hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 06:55:32 am » |
|
* Bị ta truy quét mạnh, cuối tháng 3 năm 1979, lực lượng tàn quân chủ yếu của địch khỏang 8.000 tên co cụm về phía tây các tỉnh Bát Tam Băng, Pua Sát, dựa vào vùng rừng núi hiểm trở gần biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, lập căn cứ, hoạt động chống phá cách mạng. Cơ quan trung ương của Pôn Pốt đóng ở thung lũng Tà Sanh, Săm Lốt cách thị xã Bát Tam Băng khỏang 60km về phía tây nam, cách đường biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan 12km; bộ tổng tham mưu và căn cứ hậu cần ở Tà Sanh, Lếch, Kra Vanh; quân khu tây bắc và tàn quân các nơi chạy về ở Mung Ru Sey, Ph Lếch, Tà Nghen, Múc Ria, Ta Lô, Ph Lia bảo vệ vòng ngoài. Hai lữ đoàn biên phòng, lực lượng thanh niên xung phong, tàn quân quân khu bắc cụm lại ở Lô Via, nam Ni Mít, nam Poi Pét và bắc Pai Lin. Được bọn phản động quốc tế hà hơi tiếp sức, tàn quân Pôn Pốt ráo riết phản kích gây nhiều khó khăn cho chính quyền cách mạng và nhân dân các tỉnh Bát Tam Băng, Si Xô Phôn, Pua Sát, Ốt Đô Miên Chay. Vì vậy, việc tiêu diệt các căn cứ phía tây, phá tan cơ quan đầu não tàn quân, triệt phá các căn cứ hậu cần của địch sớm được Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia và Bộ chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam hoạch định. Trong chiến dịch truy quét lớn này, Quân đoàn 3 được giao nhiệm vụ: tập trung lực lượng đánh chiếm làm chủ các căn cứ địch ở phía tây Bát Tam Băng, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, diệt và bắt chỉ huy đầu não ở Tà Sanh, Săm Lốt; sau đó hiệp đồng cùng Quân đoàn 4, Quân khu 9 và các đơn vị Hải quân tiêu diệt, làm tan rã, thu hồi, triệt phá toàn bộ cơ sở vật chất của địch ở tây Pua Sát. Vừa chiến đấu, vừa giải phóng nhân dân, giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Thực hiện nhiệm vụ mới, đầu tháng 3 năm 1979 Bộ tư lệnh Quân đoàn nhanh chóng điều động Sư đoàn 31 đang hoạt động ở Xiêm Riệt và các đơn vị binh chủng ở khu vực đường số 6 về Bát Tam Băng cùng Sư đoàn 10 mở chiến dịch truy quét tây Bát Tam Băng. Ngày 13 tháng 3, sở chỉ huy Quân đoàn cũng chuyển lên nam thị xã Bát Tam Băng kịp thời chỉ huy chiến dịch. Ngày 16 tháng 3, trên đường công tác, đoàn xe của Bộ tư lệnh và cơ quan Quân đoàn bị địch phục kích ở Ph Tốc cách thị xã Bát Tam Băng 40km về phía bắc. Mặc dù lực lượng địch bị đánh tan, nhưng đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn - Tư lệnh Quân đoàn bị thương nặng và ngày hôm sau đã hy sinh. Đây là một tổn thất lớn đối với Quân đoàn 3 1. Cuộc đời chiến đấu dũng cảm kiên cường, tấm gương tận tụy phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân và nghĩa tình quốc tế cao đẹp hơn 30 năm của đồng chí Tư lệnh đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ toàn binh đoàn quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà đồng chí để lại. Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn do Thiếu tướng Phạm Sinh làm Bí thư kiêm Chính ủy và đại tá Nguyễn Quốc Thước làm Tư lệnh Phó Tham mưu trưởng, chiến dịch truy quét vào hang ở cuối cùng của địch vẫn được thực hiện đúng kế hoạch. Ngày 24 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra lệnh đánh chiếm các vị trí bàn đạp, mở màn chiến tích truy quét tây Bát Tam Băng. Sư đoàn 10 dùng Trung đoàn 66 đánh chiếm Chi Săng, Păng Rô Lin; Trung đoàn 24 luồn sâu chiếm lĩnh bàn đạp ở bắc Săm Lốt. Su đoàn 31 sử dụng Trung đoàn 977 truy quét mở rộng địa bàn Căng Hót, Thơ Min giữ hành lang; Trung đoàn 922 đánh những trận nhỏ thu hút địch ở nam Tà Nghen; Trung đoàn 866 cơ động vào chiếm bàn đạp ở xung quanh Tà Sanh. Được nhân dân giúp đỡ, Trung đoàn 866 tổ chức một đoàn xe 5 chiếc, chở 100 thùng phi nước cơ động theo đội hình và được chị Xô Phi dũng cảm ngồi trên xe thiết giáp dẫn đường đến đúng mục tiêu. Ngày 26 tháng 3, nhiệm vụ đánh chiếm bàn đạp hoàn thành. Sáng ngày 27 tháng 3, cuộc tiến công vào Tà Sanh, Săm Lốt bắt đầu. Trên hướng Tà Sanh, Trung đoàn 866 nổ súng lúc 6 giờ 30 phút. Pháo 105mm của ta bắn chuẩn bị 100 quả đạn vào căn cứ địch, gây nhiều đám cháy lớn. Lợi dụng kết quả bắn của pháo binh, Tiểu đoàn 3 cùng 4 xe tăng do tiểu đoàn trưởng Mai Nga chỉ huy từ hướng đông tiến gần mục tiêu thì bị vướng bãi mìn và xe tăng địch ngăn chặn. Lập tức trung đoàn trưởng Bùi Thanh Điếm tổ chức lại đội hình, dùng một mũi đánh vu hồi kết hợp tiến công mạnh ở chính diện. Bị đánh dồn dập cả ở phía trước và phía sau, quân địch chống trả yếu dần rồi tháo chạy, nhưng đều rơi vào các trận địa đón lõng của ta. Lúc 14 giờ ngày 27 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Tà Sanh. Hơn 700 tên địch thuộc trung đoàn cận vệ Phnôm Pênh bảo vệ cơ quan trung ương bị loại khỏi vòng chiến đấu, 140 kho vũ khí phương tiện chiến tranh bị tịch thu. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 866 mở rộng truy quét chiếm đài phát thanh và cơ quan trung ương địch ở phum Tức Sóc, diệt đoàn xe của cơ quan đầu não địch ở Tắc Tuôn thu nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có 2 con dấu của ''bộ ngoại giao'' và vùng 4, hộ chiếu của Iêng Xary. Trùm Khơ Me đỏ Pôn Pốt chạy trốn vào rừng mới thóat thân. Phối hợp chặt chẽ với đòn tiến công chính vào Tà Sanh, Trung đoàn 922 đẩy mạnh tiến công địch ở Cô Cô Lô; Trung đoàn 977 tiến đánh Sô Nô và truy quét ở Chư Lắc, Sàm Rông, Ph Lia, chiếm Kra Vanh, phát triển lên phum Yên. Trong trận Sô Nô, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 977 do tiểu đoàn trưởng Phạm Ngọc Châu chỉ huy đã dũng cảm đánh chiếm Tháp nước, vây chặt và gọi hàng 179 tên địch, thu 100 súng, giải phóng 7.000 dân. Quá trình đánh địch ở Ph Lia, Trung đoàn 977 và Tiểu đoàn 9 Trung đoàn đặc công 113 đã cứu hàng nghìn dân bị địch cưỡng ép đi theo làm bia đỡ đạn. Bộ đội tận mắt chứng kiến tội ác vô cùng dã man của bọn Pôn Pốt. Hàng trăm người dân bị sát hại, chỉ tính riêng vùng Sàm Rông đã có 200 xác người già, trẻ con, phụ nữ nằm rải rác dọc đường. Ở hướng Săm Lốt, cuộc tiến công truy quét của Sư đoàn 10 cũng giành được nhiều kết quả. Trung đoàn 24 tiến công trên hai hướng, kết hợp đột phá liên tiếp ở chính diện với các mũi luồn sâu vu hồi lợi hại, nhanh chóng đập tan quân địch ở vòng ngoài, thọc thẳng vào trung tâm Săm Lốt. Trước sức mạnh tiến công áp đảo của ta, quân địch vứt bỏ xe pháo, tìm hướng chạy về hướng biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan. 17 giờ ngày 27 tháng 3 căn cứ Săm Lốt bị xóa sổ. Nhiều tên địch bị tiêu diệt, 152 tên bị bắt; 105 xe vận tải, 2 xe tăng và hàng trăm súng các loại bị tịch thu; hơn 9.000 dân được giải phóng. Phát huy thắng lợi, từ ngày 1 đến ngày 24 tháng 4 Quân đoàn tập trung lực lượng tiếp tục truy quét tàn quân địch ở vùng biên giới phía tây Bát Tam Băng. Sư đoàn 10 và Sư đoàn 309, Trung đoàn 726 (mới được tăng cường cho Quân đoàn) lần lượt làm chủ các mục tiêu Pai Lin, Viên Viêng, Lô Via, Ni Mít, Poi Pét, Cao Mê Lai, Khao Ca Lon, giải phóng một dải biên giới dài trên 150km. Ngày 24 tháng 4, chiến dịch truy quét tây Bát Tam Băng kết thúc. Quân đoàn giành được thắng lợi lớn: đập tan cơ quan trung ương tàn quân Pôn Pốt, gây cho địch tổn thất nặng nề cả về sinh lực và phương tiện chiến tranh; loại khỏi vòng chiến đấu 3.958 tên địch, thu và phá hủy hàng nghìn súng các loại, hàng trăm xe cộ, hàng nghìn tấn đạn dược, lương thực, thực phẩm, quân dụng; giải phóng 7 vạn dân và hầu hết vùng biên giới miền tây tỉnh Bát Tam Băng. Chiến thắng Tà Sanh - Tức Sóc, Săm Lốt có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự và chính trị. Nó không những đánh dấu bước trưởng thành mới của Quân đoàn, mà còn tạo đà thuận lợi cho ta tiến hành chiến dịch truy quét cuối cùng ở thung lũng Kra Vanh. Ngay sau khi hoàn thành chiến dịch tây Bát Tam Băng, Quân đoàn 3 nhanh chóng cơ động 2 sư đoàn (10, 31) và các lữ đoàn binh chủng (273, 7, 234) tham gia chiến dịch tây Pua Sát cùng các đơn vị bạn. Từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 3 tháng 5, Quân đoàn dùng Trung đoàn 24 chốt chặn chiến dịch ở tây Pra Môi, Trung đoàn 66 đánh chiếm Sa Piêng, Tiểu đoàn 9 đặc công tiến công Sơ Nai Pra, Trung đoàn 977 chiếm Ph Lếch, Trung đoàn 28 luồn sâu. Với cách đánh bao vây chia cắt nhiều tầng, tiến công chính diện kết hợp với luồn sâu, vu hồi... ta nhanh chóng đánh vỡ thế trận của địch, làm chủ mục tiêu, thu hồi nhiều vũ khí, kho tàng, giải phóng nhiều người dân. Trên đà thắng lợi, từ ngày 4 đến ngày 30 tháng 5 Quân đoàn tiếp tục truy quét, triệt phá các cơ sở hậu cần của địch, giải phóng và phát động quần chúng nhân dân, giúp bạn củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía tây. Ngày 30 tháng 5 năm 1979, phòng tuyến biên giới hoàn thành, Quân đoàn tổ chức bàn giao cho chính quyền cách mạng tỉnh Pua Sát. Sau một tháng phối hợp với các đơn vị bạn truy quét, Quân đoàn đã triệt phá hoàn toàn căn cứ hậu cần chiến lược Kra Vanh của địch, giải phóng vùng biên giới phía tây tỉnh Pua Sát, giúp bạn củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, ổn định đời sống nhân dân, hoàn thành xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Toàn chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.645 tên địch (bắt 3.359 tên), thu 6.121 súng các loại, nhiều xe cộ, đạn dược, quân dụng, tài liệu (có 4 con dấu vùng 4, 2, 6, 7 của Pôn Pốt); 466 tấn lúa gạo, 200 tấn muối, 69.539m vải, 1.400 lít xăng dầu, 25 kiện thuốc chữa bệnh và bàn giao đầy đủ cho chính quyền cách mạng tỉnh Pua Sát; giải phóng 145.000 dân, giúp bạn lập chính quyền ở 6 phum, 1 đội du kích, tuyên truyền cho 116.641 lượt người, khám chữa bệnh cho 959 người, cứu đói cho dân 115 tấn lương thực và 200 tấn muối. Chiến dịch truy quét tây Pua Sát giành thắng lợi lớn, đạt hiệu suất chiến đấu cao, ta thương vong thấp. Đây là chiến dịch cuối cùng của Quân đoàn 3 làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Trong khi Quân đoàn làm nhiệm vụ trên hướng tây bắc Cam-pu-chia, Sư đoàn 320 và một phân đội xe tăng đi phối thuộc với Quân khu 9 và lực lượng vũ trang cách mạng bạn truy quét tàn quân địch ở phía nam Phnôm Pênh. Trong gần sáu tháng, Sư đoàn 320 đã đánh hàng trăm trận, phá tan nhiều hang ổ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu và phá nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của tàn quân 4 sư đoàn địch (210, 250, 270, 805) thuộc quân khu tây nam do tên đao phủ Tà Mốc cầm đầu; góp phần bảo vệ thị xã Ta Keo, khai thông các tuyến đường sốt, 33, 42; giúp bạn xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở và lực lượng vũ trang địa phương. Trong đợt chiến đấu này, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp quốc tế vẻ vang, trong đó có thượng tá Trần Ngọc Chung - Tư lệnh phó Sư đoàn. Đầu tháng 6 năm 1979, Sư đoàn 320 kết thúc nhiệm vụ phối thuộc truy quét, trở về đội hình Quân đoàn 3. Tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang đối với nhân dân Cam-pu-chia. Nửa năm làm nhiệm vụ quốc tế, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và truyền thống đơn vị, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh lập nên chiến công sáng chói, góp phần quan trọng giải phóng hoàn toàn đất nước Cam-pu-chia khỏi thảm họa diệt chủng. Đến đây, nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế của Quân đoàn 3 đã hoàn thành. Trong 20 tháng, Quân đoàn đã tiêu diệt, làm tan rã toàn bộ quân địch ở mặt trận đường 7, quân khu đông, quân khu tây bắc, quân khu bắc, cơ quan trung ương tàn quân Pôn Pốt, tham gia giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, bao gồm 12 sư đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 48.064 tên, phá hủy 6.369 súng các loại, 11.000 tấn đạn, 176 ô tô và 35 xe tăng xe thiết giáp; thu 53.239 súng các loại, 10.756 tấn đạn, 685 ô tô, 34 xe tăng, 2 máy bay, và nhiều tài liệu, tài sản quý bàn giao đầy đủ cho bạn; giải phóng 1,7 triệu dân, giúp bạn xây dựng chính quyền cơ sở tại 1.084 phum, 64 xã, 10 xí nghiệp, 3 bệnh viện; tổ chức xây dựng trang bị một tiểu đoàn, 13 đại đội bộ đội địa phương và 1.106 đội du kích (6.055 người, trang bị 3.483 súng các loại). Đánh giá về Quân đoàn 3 trong nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định: ''Binh đoàn đã thực hiện được... đi đến đâu là bạn tin, dân mến, kẻ thù khiếp sợ và ta thì trưởng thành'', ''hoàn thành một nhiệm vụ không đơn giản nhưng rất vẻ vang'', ''làm đẹp lòng Đảng, Chính phủ, nhân dân và mỗi gia đình Việt Nam ta'' 2. ------------------------------------------------------------------ 1. Thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn (Nguyễn Công Tiến), sinh năm 1927 tại Phú Lãm, Thanh Oai, Hà Tây. Nhập ngũ năm 1946, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hơn 30 năm (1946 - 1979) tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí trưởng thành từ chỉ huy trung đội đến Quân đoàn; hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đồng chí được tặng thưởng nhiều Huân chương Quân công, Chiến công. Ngày 20.12.1979 đồng chí được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
1. Trích bài phát biểu của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại Hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất, ngày 26 và 27.11.1979.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 06:57:26 am » |
|
* Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia (5.1975 - 6.1979), Quân đoàn 3 trải qua một chặng đường 4 năm lịch sử. Đây là giai đoạn binh đoàn có rất nhiều biến động và thử thách nhưng cũng rất hào hùng, rực rỡ chiến công. Bước ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với niềm hân hoan chiến thắng, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn hăng hái thi đua thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ chiến tranh, chủ yếu làm nhiệm vụ chiến đấu chuyển sang xây dựng chính quy thời bình, tham gia vận động quần chúng củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, truy quét FULRO và lao động sản xuất với nhiều biến động về tổ chức biên chế, quân số liên tục giảm đến gần một nửa, di chuyển vị trí đóng quân mấy lần, kinh tế - xã hội khó khăn, kẻ thù ráo riết phung phá... Quân đoàn 3 gặp không ít trở ngại. Nhưng dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn, cán bộ, chiến sĩ nêu cao truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực'', vượt qua mọi khó khăn thử thách, kiên trì phấn đấu xây dựng đơn vị theo hướng chính quy hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu; đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân quản, vận động quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét FULRO, lao động sản xuất và những nhiệm vụ đột xuất khác. Khi kẻ thù gây ra cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam, Quân đoàn nhận lệnh, cơ động chiến đấu được ngay. Với phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng củng cố, Quân đoàn nhanh chóng vượt qua khó khăn, mở nhiều chiến địch và các đợt hoạt động, đánh bại quân địch từng bước, giữ vững và mở rộng địa bàn, tích cực giúp đỡ cách mạng Cam-pu-chia, thực hiện càng đánh càng mạnh, càng đánh càng trưởng thành. Với thế và lực mới, toàn binh đoàn bước vào cuộc tổng tiến công lịch sử mùa xuân năm 1979 với sức mạnh áp đảo, thần tử vượt chặng đường 600km xung quanh Biển Hồ, giải phóng 6 tỉnh phía bắc, tây bắc, góp phần giải phóng hoàn toàn đất nước Cam-pu-chia. Nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng vô tư, cán bộ và chiến sĩ binh đoàn tiếp tục giúp bạn bảo vệ, xây dựng chính quyền cách mạng, giúp dân trở về quê cũ, phục hồi sản xuất; đồng thời nắm chắc thời cơ, đồng loạt tiến công truy quét đập tan cơ quan trung ương và lực lượng chủ yếu của tàn quân dịch ở vùng rừng núi tây nam Cam-pu-chia, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả. Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của Quân đoàn 3 trong 4 năm xây dựng, chiến đấu và làm nhiệm vụ quốc tế, ngày 20 tháng 12 năm 1979, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Quân đoàn 3 và các đơn vị: Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn công binh 7, Trung đoàn bộ binh 66, Trung đoàn bộ binh 48, Trung đoàn bộ binh 866, bảy tiểu đoàn và đại đội, Ban Ngoại 1 (Viện Quân y 211) cùng các đồng chí: Thiếu tướng liệt sĩ Nguyễn Kim Tuấn, chuẩn úy Nguyễn Đình Tâm. Tiếp đó, Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia tặng Huân chương Ăng Ko và lá cờ mang dòng chữ ''Tinh thần quốc tế vô sản trong sáng'' cho Quân đoàn 3 và truy tặng liệt sĩ Trần Minh Xung danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Cam-pu-chia. Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước ta và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia trao tặng là niềm vinh dự tự hào, nguồn cổ vũ động viên lớn lao cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên trong chặng đường xây dựng và chiến đấu mới. Đến đây, một chặng đường xây dựng và chiến đấu của Quân đoàn sau ngày nước nhà thống nhất với nhiều khó khăn, thử thách đã hoàn thành thắng lợi. Một thế hệ mới đã trưởng thành trong chiến đấu và công tác. Một chặng đường mới trong xây dựng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của Binh đoàn Tây Nguyên bắt đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 07:05:39 am » |
|
Chương bảy TRÊN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC MỚI PHÍA BẮC TỔ QUỐC (7-1979-1987) 1. Cuộc hành quân lịch sử từ Cam-pu-chia về phía Bắc Tổ quốc và những ngày đầu làm nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới Sau những đợt truy quét lớn trong nửa đầu năm 1979 của lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia có sự phối hợp chặt chẽ của quân tình nguyện Việt Nam, những lực lượng lớn cuối cùng của tàn quân Pôn Pốt - Iêng Xary ở tây nam Cam-pu-chia đã cơ bản bị quét sạch. Lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia ngày càng lớn mạnh và phát triển nhanh chóng, từng bước đảm đương được nhiều công việc để bảo vệ thành quả cách mạng. Trước tình hình đó và yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc; được sự nhất trí giữa ta và bạn, quân tình nguyện Việt Nam tổ chức rút một phần lực lượng về nước để làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến lược mới. Sau khi hoàn thành cơ động Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang về phía Bắc Tổ quốc, ngày 3 tháng 5 năm 1979, Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Quân đoàn 3: ''Trong tháng 6 phải hoàn thành nhiệm vụ truy quét địch ở địa bàn tỉnh Pua Sát và tiến hành cơ động ra phía Bắc làm lực lượng dự bị cơ động của Bộ 1. Tiếp đó ngày 28 tháng 6, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ra các mệnh lệnh (số 48, 49/ML - TM) ''điều động toàn bộ Quân đoàn 3 từ vị trí đang hoạt động hiện nay ra khu vực thuộc tỉnh Bắc Thái'' với đầy đủ ''vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện vận tải và thông tin liên lạc để đến địa điểm mới sẵn sàng chiến đấu được ngay''. Thời gian hành quân được ấn định từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 7 năm 1979; phương tiện cơ động bằng ô tô, tàu hỏa, tàu thủy; riêng Sư đoàn 320 và một bộ phận Quân đoàn bộ đi đường không từ sân bay Pô Chen Tông (Cam-pu-chia) xuống sân bay Nội Bài (Việt Nam). Để giúp đỡ Quân đoàn cơ động bằng đường không, Bộ Tổng Tham mưu cử một đoàn cán bộ đến sân bay Pô Chen Tông trực tiếp chỉ đạo hành quân. Nhằm giữ bí mật cuộc hành quân di chuyển, Quân đoàn 3 và các đơn vị trục thuộc được đổi phiên hiệu lâm thời 2. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 cũng được kiện toàn đầy đủ. Đại tá Nguyễn Quốc Thước (Phó tư lệnh Tham mưu trưởng) được giao quyền Tư lệnh Quân đoàn. Thiếu tướng Phạm Sinh (Phó chính ủy Quân khu 9) được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân đoàn (3.1979), đại tá Bùi Đình Hòe (sư đoàn trưởng Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn, đại tá Hà Quốc Toản làm Phó chính ủy Quân đoàn. Ở các sư đoàn, lũ đoàn binh chủng, trung đoàn bộ Để lãnh đạo Quân đoàn hoàn thành thắng lợi cuộc hành quân lịch sử vượt chặng đường dài gần 3.000km từ Cam-pu-chia về phía Bắc Tổ quốc, trong 2 ngày 12 và 13 tháng 5 năm 1979, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn họp, đề ra chủ trương: trong tháng 6 phải ''nhanh chóng thu quân, hết sức tranh thủ khẩn trương củng cố chấn chỉnh bộ đội, nâng cao sức chiến đấu, sẵn sàng cơ động hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào khi có lệnh''. Về nhiệm vụ cơ động lực lượng ra phía Bắc, Đảng ủy đề ra mấy việc lớn cần tập trung lãnh đạo: 1. Giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc tình hình nhiệm vụ mới. Đẩy mạnh cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh chiến đấu...'' đề cao ý thức tổ chức kỷ luật; kiên quyết đấu tranh khắc phục tư tưởng mất cảnh giác, công thần, tự do tùy tiện; tranh thủ củng cố đội ngũ cán bộ, làm tốt việc phát triển đảng viên... thực hiện tốt chính sách. 2. Làm tốt công tác bàn giao cho bạn, tổ chức thu quân nhanh, gọn, bí mật, an toàn... nhanh chóng kiện toàn các thành phần kỹ thuật bảo đảm di chuyển, duy trì chặt chẽ kỷ luật, quản lý tốt bộ đội, vũ khí trang bị... 3. Thực hiện nghiêm chỉnh thu nạp và sử dụng chiến lợi phẩm theo chỉ thị đã ban hành. Tổ chức chu đáo việc nuôi quân phòng bệnh trong quá trình di chuyển... Đảng ủy quyết tâm: ''Tập trung sự lãnh đạo cao nhất của toàn Đảng bộ, khắc phục mới khó khăn, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hành quân với 5 yêu cầu: nhanh gọn, đồng bộ, bí mật, an toàn tuyệt đối, sẵn sàng chiến đấu cao''. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và chủ trương của Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 3, từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7 năm 1979, Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh truy quét và giúp đỡ bạn xây dựng chính quyền cơ sở, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng phòng tuyến biên giới ở phía tây tỉnh Pua Sát và Bát Tam Băng. Đồng thời công tác chuẩn bị hành quân được tiến hành bí mật, khẩn trương, dồn dập trên tất cả các mặt: chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị phương tiện, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; tổ chức bộ phận đi tiền trạm, chuẩn bị đường hành quân và vị trí đóng quân mới; tổ chức bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm, địa bàn cho chính quyền bạn và các đơn vị có liên quan. Mặc dù kinh nghiệm về xây dựng kế hoạch cơ động đường dài bằng nhiều phương tiện còn hạn chế, khả năng bảo đảm phương tiện của trên có nhiều khó khăn phải điều chỉnh kế hoạch nhiều lần, nhưng với quyết tâm cao, sự phối hợp giúp đỡ đầy trách nhiệm của Cục Tác chiến, Cục Vận tải và Tổng cục Kỹ thuật, ngày 9 tháng 6 năm 1979 các văn kiện hành quân đã hoàn thành, được báo cáo bằng văn bản chính thức lên Bộ Tổng Tham mưu và được phê duyệt. Theo kế hoạch, Quân đoàn tổ chức đợt hành quân tiền trạm và nửa cuối tháng 6 năm 1979, thành phần bao gồm một bộ phận Bộ tư lệnh và cơ quan Quân đoàn, chỉ huy và cơ quan các đơn vị, một số phân đội bảo đảm. Lực lượng tiền trạm có nhiệm vụ nghiên cứu đường hành quân cơ động, sắp đặt các cung, trạng; làm việc với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương những nơi đơn vị đóng quân, tổ chức tiếp nhận doanh trại và khu vực quản lý từ các đơn vị bạn; chuẩn bị mọi mặt để đón nhận bộ đội, phương tiện, kịp thời rút kinh nghiệm để Quân đoàn chỉ đạo, tổ chức các khối hành quân tiếp sau. Sau khi hoàn thành đợt hành quân tiền trạm, Quân đoàn sẽ tổ chức hai đợt hành quân lớn: Đợt 1: từ đầu tháng 7 đến đầu tháng 8 năm 1979, cơ động toàn bộ lực lượng, vật chất, trang bị, chiến dấu của Quân đoàn từ Cam-pu-chia về nước bằng cả 4 phương tiện: đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy. Đợt 2: tổ giữa tháng 8 đến cuối năm 1979, chuyển toàn bộ lực lượng còn lại như cơ sở sản xuất hậu cần, kho tàng, trạm xăng ở địa bàn Quân khu 5 và Quân khu 7 về miền Bắc. Nhằm thực hiện thắng lợi cuộc hành quân lớn đầu tiên trong lịch sử Binh đoàn, Bộ tư lệnh Quân đoàn đã triệu tập hội nghị quân chính quán triệt nhiệm vụ, phổ biến kế hoạch, thống nhất triển khai công tác chuẩn bị trước lúc hành quân. Các sư đoàn, lữ đoàn và trung đoàn cũng tổ chức hội nghị quân chính, thảo luận bàn bạc dân chủ thống nhất nhận thức, tìm biện pháp hữu hiệu tổ chức thực hiện nhiệm vụ với kết quả cao nhất. Để chỉ huy điều hành các lực lượng tháng quá trình hành quân, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức hai sở chỉ huy: sở chỉ huy cơ bản ở Phnôm Pênh (Cam-pu-chia) và sở chỉ huy tiền phương ở tỉnh Bắc Thái. Đồng thời từ chức riêng những bộ phận điều hành chuyên trách từng loại phương tiện cơ động: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay. Với kinh nghiệm được tích lũy và chủ động, nhạy bén trước mỗi bước ngoặt nhiệm vụ trong lịch sử của đơn vị, Bộ tư lệnh Quân đoàn ra ''chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị hành quân A3'' (từ Cam-pu-chia ra phía Bắc Tổ quốc); quy định rõ nội dung công tác Đảng, công tác chính trị trong các giai đoạn trước hành quân, trong hành quân, khi tập kết ở vị trí mới và đề ra 3 biện pháp chính: 1.Tăng cường sự lãnh đạo tư tưởng của cấp ủy, chi bộ đối với đơn vị. 2. Cán bộ sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn trở xuống trực tiếp hành quân cùng đơn vị, phân công chỉ huy từng khối phương tiện chặt chẽ. 3. Phát huy tinh thần làm chủ của cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt phong trào thi đua quyết thắng. Cùng thời gian này, Quân đoàn tổ chức một bộ phận đặc biệt trang bị đầy đủ phương tiện tiến hành quy tập mộ liệt sĩ của Binh đoàn về các khu vực quy định, bảo đảm nhanh gọn, chu đáo. Đây vừa là công tác chính sách vừa là tình cảm kính trọng biết ơn, nghĩa tình đồng chí, đồng đội với những nguời con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh vì sự nghiệp quốc tế cao đẹp, vì tình hữu nghị truyền thống đời đời bền vững giữa hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia. Với tình cảm quốc tế trong sáng vô tư và trách nhiệm cao, Quân đoàn tổ chức bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm thu được của địch trong các đợt truy quét cho bạn. Ngày 4 tháng 6, các đồng chí Đỗ Khuếch (cục phó Cục Hậu cần), Vũ Lệnh Thắm (Phòng Quân nhu), Trần Muỗm (Phòng Hậu cần Sư đoàn 31) thay mặt Quân đoàn 3 bàn giao toàn bộ chiến lợi phẩm mới truy quét ở tây Pua Sát cho Ban cán sự tỉnh. Cùng thời gian này, đồng chí Bùi Văn Hoè (phó chính ủy Sư đoàn 10) cũng hoàn thành bàn giao chiến lợi phẩm thu được của địch ở Bát Tam Băng cho Ban cán sự tỉnh. Xúc động trước tình cảm quốc tế trong sáng của bộ đội tình nguyện Việt Nam, ông Lai Sa Mon - đại diện bên nhận đã nói: ''Sư đoàn 10 thuộc Quân đoàn 3 đã đóng góp công lao rất to lớn, đã cùng với lực lượng cách mạng và nhân dân Cam-pu-chia giải phóng tỉnh Bát Tam Băng, tiêu diệt bọn Pôn Pốt - Iêng Xary đến tận hang ổ cuối cùng của chúng, cứu nhân dân Cam-pu-chia thóat khỏi nạn diệt chủng. Các đồng chí đã giúp nhân dân xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng huấn luyện trang bị cho lực lượng vũ trang, hướng dẫn nhân dân khôi phục và phát triển sản xuất, nhanh chóng ổn định đời sống. Các đồng chí cán bộ và chiến sĩ trong Sư đoàn còn góp phần thu gom tiết kiệm từ những vật nhỏ nhất vào kho tàng tài sản của tỉnh đã thể hiện đẩy đủ bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng''. Cuối tháng 6, đầu tháng 7, Quân đoàn cơ động các đơn vị từ những địa bàn đang làm nhiệm vụ về vị trí tập kết. Sư đoàn 320 từ mặt trận đường số 4 tỉnh Công Pông Spư cơ động trong 4 ngày, hoàn thành tập kết ở sân bay Pô Chen Tông vào ngày 5 tháng 7, khẩn trương bước vào luyện tập cơ động bằng máy bay. Sư đoàn 31 từ các cánh rừng miền tây tỉnh Pua Sát được 101 xe ô tô chuyển từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 7 về khu vực tạm dừng ở đông Niếc Lương. Cùng thời gian này các lữ đoàn binh chủng cũng đã hoàn thành tập kết ở đông Niếc Lương. Sư đoàn 10 là đơn vị cơ động cuối cùng hành quân từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 7, tập kết toàn bộ lực lượng về O Đông (tây Phnôm Pênh). Tại vị trí tập kết, các đơn vị tranh thủ thời gian huấn luyện bổ sung về hành quân cho bộ đội, củng cố tổ chức và hoàn tất những công việc chuẩn bị hành quân cuối cùng. Trong những ngày chuẩn bị trở về Tổ quốc, nhiều cuộc chia tay rất cảm động đã diễn ra giữa lãnh đạo và Nhân dân các tỉnh Pua Sát, Bát Tam Băng, Xiêm Riệp, Công Pông Chàm với các đơn vị và cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam. Nhiều cụ già, em nhỏ ở các phum, sóc, phố, phường biết tin cũng tự tìm đến chia tay bộ đội Việt Nam; nhân dân tự động đứng suốt dọc đường bộ đội hành quân vẫy chào các chiến sĩ tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả trở về Tổ quốc với tình cảm nhớ thương và lòng biết ơn sâu sắc, bất chấp những lời phao tin đe dọa của bọn Pôn Pốt. Những tình cảm chân thành, sâu nặng, lớn lao của chính quyền và nhân dân nước bạn đã làm cho cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam vô cùng xúc động. Những đôi mắt lâu nay đã ráo hỏanh vì gian khổ, mất mát trong chiến tranh cũng ngấn lệ. Ai cũng cảm nhận sâu sắc hơn, cụ thể hơn những giá trị mà chúng ta đã bỏ bao xương máu, công sức... trong suốt một năm rưỡii qua để giúp một dân tộc giành lại tự do và quyền làm người, để cho những nụ cười lại trở về với mỗi con người... Ngay trước lúc lên đường, các vị lãnh đạo, Hội đồng nhân dân Cách mạng và Mặt trặn đoàn kết Dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tỉnh Công Pông Chàm tổ chức lễ tiễn đưa Quân đoàn với tình cảm chứa chan. Ông Nơ Xong thay mặt chính quyền và nhân dân tỉnh Công Pông Chàm đã trân trọng ghi vào cuốn sổ vàng truyền thống của Binh đoàn Tây Nguyên: ''Chúng tôi vô cùng cảm ơn Đảng, Nhà nước Nhân dân và Quân đội Việt Nam. Các đồng chí và Nhân dân Việt Nam qua lần làm cách mạng tiêu diệt bọn Pôn Pốt - Iêng Xary này đã cứu nguy đất nước chúng tôi thóat khỏi thảm hoạ diệt chủng. Nhân dân Cam-pu-chia càng thấy tình đoàn kết Cam-pu-chia - Việt Nam thắm thiết thủy chung hơn bao giờ hết. Nay các đồng chí phải xa chúng tôi trở về Tổ quốc... nhân dân Công Pông Chàm vô cùng thương nhớ và mãi mãi ghi công ơn các đồng chí vào trong máu thịt" 3. Trong những ngày chia tay tràn đầy tình cảm đoàn kết quốc tế trong sáng vô tư và bịn rịn tình quân dân, đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, người trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu ở biên giới Tây Nam đã về thăm Binh đoàn, gặp mặt thân mật cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320. Xúc động trước sự cống hiến hy sinh cao đẹp, những chiến công vẻ vang và tình cảm sâu nặng của nhân dân Cam-pu-chia dành cho cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên, đồng chí Lê Đức Thọ sáng tác bài thơ "Ngày về" và tặng cho Binh đoàn: "Hỡi anh chiến sĩ lên đường, Mấy năm gian khổ chiến trường chớ quên. Bạn thù đổi trắng thay đen! Tay cầm chắc súng tiến lên không ngừng. Ra đi lòng những chập chùng, Nhớ cây Thốt Nốt, nhớ rừng Tà Sanh. Nhớ người đồng chí hy sinh, Ngọn cờ quốc tế nghĩa tình thủy chung. Ngày về rực rỡ chiến công, Qua sông gió gọi, qua đồng lúa reo. Có ai đứng mãi nhìn theo, Mong anh trở lại sớm chiều Tượng Lăng, Hỏi ai gian khổ nào bằng, Anh về giải phóng xóm làng yên vui. Anh đi, em nhắn đôi lời, Nhớ anh nhớ mãi con người Việt Nam"----------------------------------------------------------------- 1. Trích: Mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng gửi Quân đoàn 3 ngày 3.5.1979.
2. Quân đoàn 3 được đổi thành Binh đoàn 500. Các sư đoàn 10, 320, 31 được mang phiên hiệu mới sư đoàn 5l6, 507, 508. Các lữ đoàn 40, 234, 273 và Lữ đoàn 7 được mang phiên hiệu 552, 553, 554 và 555; Trung đoàn thông tin 29 mang phiên hiệu Trung đoàn 550. binh và cơ quan Quân đoàn cũng dược kiện toàn một bước về chỉ huy và tổ chức cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới.
3. Binh đoàn Tây Nguyên, tập 2, Cục Chính trị Binh đoàn Tây Nguyên xuất bản, năm 1985, tr. 170.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 07:10:30 am » |
|
* Thực hiện kế hoạch cơ động, ngày 17 tháng 6 năm 1979, đoàn tiền trạm của Quân đoàn gồm 1.400 cán bộ, chiến sĩ đã xuất phát từ tỉnh Pua Sát (Cam-pu-chia). Sau 11 ngày hành quân bằng ô tô dọc đất nước Cam-pu-chia và Việt Nam, đến ngày 28 tháng 6 đoàn đã đến tỉnh Bắc Thái (nay là Thái Nguyên, Bắc Kạn) an toàn. Sau khi làm việc với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, nơi có các vị trí đóng quân của Quân đoàn 3, đoàn tiền trạm đã tiếp nhận các doanh trại của Trường sĩ quan Thông tin liên lạc (Bắc Lý, Hiệp Hòa, Hà Bắc), Trường nghiệp vụ Hậu cần thuộc Bộ tư lệnh Phòng không (Minh Sơn, Đồng Hỷ, Bắc Thái), kho J102 Tổng cục Kỹ thuật, Trường Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu (thị trấn Phúc Yên, Mê Linh, Vĩnh Phúc), Trường Hậu cần Tổng cục Xây dựng kinh tế (Trung Giã - Đa Phúc, Sóc Sơn, Hà Nội). Đợt hành quân tiền trạm thành công không những trực tiếp chuẩn bị doanh trại và những cơ sở vật chất ban đầu để đón nhận bộ đội và phương tiện mà còn kịp thời rút ra những kinh nghiệm thiết thực làm cơ sở cho Quân đoàn tổ chức chỉ đạo, điều hành các đợt hành quân tiếp theo. Đầu tháng 7 năm 1979, cuộc hành quân lớn nhất trong lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên xuyên qua đất nước Cam-pu-chia và dọc nước Việt Nam bằng đường bộ, đường sắt đường thủy, đường không diễn ra dồn dập. Đi đầu khối hành quân của Quân đoàn là Sư đoàn 31. Được Bộ tăng cường 100 chiếc xe ô tô, từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 7, Sư đoàn 31 đã chuyển toàn bộ lực lượng từ đồng Niếc Lương về tập kết ở Long Bình và Tân Cảng (Thành phố Hồ Chí Minh). Tiếp đó, từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 7, Sư đoàn đã được 8 đoàn tàu hỏa chuyển thẳng từ ga Hố Nai ra ga Quán Triều thuộc tỉnh Bắc Thái, rồi được xe ô tô chuyển tiếp về vị trí đóng quân ở hai huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) và huyện Võ Nhai (tỉnh Bắc Thái). Cùng thời gian này, lực lượng ô tô chuyển thẳng của Sư đoàn gồm 146 xe chở 260 tấn hàng và 679 cán bộ, chiến sĩ cũng đã đến vị trí tập kết an toàn. Trung tuần tháng 8 năm 1979, Sư đoàn 31 cơ bản hoàn thành cuộc hành quân; trên 7.300 bộ đội, 590 tấn hàng và nhiều phương tiện xe cộ, pháo lớn đã đến vị trí mới. Tiếp sau Sư đoàn 31, một bộ phận Quân đoàn bộ và các đơn vị: Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn phòng không 234, Lữ đoàn công binh 7, Lữ đoàn pháo binh 40, Trung đoàn thông tin 29 xuất phát. Ngày 18 tháng 7, toàn bộ lực lượng gồm trên 4.000 người và gần 1.000 tấn vũ khí, phương tiện đã về tập kết ở Long Bình, Sóng Thần và Tân Cảng, rồi lần lượt được 6 đoàn tàu hỏa chuyển ra miền Bắc an toàn. Riêng số hàng gần 700 tấn và một số phát phòng không được chở bằng tàu hàng, xe ô tô đặc không dược chuyển bằng tàu thủy. Sư đoàn 10 là đơn vị hành quân đường bộ cuối cùng, được Bộ tăng cường 100 lần chiếc xe ô tô xuất phát từ O Đông ngày 20 tháng 7. Sau 4 ngày cơ động, gần 8.000 cán bộ, chiến sĩ và gần 800 tấn vũ khí, vật chất đã tập kết an toàn ở Long Bình. Tiếp đó, Sư đoàn đi trên 9 đoàn tàu từ ga Hố Nai ra ga Quán Triều và được 252 lần chiếc ô tô chuyển về vị trí đứng chân cuối cùng ở hai huyện Phú Lương và Định Hóa thuộc tỉnh Bắc Thái. Cùng lúc, 144 xe ô tô chuyển thẳng của Sư đoàn chở 200 tấn vũ khí, vật chất và 250 cán bộ, chiến sĩ cũng đã cớ mặt ở vị trí đóng quân mới. Trong khi các khối hành quân đường bộ, đường sắt, đường thủy cơ động, khối đi bằng đường không của Quân đoàn gồm 8.092 cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn bộ, Sư đoàn 320 và 34 khẩu pháo, 2 xe ô tô được 85 lần chiếc máy bay quân sự và dân dụng chuyển gọn từ sân bay Pô Chen Tông (Phnôm Pênh) đến sân bay Nội Bài (Việt Nam). Do được luyện tập chu đáo, tổ chức chặt chẽ, bộ đội được trang bị gọn,nhẹ, mang theo vũ khí bộ binh, một nửa cơ số đạn, cơm nắm, bi đông nước, ba lô cá nhân, nên cuộc hành quân diễn ra đúng kế hoạch, an toàn tuyệt đối, bộ đội đến vị trí mới là sẵn sàng chiến đấu được ngay. Ngay sau khi xuống sân bay, Sư đoàn 320 cơ động bằng ô tô về huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái. Giữa tháng 8, đợt một hành quân của Quân đoàn kết thúc thắng lợi. Toàn bộ lực lượng ở Cam-pu-chia và phần lớn các cơ sở hậu cứ, kho trạm, nhà trường ở địa bàn Quân khu 5 và Quân khu 7 đã đến vị trí đóng quân mới trên miền Bắc. Trong đợt hành quân này, Quân đoàn đã sử dụng 23 đoàn tàu khách và 17 đoàn tàu hàng, 659 xe ô tô chuyển thẳng và 85 lần chiếc máy bay, một số chuyến tàu hải quân; chuyển được gần 29.000 người và 41.406 tấn vũ khí, trang bị, hàng hóa, hàng trăm đơn vị xe, pháo, phương tiện chiến đấu. Đợt hành quân thứ nhất hoàn thành thắng lợi, Quân đoàn rút ra nhiều kinh nghiệm thiết thực, tiếp tục tổ chức, chỉ đạo đợt hành quân thứ 2. Sau khi bàn giao toàn bộ các doanh trại ở Phan Rang, Cam Ranh (tỉnh Thuận Hải), Nha Trang, Dục Mỹ, Lam Sơn (tỉnh Phú Khánh) và căn cứ Nước Trong (tỉnh Đồng Nai) cho Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Quân khu 5, và các binh chủng: Pháo binh, Đặc công, Thông tin; trong những tháng cuối năm 1979, Quân đoàn cơ động toàn bộ lực lượng còn lại gồm các trường, cơ sở sản xuất, kho trạm hậu cần - kỹ thuật với gần 9.500 người và hàng trăm tấn vật chất từ phía nam ra miền Bắc an toàn. Tháng 9 năm 1979, tại sở chỉ huy mới ở huyện Phú Bình tỉnh Bắc Thái, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức Hội nghị sơ kết cuộc hành quân lịch sử. Hội nghị đã đánh giá kết quả, chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân trong quá trình lãnh đạo tổ chức chỉ huy, quản lý, cơ động lực lượng. Hội nghị khẳng định: Quân đoàn đã hoàn thành tốt cuộc hành quân, bảo đảm được các yêu cầu ''nhanh, gọn, sẵn sàng chiến đấu tốt, bộ đội có khí thế và có kỷ luật'', ''ra tới vị trí mới bắt tay vào củng cố huấn luyện, xây dựng... làm phương án tác chiến tại chỗ, bảo đảm có tình huống xảy ra là hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu'' 1. Các đơn vị tiêu biểu hoàn thành tốt nhiệm vụ hành quân gồm: Trung đoàn 866 (Sư đoàn 31), Lữ đoàn công binh 7 và Sư đoàn 320. Các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ thấp là: Trung đoàn thông tin 29, Lữ đoàn Phòng không 234 và bộ phận tiền trạm của Sư đoàn 10 2. Từ thực tiễn cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của Quân đoàn, hội nghị đã rút ra 3 bài học quý bảo đảm cuộc hành quân thắng lợi là: ''1. Chủ trương đúng đắn, kế hoạch biện pháp cụ thể, trách nhiệm cán bộ được phát huy, đơn vị chấp hành nghiêm chỉnh, bộ đội có kỷ luật. 2. Quán triệt nhiệm vụ được sâu sắc, tổ chức thực hiện đến nơi đến chốn: kế hoạch tương đối sát, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, kiểm tra đôn đốc sâu sát, kỷ luật chấp hành kế hoạch nghiêm chỉnh. 3. Giữ được mối quan hệ với các cơ quan đơn vị bạn và nhân dân ở các địa phương, tạo được sự giúp đỡ rất lớn cho Quân đoàn hoàn thành nhiệm vụ di chuyển: tôn trọng cơ quan, các đơn vị bạn và địa phương; họp bàn dân chủ thống nhất, khó khăn chung cùng nhau khắc phục; giữ nghiêm kỷ luật hiệp đồng; tổ chức rút kinh nghiệm thường xuyên trong công tác bảo đảm'' 3. Thắng lợi của cuộc hành quân đầu tiên lớn nhất trong lịch sử Quân đoàn từ Cam-pu-chia ra miền Bắc Việt Nam, không chỉ đánh dấu bước trưởng thành của một quân đoàn chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn tạo cơ sở và cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên bước vào thực hiện nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới ở phía Bắc Tổ quốc. ----------------------------------------------------------------- 1. ''Báo cáo sơ kết hành quân di chuyển chiến trường của Quân đoàn 3'', ngày 8.9.1979 của Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, tr.9.
2. Đợt hành quân này toàn Quân đoàn có 5 chiến sĩ thương vong do địch phục kích, xảy ra 21 vụ tại nạn giao thông và mất an toàn vũ khí làm chết 13 người (có 2 là dân), bị thương 56 người khác, hỏng 2 xe ô tô; hơn 600 chiến sĩ trên đường cơ động vắng mặt trái phép, nhiều nhất là ở Sư đoàn 31 và Sư đoàn 10.
3. Báo cáo sơ kết... tài liệu đã dẫn, tr 11, 12.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 07:16:02 am » |
|
* Mùa thu năm 1979, Quân đoàn 3 bước đầu ổn định vị trí đóng quân trên địa bàn mới, tập trung trong tỉnh Bắc Thái. Bộ tư lệnh, ba cơ quan Quân đoàn, Trung đoàn thông tin 29 ở huyện Phú Bình, Đồng Hỷ. Sư đoàn 10 ở hai huyện Phú Lương và Định Hóa. Sư đoàn 320 ở huyện Đại Từ. Sư đoàn 31 ở hai huyện Võ Nhai và Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn). Lữ đoàn pháo binh 40 và Lữ đoàn xe tăng 273 ở huyện Đồng Hỷ. Lữ đoàn phòng không 234 ở huyện Phú Lương; Lữ đoàn công binh 7 ở huyện Võ Nhai. Riêng Trường Quân chính ở huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc. Địa bàn đứng chân của Quân đoàn 3 là một hướng chiến lược hết sức quan trọng, xung yếu ở phía Bắc Tổ quốc, có quan hệ trực tiếp đến tuyến một và bảo vệ khu công nghiệp Thái Nguyên, sau lưng là Thủ đô Hà Nội. Bắc Thái là tỉnh trung du và miền núi, có diện tích 8.600km2, gồm 10 huyện và thành phố Thái Nguyên, dân số 826.840 người với 10 dân tộc anh em chung sống (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chí, Cao Lan, Mường, Mơ Nông, Hoa); có 5 trường đại học (Y khoa, Sư phạm miền núi, Nông nghiệp 3, Mỏ địa chất, Công nghiệp Việt Bắc); 12 trường trung cấp và 27 trường khác do Trung ương quản lý, 5 bệnh viện, 1 khu công nghiệp gang thép, nhiều xí nghiệp quốc phòng, quốc doanh với khỏang 50.000 công nhân, có nhiều đường giao thông huyết mạch, là một trung tâm lớn của vùng phía bắc miền Bắc nước ta. Đây vốn là quê hương của cách mạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trải qua nhiều năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và bảo vệ biên giới phía Bắc, nên trình độ giác ngộ cách mạng, tinh thần cảnh giác và ý thức chính trị của nhân dân khá cao. Các dân tộc có truyền thống đoàn kết lâu đời, có tinh thần khắc phục khó khăn, cần cù lao động sản xuất, anh dũng trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng cách mạng các cấp luôn được tăng cường và củng cố. Lực lượng vũ trang địa phương khá mạnh, mỗi xã đều có đội dân quân được trang bị, huấn luyện đầy đủ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy địa phương còn khớ khăn, nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân rất nhiệt tình, mở rộng cửa đón bộ đội. Thông cảm với những khó khăn buổi đầu của Quân đoàn 3, ngày 23 tháng 9 năm 1979 Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Thái đã triệu tập hội nghị các đồng chí Bí thư chi bộ trong toàn Đảng bộ tỉnh, đề ra những chủ trương, biện pháp tích cực nhất để giúp đỡ mới mặt cho Quân đoàn. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, chính quyền và đồng bào địa phương tích cực giúp đỡ Quân đoàn giải quyết những khó khăn ban đầu. Hàng nghìn bộ đội được đón về ở trong nhà dân, đuợc chăm sóc như con em đi xa trở về. Các đơn vị được tạo điều kiện thuận lợi nhất về địa bàn đóng quân, khai thác vật liệu xây dựng doanh trại. Nhân dân ủng hộ hàng vạn ngày công, hàng chục vạn cây tre, nứa, gỗ và hàng chục vạn tàu lá cọ giúp đỡ bộ đội làm nhà ở, kho tàng, nhà để xe pháo. Các huyện Đại Tử, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình, thành phố Thái Nguyên và huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, đâu đâu cũng thấy nam nữ thanh niên, các cháu học sinh, các cụ phụ lão góp công góp của giúp đỡ và động viên bộ đội. Nghĩa tình ấm áp và sự giúp đỡ to lớn của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương không những giúp Quân đoàn sớm ổn định nơi ăn ở và bước vào thực hiện nhiệm vụ; mà còn là nguồn cổ vũ động viên lớn đối với cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua thực hiện thắng lợi cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động. Xác định rõ nhiệm vụ của một Quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ trên hướng chiến lược hết sức quan trọng; trong khi tập trung ổn định củng cố vị trí đứng chân, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn quan tâm đầy đủ đến nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Ngày 24 tháng 8 năm 1979, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết xác định: ''Nhiệm vụ hiện nay của Quân đoàn là tranh thủ củng cố chấn chỉnh bộ đội, nâng cao sức chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng các thế lực thù địch nếu chúng liều lĩnh xâm lược''. Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu ở các cấp, nhất là kế hoạch tác chiến tại chỗ và khả năng sẵn sàng cơ động chiến đấu của đơn vị; ra lệnh báo động mạng thông tin vô tuyến điện và hữu tuyến điện đến cấp tiểu đoàn, báo động thực binh một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 và một tiểu đoàn pháo thuộc Trung đoàn pháo binh 4 Sư đoàn 10. Đồng thời triển khai công tác huấn luyện bổ sung những nội dung thiết yếu cho các đơn vị. Nhằm bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu, Quân đoàn khôi phục ngay lượng dự trữ theo quy định, bao gồm 1.000 tấn lương thực, thực phẩm khô mỗi loại bình quân 1,5kg một người; 3.000 suất đường sữa cho thương bệnh binh, 3.000 suất quân trang, 40.000 túi cơm, 20.000 bao đựng gạo cá nhân, 14.000 tăng võng, 15.000 bi đông đựng nuộc, đủ thuốc chiến thương cho từng cấp, 4 cơ số xăng dầu và lượng đạn dược vũ khí theo quy định. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới, những tháng cuối năm 1979 tổ chức biên chế của Quân đoàn có một số thay đổi. Ngày 2 tháng 11, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định (số 1044/QĐ-QP) chuyển các đơn vị: Lữ đoàn pháo binh 40, Lữ đoàn công binh 7, Lữ đoàn phòng không 234, thành Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn phòng không 234. Bộ tư lệnh Quân đoàn ra Quyết định (số 176/QĐ ngày 22.9.1979) thành lập Cục Kỹ thuật trực thuộc Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn trên cơ sở tách một số phòng từ Cục Hậu cần và điều động một số bộ phận, cán bộ, chiến sĩ từ các nơi về. Khi mới thành lập Cục Kỹ thuật gồm có: Ban chỉ huy do thượng tá Đỗ Thuyên (nguyên cục phó Cục Hậu cần) làm phó tư lệnh Quân đoàn về trang bị kỹ thuật kiêm chủ nhiệm Cục Kỹ thuật, đồng chí Vũ Đình Tư làm Phó chủ nhiệm về chính trị kiêm bí thư Đảng ủy Cục, đồng chí Nguyễn Văn Thụ làm cục phó về kỹ thuật; 3 phòng: Phòng Quản lý xe máy (trưởng phòng Lê Hồng Thái), Phòng Quân khí (trưởng phòng Nguyễn Văn Dự), Phòng Tham mưu kế hoạch (phó phòng Nguyễn Hữu Truy) và 2 ban: Ban Chính trị, Ban Quản lý hành chính. Sau đó, theo quyết định của trên Phòng Tăng thiết giáp thuộc Cục Kỹ thuật (trưởng phòng Vũ Quang Tuyến) được thành lập. Cùng thời gian này, ở các sư đoàn 10, 320, 31, các phòng kỹ thuật cũng được tổ chức; ở các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng các ban kỹ thuật lần lượt ra đời. Tiếp dó Phòng Hóa học (trực thuộc Đảng ủy và thủ trưởng Bộ Tham mưu Quân đoàn), Trường Văn hóa (trực thuộc Đảng ủy và thủ trưởng Cục Chính trị Quân đoàn) được thành lập; Phòng Quản lý giáo dục Quân đoàn bộ đổi tên thành Phòng Quản lý hành chính, làm nhiệm vụ đảm bảo các mặt phục vụ sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ cơ quan Quân đoàn bộ. Một số phân đội binh chủng được điều động gọn đi bổ sung cho các đơn vị bạn trong toàn quân. Ngày 26 tháng 11 năm 1979, tại Quân đoàn bộ (xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái) hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất được tiến hành. Tham dự hội nghị có 136 cán bộ trong Đảng bộ Quân đoàn. Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về dự và chỉ đạo hội nghị. Trong 2 ngày làm việc các đại biểu đã nghe và thảo luận về bản báo cáo ''Kiểm điểm thành hình nhiệm vụ từ sau Đại hội Đảng lần thứ IV (1.1977 - 9.1979)'' và ''Phương hướng nhiệm vụ tới'' do đồng chí Phạm Sinh - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn trình bày. Tiếp đó là các bản báo cáo tham luận: về công tác tham mưu (do Tham mưu trưởng Quân đoàn Khuất Duy Tiến trình bày), công tác đảng, công tác chính trị (do phó chủ nhiệm chính trị Quân đoàn Nguyễn Đằng trình bày), về công tác hậu cần - kỹ thuật (do chủ nhiệm hậu cần Quân đoàn Lưu Sĩ Hiệp trình bày). Hội nghị đã đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới là: '' Trên cơ sở quán triệt đường lối và nhiệm vụ chính trị, đường lối quan điểm tư tưởng, quân sự, quyết tâm. chiến lược, ra sức xây dựng Quân đoàn chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến để trong tình huống nào, điều kiện hoàn cảnh nào cũng tiến hành phản công, tiến công mãnh liệt, phòng ngự kiên cường bền bỉ, kết hợp chặt chẽ phản công, tiến công, phòng ngự, đánh hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn hay quy mô thích hợp đều giỏi, chiến đấu giỏi với hiệu suất cao, hiệu quả chiến dịch lớn, tăng cường hiệu lực chiến lược càng đánh càng mạnh, trong mọi tình huống đều phải là quả đấm thép tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu từng sư đoàn và quân đoàn địch; làm thay đổi so sánh lực lượng tại chỗ, thay đổi thế trận, thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta... cùng toàn dân toàn quân làm thay đổi cục diện chiến tranh và giành thắng lợi quyết định trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc...''. Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Văn Tiến Dũng nhiệt liệt hoan ngênh Quân đoàn 3 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Quân ủy Trung ương giao cho và xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của Quân đoàn trong thời gian tới là: "Quân đoàn 3 là một trong các quân đoàn chủ lực cơ động dự bị của Bộ Tổng tư lệnh... Quân đoàn đã được bố trí trước trên một hướng chiến lược hết sức quan trọng, nằm trên một địa bàn xung yếu có quan hệ trực tiếp đến tuyến 1 và đến việc bảo vệ khu công nghiệp Thái Nguyên và sau lưng là Thủ đô Hà Nơi... Vị trí của Quân đoàn 3 đảm nhiệm hiện nay hết sức quan trọng, không chỉ trước mắt mà còn lâu dài...''. Vì vậy Quân đoàn 3 ''phải hết sức cảnh giác ra sức nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu về mọi mặt để có thể kịp thời đánh địch trong bất kỳ tình huống nào, kịp thời chủ động chiến đấu giành thắng lợi lớn nhất. Đẩy mạnh huấn luyện cơ bản, huấn luyện chính quy, nhanh chóng nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy theo hiệp đồng quân binh chủng, theo yêu cầu chiến đấu, nhanh chóng làm chủ các trang bị kỹ thuật, tổ chức tốt đời sống tinh thần, vật chất cho bộ đội, đẩy mạnh sản xuất tự túc, tăng cường công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh toàn diện''. Ngày 27 tháng 11, hội nghị thành công và gửi thư kêu gọi ''Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong giai đoạn mới, ra sức thực hiện 4 mục tiêu, 9 công tác lớn của nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn... xây dựng Quân đoàn giỏi cả tiến công, phản công và phòng ngự, đã ra quân là chiến thắng, lập nên những chiến công vang dội''. Hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất là một sự kiện lịch sử quan trọng của Quân đoàn trong những ngày đầu làm nhiệm vụ mới trên miền Bắc. Nó không những phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, thảo luận thống nhất nhiều nội dung lớn làm cơ sở cho Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong 2 năm 1980, 1981; mà còn thể hiện tính chiến đấu và sự đoàn kết nhất trí cao trong toàn Đảng bộ, thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên Binh đoàn Tây Nguyên. Tiếp đó, từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 11 năm 1979, Bộ tư lệnh Quân đoàn tổ chức hội nghị tổng kết nhiệm vụ tác chiến trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Sau khi đánh giá toàn diện các mặt, kết quả to lớn cả về quân sự và chính trị mà Quân đoàn đã lập được trong 21 tháng (8.10.1977-30.6.1979) chiến đấu, hội nghị đã thống nhất rút ra 5 bài học kinh nghiệm quý là: 1. Đánh giá đúng bản chất, âm mưu, ý đồ của địch, xác định đúng nhiệm vụ của ta. 2. Quán triệt tính chất nhiệm vụ của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nắm vững các quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng để có cách đánh đúng, đánh thắng lợi theo quyết tâm của Trung ương. 3. Một số kinh nghiệm về sử dụng các binh chủng trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. 4. Bảo đảm hậu cần - kỹ thuật. 5. Một số vấn đề về công tác đảng, công tác chính trị trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Phấn khởi tự hào với những chiến công to lớn đã đạt được quyết tâm thực hiện thắng lợi chủ trương kế hoạch của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn, trong ba tháng mùa đông giá rét đầu tiên trên đất Bắc, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên phát huy truyền thống ''Quyết thắng, Sáng tạo, Đoàn kết, Thống nhất, Nghiêm túc, Tự lực" ra sức khắc phục khó khăn, đẩy mạnh thi đua, lập được nhiều thành tích mới. Ý thức sâu sắc về vị trí, trách nhiệm của mình trên địa bàn mới, xác định rõ sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ ''chủ yếu trọng tâm'', Quân đoàn luôn duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu; tiến hành nghiên cứu địa hình, tình hình mọi mặt trên hướng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, từng bước hoàn chỉnh phương án tác chiến cơ bản theo nhiệm vụ Bộ giao; lập các phương án cơ động lực lượng đánh địch đổ bộ đường không và tiến công bất ngờ vào vị trí đứng chân, phối hợp cùng địa phương triển khai phương án chống bạo loạn bảo đảm trật tự an ninh địa bàn và từng bước luyện tập ở các cấp. Trong 4 tháng cuối năm 1979, việc báo động kiểm tra, chiến đấu tại chỗ, báo động cơ động rèn luyện hành quân được tiến hành đều dặn với nhịp độ ngày càng tăng. Cấp trung đoàn tổ chức báo động được 3 lần, cấp tiểu đoàn báo động được 11 lần và cấp đại đội tổ chức được 16 lần. Các mạng thông tin được báo động toàn Quân đoàn một lần và ở cấp sư đoàn được 3 lần. Hệ thống công sự chiến đấu với hàng chục nghìn hố cá nhân, hàng nghìn mét chiến hào, hàng chục trận địa phòng không được xây dựng. Trong điều kiện công việc bề bộn, thao trường bãi tập chưa có, Bộ tư lệnh Quân đoàn chỉ đạo cho các đơn vị tập trung học tập những nội dung thiết yếu: đường lối quân sự của Đảng, phương thức tác chiến chiến lược, những kinh nghiệm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên tuyến biên giới phía Bắc; bước đầu huấn luyện các nội dung chiến thuật vận động tiến công và phòng ngự từ cấp tiểu đội đến cấp trung đoàn, bắn máy bay bay thấp bằng súng bộ binh, đánh xe tăng bằng lựu đạn thủ pháo, bắn AK, RPĐ, B40, B41, dò gỡ mìm, làm công sự trận địa phòng ngự kiên cố, hiệp đồng chiến đấu cấp phân đội của pháo binh, phòng không. Do quán triệt tốt nhiệm vụ ngay từ đầu, thường xuyên tổ chức kiểm tra, hướng dẫn đơn vị, tích cực bồi dưỡng cán bộ và xạ thủ, động viên bộ đội khắc phục khó khăn... nên nhiều đơn vị đạt 90% quân số tham gia huấn luyện. Hầu hết các khoa mục kiểm tra đều đạt loại khá trở lên. Trung đoàn 28 Sư đoàn 10 đạt đơn vị bắn giỏi về B40, B41, đại liên; Trung đoàn 4 pháo binh Sư đoàn 10 kiểm tra 14 đại đội (bắn AK) có 11 đại đội đạt loại giỏi và 3 đại đội đạt loại khá. Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 kiểm tra bắn AK, RPĐ, tiểu đội, trung đội bộ binh bắn chiến đấu đều đạt loại giỏi. Sư đoàn 31 bắn đạn thật đạt 100% khá giỏi. Trong khi bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện, Quân đoàn tập trung lực lượng lớn và động viên mọi nỗ lực để xây dựng doanh trại, bảo đảm đời sống bộ đội. Với những cố gắng rất cao, lại được chính quyền và nhân dân địa phương tận tình giúp đỡ, chỉ trong hơn một tháng ra miền Bắc, Quân đoàn đã đưa toàn bộ bộ đội vào ở các doanh trại, từng bước thực hiện nếp sống chính quy. Đến đầu tháng 12 năm 1979, đã có gần 150.000m2 nhà tạm dược xây dựng; trên một vạn ván nằm, l.500 bàn làm việc và hàng nghìn bàn ghế phục vụ sinh hoạt được làm mới, các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng từng bước hình thành; hàng chục héc-ta rau xanh, nhiều đàn gia súc gia cầm được gây dựng bước đầu đem lại sản phẩm phục vụ đời sống thường ngày của bộ đội. Điện lưới quốc gia đã về với Lữ đoàn phòng không 234; 30.000 bộ quân trang chống rét, chống rách đã được bổ sung kịp thời, mỗi chiến sĩ đã có từ 2 đến 3 bộ quân phục lành. Hàng trăm y tá vừa tốt nghiệp khóa đào tạo tỏa về các đơn vị. Một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến đấu được thống kê quản lý và đưa vào bảo quản bảo dưỡng; một đợt sinh hoạt giáo dục về chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất người lái xe và chấp hành luật lệ giao thông được triển khai ở tất cả các đơn vị trong Quân đoàn. Cùng thời gian này, công tác kiện toàn tổ chức biên chế theo biểu mẫu mới của Bộ được triển khai. Các tổ chức Đảng, đoàn, hội đồng quân nhân được củng cố, hơn một nghìn đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Một đợt sinh hoạt chính trị tập trung làm rõ thắng lợi to lớn, trưởng thành của đơn vị và quán triệt nhiệm vụ trong giai đoạn mới được triển khai sâu rộng đến toàn thể bộ đội; phong trào thi đua đột kích ''Hiến kế, luyện rèn, ra quân quyết thắng'' lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn được phát động; nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và các diễn đàn về chống tiêu cực lạc hậu thu hút đông đảo thanh niên; đại hội mừng công lần lượt được mở ở tất cả các cấp. Đợt thưởng phép đặc biệt cho hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế Cam-pu-chia được tiến hành. Thấu hiểu ý nghĩa, tầm quan trọng và tình cấp thiết của tình đoàn kết quân dân cá nước, ngay từ khi ra miền Bắc, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn rất quan tâm đến công tác vận động nhân dân, đặc biệt là dân tộc ít người. Cấp ủy Đảng và chỉ huy từ Quân đoàn đến đơn vị cơ sở chủ động quan hệ chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương, hiểu rõ nhiệm vụ và những thuận lợi, khó khăn của mỗi bên, đoàn kết tôn trọng, tích cực giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ. Dưới sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của hệ thống cơ quan chính trị các cấp, bộ đội dược phổ biến tình hình đặc điểm địa phương nơi đóng quân, học tập phong tục tập quán của nhân dân, học 12 điều kỷ luật và 10 lời thề danh dự của quân nhân, từng bước đẩy mạnh các hoạt động kết nghĩa, góp phần xây dựng địa phương về mọi mặt. Mặc dù phải triển khai rất nhiều công việc, nhưng các đơn vị vẫn dành hàng nghìn ngày công giúp đỡ địa phương trong việc thu hoạch mùa màng, tận tình cứu chữa bệnh tật, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ở Sư đoàn 10, trong mấy tháng cuối năm 1979 bộ đội đã giúp dân 1.472 ngày công cày, bừa, nhổ mạ và cắt 5.100 kg phân xanh. Thương yêu quý mến bộ đội như con em của chính mình, đồng bào Định Hóa, Phú Lương nhường nhà, chăm sóc tận tình bộ đội đoàn Đắc Tô, và ủng hộ 23.671 cây tre nứa, 85.740 tàu lá cọ, hàng chục nghìn bó củi, 69.796m2 đất trồng trọt, 70 con gà giống, gần 1 tạ giẻ lau súng, làm giúp 8 nhà kho, 2 bệnh xá, 15 nhà bếp, bốc dỡ hơn 100 tấn hàng hóa với hàng nghìn ngày công. Tình cảm ấm áp quân dân đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên nhanh chóng vượt qua những thử thách khó khăn trong những ngày đông giá rét đầu tiên trên miền Bắc, tạo dựng cơ ngơi ban đầu và bước vào thực hiện nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới. Đây là những cơ sở tốt dể đơn vị và địa phương đẩy mạnh thực hiện ''quân với dân một ý chí'' trong những năm tiếp sau. Ngày 11 tháng 12 năm 1979, Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tôn Đức Thắng ký quyết định bổ nhiệm đại tá Nguyễn Quốc Thước (quyền Tư lệnh Quân đoàn) làm Tư lệnh Quân đoàn 3, Thiếu tướng Phạm Sinh (Chính ủy Quân đoàn 3) được điều động làm Tư lệnh Binh đoàn bảo vệ (32). Cùng thời gian này đại tá Hà Quốc Toàn (Phó chính ủy Quân đoàn) được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân đoàn 3 và đại tá Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh Quân đoàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 07:23:39 am » |
|
* Ngày 1 tháng 1 năm 1980, Quân đoàn tổ chức trọng thể lễ đón nhận danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh. Đến dự lễ có các đồng chí: Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Thượng tướng Lê Trọng Tấn - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân. Việt Nam, đồng chí Doanh Hằng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái, Anh hùng Đinh Núp, các đồng chí trong Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên và Quân đoàn 3 qua các thời kỳ; đại biểu các quân khu, quân đoàn, binh chủng, cơ quan Bộ Quốc phòng, các gia đình anh hùng, liệt sĩ và nhiều cán bộ, chiến sĩ đại diện cho các cơ quan đơn vị trong Quân đoàn. Tại buổi lễ, được sự ủy nhiệm của trên, Thượng tướng Lê Trọng Tấn đọc lệnh của Chủ tịch Nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh cho Quân đoàn 3, đồng thời thay mặt cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn: ''Phát huy thắng lợi đã giành được, luôn xứng đáng với lòng tin của Đảng, của nhân dân, tiếp tục quán triệt đường lối nhiệm vụ cách mạng, đường lối nhiệm vụ quân sự của Đảng, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới, nêu cao tinh thần trách nhiệm, vai trò tiền phong gương mẫu, tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, thực hiện quân dân một ý chí, quyết chiến quyết thắng..., vì nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, chúng ta cùng nhau quyết tử để cho Tổ quốc trường sinh''. Cùng thời gian này, ở Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn công binh 7... cũng lần lượt tổ chức đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Một không khí hân hoan tràn ngập khắp các đơn vị. Tiếp đó, nhân địp kỷ niệm lần thứ 5 ngày thành lập Quân đoàn 3 (26.3.1975 - 26.3.1980), Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng gửi thư chúc mừng đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên Quân đoàn, bức thư nêu rõ: '' Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã anh dũng chiến đấu mưu trí sáng tạo, công tác bền bỉ tận tụy lập được nhiều chiến công xuất sắc hoàn thành các nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và Quân đội giao cho vì nghĩa vụ thiêng liêng của Tổ quốc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Quân đoàn 3 là một quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ được bố trí trên một hướng chiến lược hết sức quan trọng, nằm trên 1 địa bàn xung yếu có quan hệ trực tiếp đến tuyến một và việc bảo vệ các mục tiêu trọng yếu. Nhiệm vụ của Quân đoàn hết sức nặng nề nhưng cũng hết sức vẻ vang. Để làm tròn nhiệm vụ đó cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên phải xây dựng Quân đoàn theo hướng chính quy hiện đại, tinh nhuệ và thiện chiến, tiêu biểu sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa''. Vô cùng phấn khởi, tự hào, cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên hăm hở thi đua quyết tâm hoàn thành 4 mục tiêu trong 2 năm (1980-1981) mà nghị quyết Đảng ủy Quân đoàn đã đề ra: "1 Xây dựng Quân đoàn có trình độ chính trị vững vàng, có ý chí chiến đấu cao, lòng trung thành tuyệt đối, luôn luôn phát huy được bản chất truyền thống tốt đẹp, có kỷ luật tự giác nghiêm minh, có ý thức làm chủ tập thể cao. Trước mắt, năm 1980 phải xây dựng được quyết tâm chiến đấu vững chắc, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt bất cứ lúc nào. 2. Xây dựng đội ngũ cán bộ theo đường lối cán bộ của Đảng cả về số lượng, chất lượng có năng lực và phẩm chất, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp và lý tưởng cách mạng có ý chí quyết tâm và ý thức tổ chức kỷ luật cao... 3. Xây dựng Đảng bộ mạnh, nâng cao chất lượng và hiệu lực lãnh đạo, nắm vững nguyên tắc Đảng ủy lãnh đạo tập thể, phân công cá nhân phụ trách Thường xuyên giữ vững đại đội có chi bộ, cấp ủy; trung đội có tổ đảng, tiểu đội có đảng viên. Năm 1980 không còn chi bộ kém, không còn đảng viên không đủ tư cách. 4. Xây dựng tốt nền nếp chế độ công tác hậu cần - kỹ thuật. Cuối năm 1980 phải bảo đảm vững chắc cho phù hợp chiến đấu sản xuất và tiết kiệm, bảo đảm quân số khỏe 97% trở lên...''. Năm 1980, Quân đoàn 3 làm nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc tuy đã kết thúc từ ngày 18 tháng 3 năm 1979, nhưng những hành động xâm lấn biên giới nước ta ở hướng này vẫn luôn diễn ra; đồng thời một kiểu chiến tranh thâm độc mới ''chiến tranh phá hoại nhiều mặt'' ngày một gia tăng trong nội địa. Đất nước ta ở trong trạng thái vừa có hòa bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Một lượng lớn sức người, sức của phải dồn lên để xây dựng và giữ vững tuyến phòng thủ biên cương, làm cho tình hình kinh tế - xã hội ngày càng khó khăn. Vừa bước ra từ chiến tranh, Quân đoàn 3 có những thuận lợi cơ bản: thường xuyên được Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan Bộ, đơn vị bạn và địa phương quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ, phối hợp; Quân đoàn đã có mặt thời gian ngắn củng cố kiện toàn về mọi mặt; cán bộ, chiến sĩ hầu hết đã trải qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu, có những kinh nghiệm tác chiến, trẻ khỏe giàu nhiệt huyết cách mạng; tỷ lệ đảng viên chiếm tới 18% quân số, 100% số đại đội có chi bộ. Song bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Quân đoàn bước vào thực hiện nhiệm vụ mới cũng gặp nhiều khó khăn: đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, đời sống kinh tế - xã hội ngày càng khó khăn do cấm vận và phá hoại của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam làm ảnh hưởng trực tiếp tới tâm tư, đời sống và hậu phương cán bộ, chiến sĩ; Quân đoàn vừa sẵn sàng chiến đấu, xây dựng theo hướng cách mạng chính quy, tinh nhuệ, thiện chiến, vừa sản xuất trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới với những yêu cầu mới rất cao. Trong khi đó, phần lớn cán bộ cơ sở trưởng thành trong chiến đấu chưa được đào tạo cơ bản, trình độ nhận thức chính trị và chuyên môn quân sự, năng lực tổ chức chỉ huy, quản lý bộ đội so với yêu cầu còn thấp; ''chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng còn tồn tại phổ biến'' 1 chậm được giải quyết là những trở ngại chính cho bước đường đi lên của Quân đoàn. Quán triệt sâu sắc chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu của Bộ Quốc phòng: ''Các lực lượng vũ trang phải hết sức đề cao cảnh giác. Từng ngày, từng giờ, từng phút phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, kịp thời đánh bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của địch, hoàn thành nhiệm vụ của lục lượng vũ trang: bảo vệ Tổ quốc, tích cực tham gia xây dựng kinh tế và làm nghĩa vụ quốc tế" 2. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ động, kiên quyết, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy đơn vị vượt qua khó khăn, giành được nhiều thành tích tốt trên tất cả các mặt. Toàn Quân đoàn chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và chuẩn bị đầy đủ cho việc chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn theo mệnh lệnh quy định của Bộ. Các kế hoạch tác chiến trên hướng A1, A2 hoàn thành. Các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến được duy trì nghiêm. Hàng ngày cấp Sư đoàn có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội phòng không, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội pháo sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ chiến đấu Lữ đoàn xe tăng 273 có 1 đại đội xe tăng thiết giáp hỗn hợp trực chiến; Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234 và Trung đoàn công binh 7 luôn duy trì các đại đội trực chiến đúng quy định. Việc rèn luyện bộ đội hành quân xa, mang vác nặng, báo động chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu lên tăng cường và lên cao được tổ chức chặt chẽ. Trong năm có 2.289 lần báo động chiến đấu từ cấp đại đội đến cấp sư đoàn, 65 lần báo động luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, 262 cuộc hành quân bộ rèn luyện. Đặc biệt, Quân đoàn đã hoàn thành thắng lợi các cuộc diễn tập lớn N18 và M34 (chỉ huy - cơ quan 3 cấp có một phần thực binh) do Bộ tổ chức trên hướng Lạng Sơn và Hà Bắc. Trong đó lực lượng công binh của Quân đoàn mở xong tuyến đường CĐ30 nối liền Phố Chợ (Lục Ngạn, Hà Bắc) đến Kéo Thiềng (Lộc Bình, Lạng Sơn) dài 47km kịp thời phục vụ cho cuộc diễn tập của Sư đoàn bộ binh cơ giới 308 Quân đoàn 1, được cấp trên khen ngợi. Thực hiện phương châm huấn luyện ''cơ bản, hệ thống, toàn diện, đồng bộ nhưng có trọng điểm theo hướng tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, toàn Quân đoàn đã tổ chức bồi dưỡng được 17.769 lượt cán bộ từ tiểu đợi đến sư đoàn và cơ quan các cấp; hoàn thành các chương trình huấn luyện cán bộ, huấn luyện phân đội bộ binh, huấn luyện binh chủng và huấn luyện cho 5.200 tân binh (trong đó có 400 chiến sĩ gái). Kết quả bắn đạn thật súng bộ binh lần 3, 4, 5 đều đạt 100% khá giỏi, 9 trung đoàn bộ binh đều đạt đơn vị bắn giỏi 4 loại súng. Trường Quân chính, Trường Hạ sĩ quan, Trường Đảng, Trường Hậu cần-kỹ thuật, Trường Văn Hóa thực hiện cải cách giáo dục theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và chỉ thị bổ sung nhiệm vụ về,công tác nhà trường của Tư lệnh Quân đoàn, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, bổ túc gần 2.500 cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, kịp thời bổ sung cho các đơn vị. Những kết quả trong công tác sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện đã trực tiếp góp phần đẩy mạnh xây dựng nền nếp chính quy, thực hiện có hiệu quả chỉ thị ''Toàn quân hành động theo điều lệnh'' của Bộ Tổng Tham mưu trong toàn Quân đoàn. Đóng quân trong khu vực phần lớn là đồi núi dốc, đất đai khô cằn, thời tiết thất thường, kinh nghiệm và vốn đầu tư sản xuất ít ỏi; nhưng cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn tích cực sản xuất lượng thực, trồng rau xanh, chăn nuôi; kịp thời mở hội nghị chuyên đề rút kinh nghiệm tăng gia sản xuất. Năm 1980 toàn Quân đoàn đã thu được 500 tấn gạo, 63 tấn thịt cá, 9,1 tấn đậu lạc, 1000 tấn rau xanh. Tuy chỉ đạt 40% chỉ tiêu; nhưng kết quả tăng gia rất có ý nghĩa; nó không chỉ trực tiếp góp phần giải quyết những khó khăn trước mắt mà còn tạo ra cơ sở sản xuất ban đầu, từng bước lựa chọn những cây, con phù hợp và rút ra những kinh nghiệm quý cho phát triển và đẩy mạnh sản xuất trong những năm sau. Trên lĩnh vực xây dựng doanh trại, năm 1980 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của Binh đoàn: 374.700m2 nhà các loại được xây dựng, bảo đảm bình quân 3m2 cho một người, 60% bộ đội có giường nằm, 40% nằm bằng sàn tre nứa nhưng sạch sẽ, thóang mát, bảo đảm vệ sinh. Nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng ra đời và bước vào hoạt động ngày càng có hiệu quả Ngành kỹ thuật tuy mới độc lập hoạt động nhưng cũng lập nhiều thành tích: triển khai nghiêm túc chỉ thị của Tư lệnh Quân đoàn về việc tăng cường công tác quản lý giữ gìn xe máy, đảm bảo nhà để xe đạt 98%, nhà cho pháo đạt 93%; bảo dưỡng 6.907 lượt xe (đạt 94% kế hoạch) và sửa chữa 3.591 lượt xe máy, 22.879 lượt súng bộ. binh, 524 lượt pháo xe kéo, 608 lần chiếc khí tài và 129 lần chiếc xe tăng, xe thiết giáp, bảo đảm phục vụ kịp thời nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và công tác của Quân đoàn. Công tác đảng, công tác chính trị trong năm 1980 có nhiều kết quả. Việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng luôn chủ động, bám sát tình hình nhiệm vụ. Phong trào thi đua được đẩy mạnh. Các hệ thống tổ chức Đảng, chỉ huy, đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân ở các cấp luôn được củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu quả hoạt động. Công tác thanh niên được tổng kết. Đặc biệt, Đảng bộ Quân đoàn đã triển khai và hoàn thành 4 đợt phát thẻ đảng viên cho 21 tổ chức cơ sở, 29 đảng bộ bộ phận, 268 chi bộ với 3.073 đảng viên; kịp thời đưa ra khỏi Đảng 34 người không đủ tiêu chuẩn. Đây là lần đầu tiên phát thẻ , đảng viên trong Đảng bộ. Kết quả của đợt phát thẻ rất có ý nghĩa, nó không những củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của các tổ chức Đảng, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên mà còn là dịp phát động mạnh mẽ quần chúng tham gia xây dựng Đảng, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nhận thức rõ mục tiêu lý tưởng cao đẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam, hàng nghìn đoàn viên thanh niên ra sức phấn đấu rèn luyện theo các tiêu chuẩn của người đảng viên và làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1980 Đảng bộ Quân đoàn đã phát triển được 2,327 đảng viên mới và xây dựng được nguồn đối tượng dồi dào. Năm 1980, năm bản lề của giai đoạn sẵn sàng chiến đấu cao, xây dựng Quân đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến trên miền Bắc nhanh chóng qua đi. Mặc dù kết quả ở một số nhiệm vụ còn ở mức độ nhất định, nhưng những thành tích toàn diện của Quân đoàn là một cố gắng nỗ lực rất lớn, thể hiện ý chí và bản lĩnh của cán bộ, chiến sĩ đã được tôi luyện dày dạn trưởng thành trong chiến tranh. Đây là vốn quý, là cơ sở để Binh đoàn Tây Nguyên tiến những bước dài vững chắc trên con đường xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc và góp phần xây dựng hậu phương trực tiếp trên hướng chiến lược hết sức quan trọng của Tổ quốc. ----------------------------------------------------------------- 1. "Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động lớn và phong trào thi đua quyết thắng năm 1982 của Quân đoàn 3". Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, ngày 20 tháng 12 năm 1982, tr. 13.
2. 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam. Sđd, tr. 413.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 03:56:15 pm » |
|
2. Xây dựng Quân đoàn theo hướng "Cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ'' nâng cao sức mạnh chiến đấu.
Đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX, nhiều sự kiện hách lịch sử trọng đại diễn ra trên đất nước ta có tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Chủ tịch nước ban hành lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong chương IV ''Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa'' quy định trách nhiệm của toàn dân và toàn quân trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 10 tháng 1 năm 1982 Hội đồng Nhà nước công bố Luật nghĩa vụ quân sự và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (27 -31.12.1982) khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Đại hội lần thứ IV đồng thời vạch ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1981 - 1985). Nghị quyết của Đại hội chỉ rõ: ''Đất nước ta đang ở trong tình thế vừa có hòa bình, vừa phải đương đầu với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt.,. Đồng thời phải sẵn sàng đối phó với tình huống địch có thể gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn... toàn Đảng, toàn dân và toàn quân luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng xây dựng quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đập tan kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch để bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời ngăn ngừa và chiến đấu thắng lợi nếu địch liều lĩnh gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn đối với đất nước ta". Đại hội lần thứ V của Đảng đánh dấu sự chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đương đấu tranh "Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân''.
Tiếp đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết (số 07/NQ- TW ngày 15.12.1982) ''Về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội'' và Nghị quyết (số 27/ NQ - TM ngày 4.7.1985) ''Về việc tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng''. Cùng thời gian này toàn quân thực hiện thống nhất các ''Điều lệnh nội vụ'', ''Điều lệnh kỷ luật'', ''Điều lệnh đóng quân và canh phòng'', ''Điều lệnh đội ngũ'' và mang mặc quân phục (kiểu K82), hệ thống chức vụ cấp bậc, cấp hiệu, phù hiệu theo quy định mới của Bộ Quốc phòng; đồng thời tiếp tục thực hiện cuộc vận động ''Phát huy bản chất ốết đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động, với năm yêu cầu mới1.
Là một Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 3 nghiêm túc quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên. Thực hiện quy định (số 580/QĐ - QP ngày 30.9.1980) của Bộ Quốc phòng về việc thực hiện chế độ một người chỉ huy trong Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngày 1 tháng 10 năm 1980; trong đó ủy quyền cho Tư lệnh Quân đoàn 3 ra quyết định thực hiện chế độ một người chỉ huy đối với các đơn vị thuộc quyền.
Ngày 10 tháng 5 năm 1981 Đảng ủy Quân đoàn ra nghị quyết về thực hiện chế độ một người chỉ huy trong Quân đoàn, xác định rõ: ''Xây dựng và phát huy sức mạnh của chế độ một người chỉ huy là nhiệm vụ tổ chức rất quan trọng, một nhiệm vụ chính trị cấp bách trực tiếp của Đảng bộ và người chỉ huy của Quân đoàn trong thời gian tới''.
Cần tập trung xây dựng và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa người chỉ huy với Đảng ủy, người chỉ huy và cơ quan cấp trên; với Đảng ủy cấp mình, người phó chỉ huy, cơ quan, đông đảo cán bộ, chiến sĩ và các tổ chức quần chúng trong đơn vị.
Trên cơ sở quyền hạn chức trách được giao và nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn, ngày 8 tháng 6 năm 1981 đại tá Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân đoàn ra quyết định (số 88/QĐ - B) thực hiện chế độ một người chỉ huy tại Sư đoàn bộ binh 320; tiếp đó ngày 23 tháng 11 năm 1981 Tư lệnh Quân đoàn ra quyết định (số 313/ QĐ ) thực hiện chế độ một người chỉ huy đối với các đơn vị: Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 31, Lữ đoàn xe tăng 273, Trung đoàn pháo binh 40, Trung đoàn phòng không 234, Trung đoàn công binh 7, Trung đoàn thông tin 29, Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, Trường Quân chính, Trường Hậu cần, Trường Hạ sĩ quan, Trường Văn Hóa, Viện Quân y 211. Từ đây, Binh đoàn Tây Nguyên chuyển sang một thời kỳ mới: thực hiện chế độ một người chỉ huy từ cấp đại đội đến Quân đoàn.
Trong những ngày đầu tiên của năm mới Nhâm Tuất (1982), Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 2 được tiến hành tại Quân đoàn bộ (xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Bắc Thái). Dự Đại hội có 214 đại biểu chính thức và 9 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 7.915 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam là đại biểu được Quân ủy Trung ương cử về chỉ đạo Đại hội và giới thiệu ứng cử bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân (15-19.1.1982). Trong 5 ngày Đại hội (2-6.1.1982) các đại biểu đã nghiên cứu, thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến vào các văn kiện quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và ''báo cáo đánh giá tình hình xây dựng tổ chức ở cơ sở Đảng'' của Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn. Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện phương hướng xây dựng Quân đoàn do Hội nghị cán bộ định kỳ Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất (26 - 27. 11 1979) đã vạch ra, quyết tâm ''xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, theo phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng hùng mạnh, có trình độ chính quy, hiện đại ngày càng cao, để bất cứ tình huống nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ''2 '' cùng với toàn quân, toàn dân đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội''.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 2 gồm 11 đồng chí. Đại tá Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân đoàn được bầu làm Bí thư, đại tá Hà Quốc Tỏan - Phó tư lệnh về Chính trị Quân đoàn được bầu làm Phó Bí thư. Đại hội cũng đã bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ toàn quân gồm 9 đồng chí:
1. Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
2. Đại tá Nguyễn Quốc Thước - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn Tư lệnh Quân đoàn.
3. Đại tá Hà Quốc Tỏan - Phó tư lệnh về chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân đoàn.
4. Đại tá Bùi Đình Hòe - Phó tư lệnh Tham mưu trưởng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn.
5. Thượng tá Nguyễn Văn Thanh - Phó tư lệnh về kỹ thuật, Chủ nhiệm kỹ thuật Quân đoàn.
6. Đại tá Nguyễn Đằng - Chủ nhiệm Chính trị quân đoàn, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Cục Chính trị.
7. Thượng tá Lê Quang Bình - sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân đoàn.
8. Thượng tá Đặng Công Toàn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 31, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân đoàn.
9. Thượng tá Đinh Xuân La - Sư đoàn trưởng Sư đoàn lo, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân đoàn.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ 2 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Binh đoàn Tây Nguyên. Nó không những tập trung trí tuệ dòng góp được chiều ý kiến thiết thực vào các dự thảo văn kiện quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, đánh giá toàn diện tình hình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đề ra nhiệm vụ mục tiêu, yêu cầu chủ yếu xây dựng Đảng bộ cơ sở thời gian tới mà còn khẳng định ý chí và nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ toàn Binh đoàn quyết tâm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành mọi nhiệm vụ trên hướng chiến lược mới ở phía Bắc Tổ quốc.
Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và nghị quyết đại hội Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 2 , cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên thực hiện kế hoạch 5 năm (1981-1985) với nhiều thuận lợi. Quân đoàn thường xuyên nhận được sự lãnh đạo và chỉ đạo chặt chẽ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự giúp đỡ của các cơ quan Bộ; sự hiệp đồng của các quân bình chủng và các đơn vị bạn; sự chi viện và ủng hộ to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. Sau nhiều năm cơ động chiến đấu và làm nhiệm vụ ở phía nam, đây là lần đầu tiên Quân đoàn có một khỏang thời gian khá dài, tương đối ổn định, không có thay đổi lớn về nơi đóng quân, tổ chức biên chế và nhiệm vụ; lại có đội ngũ cán bộ trẻ, khỏe, giàu nhiệt huyết được tôi luyện qua khói lửa chiến tranh, có tỷ lệ lãnh đạo cao và những cơ sở vật chất ban đầu những kinh nghiệm quý rút ra qua hơn một năm xây dựng củng cố.
Bên cạnh những thuận lơi cơ bản trên, trong giai đoạn này Quân đoàn cũng phải trực tiếp đối mặt với nhiều khó khăn trở ngại chủ quan và khách quan. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới, vị trí đóng quân của một số đơn vị trong Quân đoàn được điều chỉnh lại: Sư đoàn bộ binh 320 được chuyển thành Sư đoàn bộ binh cơ giới và chuyển vị trí đóng quân từ huyện Đại Từ tỉnh Bắc Thái về các khu vực Ngoại Trạch, Trung Mầu (Tam Đảo, Vĩnh Phú ) và xã Ngọc Thanh (Mê Linh, Hà Nội); Trung đoàn pháo binh 40 từ La Quang - Na Hiên chuyển về Gò Đầm (Trường đại học Mỏ địa chất); Trung đoàn công binh 7 từ Tràng Xá về vị trí cũ của Trung đoàn pháo binh 40 ở La Quang - La Hiên; Sư đoàn 31 chuyển gọn vị trí đóng quân về Võ Nhai, Tràng Xá; Trung đoàn phòng không 234 từ huyện Phú Lương về huyện Phú Bình. Việc chuyển vị trí đóng quân của một đơn vị cũng mở đầu một quá trình lao động vô cùng vất vả, vật lộn với nắng mưa giá rét để tạo dựng một cơ ngơi mới. Đội ngũ cán bộ với hàng nghìn đồng chí phát triển trong chiến đấu, thiếu kiến thức cơ bản về chính trị và quân sự nên trình độ năng lực nhìn chung chưa theo kịp yêu cầu xây dựng đơn vị theo hướng ''chính quy, hiện đại tinh nhuệ, thiện chiến'' và lúng túng khi chuyển sang thực hiện chế độ một người chỉ huy. Vì vậy phải tổ chức bổ túc đào tạo lại với số lượng lớn ở các trường của Quân đoàn và của Bộ, trong khi lực lượng bổ sung của trên có hạn, đã tạo ra sự thiếu hụt cán bộ ở hầu hết các đơn vị, cơ quan trong một thời gian khá dài. Thực hiện biểu biên chế 0288, số đơn vị cơ bản vẫn được giữ nguyên, nhưng có đơn vị như Sư đoàn 31 chỉ đạt 60% quân số so với yêu cầu quy định, trong đó Trung đoàn 922 rút gọn thành khung huấn luyện chiến sĩ mới và quân dự nhiệm. Thực hiện luật nghĩa vụ quân sự, hàng năm Quân đoàn tuyển nhận từ 8.000 đến hơn 10.000 tân binh và giải quyết ra quân xuất ngũ một số lượng lớn, động thời chuyển gọn từng tiểu đoàn bổ sung cho các đơn vị bạn chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc...nên công tác quản lý, huấn luyện, hậu cần gặp không ít trở ngại; trong đó việc bảo đảm lương thực, thực phẩm cho bộ đội hàng ngày luôn là nỗi lo thường trực của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Hoàn cảnh khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh để lại cũng làm nảy sinh thêm những tiêu cực, làm nản lòng không ít cán bộ, chiến sĩ thiếu bản lĩnh, chưa vững lập trường, kém rèn luyện... có trường hợp phải xử lý bằng pháp luật. Đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải ra quyết định kỷ luật lưu Đảng, cách chức đồng chí Phó tư lệnh Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 3 vì không làm tròn trách nhiệm; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cách chức đồng chí Trưởng phòng Huấn luyện chiến đấu Bộ Tham mưu Quân đoàn vì vi phạm nguyên tắc quản lý vật tư tài chính, lợi dụng chức quyền tham ô.
Về khách quan, thời kỳ này Quân đoàn cũng gặp rất nhiều khó khăn. Sau Đại hội Đảng V, ta chậm cụ thể hóa đường lối kinh tế trong chặng đứng đầu tiên; bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy ngũ và hành động giản đơn nóng vội trong quản lý kính tế - xã hội, buông lỏng chuyên chính vô sản không được khắc phục kịp thời; thêm vào đó là ''cú hích'' tổng điều chỉnh giá - lương - tiền càng làm cho nền kính tế thêm khó khăn gay gắt, đất nước lâm vào tình trạng khủng hỏang trầm trọng, nỗi lo cái ăn hàng ngày như một căn bệnh kinh niên lan tràn ở trong dân và các đơn vị quân đội. Cùng lúc, chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế, các loại kẻ thù trong và ngoài nước cấu kết tạo nên liên Minh ma quỷ ra sức chống phá cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn vô cùng thâm độc, vừa trắng trợn vừa tinh vi, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và cả trong đời sống tình cảm riêng tư của mỗi con người. Trên địa bàn Quân đoàn 3 đứng chân và làm nhiệm vụ, cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù thách diễn ra ráo riết, muôn hình muôn vẻ. Lợi dụng sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kỹ thuật, kinh tế khó khăn, chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, phao tin đồn nhảm gây hòai nghi vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá cuộc bầu cử Quốc hội khóa VII (26.4.1981) ở địa phương. Tại nhiều huyện, bọn phản động rải truyền đơn chống Đảng, nói xấu chế độ, chống luật nghĩa vụ quân sự, pháp lệnh thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp; kích động lôi kéo người vượt biên trốn ra nước ngoài, tự động bỏ nơi cư trú, truyền bá văn hóa phẩm đồi truy, gieo rắc lối sống ích kỷ thấp hèn, xúi giục tiếp tay các phần tử cặn bã gây tội ác; mua chuộc cán bộ, chiến sĩ thóai hóa biến chất lấy cắp vũ khí, phá hoại phương tiện chiến đấu, tiếp tay cho chúng làm việc xấu. Từ năm 1981 đến năm 1985, nhiều tổ chức phản động nhen nhóm như "Đảng vô sản toàn cầu'', ''Thanh niên cách mạng H.V.H'', ''Chúng dân cứu quốc'', "Đảng hòa bình'', "Đảng tối mật'', ''Nông dân liên hiệp hội'', ''Đoàn kết dòng họ'' và ''Hội bảo vệ làng". Cùng với các hoạt động bí mật, ngấm ngầm chống phá về chính trị, chúng còn táo tợn gây ra các vụ khủng bố ném lựu đạn, đốt nhà, gây ra 4 vụ mất trật tự lớn ở một số trường đại học trên địa bàn; nhiều vụ cướp giật, trấn lột, giết người, buôn bán đồng đen, thuốc phiện, bạc trắng. Những tên phản động đội lốt tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta, vi hành khắp đó đây mê hoặc, lừa phỉnh, dọa dẫm, ép buộc giáo dân nhẹ dạ cả tin theo chúng chống lại cách mạng. Đi liền với chống phá về chính trị, địch dùng nhiều thủ đoạn phá hoại kinh tế của ta. Chỉ trong 3 năm (1983, 1984, 1985) trên địa bàn Quân đoàn 3 đóng quân đã xảy ra 43 vụ phá hoại ở khu Gang thép Thái Nguyên, mỏ than Phấn Mễ, khu thăm dò địa chất; trong đó có nhiều vụ gây thiệt hại lớn như làm chảy 150 tấn thép, cháy 90 tấn dầu, phá hệ thống điện xe tải cỡ lớn, nổ lò than, đốt kho vật tư nhà máy chè và kho vũ khí cắt phá 150km dây điện thoại.
Là một mục tiêu quan trọng trong cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch ở địa bàn Bắc Thái, ngay từ khi. mới chuyển quân ra Bắc, Quân đoàn 3 bị địch liên tục chống phá. Khi bộ đội vừa ra vị trí đóng quân mới, lợi dụng khó khăn về vật chất, chúng tung tin kích động tư tưởng công thần địa vị, giả vờ ca tụng công lao thành tích rồi so sánh với cuộc sống vật chất hiện tại để quy kết Đảng và Nhà nước không quan tâm đãi ngộ; hoặc lợi dụng hành vi cá biệt của một chiến sĩ vô kỷ luật, thổi phồng thành sự việc lớn nói xấu Quân đoàn 3 nhằm chia rẽ mối đoàn kết quân dân. Ngoài ra, chúng còn đặt vè nói xấu bộ đội, tung tin bán vàng bạc, đóng giả làm bộ đội để thực hiện các hành vi trấn lột, trộm cắp, phá hoại hoa màu của dân gây dư luận rất xấu. Khi các đơn vị ổn định dừng chân, chúng vừa tìm mọi cách dùng tiền, gái lôi kéo mua chuộc hòng làm sa đọa cán bộ, chiến sĩ, lấy cắp bí mật, phá hoại vũ khí, phương tiện chiến đấu. Điển hình là các vụ đập vỡ bọt nước của pháo ở Tiểu đoàn 16 Sư đoàn 31; lấy bóng điện tử của pháo 57mm ở Trung đoàn 234, làm ẩm ướt hàng trăm viên đạn B40 và lấy cắp vũ khí ỏ Sư đoàn 320; khi ta diễn tập, chúng lột ván cầu, cắt dây điện thoại lúc chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Địch rất chú trọng tìm cách nắm các hoạt động diễn tập, chuyển quân, quân số, vũ khí, nhiệm vụ của Quân đoàn. Chính vì vậy, nhiệm vụ của Quân đoàn trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc rất nặng nề. Trong khi sẵn sàng chiến đấu cao, đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng chính quy, nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng và tích cực lao động sản xuất, Quân đoàn còn phải làm tốt chức năng một đội quân công tác, cùng địa phương xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, xây dựng vành đai an toàn, đập tan kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, thực hiện thắng lợi Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
------------------------------------------------------------------ 1. Năm yêu cầu mới là:
1. Ý chí mạnh, trách nhiệm cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt. 2. Nâng cao ý thức và năng lực làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, cơ sở vật chất. 3. Nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng cơ sở vững mạnh. 4. Đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế tốt. 5. Tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.
2. ''Báo cáo đánh giá tình hình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Ban chấp hành Đảng bộ trước Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đoàn lần thứ 2''. Đảng ủy Quân đoàn 3, ngày 30.12.1981, tr 19, 20.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 04:06:12 pm » |
|
* Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của một Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ trên hướng xung yếu phía Bắc Tổ quốc là sẵn sàng chiến đấu; Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn thường xuyên lãnh đạo, chỉ huy Binh đoàn thực hiện nghiêm túc các mệnh lệnh, chỉ lệnh 47B-QP về sẵn sàng chiến đấu của Bộ Quốc phòng. Các chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến ở các cấp được đuy trì nghiêm, toàn Quân đoàn luôn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và kịp thời chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn khi có lệnh. Hàng năm các phương án tác chiến A1, A2 được rà soát bổ sung cho phù hợp với yêu cầu điều kiện mới. Các phương án đánh địch tại chỗ cả mặt đất và trên không được triển khai và luyện tập thường xuyên. Quân đoàn và các đơn vị chủ động hiệp đồng với Quân khu 1, các đơn vị có liên quan và chính quyền địa phương xây dựng, bổ sung hoàn chỉnh các phương án tác chiến trong khu vực và triển khai thực hiện theo kế hoạch thống nhất. Hệ thống theo dõi nắm địch các cấp được triển khai, nhiều đoàn cán bộ được cử đi nghiên cứu thực địa và học hỏi kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị bạn đang trực tiếp làm nhiệm vụ phía trước. Bộ đội vừa được quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chiến đấu vừa được phổ biến kịp thời những thủ đoạn tác chiến mới của đối phượng và kinh nghiệm phòng chống đánh trả của các đơn vị bạn; từ đó không ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng cơ động chiến đấu bảo vệ biên cương, đập tan các hành động xâm lược và kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch trên địa bàn, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Mặc dù công việc bề bộn khi mới ra miền Bắc, nhưng trong năm 1981 toàn Quân đoàn vẫn tổ chức báo động luyện tập các phương án đánh địch tại chỗ được 2.272 lần, báo động luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho chỉ huy cơ quan các cấp và nhân viên thông tin được 276 lần và tổ chức hành quân rèn luyện được 336 lần. Trong những năm sau, việc báo động luyện tập các phương án và rèn luyện bộ đội luôn được giữ vững và đi vào chiều sâu nâng cao chất lượng, ngày càng sát thực tế. Năm 1983, 1984 việc báo động luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thông xuyên lên tăng cường, lên cao và toàn bộ ở cấp Quân đoàn từ 2 đến 3 lẩn, cấp sư đoàn từ 11 đến 12 lần, cấp trung đoàn từ 52 đến 79 lần, cấp tiểu đoàn là 171 lần; quân số tham gia. đạt từ 85% đến 90%; thời gian ngày một rút ngắn: 3 sư đoàn (10, 320, 31) từ 10 đến 12 phút, Lữ đoàn 234: 4 phút. Tại các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội báo động sẵn sàng chiến đấu tại chỗ và kiểm tra quân số cũng tăng lên; trung bình một năm toàn Quân đoàn báo động cấp trung đoàn được trên 150 lần, cấp tiểu đoàn trên 500 lần và cấp đại đội hơn 1.300 lần, bảo đảm thời gian cấp trung đoàn: 16 phút; cấp tiểu đoàn: 7 phút và cấp đại đội: 5 phút. Để bảo đảm chỉ huy, thông báo báo động và nắm mọi tin tức kịp thời chính xác, bí mật, an toàn, trong khi Trung đoàn thông tin 29 giải thể rút gọn thành tiểu đoàn (13.5. 1982), Quân đoàn chú trọng củng cố mọi mặt, nâng cao chất lượng các trạm thông tin liên lạc, hệ thống thông báo báo động và năng lực chuyên môn phục vụ. Với tinh thần tự lực cao, Quân đoàn đã củng cố hoàn chỉnh các tổng trạm thông tin, xây dựng hệ thống đường dây trần từ Quân đoàn bộ đến Sư đoàn 31, Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Trung đoàn 7 với tổng chiều dài 138km, đồng thời tích cực khai thác mạng thông tin địa phương bảo đảm cho các nhiệm vụ phối hợp tác chiến và phòng chống lụt bão. Do được quan tâm xây dựng cả về cơ sở vật chất và con người, kiểm tra chấn chỉnh kịp thời nên hệ thống thông tin thông báo báo động toàn Quân đoàn được duy trì chặt chẽ, nghiêm túc, thu phát đủ, đúng, kịp thời mọi mệnh lệnh, tín hiệu; hữu tuyến điện luôn thông suốt, khi bị bão lụt đã khắc phục đường dây sau 1 giờ đến 4 giờ; vô tuyến điện sóng ngắn, sóng cực ngắn và tiếp sức luôn đạt tỷ lệ bình quân trên 98% (loại giỏi), thông tin giản đơn, vận động được sử dụng hiệu quả, góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các cuộc diễn tập của Quân đoàn. Đóng quân trên một địa bàn rộng, nguồn cung cấp bảo đảm hậu cần không ổn định và luôn gặp khó khăn, Quân đoàn luôn chủ động khai thác các nguồn, thường xuyên bảo đảm đầy đủ lượng dự trữ vật chất sẵn sàng chiến đấu theo quy định, đồng thời quản lý chặt chẽ, kiểm tra thay thế, bổ sung kịp thời về lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, xăng dầu, các phương tiện cơ động sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu khi có lệnh. Tích cực chuẩn bị ''chiến trường'' theo các phương án tác chiến A1, A2, từ năm 1981 đến năm 1985 Quân đoàn huy động một lực lượng lớn nhân lực, vật lực gồm 67.884 ngày công, 5.843 giờ máy húc, 10.000 lít xăng dầu, hàng chục tấn thuốc nổ, mở mới và sửa chữa nâng cấp 7 tuyến đường với tổng chiều dài 285km, và một khối lượng đào đắp 709.584m3 đất đá. Nổi bật là thi công mở rộng tuyến đường CĐ30 từ Phố Chợ huyện Lục Ngạn tỉnh Hà Bắc đến Kéo Thiềng huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn (dài 47km, rộng 4 đến 6m, bán kính đường vòng 15 đến 18m), Quân đoàn đã sử dụng 35.384 ngày công và 5.843 giờ máy các loại, đào đắp 351.955ma khối đất đá, hoàn thành trước 2 ngày so với quy định của Bộ Tổng Tham mưu, được cấp trên đánh giá cao. Những tuyến đường do cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên mở vươn dài trên các sườn núi, vượt qua các sông suối vực sâu, không chỉ phục vụ kịp thời cơ động lực lượng trong các cuộc diễn tập lớn của Bộ và bảo đảm quốc phòng an ninh lâu dài trên địa bàn mà còn góp phần mở mang giao thông, phát triển kinh tế, xã hội ở một vùng chiến lược rộng lớn phía bắc - đồng bắc Bắc Bộ. Xác định rõ tính chất vừa cấp bách vừa lâu dài và tầm quan trọng của nhiệm vụ đánh bại kiểu chiến tranh Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn ra các nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, xây dựng kế hoạch, tổ chức nhiều hội nghị triển khai thực hiện và hàng năm đều tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm về nhiệm vụ quan trọng này. Quá trình tổ chức thực hiện, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy chỉ huy các đơn vị thường xuyên giáo dục cho bộ đội nhận rõ âm mưu thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của địch trong chiến tranh phá hoại nhiều mặt, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, thực hiện tốt các nghị quyết của Bộ Chính trị, các chỉ thị (106, 108, 110) của Trung ương Đảng, các nghị quyết của Đảng ủy Quân đoàn và đơn vị, chấp hành nghiêm chỉnh 12 điều bảo mật phòng gian; nắm chắc và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, triển khai nghiêm túc các chế độ quy định xây dựng đơn vị an toàn. Chấp hành Nghị quyết số 03 của Bộ Chính trị, chỉ thị số 01 - 02 của Liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ, từ tháng 5 năm 1983 Quân đoàn đã thống nhất và triển khai thực hiện kế hoạch chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch với các địa phương nơi đóng quân và giao nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng địa bàn cho các đơn vị thuộc quyền 1. Các đơn vị đảm nhiệm các địa bàn phải phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng vũ trang và chính quyền địa phương nắm chắc mọi đối tượng trong khu vực, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, thời điểm, ngòi nổ gây bạo loạn, phá hoại, gây rối, có kế hoạch hiệp đồng hành động chung thống nhất, chủ động ngăn ngừa và kịp thời đập tan, vô hiệu hóa các hoạt động của địch; đồng thời tích cực tham gia xây dựng địa phương vững mạnh, xây dựng địa bàn an toàn, vành đai an toàn. Thực hiện kế hoạch dược giao, các đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang, cấp ủy chính quyền địa phương lập kế hoạch hành động thống nhất, tổ chức học tập và tuyên ,truyền vận động cho nhân dân về âm mưu thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, nâng cao cảnh giác, đẩy mạnh phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; đồng thời rà soát nắm chắc các đối tượng; tích cực tuần tra kiểm soát trên các địa bàn trọng điểm. Trong 3 năm (1983, 1984, 1985) được quần chúng giúp đỡ, Quân đoàn và địa phương đã thu hồi được 119 khẩu súng tàng trữ trái phép và hàng chục ki-lô-mét dây điện thoại bị cắt trộm, thu thập được nhiều nguồn tin có giá trị, kịp thời ngăn ngừa nhiều âm mưu đen tối của địch, tham gia xây dựng được 50 xã, phát hiện quản lý hàng trăm đối tượng xấu, góp phần cùng địa phương giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Phát huy thành tích và kinh nghiệm, trong những năm sau việc phòng, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch thu được nhiều kết quả, vừa giữ vững được địa bàn đẩy mạnh các phong trào ở địa phương, vừa xây dựng được vành đai an toàn xung quanh các doanh trại, tạo điều kiện tết cho Quân đoàn làm nhiệm vụ. Từ thực tiễn đánh bại chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, Quân đoàn đã rút ra được những nguyên nhân thành công rất có giá trị đó là: Cấp ủy Đảng, chỉ huy quan tâm lãnh đạo ra nghị quyết sát đúng kịp thời, có kế hoạch chu đáo, hối hợp chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương triển khai thống nhất đồng bộ; nắm chắc địch, chủ động hên tục tiến công bằng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, bằng nhiều biện pháp; giáo dục sâu sắc nhiệm vụ cho bộ đội, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện gắn với xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh; phối hợp chặt chẽ nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch với các nhiệm vụ khác Tiêu biểu cho nhiệm vụ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, là lá cờ đầu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ và xây dựng vành đai an toàn, địa bàn an toàn của Quân đoàn, trong các năm 1983, 1984 là Sư đoàn bộ binh 31 và Trung đoàn công binh 7. Trong 5 năm (1981-1985) công tác huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn đã đi đúng hướng, có những bước tiến bộ vượt bậc, thu được những kết quả toàn diện. Xác định rõ huấn luyện chiến đấu ở một binh đoàn chủ lực cơ động dự bị chiến lược của Bộ là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa quyết định nâng cao sức mạnh chiến đấu, xây dựng chính quy nên hàng năm Quân đoàn thực hiện nghiêm túc các mệnh lệnh, chỉ lệnh về huấn luyện của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, hoàn thành kế hoạch huấn luyện cho các đối tượng với chất lượng ngày càng nâng cao. Quá trình huấn luyện, Quân dân và các đơn vị luôn nắm chắc phương châm ''cơ bản, toàn diện, hệ thống, thống nhất, đồng bộ'' theo hướng tác chiến hiệp động binh chủng, hiệp đồng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quận tự vệ); đặc biệt coi trọng huấn luyện phân đội nhỏ và huấn luyện kỹ thuật, nắm vững trọng tâm huấn luyện cán bộ, chú trọng nâng cao chất lượng diễn tập chiến thuật, diễn tập chỉ huy cơ quan; lấy huấn luyện ngoài thực địa là chính, sát với thực tế chiến đấu; phù hợp với tổ chức biên chế vũ khí trang bị, đối tượng tác chiến, địa hình vùng núi, phát huy sở trường và cách đánh của Quân đoàn và từng đơn vị, thường xuyên phổ biến kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị đang tác chiến ở biên giới phía Bắc. Hàng năm trước mỗi giai đoạn huấn luyện, công tác tổ chức chuẩn bị được tiến hành khẩn trương, tích cực, chu đáo, chặt chẽ. Từ Quân đoàn đến cơ sở, các cấp ủy Đảng đều ra nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo huấn luyện; chỉ huy, cơ quan tiến hành quán triệt phổ biến nhiệm vụ đến mọi cán bộ, chiến sĩ, lập kế hoạch huấn luyện, tổ chức tập huấn bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đơn vị mẫu, đội mẫu, chuẩn bị vật chất phương tiện huấn luyện, bãi tập thao trường, hậu cần phục vụ. Với nỗ lực rất cao, từ năm 1981 đến năm 1985, toàn Quân đoàn đã mở được 827 lớp tập huấn cho 70.745 lượt cán bộ chỉ huy binh chửng hợp thành, pháo binh, xe tăng, pháo phòng không, công binh, thông tin và chuyên môn kỹ thuật từ tiểu đội trưởng đến quân đoàn, trong đó có hàng chục lớp tập huấn chiến dịch với hàng nghìn lượt cán bộ trung, cao cấp. Việc nắm chắc và làm tốt khâu trọng tâm là huấn luyện cán bộ như đòn xeo, đưa công tác huấn luyện không ngừng đi lên. Phát huy thuận lợi của địa hình rừng núi trong huấn luyện chiến đấu, Quân đoàn đã xây dựng được trên 350 bãi tập và bắn súng bộ binh, 25 bãi bắn pháo binh phòng không, 1.239 thao trường chiến thuật từ cấp tiểu đội đến trung đoàn, gần 20 thao trường bắn chiến đấu tiểu đội đến tiểu đoàn bộ binh; hàng năm huy động hàng nghìn công để sửa chữa bổ sung nâng cấp ngày càng phù hợp với yêu cầu huấn luyện; ngoài ra còn làm được trên 6 vạn học cụ, kịp thời phục vụ bộ đội huấn luyện. Do làm tốt công tác chuẩn bị, quản lý chặt chẽ kế hoạch, thường xuyên cải tiến phương pháp, kiểm tra chặt chẽ, rút kinh nghiệm kịp thời, đánh giá đúng thực chất, gắn liền với việc củng cố xây dựng nền nếp chính quy, đẩy mạnh công tác thi đua, nhân rộng điển hình tiên tiến... nên kết quả huấn luyện chiến đấu hàng năm của Quân đoàn luôn đạt các chỉ tiêu kế hoạch được giao, có tính ổn định và ngày càng tiến bộ. Các nội dung huấn luyện: cán bộ, hạ sĩ quan binh sĩ; huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật, binh chủng chuyên ngành hầu hết đạt 100% yêu cầu, trong đó tỷ lệ khá giỏi khá cao. Năm 1981 các nội dung chiến thuật cá nhân đến tiểu đoàn đạt yêu cầu, bắn đạn thật loại khá; nhưng từ năm 1982 đến năm 1985 các nội dung trên và bắn chiến đấu từ cấp tiểu đội đến cấp tiểu đoàn bộ binh đều đạt 100% khá giỏi. Nổi bật là Tiểu đoàn 8 pháo BM-14 Trung đoàn pháo binh 40 là đơn vị huấn luyện có chất lượng cao, tiến hành diễn tập chỉ huy cụm pháo trong đội hình Sư đoàn 31 (năm 1983) đã bắn đạn thật đạt kết quả tốt; Trung đoàn phòng không 234 tham gia hội thao toàn quân đạt loại khá về bắn pháo phòng không và giành giải nhất về bắn tên lửa A72 (1983). Bên cạnh việc hoàn thành tốt những nội dung huấn luyện chiến đấu truyền thống, cuối năm 1983 khi Tổng Tham mưu trưởng quyết định chuyển Sư đoàn bộ binh 320 sang xây dựng Sư đoàn bộ binh cơ giới, công tác huấn luyện của Quân đoàn có bước phát triển mới. Cùng với những cố gắng rất cao trong việc phấn đấu làm chủ hàng trăm phương tiện vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, công tác huấn luyện chiến đấu bộ binh cơ giới đặt ra những yêu cầu mới đối với người chỉ huy và từng chiến sĩ. Với tinh thần tự lực, sáng tạo, khiêm tốn học hỏi và sự giúp đỡ chi viện có hiệu quả của các cơ quan chức năng của Bộ và Quân đoàn, Lữ đoàn xe tăng 273 nên cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 nhanh chóng vươn lên từng bước làm chủ kỹ thuật, đưa vũ khí phương tiện chiến đấu hiện đại và huấn luyện. Chưa đầy một năm, Sư đoàn đã tổ chức huấn luyện chiến thuật tiến công và phòng ngự đến cấp tiểu đoàn, kết quả kiểm tra đạt yêu cầu từ 90% đến 95%, trong đó có 30% đến 35% khá giỏi. Riêng kết quả bắn súng đại liên trên xe BTR 152 của Trung đoàn 64 đạt loại giỏi. Năm 1985, Trung đoàn 48 và Trung đoàn 64 đã tổ chức diễn tập có bắn đạn thật đạt kết quả tương đối tốt, được cấp trên đánh giá cao. Tuy thành tích và kinh nghiệm huấn luyện bộ binh cơ giới của Sư đoàn 320 chỉ là bước đầu, nhưng rất quý. Nó không chỉ mang lại cho Quân đoàn nguồn sức mạnh mới mà còn tạo cơ sở và đúc rút những kinh nghiệm thiết thực để nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu bộ binh cơ giới trong những năm sau. Để nâng cao chất lượng công tác huấn luyện chiến đấu, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn rất chú trọng tổng kết đúc rút kinh nghiệm thực tiễn để đưa vào huấn luyện bộ đội, đồng thời triển khai nghiên cứu một số nội dung mới từng bước áp dụng vào đơn vị. Thực hiện chỉ thị về công tác khoa học quân sự của Bộ Quốc phòng, Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn đã họp ra nghị quyết chuyên đề về công tác khoa học quân sự 5 năm (1981-1985), thành lập Hội đồng Khoa học quân sự Quân đoàn gồm 15 thành viên do đồng chí phó tư lệnh tham mưu trưởng Quân đoàn làm Chủ tịch và thành lập cơ quan chức năng là Phòng Khoa học quân sự trực thuộc Bộ Tham mưu. Trong 5 năm (1981- 1985) công tác khoa học quân sự được triển khai có nền nếp, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học phát triển và tổng kết hoàn thành; trong đó có những đề tài lớn: ''Tổ chức thực hành cơ động lực lượng của Quân đoàn trong chiến dịch tiến công và phản công", ''Quân đoàn chủ lực cơ động tác chiến chống quân lấn chiếm biên giới...'' (do Phòng Khoa học quân sự làm chủ đề tài); "Một số kinh nghiệm trong chiến dịch, chiến đấu trong chiến tranh chống Mỹ và chiến tranh ở biên giới Tây Nam'' (do 3 sư đoàn 31, 320, 10 đồng làm chủ đề tài)... góp phần thiết thực vào công tác huấn luyện, xây dựng nếp sống chính quy và nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của Quân đoàn. Một trong những thành công nổi bật trong công tác huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn 3 trong các năm 1981-1985 là việc tổ chức thành công 12 cuộc diễn tập với nhiều hình thức tác chiến và quy mô khác nhau. Trong đó có 7 cuộc diễn tập chỉ huy cơ quan cấp Quân đoàn, sư đoàn trên bản đồ và có một phần thực binh, 2 cuộc diễn tập thực binh cấp sư đoàn, 3 cuộc diễn tập binh chủng (pháo binh, phòng không) có bắn đạn thật. Nổi bật nhất là các cuộc diễn tập lớn mang tên MB-81 (phản đột kích quy mô quân đoàn), MB-82 (phản công cấp quân đoàn), MB-83 (chiến đấu trong đội hình phòng ngự chiến lược), K12 (vận động tiến công địch phòng ngự vội vã, phát triển tiến công và chuyển vào phòng ngự) và K15 (tiến công địch trên điểm cao có công sự vững chắc ở địa hình rừng núi). Thành công của các cuộc diễn tập đã khẳng định bước trưởng thành mới của Quân đoàn về trình độ tác chiến hiệp đồng binh phòng và khả năng sẵn sàng chiến đấu; nâng cao một bước trình độ của chỉ huy, cơ quan và cán bộ các cấp, rèn luyện bộ đội sát với thực tế chiến đấu và củng cố thêm niềm tin vào cách đánh cho cán bộ, chiến sĩ. Thông qua diễn tập, Quân đoàn đánh giá khách quan hơn, cụ thể hơn về kết quả huấn luyện chiến đấu và xây dựng đơn vị; đồng thời thấy rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, rút ra nhiều kinh nghiệm quý để từ đó tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện trong những năm sau. Ngoài kết quả trên, thành tích huấn luyện chiến đấu của Quân đoàn còn được đánh dấu bằng thành công của các nhiệm vụ: A85 2 (duyệt diễu binh nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hà Nội), diễu binh trong dịp lễ kỷ niệm ngày truyền thống (20.8 ) của tỉnh Bắc Thái ở thành phố Thái Nguyên 3; tham gia đồng diễn và diễu hành phục vụ Đại hội thể dục thể thao toàn quân lần thứ II (1984); huấn luyện hàng nghìn sĩ quan dự bị tại Trường Quân chính và huấn luyện quản lý hàng nghìn quân dự nhiệm ở các địa phương; tổ chức tốt nhiều cuộc tổng hội thao đại đội giỏi toàn năng toàn Binh đoàn. Những thành tích huấn luyện trong 5 năm (1981- 1985) không những nâng cao sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đoàn mà còn trực tiếp đưa bộ đội vào thực hiện nếp sống chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, góp phần hoàn thành tốt các mục tiêu của cuộc vận động ''Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' và cuộc vận động ''Toàn quân hành động theo điều lệnh''. ----------------------------------------------------------------- 1. Quân đoàn bộ và lực lượng trực thuộc đảm nhiệm khu vực thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình; Sư đoàn 10 đảm nhiệm hai huyện Phú Lương, Định Hóa; Sư đoàn 320 phụ trách khu vực huyện Đại Từ và sau đó là hai huyện Tam Đảo, Mê Linh; Sư đoàn 31 đảm nhiệm khu vực Võ Nhai; Lữ đoàn xe tăng 273 phụ trách khu vực Trại Cau, Trung đoàn pháo binh 40 đảm nhiệm khu vực Phố Cò, Gò Đầm, Trung đoàn công binh 7 đảm nhiệm khu vực La Hiên; các trường Hạ sĩ quan, Quân chính, Văn hóa hoạt động theo sự chỉ đạo phân công của các đơn vị chủ quản.
2. Lực lượng của Quân đoàn tham gia nhiệm vụ A85 gồm: 409 đồng chí thuộc khối bộ binh cơ giới, 82 đồng chí thuộc khôn PTR- 60BP với 34 xe Gát 66, 17 xe BMP-1, 17 xe PTR-60BP, 8 xe Uoát.
3. Lực lượng Quân đoàn tham gia diễu binh ở thành phố Thái Nguyên gồm 8 khối: 1 khối sĩ quan tay không (60 người), 2 khối hạ sĩ quan mang súng CKC (120 người), 1 khối xe tăng PT76 (8 chiếc), 1 khối bộ binh cơ giới và PTR-60BP (8 chiếc), 1 khối pháo binh BM-14 (6 dàn).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 04:11:14 pm » |
|
* Không chỉ sẵn sàng chiến đấu cao, huấn luyện giới, Quân đoàn 3 còn lập nhiều thành tích trong công tác bảo đảm hậu cần và lao động, tăng gia sản xuất. Phát huy truyền thống tự lực cánh sinh, cần kiệm sáng tạo và những kinh nghiệm quý trong sản xuất làm kinh tế trước đây vào điều kiện, hoàn cảnh mới, trong 5 năm (1981 - 1985) Quân đoàn vừa bảo đảm tốt các nhu cầu hậu cần thường xuyên, vừa tạo dựng nên một cơ ngơi khang trang, sạch đẹp giữa núi đồi Việt Bắc. Hiểu rõ và chia sẻ những khó khăn chung của đất nước và địa phương, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn và cấp ủy chỉ huy các đơn vị luôn làm tốt việc giáo dục động viên bộ đội quán triệt tốt nhiệm vụ xây dựng doanh trại, sản xuất lương thực, thực phẩm, kiên trì vượt qua trở ngại, phát huy thế mạnh, khai thác mọi tiềm năng sẵn có ở địa phương, vừa tích cực lao động sản xuất vừa thực hành tiết kiệm chống tham ô lãng phí. Bên cạnh việc tách ngành Quân trang, Quân lương thành hai ngành độc lập trực thuộc chủ nhiệm hậu cần các cấp (12.1982), thành lập Phòng Kế hoạch Kinh tế và giải thể Phòng Sản xuất thuộc Cục Hậu cần, củng cố và lập các đơn vị sản xuất chuyên nghiệp (Đội chăn nuôi ở Phú Khánh, Đội chăn nuôi ở Quân Chu, Đội khai thác gỗ và xưởng cưa, xưởng may, Đội 84 khai thác than, Đội xây dựng cơ bản, Đội 85 sản xuất dược), Quân đoàn còn tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề về sản xuất vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm, bảo đảm chất lượng bữa ăn cho bộ đội. Một số hình thức mới về sản xuất, làm kinh tế cũng ra đời như: trồng rừng, liên kết kinh tế với các đơn vị quốc doanh và địa phương, làm đường giao thông, xây dựng thủy điện nhỏ... đem lại hiệu quả bước đầu. Điểm nổi bật nhất và nhiều thành công của công tác hậu cần trong 5 năm (1981-1985) là xây dựng doanh trại và lao động sản xuất. Do tập trung xây dựng cơ bản đúng hướng, kết hợp chặt chẽ giữa tiềm năng, sức lao động của bộ đội với nguồn kinh phí quý giá của trên, tích cực khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, Quân đoàn đã xây dựng được 107.410m2 nhà lâu bền, 185.308m2 nhà quá độ, 130.979m2 nhà tạm, sửa chữa 431.844m2 nhà các loại; sản xuất được 47,5 triệu viên gạch nung, 1,655 triệu viên gạch không nung, 1,765 triệu viên ngói, 14.000 tấn than. Toàn Quân đoàn đã cơ bản có đủ nhà xe, nhà pháo, kho trạm xưởng và nhà ở, nhà ăn, hội trường, nơi sinh hoạt học tập cho bộ đội. Trong điều kiện đất đai đồi núi bạc màu, thời tiết khắc nghiệt, vốn đầu tư có hạn, nhưng Quân đoàn đã chọn được những cây, con phù hợp, liên tục nỗ lực bền bỉ sản xuất được: 1.132 tấn lương thực, 417,3 tấn thịt cá, 228 tấn đậu lạc 8.919 tấn rau xanh; xây dựng được hầu hết các bếp ăn tiểu đoàn đạt tiêu chuẩn 5 tốt, tổ chức được các khu giết mổ tập trung, sử dụng có hiệu quả các phương tiện vận tải sản xuất thô sơ, đẩy mạnh tăng gia quanh bếp quanh nhà, duy trì đàn gia súc, đàn lợn đàn gà, vườn rau ao cá, thực hiện nếp sống ăn ở vệ sinh, khoa học. Ngành quân y đã tích cực phòng chống dịch bệnh, điều trị được 64.907 lượt người, bảo đảm quân số khỏe đạt tỷ lệ từ 95% đến 97%. Bước đầu kết hợp đông, tây y vào phòng và chữa bệnh; sản xuất dược 27,9 tấn dược liệu các loại 1. Tại hội chợ triển lãm kinh tế tỉnh Bắc Thái năm 1984, các mặt hàng rượu thuốc và cao do đội điều trị 3 sản xuất được khách hàng ưa chuộng và chính quyền địa phương rất hoan nghênh. Trong các năm 1981-1985, công tác kỹ thuật của Quân đoàn có những chuyển biến mới. Để bảo đảm đủ sức tiếp nhận, quản lý, khai thác, sử dụng mặt lượng rất lớn vũ khí, xe máy trang bị kỹ thuật hiện đại được giao, Cục Kỹ thuật Quân đoàn và cơ quan kỹ thuật các đơn vị, Trường Kỹ thuật 2 tích cực khẩn trương đào tạo bồi dưỡng được 3.140 lượt cán bộ kỹ thuật, 18.000 lượt nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho các đơn vị. Với ngành Kỹ thuật và đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên môn làm nòng cốt, công tác kỹ thuật của Quân đoàn thu được nhiều thành tích: các kho đạn dược, nhà xe nhà pháo, khu kỹ thuật được xây dựng, hoạt động theo quy tắc chế độ nghiêm ngặt, mọi vũ khí xe máy trang bị kỹ thuật được tiếp nhận quản lý chặt chẽ, khai thác sử dụng đúng quy trình chế độ, giữ gìn bảo dưỡng sửa chữa tích cực thường xuyên. Hệ số kỹ thuật của xe ô tô, xe tăng, xe bọc thép luôn đạt từ 0,8 đến 0,97; các loại đúng pháo, khí tài đạt từ 0,8 đến 0,9. Phát huy truyền thống tự lực cần cù sáng tạo với tri thức và bàn tay người lính, người thợ cán bộ, chiến sĩ các trạm xưởng kỹ thuật đã sữa chữa hàng nghìn lượt xe máy, hàng vạn lượt khẩu súng; sản xuất hàng nghìn tiết phụ tùng chi các loại, 350 bộ vì kèo, 121 tủ sắt... phục vụ kịp thời cho các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng sản xuất, bảo đảm cơ động vận chuyển. Một thành công lớn của công tác kỹ thuật trong thời kỳ này là tiếp nhận, quản lý, đưa vào sử dụng hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp, pháo phòng không tự hành hiện đại tại Sư đoàn bộ bút cơ giới 320. Để làm chủ và phát huy tính năng hiệu lực của các phương tiện vũ khí hiện đại quý giá mà ta chưa sản xuất được, trong khi không có chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 đã có những cố gắng rất lớn, vượt qua nhiều khó khăn thử thách và vượt lên chính bản thân mình. Sư đoàn vừa tích cực mở nhiều lớp chuyên môn kỹ thuật, vừa tổ chúc cho cán bộ đi các đơn vị bạn học tập nghiên cứu; sau một thời gian đã thành thạo sử dụng các loại vũ khí trang bị có trong biên chế. Riêng Trung đoàn phòng không 237 tích cực sửa chữa trang bị cũ, các xe Zờxu đã sử dựng chiến đấu trên nhiều chiến trường, vẫn phát huy tốt hiệu quả. Trong khi làm tốt các hoạt động bảo đảng kỹ thuật thường xuyên, ngành Kỹ thuật Quân đoàn luôn phát huy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn, có nhiều sáng kiến có giá trị như: sản xuất thành công 6 bộ kẹp nòng pháo phòng không 37mm và 57mm, bộ dập khuôn bu lông và ê-cu đầu tròn làm tăng năng suất 1.600%, dùng động cơ điện thay máy nổ của máy hàn điện, cải tiến bộ rà nấm trơn, cải tiến bộ chiếu sáng pháo lựu 122mm dùng cho pháo 105mm. Với những thành tích xuất sắc trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chính quy trong hòa bình, Cục Kỹ thuật Quân đoàn đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Quân công hạng ba. -------------------------------------------------------------------- 1. Số liệu trích từ ''Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đoàn nhiệm kỳ 1981-1986 và phương hướng nhiệm vụ mục tiêu nhiệm kỳ 1986 - 1990, tr.9.
2. Trường Kỹ thuật tách ra từ Trường Hậu cần - Kỹ thuật. Hiệu trưởng: thiếu tá Trần Đức Kiên, phó hiệu trưởng chính trị: thiếu tá Lê Hồng Kỳ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 04:16:44 pm » |
|
* Một trong những yếu tố quyết định thành công xây dựng Quân đoàn ''cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến'' trên hướng chiến lược phía Bắc Tổ quốc là công tác đảng, công tác chính trị đã phát huy vai trò trong mọi hoạt động, mọi mặt công tác của toàn đơn vị. Quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, nhiệm vụ của Quân đoàn chủ lực cơ động dự bị trên địa bàn chiến lược; hiểu rõ đất nước khó khăn, kẻ thù ráo riết cấm vận chống phá, gặm nhấm biên giới, phá hoại trong nội địa, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn; Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn kịp thời đề ra các chủ trương lãnh đạo sát đúng, xây dựng kế hoạch phương án cụ thể, kiên quyết linh hoạt sáng tạo lãnh đạo chỉ huy bảo đảm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các hệ thống tổ chức Đảng, chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp làm nòng cốt, vai trò của các tổ chức đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân và đội ngũ Cán bộ đảng viên; bằng nhiều hình thức hoạt động đa dạng phong phú trên các lĩnh vực trong mọi thời gian, đã giáo dục cho bộ đội thấu suốt nhiệm vụ, nhận rõ kẻ thù và đối tượng tác chiến, thấy được thuận lợi và khó khăn, kiên định lập trường, củng cố lòng tin, nâng cao cảnh giác cách mạng, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị, ở cấp Quân đoàn bỏ Đảng ủy Quân đoàn và sư đoàn, chỉ duy trì Đảng ủy cấp cơ sở đến chi bộ; bỏ hệ thống chính ủy, chính trị viên ở các cấp, biên chế chỉ huy phó về chính trị từ Quân đoàn đến đại đội. Ở cấp trung, lữ đoàn có bí thư Đảng chuyên trách. Thành lập hội đồng quân sự, hội đồng cơ quan chính trị ở cấp Quân đoàn và sư đoàn. Theo đó, cơ quan chính trị và cơ quan về Đảng từ Quân đoàn đến các đơn vị được sắp xếp kiện toàn theo đúng nguyên tắc của cơ chế lãnh đạo mới; giúp cho người chỉ huy thực hiện chức trách. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ giữa người chỉ huy và cấp phó, người chỉ huy với Đảng ủy, tạo sự đoàn kết nhất trí cao; kịp thời khắc phục những hiện tượng lệch lạc khi chuyển sang thực hiện chế độ một người chỉ huy. Từ năm 1982, công tác đảng, công tác chính trị còn tập trung đi sâu vào quán triệt học tập nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V cho 27.338 cán bộ, chiến sĩ; các nghị quyết 3, 4 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị (về chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch), Nghị quyết 26 của Bộ chính trị (về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trên mặt trận quốc phòng - an ninh). Đặc biệt, khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 27/NQ-TW (4.7.1985) ''Về việc tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng", Quân đoàn kịp thời khôi phục lại hệ thống Đảng ủy và chức năng cơ quan chính trị các cấp, giải thể các tổ chức hội đồng quân sự và hội đồng cơ quan chính trị. Nhằm động viên mọi nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, nhiều phong trào thi đua yêu nước được phát động. Nội dung thi đua bám sát vào 5 mục tiêu của cuộc vận động lớn "phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân'' do Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động. Trong từng nhiệm vụ lớn đột xuất và nhân dịp các ngày lễ thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh nhật Bác Hồ, Quốc khánh, thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày truyền thống của đơn vị, đều có các đợt thi đua đột kích. Ngoài ra còn có các phong trào thi đua của các ngành, Đoàn thanh niên, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Nhìn chung các phong trào thi đua được tổ chức chặt chẽ, có giao ước thi đua trong từng khối sư đoàn, trung đoàn, lữ đoàn binh chủng, các nhà trường, cơ quan Quân đoàn do Bộ tư lệnh Quân đoàn chủ trì và làm trọng tài, có chương trình mục tiêu rõ ràng, nội dung thiết thực, hình thức phong phú đa dạng, phát huy được chức năng của các tổ chức quần chúng, lôi cuốn đông đảo bộ đội tham gia, tạo nên khí thế thi đua sôi động, lành mạnh, tạo sự chuyển biến mọi mặt, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao. Hàng năm, Quân đoàn và các đơn vị đều mở đại hội thi đua quyết thắng biểu dương những thành tích và tổng kết những kinh nghiệm quý trong một năm phấn đấu; đồng thời đề ra phương hướng nhiệm vụ phong trào thi đua trong năm tới. Đặc biệt, tại hội nghị thi đua quyết thắng tháng 4 năm 1982, có sự chứng kiến của đại diện Hội đồng thi đua Bộ Quốc phòng, đại tá Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân đoàn thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Tây Nguyên ''giao ước thi đua giành cờ luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng'' với Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2. Đây là một nét mới của phong trào thi đua quyết thắng của Binh đoàn Tây Nguyên và khối các quân đoàn chủ lực trên miền Bắc. Hiểu rõ ý nghĩa lớn của văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao trong đời sống văn hóa tinh thần bộ đội, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân đoàn luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện cho các hoạt động trong lĩnh vực phong phú này. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, với lực lượng thanh mền làm nòng cốt, trong 5 năm (198l-1985) phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phát triển sôi nổi, rộng khắp từ đại đội đến Quân đoàn. Nhiều hội diễn nghệ thuật quần chúng được tổ chức, nhiều đợt thi đấu giao hữu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cờ tướng diễn ra. Hoạt động văn hóa văn nghệ và thể dục thể thao đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của người chiến sĩ. Năm 1983, toàn Quân đoàn đã có 15 đội tuyên truyền văn hóa không chuyên, 21 đội văn nghệ, 27 cán bộ, chiến sĩ được bồi dưỡng sáng tác nhạc, 50 hạt nhân văn nghệ. Tính từ cấp trung đoàn trở lên đã có 127 đợt hội diễn văn hóa văn nghệ với 777 buổi, 1.705 tiết mục, trong đó có 1.112 tiết mục tự biên phục vụ bộ đội và nhân dân; đội văn nghệ quần chúng của Lữ đoàn xe tăng 273 có 5 tiết mục giành giải A và 6 tiết mục giành giải B trong hội diễn văn nghệ quần chúng Binh chủng Tăng Thiết giáp. Tháng 5 năm 1984 Đội nghệ thuật quần chúng của Quân đoàn được thành lập (lâm thời) có 30 nam, nữ diễn viên là các hạt nhân văn hóa, văn nghệ được điều động từ các đơn vị. Với sự hăng say lao động nghệ thuật của anh chị em trong đội và được sự giúp đỡ của các nghệ sĩ thuộc Tổng cục Chính trị, chỉ trong một thời gian ngắn Đội nghệ thuật đã hoàn thành dàn dựng một chương trình biểu diễn đặc sắc, tham gia Hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quân (khu vực 3) năm 1984 đạt kết quả xuất sắc và phục vụ kỷ niệm 10 năm thành lập Quân đoàn (1985). Ngoài ra, Đội nghệ thuật quần chúng của Quân đoàn còn vào phục vụ đồng bào các tỉnh Tây Nguyên và Phú Khánh đạt kết quả tốt, được nhân dân và bộ đội nhiệt hệt hoan nghênh. Cùng thời gian này, đội tuyên truyền viên trẻ của Quân đoàn giành giải A trong đợt thi tuyên truyền viên trẻ toàn quân. Tại các đơn vị, phong trào văn hóa văn nghệ rất sôi động, trong đó Sư đoàn 10 Sư đoàn 31, Trung đoàn phòng không 234, Trường Quân chính, Cục Hậu cần là những đơn vị tiêu biểu, giành kết quả cao trong hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn Quân đoàn. Song song với các hoạt động trên, các báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong, Binh đoàn Tây Nguyên thường xuyên bảo đảm cấp đến từng đại đội, kịp thời phục vụ bộ đội. Phong trào làm báo tường diễn ra rộng khắp, có tới 390 tờ báo tường, trên một vạn khẩu hiệu và hàng trăm tờ áp phích, bảng tin tuyên truyền ra đời và hoạt động hàng năm. Mặc dù điều kiện còn khó khăn, Quân đoàn vẫn tổ chức được trại viết văn, 17 truyện ngắn ra đời, có truyện giành được giải thưởng trong kỳ thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Hệ thống thư viện trong Quân đoàn được củng cố và ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ. Năm 1982 có 20 thư viện lớn nhỏ, 84 nhà câu lạc bộ với tổng số 74.500 cuốn sách các loại; hàng năm phục vụ 400.000 lượt người đọc. Quân đoàn, Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 xây dựng được nhà truyền thống. Mặc dù phát triển chưa thật đồng đều, chất lượng chuyên môn còn ở mức độ nhưng phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao của Quân đoàn trong những năm 1981-1985 là một cố gắng rất lớn, một tiến bộ vượt bậc, nó không những làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần, góp phần củng cố trận địa tư tưởng trong bộ đội, đấu tranh rất hiệu quả chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, mà còn tích cực rèn luyện cán bộ, chiến sĩ và hoàn thiện nhân cách quân nhân. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ''Cán bộ là cái gốc của mọi công việc'', trước yêu cầu nhiệm vụ mới và đối tượng tác chiến mới, Quân đoàn thường xuyên coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhằm bảo đảm đủ về số lượng, có chất lượng ngày càng cao, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt vừa chuẩn bị theo hướng cơ bản lâu dài. Nắm chắc đặc điểm đội ngũ cán bộ từ chiến đấu chuyển sang xây dựng chính quy: hầu hết cán bộ từ cơ sở phát triển lên đã được rèn luyện qua chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trẻ khỏe giàu nhiệt huyết cách mạng, ít nhiều có kinh nghiệm thực tiễn; nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ''ít được học tập cơ bản nên trình độ tổ chức chỉ huy và lãnh đạo tập trung thống nhất có những mặt còn chưa đáp ứng yêu cầu mới'' 1. Vì vậy, cùng với quy hoạch cán bộ 5 năm (1981 - 1985) và sắp xếp sử dụng cán bộ hàng năm phù hợp khả năng sở trường của mỗi đồng chí, Quân đoàn còn tích cực mở rộng, nâng cao năng lực đào tạo bổ túc của Trường Quân chính, Trường Đảng - Văn hóa, Trường Hạ sĩ quan, Trường Hậu cần, Trường Kỹ thuật và cử nhiều cán bộ đi tu nghiệp nâng cao trình độ ở các trường của Bộ và nước ngoài. Năm 1980, toàn Quân đoàn chỉ có gần 68% tổng số cán bộ đã qua đào tạo bổ túc, thì đến năm 1985 đã có 92,94% số cán bộ qua trường, trong đó có 30,8% được đào tạo cơ bản; hầu hết cán bộ trung, cao cấp và cán bộ chủ trì các cấp được học tập theo kế hoạch. Trong khi tích cực đào tạo cán bộ theo hướng cơ bản tại các trường, Quân đoàn luôn coi trọng khâu bồi dưỡng học tập tại chức, tại đơn vị, động viên cán bộ tự học tập nâng cao kiến thức; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục động viên tư tưởng với công tác tổ chức, lấy kết quả công tác làm thước đo đánh giá cán bộ. Ngoài ra, Quân đoàn còn tích cực giúp đỡ cán bộ giải quyết khó khăn hậu phương gia đình, nhất là các đồng chí có quê ở Quân khu 4 khi gặp thiên tai bão lụt, lúc giáp hạt gặp nhiều khó khăn. Do làm tốt công tác quản lý, sử dụng, bồi dưỡng, tạo nguồn nên trong 5 năm, Quân đoàn đã xây dựng được đội ngũ cán bộ cơ bản có đủ số lượng, cơ cấu cân đối, chất lượng ngày một cao, phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ quân sự thành thạo, năng lực chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đủ sức hoàn thành chức trách nhiệm vụ, thực sự làm nòng cốt xây dựng Binh đoàn vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ, thiện chiến, sẵn sàng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Theo yêu cầu nhiệm vụ, trong thời gian từ 1981-1985, Bộ tư lệnh Quân đoàn có một số thay đổi. Ngày 20 tháng 12 năm 1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ra quyết định điều động Thiếu tướng Nguyễn Quốc Thước (tư lệnh Quân đoàn 3) làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 4; đại tá Khuất Duy Tiến (phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn) được bổ nhiệm làm tư lệnh Quân đoàn 3. Cũng trong thời gian này, đại tá Bùi Đình Hoè - quyền tư lệnh Quân đoàn được điều động về Bộ tư lệnh Quân khu Thủ đô, đại tá Phạm Duy Tân (phó tư lệnh quân sự Quân đoàn 1) được bổ nhiệm làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 3. Cuối năm 1984, đại tá Đinh Xuân La (sư đoàn trưởng Sư đoàn 10) được bổ nhiệm làm phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn; đại tá Phạm Duy Tân làm phó tư lệnh quân sự. Cuối năm 1985 Thiếu tướng Hà Quốc Toàn (chủ nhiệm chính trị Quân đoàn) được bổ nhiệm làm phó Tư lệnh về chính trị 2 Quân đoàn. Cùng thời gian này, các cơ quan Quân đoàn cũng có những thay đổi. Tại Bộ Tham mưu, các đồng chí đại tá Vũ Đình Thước, đại tá Đinh Dung (phó tham mưu trưởng) được trên điều động về công tác tại Học viện Quân sự cấp cao; đại tá Nguyễn Ngọc Ánh và đại tá Trương Văn Việt được bổ nhiệm làm phó tham mưu trưởng Quân đoàn. Ở Cục Chính trị, đại tá Nguyễn Đằng (chủ nhiệm chính trị) được bầu làm trưởng ban kiểm tra Đảng Quân đoàn, đại tá Trần Giang (phó chủ nhiệm chính trị) được điều động về Học viện Quân sự cấp cao; đại tá Đặng Công Toàn làm phó chủ nhiệm chính trị và đại tá Tiêu Văn Mẫn (phó sư đoàn trưởng chính trị Sư đoàn 320) được bổ nhiệm lầm chủ nhiệm chính trị Quân đoàn. Cục Hậu cần, đại tá Nguyễn Duy Khâm (phó sư đoàn trưởng, chủ nhiệm hậu cần Sư đoàn 320) được bổ nhiệm làm cục trưởng, thượng tá Bùi Văn Hoè được bầu làm Bí thư Đảng ủy Cục Hậu cần. Cục Kỹ thuật, đại tá Lê Hồng Thái được bổ nhiệm làm cục trưởng. Nhận thức rõ mọi thắng lợi của Binh đoàn, trước hết đều bắt nguồn tự sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Quân, đoàn vững mạnh toàn diện phải gắn liền với xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, nên trong suốt 5 năm (1981-1985) Đảng bộ Quân đoàn được tập trung xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu. Thực hiện cơ chế lãnh đạo mới của Đảng đối với Quân đội, các cấp ủy Đảng nhanh chóng được kiện toàn, những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, lỏng lẻo trong lãnh đạo được đấu tranh khắc phục kịp thời. Công tác xây dựng Đảng đã tập trung xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng, lấy xây dựng chi bộ đại đội là khâu then chốt, chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên, đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra, làm cho các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên trưởng thành nhanh chóng. Năm 1981 toàn Đảng bộ chỉ có 6% tổ chức cơ sở Đảng và 26% tổng số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, đến năm 1985 tỷ lệ này đã tăng lên 15% và 34%. Thông qua việc bồi dưỡng, học tập sinh hoạt, tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên và phát thẻ đảng viên (năm 1980, 1981), đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ Quân đoàn được nâng cao nhận thức và năng lực toàn diện, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng và bản chất giai cấp công nhân, chủ động nhạy bén nắm bắt và phân tích tình hình kịp thời, cùng tập thể cấp ủy Đảng đề ra biện pháp lãnh đạo sát đúng, vừa là người lãnh đạo vừa là người tiền phong gương mẫu trong mọi mặt hoạt động của đơn vị. Năm 1982, khi tổng kết phát thẻ đảng viên, tỷ lệ đảng viên đạt tiêu chuẩn tiền phong gương mẫu chỉ đạt 11,6%, nhưng đến năm 1985 tỷ lệ này đã lên đến 58%. Quá trình xây dựng, Đảng bộ vừa tích cực rèn luyện bồi dưỡng nâng cao phẩm chất năng lực đội ngũ đảng viên, vừa kiên quyết đưa ra khỏi Đảng 520 người không còn đủ tiêu chuẩn; đồng thời kết nạp được 7.253 đảng viên mới. Trong điều kiện số đảng viên liên tục biến động hàng năm tới 25% 3, việc thường xuyên làm tốt công tác phát triển Đảng, kịp thời bổ sung cho Đảng những đoàn viên ưu tú, bước đầu được rèn luyện thử thách qua thực tiễn, giàu nhiệt huyết cách mạng, có trình độ văn hóa ngày càng cao, có uy tín trong quần chúng không chỉ đem lai cho các tổ chức Đảng nguồn sinh lực mới, tạo nên những thế hệ lãnh đạo kế tiếp nhau theo hướng cơ bản lâu dài mà còn giữ vững được các chi bộ ở đại đội. Luôn ý thức rõ mối quan hệ quân dân cá nước, tình yêu nhân dân, yêu quê hương đất nước, là nguồn sức mạnh, là động lực tinh thần to lớn của người chiến sĩ; vì vậy Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân đoàn, cấp ủy chỉ huy các cấp thường xuyên coi trọng nhiệm vụ vận động quần chúng. Quân đoàn và các đơn vị thuộc quyền thường xuyên chủ động quan hệ chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang địa phương, các đoàn thể xã hội, công trường xí nghiệp, nhân dân khu vực đóng quân và làm nhiệm vụ. Hàng chục hội nghị cụ thể hóa các hoạt động đoàn kết quân dân giữa các đơn vị trong Quân đoàn với địa phương được tổ chức; gần 70 đơn vị bộ đội kết nghĩa với các xã, nông trường, xí nghiệp, trường học ở các tỉnh Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà Bắc và Thủ đô Hà Nội. Thông qua các hoạt động phong phú như: hiệp đồng theo các phương án bảo vệ địa bàn, giao ban nắm tình hình và thống nhất giải quyết công việc hữu quan, kết nghĩa, giao lưu tương trợ giúp đỡ, liên kết liên doanh làm kinh tế, giao thông, thủy lợi... đã làm cho nội dung đoàn kết ''quân dân một ý chí'' ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả thiết thực. Từ năm 1981 đến năm 1985, các lực lượng của Quân đoàn đã phối hợp chặt chẽ với địa phương nắm vững tình hình địa bàn và mọi hoạt động của các đối tượng phản động; tích cực, chủ động tiến công và phòng ngừa, vô hiệu hóa nhiều hoạt động của chúng, thu giữ hàng trăm khẩu súng và các loại vũ khí khác tàng trữ trái phép, thu hồi hàng chục kilômét dây điện thoại bị cắt phá; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm cuộc sống lao động bình yên cho nhân dân. Sự hiện diện và sẵn sàng chiến đấu cao của Quân đoàn 3 - một binh đoàn chủ lực cơ động dự ịi chiến lược của Bộ là sự răn đe mạnh đối với những lực lượng phản động trên địa bàn. Tuy rất bận rộn trong các hoạt động thường xuyên và làm nhiệm vụ đột xuất khác, nhưng Quân đoàn vẫn dành một lượng lớn nhân lực và vật lực, tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và củng cố sở địa phương. Trong 5 năm (1981-1985), Quân đoàn đã huy động hơn 10 vạn công giúp địa phương làm thủy lợi, phát triển sản xuất, trồng rừng, khắc phục hậu quả bão lụt và chống hạn; 60km đường được sửa chữa, 7km đường và 2 cầu, 2 ngầm được làm mới; hàng chục trạm xá, phòng học được xây dựng, hàng trăm bộ bàn ghế được tặng cho các xã, hàng ngàn lượt người dân được kịp thời cấp cứu chữa bệnh; hàng trăm buổi chiếu phim và liên hoan văn nghệ quân dân được tổ chức phục vụ hàng chục vạn lượt người dân, hàng chục trận thi đấu giao hữu thể dục thể thao giữa bộ đội và thanh niên địa phương đã diễn ra. Nổi bật nhất là việc Quân đoàn huy động gần 4 vạn ngày công tham gia xây dựng hệ thống công trình thủy lợi hồ Núi Cốc, đưa trên 2.000 héc-ta lúa từ một vụ lên hai vụ và mở rộng diện tích sản xuất của các nông trường chè Sông Cầu và Quân Chu được địa phương đánh giá cao. Phát huy tiềm năng sẵn có và thường xuyên đúc rút kinh nghiệm công tác dân vận, Quân đoàn đã cử cán bộ giúp 50 xã củng cố các đoàn thể, huấn luyện quân sự cho hàng vạn lượt dân quân tự vệ và học sinh, bồi dưỡng 113 cán bộ đoàn, đào tạo 136 y tá; tuyên truyền truyền thống cách mạng cho hàng vạn lượt người, tổ chức 8 chuyến xe ca đưa 395 cán bộ lão thành và gia đình có công với cách mạng đi viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam; thăm hỏi tặng quà giúp đỡ hàng trăm gia đình liệt sĩ thương binh, dạy múa hát và quyên góp nhiều tiền, tặng quà cho học sinh nhân ngày khai trường và các cháu thiếu niên nhi đồng trong dịp Tết Trung thu và ngày 1 tháng 6 hàng năm: Tiêu biểu cho nhiệm vụ đoàn kết quân dân là Sư đoàn bộ binh 31. Từ một đơn vị lúc đầu để xảy ra vụ vi phạm kỷ luật nghiêm trọng trong quan hệ quân dân ở hai xã Phúc Tiến và Vũ Sơn huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn (22.11.1981), Sư đoàn đã kiên quyết khắc phục khuyết điểm, làm tốt công tác dân vận, trở thành lá Cờ đầu về vận động quần chúng, xây dựng vành đai an toàn trong nhiều năm liền của Binh đoàn Tây Nguyên, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái tặng Bằng khen. Những cố gắng liên tục và kết quả thiết thực của các hoạt động đoàn kết quân dân trong nhiều năm của Quân đoàn, đã góp phần quan trọng vào xây dựng hậu phương chiến lược trực tiếp, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàn dân trên hướng chiến lược trọng yếu phía Bắc Tổ quốc, thực sự là lực lượng tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. ----------------------------------------------------------------- 1. Trích văn bản: "Hội nghị cán bộ định kỳ đảng bộ Quân đoàn 3 lần thứ nhất", tr.5.
2. Đồng chí Hà Quốc Tỏan được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh về chính trị Quân đoàn 3 từ cuối năm 1979, sau đó thực hiện theo cơ chế 07 làm Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn.
3. Trong 5 năm (1981-1995) sốđảng viên thuyên chuyển khỏi Quân đoàn là 7.471 đồng chí.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|