Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:51:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM  (Đọc 19370 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:00:48 am »

Sáng 29 tháng 12 năm 1960, bộ đội Pa-thét Lào, quân tình nguyện và lực lượng trung lập bắt đầu cuộc hành quân tiến đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bộ phận đi đầu gồm một đại đội thiết giáp và một đội công binh mở đường. Bộ phận chủ yếu đi giữa gồm tiểu đoàn thiết giáp (trừ đại đội đi đầu), tiểu đoàn dù, đơn vị pháo binh Việt Nam và đơn vị Pa-thét Lào, có đồng chí Cố vấn trưởng và đồng chí Xinh-ca-po đi cùng (trừ 1 khẩu 105 ly và 1 trung đội Pa-thét Lào ở lại). Bộ phận hậu cần đi cuối đội hình hành quân.


Đoàn hành quân bằng ô tô và thiết giáp tiến theo đường số 13. Đường hành quân chật hẹp xuyên rừng rậm men theo các triển núi, vực sâu, vách đá dựng đứng... Cố vấn trưởng chỉ thị cho các bộ phận gặp phỉ phải đánh, các xe hỏng phải kéo vào vệ đường bảo đảm đội hình hành quân thông suốt. Đến 15 giờ ngày 29 tháng 12, đoàn quân đã vượt qua chặng đường 100 km, chiếm ngã ba Sa La Phu Khun, trong đó bộ phận đi đầu tiến sang phía đông đến gần Phu Sủng chiếm lĩnh 5 km đầu tiên của con đường số 7 đi Cánh Đồng Chum.


Sáng 30 tháng 12 năm 1960, đoàn quân theo đường số 7 tiến về Cánh Đồng Chum. Gặp phỉ quấy rối, đánh lén, lực lượng của Coong Le tỏ ra dao động. Đồng chí Cố vấn trưởng thống nhất với đồng chí Xinh-ca-po và chỉ thị cho các bộ phận vừa đánh phỉ vừa tiến, nếu bị phỉ tiến công thì chỉ dùng phân đội nhỏ đối phó, còn đại bộ phận tiếp tuc tiến về Cánh Đồng Chum; đồng thời điều bộ phận pháo 105 ly và trung đội Pa-thét Lào ở Văng Viêng tiến lên chiếm giữ ngã ba Sa La Phu Khun để chặn địch phía sau. Trong ngày 30 tháng 12, đoàn hành quân chỉ tiến được 50 km trên đường số 7, cách Cánh Đồng Chum khoảng 100 km.


Ngày 31 tháng 12 năm 1960, các lực lượng hành quân vừa đánh phỉ vừa tiến chiếm Mường Sủi và ngã ba Phiên Luông, cách Cánh Đồng Chum 20 km. Địch lập trận địa ở khu vực cầu sắt Nậm Ngừm, tăng cường phòng ngự Cánh Đồng Chum. Lập tức, Cố vấn trưởng ra lệnh đánh chiếm cầu Nậm Ngừm để mở đường tiến thẳng vào Cánh Đồng Chum. Quân địch chống trả mạnh. Bun-mi, một trong các phó chỉ huy của Coong Le tử trận và hai binh sĩ bị thương. Đồng chí Cố vấn trưởng động viên Coong Le chấn chỉnh lại đội hình, đồng thời chỉ thị triển khai pháo bắn dọc đường số 7, chế áp và uy hiếp địch ở trong Cánh Đồng Chum.


16 giờ 45 phút ngày 31 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho đồng chí Chu Huy Mân: “Nếu có triển vọng lấy được Cánh Đồng Chum, cần tiếp tục đánh đêm và cố gắng giải quyết chiến đấu vào sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961. Nếu chiếm được cần lập tức khống chế các cao điểm, làm công sự vững chắc, kiểm soát và bảo vệ sân bay, đề phòng địch nhảy dù; nhanh chóng giải quyết tù hàng binh...; quan trọng nhất là phải nắm một lực lượng cơ động, chấn chỉnh gấp rút để đối phó địch nhảy dù và số còn sót lại; sử dụng pháo ở Cánh Đồng Chum cần nhằm vào những nơi địch có thể nhảy dù mà chuẩn bị hoả lực; tuyệt đại bộ phận lực lượng ta bố trí phòng thủ, dùng từ 1 đến 2 đại đội có cối nặng đánh Xiêng Khoảng, nếu không đánh được thì bao vây phá sân bay.


Nếu thấy tình hình khó khăn không thể giải quyết được thì bao vây Cánh Đồng Chum và chuyển dần quân về phía đông để khỏi bị động. Khi thắng cũng như khi gặp khó khăn, cần làm tốt công tác tư tưởng, chính trị để giữ vững tinh thần chiến đấu và kỷ luật. Nếu ta giải quyết nhanh gọn Cánh Đồng Chum thì địch tại chỗ có thể tan rã, khả năng tăng viện hạn chế; nếu cuộc chiến đấu kéo dài, địch có thể nhảy dù hoặc đổ bộ lớn bằng trực thăng để chi viện Cánh Đồng Chum hay Xiêng Khoảng"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập I, Sđd, tr. 408, 409).


Phát hiện địch bỏ chạy và căn cứ vào điện chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Cố vấn trưởng Chu Huy Mân quyết định nhanh chóng đưa lực lượng tiến vào đánh chiếm sân bay ở trung tâm Cánh Đồng Chum.

1 giờ ngày 1 tháng 1 năm 1961, Cố vấn trưởng cùng ; một bộ phận lực lượng đi trước tiến vào sân bay Cánh Đồng Chum không gặp một sự kháng cự nào của địch. Một giờ sau, toàn bộ lực lượng của đoàn hành quân vào tới sân bay. Ngay sau đó, đồng chí Chu Huy Mân giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Kích đưa pháo cùng một tiểu đoàn trung lập tiến vào giải phóng thị xã Xiêng Khoảng cách sân bay 35 km về phía tây nam. Cố vấn trưởng quy định: Cách thị xã Xiêng Khoảng từ 4 đến 5 km, pháo bắn hỗ trợ bộ binh thiết giáp tiến vào, chậm nhất 7 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961 phải giải phóng xong thị xã Xiêng Khoảng.


Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 1 tháng 1, lực lượng trung lập tiến bộ và pháo binh Việt Nam tiến vào giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, sau đó chuẩn bị đánh địch phản kích. 10 giờ ngày 1 tháng 1, một tiểu đoàn dù địch đổ bộ xuống khu vực Tha Viêng phía nam thị xã Xiêng Khoảng. Lập tức, lực lượng giải phóng thị xã Xiêng Khoảng dùng pháo bắn vào khu vực địch đổ quân, buộc chúng phải bỏ chạy.


Như vậy, cuộc hành quân từ Viêng Chăn tiến đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra trong 12 ngày đêm đến đây kết thúc. Lực lượng liên minh Pa-thét Lào và trung lập tiến bộ được sự chi viện giúp đỡ kịp thời của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu cuộc hành quân. Cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với diện tích 2.000 km2 có giá trị chiến lược quan trọng được giải phóng, nối liền với căn cứ Sầm Nưa. Đây là một trong những thắng lợi quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Lào, sự trưởng thành và uy tín của Pa-thét Lào được mở rộng; đồng thời thể hiện tinh thần nỗ lực, tận tình của tập thể cố vấn, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế, sát cánh cùng quân đội Pa-thét Lào, lực lượng trung lập và nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.     


Đầu năm 1961, đại diện lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào tiến hành hội đàm, thống nhất trong quan hệ giữa hai Đảng theo 5 nguyên tắc chung1 (Tinh thần cốt lõi của 5 nguyên tắc là: Sự nghiệp cách mạng Lào do nhân dân các bộ tộc Lào tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào. Quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào là quan hệ đồng chí, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Chống tư tưởng nước lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Chống bao biện làm tha. Chống ỷ lại, tự ti và mọi biểu hiện làm phương hại đến tình đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước). Hai Đảng thống nhất tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, giúp đỡ nhau vì lợi ích của phong trào cách mạng thế giới và lợi ích của hai Đảng, hai nước, của mỗi quốc gia. Về quan hệ Nhà nước, hai Đảng làm hết sức mình để tranh thủ những lực lượng tiến bộ, cô lập và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng Lào, cách mạng Việt Nam của đế quốc Mỹ và tay sai.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:01:54 am »

Trước tình hình mới, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào trong 5 năm (1961-1965) với những công tác cụ thể: "Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng Lào về chuyên gia quân sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển lực lượng vũ trang của bạn. Khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp chiến đấu với bộ đội bạn"2 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Quyển một, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1988, tr. 131). Theo phương hướng đó, Bộ Tổng tham mưu quyết định biên chế thời chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224 thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ đoàn 335 và Trung đoàn 148 thuộc Quân khu Tây Bắc, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào.


Bộ Tổng tham mưu báo cáo Thường trực Tổng Quân ủy dự thảo phương hướng phát triển lực lượng vũ trang pa-thét Lào: "Xây dựng nhiều đơn vị chủ lực tập trung và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật cần thiết, đồng thời tích cực xây dựng bộ đội địa phương và phát triển lực lượng du kích để đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiễu phỉ trừ gian bảo vệ an ninh cho khu căn cứ"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003, tr. Cool. Cụ thể: Chủ lực trực thuộc Trung ương gồm 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn người H'Mông, 1 tiểu đoàn pháo 105 ly, 85 ly, 1 tiểu đoàn cối 120 ly, 1 tiểu đoàn cao pháo; 7 đại đội trực thuộc, 3 lớp đào tạo bổ túc cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Chủ lực địa phương gồm 6 tiểu đoàn ở Phong Xa Lỳ, Luông Phra Băng, Xiêng Khoảng, Xa Vẳn Na Khệt, Viêng Chăn, 18 đại đội bộ binh độc lập và các đại đội pháo, trợ chiến thuộc bộ đội địa phương các tỉnh, cần tiến hành tổ chức các cơ quan chỉ đạo quân sự Trung ương và địa phương.


Những tháng đầu năm 1961, Mỹ ngày càng lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đối với Lào, chính quyền Mỹ trù tính một kế hoạch đưa lực lượng Mỹ trực tiếp can thiệp vào Lào, nhưng vấp phải phản ứng mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, của dư luận quốc tế và các nước Anh, Pháp, Pa-kix-tan - thành viên khối SEATO không tán thành, nên buộc phải từ bỏ kế hoạch đó. Để cứu vãn phái hữu tay sai, tháng 1 năm 1961, đế quốc Mỹ tăng cường 6 máy bay chiến đấu AD6 cho quân đội Phu-mi. Chính quyền Sài Gòn thỏa thuận với Phu-mi đưa quân ngụy vào Lào. Quân đội Thái Lan cũng bí mật đưa lực lượng vào Lào. Lúc này, tổng số quân phái hữu, quân Thái Lan và quân ngụy Sài Gòn đã lên tới hơn 5 vạn. Với lực lượng được củng cố và tăng cường, phái hữu phản động theo lệnh Mỹ liên tiếp mở các cuộc tiến công hòng giành lại những vùng đã mất.


Trong khi đó, liên minh các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào và trung lập yêu nước được sự chi viện giúp đỡ của quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam đã có bước phát triển. Lực lượng quân đội Pa-thét Lào và lực lượng vũ trang trung lập yêu nước có khoảng 1 vạn, nhưng còn trong tình trạng phân tán. Quân đội Pa-thét Lào đã xây dựng được 4 tiểu đoàn chủ lực tập trung và 40 đại đội bộ đội địa phương. Lực lượng trung lập yêu nước được sự giúp đỡ của Pa-thét Lào đã phát triển từ 200 người lên gần 900 người. Chính phủ hợp pháp của Thủ tướng Phu-ma chuyển về đặt trụ sở ở Khang Khay - Xiêng Khoảng, được nhiều nước công nhận và tranh thủ được viện trợ của Việt Nam dân chủ cộng hoà, Liên Xô, Trung Quốc và các nước bè bạn.


Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào bàn bạc thống nhất với Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang trung lập yêu nước tiếp tục đẩy mạnh đợt hoạt động Đông Xuân 1960-1961 nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và giữ vững vùng giải phóng của cách mạng Lào.


Ngày 9 tháng 1 năm 1961, Tổng Quân ủy giao nhiệm vụ cho quân tình nguyện Việt Nam:

"1. Tích cực giúp bạn xây dựng, củng cố và tăng cường lực lượng về mọi mặt.

2. Giúp bạn đẩy mạnh cuộc đấu tranh hiệp thương thành lập Chính phủ Liên hiệp.

3. Tích cực giúp bạn mở rộng và củng cố mặt trận liên minh với các lực lượng yêu nước, tăng cường đoàn kết các tầng lớp nhân dân xung quanh Neo Lào Hắc Xạt.

4. Đặc biệt chú ý giúp bạn củng cố và phát triển Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và bồi dưỡng đào tạo cán bộ Lào.

5. Tăng cường sự giúp đỡ của ta đối với cách mạng Lào, củng cố quan hệ giữa Chính phủ ta với Chính phủ Vương quốc Lào, vì lợi ích của cách mạng Lào và cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương chống Mỹ xâm lược"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-2000), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2002, tr. 936). Trên hướng Bắc Lào, lực lượng Pa-thét Lào có Tiểu đoàn 3 ở Sầm Nưa, Tiểu đoàn 701 ở Phong Xa Lỳ, Đại đội 90 ở Mường Sài, du kích và hai đại đội địa phương ở Nà Mỏ, Nậm Thà. Quân tình nguyện có lực lượng hỗn hợp của Tiểu đoàn 3 do đại úy Lý Long Quân làm Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn 4 do đồng chí Lê Dị làm Tiểu đoàn trưởng thuộc Lữ đoàn 316 (Quân khu Tây Bắc). Theo kế hoạch, đầu năm 1961, quân tình nguyện cùng trung đội du kích Mường Ngòi do đại úy Lý Long Quân chỉ huy bao vây và tiến công thị trấn Nậm Bạc. Đây là một căn cứ quân sự lớn có 5 cứ điểm do 7 đại đội địch được trang bị hoả lực mạnh đóng giữ. Quân tình nguyện dùng 4 khẩu cối 120 ly pháo kích mạnh và chính xác rồi xung phong loại khỏi vòng chiến đấu hơn 130 tên, làm chủ Nậm Bạc. Trung đội du kích Mường Ngòi cùng bộ đội tình nguyện bảo vệ thị trấn, ổn định trật tự trị an cho nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:02:35 am »

Phát huy thắng lợi, Tiểu đoàn 4 được lệnh tách khỏi lực lượng hỗn hợp tiến đánh vị trí Tông Sơ ở đông nam Nậm Bạc do lực lượng phỉ đóng giữ. Trận đánh không thành công. Bộ tư lệnh Lữ đoàn 316 củng cố lực lượng, rút kinh nghiệm và lệnh cho hai tiểu đoàn 3 và 4 tiến đánh tỉnh lỵ Mường Sài, do ba tiểu đoàn chủ lực và ba đại đội dân vệ có hoả lực cối 120 ly, ĐKZ 75 ly, ĐKZ 57 ly và trung liên, đại liên đóng giữ. Quân tình nguyện từ hai hướng bất ngờ nổ súng, loại khỏi vòng chiến đấu 750 tên, giải phóng Mường Sài. Quân tình nguyện chuyển sang tiến công vị trí Nà Mỏ, địch rút chạy về xung quanh thị xã Nậm Thà cố thủ. Đến tháng 4 năm 1961, hai tiểu đoàn 3 và 4 quân tình nguyện phối hợp với bạn tiến công giải phóng các vị trí Chòm Cheng, Pác Bút, Giang Tơi, Sốp Cai, Mường Là, Nà Mỏ, Mường Sài, Nậm Bạc, Mường Hùn, nối liền khu căn cứ kháng chiến Lào từ miền Tây Mường Sài đến sông Nậm Thà. Ở hướng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện (Lữ đoàn 335, Quân khu Tây Bắc) diệt vị trí Mường Hiềm ở Sầm Nưa (ngày 19-1-1961). Một đơn vị đặc công Quân khu Tây Bắc diệt vị trí phỉ Pa-thí ở Sầm Nưa (ngày 31-1). Tiếp đó, ngày 2 tháng 2 năm 1961, Tiểu đoàn 3 được lệnh hành quân cấp tốc đến bảo vệ khu vực Cánh Đồng Chum vừa giải phóng. Tiểu đoàn 3 vừa đánh phỉ vừa hành quân theo đường số 6 tiến xuống Bản Ban rồi sang đường số 7 vào Cánh Đồng Chum. Sau đó, Tiểu đoàn 3 được lệnh trở ra tổ chức phòng ngự ở khu vực ngã ba Sa La Phu Khun. Tiểu đoàn 3 khẩn trương hành quân đến chiếm lĩnh khu vực Phu Sủng xây dựng trận địa tại các điểm cao khống chế Sa La Phu Khun. Bộ đội dùng cuốc, xẻng ngày đêm đào hầm hào, sẵn sàng chiến đấu. Giữa lúc đó, một tiểu đoàn Pa-thét Lào và một đại đội trung lập tiến bộ do đồng chí Ay chỉ huy và đồng chí Nguyễn Hoà, cán bộ chuyên gia Đoàn 959, từ Viêng Chăn theo đường số 13 ra Phu Sủng gặp Tiểu đoàn 3. Tại đây, tiểu đoàn Pa-thét Lào và đại đội trung lập tiến bộ phối hợp với Tiểu đoàn 3 tổ chức thành "Mặt trận A" do đồng chí Nguyễn Hoà làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Phạm Nghiêm (Chính ủy Lữ đoàn 316) làm Chính ủy, đồng chí Ay làm Chỉ huy phó.


Ngày 23 tháng 2 năm 1961, cuộc chiến đấu của Liên quân Việt - Lào bắt đầu. Liên quân Việt - Lào đã liên tiếp đẩy lui các cuộc tiến công của 2 tiểu đoàn địch vào Phu Sủng; tiếp đó, Liên quân tiến công địch ở Sa-la Phu-kẹng phía bắc Sa La Phu Khun 3 km (ngày 4-3); diệt nhiều xe quân sự địch tại đoạn Pha-cọc trên đường từ Ka-xí đi Sa La Phu Khun (ngày 5-3); tiến công tiểu đoàn địch đóng giữ cao điểm Vành Khăn (ngày 6-3); truy kích đánh tan địch ở Pha-hin rút chạy trên đường 13 về Viêng Chăn (ngày 9-4), Pha-tòng-chinh (ngày 14-4), Pha-hom và Pha-tặng (ngày 22-4); giải phóng Văng Viêng, cắm cờ phân chia ranh giới Pa-thét Lào và phái hữu giữa cầu Hin Hợp trên sông Nậm Lịch. Các đơn vị Pa-thét Lào triển khai lực lượng phòng ngự phía trước sát địch. Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện ở lại Văng Viêng hỗ trợ bạn phòng ngự, thực hiện công tác dân vận, truy quét tàn quân địch, xây dựng chính quyền, mặt trận, củng cố vùng giải phóng. Với những thành tích xuất sắc trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế, Tiểu đoàn 3 đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công, 119 Huân chương Chiến công các loại cho tập thể đơn vị và cá nhân.


Ở hướng Trung Lào, thực hiện chủ trương của hai Đảng về việc mở con đường vận tải quân sự Tây Trường Sơn và lợi dụng lúc địch tập trung lực lượng lớn lên phía bắc nhằm chiếm lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nên sơ hở ở Trung, Hạ Lào, Bộ tư lệnh Quân khu 4 được lệnh phối hợp cùng lực lượng Pa-thét Lào tiến công giải phóng đường số 8, tạo nên căn cứ rộng lớn cho bạn ở Trung Lào, uy hiếp địch, phối hợp với chiến trường chính miền Nam Việt Nam.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, Quân khu 4 sử dụng Tiểu đoàn 14 bộ binh, 1 đại đội trợ chiến, 1 trung đội của Tiểu đoàn 927 bộ binh, 2 tiểu đội đặc công, 1 tiểu đội trinh sát của quân khu, được tăng cường 2 khẩu cối 120 ly, 2 khẩu ĐKZ 57 ly, 6 khẩu 12,7 ly của Lữ đoàn 324 và các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích Lào, tiến công các vị trí địch trên đường số 8 do 1 tiểu đoàn (BV34) và 3 đại đội phỉ đóng giữ. Liên quân Việt - Lào đã phối hợp chiếm thị trấn Na Pê và giải phóng Lạc Xao (ngày 17-2), chiếm thị trấn Căm Cớt (ngày 21-2). Một khu vực rộng lớn dọc theo đường số 8 từ biên giới Việt - Lào đến thị trấn Căm Cớt và toàn bộ huyện Căm Cớt tỉnh Bô Li Khăm Xay (12 xã với hơn 13.000 dân) được giải phóng.


Ngay sau đó, liên quân Việt - Lào gồm Tiểu đoàn 925 (thiếu 1 đại đội) của Quân khu 4, đại đội trợ chiến của Lữ đoàn 324 với 3 khẩu 12,7 ly, 1 đại đội Pa-thét Lào cùng tiến đánh 2 đại đội của BV22 địch và 2 đại đội phỉ, giải phóng Mường Ngàn (ngày 12-3). Quân địch đóng giữ đường số 12 và đường số 8B hoang mang, dao động. Chớp thời cơ thuận lợi, Bộ tư lệnh Quân khu 4 tập trung các tiểu đoàn 927, 929, 14 phối hợp với Pa-thét Lào tiến công địch (BV32, BI8, 2/CBl, đại đội 16 dù, một số đại đội phỉ), chiếm các thị trấn Nhom Ma Rát (ngày 15-4), Ma-hả-xây (ngày 17-4). Gần một tháng liên tục chiến đấu, liên quân  Việt - Lào đã giải phóng toàn bộ đường số 8B từ Lạc Xao đến Nhom Ma Rát, khống chế phần lớn đường 12 từ biên giới Việt - Lào đến Na Du.


Trên hướng Hạ Lào, Bộ tư lệnh Quân khu 4 sử dụng Sư đoàn 325 (gồm Trung đoàn 101 được tăng cường Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 95, Đại đội 12,7 ly của Tiểu đoàn 14 cao xạ, các bộ phận bảo đảm công binh, thông tin, vận tải, quân y, đại đội trinh sát), Tiểu đoàn 19 bộ đội biên phòng quân khu, Tiểu đoàn 927 tỉnh Hà Tĩnh, Tiểu đoàn 6 vận tải Đoàn 559 và 1 tiểu đoàn Pa-thét Lào tiến hành chiến dịch ở khu vực đường số 9 - Nam Lào. Ngày 21 tháng 4 năm 1961, liên quân Việt - Lào nổ súng, liên tục tiến công chiếm thị trấn Mường Phin, thị trấn Sê Pôn, Tà Khống, đập tan tuyến phòng thủ dài hơn 100 km của địch trên đường số 9, loại khỏi vòng chiến đấu 400 tên địch; làm chủ đường số 9 từ Huội San đến Mường-pha-lan. Ngày 2 tháng 5 năm 1961, chiến dịch kết thúc, Bộ Tổng tham mưu gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sê Pôn, một vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Lào. Vùng giải phóng Lào mở rộng trên địa bàn chiến lược miền Đông tỉnh Xa Vẳn Na Khệt, nối liền với căn cứ kháng chiến của Việt Nam ở phía tây Quảng Nam và tây Quảng Bình, tạo điều kiện cho Đoàn 559 "lật cánh" tuyến vận tải chiến lược từ phía đông sang tây Trường Sơn, góp phần tạo ra thế và lực mới để phối hợp hoạt động tác chiến giữa hai chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:03:35 am »

Tháng 4 năm 1961, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào lần thứ sáu quyết định: "Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động quân sự, tiêu diệt sinh lực địch, quyết đánh bại các cuộc tiến công của chúng, tiêu diệt phỉ, củng cố khu vực đã giải phóng, đồng thời tiến hành đấu tranh về ngoại giao"1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 134). Về tác chiến, Hội nghị xác định: Thượng Lào là mặt trận chính, Trung - Hạ Lào là mặt trận phối hợp quan trọng. Tập trung lực lượng cùng với quân tình nguyện Việt Nam đập tan các cuộc tiến công của địch vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động du kích ở tỉnh Viêng Chăn, đường 13, Luông Phra Băng, Trung và Hạ Lào để phối hợp với mặt trận chính. Về phát triển lực lượng vũ trang: Kết hợp tác chiến và xây dựng, xúc tiến việc tổ chức các đơn vị mới, nâng quân số bộ đội Pa-thét Lào lên khoảng 12.000 (không kể bộ đội huyện và dân quân du kích). Tăng cường liên minh chiến đấu với quân đội Coong Le và quân đội Khăm Uồn, thành lập Hội đồng quân sự tối cao Vương quốc gồm đại diện Bộ chỉ huy quân đội Pa-thét Lào và đại diện chỉ huy quân đội Coong Le và quân đội Khăm Uồn theo hướng dân tộc, dân chủ.


Cùng thời gian này, phái đoàn Chính phủ Lào do Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma và Chủ tịch Neo Lào Hắc Xạt Xu-pha-nu-vông sang Hà Nội hội đàm với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hai bên đã ký Hiệp nghị về việc Việt Nam viện trợ quân sự giúp Lào. Theo Hiệp nghị, Việt Nam cử nhân viên quân sự sang giúp quân đội Vương quốc, nhận đào tạo tại Việt Nam sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Vương quốc, đưa quân tình nguyện sang chiến đấu khi cần thiết.


Để đáp ứng với tình hình cách mạng Lào, tháng 4 năm 1961, Trung ương Đảng ta quyết định điều động đồng chí Chu Huy Mân về nước nhận nhiệm vụ mới. Đồng thời Quân ủy Trung ương quyết định tăng cường lực lượng cho Đoàn 959 và bổ nhiệm Thiếu tướng Lê Chưởng phụ trách Trưởng đoàn, Bí thư Đoàn ủy 959 kiêm Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự; Thiếu tướng Hoàng Sâm - Phó đoàn phụ trách về quân sự.


Căn cứ vào yêu cầu của Tổng Quân ủy Lào, Đoàn 959 được giao nhiệm vụ làm chuyên gia quân sự và chính trị cho Pa-thét Lào và làm chuyên viên cho lực lượng trung lập. Theo yêu cầu của Tổng Quân ủy Lào, hệ thống giúp bạn của Đoàn 959 tổ chức thành các bộ phận: Bộ phận chuyên gia cơ quan Bộ Tổng tham mưu do đồng chí Thăng Bình (sau đó là các đồng chí Nguyễn Năng, Nguyễn Hoà) phụ trách. Bộ phận chuyên gia cơ quan Tổng cục Chính trị do đồng chí Lê Tiến Phục phụ trách. Bộ phận chuyên gia cơ quan Tổng cục Hậu cần do đồng chí Lê Xuân phụ trách. Các tổ chức chuyên gia ở tỉnh đội, tiểu đoàn (có một số đến đại đội), các đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật, hệ thống nhà trường, kho tàng, bệnh viện, sân bay. Bộ phận làm chuyên viên cho lực lượng trung lập tổ chức thành hệ thống riêng, do đồng chí Hoàng Cao Ngôn phụ trách.


Theo chức năng nhiệm vụ, Đoàn 959 vừa chấn chỉnh tổ chức, vừa cùng các đơn vị quân tình nguyện đẩy mạnh giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, hành động tiến công giành lại các địa bàn, nhất là vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, buộc địch phải rút bỏ nhiều vị trí. Ở hướng đông nam Xiêng Khoảng, địch phải rút chạy khỏi Tha Thơm về tuyến Pắc San. Ở hướng đường 13, địch phải rút chạy khỏi ngã ba Sa La Phu Khun, Pha-hom, Pha-tặng, Văng Viêng. Ở hướng Luông Phra Băng, địch rút khỏi Mường Sài. Phía đường 18, địch rút khỏi Na Pê, Lạc Xao, Căm Cớt. Ở Trung Lào địch rút khỏi Nhom Ma Rát, Ma-hả-xây, Sê Pôn. Các cụm phỉ lớn ở Mường Phin, Pa Thí trong vùng Sầm Nưa bị đánh tan.


Phối hợp cùng hoạt động quân sự, Đoàn 959 chú trọng giúp bạn tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền làm công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở ở vùng giảị phóng. Đội vũ trang tuyên truyền trở thành một loại hình tổ chức phù hợp với đặc điểm tình hình các địa phương hoạt động trong điều kiện rất khó khăn nhưng hiệu quả, đã vận động được đông đảo thanh niên các bộ tộc Lào nhập ngũ, tham gia lực lượng dân quân du kích, bảo vệ làng bản.


Thắng lợi của đấu tranh quân sự và chính trị đã tác động mạnh mẽ đến mặt trận đấu tranh ngoại giao. Ngày 3 tháng 5 năm 1961, đại diện ba phái gồm Neo Lào Hắc Xạt (Pa-thét Lào), Phu-ma và phái Bun-ùm - Phu-mi gặp nhau ở Hin Hợp; sau đó ở Na Mon (13-5) thỏa thuận công bố lệnh ngừng bắn. Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Hội nghị quốc tế tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) bàn về vấn đề Lào gồm 14 nước tham dự khai mạc.


Cách mạng Lào từ chỗ rất khó khăn được sự giúp đỡ của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, sau một thời gian, đã có những chuyển biến trên nhiều mặt. Vùng giải phóng của Pa-thét Lào được mở rộng chiếm hai phần ba diện tích đất đai và một phần ba dân so cả nước, trong đó có những địa bàn quan trọng như Sầm Nưa, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Sê Pôn. Lực lượng vũ trang Pa-thét Lào đã tổ chức được 5 tiểu đoàn tập trung, 34 đại đội độc lập và 70 trung đội bộ đội địa phương. Hầu hết các vùng giải phóng đã hình thành các ban chỉ huy quân sự cấp tỉnh và huyện. Lực lượng trung lập yêu nước được bổ sung, tổng quân số từ 200 khi khỏi Viêng Chăn tiến về Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1960) đã tăng lên 900 người.


Trong giai đoạn này, hình thái "vừa đánh vừa đàm” xuất hiện ở Lào. Ngày 4 tháng 5 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện chỉ thị cho các đơn vị quân tình nguyện Việt Nan thực hiện lệnh ngừng bắn ở Lào. Bộ Tổng tham mưu nhắc nhở các đơn vị: phải ra sức nắm vững tình hình địch, củng cố công sự, phòng không, ngụy trang, phòng gian; nếu địch lấn đất hoặc tiến công, hoặc đưa quân vào hậu phương ta thì cương quyết tiêu diệt; nếu máy bay địch bay vào khu vực ta thì vẫn bắn; các đơn vị phải bảo đảm sẵn sàng chiến đấu để khi có tình huống xảy ra xử lý kịp thời1(Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd. tr. 47, 48). Ngày 15 tháng 5 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện gửi Quân khu Tây Bắc, Quân khu 4, các đơn vị ở Lào hướng dẫn việc rút bộ đội tình nguyện về nước: "1- Sau ngừng bắn, âm mưu lớn của địch tiến công vào bộ đội bạn ít đi, nếu có cũng phải qua một thời gian khi biện pháp chính trị ở Lào không giải quyết được, hoặc sau khi địch đã chấn chỉnh và củng cố lực lượng. Trước mắt, âm mưu của địch là lấn đất ở những nơi tiếp giáp giữa ta và địch; tăng cường biệt kích, tập trung phỉ hoạt động ở hậu phương ta, nếu Ủy ban quốc tế đến thì trình diện; tung gián điệp lấy tài liệu về lực lượng bạn, đặc biệt tài liệu về ta. 2- Căn cứ tình hình trên, ta cần hết sức giúp đỡ bạn, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu đánh bại hoạt động khiêu khích lấn đất của địch, đồng thời phải nhanh chóng, kiên quyết rút quân về nước. Cụ thể: về bộ binh chỉ để lại chuyên gia ở mỗi đại đội khoảng 4 người, mỗi tiểu đoàn khoảng 20 người; đơn vị chiến đấu của ta chỉ để lại 1 tiểu đoàn ở vùng Mường Sài, còn lại rút hết, kể cả các đội vũ trang tuyên truyền..., thời gian rút chậm nhất là trước ngày 12 tháng 5 các đơn vị phải lên đường về nước"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd. tr. 47, 48).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:04:54 am »

Để giúp bạn củng cố và giữ vững vùng giải phóng hướng đường số 9, Bộ Tổng tham mưu đề nghị và được chấp thuận thành lập Bộ chỉ huy Mặt trận Đường 9 dưới quyền trực tiếp chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân khu 4. Mặt trận đường 9 có nhiệm vụ trước mắt là tổ chức lực lượng bố trí phòng thủ để phòng địch tiến công, giúp đỡ bạn đảm nhiệm dần nhiệm vụ chỉ huy.


Thường trực Quân ủy Trung ương xác định cần có chuyên gia quân sự ở Lào, tốt nhất là con đường công khai hợp pháp. Ngày 12 tháng 5 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện gửi các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959: Việc rút quân là theo chỉ thị của Bác và Quân ủy Trung ương. Khi đánh phải kiên quyết, khi rút cũng phải kiên quyết, nếu không khó chấn chỉnh bộ đội. Đối với bộ đội bạn cũng cần tránh phân tán trong lúc này, nếu cứ rải ra sẽ không chấn chỉnh, huấn luyện được.


Lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực thì phe phản động đã cho quân nống ra lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng Lào. Theo yêu cầu của bạn, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 3 và hai đại đội của Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 324) cùng trung đội công an vũ trang phối hợp với bạn tiến công tiêu diệt hai căn cứ Mường Ngạt và Phu La Bút do khoảng 300 tên địch trú đóng trong các hang động núi đá hiểm trở đóng giữ. Sáng 13 tháng 5 năm 1961, liên quân Việt - Lào nổ súng tiến công Mường Ngạt, địch chống trả quyết liệt nhưng cuối cùng cũng bị đánh tan. Tiếp đó, liên quân Việt - Lào đánh chiếm đồn Khăm Tạt, bao vây và đánh tan phỉ, giải phóng Phu La Bút (ngày 20-5).


Ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, liên quân Việt - Lào hai lần tiến công địch ở mặt trận Pha Đông. Ngày 8 tháng 6 năm 1961, sau khi chiếm được Pha Đông, đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng điện cho đồng chí Hoàng Sâm nêu rõ:

1- Kiên quyết truy kích bọn tàn binh ở Pha Đông tập trung lại ở vùng Pha Khao, đánh bật chúng khỏi vùng này.

2- Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, thấy phỉ nhóm lại ở đâu lập tức đánh ngay.

3- Các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng lúc nào cũng chuẩn bị sẵn từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn, nếu phát hiện địch là giao nhiệm vụ đánh ngay.

4- Mạnh dạn đưa cán bộ và đội vũ trang tuyên truyền đến vùng mới giải phóng do phỉ khống chế.

5- Đồng chí Hoàng Sâm nên bàn với bạn có kế hoạch đối phó tích cực toàn diện, tránh sự thỏa mãn sau thắng Pha Đông1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd. tr. 55).


Đoàn 959 và các đơn vị quân tình nguyện tiến hành điều chỉnh lại lực lượng ở Lào. Lữ đoàn 316 cử Tiểu đoàn được tăng cường một trung đội ĐKZ 57 ly và một trung đội đại liên ở lại Mường Sài giúp bạn bảo vệ căn cứ, xây dựng lực lượng kháng chiến. Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335) rút về nước (tháng 6-1961). Sư đoàn 325 để Trung đoàn 101 kết hợp với lực lượng Đoàn 559 sửa chữa sân bay Tà Khống (Sê Pôn) và mở đường vận tải quân sự Tây Trường Sơn. Tiểu đoàn 929 được lệnh hành quân về Bản Ban làm nhiệm vụ phòng ngự và sẵn sàng cơ động đánh địch. Tiểu đoàn 929 cùng chuyên gia quân sự phối hợp với bạn bảo vệ đường số 12. Tiểu đoàn 925 (Trung đoàn 120) ở lại giúp bạn phòng thủ Noọng Hét. Lữ đoàn 324 để lại 1 đại đội bảo vệ binh trạm của Tổng cục Hậu cần tại Noọng Dẻ. Ngay sau đó, Đoàn 7 quân tình nguyện được thành lập thay thế Trung đoàn 120 và Lữ đoàn 324 về nước.


Tháng 7 năm 1961, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy Đảng Nhân dân Lào nhận định: "cách mạng Lào đang trên đà thắng lợi về chính trị cũng như quân sự, ảnh hưởng và địa vị của Pa-thét Lào ngày càng được nâng cao trong nước cũng như trên thế giới, đường lối đúng đắn của ta ngay càng được mọi tầng lớp nhân dân nhiệt liệt ủng hộ. Địch đang ở trên thế bị động và cô lập nhưng lực lượng của chúng chưa bị tiêu diệt, lực lượng ta chưa hơn hẳn địch. Cuộc đấu tranh sẽ còn lâu dài và phức tạp"1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964). Hội nghị chủ trương: "Ra sức củng cố thắng lợi, tăng cường lực lượng mọi mặt, đồng thời ra sức phát động phong trào đấu tranh của nhân dân các vùng do phái Phu-mi - Bun-ùm kiểm soát, tập hợp thật đông đảo mọi lực lượng yêu nước chống Mỹ, đòi thành lập Chính phủ Liên hiệp do Phu-ma làm Thủ tướng và có Pa-thét Lào tham gia với địa vị xứng đáng"1 (Sự kiện về quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào từ năm 1954 đến 1964).


Đúng như nhận định của Đảng nhân dân Lào, đế quốc tiếp tục viện trợ quân sự trị giá 74 triệu đô la cho hái cực hữu phản động Viêng Chăn, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Lào. PEO tự lột bộ mặt trá hình đổi thành MAAG (Phái đoàn cố vấn quân sự) với số cố vấn Mỹ vào Lào tăng lên 1.600; nhân viên quân sự Phi-líp-pin tăng 400 và hàng trăm nhân viên kỹ thuật của ngụy Sài Gòn. CIA và phỉ chui vào cài cắm trong lực lượng trung lập nhằm phân hoá lôi kéo ly khai chống lại Pa-thét Lào. Đế quốc Mỹ và ngụy Viêng Chăn vừa cố tình kéo dài đàm phán, vừa tăng cường bắt lính phát triển lực lượng, mở các cuộc tiến công hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào. Thực hiện ý đồ của Mỹ, phe cực hữu phản động đề ra kế hoạch "Xay Xa Nạ", huy động lực lượng lớn mở các cuộc tiến công vào vùng giải phóng từ Bắc đến Nam Lào. Ở Trung - Hạ Lào, 5 GM nống lấn ra vùng Lầu Ngam (Sa-ra-van), Mường Phìn (Xa Vẳn Na Khệt), Ma-hả-xây (Khăm Muộn), nhằm chiếm khu vực đường số 9, đường số 12, phá thế liên hoan vùng giải phóng từ Bắc xuống Nam, chia cắt nước Lào và bịt hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương; phối hợp với quân ngụy Sài Gòn tăng cường hoạt động biệt kích gián điệp đánh phá các khu căn cứ cách mạng, nhằm uy hiếp cách mạng miền Nam Việt Nam từ phía tây. Ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoả, GM13 và một số tiểu đoàn độc lập tiến công lấn chiếm vùng Tha Thơm, Tà Viêng, Pha Đông,... uy hiếp cách mạng Lào từ phía đông nam. Tại Băc Lào, GM11 và GM12 đánh chiếm Mường Sài, Mường Hùn, Na Mỏ, chuẩn bị phòng tuyến Nậm U kéo dài qua Nậm Bạc đến Mường Khoa để bảo vệ cố đô Luông Phra Băng và uy hiếp biên giới Tây Bắc Việt Nam. Quân phỉ Vàng Pao ở hai tỉnh Sầm Nưa va Xiêng Khoảng liên tục quấy phá khu căn cứ cách mạng và vùng giải phóng Lào.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:06:25 am »

Ngày 6 tháng 7 năm 1961, Quân ủy Trung ương ta họp bàn chủ trương về Lào. Quân ủy Trung ương nhận định: "Trong tình hình hình hiện nay, khả năng địch đánh lớn có quân đội Thái Lan và một số nước Đông Nam Á tham gia có nhiều khó khăn về chính trị, nhưng khả năng địch sẽ cố gắng tranh thủ một thắng lợi quân sự chớp nhoáng, với mục đích có hạn để làm áp lực cho đàm phán chính trị thì có nhiều. Địch có thể âm mưu đảo chính ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết hợp với hoạt động phỉ và quân nhảy dù; phối hợp với bọn phản động trong nội bộ quân đội Vương quốc để chiếm Văng Viêng, tấn công quân sự chớp nhoáng vào đường số 9 và 12"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66). Trên cơ sở đó, Quân ủy Trung ương khẳng định: "Tích cực bảo vệ vùng giải phóng, kiên quyết giữ vững Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bất kể trường hợp nào, chuẩn bị sẵn sàng để đập tan kế hoạch tấn công đường số 9 và 12 nếu địch thực hiện; tiếp tục kế hoạch tiễu phỉ một cách tích, v.v..."1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73). Đối với bộ đội ta, Quân ủy đề nghị tạm ngừng rút quân về cho đến khi tình hình chính trị ngã ngũ"2 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73).


Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, ngày 8 tháng 7 năm 1961, Bộ Tổng tham mưu điện gửi Quân 4 Quân khu Tây Bắc và đồng chí Hoàng Sâm: "Bộ đội ở đất bạn nhất là những vùng có tiếp xúc với bộ đội vương quốc cần phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, các bộ phận chuyên môn và cơ quan cũng phải trang bị vũ khí, tổ chức thành những đơn vị chiến đấu. Phải gần gũi bộ đội Vương quốc, tranh thủ cảm hoá những người tốt, nắm vững tình hình để kịp thời phát hiện những phần tử xấu và hành động phá hoại của chúng... Phải giúp Pa-thét Lào tăng cường công tác cảm hoá bộ đội Vương quốc, bảo đảm đoàn kết giữa hai bộ phận"3 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73).


Theo yêu cầu của bạn trong tình hình mới, ngày 31 tháng 7 năm 1961, Thường trực Quân ủy Trung ương ta xác định nhiệm vụ của Đoàn 959: “Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ đạo tác chiến theo các chủ trương, nghị quyết của bạn; lãnh đạo và chỉ huy bộ đội ta ở bên đó theo mệnh lệnh và chỉ thị của Quân ủy"4 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd, tr. 66, 67, 72, 73). Tháng 8 năm 1961, đại diện hai đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào tiến hành hội đàm. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Viẹt Nam nêu ý kiến với bạn: Hiện nay thắng lợi thì lớn, làm thế nào để giữ được? Trước mắt có vấn đề Chính phủ Liên hiệp, nhưng vấn đề quyết định cuối cùng là ta có lực lượng không? Ta có mạnh không? Nếu bên trên có mà dưới trống rỗng thì không được. Quân đội và cơ sở quần chúng phải thật mạnh. Dưới có mạnh thì trên mới chuyển. Cần thấy chỗ yếu. chỗ mạnh của ta, đi từng bước vững chắc, phải tập trung xây dựng lực lượng cho mạnh cho kịp. Việt Nam có rút thì ta đã mạnh lên rồi. Hiện nay Đảng Lào có thế hợp pháp rất quý để xây dựng lực lượng. Trên thế giới ngoài các Đảng đã nắm chính quyền chưa có Đảng nào có như vậy, nếu không tích cực làm sẽ mất cơ hội. Đó là thắng lợi rất lớn, quý vô cùng cần phải giữ cho được. Triển khai thực hiện nghị quyết Trung ương 7, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào quyết định khẩn trương xây dựng, tăng cường lực lượng vũ trang trước hết xây dựng các tiểu đoàn chủ lực tập trung nhằm chuẩn bị cho khả năng chiến đấu với quy mô lớn và tạo ưu thế trong thương lượng. Với sự chi viện của Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Tổng Quân ủy Lào đề nghị Đoàn 959 giúp thực hiện đề án kiện toàn 5 tiểu đoàn đã có, tổ chức thêm 10 tiểu đoàn mới và một số đơn vị chuyên môn kỹ thuật, phấn đấu đến cuối năm 1961 đưa Quân đội Pa-thét Lào phát triển lên 15 tiểu đoàn bộ binh, 36 đại đội độc lập, 70 trung đội địa phương huyện và các đơn vị binh chủng chuyên môn kỹ thuật trực thuộc Bộ chỉ huy tối cao; tăng cường quân số cho các cơ quan của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần bạn, tổ chức thêm một số cục mới trong các tổng cục để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao trong tình hình mới1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), tr. 139).


Theo yêu cầu của bạn, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959 tập trung vào công tác chuyên gia giúp bạn kiện toàn, củng cố, phát triển lực lượng vũ trang. Các tổ chuyên gia của của Đoàn 959 được phân công tập trung giúp quân đội Pa-thét Lào tổ chức các đợt tập huấn chính trị, quân sự cho cán bộ trung cấp, sơ cấp và huấn luyện bộ đội. Xuất phát từ thực trạng của quân đội Pa-thét Lào, Đoàn 959 kiến nghị Tổng Quân ủy Lào gửi cán bộ luân phiên đi học các lớp ngắn ngày ở các trường trong nước và ở Việt Nam nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ về công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý đơn vị. Qua các đợt tập huấn, huấn luyện và hoạt động thưc tiễn quân đội Pa-thét Lào, nhất là đội ngũ cán bộ đại đội tiểu đoàn đã được nâng cao một bước về năng lực lãnh đạo chỉ huy; bộ đội được huấn luyện năm vững kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu cá nhân, hiệp đồng binh chủng và công tác vận động quần chúng.


Đối với lực lượng trung lập, lãnh đạo và chỉ huy Đoàn 959 trao đổi với bạn về tình hình lực lượng trung lập và sự giúp đỡ của Pa-thét Lào đối với lực lượng trung lập. Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào qua tham khảo ý kiến chuyên gia đã quyết định tăng cường đoàn kết giúp đỡ lực lượng trung lập hơn nữa, vừa liên minh chiến đâu vừa cải tạo họ theo phương châm "tranh thủ tầng lớp trên, cải tạo tầng lớp dưới”1 (Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945-1975), Sđd, tr. 140), chủ yếu là lực lượng hạ sĩ quan, binh sĩ, từng bước bồi dưỡng cho họ về ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, gắn bó với cách mạng, chống Mỹ và tay sai. Một số đảng viên, cán bộ tiểu đội và một số chiến sĩ tốt của Pa-thét Lào được bổ sung làm nòng cốt trong các đơn vị của lực lượng trung lập. Đoàn 959 tăng thêm cán bộ cho tổ chuyên viên giúp các tiểu đoàn của lực lượng trung lập yêu nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:09:51 am »

Ngày 22 tháng 9 năm 1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho ý đề án "Tình hình và nhiệm vụ ở chiến trường Lào" do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị: "Cần nắm vững đường lối đấu tranh chính trị, nắm vững ngọn cờ hoà bình, thấy rõ tác dụng của Chính phủ Liên hiệp, của mặt trận, của việc tranh thủ bộ đội Coong Le. Đó là vấn đề đường lối". "Về công tác quân sự, cần giúp đổ bộ đội Coong Le để có thể kiên trì đi với cách mạng, giúp bộ đội Pa-thét Lào để có thể dần làm chủ được việc của mình".


Qua trao đổi, tham khảo ý kiến Đoàn 959, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào quyết định tiến hành đợt hoạt động quân sự trên cả nước nhằm tiêu diệt sinh lực, phá kế hoạch lấn chiếm vùng giải phóng của địch, ở Bắc Lào, theo đề nghị lần thứ hai của Chính phủ Phu-ma, Lữ đoàn 316 (Quân khu Tây Bắc) được lệnh điều Tiểu đoàn 4 trở lại Mường Sài cùng Tiểu đoàn 3 và lực lượng Pa-thét Lào, trung lập đánh địch.


Qua một số trận chiến đấu quyết liệt, liên quân Việt - Lào đã đánh tan quân địch ở đông nam Phong Xa Lỳ, đuổi chúng khỏi khu vực Mường Sài và hình thành thế bao vây chúng ở Nậm Thà. Ở Trung Lào, liên quân Việt - Lào gôitt Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) quân tình nguyện, các tiểu đoàn 14, 17 Pa-thét Lào, và các đơn vị địa phương liên tục đánh địch trong hơn một tháng ở Thát Lài, Tăng Vai, điểm cao 166... loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên thuộc GM15 và GM17, buộc chúng phải rút về thị xã Sa-ra-van và Xa Vẳn Na Khệt. Tại hai tỉnh Sầm Nưa và Xiêng Khoảng, liên quân Việt - Lào đánh chặn địch ở Tha Thơm, Văng Viêng, quét phỉ ở Chôm Văn, Giang Tơi (nam Phong Xa Lỳ), diệt các vị trí Noọng Pét, Cha Mừn; giải phóng khu vực nam bắc đường số 7 (Xiêng Khoảng). Ở các địa phương vùng sau lưng địch, các cơ sở Đảng và mặt trận đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, nhất là ở nam bắc đường số 9, khôi phục nhiều căn cứ du kích ở tây Viêng Chăn, Bô-ri-khăm, Bô Li Khăm Xay và Lầu Ngam, Hín Lạt (Hạ Lào); phát triển cơ sở cách mạng ở Xay Nha Bu Li.


Cuối năm 1961, hình thái chiến trường Lào chuyển biến ngày càng có lợi cho cách mạng. Quân phái hữu phản động từ chỗ ở thế tiến công đã buộc phải bỏ dở kế hoạch "Xay Xa Nạ" chuyển sang phòng ngự.


Để cứu vãn tình thế nguy khốn, đầu năm 1962, Mỹ - ngụy Viêng Chăn tập trung các binh đoàn cơ động về Luông Nậm Thà (Thượng Lào), đồng thời tăng cường phỉ, biệt kích quấy phá các vùng giải phóng, nhất là ở Xiêng Khoảng và Sầm Nưa; phối hợp với biệt kích Mỹ - ngụy Sài Gòn quấy phá hành lang chiến lược Đông Dương ở Trung - Hạ Lào. Mỹ - ngụy Viêng Chăn dồn quân đến Nậm Thà nhằm xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự mạnh làm bàn đạp chiếm lại toàn bộ Thượng Lào, uy hiếp Tây Bắc Việt Nam, khống chế một phần biên giới với Trung Quốc, bảo vệ tuyến Đông Bắc Thái Lan của khối SEATO, đồng thời gây áp lực phá hội nghị hiệp thương ba phái và Hội quốc tế Giơ-ne-vơ về Lào.


Nhằm ngăn chặn hành động quân sự mới của địch, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào chấp thuận đề nghị của Đoàn 959 quyết định đẩy mạnh quân sự trong Xuân Hè 1962, trước mắt tiêu diệt địch lấn chiếm Nậm Thà để hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao.


Ngày 16 tháng 1 năm 1962, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng điện gửi đồng chí Bằng Giang - Tư lệnh Quân khu Tây Bắc nêu rõ: Nhiệm vụ quân sự hiện tại của bộ đội là tích cực tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững những khu vực và mục tiêu chủ yếu đã chiếm và xâ dựng căn cứ, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, giải phóng đất đai. "Khi đánh Nà Mỏ cần tranh thủ cho được việc tiêu diệt sinh lực địch. Muốn vậy phải rút kinh nghiệm những trận chiến đấu vừa qua, phải tổ chức vu hồi sau lưng địch, kết hợp bao vây gần với bao vây xa, bí mật phục kích trên những đường mà địch có thể rút chạy hoặc cơ động từ trong ra ứng cứu. Nếu có điều kiện thì nhanh chóng thọc sâu vào tiêu diệt những mục tiêu của địch đang bị bao vây ở chính diện. Trường hợp tranh thủ được thắng lợi và địch tan rã có thể giải phóng Luông Nậm Thà”1 ().


Tiếp đó, ngày 28 tháng 1 năm 1962, Bộ Tổng tham mưu điện chỉ đạo Quân khu Tây Bắc, Quân khu 4. Đối với Quân khu Tây Bắc và đồng chí Chu Phương Đới (Sư trưởng Sư đoàn 316), bức điện nêu rõ: "Luông Nậm Thà, địch đã tăng cường lực lượng; nếu bộ đội đang đánh mà địch tan, bỏ chạy, ta có điều kiện thuận lợi chiếm Luông Nậm Thà thì cứ tiến hành theo kế hoạch cũ. Nếu ta đang chuẩn bị tấn công thì tiếp tục chuẩn bị, nhưng chưa tổng công kích vội, chờ chỉ thị của Bộ". Với Quân khu 4: Hiện nay, địch đang tập trung lực lượng đối phó ở Nậm Thà, đồng thời chúng vẫn tập trung lực lượng chủ yếu và dự địng tiếp tục mở cuộc tiến công vào đường 12. Quân khu tranh thủ lúc địch tập trung lực lượng, tấn công tiêu diệt một bộ phận địch ở đường 12. Trong tác chiến, chú ý tập trung ưu thế diệt một bộ phận địch, đừng ham ăn to”1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập II, Sđd, tr. 144).


Cùng thời gian này, Bộ Tổng tham mưu điện gửi đồng chí Lê Chưởng - Trưởng đoàn Đoàn 959, chỉ rõ: Hiện nay địch rút lực lượng ở Hạ Lào, Viêng Chăn để tăng cường cho hướng đường số 12 và đối phó với việc ta đánh gần Nậm Thà, do đó vùng địch hậu ở Hạ Lào, Viêng Chăn sơ hở; ta cần giúp bạn đẩy mạnh hoạt động ở địch hậu, chú ý vùng Hạ Lào, Viêng Chăn, Huội San, dọc đường số 13.


Ngày 20 tháng 2 năm 1962, Quân ủy Trung ương ta chỉ thị cho quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào: Tranh thủ xây dựng lực lượng cho bạn, giúp bạn củng cố căn cứ địa, tích cực tiêu diệt địch bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động quân sự vùng sau lưng địch, củng cố liên minh với lực lượng Coong Le nhằm làm cơ sở cho đấu tranh chính trị, luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị đối phó với khả năng địch đánh lớn. Trong việc phòng ngự giữ khu giải phóng, lấy tiêu diệt địch làm chính. Phát triển chiến tranh du kích ở địch hậu, chú trọng Hạ Lào, chống càn đánh giao thông, tiễu phỉ có trọng điểm, chú trọng bảo vệ đường giao thông của ta.


Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, những tháng đầu năm 1962, Bộ tư lệnh Quân khu 4 tập trung lực lượng mạnh gồm các tiểu đoàn 927, 929, 9 của Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 44, hai khẩu pháo 105 ly đại đội cao xạ 37 ly phối hợp với các tiểu đoàn 16 18 đại đội của Tiểu đoàn 17 Pa-thét Lào và 1 tiểu đoàn trung lập Vương quốc tham gia phòng thủ Ma-hả-xây Nhom Ma Rát, tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ con đường huyết mạch số 12, hỗ trợ cho bạn đấu tranh chính trị, ngoại giao đẩy mạnh hoạt động trên các chiến trường khác.


Tháng 3 năm 1962, Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ về Lào và Hội nghị ba phái Lào ở Na Mon phải tạm ngừng. Đàm phán chính trị bế tắc. Phu-ma bỏ đi Pháp gây hoang mang trong hàng ngũ trung lập, có người muốn thỏa hiệp với địch. Dự kiến khả năng phản ứng của Mỹ - ngụy Viêng Chăn và nhằm giảm khó khăn cho bạn trong mùa mưa sắp đến, hai Bộ Chính trị Việt Nam và Lào đã trao đổi quyết định mở chiến dịch giải phóng Nậm Thà.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:11:25 am »

Tỉnh Luông Nậm Thà cách Thủ đô Viêng Chăn 370 km về phía bắc, có đường biên giới chung với Trung Quốc, Miến Điện (nay là Mi-an-ma), Thái Lan. Địa hình trong tỉnh phần lớn là núi cao trung bình hơn 1.000 m, trong đó phía đông có mỏm cao tới 1.620 m và 1.820 m xen kẽ rừng rậm, có thung lũng Nậm Thà và thung lũng Mường Xinh là hai cánh đồng lúa lớn nhất vùng Thượng Lào. Thị xã Nậm Thà nằm ở phần nam thung lũng Nậm Thà; thị trấn Mường Xinh nằm trong thung lũng Mường Xinh và cách Nậm Thà 30 km về phía tây bắc.


Mỹ - ngụy đã tập trung ở Nậm Thà - Mường Xinh một lực lượng lớn, gồm 8 tiểu đoàn thuộc GM11, GM15, GM18 và 3 tiểu đoàn chiếm đóng (BV13, BV15, BV18) với tổng quân số lên tới 5.600 tên, cùng 6 khẩu pháo 105 ly, 7 khẩu sơn pháo 75 ly, đặt dưới sự chỉ huy của quân khu Bắc.


Ngày 8 tháng 3 năm 1962, đồng chí Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó điện gửi Quân khu Tây Bắc, đồng chí Chu Phương Đới, đồng chí Hồng Kỳ và Đoàn 959 nêu rõ:

"1. Nhờ những cố gắng khắc phục khó khăn hoàn thành hiệm vụ của ta, địch phải chuyển từ thế tiến công hai mặt lên Mường Sài về co cụm ở Pak Lung - Nậm Thà, thu hút trên 1/6 lực lượng cơ động. Do đó, các mặt khác ở Trung - Hạ Lào địch không thể hoạt động lớn, hầu như ngừng tại chỗ. Bạn có nhiều thời cơ đi sâu vào lòng địch hoạt động mạnh, diệt địch, mở rộng và củng cố cơ sở. Nếu ta giữ được địch ở đó đến mùa mưa thì tác dụng càng lớn.    

2. Phương châm hoạt động của ta là giữ vững trận địa hiện tại nhằm, chỗ sơ hở đánh chắc thắng, tạo điều kiện khống chế sân bay, cụ thể: giữ vững trận địa then chốt, đánh lui mọi cuộc tiến công của địch, làm cho chúng hoang mang, suy yếu dần; tổ chức một số cuộc tiến công chắc thắng, có chuẩn bị chu đáo, không nên đánh nhiều nơi một lúc, như vậy mới không ảnh hưởng chính trị; tạo điều kiện để tiếp tục khống chế sân bay.

3. Tiếp tục chuẩn bị chiến trường, nghiên cứu sẵn kế hoạch, nhất là nắm địch để quá trình chiến đấu có thể đánh lớn hơn nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và làm cho số còn lại tan rã.

4. Tích cực giúp bạn về mọi mặt làm cho bạn trưởng thành, phải tận dụng khả năng của bạn; bàn với bạn tìm cách liên lạc và chỉ đạo các trung đội địa phương hoạt ở vùng Nậm Thà"1 (Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập II, Sđd,tr. 166).

Cùng ngày 8 tháng 3, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng điện gửi Bộ chỉ huy Mặt trận Luông Nậm Thà: "Cần hiểu rõ và nắm vững quyết tâm của và tác dụng của các trận đánh trước mùa mưa ở Luông Nậm Thà”.   


Ngày 28 tháng 3 năm 1962, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy tối cao Pa-thét Lào thống nhất hạ quyết tâm mở chiến dịch Nậm Thà (mật danh chiến dịch XYZ). Mục đích chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực, giải phóng thị xã Nậm Thà và thị trấn Mường Xinh, phá thế uy hiếp của chúng ở Thượng Lào, cô lập Luông Phra Băng, phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị, hỗ trợ cho Hội nghị hiệp thương ba phái ở Cánh Đồng Chum và Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào, đưa cách mạng Lào tiến lên một bước mới. Đối với quân tình nguyện Việt Nam, thể nghiệm tiến hành chiến dịch đánh rừng núi sau tám năm xây dựng, huấn luyện trong hoà bình và tạo điều kiện cho bộ đội Pa-thét Lào tham gia tổ chức, chỉ huy chiến đấu, cùng nhau học tập, trưởng thành trong thực tế”. Ngày 7 tháng 4 năm 1962, Quân ủy Trung ương ta ra quyết định (số 40/QU-TW) thành lập Đảng ủy Mặt trận Thượng Lào gồm 5 đồng chí, do Thiếu tướng Trần Độ làm Bí thư. Ngày 15 tháng 4 năm 1962, Bộ tư lệnh chiến dịch được thành lập: Phía Việt Nam, Thiếu tướng Nguyên Bằng Giang (Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Bắc Lào) làm Tư lệnh, Thiếu tướng Trần Độ (Chính ủy quan tình nguyện Việt Nam ở Bắc Lào) làm Chính ủy; thượng tá Nguyễn Hữu An - Tham mưu trưởng; thượng tá Dương Cự Tẩm - Phó chủ nhiệm Chính trị, trung tá Bùi Phùng, Chu nhiệm Hậu cần. Phía Lào có đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo Bun Phăn - Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng. Các cơ quan Quân khu Việt Bắc tách một bộ phận giúp các Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch.


Lực lượng tham gia chiến dịch có Lữ đoàn bộ binh 316 đứng chân ở địa bàn chiến dịch, Lữ đoàn 335, Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 330), 1 tiểu đoàn sơn pháo 75 ly (13 khẩu) 1 tiểu đoàn súng cối 120 ly (12 khẩu), 1 tiểu đoàn phòng không 12,7 ly (12 khẩu), Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào, đại đội địa phương Na Mỏ, đại đội địa phương Nậm Thà, một số trung đội địa phương huyện và dân quân du kích các xã. Tổng quân số tham gia chiến dịch khoảng 7.800 người.


Lữ đoàn 316 được chỉ định làm lực lượng chủ yếu. Hai lữ đoàn 316 và 335 tạm thời thống nhất lãnh đạo, chỉ huy như một đơn vị do các đồng chí Lê Vũ - Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 316 làm Bí thư Đảng ủy, Chu Phương Đới - Tư lệnh Lữ đoàn 316 chỉ huy.


Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tập trung binh lực và binh khí tiêu diệt từng bộ phận quân địch, dùng bộ phận nhỏ thọc sâu, vu hồi đánh vào bên sươn, phía sau, kết hợp tác chiến với vận động binh lính để nhanh chóng làm tan rã quân địch.


Đội hình chiến dịch được tổ chức thành một thê đội lớn và một đội dự bị. Lữ đoàn 316, lực lượng chủ yếu của thê đội lớn được tổ chức thành hai thê đội nhỏ. Thê đội nhỏ thứ nhất gồm Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn 316), tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335). Thê đội nhỏ thứ hai gồm Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào và Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn 335). Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 330) làm lực lượng dự bị chiến dịch.


Công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch gặp nhiều khó khăn do mặt trận cách xa hậu phương hơn 500 km. Vũ khí, đạn, lương thực được vận chuyển bằng máy bay từ Việt Nam sang. Bộ tư lệnh chiến dịch huy động 900 tân binh, pháo thủ các đơn vị và hàng trăm dân công nước bạn lập các đội vận tải ô tô, ngựa thồ, xe đạp đưa hàng từ bãi đỗ của máy bay ra mặt trận; đồng thời quyết định giảm định lượng ăn của mỗi cán bộ, chiến sĩ xuống còn 5 đến 4 lạng gạo một ngày để dự phòng lương thực cho chiến đấu dài ngày.


Thực hiện kế hoạch của Bộ tư lệnh chiến dịch, ngày 10 tháng 3 năm 1962, Lữ đoàn 335 xuất phát từ Mộc Châu hành quân bằng cơ giới lên Điện Biên, rồi hành quân bộ sang Lào. Ngày 24 tháng 4 năm 1962, Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) nổ súng tiến công các điểm cao 1620, 1680 thuộc ngoại vi Nậm Thà, đánh tan tiểu đoàn dù 55 của địch.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:12:43 am »

Tối 27 tháng 4 năm 1962, tại cao điểm 1620, Đảng ủy Lữ đoàn 316 họp, ra nghị quyết triển khai mệnh lệnh tác chiến của Bộ tư lệnh chiến dịch, hạ quyết tâm lãnh đạo chiến đấu: "Tập trung binh hoả lực tiêu diệt địch ở khu đông nam từ phía nam suối Nậm Thung đến sườn nam đồi Xanh, Nà Noi, Nậm Thà. Phối hợp cùng mũi thứ yếu ở hướng tây bắc và mũi thọc sâu ở tây nam tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã toàn bộ quân địch ở Nậm Thà, giải phóng Luông Nậm Thà". "Nhiệm vụ của Lữ đoàn 316 ở hướng chủ yếu chiến dịch rất quan trọng quyết định thắng lợi chung của toàn mặt trận. Nó đánh mở màn đồng cũng là kết thúc chiến dịch, cho nên toàn thể cán bộ, chiến sĩ phải nêu cao quyết tâm đã đánh là phải đảm bảo chắc thắng"1 (Sư đoàn 316, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1968, tr. 78, 79).


Quán triệt nghị quyết của Đảng ủy và mệnh lệnh chiến đấu của Lữ đoàn, Phòng Chính trị Lữ đoàn 316 tổ chức giáo dục mục đích, ý nghĩa chiến dịch, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tinh thần kiên quyết tiến công, tích cực tiêu diệt địch. Các đơn vị xây dựng quyết tâm chiến đấu tập tung vào các nội dung: Nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Truy kích thật dẻo dai mãnh liệt. Tham gia vận tải, thực hành tiết kiệm đan dược, lương thực. Không coi thường địch, không đánh giá cao địch. Bảo đảm đoàn kết nội bộ và đoàn kết chiến đấu với bạn. Sau một thời gian làm việc khẩn trương, công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành. Theo kế hoạch, đêm 2 tháng 5 năm 1962 liên quân Việt - Lào bắt đầu chiến dịch tiến công Nậm Thà. Lực lượng trên hướng phối hợp nổ súng trước. Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn 335) cùng Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào được tổ chức thành một trung đoàn hỗn hợp do hai đồng chí Hùm-pheng (Lào), Quang Vinh (Việt Nam) chỉ huy nổ súng tiến công Mường Xinh. Tiểu đoàn 2 đánh đồn quân sự; tiểu đoàn 4 đánh sân bay; Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào làm dự bị. Địch tan rã, rút chạy (hơn 100 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó có tên chỉ huy GM11 bị bắt sống). Đến 9 giờ ngày 3 tháng 5, liên quân Việt - Lào hoàn toàn làm chủ Mường Xinh. Lữ đoàn 335 để lại một bộ phận của Tiểu đoàn 2 cùng Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào tiếp quản thị trấn, số còn lại cùng Tiểu đoàn 4 phát triển tiến công truy kích địch.


Trên hướng chính diện, 3 giờ 32 phút ngày 6 tháng 5 năm 1962, pháo binh mặt trận bắt đầu bắn vào Nậm Thà1 (Bị mất Mường Xinh, viên tướng Bun Lợt - Tổng Tham mưu trưởng quân ngụy Viêng Chăn lên Nậm Thà quyết định đúng 4 giờ sáng  ngày 6 tháng 5 năm 1962 tập trung toàn bộ pháo bắn hết cơ số đạn vào các vị trí đối phương rút quân. Như vậy, ta đã mở cuộc tiến công sớm 28 phút) Quân địch trong thị xã và ngoài tiền duyên đối phó rời rạc. Đến 4 giờ, nhận được tin quân địch có dấu hiệu rút lui, Lữ đoàn 316 lập tức tổ chức xung phong. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 4 (Lữ đoàn 316) cùng Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) tiến công Nậm Thà. Quân địch bắn trả dữ dội. Trong trận đánh đồn Bun Chăn, chiến sĩ Nguyễn Văn Lới (Đại đội 17 Tiểu đoàn 4 Lữ đoàn 316) một mình dùng lựu đạn tiếp cận diệt cụm hoả lực đại liên của địch và dũng cảm hy sinh tạo điều kiện cho đơn vị xung phong chiếm toàn bộ mục tiêu. Ngay sau đó, Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 316) phối hợp tiến công đồi Tranh. Mũi Tiểu đoàn 4 bị pháo binh địch ngăn chặn. Thiếu úy Phạm Quốc Ái - Chính trị viên phó Đại đội 3 (Tiểu đoàn 4) anh dũng hy sinh trong lúc vừa cứu chữa vừa lấy thân mình che chở thương binh dưới làn đạn địch. Mũi Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) đánh đồi Xanh lúc đầu phát triển nhầm hướng ngược về tiền duyên ta. Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) phải quay trở lại, được pháo binh mặt trận yểm trợ, lợi dụng địa hình, địa vật, hỗ trợ nhau vượt qua hoả lực dày đặc của địch. Chiến sĩ Đoàn Kim Mai dùng B40 và các loại vũ khí cướp được của địch bắn chế áp và diệt các ổ hoả điểm địch, bảo đảm cho đồng đội xung phong.


8 giờ 20 phút Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: Hướng tiến công của Lữ đoàn 316 phát triển thuận lợi; địch có khả năng sẽ rút chạy, vì vậy cần nhanh chóng thọc sâu vào tung thâm phòng ngự, chia cắt tiêu diệt địch. Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định: Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 335) tiếp tục bao vây, đột phá tiêu diệt địch ở đồi Xanh; Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 316) chọc thẳng vào tung thâm bao vây tiêu diệt truy kích địch; Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335) tiến theo hướng Bun Chăn, Nà Noi vào tung thâm Nậm Thà. Chấp hành mệnh lệnh Tiểu đoàn 1 (Lữ đoàn 316) thọc vào tung thâm đánh chiếm khu hành chính. Quân địch phóng hoả đốt cháy nhà cửa, tài liệu, chống cự yếu ớt rồi rút chạy. Lập tức Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 335) được lệnh bám sát truy kích địch rút chạy về Viêng Phu Kha. Đến 9 giờ 23 phút, trừ khu đồi Cháy, còn lại liên quân Việt - Lào đã làm chủ thị xã Nậm Thà. Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào tiến vào tiếp quản thị xã.


12 giờ 30 phút ngày 6 tháng 5 năm 1962, Bộ tư lệnh chiến dịch chuyển vào Nậm Thà. Thường vụ Đảng ủy mặt trận nhận định: Ta giải phóng Nậm Thà tương đối nhanh, nhưng chưa tiêu diệt được sinh lực địch; song cơ hội diệt địch vẫn còn. Thường vụ chỉ thị toàn mặt trận nhanh chóng, kiên quyết truy quét địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ định Ban chỉ huy truy kích do thượng tá Nguyễn Hữu An - Tham mưu mặt trận chỉ huy cùng với Bộ tư lệnh Lữ đoàn 316 chưc truy kích địch; Lữ đoàn 335 làm nhiệm vụ truy tàn binh địch ở Luông Nậm Thà.


Chấp hành mệnh lệnh, Bộ tư lệnh Lữ đoàn 316 sử dụng Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 4, được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 330), do trung tá Ngô Trung - Tham mưu phó lữ đoàn chỉ huy truy kích địch. Các đồng chí Tư lệnh và Chính ủy lữ đoàn, một số cán bộ cơ quan tiến theo các mũi để tăng cường chỉ huy, động viên bộ đội chiến đấu với phương châm "thời gian là lực lượng và chiến công", ngay từ chiều 6 tháng 5, các mũi đã xuất kích, đuổi kịp, đánh tan địch ở Sa La, Xan Hốp, Nậm Xinh, Viêng Phu Kha, Mộc Tiên, Bản Son, Ta Pa, Ta Nam, Bản Peng, Xiêng Kon. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1962, các mũi truy kích của Lữ đoàn 316 tôn trọng luật pháp đã dừng lại tại Ta Pa và Xiêng Kon. Tàn quân địch chạy sang đất Thái Lan. Các đơn vị quân tình nguyện chuyển sang giúp bạn xây dựng cơ sở, bảo vệ vùng giải phóng.


Toàn chiến dịch, liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.800 tên địch thuộc lực lượng cơ động chiến lược của quân ngụy Viêng Chăn, trong đó GM11 bị diệt hoàn toàn, GM15 và GM18 bị thiệt hại nặng; giải phóng toàn bộ khu vực Nậm Thà rộng 8.000 km2 với hơn 7 vạn dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2021, 09:13:31 am »

Ngay sau chiến dịch, Quân ủy Trung ương ta gửi điện khen ngợi bộ đội tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào: "Các đồng chí đã anh dũng chiến đấu, đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, đoàn kết với quân đội và nhân dân nước bạn, luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng va phẩm chất cao quý của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, tỏ ra xứng đáng với lòng tin yêu và sự giáo dục của Đảng, của nhân dân và quân đội ta, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân và quân đội bạn.


Các đồng chí đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào thắng lợi to lớn của cách mạng Lào, làm xoay chuyển tình thế có lợi cho cách mạng Lào"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1044-2000), Sđd, tr. 941).


Tổng kết chiến dịch Nậm Thà, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng đánh giá: "Đó là màn chót của giai đoạn thử thách của địch... Thắng lợi Nậm Thà cũng là then chốt đẩy cục diện Lào đang đấu tranh chính quân sự xen kẽ chuyển sang giai đoạn mới là hoà bình phát triển tiến bộ trong đấu tranh chính trị hợp pháp của cách mạng Lào".


Lữ đoàn 316, lực lượng chủ yếu lập được nhiều thành tích xuất sắc được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng 4 Huân chương Quân công hạng ba cho lữ đoàn, Tiểu đoàn 3 bộ binh, Tiểu đoàn 14 pháo binh và Đại đội 28 thuộc Tiểu đoàn 14; 44 Huân chương Chiến công (15 hạng nhất, 12 hạng nhì, 17 hạng ba) cho toàn bộ các tiểu đoàn, hầu hết các đại đội và ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần lữ đoàn; 4 cán bộ, chiến sĩ được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất, 22 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công hạng nhì và 94 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công hạng ba.


Phát triển thắng lợi của chiến dịch Nậm Thà, các đơn vị quân tình nguyện tham gia chiến dịch chuyển sang giúp bạn củng cố vùng giải phóng. Phòng Chính trị Lữ đoan 316 phối hợp với địa phương tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền do các chiến sĩ Pa-thét Lào làm nòng cốt toả đi hoạt động ở các vùng mới giải phóng. Bộ đội tình nguyện sát cánh cùng chiến sĩ Pa-thét Lào xuống các làng bản ổn định tinh thần nhân dân, giải thích đường lối chính sách của Mặt trận Lào yêu nước, giúp bà con hiểu cách mạng và nghĩa vụ quốc tế cao cả của quân tình nguyện Việt Nam. Các đội tuyên truyền giúp bạn thực hiện chủ trương vận động và phát động quần chúng kêu gọi người thân (chồng, con, anh em) đi lính cho địch còn đang lẩn trốn trong rừng trở về nhà làm ăn. Được các đội tuyên truyền giác ngộ và hướng dẫn, chỉ trong thời gian ngắn, đồng bào đã động viên được hơn 100 binh lính các loại mang theo 42 súng bộ binh và 2 đại liên trở về làng bản. Vùng giải phóng dần ổn định, nhân dân vui mừng yên tâm xây dựng ổn định cuộc sống.


Tại các địa phương khác, lực lượng vũ trang cách mạng Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với chiến dịch Nậm Thà, gây cho địch nhiều tổn thất. Ở Trung Lào, Trung đoàn 101 (Lữ đoàn 325) quân tình nguyện cùng một bộ phận của hai tiểu đoàn 14 và 17 Pa-thét Lào phát triển thắng lợi của Mặt trận Đường 9, tiến xuống phía nam liên tiếp diệt các vị trí Xiêm Pạ, Com-măng-đô, Tam Luật, La Vi, Ta Nin, Chả Côi, Sa Mọi, Tà Lum, mở rộng vùng giải phóng xuống miền Đông Bắc tỉnh Sa-ra-van và tỉnh Tà-vên-oọc, tạo thế cho tuyến đường vận tải quân sự Tây Trường Sơn tiếp tục phát triển về phía nam.


Bị thất bại ở Nậm Thà, đêm 11 tháng 5 năm 1962, tống thống Ken-nơ-đi họp khẩn cấp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định "sẵn sàng can thiệp vào Lào". Ngày 13 tháng 5 năm 1962, đế quốc Mỹ huy động tàu chở cấp tốc 2.000 lính thủy đánh bộ đổ bộ vào đông bắc Thái Lan tăng cường lực lượng cho khối SEATO. Sư đoàn bộ binh số 3 của Mỹ đóng tại Nhật Bản được lệnh báo động. Các nước đồng minh Mỹ sẵn sàng can thiệp gây áp lực đối với lực lượng cách mạng yêu nước Lào. Mặc dù vậy, chính quyền Mỹ tính toán nếu đưa quân vào Lào thì chiến tranh sẽ mở rộng, khó tránh khỏi sự phản ứng của các nước xã hội chủ nghĩa và dư luận tiến bộ trên thế giới. Hơn nữa, Mỹ đang gặp khó khăn, bước đầu bị thất bại ở miền Nam Việt Nam, nên cuối cùng Mỹ - ngụy Viêng Chăn một lần nữa phải chấp nhận giải pháp giải quyết vấn đề Lào bằng thương lượng.


Ngày 12 tháng 6 năm 1962, Hiệp định Cánh Đồng Chum được ký kết, Chính phủ Liên hiệp ba phái được thành lập do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Phó thủ tướng và quyết định lấy ngày 24 tháng 6 năm 1962 ngừng bắn chính thức trên toàn quốc.


Ngày 2 tháng 7 năm 1962, sau một thời gian gián đoạn, Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ về Lào có 14 nước tham gia họp trở lại. Ngày 23 tháng 7 năm 1962, Hiệp định Giơ- ne-vơ về Lào được ký kết. Các nước tham gia ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ thừa nhận tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.


Đến đây, các đơn vị quân tình nguyện cùng chuyên gia quân sự Việt Nam đã trải qua hơn hai năm (1960-1962) sát cánh với bạn Lào chòng chiến lược "chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Trên các lĩnh vực hoạt động, quân tình nguyện cùng chuyên gia quân sự Việt Nam đã phát cao độ tinh thần trách nhiệm, hết lòng chi viện giúp đỡ bạn xây dựng lực lượng và củng cố căn cứ địa kháng chiến, chuyển hướng đấu tranh chống Mỹ - ngụy Viêng Chăn, góp phần cùng quân đội Pa-thét Lào, lực lượng trung lập tiến bộ và nhân dân các bộ tộc Lào giành thắng lợi quan trọng về quân sự, góp phần vào việc ký Hiệp định Cánh Đồng Chum, thiết lập Chính phủ Liên hiệp ba phái và ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào, tạo nên bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Lào; đồng thời tạo ra thế phối hợp giữa hai chiến trường Lào, miền Nam Việt Nam sát cùng nhau tiến lên đánh bại mọi âm mưu và hành động leo thang chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM