tổng hợp tất cả những yếu tố từ bối cảnh chính trị, thực trạng kinh tế xã hội, chuyển biến trong văn hoá tư tưởng của đất nước và cả sự du nhập vũ khí kỹ thuật quân sự phương Tây thực sự là những điều kiện trực tiếp nung nấu, thúc đẩy, nuôi dưỡng và trải nghiệm của tư tưởng quân sự Việt Nam từ năm 1527 đến năm 1771.


Nhìn toàn bộ lịch sử Việt Nam từ năm 1527 đến năm 1771, với các sự kiện trải dài từ Bắc vào Nam, dưới các chính quyền Bắc triều, Nam triều, Lê - Trịnh và chúa Nguyễn, có thể nhận thấy tồn tại song song và liên tiếp các hệ tư tưởng quân sự; đó là: tư tưởng quân sự triều Mạc (Bắc triều), tư tưởng quân sự Lê - Trịnh (Nam triều và Đàng Ngoài), tư tưởng quân sự họ Nguyễn (Đàng Trong). Các hệ tư tưởng quân sự này tuy có những dị biệt nhất định, song về cơ bản là tương đồng với nhau, cụ thể là: Tư tưởng xây dựng lực lượng quân đội mạnh làm công cụ để tranh giành quyền lực, làm chỗ dựa cho sự tồn tại của các thế lực phong kiến; tư tưởng xây dựng và sử dụng thành lũy trong chiến đấu (phòng thủ) bảo vệ vùng lãnh thổ cát cứ; tư tưởng đối ngoại quân sự lúc mềm dẻo, lúc cứng rắn để giữ vững biên cương và mở rộng cương giới. Đây cũng chính là sự kế thừa những quan điểm tư tưởng quân sự của những triều đại phong kiến trước đó trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta; mà trong đó, xây dựng và sử dụng thành lũy phục vụ tác chiến phòng thủ, phòng ngự là một quan điểm tư tưởng quân sự nổi bật nhất của thời kỳ lịch sử này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #58 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2021, 11:51:58 am »

Chương III
TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ TỪ NĂM 1771 ĐẾN NĂM 1802


I- KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CỦA VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN


1. Sự ra đời của vương triều Tây Sơn

a) Nỗi thống khổ đến tận cùng của quần chúng nhân dân trước cảnh Trịnh - Nguyễn phân tranh

Bước sang thế kỷ XVII, chiến tranh cát cứ - nội chiến Trịnh - Nguyễn đã “nạo vét” đến tận cùng mồ hôi, công sức cũng như xương máu của người nông dân lao động trên khắp cả Đàng Trong và Đàng Ngoài; trong đó, hiểm họa trầm trọng nhất, trước nhất của chế độ cát cứ đè nặng lên thân phận người nông dân lúc đó là nạn bắt lính.


Thực tế lịch sử đã phản ánh đất nước ta đã từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược, trong đó có những lúc “toàn dân đều là lính” và những bài ca tôn vinh người lính, bài ca ra trận hùng tráng tràn ngập khí thế chiến thắng nối tiếp nhau xuất hiện. Nhưng trái lại, trong suốt thời Trịnh - Nguyễn phân tranh không những không có một bài ca nào xuất hiện, mà thay vào đó là những ca khúc oán thán, phản đối chiến tranh, tố cáo nỗi thống khổ của dân tộc, nỗi ai oán của những người chinh phụ nơi thôn quê dân dã về số phận chồng con họ bị đầy đọa bởi chế độ “Lính vua, lính chúa, lính làng” tàn bạo của triều đình vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Nhưng không phải chỉ có người lính trực tiếp cầm súng phải chịu kiếp đầy đọa, mà liên quan máu thịt vói họ là những người vợ, người mẹ đang sống tại các miền thôn quê. Đó là, khi chồng và con đi lính, người phụ nữ phải “gánh cơm gạo theo ra trận” - tức là mỗi gia đình nông dân đều phải “tự lực gồng gánh” lấy cuộc chiến tranh cho vua chúa. Chính những ca dao đồng quê như “Cái cò lặn lội bờ sông/Gánh gạo đưa chồng nước mắt nỉ non”... đã phản ánh một cách trung thực hiện tượng lịch sử bi thương, phổ biến này ở hầu khắp các làng xã Đàng Ngoài lúc bấy giờ.


Chế độ bắt lính để phát triển quân đội gắn liền với tiến hành chiến tranh đã “ngốn” gần như cạn kiệt nhân lực, vật lực của xã hội, nhưng bên cạnh đó còn một số lượng không nhỏ vật chất, tiền của phục vụ cho nhu cầu hưởng lạc của triều đình vua Lê, phủ chúa Trịnh cũng dồn cả lên đầu người nông dân; trong khi đó, hầu như lực lượng lao động chủ yếu - những người đàn ông, thanh niên trai tráng đều đã bị bắt lính, thử hỏi nông sản, lương thực sản xuất ra được hằng năm có đáng là bao. Chỉ như vậy cũng đủ thấy đời sống của người nông dân đói khát đến mức độ nào. Đó là chưa kể đến nạn đói trầm kha của Đàng Ngoài, khi mà đồng bằng châu thổ sông Hồng đã bị kiệt quệ từ thế kỷ trước trong cuộc nội chiến giữa triều Lê - Trịnh với triều Mạc.


Mặc dù vậy, so với Đàng Ngoài thì tình thế ở Đàng Trong còn nghiêm trọng, thê thảm hơn nhiều. Thích Đại Sán là một người nước ngoài đến sống tại Phú Xuân đã ghi lại chế độ bắt lính dưới thời cai trị của chúa Minh Vương như sau: “Trong nước (Đàng Trong), trăm thứ thợ đều do quân làm. Mỗi năm vào khoảng tháng ba, tháng tư, quân nhân đi ra các làng bắt dân từ 16 tuổi trở lên, những người thân thể cường tráng, đóng gông lại bằng một cái gông tre, giống như cái thang nhưng hẹp hơn để giải về phủ sung quân. Vào quân đội rồi, mỗi người chuyên học một nghề, kế phân phái đi theo các chiến thuyền để luyện tập. Có chiến tranh đem ra đánh giặc, lúc vô sự ở theo vương phủ làm xâu, tuổi chưa được sáu mươi chưa được về làng cùng cha mẹ, vợ con đoàn tụ; hằng năm thân thích đem quần áo, vật thực đến thăm mà thôi”1 (Thích Đại Sán: Hải ngoại kỷ sự, bản dịch Viện Đại học Huế, Huế, 1963, tr. 43). Trong suốt thời gian Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhất là những năm tháng tiến hành chiến tranh giành giật lãnh thổ, nạn thiếu lính là một trong những nguy cơ thường xuyên đe dọa đến sự tồn vong của các triều đại chúa Nguyễn, bởi gánh nặng xương máu phải dồn lên mảnh đất hậu phương đã bị “khai thác” đến cùng kiệt cả về nhân lực và vật lực. Chỉ như vậy cũng đủ để thấu hiểu rằng những thế hệ trai tráng của đất Đàng Trong (nhất là ở Thuận Hóa - Quảng Nam) đã bị săn lùng, truy đuổi một cách thảm khốc như thế nào bởi chính sách bắt lính, xây dựng quân đội của tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn.


Với chế độ bắt lính và thời gian phục vụ trong quân ngũ gần như hết đời của người lính (từ 16 đến 60 tuổi), vả lại đây là việc làm trường cửu, nên một hậu quả tất yếu hiển nhiên là nạn đói cũng trở thành căn bệnh kinh niên ở khắp miền xuôi cũng như miền ngược xứ Đàng Trong; bởi, lực lượng sản xuất trong mỗi một gia đình, gồm cả những lao động chính và cả những lao động phụ đều lần lượt bị trưng dụng một cách triệt để cho guồng máy chiến tranh, đó là chưa kể đến sự vơ vét đến tận cùng những sản phẩm nông nghiệp số lượng rất khiêm tốn do người dân làm ra để cung cấp cho quân đội và nhu cầu của phủ chúa. Theo bước chân đoàn quân viễn chinh của chúa Trịnh tiến vào Đàng Trong, Lê Quý Đôn đã phải chứng kiến hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về lối sống xa hoa, trụy lạc của địa chủ, quan lại, quý tộc ở đô thị. Ngược lại, cũng ở chính những nơi đó, những người nông dân đã phải chịu một cuộc sống bần hàn nhất trong suốt quá trình lịch sử khai hoang mở cõi - Lê Quý Đôn viết: Trong cõi hạn và đói, dân xiêu giạt và chết đói rất nhiều... Thuận Hoá luôn mấy năm mất mùa đói kém, lại phải đánh trận bắt lính không thôi, quân dân lìa lòng sùng sục mong làm loạn... Hình ảnh người dân nông thôn no ấm, tràn trề sức sống thuở nào vốn đã làm dấy lên niềm tự hào về quê hương, bản quán thì đến bây giò đã tan tành trong mây khói chiến tranh cát cứ Trịnh - Nguyễn.


Khái quát bức tranh ảm đạm, kiệt sức ở Thuận Hóa - Quảng Nam do nạn vét lính của chúa Nguyễn, Thích Đại Sán viết: “Dân làng toàn lão nhược. Trai tráng ra tòng quân. Nhà hư sợ mưa dột. Cây héo mặc sương nhuần. Nỗi khổ nơi làng mạc. Ai tâu lên chín từng"1 (Hải ngoại kỷ sự, Sđd, tr. 67). Như vậy, nạn đói không phải chỉ do thiên tai đột biến hoặc do thiếu đất đai cấy trồng, mà cũng chính là do nạn bắt lính và chiến tranh cát cứ của các tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Theo cách nói của Hoàng Phủ Ngọc Tường, thì “nạn vét lính và nạn đói là cặp quái thai sinh ra từ chiến tranh cát cứ, và như một thứ nghiệp chướng, nó luôn luôn trút xuống số phận người nông dân, đòi này qua đời khác”2 (Hoàng Phủ Ngọc Tường: Nguyễn Huệ và khát vọng thống nhất đất nước ở thế kỷ XVIII, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đất Phú Xuân với anh hùng Nguyễn Huệ", Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1986, tr. 24).


Cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn đã đẩy những người lính cùng dòng giống, màu da vào tình thế trực tiếp hành xử nhau bằng gươm, đao, súng đạn triền miên suốt hàng chục năm ròng, mà mục đích chỉ là nhằm “phá vỡ sự nguyên vẹn của Tổ quốc, tạo nên những lãnh địa - quốc gia mới” theo manh tâm của những tập đoàn phong kiến. Cái giá phải trả cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn này như khái quát của Nguyễn Bỉnh Khiêm là “Núi xương, sông huyết, thảm đầy vơi”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #59 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2021, 11:54:53 am »

Song cùng với chiến tranh cát cứ, tình trạng chiếm đoạt ruộng đất, thuế khoá nặng nề và nạn ăn chơi sa đọa của hệ thống quan lại từ trung ương đến địa phương cũng là nguyên nhân gây thảm họa khốn cùng cho nhân dân.


Ở Đàng Ngoài, sự chiếm đoạt và tập trung ruộng đất vào tay giai cấp địa chủ diễn ra công khai, phổ biến và hết sức nghiêm trọng, dưới nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau. Trước hết là những quan lại, cường hào ở các địa phương chấp chiếm ruộng đất tư của nông dân, đẩy hàng loạt nông dân tự canh vào tình trạng "trắng tay", phá sản. Đối với ruộng đất công thuộc sở hữu làng xã, một mặt hằng ngày bị quan lại "gặm nhấm", mặt khác bị triều đình ban cấp cho quan lại và quân lính "có công với chúa", nên người nông dân còn đâu ruộng đất mà cấy trồng. Năm Kỷ Mùi (1739), chính chúa Trịnh phải thừa nhận: Ruộng đất công vì đem phân cấp cho quân lính nên nông dân không còn có đất để cày. Không chỉ ở đồng bằng, mà ở cả vùng cao nguyên - nơi an cư của đồng bào các dân tộc thiểu số (mặc dù ở đây vấn đề sở hữu ruộng đất có những đặc điểm rất riêng), điển hình như Lạng Sơn, các quan lại, địa chủ đã câu kết với nhau lập các văn khế giả để chiếm ruộng đất của dân (chủ yếu là phần ruộng đất màu mỡ, thuận tiện canh tác).


Đồng thời với việc cướp đất, triều đình nhà Trịnh cũng tăng cường các biện pháp phụ thu, lạm bổ vơ vét tiền bạc của dân để xây dựng các cung điện, đền đài nhằm thỏa mãn cho nhục dục ăn chơi xa xỉ của chúng. Tiêu biểu như năm Giáp Ngọ (1714), chúa Trịnh Cương bắt dân ba huyện Gia Bình, Lang Tài, Quế Dương tu bổ chùa Phúc Long (Bắc Ninh); năm Đinh Mùi (1727), triển khai xây dựng hành cung ở Cổ Bi - phủ Kim Thành (thuộc Gia Lâm, Hà Nội); đồng thời, xây dựng rất nhiều cung điện, đền đài ở các vùng khác nhau phục vụ cho những cuộc tuần du, săn bắn thường xuyên vô cùng tốn kém. Sang đời Trịnh Giang, các công trình xây dựng vẫn được tiếp nối với quy mô và tiền của, công sức tập trung vô hạn độ. Năm Canh Tuất (1730), Trịnh Giang quyết định phá phủ Cổ Bi, lấy vật liệu sửa các chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm; đồng thời, bắt hàng vạn người thuộc ba huyện Đông Triều, Chí Linh, Thủy Đường đào sông để chuyển gỗ, xây đường chở gạch ngói phục vụ công trường.


Việc bổ nhiệm các quan lại vào bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương đều được thực hiện qua việc mua quan, bán tước một cách công khai. Trong khoảng thời gian từ năm Bính Thìn (1736) đến năm Canh Thân (1740), Trịnh Giang đã bốn lần ra quy định thể lệ bán quan tước, cho phép quan lại được nộp tiền để được thăng chức, nhà giàu nộp tiền để được bổ làm quan. Năm Canh Ngọ (1750), triều đình lại đưa ra phép đặt "tiền thông kinh" - ai đặt 3 quan tiền thì được miễn khảo hạch và coi như trúng sinh đồ. Từ đó, dân chúng gọi loại sinh đồ này là "sinh đồ ba quan". Đối với trường thi, việc gian dối, mua bán cũng diễn ra công khai, phổ biến và trở thành một phương thức kinh doanh làm giàu. Tham ô, hối lộ không còn là hành động nén lút, tội lỗi mà được nhà nước thừa nhận.


Tất cả những công trình xây dựng tốn kém, cộng với đời sống xa hoa, trụy lạc của vua chúa, quan lại cùng với việc xây dựng tràn lan những công trình đền đài, chùa chiền - tựu trung lại đều đổ lên đầu người nông dân phải gánh chịu. Đó là, triều đình phải liên tục tăng mức thuế cũ và đặt ra những khoản thuế mới. Năm Tân Hợi (1731), Trịnh Giang đánh thuế vào cả khách hộ và hạng tạp lưu. Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh tăng thêm thuế ruộng mỗi mẫu hai tiền. Bên cạnh thuế điệu thi hành từ năm Canh Tý (1720), triều đình đặt ra khoản thu "tiền hộ phân" bổ theo từng hộ và các thứ thuế công thương nghiệp cũng không ngừng tăng thêm. Thuế nhiều đến mức người nông dân suốt năm bòn vét, chắt chiu, góp nhặt cũng không thể nộp đủ và tình trạng nợ thuế năm này dồn sang năm khác trở thành phổ biến, chồng chất lên các gia đình nông dân.


Tình trạng cướp đất, thuế khoá nặng nề không những đã uy hiếp đời sống của người nông dân mà còn gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp và công thương nghiệp. Nông dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội bị phá sản, phải lưu vong. Kinh tế tiểu nông - tế bào chủ yếu của nền kinh tế nông nghiệp bị phá hoại. Đê điều và các công trình thủy lợi không được tu bổ, củng cố; đồng ruộng bị bỏ hoang hoá ngày càng nhiều. Còn đối với tiểu thủ công nghiệp, thì như trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà sử học Phan Huy Chú ghi rõ: Vì sự trưng thu quá mức, vật lực kiệt không thể nộp nổi đến nỗi người ta thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp.


Có người vì thuế sơn sông mà phải chặt cây sơn; có người vì thuế vải lụa mà phải phá khung cửi. Cũng có kẻ vì phải nộp gỗ cây mà bỏ rìu búa, vì phải nộp thuế bắt cá tôm mà phải xé lưới chài, vì phải nộp mật mía mà không trồng mía nữa, vì phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược. Làng xóm náo động. Hậu quả là, nạn đói kém diễn ra triền miên và thường xuyên. Trong Việt sử thông giám cương mục ghi rằng: Dân bỏ cả cày cấy. Thóc lúa dành dụm trong xóm làng đều hết sạch, duy có Sơn Nam hơi khá. Dân lưu vong bồng bế, dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường, giá gạo tăng vọt, 100 đồng tiền không đổi được một bữa ăn. Dân phần nhiều sống nhờ rau cỏ, đến ăn cả chuột rắn. Người chết đói ngổn ngang, người sống sót không còn 1 phần 10. Làng nào có tiếng là trù mật cũng chỉ còn lại năm ba hộ mà thôi1 (Xem Việt sử thông giám cương mục, t.XVIII, tr. 1756).


Đối với số người may mắn sống sót qua nạn đói phần lớn lại lâm vào tình trạng phá sản, rời bỏ xóm làng và đồng ruộng phiêu bạt đi kiếm ăn khắp nơi, tạo ra tầng lớp dân lưu vong với số lượng ngày càng đông đảo. Theo bản điều trần của Ngô Thời Sỹ gửi chúa Trịnh, thì nửa sau thế kỷ XVIII: 4 trấn ở đồng bằng Bắc Bộ với 9.668 xã thôn, thì có đến 1.076 thôn xã phiêu bạt. Trấn Thanh Hoá có 1.393 xã thôn thì phiêu tán mất 297 xã thôn. Trấn Nghệ An có 706 thôn, xã thì phiêu tán mất 115 thôn, xã.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM