Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:05:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phong trào Nam tiến 1945-1946  (Đọc 13714 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:40:36 pm »

BỘ ĐỘI NAM TIẾN TẠI KHU 9


NGUYỄN BÁ


Đầu tháng 11 năm 1945, tại chiến khu Thuận Lợi (thuộc tỉnh Sông Bé ngày nay), một đơn vị Nam tiến gồm 100 cán bộ, chiến sĩ đa số người quê ở Quảng Ngãi, Nghĩa Bình do tôi chỉ huy, mang tên trung đội Đỗ Trữ, có nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Vũ Đức xuống miền Tây Nam Bộ làm khu trưởng Khu 9, sau đó ở lại tăng cường lực lượng cho Khu 9. Lúc bấy giờ đồng chí Vũ Đức là Chính trị ủy viên bộ đội Nam tiến toàn Nam Bộ, đặt chỉ huy sở ở đồn điền cao su Thuận Lợi. Đến Long Thành (Bà Rịa), chúng tôi theo sông qua Tuy Hạ, Cần Giờ, Lý Nhơn, vượt sông qua Gò Công, qua Bến Tre (đi vào cửa Bình Đại). Ở Bến Tre ít hôm, đồng chí Cái, Chủ tịch tỉnh yêu cầu chúng tôi ở lại chiến đấu ở Bến Tre. Chúng tôi nói, có lệnh Trung ương phải về Khu 9 gấp. Chúng tôi đi qua Vĩnh Long, Trà Vinh, gặp quân ta đang chặn địch ở mặt trận Cầu Ngang. Các đồng chí chỉ huy quân sự ở đây như Thiệt, Hưng, Hai Thi... đề nghị chúng tôi ở lại chiến đấu. Chúng tôi dàn quân mai phục một ngày đêm, sau đó phải gấp rút thu quân, tiếp tục cuộc hành trình về Khu 9. Vượt sông Hậu ở quãng Cầu Kè, tấp lên xã An Lạc Tây (huyện Kế Sách), ở nhờ trại cưa của ông chủ trại Trần Quang Thai. Tại đây, chúng tôi liên lạc với đồng chí Dương Kỳ Hiệp, Chủ tịch tỉnh Sóc Trăng, và qua đồng chí liên lạc với đồng chí Thanh Sơn (Nguyễn Văn Tây), thanh tra chính trị miền Tây và lãnh đạo công tác đảng của liên tỉnh Hậu Giang. Các đồng chí đưa đơn vị chúng tôi về tạm đóng quân tại Thiên Hương (Ba Rinh), Bố Thảo. Lúc này mặt trận Vĩnh Long, Trà Vinh đã bị vỡ, các đơn vị của ta ở đó rút xuống Sóc Trăng, gặp nhau tại Ba Rinh và cùng kéo về hướng Phước Long (nay là huyện Hồng Dân, tỉnh Minh Hải).


Đơn vị chúng tôi được cử đi liên lạc với đồng chí Phan Trọng Tuệ ở miệt Trà Bang (Long Mỹ) ngày 15 tháng 12 năm 1945. Lúc này địch vừa đánh vào Long Mỹ bằng đường sông và đường bộ. Đồng chí Phan Trọng Tuệ lệnh cho đơn vị chúng tôi triển khai chiến đấu ở mặt trận Long Mỹ. Khi được lệnh rút Long Mỹ, chúng tôi vẫn phải cố gắng bảo vệ khẩu 37 ly bị gãy chân và hết đạn. Mặt trận Ngã Năm đang được 1 trung đội của đồng chí Lê Văn Phát trấn giữ. Ở chỗ địa hình trống trải, các con sông tàu lớn vào được mà ta không có súng gì khống chế được nên chúng tôi bố trí một lực lượng nhỏ ở lại, cầm chân địch và triển khai làm tiêu hao chúng. Đại bộ phận rút về Cái Trầu, Mỹ Phước. Sau về tạm đóng quân tại thị trấn Phước Long. Đồng chí Vũ Đức đã chọn nơi đây làm chỗ ở lâm thời cho chỉ huy sở. Lúc này đúng vào dịp Tết nguyên đán năm Bính Tuất, khoảng tháng 2 dương lịch năm 1946. Để bảo vệ có hiệu lực cho "Tổng hành dinh lâm thời" của Khu 9 tại Phước Long, chúng tôi chọn điểm phòng ngự tại ngã tư Phó Sinh (Vĩnh Phú), chặn địch từ phía Ngã Năm vào bằng đường bộ và đường thủy. Cùng chiến đấu bên cạnh chúng tôi có một số đơn vị của Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá và bộ đội Việt kiều ở Cam-pu-chia (gọi là bộ đội Thoại Sơn) do các đồng chí Nguyễn Văn Lầu, Tăng Thiên Kim, Nguyễn Tái Giám, Đoàn Thành chỉ huy. Chúng tôi triển khai lực lượng chiến đấu từ ngày 15 tháng 12 năm 1946. Các lực lượng phối thuộc cử ra một ban chỉ huy do tôi làm chỉ huy trưởng, anh Nguyễn Văn Lầu và anh Lê Văn Phát làm chỉ huy phó. Với công sự gỗ, đất không có gì gọi là kiên cố, chúng tôi lợi dụng hai con lộ ở hai bờ sông để đào hầm đắp ụ chiến đấu, dưới sông đắp cản để ngăn tàu địch. Nhiệm vụ được đồng chí Vũ Đức giao phó là phải kiên quyết chiến đấu giữ được từ 10 ngày đến 1 tháng để quân và dân ta ở phía sau cũng như văn phòng Khu trưởng kịp chấn chỉnh và di chuyển về an toàn khu ở Cà Mau. Vừa chiến đấu ở chính diện, vừa theo dõi địch ở Bạc Liêu đánh lên, vừa tổ chức một số trận bí mật đánh tập hậu ra sau lưng địch, các đơn vị diệt nhiều tên, thu hàng chục súng trường, làm địch rất hoang mang. Lợi dụng tình hình có Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3, chúng tôi củng cố công sự, bổ sung quân số. Nhưng địch không hề thi hành hiệp định, chúng dùng máy bay bắn phá suốt ngày vào trận địa ta. Láo xược hơn, chúng rải truyền đơn và gọi loa kêu bộ đội Nam tiến bỏ súng đầu hàng, chúng sẽ cho về quê an toàn. Càng căm thù giặc và trước thái độ láo xược của chúng, anh em bảo nhau càng đánh mãnh liệt, bắn bị thương một số máy bay. Tối ngày 13 tháng 3 năm 1946, được lệnh đồng chí Vũ Đức, lực lượng phòng thủ ngã tư Phó Sinh rút về Phước Long, cùng văn phòng Khu đi về phía Bờ Đập và Cái Răng (thuộc Cà Mau). Một lực lượng được chọn ra tăng cường cho mặt trận Tân Hưng đang chặn địch, bảo đảm cho Cái Răng được an toàn. Mặt trận này cũng là chốt phòng ngự cuối cùng của Khu 9 do đồng chí Tăng Thiên Kim chỉ huy. Ở Cái Răng, đồng chí Vũ Đức cử một số cán bộ, trong đó có tôi (Nguyễn Bá), Nguyễn Phú Cường, Lê Thám, Nguyễn Văn Thi (cán bộ chỉ huy quân sự Trà Vinh) luồn trở lại vùng Gia Rai, Phước Long, Sóc Trăng để nghe ngóng tình hình địch và bọn hội tề, bọn Việt gian. Chúng tôi chỉ đem theo một lực lượng nhỏ, khoảng một tiểu đội để vừa tuyên truyền xung phong, vừa bảo vệ đoàn cán bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Lục (người Bình Định) chỉ huy tiểu đội này hy sinh tại điền Quách Ngọc Đống ở Phước Long trong trận đánh địch bao vây, chiều một ngày tháng 4 năm 1946.


Đại bộ phận lực lượng Nam tiến và một số đơn vị vũ trang các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ tạm đưa lực lượng vào rừng U Minh (Cà Mau) để củng cố lực lượng, khi có thể sẽ bung trở về địa phương chiến đấu. Trận đánh nổi bật nhất là trận phục kích của bộ đội Quốc gia tự vệ cuộc Sóc Trăng do đồng chí Nguyễn Hùng Phước chỉ huy, tiêu diệt 1 xe địch ở Trà Bang (Long Mỹ), thu hết vũ khí. Các đơn vị của Vĩnh Long, Trà Vinh do các đồng chí Phạm Ngọc Hưng, Nguyễn Văn Thi... chỉ huy; đơn vị Sóc Trăng do đồng chí Ngụyễn Văn Thơm, Lưu Khánh Đức... chỉ huy ; các đơn vị Cần Thơ do các đồng chí Trần Văn Hoài, Ngô Hồng Giỏi chỉ huy, lần lượt bung về địa phương của mình để chiến đấu. Tin thắng lợi dồn dập bay về chỉ huy sở của đồng chí Vũ Đức đóng ở rạch Ô, sông Cái Tàu (Cà Mau). Lực lượng Nam tiến vừa làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ địa Khu 9 ở ba xã Khánh An, Khánh Bình, Khánh Lâm (Cà Mau), vừa tìm địch đánh lấy súng đạn bổ sung cho mình. Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân sự địa phương của Rạch Giá. Đồng chí Nguyễn Hữu Phước, ủy viên quân sự tỉnh nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thông tin về tình hình địch, ta, cúng như về mặt hậu cần, tạo điều kiện cho đơn vị chúng tôi đánh nhiều trận quy mô ở Tân Bàng, Cán Gáo, rạch Cái Sắn, chợ Huyện Sử... làm cho địch hoang mang, phải co về phòng ngự bị động trong các công sự.


Từ khi có "Tạm ước 14-9-1946", từ căn chòi chỉ huy sở bên con rạch Ô, đồng chí Vũ Đức cho gọi tôi, đồng chí Nguyễn Gia Long và Phạm Hồng Thám. Đồng chí nói, đã có lệnh điều động về nhận nhiệm vụ ở Trung ương. Đồng chí yêu cầu tôi cho 1 tiểu đội bảo vệ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, khi gặp các đồng chí Phạm Ngọc Hưng và Nguyễn Văn Thi, tiểu đội này sẽ quay trở lại. Đại bộ phận đơn vị Nam tiến chúng tôi ở lại bên bờ hữu ngạn sông Hậu thuộc huyện Kế Sách (Sóc Trăng) làm nhiệm vụ tuyên truyền xung phong ở cù lao Dung (các xã An Thạnh Nhì, An Thạnh Nhất), vùng xã An Lạc Tây, xã Nhơn Mỹ (Kế Sách). Khi tiểu đội bảo vệ đồng chí Vũ Đức (do đồng chí Nguyễn Biểu chỉ huy) trở về, chúng tôi hành quân về hoạt động ở vùng Thốt Nốt và Long Xuyên theo lệnh của Khu trưởng mới Huỳnh Phán Hộ. Từ đó, trung đội chúng tôi được gọi là trung đội 22, thuộc đại đội 66, chứ không gọi là bộ đội Nam tiến nữa. Như vậy không thể nói bộ đội Nam tiến theo đồng chí Vũ Đức xuyên đông (tôi còn giữ quyết định điều động và đặt tên mới cho đơn vị Nam tiến do đồng chí Huỳnh Phán Hộ ký).


Sau khi đánh chìm 1 ca nô địch trên sông Cờ Đỏ tại Vàm Nhơn (tháng 12 năm 1947), Bộ tư lệnh khu điều động trung đội 22, tức bộ đội Nam tiến lên Châu Đốc. Tôi được cử, làm chỉ huy trưởng quân sự tỉnh, kiêm đại đội trưởng đại đội 65. Sau khi được bổ sung một số đơn vị địa phương, 2 đại đội 1081, 1083 của Long Châu Tiền được thành lập (một thời gian sau được điều cho trung đoàn 115 Khu 8 ). Cuối tháng 10 năm 1948, tôi được điều về chỉ huy trung đoàn 127.


Như vậy, ngay từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đã sớm cử các đơn vị Nam tiến vào chi viện cho Nam Bộ, với tinh thần "Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam...". Chúng tôi được đặt tên là bộ đội Nam tiến thứ nhất, vì chúng tôi là đơn vị đi đầu tiên (tháng 10 năm 1945), với quân số 100 người. Đơn vị đã chiến đấu liên tục trên các mặt trận ở Nam Bộ, lâu nhất là Khu 9, đã đóng góp xương máu 99 người, duy nhất tôi còn sống đến nay...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:43:16 pm »

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CHIẾN ĐẤU CỦA
CAO MIÊN VIỆT KIỂU CỨU QUỐC QUÂN
(1945-1946)


TĂNG THIÊN KIM
(Nguyên chỉ huy trưởng trung đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, phân khu trưởng khu Cà Mau, chỉ huy trưởng mặt trân Tân Hưng năm 1945-1946)


Ba nước Việt-Miên-Lào nằm trên bán đảo Đông - Dương, trước năm 1945 đều là thuộc địa của thực dân Pháp. Biên giới ba nước liền nhau. Bà con hai bên biên giới qua lại khá dễ dàng. Sự gắn bó nhiều đời, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn trở thành truyền thống tốt đẹp của ba dân tộc.


Đường lên Nam Vang không khó khăn gì nên Việt kiều khá đông. Một số viên chức Việt Nam do Pháp đào tạo, được chính quyền thực dân đưa lên phục vụ cho chúng. Một số đi tìm kế sinh nhai, buôn bán, làm nhiều nghề khác nhau.


Đa số Việt kiều nghèo, nhưng cũng có một số giàu có. Tinh thần yêu nước thương nhớ quê hương không bao giờ dứt. Trước năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, hoạt động chống Pháp của các đảng viên cộng sản phát triển hơn, song nhìn chung ở thủ đô Nam Vang phong trào vẫn yếu so với các tỉnh ở sát Việt Nam như Soài Riêng, Preyveng, Công Pông Chàm, Krâtié.


Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), phong trào cách mạng nổi lên khá mạnh. Cùng thời gian ở Việt Nam Nhật lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thì ở Cao Miên, Nhật đưa Sơn Ngọc Thành lên làm thủ tướng, thân Nhật nhưng không chống Pháp. Bộ máy cai trị cũ vẫn được giữ nguyên, bọn tay sai: cò, biện, ma tà, mật thám, mã ky vẫn được sử dụng. Quân Nhật tự do hoành hành, viên chức nhà nước làm việc cầm chửng.


Lợi dụng tình hình này, các cơ sở Việt kiều yêu nước ở thủ đô Nam Vang sôi nổi hưởng ứng lời kêu gọi kháng Nhật cứu nước của Mặt trận Việt Minh. Một số cơ sở Việt kiều như: Hội Việt kiều yêu nước, một số nhân sĩ trí thức có tâm huyết đã bắt đầu hoạt động. Đầu năm 1945, tôi là đoàn viên thanh niên cứu quốc thuộc nhóm Việt Minh hoạt động ở khu vực chợ Bến Thành, làm thợ đóng giày cho hãng Charner. Nhật đảo chính Pháp. Binh lính, Pháp kiều, đầm Tây đều bị bắt. Hãng đóng cửa, tôi thất nghiệp đành phải báo cáo với tổ xin lên Nam Vang kiếm việc làm, được anh Đông Hải chủ tiệm giày Auchic ở đường Quai Piquet nhận (thời kỳ chống Mỹ nhà anh là cơ sở của Xứ ủy Nam Bộ). Nhiều cơ sở Việt kiều ở Nam Vang với các hình thức hợp pháp hoạt động mạnh. Các tổ chức vận động cứu đói cho đồng bào miền Bắc khá rầm rộ. Việc vận động quyên góp tiền bạc mua súng đạn, quân dụng, thuốc men bí mật gửi về nước được Việt kiều hưởng ứng tích cực.


Tháng 7 và 8 năm 1945, tin tức hoạt động vũ trang khởi nghĩa của Việt Minh đưa về dồn dập, làm cho phong trào của Việt kiều ngày càng trở nên sôi động. Đã có ý kiến thành lập các đội cảm tử trang bị súng ngắn và dao găm, nhưng một số chúng tôi không đồng ý vì làm như thế dễ lâm vào thế bất hợp pháp, dễ bị mật thám Nhật chú ý, ảnh hưởng đến phong trào hoạt động giúp nước của Việt kiều.


Ngày 15 tháng 8, quân Nhật đầu hàng, Việt kiều, Hoa kiều, một số bà con người Miên ghét Nhật hết sức vui mừng. Phong trào Việt kiều yêu nước hoạt động công khai. Tin cướp chính quyền thành công ở Hà Nội, ở Sài Gòn dồn dập dội về Nam Vang. Việt kiều cùng một số người Miên và Hoa kiều đi lùng bắt bọn cảnh sát ác ôn Pháp, bắt tên cò mặt đỏ (cò Bá-tóc). Chính quyền Sơn Ngọc Thành làm ngơ, quân lính Nhật không ra khỏi trại, nhậu nhẹt say sưa đứa cười, đứa khóc, đứa quay đầu về nước Nhật dùng súng, kiếm tự tử. Cũng trong thời điểm ấy tin về Hoa quân nhập Việt, quân Anh - Ân vào tiếp quản phía Nam, hàng ngàn Pháp kiều và binh lính Pháp được quân Anh thả ra... được bàn tán sôi nổi. Báo chí đưa tin cụ Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trong ngày 2 tháng 9 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Việt kiều rất tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đăng trong các báo từ Sài Gòn gửi lên.


Hoạt động của kiều bào ngày càng mạnh mẽ, sôi động. Có tin bọn phản động Hòa hảo nổi dậy chống Việt Minh, binh lính Pháp ở Sài Gòn được quân Anh - Ấn bao che ngang ngược tung hoành, chúng đã bắn vào cuộc mít tinh lớn nhấn ngày 2 tháng 9 tại Sài Gòn, làm thương vong trên 50 người. Dã tâm cướp lại nước ta một lần nửa của thực dân Pháp đã bộc lộ rõ rệt. Việt kiều rất phẫn nộ. Cùng với phong trào vận động tiền bạc, mua sắm súng đạn trước đây, nay thêm việc vận động Việt kiều tổ chức lực lượng về nước chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Đầu tháng 9 năm 1945 đã có từng tốp 10, 15, 25 anh em thanh niên và trung niên do Hội Việt kiều yêu nước và một số cơ sở độc lập vận động xuống tàu về nước, ở Châu Đốc, Long Xuyên đã có những trận đánh tàu Nhật yểm trợ cho tàu quân Pháp dự kiến đổ bộ lên chiếm lại thị trấn Tân Châu. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, chúng tôi tập hợp 12 anh em thanh niên là thợ giày, tài xế, học sinh xuống tàu về nước. Đến trạm Ba Nam bị lính Miên bắt giữ giải lên gặp quận trưởng Miên. Chúng tra hỏi bằng tiếng Pháp. Trong đoàn có đồng chí Thân là thợ giày (nay là đại úy, nghỉ hưu tại Cần Thơ) biết tiếng Pháp khá, nói rõ: Nước chúng tôi đã được độc lập, chúng tôi về nước để bảo vệ nước mà thôi. Tranh cãi một hồi, được cả vợ tên quận trưởng là người Việt ủng hộ, chúng phải thả chúng tôi. Tàu tiếp tục hành trình về Châu Đốc.


Mờ sáng ngày 21 tháng 9, chúng tôi về đến biên giới Việt Nam (tại xã Vĩnh Xương, Thường Phước, huyện Tân Châu - Hồng Ngự). Trước mặt chúng tôi, các nhà hai bên bờ sông và các thuyền ghe dưới sông là một rừng cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên bầu trời xanh cao của Tổ quốc. Ai nấy tràn đầy xúc động, có anh em đã khóc nhưng không thành tiếng. Tàu cặp bến thị xã Châu Đốc. Trên bờ, dưới tàu vẫy cờ vẫy tay mừng nhau khôn xiết, ngoài đoàn chúng tôi còn có những bà con Việt kiều đi cùng lên. Chúng tôi được cán bộ của Ủy ban kháng chiến đưa về ở tại nhà Cercle (câu lạc bộ thể thao) xây cạnh sân đá bóng Châu Đốc. Tại đây chúng tôi đã thấy trên 100 anh em Việt kiều về từ mấy chuyến trước, mỗi người được cấp một chiếu cá nhân trải ngủ trên nền nhà lát gạch, hàng bữa được cấp bánh mì, chưa có chăn màn, nhưng rất vui. Qua làm quen, tìm hiểu, được biết anh em ở rất nhiều nơi xa về, xa nhất là Biển Hồ, Cần Ché giáp Hạ Lào, có nhiều lớp tuổi, nhiều ngành nghề, thầy có, thợ có, học sinh, khố xanh, khố đỏ có, nhưng nhiều nhất vẫn là anh em lao động. Lúc này bọn phản động Hòa hảo đã được dẹp yên.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:43:55 pm »

Sáng ngày 24 tháng 9, gần 2.000 anh em tập hợp tại sân bóng Châu Đốc. Từng đoàn hàng ngủ chỉnh tề, các cán bộ của tỉnh tuyên bố lý do tuyển quân tình nguyện, cách tuyển là mỗi anh em phải để một cục than hồng trên bàn tay, hoặc chặt một đốt tay út ở bàn tay trái, nếu chịu được thì cho nhập ngũ. Nhiều anh em xì xào cười nhưng đa số đều giơ tay đồng ý.


Đó là chuyện nói dọa để thử thách anh em chứ làm gì có thật. Sau đó các đồng chí cán bộ gọi tên, phân ra từng tiểu đội 12 người, trung đội có 4 tiểu đội, các đoàn được ở chung với nhau, đoàn tôi có 12 anh em được tổ chức thành 1 tiểu đội. Mỗi tiểu đội được trang bị 1 súng Mousqueton Pháp, 2 súng lửa 1 nòng, còn lại là mã tấu, dao găm, phi tiêu, ná nỏ. Ban chỉ huy trung đội 3 người (1 trưởng, 1 chính trị viên và 1 phó) được trang bị 1 súng ngắn. Mỗi anh em được cấp một cái nóp bàn thay chiếu, mùng mền. Mỗi tiểu đội được cấp 2 cái xoong để nấu ăn, do tiểu đội phó đảm nhận, quần áo thì ai có gì mặc nấy. Riêng mũ mỗi người được cấp một mũ ca lô có gắn 1 phù hiệu nền đỏ sao vàng hình vuông may bằng vải.


Sau khi ổn định tổ chức, trung đội của chúng tôi chấp hành lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây và Ủy ban kháng chiến tỉnh Châu Đốc hành quân đến thị trấn Tịnh Biên sát biên giới Việt - Miên. Tỉnh Tà Keo trên Miên có dãy núi Som, dưới Việt Nam có bảy ngọn núi, sát thị trấn có núi đất và núi Phù Cường dân cư đông đúc, sinh sống bằng nghề nông. Đến thị trấn Tịnh Biên, anh em gửi đồ đạc va li ở xóm Xuân Tô. Sau khi đi khảo sát thực địa và trao đổi kế hoạch phòng thủ với Ủy ban kháng chiến của thị trấn, tiểu đội 1 được điều ra trấn giữ bến đò (phà) Tịnh Biên đi tỉnh Tà Keo, sẵn sàng đánh địch từ Tà Keo xuống và địch đi tàu từ Hà Tiên ra. Ban chỉ huy trung đội và các tiểu đội 2, 3, 4 đóng tại đình, cạnh sân đá bóng của Tịnh Biên. Chúng tôi đã cùng anh em dân quân phá lộ, xây đắp phòng tuyến dọc theo bờ kênh Vĩnh Tế để phòng ngự, ngoài 1 súng trường Mousqueton của Pháp, 2 súng lửa 1 nòng, một số cung nỏ phi tiêu, tiểu đội tôi còn được Ủy ban kháng chiến tỉnh giao cho sử dụng 2 khẩu đại bác thời Minh Mạng, bà con ta thường gọi là "ông ầm", nhưng không có đạn. Sau khi đắp ụ, ngụy trang đưa pháo vào trận địa (trên hai bánh xe bò) tôi nhồi thuốc và nhét các loại bù loong đinh ốc, thêm sồi, đá rồi cho phát hỏa thử, tiếng đại bác nổ rất to (đúng là "ông ầm") vang dội cả một vùng, nhưng đạn không đi quá 60 mét. Lúc này đã hết mủa mưa, anh em chúng tôi che lán ở tạm tại bến phà, ngủ đêm bằng nóp, có đêm rắn nước chui cả vào nóp. Ăn uống khá đầy đủ vì ở đây rất có nhiều cá, đêm canh gác tuần tra, ngày luyện tập chủ yếu là tập thể dục và đi đều, học theo sách dạy đánh du kích của Bác Hồ, binh pháp của Tôn Tử, ngắm bắn súng trường, ná nỏ, ném phi tiêu, chương trình chính trị của mặt trận Việt Minh. Cuộc sống so với lúc ở Nam Vang thì quá vất vả, nhưng rất vui vì được nhân dân ở thị trấn chăm sóc, thăm hỏi chu đáo, hàng ngày lại có một số chị em thanh niên học sinh đeo chữ thập đỏ đến thăm bệnh và úy lạo. Vậy mà cũng có một vài anh em chịu gian khổ không nổi bỏ trốn về Nam Vang trong đó có cả tiểu đội trưởng, vì thế tôi phải kiêm luôn cả chức tiểu đội trưởng.


Giữa tháng 10 năm 1945, năm xe tăng Nhật từ thị xã Tà Keo chạy xuống gò Tà Lập, đến đoạn lộ bị chúng tôi phá, phải dừng lại (bà con ở đó hay gọi là lộ đứt). Chúng cử tên quan ba xuống gặp Ủy ban kháng chiến để mượn đường về thị xã Châu Đốc. Biết rõ âm mưu của chúng là mở đường cho quân Pháp bám theo sau, Ủy ban kháng chiến không đồng ý, ra lệnh bắt giữ. Tên này hoảng sợ, van lạy xin thả và thề sẽ đưa đoàn xe tăng quay lại Tà Keo. Sau một lúc trao đổi, đại diện Ủy ban kháng chiến thị xã tước cây kiếm rồi cho nó trở lại đoàn xe. Trên đường chúng rút đi, chúng tôi để ý bọn chúng rất chú ý 2 ụ súng đại bác "ông ầm" ló họng ra ngoài.


Sau đó, chúng tôi cử hai chiến sĩ rành tiếng Miên lên gặp dân ở gò Tà Lập hỏi, họ cũng cho biết là có 5 xe đi bằng dây (5 xe tăng), có cả lính Pháp nữa. Chúng hỏi tiếng súng ca nông (đại bác của ta) khi bắn thử, bà con lắc đầu lè lưỡi: súng to lắm, nó xí xô xí xào rồi lên xe chạy về Tà Keo.


Lúc này có tin báo là quân Pháp đã đánh chiếm thị xã Cần Thơ, tàu Nhật và Pháp liên tục chạy trên sông Tiền, đi ngang các thị trấn Tân Châu, Hồng Ngự, chúng bẳn lên bờ loạn xạ. Trung tuần tháng 11 lại có tin quân Nhật dùng tàu có cả lính Pháp đi theo, từ Hà Tiên qua Giang Thành ra thị trấn Tịnh Biên về Châu Đốc. Tiểu đội được lệnh hành quân vào Vĩnh Gia đón đánh địch. Tiểu đội đến Lạc Quới - Vĩnh Thông đã xế chiều, được đồng bào tiếp đón linh đình. Sau khi ăn cơm xong, chúng tôi kết hợp với hàng trăm dân quân, kẻ gậy người dao, cuốc, xẻng kéo nhau vào Vĩnh Lạc đào công sự hai bên kênh Vĩnh Tế. Anh em hỏi đánh tàu bằng gì, tôi giới thiệu khẩu Mousqueton có 3 gắp 9 viên đạn được chùi bóng loáng, đỏ au, anh em dân quân khoái cười. Để chặn tàu, chúng tôi trưng dụng hàng chục xà lan chở vôi của Hà Tiên còn nằm tại đây, dùng dây cáp buộc chặt vào 2 đầu các xà lan đậu ở hai bên bờ, để nếu tàu địch chạy ngang đụng dây cáp sẽ kẹp chặt lấy tàu. Các tổ dân quân đã được phân công nấp sẵn ở dưới xà lan đục cho nước chảy vào, xà lan chìm, vôi gặp nước sôi lên, binh lính địch ở trên tàu không chịu nổi buộc phải nhảy xuống nước lội vào bờ, trên bờ dân quân và chúng tôi sẽ dùng súng, cung tên ná nỏ, phi tiêu bắn xuống, tên nào thoát được vào bờ thì sẽ dùng tầm vông vạt nhọn, dao, xẻng diệt chúng. Được 3 ngày không có địch, chúng tôi được lệnh rút về Tịnh Biên. Vì hành quân gấp nên không thể lên Núi Tượng - Ba Chúc theo yêu cầu của bà con, mặc dù tiệc tùng đã chuẩn bị sẵn và chờ đợi mấy ngày. Chủng tôi không quên nhờ Ủy ban kháng chiến xã giải thích và động viên các chủ xà lan ủng hộ đánh Pháp, về đến thị trấn, tôi lên báo cáo tình hình chấp hành nhiệm vụ với Ủy ban kháng chiến huyện, được biểu dương về tinh thần tích cực, tuy không có giặc nhưng anh em đã làm công tác dân vận rất tốt, nhân dân rất phấn khởi và tin tưởng vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:44:29 pm »

Lúc này giặc Pháp bung ra chiếm lại nhiều nơi. Chúng tôi họp bàn đề phòng mặt trận Tịnh Biên vỡ thì lui lại phòng ngự ở chợ Nhà Bàng. Ở đây hai bên có núi, đường đi độc đạo dễ phòng ngự và phục kích đánh địch. Để thực hiện được ý định này, chúng tôi đề nghị Ủy ban kháng chiến thị trấn và các xã xung quanh huy động dân quân cùng chúng tôi lập một mặt trận hỏa công bằng cách chặt cây lớn hai bên đường từ núi Cậu lên dốc Bô Dô và vận động nhân dân các xã Xuân Tô, Thới Sơn (trồng rất nhiều dừa) chặt lá dừa chất đầy hai bên vệ đường. Chúng tôi chế mìn bằng tĩnh nước mắm Phú Quốc, chuẩn bị một số chai xăng và dầu lửa, nếu mặt trận thị trấn bị vỡ thì rút về phục hai bên đoạn đường này, chờ khi đoàn xe của địch lọt vào trận địa sẽ đốt mìn, chặn xe, chế dầu phóng hỏa đốt xe địch. Đầu tháng 12, trận địa vừa làm xong thì đơn vị chúng tôi được lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây xuống tàu về núi Sập (huyện Thoại Sơn) dự lớp quân sự khổ luyện 15 ngày do sĩ quan Nhật huấn luyện. Núi Sập là nơi đẽo đá, đục đá làm các loại cối đá, bia đá, cột đá, nên dăm đá chỗ nào cũng có, qua 15 ngày lăn lê bò toài, khuỷu tay và đầu gối người nào cũng xây xát máu (đúng là khổ luyện). Khi về nước tòng quân anh em đều may quần áo cộc tay theo kiểu đồ lính Pháp. Tuy bị đau rát như vậy, nhưng không khí lúc nào củng vui vẻ. Sau giờ tập anh em lại ra thăm bà con, làm công tác dấn vận ở các xóm. Cuối tháng 12, khóa học kết thúc. Anh em phân công nhau tập luyện văn nghệ để làm lễ bế mạc và chào mừng ngày bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1946, khán đài, sân khấu được dựng lên sau nhà lồng chợ, phông làm bằng lá dừa, màn bằng các tấm đâp kết lại, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, khẩu hiệu được dán khắp nơi làm tưng bừng một khu chợ. Không khí nhộn nhịp, bà con đi chợ ai cũng ghé xem, miệng khen tay chỉ, đến tối ánh đèn măng-sông, khí đá, đèn tọa đăng sáng rực khắp nơi quanh chợ. Ngồi ở hàng đầu trên các bộ bàn ghế mượn của trường học là một số lãnh đạo địa phương, phía sau rất đông bà con đứng xem. Bắt đầu là lời tuyên bố của ban chỉ huy trung đội, kế tiếp, chủ tịch lâm thời huyện nói chuyện. Ông nói về âm mưu, hành động tội ác của giặc Pháp, tình hình ở Châu Đốc - Long Xuyên, lời kêu gọi của Bác Hồ, của Mặt trận Việt Minh kháng chiến cứu nước. Cuối cùng ông giải thích, động viên đồng bào tích cực đi bầu quốc hội vào sáng ngày mai. Bà con vỗ tay vang dội. Kế tiếp là hát, diễn kịch, đêm liên hoan kéo dài cho đến tận khuya; ra về ai cũng hồ hởi bàn tán về buổi liên hoan, tấm tắc khen.


Ngày 6 tháng 1, sau khi đi bỏ phiếu bầu cử quốc hội, chúng tôi được lệnh hành quân chiến đấu.

Sáng ngày 8 tháng 1, theo lệnh của Thanh tra chính trị miền Tây, trung đội 1 của đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân xuống ca nô, cùng đi có 4 tên Nhật.


Trên mủi ca nô đặt một khẩu ca nông 20 ly. Chạy qua Rạch Giá, về Sóc Trăng, đóng tại thị trấn Bố Thảo, ở trong dãy nhà trệt xưa của đồng bào đã tản cư. Ở đây chúng tôi cũng được Ủy ban kháng chiến thị trấn và các má, các chị thăm nom, chăm sóc rất chu đáo.


Trung tuần tháng 1 năm 1946, được trang bị thêm 4 súng trường Pháp, vài chục viên đạn cùng 5-6 trái lựu đạn đập của Nhật, đơn vị tôi nhận lệnh đánh đồn Nhu Gia.


Đồn Nhu Gia là một căn nhà xây theo kiểu xưa của địa chủ, được lính Pháp cải tạo thành đồn, nằm bên cạnh cầu Nhu Gia trên quốc lộ 4 (từ thị xã Sóc Trăng chạy xuống thị xã Bạc Liêu). Đồn thuộc địa phận tỉnh Sóc Trăng, do 1 tiểu đội lính Pháp cùng 2-3 tiểu đội lính người Việt và Miên đóng giữ. Chung quanh đồn chưa có rào kẽm gai. Đêm tấn công, trăng sáng lờ mờ, hành quân đến sát đồn thì trung đội dàn hàng ngang bắt đầu nổ súng. Súng ta nổ đì đạch, trong đồn giặc la ó bẳn và ném lựu đạn ra rất dữ, anh em ta tiến sát chân tường nhưng không có cách nào vào được trong đồn. Đánh nhau hơn 1 tiếng đồng hồ, quân ta có lệnh rút lui, mạnh ai nấy rút, lội qua các mương lạch sình lầy, mọc đầy ô rô, cóc kèn, mình mẩy xây xát, quần áo tả tơi, may gặp lúc nước ròng nên không có ai chết đuối. Về đến chợ Mỹ Tú còn được trên 20 anh em.


Sau trận đánh, ban chỉ huy trung đội đã bỏ trốn, một số anh em có ý định chôn súng trở về Nam Vang.

Tôi nghĩ đánh đấm theo kiểu này thì thất bại là đúng. Tôi cũng không biết ai là người chỉ huy mình nữa. Từng được Đảng bồi dưỡng giác ngộ cách mạng, rất căm thù giặc Pháp và bọn tổng lý, mã tà, nhớ mãi lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ngày 2 tháng 9: "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ", tôi thấy rõ trách nhiệm của mình, nên đã dựa vào số anh em tiểu đội 1 Nam Vang cùng về với tôi làm nòng cốt, giải thích mục đích, ý nghĩa cao cả của chiến đấu cứu nước, nêu rõ tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, nhất là những người lao động cùng khổ, phát động căm thù giặc, nhắc lại lời hứa với bà con Việt kiều ở Nam Vang trước khi xuống tàu về Tổ quốc đánh giặc, cứu nước...


Anh em đều nhất trí tiếp tục cầm súng đánh giặc, không khí trở nên sôi động, quyết tâm chiến đấu lại được nâng cao. Tôi trở thành người chỉ huy đơn vị. Còn trên 20 anh em, tôi chia thành 3 tiểu đội, phân tán anh em trong tiểu đội 1 ra làm nòng cốt và chỉ huy các tiểu đội. Những anh em này sau đều trở thành những cán bộ trung cao cấp trung kiên của Đảng, của quân đội.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:45:01 pm »

Tôi chỉ huy đơn vị hành quân về quận lỵ Phước Long, vì nghe ở đó có đông bộ đội. Trên đường về chợ Ngã Năm, nhà cửa hai bên bờ kênh đều hoang vắng, thỉnh thoảng gặp tốp 2-3 người mặc quần áo ngắn ka ki vàng, đầu đội mũ ca lô, vác súng trường đi dọc theo lộ, trông có vẻ uể oải, mệt nhọc. Hỏi ra mới biết là anh em Cộng hòa vệ binh thất trận ở các mặt trận phía trên, bị lạc, rút về vùng còn tự do dưới này. Qua giọng nói biết anh em là người ngoài Bắc, tôi giải thích, động viên anh em gia nhập đơn vị, tiếp tục chiến đấu. Anh nào cũng phấn khởi đi theo. Cứ như thế tôi thu gom gần 10 người bổ sung cho các tiểu đội đưa quân số tăng lên trên 30 người. Có thêm người thêm súng, tinh thần chiến đấu được nâng lên rõ rệt. Gần tối 25 tháng 1, khi về đến gần Ngã Năm, nghe có tiếng súng nổ. Hỏi ra mới biết giặc Pháp đã chiếm Ngã Năm, bộ đội Nam tiến đang bao vây tấn công chúng. Tôi nói rõ tình hình và động viên anh em tiến nhanh về Ngã Năm. Khoảng 8 giờ tối đến sát chợ, được biết bộ đội Nam tiến đang tấn công, bọn lính pạc-ti-giăng đóng bên chợ chưa có lực lượng nào đánh, tôi họp các tiểu đội trưởng phổ biến tình hình. Theo nhân dân cho biết, địch có độ 1 tiểu đội đóng trong nhà lồng chợ. Anh em đốc đánh, tôi tán thành, bàn kế hoạch đánh, phân tán một tiểu đội vào chiếm các căn cứ trong chợ, đề phòng chúng có ở trong đó, hai tiểu đội chia làm hai mũi lợi dụng tiếng súng nổ ở Đầu Voi bên kia bí mật áp sát, đồng loạt xung phong tiêu diệt địch. Khoảng 23 giờ, địch phát hiện la ó và bắn loạn xạ. Theo kế hoạch hợp đồng, anh em đồng loạt nổ súng xung phong, một số địch chết, một số chạy trốn ra các khu nhà xung quanh chợ. Đánh nhau độ 30 phút, ta bắn chết 7 tên. Trận đánh kết thúc. Anh em ta thu được 5 súng trường Pháp, bị thương nhẹ 2 đồng chí. Đến sáng thì thấy Đầu Voi bên kia, bộ đội Nam tiến cũng kết thúc trận đánh, diệt được một số lính Pháp, một số tên bỏ chạy về Ngã Bảy, ta không có đồng chí nào hy sinh. Chúng tôi phân công lùng sục quanh chợ, được nhân dân chỉ bắt thêm 3 tên Việt gian lẩn trốn. Chúng tôi giáo dục rồi thả tại chỗ. Lúc đó bộ đội Nam tiến đã tập họp ở bên chợ, hai đơn vị bộ đội gặp nhau rất vui mừng phấn khởi. Tôi gặp anh Nguyễn Bá, chỉ huy bộ đội Nam tiến. Anh cho biết Khu bộ trưởng Vũ Đức hiện đóng trụ sở tại quận lỵ phước Long. Gần 10 anh em dân quân xin đi theo bộ đôi các tiểu đội đề nghị cho thu nhận, quân số tăng lên trên 40, vũ khí tăng thêm 5 súng trường và một số dao găm mã tấu của anh em dân quân vừa gia nhập. Sau khi chấn chỉnh đội ngũ, sáng ngày 30 tháng 1 năm 1946, tôi cho đơn vị hành quân về quận lỵ Phước Long. Tối hôm đó đơn vị tạm trú trong mấy nhà dân đối diện với trụ sở của đồng chí Vũ Đức.


Ngày hôm sau, tôi sang gặp Khu bộ trưởng ở một nhà sàn cao sơn xanh, có mành che (dinh quận trưởng cũ). Đồng chí đón tiếp rất nhiệt tình, lắng nghe tôi báo cáo tình hình về đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, đặc biệt là trung đội 1 hiện do tôi phụ trách. Nghe xong đồng chí Vũ Đức rất phấn khởi, khen tôi và anh em là có tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu cao. Đồng chí cũng nói rõ âm mưu và thủ đoạn của giặc Pháp, một số kinh nghiệm xây dựng đơn vị cả về ba mặt tác chiến, giáo dục chính trị, tư tưởng và nuôi dưỡng bộ đội. Đồng chí Phan Trọng Tuệ, Chính trị bộ chủ nhiệm khu dặn thêm, phải biết dựa vào dân, bảo anh em làm công tác dân vận cho tốt. Sau đó đồng chí đưa cho tôi 20 tờ giấy bạc 500 đồng rồng xanh phát hành trong thời kỳ Nhật chiếm Đông Dương, để cần gì thì chi phí. Sau khi trao đổi với nhau một lúc, đồng chí Vũ Đức gọi tôi lại giao nhiệm vụ. Đồng chí nói, hiện nay giặc Pháp đang tập trung lực lượng đánh vào trụ sở khu ở Phước Long từ ba hướng. Hiện cánh chính diện đã có bộ đội Nam tiến trấn giữ, cánh Ngang Dừa có bộ đội Rạch Giá do anh Huỳnh Thủ chỉ huy, bộ đội Sóc Trăng do anh Lưu Khánh Đức phụ trách. Mặt trận Vĩnh Hưng mới chỉ có một số du kích xã trấn giữ. Để bảo đảm bên sườn của mặt trận Phước Long, đơn vị chúng tôi phải nhanh chóng ra đóng ở chợ Vĩnh Hưng. Đồng chí bảo thư ký (đồng chí Toàn Thẳng) đưa cho tôi 300 đồng bạc Đông Dương và một giấy lệnh xuất 100 viên đạn Mousqueton Pháp. Hai đồng chí không quên dặn tôi chuyển lời thăm hỏi anh em. Tôi ra về, lòng tràn đầy phấn khởi, vì từ nay (đầu tháng 2 năm 1946), đơn vị đã có Quân khu chỉ huy, có người lãnh đạo để tiếp tục chiến đấu.


Vừa bước lên bờ, anh em đã ùa ra hỏi han rối rít. Tôi nói: Hãy khoan, vô nhà cái đã. Lúc này đã gần đến bửa cơm trưa, song không thể để ăn cơm xong mới nói được, tôi nói liên lạc viên gọi tất cả anh em về tập hợp ở trường học bỏ không ở gần đó. Tôi kể lại tất cả nội dung vừa đi gặp hai đồng chí Vũ Đức và Phan Trọng Tuệ. Anh em hết sức phấn khởi, bàn tán xôn xao về việc lại sắp được ra trận.


Đến chiều đồng chí Vũ Đức cho liên lạc mời tôi sang gặp. Đồng chí Phan Trọng Tuệ hỏi đơn vị có phấn khởi không? Tôi báo cáo: đơn vị rất mừng. Hai đồng chí đều cười, giới thiệu đồng chí Đào Công Tâm rồi đưa ra một tờ giấy pơluya có chữ đánh máy đóng dấu đỏ. Đồng chí Vũ Đức nói đây là quyết định thành lập ban chỉ huy dân quân ba tỉnh Rạch Giá, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Tôi được cử làm chỉ huy trưởng, đồng chí Đào Công Tâm làm chính trị viên và đồng chí Nhơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Rạch Giá làm ủy viên. Ngoài ra còn có mấy đồng chí ở tù Côn Đảo mới về phụ giúp. Các đồng chí nói rõ thêm mục đích, ý nghĩa, tác dụng cũng như những kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng dân quân cách mạng.


Sau khi bàn bạc, đồng chí Đào Công Tâm ở tại thường trực liên hệ chặt chẽ với khu và giải quyết việc tiếp nhận anh em xin gia nhập dân quân, nhận và phân phối lương thực, thực phẩm do ban tiếp tế địa phương cung cấp. Tôi chỉ huy bộ đội ra trấn giữ mặt trận Vĩnh Hưng, vừa đón đánh giặc, vừa thu nhận dân quân tổ chức thành đơn vị.


Tháng 2 năm 1946 là mùa nắng, thời tiết khô ráo, đồng ruộng đã gặt xong, đất nứt nẻ, phố chợ Vĩnh Hưng rất đông người. Dân ở các nơi, cả dân Sài Gòn cúng chạy tản cư về đây. Sau khi khảo sát địa thế, tôi cho đơn vị cùng dân quân đào đắp công sự chiến đấu. Trung tuần tháng 2, hai lần Pháp dẫn bọn lính "Đàng thổ" (người Miên) từ quốc lộ Bạc Liêu - Cà Mau vào càn quét ở Đìa Chuối và điền Thày Cai Tài để đốt nhà cướp của. Cả hai lần đều bị bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu, quốc quân chặn đánh. Chúng không vào được trong xóm, nhưng cướp giật được các nhà ở lẻ ngoài đồng một số gà vịt, đồ đạc. Khi rút chạy chúng bỏ lại trên 10 xác chết. Ta thu 7 súng (có 1 tiểu liên), mang gà vịt, đồ đạc trả lại cho bà con bị mất. Nhân dân rất phấn khởi, cho lương thực thực phẩm, nhất là các loại bánh gói bâng nếp chất đầy trên các mặt bàn. Thanh niên, trung niên gia nhập dân quân rất đông, trên 10 thanh niên khỏe mạnh vào bộ đội. Số còn lại tổ chức thành các tiểu đội, trung đội, đại đội dân quân, trang bị chủ yếu bằng tầm vông vát nhọn, quần áo của ai nấy mặc. Ủy ban kháng chiến Vĩnh Hưng chỉ cấp cho mỗi anh một chiếc nóp. Ngoài việc canh gác tuần tra, luyện tập quân sự, học tập chính trị, thời gian còn lại anh em phân ra đi làm công tác dân vận.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:45:42 pm »

Cuối tháng 2 năm 1946, tôi đang chỉ huy mặt trận Vĩnh Hưng thì được lệnh gọi về tổng hành dinh quân khu. Sau khi hỏi thăm và nghe tôi báo cáo tình hình địch ở Vĩnh Hưng, đồng chí Vũ Đức nói: Anh em làm được những việc như vậy rất là tốt. Đồng chí nói tiếp: Pháp đã chiếm thị xã Cà Mau, đang có âm mưu tiến xuống Năm Căn. Cán bộ xã Tân Hưng vừa lên đây báo cáo lực lượng đã quá yếu, "Đàng thổ" ở xã Khánh Bình nổi dậy chống lại ta, đang được Pháp khuyến khích vượt sông Ông Đốc qua Phong Lạc, Bà Đầm, Rau Dừa, Cái Nước giết người Việt Nam. Mặt trận Ngã Năm, Phước Long khó giữ được lâu, cố gắng thì được độ 2 tháng nữa. Bốn tên tàn quân Nhật vào ẩn náu ở thất Cao Đài Giồng Bốm đang kích động tín đồ, chức sắc Cao Đài chống lại Việt Minh, ta đi ngang, chúng cạo đầu và tước súng (đây là đường liên lạc từ Phước Long về Cà Mau). Hàng ngày, chúng bung ra hoành hành, cướp giật đồ đạc ghe xuồng của nhân dân, thậm chí mới đây chúng cướp cả ca nô của đồng chí Nguyễn Văn Tây. Nếu tình hình trên đây không được giải quyết sớm thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Để giải quyết những việc này, Quân khu đã bàn và quyết định đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân về Cà Mau làm ba nhiệm vụ:

1. Cùng anh em giữ cho được mặt trận Cà Mau, giữ được càng lâu càng tốt, vì có giữ được vùng dưới đó thì khi mặt trận trên này vỡ mới có chỗ rút về để củng cố lực lượng. Đây là mặt trận cuối cùng ở miền Tây Nam Bộ.

2. Trên đường đi tìm cách thu xếp (đồng chí nhấn mạnh chữ "thu xếp”) vụ mấy tên Nhật đang làm loạn ở thất Cao Đài Giồng Bốm, trao thư của tôi cho cụ Cao Triều Phát và nói rõ cho các đạo hữu của Cao Đài biết âm mưu, tội ác của giặc Pháp và bọn quân phiệt Nhật. Động viên tinh thần yêu nước của bà con ra sức cùng chúng ta đánh Pháp để không phải làm nô lệ một lần nữa, giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta như lời cụ Hồ Chí Minh đã kêu gọi. Đồng chí dặn thêm, cố gắng tìm mọi cách không để xảy ra việc xô sát, đổ máu.

3. Đến Cà Mau, bàn ngay với địa phương dẹp cho được chuyện người Miên nổi dậy ở Khánh Bình trên bờ sông Ông Đốc (lúc này nhân dân thường gọi là "giặc Đàng thổ".


Tôi hỏi: Nhiệm vụ anh giao như vậy là tôi đã rõ, nhưng tôi đi với danh nghĩa gì để làm việc với địa phương. Đồng chí cười, đưa cho tôi quyết định bổ nhiệm đồng chí Tăng Thiên Kim về làm chỉ huy trưởng mặt trận Tân Hưng và một thư viết bằng chữ Hán dặn tôi trao tận tay cụ Cao Triều Phát.


Đồng chí cười và hỏi tôi còn gì nữa không? Tôi đáp không, đồng chí đưa tay ra bắt và vỗ vai nói: Cố gắng, cố gắng. Tôi chào ra về, chân bước xuống cầu thang mà đầu có nhiều suy nghĩ. Vừa về đến trụ sở, chưa kịp nói câu nào thì anh Đào Công Tâm đã hỏi ngay: Sao, có gì mới không? Tôi bảo anh ngồi, tôi báo cáo lại tất cả nội dung công việc vừa được anh Vũ Đức giao, anh lắc đầu thở ra: Chà, gay đấy, ông đi cũng có nhiều việc nặng, rất nặng, còn đám này ở lại cũng không ít khó khăn, nhất là việc tiếp tế, chỉ huy các đại đội dân quân cách mạng. Chiều 1 tháng 3 năm 1946, tôi trở lại Vĩnh Hưng, sáng hôm sau tập họp gần 60 anh em ra một chòm cây trên một gò đất giữa ruộng để phổ biến tình hình nhiệm vụ. Nghe xong chẳng ai biểu hiện lo lắng gì, mà không khí lại vui như tết. Tâm lý anh em là được đi nay đây mai đó, được nổ súng là thích. Sợ lộ bí mật nên tôi dặn anh em về nhà dân không được bàn tán, sáng mai trước khi lên đường mới được từ giã bà con, nhưng tuyệt đối không được lộ nhiệm vụ.


Nghỉ lại ở Phước Long một ngày, vận động thêm được gần 10 anh em của các đơn vị bạn đi lạc, người nào cũng có súng, quân số tăng lên trên 80, súng đạn nhiều hơn. Đơn vị tổ chức thành 9 tiểu đội (không có trung đội). Người thường thay tôi là đồng chí Hà Văn Khấu, đã đứng tuổi, là cán bộ quân sự của tỉnh Đồng Tháp cùng 7 anh em có súng vừa gia nhập. Nòng cốt của đơn vị là trên 20 anh em của trung đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, nhất là số anh em ở tiểu đội 1 từ Nam Vang về (số anh em này có trình độ văn hóa khá, có anh nói được cả hai thứ tiếng Pháp - Miên, biết cách đối nhân xử thế tốt, đi đâu cũng được bà con thương mến). Cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng cũng đã quen, nên không khí trong đơn vị lúc nào cũng vui nhộn. Hôm sau biết tin đơn vị hành quân về Cà Mau, một số anh em chiến sĩ Cộng hòa và dân quân cả nam và nữ xin đi theo, quân số tăng lên trên 100.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:46:14 pm »

Khoảng 3 giờ chiều ngày 3 tháng 3 năm 1946, chúng tôi hành quân đến xã Phong Thạnh Tây, cách thất Cao Đài Giồng Bốm theo đường chim bay hơn 2 cây số. Sau khi liên lạc với xã hỏi tình hình và nhờ du kích dẫn đường, đơn vị hành quân đi tắt ruộng khô vào thất Cao Đài nằm trên một đoạn rạch giống như một cù lao của xóm Ô Rô (hai bên bờ kênh mọc đầy ô rô, cóc kèn), phía sau là một đầm lầy, nhiều rạch nhỏ, lắm bùn sình, muốn vào thất phải dùng xuồng ghe chứ không thể đi bộ được. Khoảng 17 giờ, bộ đội đã đến bờ rạch, đối diện thất. Tôi bảo anh Khấu dàn quân thành một hình vòng cung theo bờ rạch. Xuống xuồng có tôi, anh Phương, một em thiếu nhi 13 tuổi và một liên lạc bơi xuồng. Mấy anh em đi với tôi không ai mang súng, chỉ có tôi đeo một súng ngắn Nhật, trong túi quần có 1 súng 6,5 ly lên đạn sẵn, để cần thì tự vệ và làm súng lệnh. Trước khi xuống xuồng; tôi dặn anh Khấu và các cán bộ khi nào nghe có nhiều tiếng súng ở trong thất thì lập tức đồng loạt nổ súng tấn công, bố trí 3 tiểu đội nằm ở bờ rạch bắn yểm trợ, các tiểu đội khác nhanh chóng lội qua rạch chiếm bờ bên kia tiến thẳng vào trong thất. Anh em hỏi: "Còn anh và anh em đi với anh trong đó thì sao?". Tôi cười và nói: "Coi như chúng tôi đã hy sinh". Mặt anh em đanh lại, im lặng và gật đầu. Đợi dàn quân xong, xuồng bắt đầu rời bến ra đến giữa lòng rạch (rộng độ 80 mét, dân cho biết nước không ngập đầu), tôi đứng lên cởi súng ngắn trao cho cháu bé ngồi ở sau lưng (có ý để cho trên bờ thấy mình không có ý định dùng vũ lực), mắt nhìn thẳng lên bến, đường đi vào thất. Thấy trên bờ lố nhố có nhiều người, có cả người ngồi trên cây. Xuồng cặp bến, tôi vừa bước lên bờ thì có 4 tên Nhật tay cầm 4 khẩu súng trường Nhật cùng một số anh em tín đồ Cao Đài tay cầm giáo, mác xông ra bao vây chĩa thẳng vào chúng tôi. Do xác định từ trước, tôi bình tĩnh quay về chỗ mấy ông già đầu đội mũ xanh hình vuông, mặc quần áo trắng (tôi biết đây là các vị chức sắc trong thất) chắp tay cúi đầu chào, xong nói to: "Mục đích của chúng tôi đến đây là để đoàn kết với bà con đạo Cao Đài đánh Pháp chứ không phải đến để đánh giết lẫn nhau". Không khí bắt đầu dịu dần, vòng vây bắt đầu dãn ra (tôi nghĩ động tác tháo súng ngắn giữa rạch đã có tác dụng). Một vị chức sắc cao tuổi cùng một tên Nhật đến gần mời chúng tôi vào một căn nhà xây cất khang trang (có lẽ đây là nhà tiếp khách của thất). Trời bắt đầu tối dần, ánh đèn măng-sông sáng rực. Giữa nhà kê một bàn to hình chữ nhật, xung quanh có một ghế tựa, liếc nhìn trên tường thấy treo mấy cây kiếm Nhật và 6-7 cây súng trường Pháp, Nhật. Cuộc nói chuyện bắt đầu. Mấy tên Nhật hỏi tôi: "Các ông là bộ đội nào, đến đây có việc gì?". Tôi trả lời: "Chúng tôi là bộ đội Cụ Hồ, đến đây để đưa thư của cụ Vũ Đức cho cụ Cao Triều Phát, yêu cầu phối hợp cùng nhau đánh Pháp". Nhân tiện tôi nói luôn, Pháp hiện đã chiếm chợ Cà Mau, nay mai chúng sẽ càn quét đánh chiếm ra xung quanh. Đạo Cao Đài và chúng tôi đều là người Việt, trước đây đã có lúc Pháp khủng bố Cao Đài thân Nhật, còn các ông nay đã bị thua trận, bọn Anh - Pháp đang lùng bắt các ông nên các ông phai trốn vào đây, chắc là các ông không quên. Các ông không căm thù giặc Pháp? (Chỗ này cố ý đánh mạnh vào tâm lý thất trận và lòng tự trọng dân tộc của chúng). Mấy vị Cao Đài ngồi trầm ngâm, riêng mấy tên Nhật nghe phiên dịch mặt mày đỏ gay, tay nắm chặt. Hai bên nói chuyện qua lại một lúc thì thấy có mấy phụ nữ bưng cơm ra (sau hỏi mới biết là vợ của 4 tên Nhật). Đồ nhậu khá dồi dào, có cả mấy chai rượu trắng. Thấy dọn cơm, các vị chức sắc kiếu từ về (có lẽ các vị ăn chay). Tôi nói cần gặp cụ Cao để đưa thư của cụ Vũ Đức, các vị cho biết là hiện cụ Cao không có ở đây (tôi đoán là các vị giấu). Không thể có cách gì hơn, đành phải đưa thư nhờ các vị chuyển giúp. Bữa cơm bắt đầu. Lúc ở Sài Gòn tôi cũng học được vài tiếng Nhật, chúng cũng nói được vài tiếng Việt Nam, xí xô xí xào không phải chờ phiên dịch, chén qua chén lại, mấy tên Nhật mặt mày đỏ gay, anh em tôi bảo nhau thủ thế. Đột nhiên tên Nhật ngồi giữa quay lưng lại rút kiếm trên tường, tôi thò tay vào túi quần nắm súng, tên Nhật chọc mũi kiếm vào bắp tay, máu chảy rơi từng giọt xuống ly rượu trắng trước mặt, tôi hiểu ý cũng làm theo. Bốn tên Nhật mỗi đứa uống một hớp, anh em tôi cũng làm theo (trừ cháu nhỏ). Uống xong tên Nhật ngồi giữa, miệng nói tay chỉ lên tường: Đây là mấy khẩu súng chúng tôi đã tước, xin trả lại các ông. Tôi lắc đầu và nói, chúng tôi không thiếu súng, mục đích đến đây không phải để đòi lại mấy khẩu súng mà chính là để bàn cùng bà con đạo Cao Đài kết hợp cùng chúng tôi đánh Pháp để bảo vệ nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chúng tôi còn có thể cung cấp thêm súng đạn cho anh em thanh niên Cao Đài đánh Pháp (nói cho oai vậy thôi, thực ra chúng tôi cũng đang kiếm từng khẩu súng, từng viên đạn). Đòi lại mấy khẩu súng này anh em ở đây làm sao có súng để đánh Pháp. Bọn Nhật cám ơn rối rít. Lúc này đã khoảng 9-10 giờ đêm. Tôi giao ước mấy điều: 

1. Từ nay trở đi nơi đây coi như một trạm liên lạc của bộ đội Cụ Hồ. Cán bộ, chiến sĩ đi qua đây, các anh phải có nhiệm vụ tiếp tế ăn uống, bảo vệ và không được cạo đầu, tước súng.

2. Các anh không được bung ra các xóm làng xung quanh để hăm dọa lấy đồ của dân, trước mắt đem trả ngay một số xuồng ghe và đồ đạc mà vừa rồi các anh đã tịch thu (tôi tránh từ cướp), kể cả đem trả ngay chiếc ca nô của bộ đội ở kênh Huyện sử.

3. Mọi cán bộ chiến sĩ của hai bên đi lại qua vùng của nhau phải trình giấy chứng nhận có chữ ký của tôi và người chỉ huy ở đây.


Bọn Nhật đồng ý. Một tên, có lẽ là chỉ huy cầm bút ký chữ Nguyên (chữ Hán), còn tôi lúc nhỏ ở quê cũng học được một ít chữ Hán nên cầm bút ký luôn Tăng Thiên Kim bằng chữ Hán. Chúng chuyền tay nhau xem và gật gật đầu có vẻ chịu lắm. Chúng tôi cám ơn, bắt tay từ giã ra về. Bước chân ra cửa đã thấy mấy anh em tín đồ Cao Đài cầm đèn bảo đứng chờ để dẫn đường. Dưới bến đã có hai chiếc ghe lượn đậu sẵn, giữa ghe có mấy cần xé đầy cơm trắng tinh, bên cạnh là một cần xé nhỏ đựng đầy hột vịt muối. Lái mũi đều có anh em tín đồ Cao Đài cầm đèn bão và sào chống ghe. Tôi rất mừng vì đã giải quyết thêm được một mối lo là trời tối, bụng đói làm sao anh em lặn lội từ đây ra bờ kênh Xáng được. Tôi hỏi chiếc xuồng và cậu liên lạc mà chúng tôi đi qua lúc chiều ở đâu? Anh em Cao Đài trả lời đã bảo trả nhà dân rồi. Tôi, anh Phương và cháu bé xuống ghe để anh em chống đưa ra tận bờ kênh Xáng (Phong Thạnh Tây). Cám ơn anh em xong, ghe quay mũi, bộ đội ta khiêng mấy cần xé cơm và trứng vịt muối còn nóng lên bờ phân phối cho các bộ phận. Anh em ngồi nghe tôi kể lại chuyện, ai cũng phấn khởi, cho là đã giành được một thắng lợi to. Chúng tôi hành quân sớm, đi tắt đồng về xã Hòa Thành. Tối vượt lộ 4 (lúc này Pháp đã chiếm chợ Tắc Vân). Đêm ấy trăng sáng, gió mát, hành quân dọc theo đường đất bằng phẳng, ai cũng vui.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2021, 07:47:09 pm »

Sáng hôm sau anh em thức sớm. Cơm nước xong, bộ đội hành quân xuống cống đá xã Định Thành. Đến bờ sông Gành Hào, trinh sát đã mượn xuồng ghe đưa anh em sang kênh Xáng Đội Cường để về rạch Cái Răng. (Lúc này tuy Pháp đã chiếm thị xã Cà Mau, nhưng thỉnh thoảng mới có tàu nhà binh qua lại). Đêm đó, chúng tôi nghỉ trên bờ kênh Xáng Đội Cường. Nhân dân ở bên bờ kênh còn ở nhà đầy đủ, nhiệt tình tiếp tế cho bộ đội. Trên đường đi tôi gặp nhiều ghe xam bản mui ống, to nhỏ của bà con tản cư.


Sau khi ổn định nơi ăn ở, làm việc, tôi liên hệ với Ủy ban kháng chiến xã rồi cùng các đồng chí Phương, Yên đi xuồng dọc mương lộ xuống Cà Mau nghiên cứu địa hình. Qua cầu Nhà Phấn, cầu Cái Nhum, cầu Bà Bèo, đến Định Tân Hưng thì gặp bộ đội địa phương và du kích xã ở đó (khoảng 15 bộ đội, 10 du kích trang bị trên 10 khẩu súng trường và súng lửa, có cả mã tấu, dao kiếm, ná nỏ, phi tiêu). Trận địa cách thị xã Cà Mau độ 1,5 ki-lô-mét. Các nhà gạch đã được phá sập chỉ còn tường. Ngày đêm anh em áp sát ra cầu sắt Cà Mau, địch nống ra thì anh em vừa bắn vừa lui về mặt trận, địch rút về thị xã thì anh em lại tấn ra. Ngày, đêm địch thường bắn súng cối vào trận địa địch. Cứ như thế, hai bên đã đánh nhau cả tháng, địch không tiến được. Kế đó, tôi cùng anh Khấu và một số trinh sát dùng xuồng đi ra xóm Ong Tự, rồi qua sông Ông Đốc sang rạch Tham Trồi, qua kênh Công Nghiệp, gặp một số anh em du kích và đồng chí Dậu, chủ tịch xã nghiên cứu địa hình và tình hình người Miên ở xã Khánh Bình nổi dậy chống lại ta. Lúa cắt đã hết, bó chất thành từng đống chẳng ai thu gom về nhà, đồng khô trắng bóc, thấy có một xác chết. Chiến sự đã gần nửa tháng. Đồng chí Dậu cho biết xã này gồm 1.000 người Miên bị Pháp kích động kéo ngay cổ phảng nổi dậy giết người Việt. Họ đông lắm, cứ bắn người này ngã thì đám khác lại xông lên. Anh em ta ít người, vừa đánh vừa chạy. Họ bảo nhau có "bùa cà tha" bắn không lủng nên không sợ, chiều tối họ lại rút về nhà ở hai bên các kênh đào trong rừng tràm rậm. Tối hôm đó tôi gặp anh Hai Hoàng, cán bộ do tỉnh phái đến thăm hỏi và bàn việc tiếp tế cho chúng tôi.


Ngày 10 tháng 3 năm 1946, tôi họp cán bộ để triển khai lực lượng phòng thủ mặt trận Tân Hưng và giải quyết vụ người Miên nổi dậy ở Khánh Bình. Tôi báo cáo cho anh em biết tình hình, đưa 2 tiểu đội ra tăng cường cho mặt trận Tân Hưng, 2 tiểu đội ra trấn ở kênh Xáng Đội Cường có du kích và 1 tổ thủy lôi của tỉnh Bạc Liêu phối hợp, số còn lại 5, 6 tiểu đội do anh Hà Văn Khấu chỉ huy ra trấn giữ ở xóm Ông Tự. Mặt trận Tân Hưng - Rạch Rập tuy là chính diện, thường xuyên bị Pháp tấn công, nhưng ở đây đã có bộ đội địa phương và du kích mạnh, địa hình lại tốt, lợi thế cho bên phòng ngự. Còn kênh Xáng Đội Cường tuy là mũi bọc hậu mặt trận Tân Hưng từ phía đông nam, nhưng ở xa lại có cả thủy lôi chặn đánh tàu địch. Cánh Ông Tự, tuy địch có thể dùng tàu từ sông Ông Đốc đánh ngang sườn của Tân Hưng - Cái Răng, nhưng rạch nhỏ, đường khó đi. Sau khi nhận nhiệm vụ, ngay chiều hôm đó anh em hành quân đến nơi quy định. Sáng hôm sau tôi nghe tiếng súng nổ nhiều ở cánh Ông Tự. Đến chiều được trinh sát báo cáo bộ đội của ta sang sông cùng với du kích đánh nhau với "giặc Miên nổi dậy". Anh em nói, tay họ cầm phảng, gậy gộc, cờ phất, miệng la "cáp duồn”, cổ đeo một miếng vải trắng vẽ chữ đen, vấn thành vòng cung, người này ngã xuống người kia xông lên có ý định kẹp lấy quân ta. Bộ đội mình vừa bắn vừa lui, về xóm người Việt. Liên tục ba ngày đều diễn ra như thế. Tôi hỏi mấy ông già, các ông nói: Đánh nhau với họ, mà bắn lịch bịch mấy tiếng súng trường thì họ không sợ đâu, họ chỉ sợ tiếng súng liên thanh thôi. Được mấy cụ già mách nước, tôi nghĩ ngay đến 2 khẩu mi càng (tiểu liên Stell) hiện bố tri ở kênh Xáng và Tân Hưng. Sáng sớm hôm sau, tôi trực tiếp chỉ huy 5 tiểu đội dàn hàng ngang đón đánh một số Miên nổi dậy. Cánh đồng trống nên quan sát rất dễ dàng. Số này vẫn đánh theo kiểu dàn hàng ngang rồi hai đầu khép lại thành vòng cung kẹp lấy quân ta. Khác mấy ngày trước, bị tiểu liên bắn, hai đầu cánh cung cứ lui dần, cuối cùng họ la ó cõng nhau bỏ chạy. Biết họ đã núng thế, tôi cho tìm mấy bác nông dân, bạn của họ trước đây đem một số thuốc rê, đường cát, rượu trắng, xà bông sang tặng họ, giải thích cho họ đừng nghe lời Pháp chống lại bà con mình nữa. Tôi cũng dặn nói bộ đội ta nhiều súng liên thanh lắm. Thấy tình hình ngày một êm, tôi cử một số cán bộ do anh Trọng (tù Côn Đảo về) phụ trách sang gặp họ hòa giải và lập ban Việt - Miên đoàn kết, trụ sở đặt tại nhà máy xay Công Nghiệp. Ta đem dao búa, dầm, xuồng trước đây tịch thu trả lại họ. Tình hình trở lại ổn định như xưa. Bà con người Việt ở tả ngạn sông Ông Đốc ai cũng vui mừng vì không còn phải lo họ tràn sang nữa. Được tin Bác Hồ ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, nhân dân và bộ đội vui mừng, có phần chủ quan. Lúc đó mặt trận Phước Long chưa mất, anh Vũ Đức viết thư cho tôi, Tỉnh ủy Bạc Liêu cũng nói rõ ý chỉ đạo của Trung ương và Bác Hồ với tinh thần lợi dụng hiệp định, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn, củng cố lực lượng. Tôi nói với anh em không được chủ quan lơi lỏng để kháng chiến lâu dài. Lúc này khu vực kênh Xáng Đội Cường được tăng cường thêm một số đơn vị ở trên rút về. Mặc dù đã có Hiệp định sơ bộ, giặc Pháp vẫn cho ca nô bắn loạn xạ hai bên bờ kênh, đến chợ vàm Xáng, tàu quay lại, lọt vào ổ phục kích của quân ta. Thủy lôi nổ, tàu địch tròng trành hoảng hốt chạy thẳng về Cà Mau. Bờ kênh bị khoét một lỗ lớn vì thủy lôi nổ ở sau tàu. Sau lần đó địa phương đã huy động nhân dân, du kích và bộ đội chặt nhiều dừa tre sóc làm cản (lúc đó chưa biết làm cản đất). Theo tôi biết đây cũng là nơi nổ trái thủy lôi và làm cản ngăn tàu giặc đầu tiên của tỉnh.


Tôi báo cáo về vụ dẹp Nhật ở thất Giồng Bốm và Miên nổi dậy ở Khánh Bình đã giải quyết xong. Anh Vũ Đức khen và nhắc mặt trận Phước Long có thể sắp vỡ. Cần phải quyết tâm giữ vững mặt trận Tân Hưng càng lâu càng tốt. Khoảng 20 tháng 3 năm 1946, anh Trọng về báo tin là đêm qua bà con người Miên đã bí mật kéo nhau ra chợ Cà Mau, họ đi lúc nào cũng không biết, khi đi không hề đụng chạm đến cán bộ của ta... Đầu tháng 4, mặt trận Phước Long thất thủ, cơ quan khu bộ, đơn vị Nam tiến, một số dân quân du kích, một số bộ đội của các tỉnh như: bộ đội anh Xuyên ở Sa Đéc, anh Trương ở Sóc Trăng, anh Thiệt ở Trà Vinh, anh Đinh Công Thưởng ở Bạc Liêu và nhiều đồng bào tản cư đi theo rất đông, kéo về đóng dài theo nhà dân ở hai bên rạch Cái Răng. Tôi chuyển bộ phận chỉ huy của phân khu Cà Mau. nhường nhà sàn cho anh Vũ Đức, anh Tuệ và cơ quan khu bộ ở, làm việc. Đơn vị của anh Thưởng sau đó ra tăng cường cho mặt trận Tân Hưng.


Cuối tháng 4 năm 1946, được tin quân Pháp tập trung nhiều ở chợ Cà Mau. Khu phán đoán chúng định bung ra đánh chiếm lộ Cà Mau đi Năm Căn, trước mắt là phá vỡ mặt trận Tân Hưng. Cùng lúc đó, tôi được biết có cuộc họp của Tỉnh ủy Bạc Liêu ở ấp Bà Bèo sát mặt trận Tây Hưng và tại Rau Dừa, hình như Xứ ủy cũng có cuộc họp gần đó. Ở Cái Răng, tôi được anh Vũ Đức giao nhiệm vụ bảo vệ cuộc họp trên. Đến dự tôi thấy có các anh Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Văn Viên, Cao Hồng Lãnh, Nguyễn Văn Tây, v.v... Hội nghị chủ trương đưa các đơn vị về địa bàn cũ hoạt động.


Đầu tháng 5 năm 1946, quân Pháp từ ba mặt tấn công mặt trận Tân Hưng. Cánh chính diện đi theo trục lộ Cà Mau-Năm Căn. Cánh tạt sườn đi xuồng đánh vào nhà thờ rạch Ông Tự, cánh bọc hậu dùng tàu sắt theo kênh Xáng Đội Cường vào cầu Cái Răng. Mặc dầu có phi cơ và pháo binh yểm trợ, nhưng ba cánh đều bị quân ta chặn đánh quyết liệt. Nhưng trước sức tấn công áp đảo của địch, quân ta (kể cả khu bộ) rút về Tân Duyệt, Tân Thuận, Đầm Dơi, U Minh để củng cố lực lượng. Lúc này mới gặp được trung đội 2 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân do anh Lầu chỉ huy. Anh cho biết sau khi trung đội 1 đi rồi thì trung đội 2 được điều về Núi Sam, địch đánh chiếm thị xã Châu Đốc, trung đội 2 đánh nhau với địch mấy ngày rồi rút về thị trấn Tri Tôn, sau đó về Thoại Sơn (Núi Sập), về Rạch Giá xuống U Minh. Trung đội 3 nghe nói ra thay cho trung đội 1 trấn giữ ở Tịnh Biên đánh với Pháp, tiêu hao gần hết. Như vậy, ban chỉ huy đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân, ban chỉ huy trung đội 1 không còn, trung đội 3 hy sinh, song lực lượng Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân vẫn tiếp tục tồn tại và chiến đấu. Sau mấy ngày củng cố tại xã Tân Đức, Khu bộ trưởng Khu 9 quyết định đơn vị anh Lầu lên Long Xuyên, anh Phát về Hà Tiên, anh Ba lên Châu Đốc, đại đội của Bạc Liêu về Giá Rai - Hộ Phòng, đơn vị Tăng Thiên Kim đưa khu bộ sang Cái Tàu, Biện Nhị rồi quay về hoạt động ở Cà Mau, riêng đơn vị Nguyễn Bá vẫn gọi là bộ đội Nam tiến1 (Thời gian này, nhân dân thường gọi đơn vị theo người chỉ huy).


Những tháng sau đó, đơn vị tôi tiếp tục hoạt động ở nam Cà Mau dưới sự chỉ đạo của anh Tuệ, vừa tác chiến vừa vũ trang tuyên truyền, trừ gian diệt tề, đánh một số trận, góp phần cùng quân dân địa phương giữ vững một vùng giải phóng rộng lớn ở nam Cà Mau.


Đầu năm 1947, tôi được điều về công tác tại chi đội 124 do anh Huỳnh Thủ làm chi đội trưởng. Một số anh em Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân được điều từ Cà Mau về, tổ chức thành đội tuyên truyền xung phong trực thuộc phòng chính trị Quân khu 9. Sau này anh em đều trở thành cán bộ cốt cán của Đảng, công tác khắp mọi nơi, kể cả một số anh em lên Cao Miên làm quân tình nguyện như anh Thân, anh Huy. Cũng kể từ đây, tất cả anh em đều là vệ quốc đoàn, danh nghĩa Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân không còn nữa.


Ngày nay, đất nước đã được độc lập thống nhất. Số anh em Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân về Nam Bộ chiến đấu năm 1945 chắc không còn nhiều. Nhưng nhắc lại lịch sử của "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" ở Cao Miên để thấy đồng bào ta, bất kỳ làm ăn ở nơi đâu, nếu được sự giáo dục, phát động của Đảng và Bác Hồ kính yêu, khi Tổ quốc lâm nguy, đều sẵn sàng hy sinh tất cả cho Tổ quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2021, 06:57:21 pm »

ĐẠI ĐỘI CAO MIÊN VIỆT KIỀU CỨU QUỐC QUÂN
(24-9-1945 - 11-1946)


ĐOÀN THÀNH
TĂNG THIÊN KIM
NGUYỄN TÁI GIÁM


Trước năm 1945, ba nước Đông Dương đều là thuộc địa của Pháp. Chúng tuyển mộ nhiều viên chức, binh lính, công nhân (chủ yếu là công nhân cao su) ở Việt Nam sang Cam-pu-chia. Ngoài ra thợ thủ công (thợ giày, thợ may, thợ kim hoàn, thợ sửa chứa máy móc...), người buôn bán nhỏ Việt Nam sang làm ăn, buôn bán ở Cam-pu-chia khá đông, ước tính gần 500.000 người. Họ tập trung ở các thành phố lớn như: Phnom Pênh, Công Pông Chàm, Kratié, Kampốt và các đồn điền cao su ở Stung Treng, Mimốt.


Việt kiều phần lớn là người lao động, số ít là tầng lớp trung lưu, nhưng đều cần cù chịu khó, hội nhập dễ dàng với cuộc sống ở Cam-pu-chia. Tuyệt đại đa số đều hướng về Tổ quốc, căm ghét chế độ thực dân phong kiến.


Từ những năm bốn mươi, Phnôm Pênh, Công Pông Chàm đã có cơ sở bí mật của Đảng cộng sản Đông Dương. Những hoạt động cách mạng ở Cam-pu-chia có liên hệ mật thiết với Việt Nam vì cùng chung một mục tiêu là đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.


Từ sau vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, phong trào cách mạng của Việt kiều ở Càm-pu-chia sôi nổi hẳn lên, nhất là ở thành phố Phnôm Pênh, nơi có nhiều Việt kiều cư trú.

Đáng chú ý nhất là phong trào "Quyên góp cứu đói đồng bào miền Bắc"; "Truyền bá quốc ngữ” và trừng trị những tên cò, cảnh sát Pháp tàn bạo đối với Việt kiều.

Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội ngày 19 tháng 8 năm 1945 và ở Sài Gòn ngày 25 tháng 8 năm 1945, cùng những tin tức về thực dân Pháp núp sau quân Anh Ấn vào giải giáp quân đội Nhật, thực hiện âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa, làm cho phong trào quyên góp tiền mua vũ khí gửi về nước và cuộc vận động Việt kiều về bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của Việt Nam càng thêm sôi nổi ở Phnôm Pênh và Công Pông Chàm.


Chỉ tính từ cuối tháng 8 đến trước ngày Nam Bộ kháng chiến (23-9-1945) đã có hàng ngàn người được tổ chức thành từng tốp (từ hàng chục đến hàng trăm người) từ các địa phương Cam-pu-chia xung phong về đầu quân ở các tỉnh Châu Đốc, Tây Ninh... Số đông nhất về bằng đường sông, xuôi theo dòng sông Mê Công từ Phnôm Pênh qua Bắc Ba Nam về thị xã Châu Đốc và vùng Tân Châu - Hồng Ngự.


Số người tình nguyện về đầu quân ở thị xã Châu Đốc (lên đến vài ngàn người) được phân ra trú đóng ở các nhà dân và tại nhà Cercle, sân vận động thị xã Châu Đốc.

Chiều ngày 23 tháng 9 năm 1945, tin tức về quân Pháp được quân Anh yểm trợ gây hấn ở Sài Gòn và tin về những trận chiến đấu ngoan cường, quyết tử của chiến sĩ ta tại Nam Bộ phủ, cột cờ Thủ Ngữ, cầu Mác-ma-hông, nhà đèn Chợ Quán... bay đến thị xã Châu Đốc.


Nhân dân thị xã, Việt kiều Cam-pu-chia tập trung đông đảo ở đường bờ sông thị xã, trước cổng Ủy ban nhân dân tỉnh và sân vận động để nghe tin tức, chờ lệnh của thượng cấp.

Không khí sôi sục căm thù. Mọi người đều biểu thị lòng căm phẫn và quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc. Tiếng hô khẩu hiệu "Đả đảo thực dân Pháp xâm lược", "Việt Nam độc lập muôn năm" và tiếng ca "Lên đàng" vang lên từng chập.

Trên 200 Việt kiều trú đóng tại nhà Cercle được lệnh: "Sẵn sàng ra mặt trận".

6 giờ sáng 24 tháng 9, trên 1.000 thanh niên, công nhân, viên chức Việt kiều Cam-pu-chia tập trung ra sân vận động Châu Đốc để tuyển chọn những người gan dạ nhất, thành lập đơn vị chiến đấu.

Sau lễ chào cờ, một vị trong ban tuyển quân tình nguyện công bố: "Đánh giặc Pháp chỉ cần những người cảm tử, nếu ai chịu đựng được điều kiện bỏ một cục than hồng lên lòng bàn tay đến khi nó cháy hết hoặc chịu chặt ngón tay út bàn tay trái thì được nhập ngũ". Vị này giải thích: Một chiến sĩ cảm tử, dù bị bỏng một bàn tay, chỉ còn một bàn tay lành ném lựu đạn về phía địch vẫn chiến đấu tốt (thực ra chỉ là nói dọa để thử thách).


200 người giơ tay trong giây phút đầu tiên đã được xếp riêng ra để thành lập đại đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân. Rất nhiều người tiếp tục giơ tay nhưng không được tuyển chọn nữa. Số còn lại được bổ sung cho các đơn vị cộng hòa vệ binh và dân quân cách mạng trong tỉnh.


Ngoài ban chỉ huy đại đội 3 người, ban chỉ huy mỗi trung đội 2 người, số còn lại được biên chế thành 3 trung đội (mỗi trung đội có 4 tiểu đội, mỗi tiểu đội có 12 người) và đưa về các bộ phận trinh sát, liên lạc, quân y, cấp dưỡng và văn phòng đại đội.

Phiêu hiệu của đại đội: "đại đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân".

Ban chỉ huy đại đội gồm:

- Đồng chí Tô Cương, đại đội trưởng (những năm sáu mươi, đồng chí là một trong những nhà quay phim tài liệu nổi tiếng của Xưởng phim truyện và tài liệu Việt Nam).

- Đồng chí Mộc, chính trị viên.

- Đồng chí Nguyễn Văn Mạnh, trung đội trưởng trung đội 1.

- Đồng chí Nguyễn Văn Lầu, trung đội trưởng trung đội 2 (tháng 7 năm 1954 tập kết ra Bắc với cấp bậc tiểu đoàn phó).

- Đồng chí Lạc, trung đội trưởng trung đội 3.

Mỗi tiểu đội được trang bị 2 súng mút-cơ-tông hoặc súng 2 nòng (loại súng săn). Còn lại được trang bị mã tấu, lựu đạn đập, phi tiêu và ná lẫy, gậy tầm vông, mìn tự chế. Mỗi cá nhân được cấp 1 chiếc nóp.


Chiều ngày 24 và 25 tháng 9, các tiểu đội bầu tiểu đội trưởng, chính trị chỉ đạo viên tiểu đội và học những quy định đầu tiên về điều lệnh đội ngũ.

Khoảng 14 giờ ngày 26 tháng 9, đại đội được tập trung đến phòng chính của nhà Cercle để nghe phái đoàn Trung ương từ Hà Nội vào nói chuyện và nhận lệnh đi chiến đấu của thanh tra chính trị miền Tây. Phái đoàn gồm các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, Nguyễn Văn Tây.


Đồng chí Cao Hồng Lãnh nói chuyện với anh em về âm mưu của thực dân Pháp, tình hình chiến đấu của quân và dân ta ở mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn. Đồng chí cho biết Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã gửi mệnh lệnh kháng chiến cho quân dân Nam Bộ.


Đồng chí kêu gọi: Các chiến sĩ thuộc bộ đội "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân" hãy anh dũng tiến lên! Cùng đồng bào Nam Bộ đánh bại cuộc xâm lăng của thực dân Pháp.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2021, 06:58:47 pm »

Tiếp đó đồng chí Nguyễn Văn Tây, thanh tra chính trị miền Tây ra lệnh:

Nhiệm vụ của đại đội là chia quân ra trấn giữ ba nơi:
- Trung đội 1 trấn giữ thị trấn Tịnh Biên.
- Trung đội 2 trấn giữ Núi Sam.
- Trung đội 3 trấn giữ Nhà Bàn.


Đến các nơi trên, các trung đội phối hợp với Ủy ban kháng chiến địa phương lập phòng tuyến chiến đấu, giặc đến phải chặn đánh quyết liệt, cùng với địa phương thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Giặc chưa đến thì ráo riết huấn luyện quân sự và bố phòng nghiêm ngặt.

Sáng ngày 28 tháng 9, các trung đội hành quân về các vị trí đóng quân mới.

Trong nửa đầu tháng 10 năm 1945, nhiệm vụ chủ yếu của các trung đội là huấn lệnh quân sự, tuần tra và phối hợp với dân quân cách mạng địa phương xây dựng các ụ chiến đấu từ thị xã Châu Đốc đến ngã ba Tịnh Biên.


Trung tuần tháng 10, trung đội 1 đóng tại ngã ba Tịnh Biên chặn đánh 1 đoàn xe Nhật, có 5 xe tăng (trên xe có chở 1 số lính Pháp) từ Tà Keo kéo xuống. Chúng đòi mượn đường để hành quân về thị xã Châu Đốc. Ta không cho phép và dụng ý cho tên quan ba Nhật đến thương thuyết đi qua trận địa pháo của ta. Chúng ngán "pháo của Việt kiều” nên quay xe về lại Tà Keo (ca nông cổ từ thời Minh Mạng).

Giữa tháng 11, trung đội 1 phục kích tàu giặc Pháp tại Giang Thành (kênh Vĩnh Tế).

Đầu tháng 12, trung đội 1 được lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây hành quân về Núi Sập dự khóa huấn luyện quân sự cấp tốc do sĩ quan Nhật phụ trách.

Trung đội 3 được điều về trấn giữ Tịnh Biên thay thế trung đội 1.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn thể chiến sĩ "Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân” tham gia bỏ phiếu bầu bác Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của nước ta làm đại biểu khóa 1 Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ngày 8 tháng 1 năm 1946, trung đội 1 được lệnh của đồng chí Nguyễn Văn Tây xuống ca nô hành quân về Bố Thảo - Sóc Trăng.

Đêm 10 tháng 1, trung đội 1 được tăng cường thêm súng trường và lựu đạn do bốn sĩ quan Nhật chỉ huy tấn công đồn Nhu Gia (nằm trên quốc lộ 4. đoạn từ thị xã Sóc Trăng chạy xuống thị xã Bạc Liêu). Đồn Nhu Gia do một trung đội hỗn hợp Pháp, Việt gian và Miên gian đóng giữ. Sau hơn 1 giờ chiến đấu, do không có loại vũ khí công đồn và do hợp đồng tác chiến không chặt, trận đánh không dứt điểm. Quân ta rút lui về Mỹ Tú. Trung đội 1 có 2 đồng chí hy sinh.


Ngày 20 tháng 1, quân Pháp dùng tàu chiến và bộ binh từ nhiều phía tấn công thị xã Châu Đốc và vùng phụ cận. Trung đội 2 do đồng chí Nguyễn Văn Lầu chỉ huy phối hợp với cộng hòa vệ binh và dân quân cách mạng địa phương chặn đánh địch ở ngoại vi thị xã và xung quanh Núi Sam. Khi Núi Sam mất, trung đội 2 chủ động di chuyển về mặt trận Tri Tôn. Tại đây, trung đội 2 đã cùng địa phương chặn đánh quyết liệt khi chúng tiến vào thị trấn. Ta diệt một số tên, trung đội có 3 hy sinh và 5 bị thương.


Mặt trận Tri Tôn vỡ. Trung đội 2 nhờ nhân dân dẫn đường băng đồng về Núi Sập (Long Xuyên). Sau khi mặt trận Núi Sập thất thủ, trung đội 2 hành quân về Rạch Giá tham gia giữ mặt trận Ngã tư Phú Sinh.

Cuối tháng 1 năm 1946, quân Pháp từ các hướng Tà Keo, Giang Thành và Nhà Bàn tấn công huyện lỵ Tịnh Biên. Trung đội 3 đang phòng ngự tại ngã ba Tịnh Biên đã dựa vào công sự đánh lui nhiều đợt xung phong của địch và giữ trận địa được hơn 4 tiếng đồng hồ.


Sau trận đánh ngã ba Tịnh Biên, trung đội 3 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân không còn nữa1 (Năm 1949 - 1950, khi chúng tôi trở lại vùng Tịnh Biên hoạt động, bà con ở đây hết lời ca ngợi các chiến sĩ trung đội 3 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân trong trận quyết chiến tại ngã ba Tịnh Biên).


Sau trận đồn Nhu Gia thất bại và được tin quân pháp đã chiếm hầu hết các thành phố, thị xã ở Nam Bộ, ban chỉ huy trung đội 1 do Nguyễn Văn Mạnh làm trung đội trưởng trốn chạy khỏi đơn vị.

Trung đội không còn chỉ huy và mất liên lạc với cấp trên. Không thể để đơn vị tan rã, hơn 20 anh em còn lại đã bầu đồng chí Tăng Thiên Kim làm trung đội trưởng và hành quân hướng về thị trấn Phước Long để bắt liên lạc với Khu trưởng Vũ Đức.


Như vậy, vào cuối tháng 1 năm 1946, đại đội 1 Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân chỉ còn 2 trung đội hoạt động ở hai hướng khác nhau. Trung đội 1 do đồng chí Tăng Thiên Kim chỉ huy, trung đội 2 do đồng chí Nguyễn Văn Lầu chỉ huy.


Trên đường hành quân về Phước Long, chiều 25 tháng 5 năm 1946 khi trung đội 1 về gần đến Ngã năm (lúc này đã có trên 30 tay súng) thì được tin quân pháp đã chiếm Ngã năm và một bộ phận bộ đội Nam tiến do đồng chí Nguyễn Bá chỉ huy đang bao vây tấn công chúng.


Trinh sát phát hiện, ngoài số lính Pháp đóng ở Đầu Voi Ngã năm (đối diện chợ Ngã năm), phía nhà lồng chợ Ngã năm có một số lính pạc-ti-giăng (ngụy). Sau cuộc hội ý chớp nhoáng, trung đội 1 quyết định đến nửa đêm sẽ tấn công bọn lính pạc-ti-giăng trong nhà lồng chợ, sau khi tiếng súng tấn công bọn Pháp ở Đầu Voi của bộ đội Nam tiến bắt đầu nổ.


Khoảng 23 giờ đêm 25 tháng 1, bằng hai cánh, trung đội 1 tấn công bọn lính pạc-ti-giăng. Sau 30 phút chiến đấu, ta tiêu diệt 7 tên, thu 5 súng trường. Bọn ngụy còn lại tháo chạy khỏi chợ Ngã năm.

Rạng sáng 26 tháng 1, sau khi diệt một số tên Pháp, bộ đội Nam tiến kết thúc trận đánh. Số địch còn lại tháo chạy về Ngã bảy. Sau trận đánh thắng lợi, hai đơn vị gặp nhau, tay bắt mặt mừng rất phấn khởi.

Theo sự chỉ dẫn của đồng chí Nguyễn Bá, trung đội 1 tiếp tục hành quân về quận lỵ Phước Long để gặp Khu bộ trưởng Vũ Đức và Chính trị bộ chủ nhiệm khu Phan Trọng Tuệ.

Sáng ngày 1 tháng 2, đồng chí Tăng Thiên Kim chủ động gặp đồng chí Vũ Đức và Phan Trọng Tuệ tại trụ sở ở Phước Long.

Sau khi nghe đồng chí Tăng Thiên Kim báo cáo, hai đồng chí tỏ lời khen ngợi bộ đội Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân đã biết khắc phục khó khăn, đoàn kết nội bộ, chiến đấu dũng cảm, giữ vững được lực lượng để kháng chiến lâu dài.

Hai đồng chí trao nhiệm vụ:

a) Đưa đơn vị ra đóng tại Vĩnh Hưng, đảm bảo bên sườn cho tổng hành dinh, đánh địch càn quét vào vùng đìa Chuối và đìa Cai Tài, bảo vệ vùng giải phóng.

b) Cử một bộ phận cán bộ đi xây dựng các đại đội dân quân cách mạng trong liên tỉnh Sóc Trăng, Rạch Giá. Bạc Liêu.

Đồng chí Tăng Thiên Kim được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng dân quân liên tỉnh kiêm chỉ huy đơn vị Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân.

Đồng chí Đào Công Tâm (chiến sĩ Côn Đảo về) được bổ nhiệm làm chính trị viên dân quân liên tỉnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM