Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:41:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 2  (Đọc 18397 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 10:57:42 am »

Để tạo được sức mạnh tổng hợp, bảo đảm tác chiến trong mọi điều kiện địa hình, môi trường và nhất là tạo ra những thành phần lực lượng ưu thế hơn đối phương, nên bên cạnh việc phát triển bộ binh, Nguyễn Huệ cũng đặc biệt quan tâm phát triển các thành phần lực lượng khác như tượng binh, kỵ binh, đại bác thần cơ (pháo binh) và thủy binh.


Đối với bộ binh - lực lượng tác chiến chủ yếu của quân đội Tây Sơn, bên cạnh vũ khí thô sơ (giáo, mác, cung, nỏ...) chiếm đa số, Nguyễn Huệ dần trang bị hoả hổ và một số đại bác dã chiến, đồng thời một bộ phận tượng binh và kỵ binh cũng được đưa vào trong biên chế của đội hình bộ binh. Nhờ vậy mà khả năng đột kích của bộ binh trong chiến đấu tiến công đã được tăng lên rõ rệt. Nếu so sánh với bộ binh của quân đội Trịnh ở Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng Trong, không kể số lượng thì bộ binh của quân đội Tây Sơn luôn chiếm ưu thế hơn hẳn về khả năng cơ động, hỏa lực và sức đột phá tiến công. Còn với bộ binh của quân đội Mãn Thanh do không có tượng binh, nên sức mạnh đột kích cũng hạn chế hơn so với bộ binh quân đội Tây Sơn. Chỉ như vậy cũng thấy rằng, xây dựng quân đội với nhiều thành phần lực lượng (binh chủng) dựa trên thế mạnh đặc trưng của từng thành phần để tạo ra sức mạnh ưu thế đảm bảo chiến thắng quân thù là một trong những điểm cốt lõi trong tư tưởng xây dựng quân đội của triều Tây Sơn - Nguyễn Huệ.


Về tượng binh, trong quân đội Tây Sơn có khoảng vài trăm thớt voi chiến. Khi trực tiếp tham gia chiến đấu, trên lưng mỗi tượng binh đều bố trí hoặc hoả hổ, hoặc đại bác thần cơ. Với uy thế của tầm vóc hình thể và những loại hoả lực ưu thế mang trên lưng, voi chiến thực sự là “phương tiện” đột kích đặc biệt hữu hiệu. Khi hành quân tác chiến, voi là phương tiện cơ động, chuyên chở lực lượng, vũ khí và trang bị nặng. Chỉ như vậy, tượng binh thực sự là một thành phần đặc trưng, một chất lượng mới vượt trội về sức mạnh đột kích đảm bảo thắng lợi trong tác chiến mà quân đội nói chung, bộ binh nói riêng của nhà Trịnh, nhà Nguyễn và nhất là đối với quân đội nhà Thanh không có được, về số lượng, tượng binh của quân đội Tây Sơn trưởng thành nhanh chóng cùng với quá trình chiến thắng trong công cuộc đánh dẹp các tập đoàn phong kiến phản động trong nước. Đó là, ngay từ những năm đầu, khi tiến đánh Quy Nhơn, Đà Năng và Phú Yên, quân Tây Sơn đã thu được gần 100 voi chiến từ quân Nguyễn. Còn đối với quân đội chúa Trịnh, thời kỳ này có khoảng 500 voi chiến. Theo sách Thánh vũ ký, sau khi tiến ra tiêu diệt quân Trịnh, giải phóng Thăng Long, quân Tây Sơn - Nguyễn Huệ đã tịch thu và mang phần lớn số voi chiến vào Quy Nhơn, chỉ để lại Bắc Hà 50 thớt. Tuy đến nay, số lượng tượng binh cụ thể của quân Tây Sơn là bao nhiêu vẫn chưa xác định được, nhưng điều chắc chắn là lúc cao nhất phải tới 500 thớt.


Đại bác thần cơ (pháo binh) của quân đội Tây Sơn cũng có bước tiến dài so với quân đội của các triều đại trước đó, cũng như so với quân đội họ Nguyễn ở Đàng Trong và họ Trịnh ở Đàng Ngoài cùng thời gian này.


Ngoài số lượng đại bác các cỡ chiếm ưu thế vượt trội, tính năng và sức công phá của đạn đại bác Tây Sơn hoàn toàn không thua kém so với các nước khác, thậm chí cả Tây Âu. Đại bác của Tây Sơn thường được cơ động bằng thuyền lớn hoặc đặt lên lưng tượng binh. Đây không chỉ là yếu tố làm tăng khả năng cơ động, mà còn góp phần quan trọng đối với việc “chớp” thời cơ cũng như tạo ra thời cơ trong chiến đấu.


Với kỵ binh, tuy số lượng không được phát triển mạnh và chưa thực sự đóng những vai trò quan trọng như bộ binh, tượng binh và đại bác thần cơ; nhưng, do được huấn luyện công phu và từng trực tiếp tham chiến, lập công và tích lũy được ít nhiều kinh nghiệm trong thực tế, nên trong những trận chiến đấu cụ thể, những tình huống cụ thể, kỵ binh có khả năng phối hợp tác chiến cùng các thành phần lực lượng khác, hoặc độc lập đảm nhiệm mũi thọc sâu đánh vào tung thâm đội hình, căn cứ địch, nhanh chóng đánh phá đại bản doanh, tiêu diệt cơ quan chỉ huy quân địch.


Thủy binh - một thành phần lực lượng của quân Tây Sơn được xây dựng từ rất sớm, kế thừa nhiều kinh nghiệm trong lịch sử dân tộc. Đây là sự đáp ứng đòi hỏi khách quan, cấp thiết xuất phát từ thực tế điều kiện tự nhiên nước ta: biển bao dọc phía Đông chiều dài đất nước, sông suối, kênh rạch chằng chịt. Nhận thức tường tận được vấn đề cốt yếu này, Nguyễn Huệ và Bộ Thống soái Tây Sơn đã dồn tâm sức quyết xây dựng cho được một lực lượng thủy binh hùng mạnh. Ngay từ những năm trước khi tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Thanh, thủy binh Tây Sơn đã hình thành được các đội thuyền tác chiến trên sông và đội thuyền tác chiến trên biển, vận tải chuyên trách và đội thuyền phục vụ cho tác chiến trên bộ và Đại bác bờ biển. Trong thủy binh, đội thuyền tác chiến trên biển là bộ phận chủ lực, có số lượng lớn và sức tiến công không thua kém so với các đội thuyền chiến của nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới. Vào thời điểm này, ở châu Âu đã phát minh ra động cơ máy hơi nước và mang thử nghiệm trong các đội thuyền chiến. Dù vậy, cả đối với những cường quốc thủy quân như Pháp, Anh..., thuyền chiến vẫn sử dụng buồm là phổ biến. Thuyền chiến của Tây Sơn có kích thước lớn, chạy bằng buồm. Chính viên sĩ quan quân đội Pháp tên là Senhô đã thừa nhận: Trước khi tận mắt nhìn thấy thủy quân của địch (Tây Sơn), tôi có ý khinh thường, nhưng xin thú thực tôi đã lầm, địch có những tàu mang từ 50 đến 60 khẩu đại bác1 (Xem Thư của Jean Baptiste Chaigneau gửi Baisy trong Archives des Missions Etrangers de Paris (Thư khố của Hội truyền giáo hải ngoại Pari), tr. 801, 857).


Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển quân đội, Nguyễn Huệ và Bộ Thống soái Tây Sơn luôn kiên định tư tưởng “Quân cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”2 (Trích thư của Nguyễn Huệ gửi Thang Hùng Nghiệp, trong Tây Sơn bang giao tập). “Tinh” là yếu tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định; nhất là việc chuẩn bị để sẵn sàng đối phó với những đội quân xâm lược quy mô lớn và thiện chiến như quân đội nhà Mãn Thanh, yếu tố này càng đòi hỏi cấp thiết hơn lúc nào hết. Ngay từ cuối năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Huệ quyết định triệu tập tất cả các binh sĩ về tại Phú Xuân và triển khai đợt huấn luyện quân sự rất ráo riết. Theo V.Imbert mô tả trong cuốn Le Sujonr en Indochine do Lambassade de lord Maccarimy: Hằng ngày có 30.000 binh sĩ thường xuyên luyện tập, được trang bị bằng dao găm, giáo mác, súng điểu thương và rất nhiều súng ngắn có miệng loa.


Để tạo nên chất “tinh” của quân đội, Tây Sơn - Nguyễn Huệ trước tiên đặc biệt coi trọng việc giáo dục tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc, ghét áp bức bất công, chỉ rõ mục đích chiến đấu... để quân sĩ thông hiểu lẽ phải, quyết vượt qua mọi khó khăn gian khổ, kiên quyết đánh thắng quân thù. Bên cạnh đó, việc rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật được quan tâm thường xuyên, xây dựng quan hệ đoàn kết gắn bó keo sơn giữa chỉ huy với binh sĩ “tướng sĩ một lòng phụ tử", đồng thời thắt chặt quan hệ quân với dân. Phản ánh tính tổ chức kỷ luật của quân đội Tây Sơn, sử gia Bùi Dương Lịch ghi lại rằng: trong lần tiến quân ra Bắc Hà “phù Lê, diệt Trịnh” năm Bính Ngọ (1786), “Quân lệnh của Tây Sơn nghiêm ngặt không ai được tơ hào một tí gì của nhân dân”, đối với toàn gia tộc chúa Trịnh thì “lấy hết của cải trong kho”1 (Lê quý dật sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987, tr. 69).


Như vậy, thực tế lịch sử đã minh chứng rằng xây dựng một quân đội cốt tinh nhuệ không cốt nhiều, quân lính cốt hòa thuận không cốt đông, nhưng có đủ các thành phần lực lượng thực sự là một trong những quan điểm tư tưởng nổi bật, tạo nên sức mạnh ưu thế để quân đội của triều Tây Sơn từng bước đánh thắng thù trong giặc ngoài, tạo tiền đề cho việc thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khẳng định vị thế của Đại Việt đối với các nước láng giềng và khu vực.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 10:59:24 am »

2. Dựa vào dân để xây dựng quân đội và tạo dựng sức mạnh ưu thế cho khởi nghĩa và chiến tranh trong những thời điểm quyết định

Với tư tưởng chỉ đạo hành động lúc đầu được xác định là “lấy tiền của, thóc lúa của bọn nhà giàu chia cho người nghèo”, nên anh em nhà Tây Sơn được nhân dân địa phương hết lòng ủng hộ, thanh thế ngày thêm lẫy lừng và nhanh chóng lan toả khắp nơi.


Để có thể xây dựng được một quân đội mạnh cả về số lượng, trang bị vũ khí cũng như ý chí quyết chiến quyết thắng, bảo đảm xuất quân là chiến thắng, đặc biệt là trong những thời điểm quyết định, Nguyễn Huệ và Bộ thống soái quân Tây Sơn thống nhất tư tưởng chỉ đạo “tận suất vi binh” - tức là “toàn dân tòng quân”. Theo đó, tất cả đàn ông từ 15 đến 60 tuổi đều tham gia việc quân1 (Xem: Thư của Varen Thuận Hóa viết ngày 30-6-1788, dẫn theo Đỗ Bang - Hoàng Phủ Ngọc Tường: Nguyễn Huệ - Phú Xuân, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1986, tr. 77). Thông qua những cuốn gia phả còn lưu giữ được của dòng họ Hoàng ở Vĩnh An (Cam Hiền, Đông Hà, Quảng Trị), dòng họ Nguyễn ở Xuân Hoà (Huế), dòng họ Ngô ở Phổ Trạch (Hương Điền - Thừa Thiên)... cho thấy: trong cùng một gia đình có rất nhiều người ở những thứ bậc khác nhau cùng tham gia quân đội của Nguyễn Huệ. Mặt khác, chính giáo sĩ người Pháp đến truyền đạo nhiều năm ở Thuận Hoá là La Bertette đã viết thư gửi cho Leton Dal (11-6-1788) kể rằng: quân giặc (chỉ Tây Sơn) đôi khi điều động được từ 200-300 nghìn quân. Một giáo sĩ khác là Doussain cũng khẳng định là: cả dân tộc này đều làm lính cho họ (Nguyễn Huệ) chẳng sót một người nào. Vốn là vùng đất được vua Thái Đức phân chia cai quản trong nhiều năm, tình cảm giữa nhân dân địa phương với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ rất sâu nặng, nên số quân được tuyển mộ từ đất Thuận Hóa - Quảng Nam được ông đặc biệt tin tưởng, xây dựng và huấn luyện thành những đơn vị có khả năng tác chiến thiện nghệ, có tên gọi là “Thân quân” - đạo quân chủ lực của Tây Sơn. Theo sử gia Ôgnhêtốp, “động lực cơ bản của cuộc khởi nghĩa là nông dân... Chính họ đã hợp thành trụ cột của quân đội Tây Sơn, một quân đội đông đảo và thiện chiến, đó cũng là yếu tố quan trọng để họ có thể tiêu diệt lực lượng quân đội phong kiến Việt Nam cũng như bọn xâm lược Thanh sau này”1 (Phong trào nông dân Tây Sơn dưới con mắt người nước ngoài, Nxb. Tổng hợp Nghĩa Bình, 1988, tr. 117).


Qua thực tế cầm quân chiến đấu, Quang Trung khẳng định: tuy thắng lợi trong chiến tranh nhất thiết “không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít song, ông cũng không phủ nhận quy luật của chiến tranh là “mạnh được yếu thua" - mạnh ở đây không phải chỉ là vũ khí, phương tiện vượt trội mà số lượng quân đội cũng luôn có vai trò rất quan trọng đối với kết cục của khởi nghĩa và chiến tranh, nhất là ở vào những thời điểm quyết định. Từ đó, ông cũng tranh thủ từng khoảnh khắc thời gian trong quá trình hành quân từ Phú Xuân ra Tam Điệp - Biện Sơn để tuyển mộ binh sĩ, nâng thêm sức chiến đấu cho quân đội, từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch quân số so với địch. Với uy danh của Tây Sơn - Nguyễn Huệ, chỉ hơn chục ngày tạm dừng chân ở đất Nghệ An, đã có hàng vạn tráng đinh khắp các địa phương tự nguyện gia nhập quân đội Tây Sơn. Mặt khác, nhân dân Nghệ An, đồng bào dân tộc miền núi còn mang cả voi hiến tặng cho nghĩa quân. Tiếp đó, ra đến Thanh Hoá lại có hàng ngàn tráng đinh đến xin đầu quân. Như vậy, cùng với thời gian thần tốc tiến quân ra Bắc Hà, đại binh của Quang Trung đã lên tới gần 10 vạn người.


Tất cả những tân binh được tuyển mộ bổ sung trên dọc đường hành quân được phiên chế vào thành phần của đạo trung quân do Quang Trung trực tiếp chỉ huy. Với cách sắp xếp, bố trí như vậy, Quang Trung muốn làm cho cả cựu binh và tân binh thấy được trách nhiệm cũng như chính sách đãi ngộ của triều đình là không có sự phân biệt; mặt khác, tạo ra quan hệ tình cảm, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa họ trong sinh hoạt cũng như trong chiến đấu.


Sau khi đến căn cứ Tam Điệp - Biện Sơn hội quân với lực lượng của Ngô Văn Sở, Đại binh của vua Quang Trung đã lên tới hơn chục vạn, hàng trăm thớt voi, sức mạnh chiến đấu được nhân lên gấp bội. Dù vậy, nếu so sánh tỷ lệ quân số giữa quân Thanh và quân Tây Sơn vẫn chỉ là 3/1. Nhưng ưu thế hơn hẳn - chất “tinh” của quân đội Tây Sơn chính là nhận thức chính trị, tinh thần và tài nghệ thao lược của đội ngũ tướng soái chỉ huy; cách đánh thông minh, sáng tạo và dũng cảm của binh sĩ, và hơn hết là sức mạnh chống ngoại xâm của cả một dân tộc làm hậu thuẫn. Đây cũng chính là điểm rất quan trọng trong hệ tư tưởng xây dựng quân đội của Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Tất thảy những ưu thế trên đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để Tây Sơn - Nguyễn Huệ nhanh chóng đánh bại quân Thanh, giải phóng Thăng Long, giành lại Bắc Hà.


Được hình thành từ đội quân nông dân, dần phát triển thành một quân đội quốc gia, dân tộc, quân đội Tây Sơn đã mang sẵn trong mình tinh thần quật khởi của người nông dân trong đấu tranh sinh tồn kết hợp với truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất ngàn đời của dân tộc. Hơn nữa, Tây Sơn - Nguyễn Huệ đã dùng mọi cách để động viên, khích lệ tâm tư, tình cảm, ý thức tự hào dân tộc đối với từng binh sĩ. Một trong số đó là: Tại lễ đăng quang Hoàng đế ở Phú Xuân, Quang Trung đã lên án tội phản quốc của Lê Chiêu Thống, kêu gọi toàn dân tập hợp sức mạnh dứới ngọn cờ cứu quốc thiêng liêng của Tây Sơn. Ông nói: “Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ lấy xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ quân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào Trẫm”1 (Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977, tr. 420). Vậy là, biết “dựa vào dân, lấy dân làm gốc”, kể từ khi xuất quân ở Phú Xuân, sau hơn một tháng hành quân thần tốc, quân đội Tây Sơn dưới sự thống lĩnh trực tiếp của Quang Trung đã đến được vị trí tập kết và đặc biệt hơn, đây cũng là quá trình hoàn tất cơ bản việc bổ sung lực lượng, chuẩn bị lương thảo, khí giới và tinh thần cho quân sĩ. Chỉ riêng về lực lượng, từ lúc xuất phát mới chỉ khoảng 2-3 vạn, khi đến Tam Điệp - Biện Sơn, quân Tây Sơn đã lên đến hơn chục vạn người, hàng trăm thớt voi chiến và hàng trăm khẩu đại bác các cỡ. Đây thực sự là bước ngoặt đánh dấu sự đột biến cả về số lượng cũng như về chất lượng của quân đội Tây Sơn.


Như vậy, kể từ khi dựng cờ khởi nghĩa đến khi thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc cũng chính là quá trình hình thành và phát triển không ngừng của quân đội Tây Sơn trên tất cả mọi phương diện - công cụ bạo lực giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và tồn tại của vương triều Tây Sơn. Nếu buổi đầu chiêu mộ quân sĩ ở ấp Tây Sơn, quân số mới chỉ là hàng trăm rồi đến hàng nghìn, với khí giới chỉ là gậy gộc, gươm, giáo, cung nỏ...; tiếp đến là trong thời gian đánh dẹp các tập đoàn phong kiến phản động chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, quân số tuy đã phát triển đến hàng vạn, với thành phần bộ binh, thủy binh, kỵ binh và tượng binh (ở một số lượng nhất định); vũ khí thì ngoài những loại truyền thống đã bắt đầu có đại bác, thần cơ súng trường, hỏa hổ...; nhưng đến khi tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, quân đội Tây Sơn đã thực sự hùng mạnh, quân số tới hơn chục vạn, gồm đủ các thành phần lực lượng, riêng quân chủ lực đã có uy lực chiến đấu rất cao, với hàng trăm khẩu đại bác các loại, hàng trăm tượng binh và kỵ binh. Đây thực sự là một kỳ tích rất độc đáo của triều đại Tây Sơn đóng góp cho lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự thời phong kiến trung đại Việt Nam; trong đó, 40 ngày đêm kể từ lúc xuất quân ở Phú Xuân đến khi hoàn thành cuộc đại phá quân Thanh, giải phóng hoàn toàn Thăng Long và giành lại đất Bắc Hà là đỉnh cao nhất. Từ thực tiễn lịch sử đó có thể khẳng định rằng: sự lớn mạnh vững chắc của quân đội Tây Sơn là kết quả sống động của tư tưởng dựa vào dân - “tận suất vi binh", dựa vào dân để xây dựng quân đội và tạo dựng sức mạnh ưu thế cho khởi nghĩa và chiến tranh trong những thời điểm quyết định; đồng thời là một kỳ tích vĩ đại trong lịch sử xây dựng quân đội và tiến hành chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước từ xưa đến nay.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:11:59 am »

3. Chủ động tìm nơi “đất hiểm” để xây dựng căn cứ và điểm tựa chiến lược - tạo dựng chỗ đứng chân và làm bàn đạp xuất phát tiến công cho khởi nghĩa và chiến tranh

Lịch sử quân sự Việt Nam đã khẳng định rằng: một trong những vấn đề có tính chất tiền đề, bảo đảm cho sự thành bại của tất cả các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chính là hệ thống các căn cứ địa, hậu phương, hậu cần. Đây là nơi tập hợp, đứng chân xây dựng, đồng thời là nơi tích trữ, cung cấp, tiếp tế và cũng là bàn đạp xuất phát tiến công của lực lượng khởi nghĩa và chiến tranh. Theo đó, trong hệ tư tưởng quân sự thời Tây Sơn, tư tưởng về xây dựng căn cứ địa cho khởi nghĩa và chiến tranh được hình thành từ khá sớm và gắn bó chặt chẽ với tiến trình xây dựng lực lượng, thắng lợi từng bước của tướng sĩ Tây Sơn. Kế thừa và phát huy những quan điểm tư tưởng về khởi nghĩa và chiến tranh trong lịch sử dân tộc, với chí khí của những người con đất võ, không thể ngồi yên nhìn cảnh đất nước bị chia cắt bởi các tập đoàn phong kiến họ Nguyễn ở Đàng Trong, họ Trịnh ở Đàng Ngoài ngày đêm thoả sức bóc lột nhân dân, đẩy quốc gia, dân tộc vào con đường suy vong, các lãnh tụ Tây Sơn đã sớm nghĩ đến việc chọn địa bàn lập căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa. Song cùng với tiến trình khởi nghĩa và chiến tranh, các căn cứ, hậu phương hậu cần của Tây Sơn không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng để phục vụ trực tiếp và kịp thời cho việc hội quân, ém quân, làm bàn đạp xuất phát tiến công đánh những trận quyết chiến chiến lược, lật đổ các tập đoàn phong kiến cát cứ, thống nhất đất nước cũng như đánh bại quân xâm lược, giành lại chủ quyền lãnh thổ quốc gia, dân tộc.


Với tư tưởng chọn nơi có địa thế hiểm yếu, địa hình hiểm trở, thuận cho “giữ” (phòng thủ) và “đánh” (tiến công), nhà Tây Sơn đã tạo dựng nên những căn cứ và điểm tựa chiến lược có vai trò quyết định đối với sự thành công trong khởi nghĩa và chiến tranh; tiêu biểu nhất trong số đó là Tây Sơn Thượng đạo, Tam Điệp - Biện Sơn.


Về căn cứ Tây Sơn Thượng đạo, hồi thế kỷ XVIII không phải chỉ bao gồm huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định như hiện nay. Theo phân chia địa giới hành chính thời chúa Nguyễn, Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn, bao gồm những trại ấp ở cả phía đông và phía tây đèo Mang (đèo An Khê). Dựa vào đặc trưng của địa hình, nhân dân đã đặt tên cho vùng đồng bằng phía đông đèo Mang là Hạ đạo và vùng rừng núi phía tây đèo là Thượng đạo (Theo địa giới hành chính hiện nay, Tây Sơn Thượng đạo chiếm phần lớn diện tích của huyện An Khê, tỉnh Kon Tum).


Các lãnh tụ Tây Sơn đều được sinh ra và trưởng thành tại ấp Kiên Thành thuộc vùng Hạ đạo. Do sớm ấp ủ ý chí vùng dậy chống lại ách áp bức bóc lột tàn bạo của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nên trong tư tưởng anh em Tây Sơn muốn tìm một mảnh "đất thiêng" để chiêu tập lực lượng, dựng cờ khởi nghĩa. Và đồng thời cùng với việc buôn bán kiếm sống phải thường nhật qua lại vùng Tây Sơn Thượng đạo, Nguyễn Nhạc đã phát hiện ra tính chất hiểm yếu của vùng rừng núi này, bởi: đây là vùng đất cao nguyên tương đối bằng phẳng bao bọc xung quanh là núi và rừng già. Án ngữ trên hướng Bắc cao nguyên này là dãy Ngọc Linh, hướng đông và nam là dãy Trụ Lĩnh trùng điệp với "hình thế cao dốc kéo dài tới mấy trăm dặm"1 (Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 18). Trên dãy Trụ Lãnh có đèo Mang (theo người Bana, Mang có nghĩa là Cửa) là cửa ngõ phía đông của cao nguyên. Trước đây, khi đường 19 chưa được mở, đèo Mang rất dốc, hai bên còn là vùng núi hoang vu, cây cối rậm rạp, có nhiều thú dữ như hổ, báo, rắn,... sinh sống. Trên hướng tây có dãy Mang Giang (cổng trời), sườn dựng đứng ngăn cách Thượng đạo với cao nguyên Plâyku. Đặc biệt, trong các dãy núi bao xung quanh Thượng đạo có nhiều hang động và khe lớn có thể cải tạo thành những nơi ở, hoặc làm kho tàng cất giữ lương thảo rất tốt. Như vậy, Tây Sơn Thượng đạo không chỉ là địa điểm hiểm yếu, thuận lợi cho việc hội quân, ém quân, luyện quân, tích trữ lương thảo mà còn thuận lợi cho việc bố trí thế phòng bị, cản phá hiệu quả các cuộc tập kích từ ngoài vào; nhưng, đây cũng không phải là địa bàn rừng núi biệt lập.


Với con đường giao thông cổ chạy từ đồng bằng Quy Nhơn lên Tây Nguyên, tuy phải vượt qua hai con đèo rất hiểm trở là Mang và Mang Giang, nhưng nó thực sự là cầu nối thông Thượng đạo với hai vùng địa bàn quan trọng là cao nguyên Plâyku ở phía tây và Hạ đạo ở phía đông, tạo sự thông thương giữa miền xuôi và miền núi.


Làm chủ địa bàn này và xây dựng thành căn cứ địa, thì nếu khi bị đối phương bao vây, tiến công, nghĩa quân có thể nhanh chóng phân tán vào rừng, hoặc khi có biến lớn có thể cơ động qua phía đèo Mang Giang để rồi rút sâu vào Tây Nguyên. Bên cạnh đó, từ Thượng đạo cũng có nhiều đường xuyên núi khác bảo đảm cho việc đi lại xuống các tỉnh phía Bắc.


Ở phía Nam, sông Ba và các con đường mòn dọc theo các sông, suối tạo thành mạng lưới giao thông thủy, bộ nối liến Thượng đạo với vựa lúa Phú Yên và các tỉnh phía Nam. Trên thực tế, rất có thể nữ chúa Chàm Thị Hỏa, người Thạch Thành, Phú Yên đã xây dựng lực lượng và tích trữ lương thảo tạo thế nương tựa cho nghĩa quân trong những ngày đầu khởi nghĩa, đã phát hiện và khai thác đường nối thông giữa hai căn cứ này với nhau để có thể ứng cứu cho nhau trong những tình huống bất trắc nảy sinh.


Mặc dù vậy, yếu tố tự nhiên thuận lợi của núi rừng Tây Sơn Thượng đạo mới chỉ là cái nôi che chở cho lực lượng khởi nghĩa trong những ngày đầu trứng nước; còn yếu tố đóng vai trò quyết định tới sự thành bại của nghĩa quân trong công cuộc xây dựng căn cứ, chiêu tập quân sĩ, xây dựng lực lượng chính là sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân, mà trực tiếp và hiệu quả nhất là đồng bào Thượng. Bởi, Thượng đạo từ xa xưa đã là địa bàn cư trú, làm ăn của đồng bào Thượng - bộ phận chủ yếu nhất là tộc người Bana. Tại đây, cuộc sinh tồn của con người gắn bó keo sơn với rừng núi nên đã hình thành thói quen vũ trang tự vệ - tinh thần thượng võ truyền đời với những người đàn ông Bana.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:12:44 am »

Theo tiến trình lịch sử, đến cuối thế kỷ XVII, người Kinh từ dưới xuôi bắt đầu tìm đến các vùng thượng du để khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp. Một bộ phận trong số những người đó là nông dân bị phá sản và bị chính quyền chúa Nguyễn chiêu dụ đưa đến. Theo các sử liệu còn lưu lại, chính ông tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn cũng nằm trong số những người Kinh đầu tiên vốn sinh sống dưới vùng đồng bằng, bị chúa Nguyễn (khoảng niên hiệu Thịnh Đức (1653-1657)) bắt đưa lên khai phá miền đất này. Và cùng với thời gian, những làng xóm người Kinh mọc lên ngày thêm nhiều bên cạnh những buôn làng (Plây) người Bana. Dân cư sinh sống ở Thượng đạo chủ yếu là tộc người Bana Ala Kông (tức là Bana dưới chân núi), có mối quan hệ giao hảo rộng rãi và chặt chẽ với người Kinh; do vậy, về nếp sống và những phong tục tập quán văn hoá xã hội có nhiều điểm rất gần gũi, hòa đồng với dân cư vùng đồng bằng. Mặt khác, khi lên khai hoang, mở đất thì ngoài việc tiếp tục phát triển nghề trồng trọt và chăn nuôi, người Kinh cũng đem theo và mở mang nghề mộc, nghề dệt, nghề rèn... để phục vụ cuộc sống, sản xuất. Từ đó, sản phẩm của nghề thủ công như nông cụ, vải vóc và đồ dừng trong gia đình bên cạnh mục tiêu phục vụ đời sống thường nhật của người Kinh, một phần quan trọng đã trở thành hàng hoá để trao đổi với những lâm sản, hương liệu... của người Bana. Từ đây, mối quan hệ trao đổi, hợp tác làm ăn cũng như tình đoàn kết Kinh - Thượng ngày thêm gắn bó, đặc biệt là được tôi luyện thử thách trong thực tế đấu tranh chống áp bức, bóc lột tàn bạo của các thế lực phong kiến. Biểu hiện đậm nét của mối quan hệ đó là hằng năm cứ đến ngày 10-2, cư dân người Kinh - Thượng sinh sống ở An Khê lại mở hội hát "cầu huê". Tại lễ hội, bên cạnh việc tổ chức các trò giải trí dân gian, xem hát bội, người dân còn có thể mang các sản vật, hàng hoá đến đây để mua bán, trao đổi.


Ở Tây Sơn Thượng đạo, từ rất sớm, chúa Nguyễn đã thiết lập nhiều nguồn sở để thu thuế, vơ vét của cải, điển hình như nguồn Cầu Bông, Phương Kiệu... Phản ánh thực trạng này, trong sách Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết: Chỉ riêng thuế ở nguồn Cầu Bông, hằng năm chúng đã thu được 1.500 quan. Đó là chưa kể đến số tiền và vật phẩm không nhỏ chui vào túi những đốc quyên, chiêu biện, trùm sở là những cai thu thuế và các quan lại địa phương. Và tất yếu là, ách áp bức bóc lột tàn bạo đó sẽ "tạo điều kiện" chọ những cuộc phản kháng của nhân dân địa phương đối với chính quyền phong kiến diễn ra ngày càng quyết liệt.


Tất thảy những điều kiện tự nhiên và con người ở vùng đất Tây Sơn Thượng đạo đã "giúp" anh em nhà Tây Sơn thực hiện được ý tưởng xây dựng nơi đây thành căn cứ địa đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Để xây dựng Thượng đạo thành căn cứ khởi nghĩa, trong tư tưởng của các lãnh tụ Tây Sơn trước sau nhất quán quan điểm lấy vận động quần chúng, vận động đồng bào Thượng là công việc hàng đầu, thường xuyên, xuyên suốt trong quá trình xây dựng lực lượng cũng như hoạt động tác chiến. Cụ thể là, bằng sự quan tâm đến đời sống, sinh hoạt cụ thể của người dân, các lãnh tụ Tây Sơn đã dần dần thu phục được nhân tâm, tập hợp được đại bộ phận dân nghèo hưởng ứng cuộc nổi dậy. Bằng chứng là, mặc dù cuộc khởi nghĩa đã lùi vào quá khứ cách đây nhiều thế kỷ, nhưng đến nay, các buôn làng người Bana ở An Khê, hầu hết người dân đều biết đến Bok Nhạc (ông Nhạc). Tại buôn làng người Đê chơ găng, nhân dân còn lưu truyền nhiều câu chuyện về các lãnh tụ Tây Sơn, ví như: Trên bờ suối Chơ Ngao còn lưu lại một "hòn đá ông Nhạc" gắn với sự tích lưu truyền trong dân gian rằng đây là "chỗ" mà ông Nhạc thường ngồi nghỉ chân mỗi khi qua lại vùng đất này và coi đó là một vật thiêng của làng. Còn ở Tà Nia, trên dàn bếp của mỗi gia đình còn thờ một túi gạo và một túi muối. Theo các già làng kể lại thì đây là một cách nhớ ơn sâu nặng đối với các lãnh tụ Tây Sơn về sự giúp đỡ dân làng khi thiếu đói thời bấy giờ... Từ những sự tích gắn với những câu chuyện truyền đời còn sâu đậm trong tâm trí của người dân Thượng đạo đã góp phần minh chứng cho tư tưởng "lấy dân làm gốc" và thành công trong việc vận động quần chúng, trước nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số thuộc địa bàn căn cứ Thượng đạo của những lãnh tụ phong trào nông dân Tây Sơn.


Một vấn đề rất cơ bản có tính quyết định đến cuộc khởi nghĩa, đồng thời cũng là một phần rất quan trọng trong xây dựng căn cứ của Tây Sơn chính là xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ, mà điều kiện tự nhiên ở Thượng đạo có những thuận lợi nhất định cho việc thực hiện ý định có tính chiến lược này. Đó là, Thượng đạo tuy là một lòng chảo có độ cao hàng trăm mét so với mặt nước biển, nhưng bốn bề có núi sông bao bọc, bề mặt đất đai khá bằng phẳng và tương đối màu mỡ, nhiệt độ thích hợp, mưa nắng ôn hoà rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, chăn nuôi. Không những vậy, là mảnh đất được khai phá bởi kinh nghiệm từ mối giao hoà Kinh - Thượng diễn ra ngay ở thế kỷ XVII, XVIII, nên nhiều cánh đồng trồng lúa nước xanh tốt đã sớm hình thành. Chính cái tên "cánh đồng Cô Hầu" ở làng Tú Thủy được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác là một minh chứng. Đó là, khi Nguyễn Nhạc tìm đến lập nghiệp ở đây đã được tù trưởng trong vùng yêu mến và không lâu sau đã gả con gái cho. Từ đó, "cô Hầu" - tên gọi của người con gái Bana đó đã đứng ra trông coi, tổ chức việc cày cấy trên "cánh đồng Cô Hầu" và chăn nuôi gia súc, gia cầm... để chu cấp lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân. Mặt khác, từ Tú Thủy có một con đường mòn chạy về hướng đông đến sát đèo Mang có một thung lũng nhỏ kín đáo, với tên gọi xóm Ké còn tồn tại một gò đất có tên gọi "Gò Kho". Theo truyền tụng của dân chúng, "Gò Kho" là kho tích trữ lương thảo, khí giới của nghĩa quân. Như vậy, từ những sự tích truyền tụng trong dân gian địa phương và những dấu tích tuy còn lại rất ít ỏi nhưng rất lôgích về "cánh đồng Cô Hầu" và "Gò Kho" có thể kết luận: Thượng đạo là một căn cứ hậu cần chiến lược đầu tiên của Tây Sơn. Hơn nữa, Thượng đạo cũng là khu vực rừng núi điệp trùng, nên sẵn thú rừng, đặc biệt là voi là một điều kiện thuận lợi cho việc săn bắt voi về thuần dưỡng, huấn luyện phục vụ chiến đấu. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam thì rất có thể những đoàn "chiến tượng" của nghĩa quân Tây Sơn tham gia tác chiến trên khắp các chiến trường lúc bấy giờ có một bộ phận rất quan trọng là do đất Thượng đạo cung cấp.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:14:11 am »

Song song với thu phục lòng dân, phát triển trồng trọt, chăn nuôi tích trữ lương thảo, anh em nhà Tây Sơn đồng thời tính đến việc xây đắp các đồn lũy, chiến địa đảm bảo cho chiến đấu phòng ngự bảo vệ vững chắc căn cứ. Theo tài liệu khảo sát của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, xưa kia thôn An Lũy (nay thuộc xã Phú An Cư, huyện An Khê) còn lưu lại dấu tích một thành đất cũ. Trong Đại Nam nhất thống chí, mục "Núi sông" chép rằng: "Núi Trụ Lĩnh ở thôn An Khê, phía tây nam huyện, có tên nữa là núi Phong Sơn, hình thế cao dốc kéo dài tới mấy trăm dặm. Gần về phía tây có núi Yên Sơn, núi Cát Sơn, Đại Sơn, phía tây bắc có núi Vụ Sơn, phía tây núi Đại Sơn có rừng già. Trong rừng có núi Mò O, phía bắc núi là Bảo An Khê, ở đây có trường giao dịch. Nguồn gọi là nguồn Phương Kiệu, tức là chỗ khởi binh của Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ... Lại có núi Linh Hốt, núi Chí Công, bốn phía đều rừng già"1 (Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, t.3, tr. 18). Qua nhiều thế kỷ, bị mưa nắng bào mòn, nhưng dấu tích thành đất ở thôn An Lũy còn khá rõ. Dựa vào nhũng số liệu thu thập được, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang cho rằng: Thành có hình dạng bảy cạnh, gần giống như được chắp bằng một hình chữ nhật với một hình thang nhỏ. Qua khai quật cắt ngang một đoạn lũy tương đối nguyên vẹn cho thấy: Lũy được tạo nên bởi hai lớp tường đất dày, khoảng trên dưới 3 mét mỗi lớp. Giữa hai lốp tường đất là một giao thông hào. Đây không chỉ là đường cơ động của các chiến binh khi tác chiến giữ thành, mà đồng thời còn là chướng ngại để ngăn quân của đối phương khi chúng tấn công vào thành. Trên mặt các lớp tường đất có trồng hàng rào tre gai đan kín. Với chu vi ước tính khoảng 1.938m, nếu chỉ lấy số liệu đo đạc kích thước của hiện trường những đoạn còn lại tương đối nguyên vẹn (nhưng chắc chắn là đã bị bào mòn đi nhiều) để tính toán thì số lượng đất đá đào đắp phải là trên 2 vạn m3. Điều đặc biệt nữa là, thành nằm kề đường giao thông bộ (đường 19 ngày nay) và giao, thông thủy là sông Ba, thêm vào đó là theo hướng nam, cách rừng già chừng 6 đến 7 km, trên đó có núi Mò O, Ken Krúc (Hinh Hốt) - địa bàn cư trú của người Bana, nên đây thực là một căn cứ quân sự thuận cả về phòng thủ cũng như về tiến công.


Như vậy, để chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang nhằm chống lại các tập đoàn phong kiến cát cứ, thu non sông về một mối, anh em nhà Tây Sơn đã "biết chọn” Tây Sơn Thượng đạo - một địa thế hiểm yếu để tạo dựng nên một căn cứ quân sự vững chắc, từ đó tạo dựng thế và lực đối trọng với tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Có thể nói, đây là một trong những quan điểm thuộc về tư tưởng quân sự đầu tiên có vai trò quyết định đến sự phát triển và thắng lợi của phong trào nông dân Tây Sơn.


Về căn cứ Tam Điệp - Biện Sơn: Cùng với tiến trình của khởi nghĩa và chiến tranh, nếu căn cứ Tây Sơn Thượng đạo giữ vai trò là địa điểm "hội quân", "hội lương" để tạo dựng lực lượng của phong trào Tây Sơn trong những ngày đầu khởi nghĩa, đánh dẹp các thế lực cát cứ Trịnh - Nguyễn ở trong nước, thì Tam Điệp - Biện Sơn là một căn cứ chiến lược rất quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Dũng: “Khu vực quân sự Tam Điệp - Biện Sơn chính là điểm tựa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Thanh”1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quang Trung - Nguyễn Huệ với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr. 293).


Ngay khi vừa cơ bản dẹp được các tập đoàn phong kiến cát cứ ở trong nước, hạ tuần tháng 11 năm Mậu Thân (1788), Tây Sơn phải đối mặt với 29 vạn quân Thanh tiến xuống xâm lược nước ta. Trước thế giặc mạnh, Bộ tướng soái Tây Sơn do Nguyễn Huệ ủy thác trấn giữ Bắc Hà đã họp bàn kế sách chống giặc. Sau khi phân tích chỉ rõ thế "công" (tiến công) và "thủ" (phòng thủ) trên toàn tuyến biên giới là hoàn toàn bất lợi, nên các tướng đều thống nhất tư tưởng hành động là lập căn cứ địa để hội quân, chuẩn bị lương thảo, khí giới, chờ đại binh từ Phú Xuân kéo ra, tạo sức mạnh và thời cơ đánh trận quyết chiến chiến lược quyết định kết thúc chiến tranh. Theo đó, Đại Tư mã Ngô Văn Sở quyết định: "... Sớm sớm truyền cho thủy quân chở đầy các thuyền lương, thuận gió giương buồm, ra thắng cửa biển, đến vùng Biện Sơn mà đóng. Quân bộ thì sửa soạn khí giới, gióng trống lên đường, lui về giữ Tam Điệp. Hai mặt thủy bộ, liên lạc với nhau, giữ lấy chỗ hiểm yếu rồi cho người chạy về biểu báo với chúa công. Thử xem quân Thanh đến thành khu xử việc nhà Lê ra sao? Vua Chiêu Thống sau khi phục quốc, xếp đặt việc quân việc nước thế nào? Chờ chúa công ra, bấy giờ sẽ quyết chiến một phen cũng chưa muộn gì"1 (Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn học (In lần thứ ba), Hà Nội, 1984, t.2, tr. 159). Theo biện luận của Thị lang bộ Lại Ngô Thì Nhậm thì: "Tướng giỏi thời xưa, lường thế giặc rồi mới đánh, nắm chắc phần thắng rồi mới hành động, tuỳ theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ. Giống như người đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ lại một đêm rồi lại đuổi đi"2 (Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn học (In lần thứ ba), Hà Nội, 1984, t.2, tr. 160).


Tam Điệp là nơi có địa thế hiểm yếu, địa hình hiểm trở, không chỉ thuận lợi cho việc "giữ" (phòng thủ), "đánh" (tiến công) tại chỗ, mà cũng rất thuận lợi cho việc tập kết, đứng chân của một số lượng binh lực lớn, thực hiện kế ém binh, triển khai thế trận phòng ngự, chặn đường tiến quân của giặc Thanh nếu chúng từ Bắc Hà đánh vào, hoặc thực hiện ém binh triển khai đội hình tác chiến tiến công một khi Đại binh Tây Sơn từ Phú Xuân tiến ra Bắc Hà tiêu diệt quân Thanh. Trong sách Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô gia văn phái gọi dải núi Tam Điệp là “Cổ họng” giữa Bắc - Nam, mà trọng điểm là đoạn núi rộng 7 km có trục đường "thiên lý" băng qua trở thành một vị trí chiến lược xung yếu.


Tam Điệp cũng là một bàn đạp lớn trên bộ vừa có thể dùng cho việc cơ động lực lượng, hành quân tác chiến lớn vào Nam hoặc ra Bắc, theo trục đường "thiên lý", lại vừa có thể dùng cho việc cơ động lực lượng, hành quân tác chiến nhỏ theo trục đường sông và trục đường biển qua cửa Thần Phù và theo con đường bộ nhỏ dọc phía bắc dải đồi già tới tận Nho Quan trên "thượng đạo". Bàn đạp lớn trên bộ này lại nối thông xuống Biện Sơn ở phía đông nam, một bàn đạp tác chiến lớn trên biển, tạo nên thế trận hai mặt thủy bộ phối hợp mật thiết với nhau cả trong triển khai thế trận tác chiến phòng ngự lớn cũng như trong tác chiến tiến công quy mô lớn.


Với tư tưởng "bảo toàn lực lượng mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên, cho chúng ngủ trọ một đêm rồi lại đuổi đi", Bộ tướng soái Tây Sơn chỉ huy lực lượng ở Bắc Hà đã nhanh chóng triển khai kế hoạch chiến lược lui binh - thực chất là cơ động lực lượng - từ Thăng Long (Bắc Hà) về trấn giữ Tam Điệp và Biện Sơn. Ngoài một bộ phận nhỏ lực lượng được bố trí chặn đánh kìm chân giặc ở các khu vực Xương Giang, bến đò sông Thương và nam bắc sông Cầu nằm trên trục đường tiến quân của giặc, chỉ 5 ngày kể từ khi có lệnh, các đạo quân ở Thái Nguyên, Lạng Sơn, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây đều kéo về hội tụ tại Thăng Long.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:16:56 am »

Sau khi tiến hành cuộc duyệt binh lớn ở bắc sông Nhị, ngày 15 tháng chạp năm Mậu Thân (1788), các đạo quân thủy, bộ bắt đầu lên đường. Chỉ trong vòng hai ngày các đạo quân bộ đều đã tập kết đầy đủ ở huyện Yên Mô (Ninh Bình) để rồi ém binh, đóng giữ dọc núi Tam Điệp thẳng đến bờ biển phía đông Thanh Hoá; đồng thời, đạo quân thủy từ Thăng Long cùng đạo quân Sơn Nam cũng nhanh chóng cơ động bằng đường thủy tập kết an toàn tại Bỉm Sơn. Và, ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (25-1-1789), Quang Trung đã dẫn Đại binh đến Tam Điệp hợp binh với lực lượng của Ngô Văn Sở, rồi triển khai cuộc phản công chiến lược đánh bại 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long và Bắc Hà.


Như vậy, qua việc lựa chọn và những hoạt động của quân đội Tây Sơn ở khu vực Tam Điệp - Biện Sơn cho thấy: đây thực sự là một căn cứ địa hiểm yếu, giữ một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động và thắng lợi của quân đội Tây Sơn trong thời gian tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Thanh. Nhưng khác với căn cứ Tây Sơn Thượng đạo, đây không phải là khu vực được lựa chọn và đầu tư xây dựng từ trước chiến tranh, không được tổ chức bố phòng theo một trận thế đánh chặn chiến lược và cũng không diễn ra các hoạt động tác chiến phòng ngự chiến lược sau khi các đạo quân thủy, bộ của Tây Sơn từ Thăng Long và các trấn phía Bắc rút về đây; do vậy, nó hoàn toàn không phải là một phòng tuyến chiến lược như một số nhà nghiên cứu lịch sử và lịch sử chiến tranh - nghệ thuật quân sự đã từng đặt vấn đề. Bởi, từ nghiên cứu thực tiễn về phong trào nông dân Tây Sơn cho thấy rằng: Bộ thống soái quân đội Tây Sơn đã phát hiện, lựa chọn và sử dụng địa hình hiểm trở, địa thế hiểm yếu ở khu vực núi rừng Tam Điệp và thế phối hợp liên hoàn hai mặt thủy bộ trong cả cơ động lực lượng và triển khai tác chiến lớn của Tam Điệp và Biện Sơn, biến nơi đây thành địa điểm tập kết lực lượng, lương thảo, khí giới từ Bắc Hà rút về và tổ chức ém binh, chẹn giữ không cho quân địch tiến quân qua một khi chúng có ý định từ Thăng Long tiếp tục đánh vào phía Nam. Đồng thời, khẩn trương xây dựng địa bàn này thành điểm tập kết lực lượng của Đại quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ - Quang Trung trực tiếp chỉ huy từ Phú Xuân tiến ra hội nhập với các đạo quân vừa từ Bắc Hà lui vào, để rồi nhanh chóng tổ chức thành 5 đạo quân chiến lược cũng như hoàn thành mọi công việc chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược đánh ra Bắc Hà, giải phóng Thăng Long. Chỉ như vậy, chúng ta cũng có thể một lần nữa khẳng định rằng xây dựng căn cứ địa khởi nghĩa là một trong những nội dung thuộc về tư tưởng quân sự thường trực trong chỉ đạo hành động của Bộ thông soái Tây Sơn, đứng đầu là Nguyễn Huệ - Quang Trung trong suốt tiến trình khởi nghĩa và chiến tranh. Và, Tam Điệp - Biện Sơn thực sự là một căn cứ địa - điểm tựa chiến lược rất cơ bản và trọng yếu giúp Bộ thống soái Tây Sơn - Nguyễn Huệ thực hiện chủ trương chiến lược chuyển "thế cờ" trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh - tức là: từ thế rút lui chiến lược chuyển sang thế phản công chiến lược. Lấy Tam Điệp - Biện Sơn làm bàn đạp xuất phát tiến công cho các đạo quân Tây Sơn mở cuộc phản công chiến lược thần tốc ra Bắc Hà nói chung, mở trận quyết chiến chiến lược quyết định, đại phá quân Thanh ở đất Thăng Long, giành toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước.


Song song với việc xây dựng căn cứ địa, việc chuẩn bị và bảo đảm hậu cần cho quá trình khởi nghĩa và chiến tranh cũng được tiến hành một cách hết sức chu đáo và hiệu quả; đặc biệt nhất là vào thời điểm quyết định - mở cuộc tiến công quy mô lớn, đánh tan hàng mấy chục vạn quân xâm lược Mãn Thanh. Đây là một trong những vấn đề đầu tiên, đồng thời cũng là xuyên suốt trong tư tưởng của Bộ thống soái chỉ huy quân Tây Sơn. Cụ thể là, ngay sau khi dẹp xong tập đoàn phong kiến cát cứ chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nguyễn Huệ đã nghĩ đến địa bàn Nghệ An (vùng đất nhiều của, lắm người, đã từng là hậu phương của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, giải phóng đất nước của Lê Lợi và Nguyễn Trãi) và nhanh chóng xây dựng nơi đây thành một căn cứ hậu phương cho nghĩa quân, thậm chí ông đã từng đưa ra ý định xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô trên mảnh đất này. Chính nhờ sự chuẩn bị chu đáo về nhân lực: nắm chắc các tráng đinh, tuyển quân, luyện quân; chuẩn bị hậu cần... nên khi được tin cấp báo quân Thanh sang xâm lược nước ta, trên đường hành quân ra Bắc, Quang Trung chỉ dừng chân lại ở đất Nghệ An có 10 ngày đã có thể chọn lựa được hàng vạn quân sĩ bổ sung cho quân đội, tạo ra sức mạnh ưu thế bảo đảm cho những trận quyết chiến chiến lược quy mô lớn giành thắng lợi.


Nhưng, không phải chỉ có chú trọng chuẩn bị lực lượng và bảo đảm hậu cần ở Nghệ An, mà ngay ở đất Phú Xuân, đạo quân hơn hai vạn người do Quang Trung thống lĩnh tiến ra Nghệ An cũng được chuẩn bị rất chu đáo về mọi mặt, luôn ở tư thế sẵn sàng xuất trận; do vậy, chỉ một ngày sau khi Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết báo tin, đạo quân đã lên đường được ngay.


Bên cạnh đó, chính đạo quân Tây Sơn trụ đứng trên đất Bắc Hà do Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm chỉ huy, ngay cả khi tạm thời phải thực hiện cuộc rút lui chiến lược về căn cứ địa - điểm tựa chiến lược Tam Điệp - Biện Sơn, thì “thủy quân đã chở đầy các thuyền lương”. Quân bộ thì sửa soạn khí giới, gióng trống lên đường; còn tại Tam Điệp - Biện Sơn, Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm không chỉ phải tiến hành công tác chuẩn bị hậu cần cho đạo quân của mình, mà còn phải đồng thời chuẩn bị hậu cần cho đạo quân chủ lực của Quang Trung đang trên đường hành quân ra Bắc.


Theo tính toán của Giáo sư Ngô Vi Thiện, nhu cầu về lương thảo cho một đạo quân 10 vạn người, hàng trăm voi chiến, vài nghìn ngựa chiến, mỗi ngày phải tiêu tốn hết từ 120-130 tấn các loại. Do có sự chuẩn bị mang theo một phần, nhưng quan trọng hơn cả là sự đóng góp, giúp đỡ của nhân dân Nghệ An, Thanh Hoá và các địa phương trên dọc đường tiến quân từ Tam Điệp - Biện Sơn ra đến Thăng Long, nên toàn bộ nhu cầu trên được đáp ứng một cách dễ dàng, nhanh chóng. Chính giáo sĩ người Pháp là Bissachere đã viết trong hồi ký rằng: Quân Tây Sơn không có lương thực nào khác ngoài lương thực tìm thầy trong các làng đi qua. Đây chính là sự khai thác một cách hết sức hiệu quả công tác “hậu cần nhân dân” của quân đội Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Như vậy, "Cuộc tiến công chiến lược thần tốc của Nguyễn Huệ - Quang Trung đã được chuẩn bị chu đáo từ trước (...). Tuy không có sử liệu đầy đủ về mặt hậu cần, nhưng với các bước đã được chuẩn bị, với sự ủng hộ của nhân dân và với đội ngũ làm công tác hậu cần của một đạo quân thiện chiến, đã từng cơ động vào Nam ra Bắc, chúng ta cũng có thể khẳng định rằng công tác hậu cần hoàn toàn có đủ điều kiện để tổ chức bảo đảm cho cuộc tiến công chiến lược thắng lợi"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quang Trung - Nguyễn Huệ với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Sđd, tr. 200-201).


Tựu trung lại, từ thực tiễn diễn biến lịch sử đã minh chứng rằng: cùng với quá trình chiêu tập quân sĩ, xây dựng quân đội và từng bước tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh đánh dẹp thù trong, giặc ngoài, lập nên triều đại Tây Sơn, trong tư tưởng chỉ đạo thường trực của mình, Bộ thống soái Tây Sơn luôn đặc biệt coi trọng việc tạo dựng căn cứ địa, hậu phương và coi đây là vấn đề chiến lược giữ vai trò tiên quyết đối với quá trình khởi nghĩa và chiến tranh. Đây chính là một nội dung quan trọng trong tư tưởng quân sự của triều Tây Sơn và cũng là quan điểm tư tưởng quân sự nổi bật và được kế thừa, phát triển suốt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho đến ngày nay.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:19:07 am »

4. Tập trung sức mạnh ưu thế, giải quyết kết cục khởi nghĩa và chiến tranh bằng những trận quyết chiến chiến lược

Thực tế lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay đã phản ánh rằng không phải đợi cho đến khi hoàn tất việc xây dựng lực lượng, hệ thống căn cứ địa, hậu phương và hậu cần hoàn chỉnh (những yếu tố bảo đảm có tính chất quyết định đối với bất kỳ một cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh nào) rồi mới bắt đầu thực hành tác chiến, mà tất cả những hoạt động trên đều diễn ra hầu như đồng thời và phát triển tỷ lệ thuận với từng bước thăng trầm của khởi nghĩa và chiến tranh. Tiến trình khởi nghĩa và chiến tranh dưới thời Tây Sơn, đặc biệt là Tây Sơn - Nguyễn Huệ cũng diễn ra không ngoài quy luật này.


Trước nhất, để đánh dẹp tập đoàn phong kiến cát cứ họ Nguyễn ở Đàng Trong (lúc đó quân Nguyễn có trên 10 vạn và khoảng 200 chiến thuyền, trong đó riêng các đội kỵ binh có từ 200 đến 300 súng), sau 3 năm kể từ khi dựng cờ khởi nghĩa (1771-1773), quân số đã lên tới vài chục ngàn, được phiên chế, trang bị huấn luyện khá đầy đủ, các lãnh tụ Tây Sơn quyết định mở trận quyết chiến đầu tiên trong sự nghiệp của mình - tấn công phủ Quy Nhơn.


Đúng ngày Rằm tháng 8 năm Quý Tỵ (1773), Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc trực tiếp chỉ huy một đạo quân tiến công nhanh chóng đánh chiếm huyện lỵ và làm chủ hoàn toàn huyện Tuy Viễn. Cùng lúc, Trần Quang Diệu mang quân đánh chiếm Bồng Sơn và Phù Ly, rồi nhanh chóng cơ động đến hợp với đạo quân của Tây Sơn vương hạ thành Quy Nhơn (thành Đồ Bàn) và lập làm Vương phủ. Mặc dù vậy, cho đến hết năm Ất Mùi (1775), trên thực tế, quân Tây Sơn mới chỉ kiểm soát được địa hạt Tây Sơn nhỏ hẹp, còn từ Nam tới Bắc vẫn bị uy hiếp bởi hai tập đoàn phong kiến cát cứ Lê - Trịnh và Nguyễn, với sức mạnh 6 vạn quân. Khắc phục tình trạng này, Bộ thống soái Tây Sơn chủ trương tạm hoà hoãn với “quốc gia” Đàng Ngoài - bứt ra khỏi hiểm họa từ phương Bắc.


Đến năm Giáp Thìn (1784), nhân việc Đỗ Thanh Nhơn (một thủ lĩnh đạo quân lớn của chúa Nguyễn) bị Nguyễn Ánh giết chết vì nghi tội làm phản, quân lính Đông Sơn bỏ ngũ hàng loạt, quân Tây Sơn mở trận phản công làm chủ cơ bản đất Đàng Trong.


Như vậy, với tư tưởng chỉ đạo tập trung sức mạnh thực hiện những trận đánh có tính quyết định để nhanh chóng dẹp tan tập đoàn phong kiến cát cứ họ Nguyễn, bằng các trận tiến công phủ Quy Nhơn năm Quý Tỵ (1773), phản công Gia Định năm Giáp Thìn (1784), quân đội Tây Sơn đã thực hiện thắng lợi bước đầu sự nghiệp của mình.


Tuy quân Nguyễn đã bị đánh bại, nhưng Nguyễn Ánh - chủ soái của nó vẫn may mắn thoát chết, chạy sang cầu cứu quân Xiêm hòng khôi phục lại cơ nghiệp. Với bản tính rất tham lam, hiếu chiến, từ lâu đã nuôi sẵn ý đồ xâm chiếm Gia Định, nhận được lời cầu khẩn của Nguyễn Ánh, vua Xiêm là Tráccơri nhanh chóng điều binh, khiển tướng xuất quân sang “giúp Nguyễn Ánh diệt “giặc cỏ” Tây Sơn”, thực chất là xâm lược nước ta.


Theo đó, giữa năm Giáp Thìn (1784), quân Xiêm gồm 2 vạn thủy binh và hơn 300 chiến thuyền ồ ạt đổ bộ lên Kiên Giang (Rạch Giá); cùng lúc, hơn 3 vạn bộ binh vượt qua lãnh thổ Chân Lạp tiến xuống phối hợp với thủy binh đánh chiếm Trấn Giang (Cần Thơ) - một vị trí chiến lược của miền Tây Gia Định. Trước thế giặc mạnh hơn nhiều lần, tướng chỉ huy quân Tây Sơn ở Gia Định là Trương Văn Đa quyết định lui quân về miền Đông phòng thủ. Sau nửa năm giao chiến, quân Xiêm đã chiếm được một nửa vùng đất phía tây Gia Định, đến cuối năm Giáp Thìn (1784), phần lớn lực lượng đã tập trung về Trà Tân (Mỹ Tho), dự định sẽ tiến lên Mỹ Tho, đánh tan quân Tây Sơn, hoàn thành việc chiếm Gia Định; còn phần nửa phía đông và thành phố Mỹ Tho, Gia Định vẫn do quân Tây Sơn kiểm soát.


Cuối năm Giáp Thìn (1784), sau khi được tin cấp báo về tình hình Gia Định, với tư tưởng tập trung sức mạnh ưu thế, “đánh nhanh, quyết thắng bằng một trận quyết chiến chiến lược"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quang Trung - Nguyễn Huệ với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Sđd, tr. 79), Bộ thống soái quân Tây Sơn cử Nguyễn Huệ thống lĩnh đại binh thủy, bộ tiến vào Nam, tập kết tại Mỹ Tho. Cả lực lượng mới vào và quân đồn trú của Trương Văn Đa, tổng số quân Tây Sơn ở Gia Định có khoảng 2 vạn. Như vậy, về so sánh lực lượng, quân Tây Sơn chưa bằng một nửa quân Xiêm, đó là chưa kể vài nghìn bại binh của Nguyễn Ánh; nhưng, về khí giới và trang bị, quân Tây Sơn hoàn toàn không thua kém quân Xiêm.


Sau một thời gian chuẩn bị, Nguyễn Huệ và Bộ chỉ huy quân Tây Sơn quyết định chọn sông Mỹ Tho, đoạn từ Rạch Gầm - Xoài Mút làm địa điểm cho trận quyết chiến chiến lược. Đây là đoạn sông dài chừng 7 km, rộng khoảng 1 km, có chỗ lên tới 2 km - “đủ” để quân Tây Sơn dồn hàng trăm chiến thuyền của quân Xiêm - Nguyễn vào mà tiêu diệt.


Từ nguồn tin do thám biết được ngày 9 tháng Chạp năm Giáp Thìn (19-1-1785), liên quân Xiêm - Nguyễn sẽ từ Trà Tân bắt đầu tiến đánh Mỹ Tho, Nguyễn Huệ huy động binh lực, triển khai thế trận ở các khu vực lựa chọn. Bộ binh và hỏa lực đại bác thần công bố trí mai phục trên bờ sông và cù lao Thới Sơn. Hai đội thủy binh tinh nhuệ bí mật mai phục ở Rạch Gầm, Xoài Mút. Một bộ phận thủy binh khác mai phục trong các nhánh sông, lạch sông, hoặc ẩn nấp sau các cù lao. Một bộ phận thủy binh “bày” thuyền chiến trên sông Mỹ Tho để nghi binh, lừa địch và đợi khi đội hình của chúng lọt vào thế trận của ta thì nhanh chóng ngược dòng Mỹ Tho để tiếp ứng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:20:00 am »

Đúng như dự kiến, đêm 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn (18-1-1785), hơn 300 chiến thuyền của liên quân Xiêm - Nguyễn theo sông Trà Luật và Tiền Giang lần lượt tiến ra sông Mỹ Tho. Đến khoảng đầu canh năm sáng mồng 9 tháng Chạp (19-1-1785), khi toàn bộ đội hình thủy binh địch đã nằm gọn vào thế trận, Nguyễn Huệ phát lệnh tiến công. Hai đội thuỷ binh từ Rạch Gầm, Xoài Mút bất ngờ xông ra chặn đầu khoá đuôi; cùng lúc, đại bác thần công từ hai bờ sông và cù lao Thới Sơn bắn phá dữ dội vào đội hình địch. Bị đòn bất ngờ và áp đảo, đội hình liên quân Xiêm - Nguyễn nhanh chóng hỗn loạn. Chớp thời cơ này, những đội thuyền Tây Sơn nhanh chóng xông vào chia cắt địch ra từng bộ phận để tiêu diệt. Diễn tả cảnh quyết chiến của quân Tây Sơn, trong Mạc thị gia phả, Vũ Thế Dinh ghi rạng: Nguyễn Huệ đốc chiến ở phía sau, ra lệnh liều chết đánh, quân sĩ nào không quyết chiến thì chém ngay để làm răn. Vì thế các tướng sĩ đều liều chết, không nghĩ gì đến tính mệnh... tiến công rất là mãnh liệt1 (Xem Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 342).


Hàng loạt thuyền chiến của liên quân Xiêm - Nguyễn lần lượt bị đắm bởi trúng đạn đại bác hoặc bị các chiến thuyền của quân Tây Sơn xông lên tiêu diệt. Rất nhiều chiến binh Xiêm, Nguyễn bị tử trận do trúng tên độc, trúng đạn hoặc chết đuối. Số bơi được vào bờ cũng nhanh chóng bị bộ binh Tây Sơn ém sẵn tiêu diệt.


Kết quả, hầu như toàn bộ đội thuyền chiến của quân Xiêm đều bị tiêu diệt. Trong Đại Nam thực lục và Gia Định thành thông chí đều ghi rằng: quân Xiêm bị “thua to, bỏ chạy” và “chết gần hết”. Chỉ có Chiêu Tăng và Chiêu Sương cùng khoảng vài nghìn1 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.2, tr. 57) tàn quân trốn thoát lên bờ bắc sông Mỹ Tho, phải liều chết đánh phá để mở đường tháo chạy lên Quan Hóa rồi qua Chân Lạp về Xiêm. Trong Mạc thị gia phả, Vũ Thế Dinh có ghi: lúc xuất quân, quân thủy, bộ tất cả gồm 5 vạn, nay (sau ngày 19-1-1785) chỉ còn hơn 1 vạn. Riêng Nguyễn Phúc Ánh, khi “vừa thấy thế giặc mãnh liệt, không thể chống nổi” đã vội bỏ mặc quân sĩ, rút chạy sang Hà Tiên, rồi ra đảo Thổ Châu, Cổ Cốt, sau đó trốn sang Xiêm. Bắt đầu từ đây, Nguyễn Phúc Ánh cùng đám bại binh phải sống lưu vong, thậm chí phải tham gia vào đội quân đánh thuê cho Tráccơri.


Như vậy, trận quyết chiến chiến lược Rạch Gầm - Xoài Mút thực sự là một trong những trận thủy chiến trên sông lớn nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Với sự đồng tâm nhất trí của triều đình với dân chúng, tướng với sĩ, Tây Sơn đã quét sạch toàn bộ đội quân xâm lược Xiêm, thu hồi lại toàn bộ vùng lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc; đánh qụy tham vọng mở rộng lãnh thổ của vua Xiêm đối với nước ta. Sau này, sử quán triều Nguyễn cũng chép rằng: “Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm Giáp Thìn, miệng tuy nói khoác mà lòng sợ Tây Sơn như cọp”2 (Xem Đại Nam thực lục, Sđd, t.2, tr. 65).


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Xiêm, mà Rạch Gầm - Xoài Mút là trận quyết chiến chiến lược quyết định đã đưa phong trào nông dân Tây Sơn phát triển lên một trình độ mới về tổ chức lực lượng và nghệ thuật tiến hành những trận đánh quy mô lớn, nghệ thuật sử dụng kết hợp nhiều thành phần lực lượng cùng tham gia trong một trận chiến đấu, trên một khu vực chiến trường - mà ở đây là khu vực chiến trường sông nước. Đó là, với một lực lượng mạnh về ý chí chiến đấu ngoan cường, khả năng tác chiến thủy, bộ thiện chiến, mặc dù về số lượng chưa bằng một nửa so với địch, nhưng sau khi thần tốc hành quân vào Gia Định, Bộ thống soái quân Tây Sơn đứng đầu là Nguyễn Huệ không thực hiện phương châm đánh tiêu hao từng bước quân địch rồi mới tiến lên thực hành cuộc phản công quy mô lớn và cũng không thực hiện những mũi tiến công trực diện vào căn cứ quân Xiêm, mà chủ trương dùng mưu “nhử” chúng ra khỏi căn cứ, kéo chúng vào một thế trận bày đặt sẵn với sự chuẩn bị chu tất các tình huống để tiêu diệt bằng cách đánh mai phục và vận động tiến công. Tất thảy những việc làm trên là minh chứng về tầm nhìn chiến lược, tài tình, sắc sảo về nghệ thuật tổ chức lực lượng, lựa chọn địa điểm quyết chiến, bố trí thế trận và thực hành cách đánh, mà cao hơn hết chính là “trong tư tưởng chỉ đạo, Bộ chỉ huy quân Tây Sơn đứng đầu là Nguyễn Huệ luôn luôn thấu triệt và đặt lên hàng đầu quyết tâm đánh tiêu diệt, đánh nhanh, tiêu diệt triệt để quân địch”1 (Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Sđd, tr. 349) bằng một trận quyết chiến chiến lược.


Thắng lợi ở Rạch Gầm - Xoài Mút một lần nữa khẳng định tính sát thực của quan điểm tư tưởng tập trung lực lượng, đánh nhanh, quyết thắng bằng một cuộc quyết chiến chiến lược của quân đội Tây Sơn; đồng thời là dấu mốc ghi nhận “trên đất Đại Việt đã tồn tại một quốc gia phong kiến mới, hình thành từ một cuộc khởi nghĩa nông dân”1 (Phong trào nông dân Tây Sơn dưới con mắt người nước ngoài, Sđd, tr. 127) (năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế). Từ đây, Tây Sơn đã hoàn toàn làm chủ đất Đàng Trong, tiếp tục củng cố và phát triển thực lực của mình để tổ chức những trận quyết chiến chiến lược mối trong kế hoạch tiến ra Đàng Ngoài, đánh dẹp tập đoàn phong kiến cát cứ họ Trịnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:22:11 am »

Đất Bắc Hà, những năm 80 của thế kỷ XVIII thực sự rối ren, bi đát bởi sự hoành hành của tập đoàn phong kiến họ Trịnh. Trước bối cảnh đó, năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ mang hai đạo quân thủy, bộ tiến đánh Phú Xuân. Chỉ sau một trận tập kích, quân Tây Sơn đã chiếm được thành, rồi phát triển tiến công làm chủ toàn bộ Thuận Hoá. Thừa thắng, Nguyễn Huệ đốc thúc quân sĩ đánh ra Nghệ An, Thanh Hoá, rồi làm chủ Vị Hoàng (Nam Định). Đến ngày 21 tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn đã vào Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc tiến quân ra Bắc Hà, tiêu diệt cơ bản thế lực cát cứ họ Trịnh. Vậy là, “sau hơn hai thế kỷ bị tàn phá bởi sự tương tàn của hai tập đoàn phong kiến đối lập gây nên, sự thống nhất đất nước đã được tái lập; một dải non sông rộng lớn từ Bắc Hà đến Gia Định đã được nối liền”1 (Lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1988, t.1, tr. 346). Với tư tưởng “diệt Trịnh, phù Lê” được xác định ngay từ lúc xuất quân, nên quân Tây Sơn trở thành “những chiến sĩ giải phóng” và ngay sau đó, Nguyễn Huệ đã trao lại đất Bắc Hà cho vua Lê. Việc làm của Nguyễn Huệ đã gây được ảnh hưởng to lớn trong một bộ phận tầng lớp quan lại và đại bộ phận dân chúng Đàng Ngoài.


Nhưng, tiền đề cho sự nghiệp thống nhất đất nước vừa được mở ra, thì anh em Tây Sơn bắt đầu bất hòa, thậm chí đã đến mức “va chạm” binh đao. Theo đánh giá của nhà sử học Ôgnhêtốp: “Nếu như chúng ta đã coi năm 1778, sau khi Nhạc xưng Hoàng đế, tại Việt Nam đã xuất hiện một nhà nước phong kiến mới, còn năm 1785, sau khi đánh bại quân Xiêm, nhà nước đó đã khẳng định được sự tồn tại của mình, thì sự kiện năm 1786 đã chứng tỏ rằng, trong lòng quốc gia này đã diễn ra quá trình hợp quy luật đối với một nhà nước phong kiến”2 (Phong trào nông dân Tây Sơn dưới con mắt người nước ngoài, Sđd, tr. 133). Song, “điều trở nên đặc biệt là Nguyễn Huệ, người đã dám đứng lên chống lại kẻ nắm quyền cao nhất (Hoàng đế Nguyễn Nhạc) nghiễm nhiên đã biến thành đại diện cho một khuynh hướng tiến bộ hơn, biểu hiện ở ý đồ củng cố sự nghiệp thống nhất đất nước Việt Nam vừa giành được”3 (Phong trào nông dân Tây Sơn dưới con mắt người nước ngoài, Sđd, tr. 133).


Đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử giao phó, Nguyễn Huệ và Bộ thống soái của ông đã nhanh chóng phát triển lực lượng về mọi mặt, chủ động đánh dẹp sự phản trắc của Nguyễn Hữu Chỉnh, Võ Văn Nhậm và những tàn dư họ Trịnh (Trịnh Lệ, Trịnh Bồng) ở Bắc Hà và đặc biệt là chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh.


Việc một quốc gia Đại Việt mới, có tư tưởng tiến bộ được hình thành và nhanh chóng lớn mạnh ở phía Nam là điều mà triều đình phong kiến Mãn Thanh không “yên lòng”. Do vậy, nhận được lời cầu khẩn của Lê Chiêu Thống, triều đình Mãn Thanh đã có nguyên cớ để thực hiện ý đồ kiến lập tại Thăng Long một triều đình tay sai, đồng thời tận dụng được cả những thành tựu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn - đó là mở rộng ảnh hưởng của nhà Thanh đến toàn bộ lãnh thổ Đại Việt.


Theo đó, vua nhà Thanh là Càn Long xuống chiếu huy động bộ binh của bốn tỉnh là Quảng Đông, Quảng Tây, Van Nam, Quý Châu và thủy binh của hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến, lập nên một đạo quân hùng mạnh tiến sang “giup vua Lê, tiêu diệt giặc cỏ Tây Sơn”. Theo Điều 8 trong Quân luật của Tôn Sỹ Nghị - Tổng đốc Lưỡng Quảng, “mỗi người lính được cấp một tên phu”1 (Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, t.2, tr. 335), theo đó, tổng số quân Thanh sang xâm lược nước ta là 29 vạn (đây cũng là con số được ghi trong Chiếu phát phối hàng binh nội địa của Quang Trung). Bên cạnh đó, nhà Thanh còn gửi hịch sang Đại Việt kích động Lê Chiêu Thống khẩn trương mộ lính để phối hợp với quân Thanh đánh dẹp Tây Sơn. Đồng thời, vua triều Thanh là Càn Long còn xuống dụ cho vua Xiêm mang quân đánh vào miền đất phía Nam của Tây Sơn để hỗ trợ.


Lợi dụng thời cơ quân Tây Sơn trên đất Bắc Hà số lượng không lớn, lại được quân của Lê Chiêu Thống hậu thuẫn và dẫn đường, ngày 28 tháng 11 năm Mậu Thân (25- 11-1788), 29 vạn quân Thanh chia làm ba hướng: Lạng Sơn - Thăng Long, Cao Bằng - Thái Nguyên - Thăng Long, Tuyên Quang (Hà Tuyên) - Sơn Tây - Thăng Long cùng lúc tiến đánh nước ta. Với sức mạnh ưu thế, chỉ sau 20 ngày hành binh, quân Thanh đã chiếm được Thăng Long trong điều kiện quân Tây Sơn đã thực hiện cuộc rút lui chiến lược về Tam Điệp - Biện Sơn để mưu tính kế phản công.


Trước thế giặc mạnh, tướng Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm chỉ huy bộ phận quân Tây Sơn ở Bắc Hà rút về đứng chân tại cân cứ - điểm tựa chiến lược Tam Điệp - Biện Sơn. Cuộc lui quân chủ động và có tính toán này không chỉ là nhằm bảo toàn lực lượng của Tây Sơn, mà còn kích động tính kiêu căng, mất cảnh giác quân Thanh, tạo ra thời cơ và điều kiện cho Tây Sơn tập trung sức mạnh, mở cuộc phản công chiến lược quyết định đại phá quân Thanh, giành lại non sông đất nước.


Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân (21-12-1788), được tin cấp báo của Ngô Văn Sở do Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết mang vào, ngay ngày hôm sau (22-12-1788), Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung và hạ lệnh xuất quân ra Bắc đánh dẹp quân Thanh.


Lúc này, tại Phú Xuân, quân Tây Sơn chỉ có khoảng 6 vạn1 (Xem: Thư của Doussain gửi Blandin ngày 6-6-1787, dẫn trong Archives des Missions Etrangers de Paris (Thư khố của Hội truyền giáo hải ngoại Pari), số 740, tr. 29); nhưng phải để lại một bộ phận quan trọng để bảo vệ “thủ đô” và sẵn sàng đối phó với sự quấy phá của quân Nguyễn Ánh và cả quân Xiêm ở phía Nam. Là đội quân được huấn luyện, giáo dục và được thử thách qua nhiều năm tham gia trận mạc, nên tướng sĩ Tây Sơn luôn thấu suốt tư tưởng chỉ đạo “quân lính thì cốt hoà thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ không cốt nhiều”, thắng bại của chiến tranh “không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít". Song, nói “không cốt nhiều” ở đây phải được hiểu là nhiều theo kiểu ô hợp, nhiều về số lượng còn chất lượng thì thấp kém; còn thực tế trong chiến tranh, nhất là chiến tranh chống xâm lược thì số lượng quân đội là một trong những nhân tố rất quan trọng để làm nên chiến thắng. Do vậy, quá trình hành quân ra Bắc Hà cũng là thời gian thích hợp để Tây Sơn - Nguyễn Huệ tuyển mộ thêm quân sĩ, gia tăng lực lượng của mình. Việc làm này đã được Sử quán triều Nguyễn sau này chép rằng: chỉ hơn 10 ngày dừng chân lại ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đã tuyển thêm được hàng vạn tân binh và hàng trăm voi chiến.


Đến ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (15-1-1789), Đại binh của Tây Sơn đã đến tập kết đầy đủ tại Thanh Hoá.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2021, 11:23:35 am »

Bộ binh đứng chân tại phía sau căn cứ - điểm tựa chiến lược Tam Điệp. Thủy binh tập kết tại căn cứ Biện Sơn. Hợp nhất cả số quân từ Bắc Hà về với Đại binh từ Phú Xuân kéo ra, quân đội Tây Sơn đã có hơn 10 vạn các loại. Nếu so sánh với quân Thanh (chưa kể quân “cần vương" của vua Lê Chiêu Thống) thì quân Tây Sơn vẫn chênh lệch rất đáng kể về số lượng (tỷ lệ 3/1); song, từ chỗ là một tổ chức vũ trang thuần tuý của nông dân và dân nghèo đã từng bước phát triển thành “quân đội của nông dân, về sau trở thành quân đội của dân tộc”1 (Võ Nguyên Giáp: Vũ trang quần chúng cách mạng xây dựng quân đội nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 80), được tôi luyện qua 17 năm (1771-1788) đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc quyết liệt, quân đội Tây Sơn đã có những bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức và trang bị; đặc biệt nhất là tượng binh, thủy binh. Tượng binh với hàng trăm voi chiến được huấn luyện thuần thục, là một trong những “binh chủng” tiến công và đột phá rất lợi hại mà quân Thanh không có. Thủy binh không chỉ là lực lượng có khả năng chiến đấu độc lập, mà còn có vai trò quan trọng trong việc cơ động lực lượng và vũ khí hạng nặng, đảm bảo cho kế hoạch hành quân thần tốc “kịp” thực hiện trận quyết chiến chiến lược và cho những mũi đánh vu hồi, chặn địch rút chạy.


Như vậy, về tổ chức và trang bị của quân đội Tây Sơn không những không thua kém quân đội Mãn Thanh; mà còn có những mặt hơn hẳn, đặc biệt nhất là tinh thần chiến đấu dũng cảm, khí thế chiến đấu mãnh liệt và có sự tham gia, ủng hộ hết lòng về mọi mặt của nhân dân. Mặt khác, vốn là một đội quân nông dân trở thành quân đội dân tộc, nên quân đội Tây Sơn đã mang sẵn trong mình tinh thần quật khởi của nông dân kết hợp chặt chẽ với truyền thống yêu nước bất khuất được hun đúc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.


Trước khi khởi binh ra Bắc Hà, ngay trong lễ đăng quang tại núi Bân (Phú Xuân), Nguyễn Huệ đã khẳng định: “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị...”. “Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước ta đặt thành quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đánh thắng chúng”1 (Ngô gia văn phái: Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, t.2, tr. 180). “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”2 (Minh đô sử, bản chữ Hán, lưu tại Thư viện Viện Sử học, Hà Nội, số HV 285).


Quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Thanh, Tây Sơn - Nguyễn Huệ không phải chỉ có hơn 10 vạn quân tập trung thiện chiến mà có cả một dân tộc. Bítxase là một giáo sĩ người Pháp đã ghi trong hồi ký rằng: Ông (Nguyễn Huệ) đi suốt ngày đêm, dọc đường dùng quyền lực thu nạp tất cả những người có thể cầm được vũ khí, ông không có lương thực nào khác ngoài các lương thực qua các làng mà ông đi qua. Đây là sự chuẩn bị cần thiết và có tính quyết định - làm thay đổi dần cán cân so sánh lực lượng giữa ta và địch, đảm bảo chắc chắn cho thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược.


Được tin Quang Trung đang khẩn trương tập trung binh lực đánh ra Bắc Hà, bên cạnh việc khẩn trương tăng cường thế phòng ngự ở Tây Long, Đống Đa, Hải Dương, Sơn Tây, Tôn Sỹ Nghị khẩn cấp cho lập nhiều đồn bốt ở phía nam Thăng Long, gồm: Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, Hà Hồi, Ngọc Hồi, Văn Điển; trong đó, đồn Hà Hồi và Ngọc Hồi là những cứ điểm then chốt, quyết định.


Căn cứ vào thực lực phòng ngự của quân Thanh, Quang Trung và Bộ Thống soái quân Tây Sơn quyết định chia lực lượng thành năm đạo, mỗi đạo đảm trách một nhiệm vụ khác nhau. Cụ thể:

- Đạo quân chủ lực đảm nhiệm hướng chủ yếu, do Quang Trung trực tiếp thống lĩnh; Đại tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân là những võ tướng quen thuộc chiến trường Bắc Hà được giao đặc trách cầm đầu quân tiên phong. Hám Hổ Hầu (tức Chiêu Viễn) làm đốc chiến; có nhiệm vụ: tiến công thẳng vào hệ thống phòng thủ chính yếu của quân Thanh ở nam Thăng Long.

- Đạo thứ hai do Đô đốc Đông chỉ huy, đảm trách hướng thứ yếu, có nhiệm vụ: bất ngờ bao vây, tiêu diệt đạo quân của Sầm Nghi Đống đóng ở Đống Đa, rồi qua cửa Tây Nam (Ô Chợ Dừa), thọc vào thành Thăng Long.

- Đạo thứ ba do Đại Đô đốc Bảo chỉ huy, có nhiệm vụ: tiếp ứng cho cánh hữu - tức là sẵn sàng phối hợp với đạo quân chủ lực, đối phó kịp thời với các tình huống và chủ yếu là bất ngờ tham dự vào trận quyết chiến diệt đồn Ngọc Hồi, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định.

- Đạo thứ tư là thủy binh do Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy vượt biển vào sông Lục Đầu, tiến công diệt lực lượng địch ở Hải Dương và sẵn sàng tiếp ứng cho mặt Đông, phối hợp với hướng tiến công chủ yếu và thứ yếu đánh vào Thăng Long.

- Đạo thứ năm cũng là thủy binh do Đại Đô đốc Nguyễn Văn Lộc chỉ huy theo đường biển tiến vào sông Lục Đầu, đảm nhiệm làm mũi vu hồi, bí mật tiến vào sau lưng địch, nhanh chóng tiến lên vùng Lạng Giang, Phượng Nhãn, Yên Thế, chắn ngang và bịt đường rút quân của địch từ Thăng Long về Quảng Tây.


Về phiên chế, đạo quân chủ lực được chia thành tiền qụân, trung quân, hậu quân; đạo quân thứ hai và thứ ba là hữu quân; đạo quân thứ tư và thứ năm là tả quân. Với cách bố trí lực lượng như trên, quân Tây Sơn đã tạo nên một thế trận hoàn chỉnh, gồm nhiều tầng nhiều lớp, có trọng điểm, đảm bảo cho việc kết hợp chặt chẽ giữa tiến công chính diện với thọc sâu, bao vây vu hồi, có hướng chủ yếu, hướng thứ yếu và có lực lượng dự bị mạnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM