Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:49:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường 5 anh dũng quật khởi - Tập 1  (Đọc 12716 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2021, 04:08:07 pm »

Còn thái độ đối với tù binh bắt được thì thế nào? Xuất phát từ nhận thức về ngụy binh, tề dõng tuy có hành động bóc lột áp bức nhân dân nhưng trừ một số rất ít tên đại gian ác còn đại bộ phận do hoàn cảnh địch mạnh, ta yếu mà bị dụ dỗ, bắt buộc đi lính chứ không phải tất cả là phản động chống lại kháng chiến, và cũng do điều kiện vùng của ta kiểm soát không rộng, khả năng cung cấp có hạn và ở sâu trong địch hậu, tổ chức đưa tù binh ra vùng tự do hết sức khó khăn, chủ trương của ta là thực hiện đầy đủ chính sách khoan hồng của Chính phủ đối với tù binh, nhất là ngụy binh. Ta chỉ giữ lại 1 hoặc 2 ngày giáo dục chúng hiểu kẻ thù dân tộc chính là thực dân Pháp chứ không phải là ngụy binh, rồi thả chúng về với vị trí của chúng, nhưng căn dặn, nhắc nhở chúng về với địch thì hoặc là xin về với vợ con làm ăn hoặc bí mật liên lạc với kháng chiến, quay súng bắn lại Pháp hoặc thậm chí phải đi càn quét thì không được cướp hóc, giết hại dân và bắn chỉ thiên, sẵn sàng giơ tay hàng bộ đội ta... Vì vậy, kế hoạch tác chiến bao giờ cũng có kế hoạch địch vận đi kèm. Ban địch vận Tỉnh đội do đồng chí Nguyên Hữu Vận làm trưởng ban đã chuẩn bị trước bài vở lên lớp, đi sát sở chỉ huy, sẵn sàng làm nhiệm vụ "quản giáo" tù binh một cách có hiệu quả. Thái độ khoan hồng đối với tù binh như trên đã đem lại kết quả trực tiếp và sâu rộng trong hàng ngũ địch. Tù binh bắt được trong trận tới được thả về bốt Cao Xá và nói um lên sức mạnh của ta lại càng reo rắc tâm lý hoang mang, sợ hãi của bọn địch. Trực tiếp ngay là tề phản động ở thôn Trà Bồ đã vội bí mật liên lạc với ta, xin giao nộp vũ khí cho ta, tạo cho ta mở tiếp luôn khu du kích mới ở phía bắc Phù Cừ sau đó hơn 10 ngày. Về sau, có những trận địch vừa gặp ta nổ súng xung phong là đã hàng ngay, ta gần như không bị thương vong gì. Ví như trận đánh địch ở thôn Nhân La Lương (làng Mát) có 2 tên sĩ quan Pháp chỉ huy hơn 1 trung đội ngụy bốt Ân Thi và Thổ Hoàng tới, ta vừa nổ súng xung phong đã bắt gọn ngay toàn bộ quân địch (trận đánh của C22 ngày 20-10-1951); hoặc trận đánh của C27 cũng vào thời gian đó, đã bắt sống 1 trung đội địch có 2 sĩ quan Pháp chỉ huy tại thôn Đống Long, sau đó tiến lên diệt bốt Thanh Sầm (huyện Kim Động) và nhiều trận nữa cũng tương tự như vậy.


Ngày nay, suy ngẫm lại, cá nhân tôi lại càng thấy chủ trương đối với tề, ngụy lúc đó thật là sáng suốt, thông minh, tạo cho ta thêm bạn, bớt thù, lực lượng kháng chiến ngày càng được bổ sung đã thực sự uốn nắn tư tưởng và hành động rất sai lạc của một số đồng chí mà ta gọi là "bệnh ấu trĩ" tả khuynh. Tôi lại càng thấm thía lời căn dặn chân thành của Bác Hồ trong thư gửi cho cán bộ, nhân dân tỉnh Hưng Yên đang bị quằn quại dưới sự kìm kẹp, khủng bố của địch, có câu "Các chú phải khéo đánh giặc và khéo tránh giặc".


Trận đánh diễn ra và thực hiện suôn sẻ đúng theo kế hoạch. Đêm 31-3-1951, trận đánh Thọ Lão quyết liệt nhất. C92 dùng mìn lỏm đánh sập 2 lô cốt. Địch rút lên gác chuông nhà thờ chống cự quyết liệt, không chịu hàng, giết hại 8 chiến sĩ ta, cố đợi tới sáng hy vọng quân ứng cứu. Nhưng 5 giờ ngày 1-4-1951, nhà thờ bốc cháy, khói hun lên gác chuông, địch bị ngạt khói, rơi xuống đất chết hết. Tiểu đoàn 664 diệt và bắt sống một trung đội ngụy từ vị trí Cao Xá định ứng cứu cho Thọ Lão. Ta không bị thương vong người nào. C24 Phù Cừ bao vây gọi hàng bốt hương dũng Viên Quang và đêm 1-4-1951, khuếch trương chiến thắng, dùng chiến thuật "dung dọa" gọi hàng 2 bốt Hạ Cát và Cát Dương, không tốn một viên đạn nào. Nhân dân, dân quân du kích các xã hồ hởi phục vụ các mặt chiến đấu và bảo đảm đặc biệt giữ bí mật rất tốt. Uy thế của lực lượng kháng chiến lên rất cao. Trận đánh đêm 31-3-1951 và ngày 1-4-1951 tuy không tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn đối với lịch sử kháng chiến của Hưng Yên. Đó là trận mở đầu có tính chất đột phá thắng lợi vào hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, mở được 1 khu du kích đầu tiên của tỉnh đang ở thế bị tạm chiếm hoàn toàn. Đó là trận đã tạo được một mô thức khá hoàn hảo và toàn diện để ta vừa mở được cơ sở, lại vừa diệt được địch, vừa bào toàn bồi dưỡng được lực lượng, kết hợp chủ lực với địa phương, kết hợp tác chiến với địch vận, kết hợp quân sự với chính trị.


Từ nay diệt, vị trí hương dũng không chỉ đánh một đêm rồi rút mà phải trụ lại ban ngày để đánh viện, chủ lực có phối hợp thì đảm nhiệm đánh viện, địa phương diệt hoặc bao vây bốt địch để gọi viện. Sau trận đánh đều có kế hoạch khuếch trương chiến quả (dung dọa), vừa mở thêm cơ sở, vừa đánh lạc hướng phán đoán của địch, có phương châm và cách thức xử lý đối với tề, tù binh bắt được, có kế hoạch ổn định, bảo vệ dân trong và sau trận đánh, coi như đã được thành "bài bản" từ trận Thọ Lão. Duy nhất trận Cao Xá (năm 1953) vì không theo bài bản này nên bị thất bại. Tiện đây, cũng xin cải chính một tư liệu ghi trong cuốn "Lịch sử cuộc khảng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng", trang 265 có nói D664 diệt vị trí Cầu Tràng là không đúng. Thời kỳ này, địch chưa đóng vị trí Cầu Tràng mà về sau, năm 1952, chúng mới cắm vị trí này và bị một đơn vị của E42 tiêu diệt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2021, 04:08:47 pm »

2. Mở khu du kích giữa tháng 4 năm 1951 ở bắc huyện Phù Cừ.

Thực ra, hoạt, động này coi như sự tiếp nối của trận đánh Thọ Lão. Khu này ở phía bắc huyện Phù Cừ, bắc vị trí Cao Xá, gồm một số xã, như Minh Hoàng, Phan Sào Nam, Minh Tân, Trường Chinh, có bốt hương dũng vũ trang Trà Bồ, Phương Bồ, Đại Duy, trong đó bốt Trà Bồ, Đại Duy được coi là phản động, còn Phương Bồ tuy là thôn công giáo, lại được vũ trang nhưng vẫn là cơ sở ngầm của kháng chiến. Cuốn ''Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng" lại xác định là bốt phản động là không đúng, cần phải được cải chính lại. Cá nhân tôi thấy Phương Bồ là thôn công giáo, lại đi theo kháng chiến, ngay cả những giờ phút đen tối như lúc bấy giờ cững là một sự hiếm có. Ảnh hưởng chiến thắng của trận Thọ Lão cùng với chính sách khoan hồng với tù binh, tề dũng đã tác động trực tiếp tới bọn phản động ở Trà Bồ, chúng bí mật liên lạc với ta, sẵn sàng xin nộp súng, quy hàng. Chớp thời cơ đó, Tỉnh đội và E42 nhanh chóng tổ chức hợp đồng tác chiến theo như bài bản đã tiến hành ở Thọ Lão.


Lần này, khác với lần trước là bộ đội không phải tốn sức công đồn, mà chỉ vào tiếp nhận sự giao nộp vũ khí của 2 bốt Trà Bồ và Phương Bồ, và phát động quần chúng đứng lên kháng chiến, sẵn sàng đánh viện. Ngoài C22 vào thôn Trà Bồ, Tỉnh đội tập trung thêm C20 bố trí ở thôn Ba Đông, Phương Bồ, còn D664 của E42 ở khu vực thôn Viên Quang. Bọn địch ở bốt Cao Xá bị đánh đau ở trận trước, nên án binh bất động, nhưng địch ở bốt Thố Cầu ở đông nam huyện Ân Thi giáp với thôn Ba Đông, cách nhau một con sông nhỏ, được tin, chủ quan tập hợp cả quân của một số vị trí thuộc huyện Yên Mỹ, lực lượng khoảng gần 1 đại đội kéo sang ứng cứu thì bị C20 được sự chi viện rất có hiệu quả của D664 đã tiêu diệt toàn bộ toán quân này. Trong trận này, ta đã bắn chết tên đội Tự chỉ huy ngụy binh ở vị trí Từ Hồ (Yên Mỹ) và bắt sống tên đội Cửu khét tiếng gian ác cả vùng nam Ân Thi, bắc Phù Cừ; tin này đã gây chấn động lớn tới tâm lý bọn ngụy binh và gây luồng không khí phấn khởi, hào hứng trong nhân dân, càng tin tưởng vào lực lượng kháng chiến (ngay sau đó, thể theo nguyện vọng của nhân dân, ta lập phiên tòa án quân sự do đồng chí Phan Huy Thư, chính trị viên D664 làm chánh án, tuyên bố tử hình tên đội Cửu.


Bộ đội Phù Cừ tiếp tục thực hiện chiến thuật "dung dọa", khuếch trương chiến thắng, giải phóng vị trí hương dũng ở thôn Đại Duy. Như vậy, miền bắc huyện Phù Cừ cùng với miền trung gồm trên 10 xã đã chuyển thành khu du kích, tạo thành chỗ đứng chân và bàn đạp cho bộ đội và dân quân tấn công sang địa bàn khác của tỉnh.


3. Mở khu du kích thư 3 ở phía bắc huyện Tiên Lữ, ngày 5-6-1951.

Phối hợp với chiến dịch của Bộ mở tại Hà Nam Ninh bên hữu ngạn sông Hồng, Tỉnh đội với 2 đại đội tập trung, E42 với tiểu đoàn 664 có đồng chí Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng chỉ huy trực tiếp, lại cùng nhau phối hợp mở đợt hoạt động tại khu bắc Tiên Lữ và vẫn theo bài bản cũ. Khu vực hoạt động này tiến gần tới thị xã Hưng Yên, nên ta chuẩn bị khá kỹ phương án đánh viện. Nhưng lạ thay, nếu trận Thọ Lão ta diệt một trung đội ở vị trí Cao Xá, trận Ba Đông, Trà Bồ ta diệt gần một đại đội ngụy hội quân ở một số vị trí, thì trận này không gặp một đơn vị địch nào đi cứu viện, duy chỉ có 2 tên sĩ quan, một là tên trung úy người Pháp tên là Gồmbe (Gombert) và một tên thiếu úy người Việt tên là Tô đi xe zep từ thị xã Hưng Yên tới thôn Đầu Đặng, không biết có quân ta bí mật bố trí ở đó, bất ngờ bị E42 nổ súng, chúng bỏ xe chạy tới cánh đồng thôn Cao Cương thì bị bộ đội tỉnh xông ra bắt sống. Ta đã bức hàng, bức rút tất cả 11 vị trí địch. Thực ra, ta chỉ có ý định công đồn bằng mìn lõm ở vị trí thôn Tính Linh, nhưng do anh em yếu kém về kỹ thuật không diệt được trong đêm, mà phải bao vây ban ngày gọi bọn dõng ra hàng. Bộ đội huyện và trung đoàn 42 bao vây gọi hàng 2 vị trí ở Đầu Đặng, bắt được một bang tá tên là Thát (bang là cấp chính quyền ngụy, dưới cấp quận nhưng trên cấp tổng). Vị trí Phố Dung nằm trên đường 200 nối chợ Thi với Phố Giác, phát hiện quân ta từ Phù Cừ vượt qua đường 200 nhảy cóc sang bắc Tiên Lữ, nên chúng hoảng sợ bỏ chạy, còn lại những vị trí như Trại Nai, Trịnh Xá... là kết quả của chiến thuật "dung dọa". Đợt hoạt động này phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chính, có hiệu quả, nên đã được Bộ chỉ huy chiến dịch Hà Nam Ninh biểu dương trong báo cáo tổng kết chiến dịch.


Cũng hết sức vui mừng nói thêm về kết quả của đợt hoạt động này, nhưng là kết quả của sự xe duyên chắp mối tình duyên giữa đồng chí Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng E42 với chị Trịnh, hồi đó là bí thư chi bộ và nữ du kích Hoàng Ngân, qua sự gặp gỡ bàn chuyện bảo đảm chiến đấu mà nảy sinh mối tình thắm thiết. Được đồng đội vun đắp, nên 2 người đã nên vợ, nên chồng sau đó không lâu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2021, 04:09:30 pm »

4. Mở khu du kích thư 4 ở tây nam huyện Ân Thi, cuối tháng 8-1951.

Tiếp theo thắng lợi ở phía bắc huyện Tiên Lữ, E42 và Tỉnh đội Hưng Yên dự định lại cùng nhau hợp đồng mở khu Giang Mát, Cổ Lễ ở phía tây nam huyện Ân Thi, sẵn sàng phối hợp với chiến trường chính, khi có lệnh.


Trong khi chờ đợi, Tỉnh đội quyết định mở khu bắc huyện Kim Động, nam huyện Khoái Châu bằng cách tiêu diệt bốt tổng dũng thôn Thanh Sầm, do tên tổng Đại khét tiếng phản động chỉ huy. Bốt Thanh Sầm nằm giữa đường số 39 và đê sông Hồng đã khống chế toàn bộ các làng xung quanh vẫn có lòng hướng về kháng chiến, nhưng rất sợ tên tổng Đại. Đại đội 27 trước vẫn hoạt động phân tán tại vùng này mới được về tập trung, do anh Doãn làm đại đội trưởng, được giao nhiệm vụ tiêu diệt vị trí này và trụ lại ban ngày để phát động quần chúng theo kháng chiến. Do tôi (Võ An Đông) - Tỉnh đội trưởng và đồng chí Trần Trí Dũng, tiểu đoàn phó đi theo trực tiếp chỉ huy, giúp đỡ, tháng 7 chúng tôi xây dựng kế hoạch tác chiến ở thôn Thọ Lão ròi hành quân tới thôn Long Cầu, Đông Minh, trú tại đó một ngày rồi sẽ xuất phát từ đó nhảy qua đường số 39 tiến đánh vị trí Thanh Sầm. Thật không may, tối hôm hành quân tới thôn Long Cầu, thì tên Doãn mang 2 liên lạc đi đầu hàng giặc tại bốt Phố Giác. Trong 2 người liên lạc này, có 1 người nhất định không theo tên Doãn đầu hàng, chạy về báo chúng tôi ngay trong đêm (rất tiếc tới nay tôi không còn nhớ tên họ người liên lạc dũng cảm này). Chúng tôi buộc phải bỏ dở kế hoạch tấn công và báo cáo với Khu xin ý kiến. Tại cuộc họp của Khu, lúc đó do đồng chí Nguyễn Khai làm khu trưởng, có đồng chí Nguyễn Như Thiết - trung đoàn trưởng E42 và tôi, chúng tôi đi đến nhận định tên Doãn tuy không được phổ biến nhưng cũng có thể đánh hơi thấy kế hoạch mở cơ sở tại vùng Ân Thi và có thể nó đã báo với địch, cho nên kết luận là tạm thời bỏ kế hoạch đánh Thanh Sầm và vẫn quyết định mở cơ sở ở huyện Ân Thi vừa để đánh lạc hướng quân địch, vừa để ly gián tên Doãn với địch, nhưng về lực lượng thì chỉ sử dụng 2 đại đội của tỉnh và đơn vị tập trung của huyện, còn E42 sẽ không tham gia đợt hoạt động này.


Thế là, vào cuối tháng 8 năm 1951, chúng tôi hành quân mở cơ sở diệt các vị trí chợ Lão, Phổ Vân và làng Mát theo đúng kế hoạch. Chỉ có tình tiết xảy ra là ban đêm ta không diệt được bốt Mát (thôn Nhân La Lương), phải đợi đến trưa hôm sau. Bọn hương dũng không thấy quân cứu viện ở các bốt Trương Xá và Kim Động tới, đã theo lời gọi hàng, chịu nộp vũ khí cho ta. Còn bọn địch biết có quân ta nhưng không dám đi ứng cứu, địch ở bốt Kim Động (cầu Ngàng) tới cánh đồng làng Dưỡng Phù năm bắn chỉ thiên rồi tới trưa thì rút về, còn bọn địch ở Trương Xá cho 1 tiểu đội đi thám thính, bị ta diệt gọn, chúng đóng chặt cổng bốt lại, không dám làm gì.


Trận đánh thắng lợi trọn vẹn, đánh dấu khả năng của bộ đội địa phương có thể tự tiếp tục phá nốt hệ thống tháp canh hương đồn của địch và lực lượng E42 được rảnh tay, chuẩn bị tác chiến ở mức cao hơn, phức tạp hơn.


5. Mở khu du kích thứ 5 tại bắc huyện Kim Động, nam huyện Khoái Châu (cuối tháng 10-1951).

Đây là trận đánh mở khu du kích nhưng không có kế hoạch từ trước mà do có sự nắm bắt nhanh nhạy thời cơ và do có sự chỉ huy năng động, thông minh, sáng tạo.

Chuyện xảy ra như sau:

Sau trận càn lớn Trái chanh, Trái quýt, ta có chủ trương đưa bộ đội tỉnh luồn từ Thái Bình trở về địa bàn cũ của tỉnh, phân công đại đội 27 trở về huyện Kim Động, đại đội 20 huyện Ân Thi cùng với đại đội 22 bố trí ở làng Mát dùng lối đánh cận chiến, bắt sống 2 tên Pháp và 30 tên ngụy ở bốt chợ Thi và Thổ Hoàng hội quân tới càn quét, ta không có một người nào bị thương vong.


Cùng thời gian này, đại đội 27 bố trí ở thôn Đống Long (Kim Động) bắt sống 2 tên Pháp và 20 tên ngụy từ vị trí Ngọc Đống đi hành quân trên đê sông Hồng vào thôn Đống Long. Ta xuất kích tiêu diệt chúng, không thương vong ai, vẫn giữ bí mật nơi đóng quân. Tiếp đó, tên tổng Đại mang theo một số tên dõng qua thôn Đống Long cũng bị C27 bất ngờ xông ra bắt sống. Anh Kiên - chính trị viên phó Tỉnh đội và anh Nguyễn Năng Thịnh - đại đội trường C27 đã vừa thuyết phục, vừa ép tên Đại dẫn bộ đội về thôn Thanh Sầm (cách đó khoảng 2km) kêu gọi lính hương dũng còn ở trong hương đồn ra đầu hàng nhanh và gọn. Ngay trong đêm khuếch trương chiến thắng, đại đội 27 cùng với dân quân dùng chiến thuật dung dọa tiến lên phá tề và diệt các hương đồn phố Dàn (Sài Thị), Đại Quan, Tiẻu Quan, Thọ Nham, Phó Nham, mở một khu rộng lớn ở nam Khoái Châu, bắc Kim Động, làm bàn đạp cho quân ta tiến lên hoạt động ở huyện Yên Mỹ và Văn Giang sau này. Trận đánh này có nhiều ý nghĩa. Trước hết, công cuộc phá hương đồn, mở cơ sở vẫn được tiếp nối, không bị các cuộc càn quét lớn làm gián đoạn. Trận đánh này tuy không có ý định tác chiến từ trước nhưng đã được hoàn thành một cách trọn vẹn kế hoạch mà ta buộc phải bỏ dở cách đó chừng 3 tháng do có sự đầu hàng của tên Doãn và cũng chính cán bộ, chiến sĩ đại đội 27 đã trả thù đích đáng sự phản bội của tên chỉ huy cũ của mình. Về mặt quân sự, trận đánh đã là tấm gương sáng chói của trình độ, bản lĩnh chỉ huy của đồng chí Nguyễn Năng Thịnh rất linh hoạt, sáng tạo, biết cướp thời cơ thuận lợi, táo bạo, dẫn dắt bộ đội dưới quyền hoạt động có tính chất một đợt hoạt động đã thắng lợi giòn giã, diệt nhiêu địch và vẫn bảo tồn mình. Đồng chí Nguyễn Năng Thịnh rất trẻ, lúc đó khoảng 23 hoặc 24 tuổi đời, là thanh niên ở thị xã Hưng Yên, từ cán bộ chính trị chuyển sang làm quân sự mà đã thể hiện một tài năng chỉ huy quân sự. (Rất đáng tiếc, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong trận đánh viện ở đường 39, ngày 3-2-1952). Trận đánh này cùng với trận đánh ở thôn Mát (Ân Thi) cùng thời gian đã nổi lên hiện tượng địch dù có Pháp chỉ huy, bọn ngụy đã vội vã giơ tay hàng khi bất ngờ gặp quân ta nổ súng và xung phong. Điều rõ ràng là tinh thần bọn chúng đã hết sức bạc nhược trước sức mạnh chiến đấu của quân ta, nhưng phải chăng đó cũng là kết quả chính sách binh-địch vận của ta tỏ rõ lượng khoan hồng, bắt rồi qua giáo dục ngắn và thả về, để làm loa tuyên truyền cho kháng chiến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2021, 04:10:14 pm »

6. Mở khu du kích bắc huyện Khoái Châu, nam huyện Yên Mỹ (tháng 11 năm 1951).

Ngày 9-11-1951, Pháp tập trung toàn bộ quân các binh đoàn cơ động (GM) đánh chiếm tỉnh Hòa Bình. Chúng tôi thấy việc phối hợp với chiến trường chính không chỉ là nghĩa vụ mà là thời cơ rất tốt, đã mở rộng hoạt động mạnh mẽ hơn, vì không phải lo lắng nhiều về quân GM và phi pháo. Mặt khác, chúng tôi lại vừa nhận được một khẩu SKZ (súng không giật) của Bộ trang bị theo sự hứa hẹn của anh Nguyễn Ngọc Xuân, Cục phó Cục quân giới.


Tỉnh đội có 2 đại đội, phân công C27 bao vây, gọi hàng địch ở vị trí Dương Trạch (xã Tân Dân) do tên tổng Thân khét tiếng phản động chỉ huy và C22 bố trí ở thôn Bình Phú, Khóa Nhu (xã Quang Phục, huyện Yên Mỹ) sẵn sàng đánh viện ở bốt Từ Hồ hoặc bốt Lục Điên tới. Tỉnh đội trưởng Võ An Đông và chính trị viên tỉnh đội kiêm phó bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Ngọc Vũ trực tiếp chỉ huy trận đánh.


Kết quả là địch không tới cứu viện mà chỉ có 5 tên lính ở bốt Từ Hồ đi tuần qua thôn Bình Phú bất ngờ bị quân của C22 xông ra bắt sống, thu vũ khí rồi buổi tối trước khi bộ đội chuyển quân, được bộ đội thả về bốt Từ Hồ, tạo nên tâm lý hoang mang cao độ trong hàng ngũ địch. Tại đồn hương dũng Dương Trạch, bộ đội gọi hàng, bọn chúng không chịu hàng, nên C27 đã sử dụng khấu SKZ bắn một phát làm cho lô cốt bị thủng một mảng lớn, sau đó tên tổng Thân phải chịu hàng và nói một câu rất thô bỉ: "Chúng tôi đành sống nhục hơn chết vinh, xin hàng các ông".


Sức công phá cûa SKZ không chỉ phá lô cốt Dương Trạch mà nó còn làm suy sụp sức chiến đấu của bọn địch. Biểu hiện rõ nhất là sau đó 10 ngày, bọn địch ở Từ Hồ vừa ngửi thấy quân ta tiến gần không phải là có ý định đánh chúng mà chúng đã hoảng hốt bỏ chạy để ta chiếm đồn, hoặc là vị trí bang tá ở Đa Ngưu đã vội tháo chạy khi mới nghe tiếng chó cắn đầu làng, tới khi bộ đội vào chiếm vị trí, chăn chiếu bọn địch vẫn còn hơi nóng người, hoặc là bọn bảo chính đoàn ở vị trí Thiết Trụ đã vội bí mật liên lạc với ta. Tên Liễu là thiếu úy chỉ huy đồn đã tự nguyện mở cửa, nộp súng cho bộ đội ta sau đó 1 tháng. Và cũng trong đợt hoạt động này, với chiến thuật "dung dọa", ta đã phá thêm các bốt hương dũng Mỹ Xá (Yên Mỹ), Đông Tảo, Đức Nhuận (Khoái Châu), tạo một bàn đạp để giải phóng huyện Văn Giang sắp tới.


Cũng cần nói thêm, trước đó vài ngày, du kích thôn Ông Đình, thôn Yên Vĩnh (Khoái Châu) đã chủ động phá bốt hương dũng không cần sự hỗ trợ của bộ đội, góp phần làm cho toàn huyện Khoái Châu thành một khu du kích liên một dải, từ Đông Tảo, Dương Trạch ở phía bắc tới Thọ Nham, Phổ Nham ở phía nam.


7. Mở khu du kích, giải phóng toàn huyện Văn Giang, phối hợp với chiến dịch Hòa Bình, tháng 12-1951

Đầu tháng 12-1951 phối hợp với chiến dịch tiến công địch ở Hòa Bình, bộ đội tỉnh đã tiến lên mở liên tiếp cơ sở phía tây nam huyện Yên Mỹ và giải phóng gằn như toàn vẹn huyện Văn Giang, giáp với huyện Gia Lâm, kế cận với thành phố Hà Nội.


Trận đánh chia ra làm hai bước hoạt động ngắn, được chuẩn bị cẩn thận, nhưng diễn biến lại hết sức thuận lợi, không tổn thương một chiến sĩ nào, không phải bắn một viên đạn, thế mà bọn địch ở các npi khác đã đầu hàng hoặc bỏ chạy.


Bước 1, ta định phá các bốt hương dũng Ngân Hạnh, Đại Hạnh, nhảy cóc qua vị trí Từ Hồ; nhưng bọn lính ở Từ Hồ do tên đội Truy chỉ huy vừa phát hiện quân ta ở xã Quang Phục (thôn Bình Phú - Khóa Nhu) đã vội rút chạy về vị trí Lực Điền, nên ta đã giải phóng thêm vị trí này. Ngoài ra, vị trí bang tá đóng ở thôn Đa Ngưu, huyện Văn Giang, vừa thấy bộ đội vào đầu làng đã vội cuốn chạy, để lại toàn bộ quân trang, quân dụng. Trong ngày, bộ đội đóng quân ở thôn Đại Hạnh. Với tư cách là chủ tịch cũ của huyện Yên Mỹ, tôi tập hợp tuyên truyền cho nhân dân trong thôn và thuyết phục tề tại Yên Mỹ nộp súng. Nhân dân ta hồ hởi đón tiếp bộ đội.


Sang bước 2 cũng vậy, sau đó vài ngày, ta tiến vào thôn Cửu Cao (tên Nôm gọi là làng Rồng). Dân ở thôn này do tên chánh Phả không chế đã mất liên lạc với kháng chiến ngay từ đầu năm 1947. Nhưng lần này cũng vậy, tên chánh Phả cũng vội chạy trốn khi vừa phát hiện thấy bộ đội, nên bộ đội ngày hôm sau chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền, giải thích kháng chiến cho dân. Đợi đến tối hôm sau, tiến lên dọc theo đê sông Hồng bức hàng tên chánh Phát ở bốt Phi Liệt, thu vũ khí của hương dũng thôn Xuân Quan và không phải tốn một viên đạn nào mà giải phóng vị trí Cống Luận là quận lỵ hành chính của huyện. Bọn bảo an ở đây cũng bỏ chạy một cách lặng lẽ.


Như vậy là ta đã kết thúc đợt hoạt động thứ 7, đồng thời cũng là kết thúc về cơ bản nhiệm vụ phá tan hệ thống tháp canh, hương đồn. Đáng kể có huyện Tiên Lữ đã diệt và bức hàng, bức rút các đồn Vân Phương, An Chiểu, Phương Chiểu, Hải Yên, mở khu du kích tới sát thị xã Hưng Yên. Huyện Phù Cừ diệt bốt tổng dũng Hoàng Xá, Hoàng Các, bắt sống tên tổng Nham phản động, mở rộng cơ sở ở phía nam huyện Ân Thi cùng với đại đội 20 diệt và bức hàng các vị trí Huệ Lai, Đô Thượng, Gia Cốc... mở rộng khu du kích ở bắc huyện.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2021, 05:25:15 pm »

VÀI LỜI KẾT LUẬN

Thế là, kể từ ngày 31-3-1951 tới hết tháng 12-1951, trải qua 8 tháng liên tiếp mở những đợt hoạt động nhằm phá hệ thống tháp canh, hương đồn của địch, tích cực mở cơ sở, tranh thủ nhân dân, giữ gìn và phát triển lực lượng, các khu du kích mở tới đâu được củng cố tới đó. Quân, dân Hưng Yên đã tự mình tạo một thế trận mới, từ một thế bị địch o ép bao vây ta trong suốt năm 1950 và 3 tháng đầu năm 1951, đã chuyển sang một thế ngược lại, chính ta bao vây, chia cắt trở lại chúng, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Cái thế đó đã được giữ vững và phát triển tới khi kết thúc chiến tranh. Chính nhờ cái thế đó đã tạo cho bộ đội địa phương Hưng Yên có cơ hội đánh thắng và tiêu diệt một bộ phận quân cơ động chiến lược của địch trong trận hành quân "Trái chanh" ngày 25-9-1951.


Thắng lợi của đợt hoạt động này đem lại ý nghĩa sâu sắc, có giá trị lịch sử đối với sự chỉ đạo chiến tranh trong vùng địch hậu của một cấp lãnh đạo địa phương cũng như đối với nghệ thuật quân sự của cán bộ chỉ huy quân sự, trong điều kiện địch ưu thế hơn ta về nhiều mặt. Nguyên nhân trực tiếp tạo nên sự chuyển mình đáng tự hào đó, trước hết là do ảnh hưởng chiến thắng Biên giới lịch sử. Bộ đội Hưng Yên không chỉ được tăng cường trang bị vũ khí mà điều có tính quyết định là được, học tập, bồi dưỡng tư duy quân sự, tư tưởng chỉ đạo tác chiến mới, làm cho trình độ chỉ huy được biến đổi về chất.


Phải kể đến sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Hưng Yên qua nghị quyết tháng 12-1950 với những chủ trương, biện pháp đúng đắn, mềm dẻo đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, địch vận, đối với dân thì kiên trì thuyết phục, động viên, đối với địch thì độ lượng, có chính sách phân loại, đối sách thích hợp để "thêm bạn, bớt thù", khắc phục khuynh hướng tả khuynh phổ biến hồi đó.


Cuối cùng, phải kể đến sự trưởng thành về quân sự của cán bộ chỉ huy và chiến sĩ, thể hiện ở chỗ xác định được phương thức tác chiến cỏ hiệu quả trong việc chọn lựa đối tượng và địa bàn tác chiến chính xác, dám mạnh dạn hoạt động, trụ bám ngay cả ban ngày, bỏ hẳn phương thức cũ cất giấu vũ khí xuống hầm bí mật mỗi khi địch tới càn; thể hiện ở sự kết hợp giữa tác chiến với địch vận, kết hợp tác chiến giữa trung đoàn 42 với địa phương, giữa bộ đội tỉnh, huyện và dân quân-du kích xã.


Thắng lợi của đợt hoạt động này được đánh dấu bằng việc quân dân tỉnh Hưng Yên vinh dự đón nhận lá cờ của Chủ tịch Hô Chí Minh trao tặng vào tháng 5 năm 1952, lá cờ có 8 chứ vàng "Đoàn kết nhân dân, đánh thắng giặc Pháp". Thật là giàu ý nghĩa, quân dân Hưng Yên đánh thắng giặc Pháp không phải bằng vũ khí gì khác mà bằng vũ khí "đoàn kết nhân dân".

Trước đó, ngày 15-1-1952, cá nhân tôi cũng được vinh dự nhận bức thư khen của Ban thường vụ Liên khu ủy 3 do Bí thư Lê Thanh Nghị ký.


SƠ ĐỒ PHÁT TRIỂN KHU ĐU KÍCH HƯNG YÊN
THỜI GIAN TỪ 31/3/1951 - 12/1951

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2021, 05:26:15 pm »

III
ĐÁNH THẮNG QUÂN CƠ ĐỘNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH


Trước Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang của ta trong địch hậu, hệ thống bình định của địch có nguy cơ bị tan rã. Quân ứng chiến địa phương của chúng, sau mấy lần bị đánh tan tác, quay về cố thủ; các đồn bốt của địch cũng phải co lại, không dám đi càn quét, như trước, hoặc chỉ dám đi lùng sục quanh vị trí.


Trước tình thế nguy ngập đó, tướng De Lattre de Tassigny được cử làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp, chủ trương tập trung lực lượng thành những binh đoàn cơ động, gọi là GM (viết tắt của chữ Groupement Mobile), nhầm đối phó với lực lượng của ta trên chiến trường chính, đồng thời tranh thủ lúc bộ đội chủ lực của ta nghỉ ngơi chưa đánh lớn, chúng quay về càn quét vùng địch hậu, nhằm đẩy lùi lực lượng ta đang uy hiếp chúng. Các cuộc hành quân càn quét của lực lượng ứng chiến địa phương của địch trước đây thường quy mô nhỏ, trên một địa bàn hẹp và thời gian hành quân thường chỉ không quá 1 ngày, từ sáng tới chiều lại quay trở về đồn bốt. Khác với trước, các cuộc hành quân của quân cơ động GM quy mô lớn hơn nhiêu, phi pháo tập trung, tập kết từ xa, bất ngờ vận động bằng cơ giới bao vây ta trên địa bàn khá rộng và đặc biệt tiến hành trong thời gian khá dài, từ 5 tới 7 ngày (riêng trận Lạc Đà ở Hưng Yên hồi 5-1952 kéo dài tới 1 tháng) lùng sục đi lại nhiều lần, khui hầm bắt cán bộ ta. Khu Tả ngạn từ ngày 19-5-1951 tới cuối tháng 5-1951, địch có 2 cuộc hành quân mang tên Međuse (Con Sứa) và Reptile (Con Rắn). Như vậy, riêng trận Reptile ở huyện Bình Giang, bắc Thanh Miện đã gây những tổn thất nặng nề cho ta do chưa có kinh nghiệm đối phó. Trong trận đánh này, đồng chí Phan Mạnh Hà, nguyên tỉnh đội trưởng Hưng Yên đang chuẩn bị lên Khu nhận công tác củng bị bắt do địch khui hầm lên.


Về phía Hưng Yên, cho tới trước trận càn "Trái chanh", ta đã mở được cơ sở ở 3 huyện bắc Phù Cừ, bắc Tiên Lữ và trung Ân Thi. Ta đã có địa bàn đứng chân và cơ sở khu du kích được củng cố một phần, tuy chưa được vững chắc.


Vấn đề được đặt ra là, dù muốn hay không, trước sau thế nào cũng phải chạm trán với quân cơ động chiến lược của Pháp trên địa bàn Hưng Yên đã được một phần giải phóng. Làm thế nào không để tổn thất như trong trận Reptile mà vẫn bảo toàn được lực lượng, tiêu hao, tiều diệt bộ phận quân địch và giữ vững được các khu du kích mới được mở ra, bảo vệ được tính mạng, tài sản của dân. Đó là bài toán buộc lãnh đạo và chỉ huy tỉnh đội Hưng Yên phải có những câu giải đáp phù hợp với tình thế lịch sử hồi đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2021, 05:27:42 pm »

A. Ngày 25-9-1951 - ngày lịch sử quân dân Hưng Yên đánh thắng cuộc hành quân càn quét "Trái chanh" (Citron) bằng quân cơ động chiến lược GM của địch.

1. Sự chuẩn bị:

Ngày 25-9-1951, ta đánh thắng hào hùng trận càn quét lớn "Trái chanh" đã được ghi nhận trong lịch sử. Thực ra, lập được chiến công oanh liệt đó không phải là sự ngẫu nhiên, đó là kết quả của sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thận trọng, chu đáo, thế hiện trong bản lĩnh, tư duy quân sự cũng như trong công tác chuẩn bị tư tưởng và chiến thuật, phương thức tác chiến trên cơ sở đánh giá khách quan đúng đắn khả năng chiến đấu của hai bên đối địch.


Trước đây, trong điều kiện bộ đội và du kích hoạt động phân tán là chủ yếu, trang bị vũ khí kém cỏi, địch mạnh hơn ta gấp bội, đã trở thành cái lệ quen là mỗi khi phát hiện thấy địch tập trung quân chuẩn bị đi càn quét, bộ đội và du kích trừ một số trường hợp riêng lẻ, thường xuống hầm cất giấu vũ khí, đợi khi địch rút quân về (thường chúng chí càn ban ngày, tới chiều tối rút về đồn bốt), anh em lại đội hầm lên hoạt động theo kế hoạch. Phương thức, hoạt động này của ta cũng đã đem lại kết quả là về cơ bản bảo toàn được lực lượng, duy trì được sự chiến đấu, tuy thỉnh thoảng cũng xảy ra một số vụ địch sục hầm bắt giết cán bộ, chiến sĩ ta. Thế nhưng, địch đã thay đổi phương thức tác chiến, càn quét dài ngày, tập trung phi pháo, lực lượng cơ động trên một địa bàn khá rộng càn đi quét lại. Với trận Reptile, ta lại áp dụng phương thức cũ phân tán xuống hầm, kết quả phải chịu tổn thất nặng nề.


Rút kinh nghiệm trận Reptile, bộ đội Hưng Yên chúng tôi kiểm điểm nghiêm túc, thấy phương thức hoạt động cũ là bộ đội cất giấu vũ khí xuống hầm là rất bị động, không thể đánh được địch, lại bị địch sục hầm bắt giết. Đặc biệt, hoàn cảnh lịch sử lúc đó, bộ đội đã được trang bị đầy đủ, phổ biến hoạt động đại đội tập trung chứ không phân tán từng tổ, từng tiểu đội như trước nữa. Mỗi đại đội tỉnh, quân số thường từ 150 tới 180 người, được trang bị 2 súng cối 60 ly, 6 trung liên, mỗi tiểu đội một tiểu liên, súng trường, lựu đạn mang theo đầy đủ (riêng đại đội 22 còn thêm 2 đại liên) bố trí ở 2 hoặc 3 thôn, nên sẽ rất dễ bị lộ nếu phân tán xuống hầm.


Qua nhiều lần trao đổi, nghiên cứu, so sánh lực lượng hai bên, nghiên cứu địa hình, đặc biệt là địa hình làng mạc đồng bằng rất có lợi cho bên phòng ngự, chúng tôi, cán bộ chỉ huy từ đại đội tới tỉnh đội đều thống nhất đi đến kết luận: Chừng nào còn hoạt động tập trung đại đội trở lên thì dù địch tới càn bất luận với quy mô nào, tính chất ác liệt tới đâu, bộ đội không được xuống hầm bí mật, phải kiên quyết đánh trả với phương thức tác chiến phù hợp, đáp ứng nhu cầu vừa bảo toàn được lực lượng, vừa tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận quân địch.


Để giải quyết thống nhất tư tương và phương thức chiến thuật, phù hợp với ý đồ tác chiến đã nêu trên, chúng tôi tổ chức một lớp học, thành phần từ cán bộ tiếu đội trở lên của 3 đại đội tập trung tỉnh (C20, C22, C27) và bộ đội huyện Phù Cừ tại thôn Ngũ Lão, thời gian 2 ngày, diễn ra vào đầu tháng 9-1951, nghĩa là chỉ vài ngày trước khi xảy ra trận "Trái chanh”. Gọi là lớp học, thực ra chỉ là một ngôi nhà rộng 3 gian, vừa ngồi trên giường tre (thời đó gần như không có giường gỗ) vừa ngồi trên nền nhà, không có bảng, phấn, mà dạy và học theo phương pháp vấn đáp. Người ta đặt ra câu hỏi, học viên đua nhau trả lời, trao đổi ý kiến từng câu hỏi, cuối cùng người dạy tóm tắt, hướng dẫn kết luận. Người dạy là tôi - Tỉnh đội trưởng, có anh Căn là Phó ban quân sự (lúc đó chưa dùng từ tham mưu) giúp việc.


Sau đây Ta mấy câu hỏi và trả lời chính:

Câu hỏi 1: Nếu gặp địch dùng quân GM càn lớn, thì bộ đội tỉnh nên xử trí thế nào để ít nhất bảo toàn được lực lượng ?

Trả lời: Có 3 cách xử lý, cần chọn một :

a/ Hoặc là phân tán, cất giấu vũ khi như đã làm trước đây. Phương án này phải vứt bỏ ngay vì kinh nghiệm trận Reptile đã cho thấy là tự hứng lấy sự thất bại nhục nhã trước phương thức tác chiến mới của địch.

b/ Hoặc là rời trận địa sang khu vực khác để tránh va chạm với địch, phương án này chỉ thực hiện trong trường hợp vị trí đóng quân của ta bị lộ liễu, quân địch đã trinh sát dò thấy địch còn ở xa ta. Còn như địch đã tiến sát ta, hoặc phi pháo đã phát hỏa chuẩn bị, nếu ta rời trận địa, tức là ta tự bỏ công sự đã xây dựng từ trước chạy cánh đồng để làm mồi cho phi pháo địch. Thêm nữa nếu chuyển bộ đội tới trận địa mới, công sự phải sửa sang lại, phương án tác chiến phải xét duyệt lại. Tinh thần chiến đấu của bộ đội chắc phải củng cố lại. Tóm lại, sức chiến đấu chắc bị suy giảm, cho nên trong trường hợp địch đã triển khai lực lượng càn quét sát với quân ta, ta không nên và không được tự ý rời bỏ trận địa.

c/ Chỉ còn cách kiên quyết trụ lại đánh địch ngoan cường dũng cảm, kết hợp cách đánh thích hợp và hệ thống công sự đã được chuẩn bị từ trước, chỉ còn cách trụ lại và đó là cách duy nhất có thể cho ta khả năng tiêu hao, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch và bảo toàn được lực lượng ta.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2021, 05:28:42 pm »

Câu hỏi 2: Nếu ta trụ lại đánh địch, hãy phân tích khả năng đánh thắng địch và giữ gìn lực lượng ta ra sao?

Trả lời: Đó là một khả năng rất thực tế, sau khi phân tích, đánh giá chỗ mạnh và chỗ yếu của địch và ta.

Thứ nhất, địch mạnh hơn hẳn ta về hỏa lực phi pháo, nhưng đó chỉ là hỏa lực, bản thân nó không thể giải quyết được chiến trường mà phải hợp đồng với bộ binh làm việc này. Đối phó lại, ta có hệ thống công sự đảm bảo mức thiệt hại thấp nhất. Hồi đó ta vận động gia đình nào cũng có hầm tránh pháo và ở rìa làng ta đào công sự cá nhân dưới gốc tre, tuy chỉ bằng đất nhưng lại rất chắc, bom đạn địch thường chỉ nổ trên không, khi chạm vào thân cây tre.

Trong tác chiến, ta có thể vô hiệu hóa, hoặc chí ít cũng hạn chế tác dụng yểm trợ của phi pháo bằng nghệ thuật đánh gần, đánh giáp lá cà với bộ binh địch.


Thứ hai, địch đông quân hơn ta, thành phần tuyệt đại bộ phận là Âu Phi, ta có thể khắc phục chỗ mạnh này của địch bằng cách tổ chức trận địa phòng ngự chống càn, trên một khoảng không gian rộng cho phép kết hợp với mạng lưới dân quân, du kích bắn tỉa, đánh lạc hướng quân địch; mặt khác, dù chúng có đông quân cũng không thể ào ạt xung phong một lúc được, mà phải chia ra nhiều đợt xung phong; nếu ta dùng cách đánh bất ngờ, cận chiến, tiết kiệm đạn, tận dụng địa hình làng mạc thì có thể giữ vững được trận địa, dù cuộc chiến đấu có ác liệt tới đâu.


Thứ ba, ta mạnh hơn địch ở chỗ chúng không khắc phục được, đó là ta tác chiến trên địa bàn đã chuẩn bị sẵn, từ công sự ta sẽ tăng cường hiệu lực của hỏa lực và xung lực, còn địch tác chiến ở ngoài công sự, phơi mình ra giữa cánh đồng nên dễ trở thành mục tiêu cho ta tiêu diệt. Ta rất thông thạo địa hình mà địch lại xa lạ, mò mẫm. Tinh thần 2 bên thì khỏi phải nói, ta hơn hẳn địch, nhất là bộ đội Hưng Yên vừa mở mấy khu du kích đang trên đà phát triển. Tất nhiên lực lượng phi pháo và bộ binh địch hùng hậu có thể kéo dài ngày trong cuộc hành quân, còn ta nếu trụ lại tác chiến thời gian dài thì khó có thể thực hiện vì lực lượng có thể bị suy yếu dần, yếu tố bí mật, bất ngờ sẽ không còn. Nhưng trụ lại trong một ngày, đợi tối sẽ cơ động sang địa bàn khác là hoàn toàn có thể được. Do đó, lớp học đồng thanh nhất trí có thể và phải trụ lại chiến đấu ít nhất trong một ngày.


Câu hỏi 3: Cách tổ chức chiến đấu và thực hành chiến đấu như thế nào để vừa bảo toàn lực lượng, vừa tiêu diệt địch?

Trả lời: Trước hết, phải tổ chức trận địa thật vững chắc để giảm thương vong, giữ gìn sinh lực chiến đấu.

Bộ đội tới đâu, cán bộ đại đội phải xây dựng phương án đánh càn, đã có rồi thì phải xét duyệt lại, chiến sĩ nào cũng phải củng cố công sự cá nhân chiến đấu xong mới được đi ngủ, bố trí đội hình phải trải rộng ở thế chân kiêng, hoặc ít nhất ở hai thôn liên hoàn chiến đấu với nhau, trung đội nào ở thôn nào cũng phải kết hợp, vừa cơ động lực lượng đánh được địch từ mọi phía xung phong vào làng (sau này ta gọi là phòng ngự vòng tròn). Nếu địch đột nhập vào trong làng thì phải dựa vào nhà cửa, rào giậu, tổ chức thành những ổ đề kháng, kiên quyết đánh bật chúng ra khỏi làng. Địa hình làng mạc ở đồng bằng sông Hồng nói chung, ở Hưng Yên nói riêng rất đặc biệt, có lợi cho ta chiến đấu. Ta có thể dựa vào hào, lũy thiên nhiên quanh làng, kết hợp với ao, chuôm, ngõ ngách, rào, giậu trong làng thành một thế phòng ngự rất vững chắc với cái thế 1 người có thể chọi được trăm tên địch.


Để tránh phi pháo địch và đề phòng sự tấn công bất ngờ của địch, việc giữ bí mật lực lượng, trận địa được đặc biệt chú ý. Đại đội nào trú quân ở đâu không quá 3 ngày đêm. Công sự làm tới đâu, ngụy trang tới đó. Công tác cảnh giới, liên lạc tận dụng phối hợp với nữ du kích Hoàng Ngân hoặc bộ đội phải cải trang như dân trong làng.


Trong thực hành chiến đấu, tư tưởng chỉ đạo tác chiến là phải tích cực tạo điều kiện thuận lợi tấn công tiêu diệt một bộ phận quân địch, hạn chế tác dụng của phi pháo địch. Muốn vậy, cả lớp học phải quán triệt tư tưởng đánh gần (cận chiến) quân địch cách ta chỉ khoảng 50m trở lại, rồi thực hành "mãnh đả" - nghĩa là tập trung hỏa lực bắn mạnh, "mãnh xung" (xung phong mạnh), riêng "mãnh truy" chỉ thực hiện xuất kích ngắn, truy đuổi bọn địch không quá 100m, cũng để hạn chế phi pháo địch và giữ gìn sinh lực ta càng ít thương vong bao nhiêu càng tốt; xuất kích xong, nhanh chóng thu dọn chiến trường trở về trận địa, sẵn sàng đợi đánh đợt xung phong tiếp của địch.


Anh em đều xác định với nhau rằng, không thể để địch mới bắn vu vơ đã để chúng thu hút hỏa lực mình; hoặc địch còn ở xa đã vội nổ súng, không những không diệt được địch mấy mà còn rất nguy hiểm để bộc lộ lực lượng mình, làm mồi cho phi pháo.


Câu hỏi 4: Trụ lại chiến đấu trong thời gian bao lâu và hướng cơ động đi về đâu?

Trả lời: Yêu cầu trụ ít nhất phải một ngày, tới đêm tận dụng sự thông thạo địa hình của mình mà di chuyển sang chỗ khác. Hướng di chuyển cơ động phải luồn sang bên sườn hoặc sau lưng địch, tuyệt đối không lùi dần về phía sau, dễ bị phi pháo và sức ép của bộ binh địch.


Cuối cùng, các câu hỏi liên quan tới bảo đảm chiến đấu như quân báo, liên lạc, cấp dưỡng, chăm sóc cất giấu thương binh, anh em học viên rất dễ nhất trí và thành nếp trong hoạt động ở địch hậu rồi, nghĩa là phải dựa vào dân, nhất là phong trào nữ du kích Hoàng Ngân đang lên mạnh, chị em rất thích thú được góp phần phục vụ chiến đấu cùng bộ đội.


Lớp học kết thúc với không khí hân hoan, tự tin ở nơi mình, không những giải quyết được tư tưởng "sợ quân GM", ngại phi pháo mà còn được hướng dẫn bồi dưỡng tư tưởng chỉ đạo tác chiến, động tác chiến thuật khá cụ thể để đối phó với các cuộc hành quân lớn của địch và góp phần tiêu diệt địch, bảo toàn mình.


"Không sợ GM, không ngại phi pháo" - đó là mấy khẩu hiệu kết thúc lớp học, cùng với hành trang nhận thức vừa được bồi dưỡng, anh em đã sẵn sàng đón chờ thời cơ lập chiến công mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2021, 05:29:49 pm »

2. Diễn biến:

Trong cuốn "Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Hải Hưng” (từ trang 285 tới 296) và cuốn "Quân khu 3 - Những trận đánh trong kháng chiến chống Pháp” (từ trang 58 tới 68), tác giả - Đại úy Nguyễn Đức Chăm đã kể lại khá tỉ mỉ diễn biến trận đánh. Vì vậy, với tư cách là người chỉ huy trận đánh đó, tôi rất hoan nghênh các tác giả đã phác họa lại khá đầy đủ toàn cảnh diễn biến trận đánh lịch sử này, nhưng xin cho phép tôi chỉ nêu lên những chi tiết có tính bổ sung hoặc chỉnh lại một sự kiện mà tôi cho là chưa được chính xác, chứ không nhắc lại toàn bộ sự diễn biến.


Sau lớp học ngày 24 tháng 9, đội hình bố trí như sau:

- C20 bố trí tại hai thôn Tống Xá và Phan Xá, đại đội trưởng Nguyễn Tất Đảo chứ không phải Cao Thắng (đồng chí Đảo về sau làm Phó chỉ huy quân sự Hải Hưng, đã về hưu ở thị xã Hải Dương).

- C27 tại hai thôn Ngủ Lão và Thọ Lão, đại đội trưởng Nguyễn Năng Thịnh thay tên Doãn chỉ huy (tên Doãn đầu hàng giặc hồi tháng 7-1951).

- C24 bộ đội huyện Phù Cừ, tại thôn Viên Quang.

- C30 bộ đội huyện Ân Thi, tối 24-9 từ huyện Ân Thi cơ động xuống đóng tại thôn Vũ Xá, mới tới ngày 25-9 khi đã nổ súng mới biết.


Tỉnh đội đóng tại thôn Thọ Lão, tỉnh đội trưởng Võ An Đông, phó ban quân sự, đồng chí Căn, quê thôn Nghĩa Vũ (Phù Cừ) và một số liên lạc trinh sát. Đính chính trong cuốn lịch sử: đại đội 22 bố trí tại Long Cầu, Phú Mãn, chứ không phải đại đội 27.


Ngày nay, nhìn lại đội hình các đơn vị thì đây là đội hình bố trí của một tiểu đoàn tăng cường khá hoàn chỉnh, nhưng do phương tiện chỉ huy lúc đó còn nghèo nàn, không có vô tuyến, điện thoại mà chỉ liên lạc bằng chân, cho nên thực chất vẫn lấy đại đội là đơn vị tác chiến cơ bản.


Các đơn vị đều ở tư thế sẵn sàng chống càn và đợi lệnh của tỉnh đội lúc đó đang chuẩn bị kế hoạch tác chiến mở cơ sở tại khu bắc Kim Động và nam Khoái Châu.


Tối 24, dấu hiệu duy nhất phát hiện thấy ở phía đường 39 và đê sông Hồng từ thị xã Hưng Yên và La Tiến là có tiếng động cơ ầm ĩ, liên hồi không dứt. Chúng tôi ở Thọ Lão phán đoán chắc chắn đây là cuộc hành quân lớn, mà mục tiêu của chúng chỉ có thể ở phía bắc Phù Cừ và nam Thanh Miện mà thôi, nên chỉ kịp báo cho C20, C27 phải thiết thực chuẩn bị chống càn, duyệt lại kế hoạch chiến đấu, củng cố lại công sự, tăng cường cảnh giới, quan sát. Không quên nhắc lại là dù tình huống ác liệt tới đâu cũng phải chiến đấu trong ngày, không được phép tự ý bỏ trận địa. Về sau, sơ kết thấy thủ đoạn của tướng Đơlát cũng rất có tính toán, chúng muốn giành một thế bất ngờ, bôn tập bằng cơ giới từ xa tới, hòng bất thình lình tập kích bao vây cất vó quân ta, nhưng thực tế diễn biến, người bị hất ngờ đau đớn chính là quân Pháp chứ không phải "Việt Minh", đến nỗi ngày 26-9-1951, chính tướng Đơlát phải bay trực thăng tới Ninh Giang thẩm định lại tình hình và động viên quân lính.


Hồi 5 giờ sáng ngày 25-9 bắt đầu nổ súng đồng thời ở cả hai khu vực Phú Mãn, Long Châu và Phan Xá, Tống Xá, Ngũ Lão, chiến đấu giữ vững trận địa suốt ngày, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch, chặn đứng hẳn bước tấn công của chúng, gây thiệt hại cho chúng và buổi tối, các đơn vị đã chủ động di chuyến về sau lưng địch, bảo toàn lực lượng. Tóm lại, tất cả những điều thu hoạch được trong buổi học tập quân sự mấy ngày trước được đem ra ứng dụng trong trận đánh đã được hoàn toàn chứng minh trong thực tế. Thử hỏi còn gì vui thích hơn khi mà bằng nỗ lực chủ quan, thiết kế một trận đánh, một công trình, lại được diễn biến khách quan đã kiểm nghiệm, đem lại thắng lợi giòn giã.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2021, 05:30:19 pm »

Xin bổ sung thêm chi tiết :

Anh Nghĩa - trung đội trưởng của C20 (trước đó là cán bộ quân sự của huyện Văn Giang mới được bổ sung về và sau này hy sinh do trúng bom ở Ân Thi hồi tháng 4-1953), kể lại: Hồi 5 giờ sáng, mấy trăm tên địch từ đường Đình Cao - Cao Xá rẽ xuống theo đường làng Tống Xá. Tới khoảng 300m, chúng dừng lại, cho 3 tên lặng lẽ vào sát cổng thăm dò trước.


Trung đội tôi bố trí tập trung hỏa lực từ hai bên cống vẫn bí mật im lặng. Ba tên địch thấy không có gì, quay ra vẫy gọi bọn địch năm chờ ở ngoài tiến vào. Thế là chúng hoàn toàn không phát hiện được quân ta ở trong làng. Chúng đi về phía làng với tư thế hành quân, ba lô trên lưng, súng trên vai. Đợi chúng vào sát ta cách 10 - 15m, toàn bộ hỏa lực của trung đội tôi và trung đội bạn gồm 4 trung liên, 6 tiểu liên và mấy chục súng trường bắn thẳng vào đội hình tập trung của địch. Hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp triển khai chiến đấu, bọn chúng kẻ thì bỏ chạy, đứa thì nằm sát đất tránh đạn. Lập tức, trung đội tôi xông ra bắt sống được 25 tên Âu Phi, vài chục tên ngụy và phu, mấy chục khẩu súng, trong đó có một khẩu Bazoka (lúc đó không biết anh em báo cáo tại trận về Tỉnh đội là nòng khẩu DKZ); đồng thời trung đội anh Diệp bố trí ở Phan Xá cùng xuất kích, xung phong tiêu diệt địch. Rất tiếc, khi trở về đội hình, anh Diệp bị hy sinh.


Sau đó, địch tổ chức mấy đợt xung phong, dùng phi pháo bắn yểm trợ, bộ binh lò dò tiến quân, vừa gặp vài loạt đạn của quân ta đã vội vàng lùi ra xa, gọi phi pháo bắn vào làng. Duy chỉ có đơn vị huyện Ân Thi do chưa được bồi dưỡng cách đánh, không chịu được hỏa lực phi pháo và sức ép bộ binh địch, vẫn giữ cách đánh cũ, đã tự ý rút lui về phía sau; còn lại toàn bộ đại đội 20 ở Phan Xá, Tống Xá vẫn trụ lại trận địa, mặc cho phi pháo và các đợt xung phong, anh em vẫn ngoan cường chiến đấu, tới tối mới chủ động di chuyến theo lệnh.


Địch ở vị trí Nhật Lệ tiến đánh, hy vọng chiếm thôn Ngũ Lão, Thọ Lão, bao vây quân ta từ phía sau ở Phan Xá, Tống Xá, nhưng vừa chạm súng với C27 đã vội rút về gọi phi pháo bắn phá, thành ra C27 và Tỉnh đội đã suốt ngày cùng chịu ê ẩm về đạn, bom, nhưng do công sự được vững chắc nên không bị thương vong gì đáng kể.


Suốt ngày, Tỉnh đội giữ liên lạc chặt chẽ với C20 và C27, còn C22 ở Long Cầu, Phú Mãn coi như độc lập chiến đấu theo phương hướng tư tưởng chỉ đạo từ trước. Mặt trận phía Long Cầu, Phú Mãn cũng diễn ra rất ác liệt, không kém gì phía Phan Xá, Tống Xá. Chính đài phát thanh, báo chí công khai của địch khi diễn tả diễn biến gay go của trận càn cũng phải nhắc tới địa danh hai khu vực trên.


Đại đội 22 là đại đội mạnh, có thêm một trung đội trợ chiến bố trí một trung đội ở Phú Mãn, một trung đội ở Trà Bồ, hai trung đội (có trung đội trợ chiến ở thôn Long Cầu cùng với ban chỉ huy đại đội, gồm đại đội trưởng Trần Trí Dũng, đại đội phó Mai Dương).


Bọn địch đi cơ giới chuyển về chợ Thi, từ đó hành quân bộ, ý định qua Phú Mãn, Trà Bồ rồi tiến tới cầu Tràng hợp điểm với cánh quân ở Đình Cao qua Phan Xá, Tống Xá sang. Trung đội ở Phú Mãn chạm súng đầu tiên với địch, lại được, hỏa lực trợ chiến ở Long Cầu yểm trợ bắn tập hậu vào đội hình địch, buộc chúng phải chia một mũi sang đánh chiếm Long Cầu nhưng bị chặn đánh quyết liệt hơn. Cứ như thế, đại đội 22 cầm cự với địch suốt ngày, chịu đựng phi pháo và sức ép nhiều đợt xung phong của địch. Kết cục, địch bị thiệt hại rất nặng, mũi tấn công bị chặn đứng ở đó không tới được mục tiêu, ta vẫn giữ vững được trận địa và đợi trời tối, đại đội cũng không lùi về phía sau, mà chủ động vượt khỏi vòng vây chiến dịch của địch luồn về phía sau địch, bảo toàn duy trì được sức chiến đấu. Có một tình huống xảy ra do đồng chí Mai Dương lúc đó là đại đội phó (sau này là phó phòng quân huấn QK3, về hưu, từ trần năm 1985 ở Hải Phòng) kể lại, là trong khi đại đội ở thôn Long Cầu đang tập trung đối phó với địch ở phía tây từ chợ Thi tới, thì có khoảng một tiểu đội địch luồn theo con sông nhỏ phía đông, đột nhập vào trong thôn. Phát hiện thấy tình hình, đại đội điều ngay một tiểu đội tăng cường hỏa lực do đồng chí Dương trực tiếp chỉ huy đánh bật bọn này ra khỏi làng, bắt một tù binh, thu một trung liên.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM