Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:55:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 3  (Đọc 14774 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #60 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2021, 07:46:17 pm »

III- NHỮNG QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TRONG CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ 1 (3-1935)


Trước cao trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng trong năm 1930 - 1931, đế quốc Pháp tiến hành khủng bố hết sức dã man. Chúng sử dụng bạo lực phản cách mạng, điều động quân lính, dùng những đơn vị lính lê dương, lính cơ động đàn áp các cuộc biểu tình, dựng lại chính quyền của chúng ở những nơi bị tan rã. Chúng dùng cả máy bay ném bom cuộc biểu tình của nông dân Hưng Nguyên (Nghệ An), bắn giết hàng ngàn người không cần tra hỏi. Từ năm 1930 đến năm 1933, chúng đã bắt giam 246.532 người, giết hại nhiều chiến sĩ cộng sản. Hầu hết các đồng chí ủy viên Trung ương, các đồng chí trong Xứ ủy Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ đều bị địch bắt. Tháng 6-1931, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng bị đế quốc Anh bắt giam trái phép ở Hồng Công (Người được trả tự do vào tháng 1-1933, sau đó Người sang Liên Xô). Mặc dù bị đế quốc Pháp đàn áp dã man, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng bị bắt, nhưng nhờ nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và mục tiêu cụ thể trước mắt, các cơ sở đảng tránh được khủng bố vẫn tiếp tục hoạt động.


Để khôi phục lại phong trào cách mạng Đông Dương, ngày 27-2-1932, Quốc tế Cộng sản gửi thư cho Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Ấn Độ, nêu nhiệm vụ của những Đảng đó là phải huy động thợ thuyền, dân cày và lao khổ xứ mình đấu tranh ủng hộ phong trào cộng sản Đông Dương bằng mọi phương diện, trước hết là chống cuộc tàn sát, giam cầm những người cộng sản và những người lao động xứ Đông Dương, vạch trần bản chất tàn bạo của đế quốc Pháp, đồng thời cổ vũ tinh thần anh dũng đấu tranh của dân chúng và thợ thuyền Đông Dương. Năm 1932, Quốc tế Cộng sản chỉ thị đồng chí Lê Hồng Phong và một số đồng chí còn lại ở trong nước và ngoài nước tổ chức Ban lãnh đạo Trung ương của Đảng. Tháng 6-1932, Ban lãnh đạo Trung ương thảo ra Chương trình hành động của Đảng. Chương trình hành động nhấn mạnh: "Phải xây dựng một đoàn thể bí mật có kỷ luật nghiêm ngặt cứng như sắt, vững như đồng, tức Đảng Cộng sản, để hướng dẫn quần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu"1 (Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr.87). Đảng chủ trương lập ra Công nông tự vệ đội để bảo vệ người lao động lúc đình công, hội họp, thị uy tuần hành và "sắp đặt hàng ngũ cho chỉnh tể, lo dự bị võ trang bạo động kỳ đánh đổ được quân áp bức"1 (Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Sđd, tr.87). Từ ngày 14 đến ngày 26-6-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài và các đại biểụ của các đảng bộ trong nước họp hội nghị đề ra những công tác cụ thể cho các tổ chức quần chúng và quyết định lấy các nghị quyết của các Hội nghị Đảng trước đó cùng Chương trình hành động làm tài liệu chính thảo luận trong các chi bộ, chuẩn bị cho Đại hội lần thứ I của Đảng.


Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13 đại biểu thay mặt cho 600 đảng viên thuộc các đảng bộ ở trong nước và các tổ chức của Đảng đang hoạt động ở nước ngoài. Đại hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết chính trị, Nghị quyết về vận động binh lính, Nghị quyết về công tác phản đế liên minh, Nghị quyết về đội tự vệ, Tuyên ngôn của đại biểu Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương và nhiều Nghị quyết khác2 (Theo Thư của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương (ngày 31-3-1935) gửi Quốc tế Cộng sản thì Đại hội diễn ra trong bốn ngày rưỡi, thảo luận và thông qua 20 văn kiện, bầu Ban Trung ương gồm 13 người. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.192-194). "Các Án nghị quyết của Đảng Đại hội là những kế hoạch cách mạng tấn công của toàn thể vô sản giai cấp và quần chúng lao khổ Đông Dương chống đế quốc Pháp và phong kiến bản xứ"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.174). Về quân sự, nhiều án nghị quyết đề cập đên các vấn đề, phản ánh quan điểm quân sự của Đảng trong bối cảnh quốc tế bọn đế quốc đang chạy đua vũ trang, chuẩn bị cuộc chiến tranh thế giới mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #61 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2021, 07:47:43 pm »

1. Tăng cường hoạt động phá quân đội đối phương, làm cho nó bị tan rã từ trong hàng ngũ

Đại hội lần thứ I của Đảng thông qua Nghị quyết về vận động binh lính. Đây là một nội dung quan trọng, soi sáng cho thực tiễn hoạt động quân sự. Nghị quyết về vận động binh lính nêu rõ rằng, ở Đông Dương cũng như các xứ thuộc địa và nửa thuộc địa khác, quân đội là "cái khí cụ" của giai cấp thống trị để đàn áp công nông và các tầng lớp lao động khác. Quân đội của giai cấp thống trị ở thuộc địa có nhiều hình thức tổ chức như: "binh lính người Pháp, người da đen, người các thuộc địa khác và người các dân tộc bản xứ... Ngoài lục quân ra, đế quốc Pháp lại đóng không quân và hải quân ở xứ Đông Dương"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.54). Tình cảnh của binh lính trăm bề khổ sở, tiền lương quá ít, không đủ sinh hoạt cá nhân. Ngoài công tác quân sự, binh lính còn phải làm việc ở nhà riêng của bọn quan, cai, đội. Binh lính là tôi tớ của quan binh, chúng có quyền đánh đập, bắt giam họ lúc nào cũng được, thậm chí ra đường quên chào quan cấp trên cũng bị phạt tội. Sau khi mô tả tình cảnh của binh lính, Nghị quyết điểm qua vai trò của binh lính năm 1908, 1916 ở Trung Kỳ, năm 1917 ở Thái Nguyên, tháng 2-1930 ở Yên Bái, năm 1934 ở Cáp Xanh Giắc (Vũng Tàu), v.v. và nhận định: "Binh lính... chỉ là con em của công nông mang lốt lính, binh lính là một hạng người rất khổ sở"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.56), nên Đảng phải ra sức tuyên truyền, lôi kéo họ sang phe cách mạng.


Nghị quyết nhận định: "Hiện thời thế giới đương đứng trước cửa thời kỳ cách mạng và chiến tranh mới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.57). Cho nên, trong công tác vận động quân đội, Đảng cần phải giải thích cho quần chúng lao động và binh lính tính chất các cuộc đấu tranh và thái độ của Đảng Cộng sản đối với các cuộc chiến tranh. Đối với chiến tranh cách mạng, tức là các cuộc chiến tranh của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc thì Đảng "hết sức ủng hộ các cuộc chiến tranh ấy. Như đế quốc Pháp đem binh lính Đông Dương đi dẹp các cuộc chiến tranh ấy thì Đảng ta phải ra khẩu hiệu liên ái với binh lính cách mạng, đưa súng ống mình đường cầm trong tay trở lại giúp dân tộc bị áp bức đánh đổ đế quốc"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.57). Lúc đế quốc Pháp đem binh lính Đông Dường đi đánh một nước đế quốc khác thì binh lính phải ngả sang phe vô sản nước ấy để "biến đổi đế quốc chiến tranh thành cách mạng nội chiến"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.58). Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ thường trực của Đảng là phải dùng các phương pháp cổ động, tuyên truyền, tổ chức để gây mối cảm tình của binh lính đối với công nông, để họ ủng hộ công nông trong các cuộc tranh đấu, để đến lúc tổ chức võ trang bạo động chống đế quốc Pháp thì binh lính người bản xứ và người ngoại quốc đóng ở Đông Dương ngả sang phe cách mạng, hoặc ít ra là "giữ địa vị trung lập, cảm tình với công nông"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.58). Về thái độ của Đảng đối với quân đội đế quốc ở Đông Dương, Nghị quyết nêu rõ: "Đảng Đại hội công nhận rằng các thứ quân đội của đế quốc Pháp ở Đông Dương là khí cụ bị lợi dụng đề đàn áp công nông, nên nhiệm vụ của Đảng là phá hoại quân đội ấy, làm cho nó bị tan rã từ trong hàng ngũ ra"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.58).


Từ quan điểm đó, Nghị quyết nêu nhiệm vụ cần kíp để thực hiện là ở những nơi quân đội đóng, thì các "đảng bộ ở đấy phải lập ra một ban quân ủy chuyên môn công tác quân đội"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.60). Phải liên lạc công tác vận động quân sự với công tác chống chiến tranh đế quốc; liên lạc các cuộc đấu tranh của binh lính với cuộc vận động cách mạng của công nông. Công nông phải ủng hộ các cuộc đấu tranh của binh lính. Mặt khác, Đảng cần xuất bản các tài liệu tuyên truyền hướng về vận động binh lính trong hàng ngũ địch, các quân ủy phải xuất bản tài liệu, báo chí nói tới tình hình sinh hoạt cũng như kinh nghiệm đấu tranh của binh lính. Nghị quyết còn nêu rõ: Đảng không chủ trương kêu gọi quần chúng lao động vào quân đội đế quốc, nhưng Đảng chủ trương đem những người có tư tưởng cách mạng, có giác ngộ giai cấp vào quân đội đế quốc, trước là để học lấy kỹ thuật sử dụng khí giới, sau là để "huấn luyện và tổ chức binh lính theo hành động cách mạng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.59). Đảng cho rằng, phương pháp duy nhất chống chiến tranh đế quốc chỉ là hành động cách mạng của quảng đại quần chúng lao động, là sự liên ái binh lính với công nông. "Đảng phải chống những xu hướng "hòa bình chủ nghĩa", lý thuyết bênh vực "tổ quốc" tư sản, vì đấy chỉ là những mưu mô giai cấp thỏa hiệp, làm cho quần chúng quên lãng con đường cách mạng tranh đấu"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.59).


Sau khi phê phán các quan điểm lệch lạc như: "hiện thời chưa nên làm việc trong quân đội, vì nếu binh lính mà có tổ chức thì không tài nào tránh khỏi những cuộc manh động lưu huyết"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.59); "Đảng mà không có quân đội riêng, không có súng ống, tạc đạn riêng thì không thể vận động quần chúng làm cách mạng được"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.59-60); "Khi nào có chiến tranh, thì một phương diện dụ binh lính đừng đi đánh, một phương diện kéo quần chúng làm tổng bãi công thì đủ ngăn trở cuộc đế quốc chiến tranh"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.60), Đảng cho rằng những quan điểm đó là những ảo tưởng, không căn cứ vào giai cấp tranh đấu.


Nghị quyết về vận động binh lính khẳng định phương pháp đấu tranh cách mạng trong tình hình mới, nhấn mạnh rằng: tổng bãi công là một hình thức có hiệu quả trong cuộc chống chiến tranh đế quốc. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng lưu ý không phải muốn tổ chức tổng bãi công là thực hiện được ngay và đủ để ngăn trở được chiến tranh đế quốc. Vấn đề tổ chức tổng bãi công phải căn cứ vào trình độ đấu tranh cách mạng của quần chúng toàn quốc, bởi vì, đã tổ chức được tổng bãi công thì "phải dự bị làm võ trang bạo động"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.60) để biến các cuộc chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Để giành được thắng lợi trong đấu tranh, gắn liền với việc tố chức, phát triển lực lượng cách mạng, phải ra sức hoạt động phá hoại quân đội địch, "làm cho nó bị tan rã từ trong hàng ngũ ra"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.58), lôi kéo binh lính đối phương sang phe cách mạng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #62 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2021, 07:49:11 pm »

2. Phải dùng hết, kéo hết các lực lượng phản đế vào cuộc vận động giải phóng dân tộc

Quan điểm tập hợp mọi lực lượng phản đế vào cuộc vận động giải phóng dân tộc được phản ánh tập trung trong Nghị quyết về công tác phản đế liên minh và Tuyên ngôn của đại biểu Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương. Để làm rõ quan điểm này, Nghị quyết về công tác phản đế liên minh giải thích rằng, xứ Đông Dương là thuộc địa của đế quốc Pháp đang duy trì quan hệ phong kiến, nên cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương có hai nhiệm vụ quan hệ mật thiết với nhau, đó là cách mạng phản đế và cách mạng điền địa. Cuộc cách mạng phản đế tuy có mục đích là đem lại độc lập cho xứ Đông Dương, nhưng không phải toàn thể nhân dân Đông Dương đều có thể vào Mặt trận phản đế; bởi vì, dưới ách thống trị thực dân "nhân dân bản xứ đã chia làm hai phe chống chọi nhau: một phe là đồng minh của đế quốc Pháp, một phe là động lực chống đế quốc Pháp và chống các giai cấp bóc lột bản xứ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.82). Động lực cách mạng chính ở Đông Dương là thợ thuyền, nông dân lao động và dân nghèo thành thị. Giai cấp vô sản là giai cấp "có đầy năng lực cách mạng triệt để"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.83) nên là giai cấp cầm quyền lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương. Nhận định về lực lượng phản đế ở Đông Dương, Nghị quyết viết: "Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Cứu tế đỏ, Thanh niên Cộng sản Đoàn, v.v. do Đảng chỉ huy, chẳng những chỉ làm nhiệm vụ riêng của họ mà còn thực hiện công tác phản đế nữa"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.84). Bên cạnh lực lượng phản đế do Đảng lãnh đạo, ở Đông Dương còn có những đoàn thể quốc gia cách mạng, những phần tử cách mạng lẻ tẻ. Nói tóm lại, lực lượng phản đế ở Đông Dương "không phải là ít, nhưng vì lẻ tẻ, rời rạc, không có tổ chức thống nhất"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.85), nên năng lực phản đế chưa phát huy cao trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.


Từ nhận định đó, Đại hội Đảng nêu rõ quan điểm "Đảng Cộng sản phải dùng hết, kéo hết các lực lượng phản đế ở xứ Đông Dương ra mưu cuộc vận động dân tộc giải phóng"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.85).


Để quan điểm đó đi vào thực tiễn, Nghị quyết về công tác phản đế liên minh đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện. Đó là không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tôn giáo, xu hướng chính trị, đảng phái, hễ ai có tinh thần yêu nước đều có thể vào Mặt trận phản đế. Hình thức Mặt trận phản đế phải tùy theo điều kiện mà định ra. Đối với những quần chúng phản đế trong các đảng phái, đoàn thể cải lương thì phải tổ chức Mặt trận thống nhất bên dưới, nghĩa là tẩy chay những người cầm đầu; đối với các đoàn thể tiểu tư sản thì có thể tổ chức Mặt trận thống nhất bên dưới (với quần chúng) và bên trên (với những người đứng đầu). Đảng Cộng sản là đảng nắm quyền tổ chức và lãnh đạo Mặt trận thống nhất phản đế.


Nghị quyết nêu ra các nhiệm vụ cần kíp phải làm ngay: Thứ nhất, chọn một số đảng viên và đoàn viên chuyên môn công tác phản đế liên minh, lập tức tổ chức ra Hội phản đế liên minh ở những nơi có cơ sở đảng trong các hội quần chúng theo Điều lệ Đông Dương phản đế liên minh. Các đảng viên phải vào Hội phản đế, giải thích cho các hội viên trong các đoàn thể cách mạng do Đảng lãnh đạo vào Phản đế liên minh. Tìm phương pháp mở rộng hàng ngũ Phản đế liên minh cho những đảng phái tiểu tư sản, chuẩn bị điều kiện để mau thống nhất Phản đế liên minh tới toàn Đông Dương. Thứ hai, tổ chức khắp toàn xứ Đông Dương những cuộc vận động chống đế quốc Pháp, chống khủng bố trắng, chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ cách mạng vận động trong xứ và trên thế giới. Mỗi lần đấu tranh phải ra sức lôi kéo các đảng phái, các cá nhân có tinh thần phản đế mà tổ chức ra Mặt trận thống nhất phản đế. Phản đế liên minh hoạt động độc lập, nhưng phải củng cố địa vị chỉ đạo của Đảng Cộng sản về phương diện chính trị. Thứ ba, ra báo chí và tài liệu riêng cho Phản đế liên minh để mở rộng tuyên truyền, phổ biến kinh nghiệm các cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương và các nước trên thế giới cho quảng đại quần chúng. Sau cùng, Nghị quyết nhấn mạnh: "Đảng Đại hội xét rằng hiện thời vận động cách mạng phát triển mỗi ngày một cao, một rộng thêm, nên Đảng phải hết sức tổ chức Phản đế liên minh, mở rộng cuộc vận động dân tộc giải phóng, khuyếch trương cao trào cách mạng điền địa để mau mau tới ngày cách mạng được hoàn toàn thắng lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.89).


Nhằm giải thích rõ thêm quan điểm của Đảng về "dùng hết, kéo hết" các lực lượng phản đế vào công cuộc vận động giải phóng dân tộc, Tuyên ngôn của đại biểu Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương nêu rõ: Những nỗi thống khổ của dân chúng lao động Đông Dương đều là kết quả độc ác của chế độ thuộc địa đế quốc Pháp. Do đó, chỉ có lật đổ đế quốc Pháp, đập tan chế độ người bóc lột người mới thoát khỏi ách nô lệ. "Không có thần thánh nào giúp ta giải phóng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.171), chỉ có đấu tranh, chỉ có lực lượng đoàn kết của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản mới tự mưu cầu được sự giải phóng cho chúng ta. Tuyên ngôn nhấn mạnh: "Chúng ta cần nhớ rằng chỉ có võ lực, dùng võ trang bạo động là hình thức tối cao của giai cấp tranh đấu mới có thể đánh tan được ách cường quyền. Con đường giai cấp tranh đấu là con đường vẻ vang mà anh chị em đeo đuổi hơn mười mấy năm nay, nhất là trong phong trào cách mạng năm 1930 - 1931, thất bại tuy có, nhưng thắng lợi không phải là ít. Những sự thắng lợi và thất bại đây chứng minh cho chúng ta hay rằng cuộc giai cấp tranh đấu phải có tổ chức, dũng cảm, cương quyết, phải có đa số quần chúng lao động tham gia mới thành công"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.171). Sau cùng, Tuyên ngôn kêu gọi anh chị em công nông binh và các tầng lớp lao động hãy thảo luận và hăng hái thực hiện chủ trương của Đảng Cộng sản về công tác phản đế liên minh, kéo hết quần chúng "làm cách mạng phản đế và điền địa cho triệt để đặng mưu cho Đông Dương hoàn toàn độc lập"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.172).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #63 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2021, 07:29:13 pm »

3. Xây dựng lực lượng tự vệ mạnh, rộng khắp để thực hiện các nhiệm vụ Đảng giao phó, tạo điều kiện thuận lợi để về sau tổ chức du kích chiến tranh, võ trang bạo động và xây dựng quân đội

Vấn đề tổ chức lực lượng tự vệ đã được Đảng đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong nhiều nghị quyết của Đảng ở những năm 1930-1934. Do tầm quan trọng của việc tổ chức, phát triển lực lượng vũ trang cơ sở, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng đã ra Nghị quyết riêng về Đội Tự vệ, nêu một cách hệ thống các nội dung xây dựng và phát triển Đội Tự vệ.


Tổng kết phong trào cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nghị quyết về Đội Tự vệ chỉ ra rằng, hễ cuộc cách mạng vận động ngày càng cao, thì kẻ thù càng khủng bố trắng dữ dội. Để đương đầu với khủng bố của địch, Đảng phải ra sức vận động, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng cho quần chúng, lấy lực lượng của mình mà tranh đấu, lấy sức mạnh của nhân dân mà chống khủng bố. Trong quá trình đấu tranh, Đảng không tán thành ám sát cá nhân. Đảng phản đối chủ trương của các "đảng phái quốc gia" thực hành ám sát cá nhân kẻ thù để hộ vệ mình và cho rằng phương sách tiểu tư sản đó đã không có kết quả tốt lại có hại cho đoàn thể cách mạng và quần chúng. Nghị quyết nêu rõ rằng, trong lúc đối đầu với khủng bố trắng thì việc hộ vệ cho quần chúng hằng ngày cũng như trong các cuộc tranh đấu là vấn đề cần thiết quan trọng. Bởi vậy, Đảng chủ trương tổ chức tự vệ đội của công nông. Do làn sóng cách mạng mới đã tràn khắp Đông Dương, nên "vấn đề tự vệ đội là một vấn đề hiện tại cần phải giải quyết ngay"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.91), hướng theo ánh sáng của kinh nghiệm cách mạng vận động trong xứ Đông Dương và toàn thế giới.


Từ việc đúc kết tình hình thực tiễn thời kỳ đó, Nghị quyết về Đội Tự vệ xác định mục đích tổ chức Công nông cách mạng Tự vệ đội nhằm: "a) Ủng hộ quần chúng hằng ngày; b) Ủng hộ quần chúng trong các cuộc tranh đấu; c) ủng hộ các cơ quan cách mạng và chiến sĩ cách mạng của công nông; d) Quân sự huấn luyện cho lao động cách mạng. Chống quân thù giai cấp tấn công và làm cho vận động cách mạng phát triển thắng lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.91). Nghị quyết giải thích Công nông Tự vệ đội là lực lượng vũ trang quần chúng cơ sở, khác với đội du kích và Hồng quân. Hồng quân tức là bộ đội chủ lực. Hồng quân và Du kích đội không phải muốn tổ chức thì tổ chức được ngay, còn Đội Tự vệ thì trái lại, hễ có vận động cách mạng, thì dù yếu mấy cũng có thể tổ chức được. Nghị quyết nhấn mạnh: Tự vệ đội càng mạnh thì không những thực hiện tốt mọi nhiệm vụ Đảng giao lúc đó mà còn "có điều kiện thuận tiện để sau này tổ chức du kích chiến tranh, võ trang bạo động, Hồng quân"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.92).


Để thống nhất tư tưởng và quyết tâm xây dựng Tự vệ đội trong thực tiễn, Nghị quyết phê phán các quan điểm sai lầm nói rằng "tổ chức Tự vệ đội chỉ tạm thời trong các cuộc đấu tranh, rồi giải tán sau cuộc tranh đấu". Quan điểm đó sai, vì Đội Tự vệ chẳng những phải bảo vệ quần chúng hằng ngày mà còn cần phải luyện tập, chứ để đến lúc đấu tranh mới tổ chức Đội Tự vệ thì chậm trễ; khi đã chậm thì chưa được luyện tập nên hành động không thống nhất, kế hoạch không tinh tường, nhiệm vụ không thấu rõ, kỷ luật không nghiêm chỉnh. Còn quan điểm cho rằng "chỉ tổ chức Tự vệ đội thường trực mà không kéo thêm quần chúng tham gia" thì cũng là sai nữa. Bởi vì, Đội Tự vệ không được quần chúng tham gia, ủng hộ tinh thần, vật chất thì không thể tồn tại và phát triển. Do đó, trong việc tổ chức tự vệ, một mặt phải tổ chức các đội thường trực, có thao luyện, biết mình, biết quân thù, chỉ huy linh hoạt, hằng ngày bảo vệ quần chúng, nhất là trong các cuộc đấu tranh; mặt khác, phải lấy thêm một bộ phần quần chúng để tổ chức lực lượng tự vệ không thường trực; bộ phận này sau đấu tranh sẽ hết vai trò tự vệ, chỉ những người cương quyết, hăng hái mới được tuyển vào Đội Tự vệ thường trực để tiếp tục luyện tập, bảo vệ quần chúng đấu tranh cách mạng. Nghị quyết còn giải thích mối quan hệ giữa con người và vũ khí, nêu rõ nhân tố con người là quyết định, trang bị vũ khí cũng rất quan trọng. Nếu nói rằng "tuyệt nhiên không cần binh khí" thì sai, phải có binh khí ít nhiều, càng nhiều càng tốt để thao luyện, để lúc cần thiết xung đột với quân thù có điều kiện thuận lợi bảo vệ tính mạng của quần chúng, giữ gìn cơ quan cách mạng, hộ vệ cuộc đấu tranh cách mạng.


Nghị quyết về Đội Tự vệ đề ra những nguyên tắc cơ bản xây dựng Đội Tự vệ. Về chính trị, Nghị quyết xác định bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của Đội Tự vệ. Đây là một tổ chức có "tính chất bán quân sự"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.95) của quần chúng lao động, chủ yếu là công nông, do Đảng Cộng sản tổ chức, lãnh đạo. Thành phần Đội Tự vệ là những người nhiệt thành, cương quyết, bao gồm gái và trai, không phân biệt dân tộc nào, từ 18 tuổi trở lên đều có thể được tham gia. Nghị quyết nhấn mạnh: Công nông cách mạng Tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương Quân ủy của Đảng Cộng sản, phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong Tự vệ thường trực, phải giữ vững tính chất cách mạng của Đội Tự vệ. Nghị quyết lưu ý rằng, các đảng bộ phải đem đảng viên và đoàn viên cương quyết nhất vào tự vệ và các cấp bộ chỉ huy của tự vệ, nhưng như thế "không phải là không cho những hội viên thường hăng hái dự cuộc chỉ huy tự vệ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.95). Nghị quyết xác định cơ chế lãnh đạo chỉ huy: "Các đội trưởng và đảng đại biểu phải hợp tác mà chỉ huy. Sự hành động hằng ngày thì phục tùng đảng bộ tương đương. Sự hành động quần sự chung thì phục tùng thượng cấp tự vệ và quân ủy tương đương của Đảng. Đội trưởng và đại biểu đảng có bất đồng ý kiến thì do đảng ủy tương đương hay do thượng cấp quân ủy giải quyết"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.95).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #64 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2021, 07:29:57 pm »

Nghị quyết đề ra nguyên tắc xây dựng kỷ luật và dân chủ nội bộ trong Đội Tự vệ: dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng; về kỷ luật của Đội Tự vệ, tuy "không phải là kỷ luật nhà binh, nhưng cũng nghiêm khắc"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.95); không thỏa hiệp với tính lười biếng và bất tuân mệnh lệnh cấp trên; thực hiện dân chủ quân sự; đội viên có quyền thảo luận rộng rãi những vấn đề thuộc về ủng hộ vận động cách mạng, nhưng lúc đã có quyết định hành động thì phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh; phải giữ bí mật.


Gắn liền với việc xác định những nguyên tắc xây dựng Đội Tự vệ về mặt chính trị, dân chủ và kỷ luật nội bộ, Nghị quyết cũng xác định những vấn đề cơ bản về tổ chức, biên chế, huấn luyện cho Đội Tự vệ.


Về tổ chức Tự vệ thường trực, Nghị quyết chủ trương lấy xí nghiệp hoặc làng, xã làm cơ sở tổ chức, về biên chế: Từ năm người đến chín người tổ chức thành một tiểu đội, mỗi tiểu đội có một người đội trưởng chỉ huy, tiểu đội lớn thì có một chánh, một phó đội trưởng. Ba tiểu đội tổ chức thành một trung đội. Trung đội có một người chánh, một người phó trung đội trưởng và một người đại biểu của Đảng Cộng sản chỉ huy. Ba trung đội tổ chức thành một đại đội. Đại đội có một chánh, một phó đại đội trưởng và một người của Đảng Cộng sản chỉ huy. Cứ theo phép "tam tam chế" mà tổ chức lên tiểu đoàn, trung đoàn,... Tùy theo lực lượng phát triển của Đảng, của Thanh niên Cộng sản Đoàn, của các hội quần chúng mà định ra trong mỗi xí nghiệp, mỗi làng hay mỗi xã tổ chức bao nhiêu tiểu đội, trung đội; lại phải căn cứ vào khu vực "mà hiệp công nông Tự vệ đội" để tiện cho việc chỉ huy diễn tập.


Về huấn luyện quân sự, Nghị quyết nhấn mạnh việc huấn luyện quân sự cho đồng chí, cho các Đội Tự vệ công nông biết dùng các thứ binh khí thông thường như súng lục, liên thanh, tạc đạn; biết chiến thuật tác chiến trong thành phố, chiến thuật du kích chiến tranh. Huấn luyện cho Đội Tự vệ biết chức trách chính trị của mình. Đối với quần chúng, nếu có hoàn cảnh thuận lợi thì huấn luyện cho họ tập đi đứng trong hàng ngũ, tập cách thức tránh máy bay, tránh tạc đạn, liên thanh... Nghị quyết kiên quyết phê phán xu hướng manh động, xu hướng chỉ lo làm súng, lựu đạn mà quên công tác hằng ngày trong quần chúng lao động. Nghị quyết lưu ý rằng, nhiệm vụ huấn luyện quân sự là rất quan trọng, "nhưng phải chú trọng hơn hết là thâu phục quần chúng theo ảnh hưởng cộng sản"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.94).


Để xây dựng lực lượng tự vệ thường trực mạnh, rộng khắp nhằm thực hiện các nhiệm vụ Đảng giao phó, Nghị quyết về Đội Tự vệ đề ra những nhiệm vụ cần kíp. Đó là: Thứ nhất, tổ chức các Đội Tự vệ mang bản chất cách mạng của Đảng ở khắp nơi. Thực hiện khẩu hiệu "Không có một sản nghiệp nào, một làng nào có cơ sở của Đảng, của Đoàn, của các hội quần chúng cách mạng mà không có tổ chức Đội Tự vệ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.96). Mỗi cấp bộ của Đảng phải cử người chuyên môn lo việc tổ chức Đội Tự vệ cách mạng của công nông theo chủ trương của Đảng; "Phản đối, trừ tuyệt hết thảy những tư tưởng và hành động sai lầm từ trước đến nay"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.96) đối với vấn đề về tự vệ. Thứ hai, từ Trung ương Chấp ủy đến mỗi Thành ủy, Tỉnh ủy phải tổ chức ngay Quân ủy. Quân ủy "một bộ phận thì lo quân đội vận động, một bộ phận thì lo tổ chức và chỉ huy Đội Tự vệ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.96). Thứ ba, Đội Tự vệ tổ chức và phát triển phải có quan hệ mật thiết với quần chúng. Hằng ngày, tự vệ phải chăm lo tranh đấu, ngăn cản kẻ thù nhũng nhiễu công nhân, nông dân. Đội Tự vệ phải hết sức ủng hộ quần chúng lao động trong các cuộc bãi công, mít tinh, biểu tình, kháng sưu, kháng thuế, bãi thị.., nâng cao tinh thần đấu tranh của quần chúng. Nghị quyết nhấn mạnh: "ủng hộ quần chúng cách mạng là trường học của Tự vệ đội để chuẩn bị những điều kiện cần thiết sau này sẽ hoàn thành những bộ phận tiên tiến chỉ huy trong các du kích đội, trong cuộc võ trang bạo động cướp chính quyền, trong Hồng quân của Nhà nước Xôviết công nông"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.5, tr.96). Nghị quyết về Đội Tự vệ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang. Lần đầu tiên, những nguyên tắc xây dựng lực lượng nửa vũ trang về mặt chính trị cũng như quân sự được đề ra cơ bản và hệ thống. Những nguyên tắc đó thể hiện rõ quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng và quan điểm thực tiễn của Đảng trong việc xây dựng lực lượng tự vệ.


Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (3-1935) đã ra nhiều nghị quyết về quân sự. Những quan điểm quân sự được phản ánh trong Nghị quyết về vận động binh lính, Nghị quyết về công tác phản đế liên minh, Nghị quyết về Đội Tự vệ là cơ sở tư tưởng lý luận soi sáng cho hoạt động thực tiễn trong thời kỳ vận động cách mạng dân tộc, dân chủ và công tác tuyên truyền vận động binh lính đối phương trong các thời kỳ chiến tranh cách mạng sau này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #65 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2021, 07:31:47 pm »

IV- CÁC QUAN ĐIỂM QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1936-1939

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng là một thành tích lịch sử, kịp thời, như đón đầu vừa sát nút những khả năng phát triển mới1 (Xem Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Sđd, t.3, tr.293). Sau đại hội, căn cứ vào tình hình quốc tế và trong nước, Đảng triệu tập nhiều hội nghị, thông qua nhiều nghị quyết, trong đó có những nghị quyết về quân sự, nêu các quan điểm quân sự cơ bản của Đảng trong thời kỳ lịch sử mới.


1. Nhận rõ kẻ thù nguy hiểm nhất để tập trung lực lượng vào đó mà đánh

Ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích lũy, việc tranh giành thuộc địa ngày càng gay gắt, những cuộc xung đột chính trị ngày càng trở nên không thể tránh khỏi, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn sẽ bùng nổ. Dự đoán ấy đã trở thành sự thật. Năm 1932, Nhật Bản bất ngờ đem quân chiếm miền Đông Bắc Trung Quốc, một lò lửa chiến tranh xuất hiện ở châu Á - Thái Bình Dương. Năm 1933, Đảng Quốc xã lên nắm quyền ở Đức, một lò lửa chiến tranh cực kỳ nguy hiểm xuất hiện ở trung tâm châu Âu. Năm 1935, phát xít Ý đánh chiếm Êtiôpia. Nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mói do bọn phát xít gây ra đang đến gần.


Trước tình hình nóng bỏng đó, tháng 7-1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản được triệu tập, họp ở Mátxcơva (Liên Xô), gồm 65 đoàn đại biểu các Đảng Cộng sản tham dự, trong đó có Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương, do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu. Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản thảo luận tình hình và xác định kẻ thù của nhân dân thế giới lúc này không phải là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc nói chung, mà là chủ nghĩa phát xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp vô sản quốc tế là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh phản cách mạng, giành dân chủ và bảo vệ hòa bình. Tại Đại hội, thay mặt Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí Lê Hồng Phong đọc tham luận về phong trào cách mạng Đông Dương từ năm 1930 đến năm 1935, nêu rõ triển vọng cách mạng Đông Dương có nhiều khả năng rộng lớn hơn để thực hiện Mặt trận nhân dân phản đế của tất cả các dân tộc Đông Dương chống kẻ thù chung là đế quốc Pháp.


Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản, các Đảng Cộng sản ra sức phấn đấu thực hiện Mặt trận nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít. Trong bối cảnh đó, Mặt trận nhân dân Pháp được thành lập. Sau khi được thành lập, Mặt trận nhân dân Pháp có ba quyết định liên quan đến phong trào nhân dân Đông Dương nói chung, phong trào công nhân nói riêng, đó là: thứ nhất, thả hàng ngàn chính trị phạm; thứ hai, lập Ủy ban nghị viện điều tra tình hình Đông Dương và Bắc Phi; thứ ba, thi hành một số cải cách xã hội cho người lao động.


Những quyết định đó của Mặt trận nhân dân Pháp cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa. Các nước ở Đông Dương đứng trước tình hình khá thuận lợi, song chưa phải đã nằm trong tình thế cách mạng. Bởi vì, kẻ nắm quyền thống trị Đông Dương vẫn là thực dân Pháp. Chúng là những kẻ đại diện cho giới tư bản tài chính, là bọn phát xít ở thuộc địa. Trên thực tế, chúng vẫn dùng mọi thủ đoạn vu cáo cách mạng Đông Dương, khuyến khích các thế lực phản động gây sức ép đòi Chính phủ Pháp kìm hãm phong trào đấu tranh của nhân dân các nước Đông Dương và sẵn sàng đàn áp phong trào cách mạng khi tình hình chính trị thay đổi. Vì vậy, triển vọng cách mạng ở Đông Dương chính là do ý chí và khả năng đấu tranh của nhân dân Đông Dương quyết định. Cách mạng Đông Dương cần triệt để khai thác những điều kiện thuận lợi từ tình hình chính trị đang diễn ra ở nước Pháp, phát động nhân dân đứng lên đấu tranh đẩy lùi những thủ đoạn thâm độc và chính sách phản động của chính quyền thực dân ở thuộc địa, tiến lên một cao trào cách mạng mới.


Trong bối cảnh đó, tháng 7-1936, đồng chí Lê Hồng Phong triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị được trình bày cụ thể trong tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới1 (Tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới được công bố ngày 30-10-1936).


Tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới nêu rõ rằng, theo đúng chiến lược của Quốc tế Cộng sản thì chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương là phải làm cách mạng tư sản dân quyền, tức là phản đế và điền địa, lập chính quyền công nông bằng hình thức Xôviết, dự bị các điều kiện để đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để đạt mục tiêu chiến lược đó thì phải có chính sách đúng. Nay do tình hình Đông Dương và tình hình thế giới thay đổi, căn cứ vào chính sách mới của Quốc tế Cộng sản là chính sách Mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản chống phát xít và chiến tranh, nên Đảng Cộng sản Đông Dương sửa đổi chính sách của mình theo đúng điều kiện xứ Đông Dương như vấn đề lập Mặt trận nhân dân phản đế, vấn đề sửa đổi cách tổ chức quần chúng... Tài liệu khẳng định: "Cần nhắc lại rằng chiến lược của Đảng không thay đổi, còn chiến sách là một thứ mưu kế để hoạt động cần phải sửa đổi luôn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.140). Căn cứ trình độ và lực lượng giai cấp hiện thời, Đảng phân tích rõ ràng ai là người bạn đi đường với mình, ai là đồng minh, ai là người mình nương dựa. Sau khi phân tích bạn thù của cách mạng, tài liệu nêu rõ quan điểm của Đảng: "Đảng cũng không tuyên chiến kịch liệt với các hạng địch nhân trong một lúc nhất định. Chiến sách của Đảng là nhận rõ ai là kẻ địch nhân nguy hiểm nhất trong lúc hiện thời nhất định sẽ tập trung ngọn lửa vào đó mà đánh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.141).


Để cho đảng viên của Đảng và quần chúng hiểu rõ quan điểm của Đảng, tài liệu giải thích: Hiện thời ở Đông Dương đế quốc Pháp là kẻ áp bức dân tộc, bóc lột quần chúng, là kẻ địch của nhân dân Đông Dương. Vì kinh tế khủng hoảng nên đế quốc Pháp càng tăng thêm bóc lột nhân dân ở thuộc địa để bù đắp vào sự thua thiệt của đại tư bản Pháp, khiến cho lòng tức giận của quần chúng càng nhiều, mâu thuẫn giữa tư bản bản xứ với tư bản chính quốc ngày càng biểu lộ sâu sắc. Bọn đế quốc phản động ở Đông Dương "là bọn tay chân của phát xít, chúng ủng hộ và bồi dưỡng lực lượng phát xít"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.142) để củng cố địa vị thống trị và làm hậu thuẫn cho phát xít ở Pháp, nên chúng tăng cường đàn áp nhân dân Đông Dương. Vì vậy, "đứng về phương diện dân tộc bị áp bức, phương diện giai cấp bị bóc lột, ai cũng công nhận đế quốc Pháp là kẻ thù địch chính của nhân dân Đông Dương"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.142).


Đấu tranh chống đế quốc là nhiệm vụ chung của nhân dân Đông Dương. Nhưng tình hình vận động quần chúng cả về chính trị lẫn tổ chức thì chưa tới trình độ trực tiếp đánh đổ đế quốc Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa. Cho nên nhiệm vụ đặt ra là lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị, các tôn giáo, các dân tộc ở Đông Dương để cùng nhau đấu tranh đòi những điều dân chủ như: tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do đi lại, ân xá hết chính trị phạm, mở rộng các cơ quan kinh tế, tài chính, hội đồng quản hạt, các viện dân biểu, v.v...


Tài liệu lưu ý: "Đảng nhắc lại cho các đảng viên biết rằng một dân tộc bị áp bức như xứ Đông Dương vấn đề dân tộc giải phóng là một nhiệm vụ quan trọng của người cộng sản"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.147). Đảng bồi dưỡng tinh thần giải phóng dân tộc trong quần chúng bị áp bức không trái với nguyên tắc dân tộc tự quyết của Quốc tế Cộng sản, không trái với quyền lợi của giai cấp vô sản, nghĩa là "cuộc dân tộc giải phóng theo nguyên tắc bình đẳng, theo tinh thần quốc tế liên ái với các dân tộc bị áp bức, với vô sản thế giới và với nhân dân những xứ cách mạng đã thành công..., chống sự ghen ghét về nòi giống, cừu thù về chủng tộc hẹp hòi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.147). Tài liệu nhấn mạnh: "Chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương không phải là chống người Pháp, mà chỉ chống đế quốc Pháp"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.149). Do đó, lúc tranh đấu để đòi những điều dân chủ, không những chúng ta quan hệ mật thiết với giai cấp vô sản và quần chúng lao động mà còn phải liên lạc với "các phái khác, các cá nhân và chi bộ của Mặt trận nhân dân Pháp ở Đông Dương"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.149) để chống bọn cầm quyền thuộc địa phản động, bọn tay chân phát xít ở Đông Dương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #66 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2021, 07:32:35 pm »

Về quan hệ của Mặt trận nhân dân với cuộc vận động giải phóng dân tộc, tài liệu khẳng định: "Mặt trận nhân dân phản đế là cuộc liên hợp hết các giai cấp trong toàn dân tộc bị áp bức đặng tranh đấu đòi những quyền lợi hằng ngày cho toàn dân, chống chế độ thuộc địa vô nhân đạo, để dự bị điều kiện cho cuộc vận động dân tộc giải phóng được phát triển... Đồng thời, Mặt trận nhân dân có thể là cuộc vũ trang tranh đấu dân tộc giải phóng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.151). Để các cấp bộ Đảng và đảng viên hiểu rõ quan điểm của Đảng, tài liệu giải thích: Nhiệm vụ cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương là đuổi đế quốc Pháp ra khỏi xứ, tẩy sạch tàn tích phong kiến, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Chiến lược ấy không bao giờ thay đổi. Do hoàn cảnh hiện thực bắt buộc, nếu việc tranh đấu chống đế quốc là cần kíp cho lúc hiện thời, còn vấn đề giải quyết điền địa tuy quan trọng nhưng chưa phải trực tiếp bắt buộc thì có thể trước đánh đổ đế quốc rồi sau giải quyết vấn đề điền địa, nhưng cũng có khi vấn đề kia làm xong mục đích của cuộc vận động, nghĩa là cuộc phản đế phát triển đến trình độ võ trang tranh đấu kịch liệt, vì muốn tăng thêm lực lượng đấu tranh chống đế quốc cần phải phát triển cuộc cách mạng điển địa. Nói tóm lại, "nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải quyết trước. Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.152).


Bên cạnh việc ra nghị quyết, Hội nghị còn thông qua Chỉ thị gửi các tổ chức của Đảng. Chỉ thị nêu rõ: "Ban Trung ương, sau khi nghiên cứu những điều kiện chủ quan và khách quan ở Đông Dương, đã đi đến kết luận rằng việc thành lập Mặt trận dân tộc phản đế không thể trì hoãn thêm một phút. Các tổ chức Đảng, mỗi một đồng chí phải hết sức chủ động thành lập Mặt trận dân tộc phản đế... Ban Trung ương nhắc nhở tất cả các tổ chức Đảng là việc thành lập Mặt trận dân tộc phản đế không thể máy móc áp dụng các biện pháp và các hình thức như ở các nước khác... Mặt trận dân tộc phản đế phải trở thành tổ chức công khai nhất của đông đảo quần chúng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.80-81). Chỉ thị còn lưu ý các tổ chức Đảng là trong khi lãnh đạo quần chúng tham gia Mặt trận dân tộc phản đế, phải luôn luôn hợp tác chặt chẽ với các đảng khác, không bao giờ được quên việc giáo dục quần chúng tinh thần chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, các tổ chức Đảng, các đảng viên phải giải thích cho quần chúng hiểu sự khác nhau giữa đường lối của Đảng ta và các đảng khác đế tăng thêm ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.


Nhằm tập hợp được các lực lượng vào mặt trận chống đế quốc, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương còn gửi thư ngỏ tới các đảng phái, các nhóm cải lương dân chủ, các hội ái hữu, các tổ chức quần chúng và toàn thể nhân dân Đông Dương kêu gọi mọi người chung sức, chung lòng để đấu tranh đòi tự do, hòa bình. Thư ngỏ viết: "Giờ đây chúng ta không thể ngồi yên để cho hàng triệu đồng bào chúng ta hy sinh tính mạng một cách vô ích như năm 1914 - 1918 nữa. Chúng ta cần có hòa bình và muốn có hòa bình, tất cả chúng ta phải đoàn kết nhau lại để thành lập Mặt trận bình dân Đông Dương chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh đế quốc, đòi hòa bình, đòi tự do, đòi cơm áo"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.104).


Hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936 đánh dấu sự chuyển biến của Đảng trong việc đánh giá khả năng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, chủ trương liên hiệp hết các giai cấp, tầng lớp trong toàn dân tộc nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt, "dự bị" cho cuộc vận động giải phóng dân tộc. Đó là sự trở về với tư tưởng đúng đắn của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng - Cương lĩnh năm 1930. Nghị quyết Hội nghị được cụ thể trong tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới và Chỉ thị gửi các tổ chức của Đảng đã xác định đúng phương hướng, mục tiêu, động lực và đổi tượng của cách mạng. Đó là những vấn đề chung của chiến lược, sách lược cách mạng, đồng thời đó cũng là nội dung quan trọng trong lĩnh vực quân sự.


Được Nghị quyết của Đảng soi sáng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Đông Dương bùng lên sôi nổi. Tháng 9-1936, trong tài liệu nhan đề "Đông Dương Đại hội", Đảng đã nêu rõ lập trường về Đông Dương Đại hội, kêu gọi các đảng phái, các tổ chức chính trị và toàn thể nhân dân Đông Dương vì lợi ích chung, đoàn kết thành lập mặt trận đấu tranh bảo vệ hòa bình, đòi các quyền tự do, dân chủ. Đảng chủ trương thành lập ngay các ủy ban hành động đế tập hợp quần chúng và lưu ý rằng: "nhiệm vụ của những người cộng sản Đông Dương không những sáng kiến hô hào cuộc triệu tập quốc dân Đại hội, mà chính là phải hiệu triệu quần chúng tổ chức Đông Dương Đại hội"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.113).


Đáp lại lời kêu gọi của Đảng, chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào nhân dân hưởng ứng Đông Dương Đại hội lan nhanh khắp trong Nam ngoài Bắc. Trước phong trào nhân dân lên cao và ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Đông Dương sâu rộng trong quần chúng, được Chính phủ Pháp dung túng, bọn phản động thuộc địa chuyển sang công khai đàn áp, kết hợp với chia rẽ và xoa dịu. Ngày 15-9-1936, chúng ra lệnh cấm tất cả các cuộc họp của nhân dân, bắt giam và xét xử những người đứng đầu các ủy ban hành động, tịch thu báo chí cổ động cho Đông Dương Đại hội. Đông Dương Đại hội bị chính quyền phản động thuộc địa cấm, nhưng không vì thế mà phong trào dân chủ giảm sút; trái lại, ngày càng dâng cao, đi sâu vào quần chúng. Chỉ tính trong sáu tháng cuối năm 1936, đã có 361 cuộc đấu tranh, trong đó có 236 cuộc đấu tranh của công nhân. Năm 1937, có 400 cuộc đấu tranh của công nhân. Nhiều cuộc đấu tranh có hàng ngàn công nhân tham gia, có cuộc lên tới 20.000 người tham gia, như cuộc đấu tranh của công nhân Uông Bí trong tháng 7-1937. Bên cạnh đó còn có hơn 150 cuộc đấu tranh của nông dân chống cướp ruộng đất, đòi giảm tô, giảm tức và nhiều cuộc đấu tranh của các tiểu thương ở các thành phố, thị xã, v.v... Năm 1938 có hàng trăm cuộc bãi công của công nhân và đấu tranh của nông dân. Các cuộc đấu tranh của quần chúng đều có tổ chức và lãnh đạo; các khẩu hiệu nêu ra chính xác và sát hợp nên tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia, tạo ra một sức mạnh to lớn làm cho bọn thực dân phản động thuộc địa vô cùng hoảng sợ. Những cuộc đấu tranh sôi nổi của các tầng lớp nhân dân trong những năm 1936 - 1938 là bước tập dượt lần thứ hai, tạo tiền để để sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khởi nghĩa toàn dân nổ ra ở thành thị và nông thôn, khắp nước Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #67 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2021, 07:33:53 pm »

2. Phòng thủ Đông Dương một cách chủ động, tích cực

Giữa lúc phong trào đấu tranh của nhân dân Đông Dương đang diễn ra sôi nổi thì tình hình thế giới có chuyển biến phức tạp. Sau khi phát xít Đức - Italia cùng phát xít Tây Ban Nha đánh đổ Chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha, thì năm 1937, Đức, Italia, Nhật ký hiệp ước liên minh quân sự. Năm 1938, phát xít Đức chiếm đóng Áo và Tiệp Khắc. Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc vô cùng sâu sắc, nhưng các chính phủ Anh, Pháp lại thi hành chính sách nhân nhượng, thỏa hiệp với bọn phát xít. Chính phủ Pháp ngày càng ngả về hữu. Giai cấp tư sản Pháp ráo riết chuẩn bị tiến công Đảng Cộng sản và quần chúng lao động. Đến cuối năm 1937, nhiều tổ chức phát xít ở Pháp xuất hiện, ở châu Á, phát xít Nhật đem quân đánh chiếm lục địa Trung Quốc, toan tính xâm lược Đông Dương và các nước khác.


Đứng trước tình hình nguy hiểm đó, cuối tháng 3-1938, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập hội nghị bàn nhiều vấn đề quan trọng, ra Nghị quyết về phòng thủ Đông Dương và vận động binh lính.


Trước hết, Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về phòng thủ Đông Dương và vận động binh lính khẳng định quan điểm của Đảng: "Đứng trước nạn phát xít và chiến tranh hăm dọa, người cộng sản chủ trương bênh vực chính thể dân chủ, chĩa hết mũi nhọn vào bọn phát xít, chống sự xâm lược của tụi phát xít. Đối với một cuộc Nhật sẽ tấn đánh Đông Dương dưới quyền cai trị của nước Pháp bình dân, Đảng ta chủ trương chống quân phát xít Nhật"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.366). Tiếp đó, Đảng nêu rõ, muốn đủ sức đối phó với phát xít Nhật phải để dân chúng Đông Dương được hưởng các quyền tự do, dân chủ, cải thiện sinh hoạt, đồng thời "phải vũ trang cho họ khi có cuộc xâm lược..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.366). Việc phòng thủ Đông Dương chống phát xít Nhật xâm lược là nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương. Nhưng lúc đó Đông Dương lại là thuộc địa của Pháp, nên việc phòng thủ Đông Dương có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến nêu ra: nếu phía Pháp không thực hiện các yêu cầu về dân sinh, dân chủ thì nhân dân Đông Dương không cùng với Pháp phòng thủ Đông Dương, vì sự phòng thủ ấy chỉ có lợi cho chủ nghĩa đế quốc Pháp. Có ý kiến lại cho rằng, nếu phát xít Nhật xâm lược Đông Dương thì nhân dân Đông Dương nhất định sẽ chống lại mà không cần đặt ra điều kiện nào. Đảng đã kịp thời phê phán ý kiến tiêu cực, thụ động và cho rằng: "Ta không nên đặt câu hỏi: "Nếu không được cải cách thì có đánh Nhật không?", vì như thế ta tự làm yếu phong trào đòi cải cách tự do đi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.366-367).


Quan điểm của Đảng là phòng thủ Đông Dương một cách chủ động, tích cực, nghĩa là Đảng lãnh đạo nhân dân chủ động đấu tranh buộc Pháp phải cùng nhân dân ta phòng thủ Đông Dương, phải thực hiện quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân. Nhân dân ta phải chủ động phòng thủ để bảo vệ quyền lợi dân tộc và tài sản, tính mạng của mình. Ta chủ trương tranh thủ những người Pháp dân chủ cùng nhân dân Đông Dương chống phát xít Nhật và bọn phản động thuộc địa Pháp. Dù họ có tán thành hay không, nhân dân Đông Dương vẫn chủ động phòng thủ Đông Dương một cách tích cực.


Còn việc vận động binh lính, Hội nghị nhắc lại: "Trước tình thế nghiêm trọng này vấn đề vận động binh lính đã trở nên vấn đề hiện tại khẩn cấp"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr. 367), về các phương pháp vận động và tổ chức binh lính, Hội nghị lưu ý các tổ chức Đảng là "các bản Nghị quyết cũ của Trung ương về vấn đề này" vẫn giữ nguyên giá trị và các đảng bộ phải nỗ lực đem thực hiện.


Để tập hợp lực lượng chống phát xít, tháng 6-1938, Đảng Cộng sản Đông Dương gửi bức thư công khai cho các đảng phái, nhận định rằng: Cuộc tuyển cử thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp đã đem lại cho ta nhiều cơ hội thuận tiện để lập Mặt trận thống nhất hành động với Mặt trận bình dân Pháp, chen vai thích cánh đấu tranh chống thế lực phản động, chống phát xít, chống chiến tranh xâm lược, đòi các quyền tự do dân chủ, đòi cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân. Tuy nhiên, do lực lượng đấu tranh của quần chúng còn yếu; mặt khác, vì mưu mô khiêu khích của bọn tờrốtxkít quyết phá hoại việc lập Mặt trận dân chủ thống nhất, vì bọn phản động hăm dọa, vì tính bị động của một số ít đảng phái không hiểu rõ tính chất của Chính phủ Blum, nên có một số ít đảng phái chưa nhận rõ sự cần thiết phải có sự thống nhất hành động giữa các đảng phái, các giai cấp trong toàn quốc để chống kẻ thù chung và các thế lực phản động ở thuộc địa. Chính vì thế mà nhiều cơ hội thuận lợi cho cuộc đấu tranh đòi những điều cải cách cao hơn bị bỏ qua. "Sự chia rẽ của chúng ta là sự thiệt hại cho quyền lợi chung của xứ sở và tất cả đồng bào"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.396). Bức thư nhấn mạnh: Cơ hội tuy đã bỏ qua, song nhiệm vụ lịch sử và phương pháp đấu tranh để thực hiện các quyền tự do dân chủ và các điều cải cách tiến bộ cho xứ sở, cho đồng bào thì vẫn còn có, không thể vì cớ gì mà phải sửa đổi hoặc bỏ nó đi. Chúng ta yêu chuộng tự do, chống phản động, chống những lý thuyết viển vông. Chúng ta cho rằng, các quyền tự do dân chủ và sự cải thiện đời sống cho dân chúng là cần thiết và khí cụ sắc bén để thực hiện những yêu cầu cần kíp ấy là Mặt trận thống nhất dân chủ, bao gồm "các đảng phái người Tây và người bản xứ, các đoàn thể dân chúng và các cá nhân yêu mến tự do công lý"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.397). Để các đảng phái hiểu rõ quan điểm của Đảng Cộng sản Đông Dương, bức thư khẳng định: "Đảng Cộng sản chúng tôi không bao giờ giấu giếm rằng: chúng tôi là đảng cách mạng theo chủ nghĩa quốc tế vô sản, rằng chúng tôi tranh đấu triệt để cho sự hoàn toàn độc lập, giải phóng cho các dân tộc Đông Dương. Song chúng tôi nhận rằng trong giai đoạn hiện tại của cuộc vận động dân chúng ở Đông Dương, điều cốt yếu và cần thiết là đòi các quyền tự do dân chủ và các điều cải cách cần thiết cho sự tiến bộ của dân tộc, của xứ sở"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.397). Hiện thời, đứng trước thế lực phản động của một số tư bản tài chính bóc lột tàn nhẫn; đứng trước một chính sách thuộc địa áp bức dã man, lại thêm nạn phát xít hăm dọa bên "chính quốc" và bọn tay sai của chúng ở Đông Dương lăm le vận động hòng biến Đông Dương thành nơi phản động chống Mặt trận bình dân Pháp; đứng trước nguy cơ chiến tranh, bọn quân phiệt Nhật đánh chiếm Trung Quốc và chiến hạm, đại bác của chúng muốn chĩa vào Đông Dương; đứng trước nền hòa bình bị hăm dọa, sự sinh tồn của dân tộc, của nhân loại bị nguy ngập thì các đảng phái dân chủ, các tầng lớp nhân dân vô luận người Pháp cấp tiến hay người bản xứ đều có nhiệm vụ thiêng liêng và khẩn cấp là thống nhất các lực lượng dân chủ ở xứ này, đoàn kết khăng khít với bình dân Pháp để đòi các quyền tự do dân chủ, bênh vực hòa bình và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho dân chúng. Sau cùng, bức thư kết luận: "Dầu rằng các mục đích cuối cùng của các đảng phái không giống nhau, song có một điều giống nhau là trong giai đoạn lịch sử hiện thời đều là đòi các quyền tự do dân chủ và các điều cải cách cần thiết. Vậy chúng ta còn ngần ngại gì mà không gác cái chính kiến bất đồng lại một bên đặng cùng nhau hợp tác thảo ra một bản chương trình hành động tối thiểu, lấy các quyền tự do dân chủ và cải thiện sinh hoạt cho dân chúng làm quyền lợi chung, đặt trên các quyền lợi eo hẹp của các đảng phái để cùng nhau hành động cho được thực hiện hoàn toàn"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.399-400). Việc tìm ra "điều giống nhau" về quyền lợi của các đảng phái trong giai đoạn lịch sử hiện thời ấy để tập hợp lực lượng chống phái phản động, chống nguy cơ phát xít là sự nhạy bén, thể hiện rõ thêm quan điểm về phòng thủ Đông Dương đúng đắn của Đảng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #68 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2021, 07:35:16 pm »

Quan điểm của Đảng về phòng thủ Đông Dương được trình bày cô đọng, rõ ràng trong các văn kiện, đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị tháng 3-1938 của Đảng. Tiếc rằng, "một bộ phận đồng chí" còn chưa hiểu thái độ của Đảng đối với vấn đề đó. Trước tình hình đó, tiếp theo hai thông tri đặc biệt (ngày 1-7 và ngày 6-8-1938), Trung ương Đảng gửi tiếp bức thư tới Xứ ủy Nam Kỳ và tất cả các đồng chí. Thư viết rằng, qua xem xét một báo cáo của Xứ ủy Nam Kỳ và một thông tri của Liên Tỉnh ủy Cần Thơ, Trung ương Đảng nhận thấy rằng một số đồng chí của Liên tỉnh ủy cần Thơ không hiểu cách ứng xử của Đảng, rằng "họ đã chệch hướng sang hữu, đã do dự và hành động ngược lại chính sách của Đảng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.417).


Giải thích điều đó, bức thư viết: "Ban Trung ương thừa nhận rằng cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa sắp tới sẽ là một cuộc chiến tranh do các nước phát xít tiến hành chống các nhà nước dân chủ để phân chia lại thị trường thế giới. Đó sẽ đồng thời là một cuộc chiến tranh chống cách mạng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.418). Những người cộng sản thừa nhận "tính ưu việt" của chế độ tư bản chủ nghĩa dân chủ so với chế độ phát xít. Nhưng nếu chỉ so sánh giữa chế độ dân chủ và chế độ phát xít, từ đó nhận định "nước chúng ta bị đặt dưới sự thống trị của Chính phủ Pháp, Chính phủ đó hiện thời là một chính phủ dân chủ so với các chính phủ khác phát xít như Chính phủ Nhật"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.419) hoặc chỉ so sánh một cách đơn giản giữa các hình thức mà không tính đến những thực tế của đất nước rồi rút ra kết luận: "Nếu một ngày nào đó mà Nhật Bản định xâm chiếm Đông Dương chúng ta có nghĩa vụ ủng hộ Chính phủ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít; nhất là ủng hộ Chính phủ hiện thời, vì đó là một chính phủ dân chủ. Dù rằng chúng ta chưa giành được nhiều quyền tự do dân chủ chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta sống dưới Chính phủ đó tốt hơn là dưới một chính phủ phát xít". Quan điểm đó... là đã thiên hữu"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.419). Bởi vì, lập luận như vậy là thỏa mãn với chế độ thực dân hiện thồi và ủng hộ, trong thực tế, các lợi ích của chủ nghĩa đế quốc và ru ngủ quần chúng đang đấu tranh đòi các quyền tự do. Mặt khác, thật là một sai lầm nghiêm trọng khi nói rằng chính phủ Đông Dương là một chính phủ dân chủ. Thực ra, chính phủ này là một chính phủ thực dân phản động; thậm chí, nó đối lập ngay với cả những đường lối chỉ đạo của chính phủ dân chủ ở Pháp. Để làm rõ thêm điều này, thư của Trung ương Đảng giải thích: "Đúng là Ban Trung ương thừa nhận rằng nước Pháp dân chủ là đáng mong muốn hơn nước Nhật phát xít, nhưng đó là nói về Chính phủ ở Pháp. Còn ở Đông Dương không có chính phủ dân chủ, và chừng nào còn chưa có chính phủ dân chủ, thì tuyệt đối là vô ích nếu kêu gọi quần chúng để thúc đẩy họ hy sinh trong việc tham gia bảo vệ đất nước mà không yêu sách những quyền tự do dân chủ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.421).


Đối với ý kiến cho rằng: "Chúng ta phải hiểu rằng những bộ phận của các quyền tự do dân chủ mà người ta dành cho chúng ta khi thì "hạn hẹp" khi thì "rộng" và khi có chế độ dân chủ, thì cũng có các quyền tự do dân chủ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr. 421), Trung ương kiên quyết phê phán quan niệm sai lầm đó. Lầm tưởng đất nước đã có một chế độ dân chủ và ở đây người ta đã được hưởng những quyền tự do tương đối là biện hộ cho chế độ thực dân dã man. Còn đối với ý kiến: "Trong bộ máy cai trị thực dân hiện nay có nhiều lực lượng phản động, tuy nhiên ở đó không khí có chút ít dễ thở hơn dưới chế độ phát xít"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.421), thì Trung ương cho rằng, đúng là có nhiều lực lượng phản động đang nằm trong bộ máy hành chính thuộc địa hiện nay. Chính vì thế mà Trung ương đã nêu ra khẩu hiệu: "Phản đối chế độ thực dân dã man". Ban Trung ương cho rằng các đồng chí nói như trên "hình như tán thành chế độ thuộc địa hiện thời và rằng quan điểm của các đồng chí đó đối lập với chính sách của Đảng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.422). Sau cùng, bức thư cũng lưu ý các cấp ủy, các đảng viên phải hiểu rõ rằng Đảng chúng ta tán thành vấn đề bảo vệ Đông Dương và Đảng không bao giờ phản đối việc tăng cường sự bảo vệ đất nước. Nhưng nó đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ đấu tranh ngay từ bây giờ và nhất là trong trường hợp chiến tranh để yêu sách những quyền tự do dân chủ. Còn đối với những người tờrốtxkít, họ nghĩ đến chủ nghĩa thất bại ngay từ đầu cuộc chiến tranh và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là "sự khác nhau hoàn toàn giữa quan điểm của những người cộng sản và quan điểm của bọn tờrốtxkít"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.423).


Do tầm quan trọng của vấn đề phòng thủ Đông Dương, ngày 29-10-1939, Đảng ra Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc. Tuyên ngôn phân tích tình hình thế giới và nhận định rằng đây là "thời kỳ đặc biệt nghiêm trọng" do ngọn lửa chiến tranh mà bọn phát xít gây ra đã cháy rải rác khắp thế giới, sự chia lại thị trường đã thực hiện "từng bộ phận" ở châu Phi, châu Á và châu Âu. Trước tình thế ấy, thái độ đầu hàng của Anh, Pháp lại càng làm cho ngọn lửa chiến tranh của đế quốc ngày càng nguy cấp từng giờ, từng phút. Đảng Cộng sản Đông Dương cho rằng, chính sách ngoại giao thỏa hiệp, mập mờ, sai lầm của Anh, Pháp, chia rẽ mặt trận hòa bình, hy sinh quyền lợi của Tiệp Khắc và các nước yếu để cầu sự hòa bình trong giây lát, đó là chính sách phản động rất nguy hiểm về mọi phương diện, chính sách ấy "nuôi mạnh" nạn chiến tranh, tăng thêm sức tàn sát. Đối với hành động xâm lược của Nhật ở Trung Quốc, trực tiếp hăm dọa xứ Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương hô hào các tầng lớp nhân dân, vì nền hòa bình thế giới và hòa bình ở Viễn Đông, hãy kịch liệt phản đối chính sách đầu hàng, thỏa hiệp và tán thành trừng phạt bọn xâm lược bằng kinh tế, quân sự và bằng các phương pháp khác.


Tiếp đó, Tuyên ngôn đề cập đến vấn đề "Sự phòng thủ Đông Dương". Tuyên ngôn nhấn mạnh: "Đứng trước tình thế Viễn Đông ngày nay, Đảng chúng tôi tán thành phòng thủ Đông Dương, chống xâm lược phát xít. Chúng tôi cho rằng những phương pháp Chính phủ đã thi hành hoàn toàn chưa đủ, còn cần phải có lực lượng của quần chúng giúp đỡ về tinh thần và vật chất. Muốn thế, Chính phủ phải có trách nhiệm ban bố các quyền tự do dân chủ và cải thiện sinh hoạt cho dân chúng để tăng thêm lực lượng phòng thủ. Đồng thời phải tổ chức quần chúng vào các hội quốc phòng, lúc có chiến tranh cần phải vũ trang dân chúng thì mới đủ sức phòng thủ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.433).


Về mối quan hệ giữa chính phủ phòng thủ Đông Dương và dân chúng phòng thủ Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố rằng: nếu Chính phủ phòng thủ Đông Dương mà không ban bố các quyền tự do, không cải thiện điều kiện sinh hoạt của dân chúng, thì sự phòng thủ đó không chắc chắn. Còn dân chúng phòng thủ Đông Dương mà không tranh đấu đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện sinh hoạt, đòi vũ trang để phòng thủ, thì sự phòng thủ ấy "là phòng thủ suông, và không có ý nghĩa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.433). Phòng thủ mà không đề phòng bọn thân phát xít Nhật, bọn phá hoại, bọn khiêu khích tờrốtxkít, thì cuộc phòng thủ ấy rất nguy hiểm. Ngược lại, mượn tiếng phòng thủ mà thẳng tay đàn áp quần chúng, đàn áp những đảng phái ủng hộ Mặt trận bình dân, Mặt trận dân chủ, thì sự phòng thủ ấy sẽ mất hết lực lượng và như vậy sẽ dẫn tới thất bại.


Sau cùng, Tuyên ngôn kêu gọi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái dân chủ người Việt Nam và người nước ngoài ở Đông Dương đoàn kết chặt chẽ xung quanh Mặt trận dân chủ Đông Dương, vì hòa bình, vì tự do mà tranh đấu phòng thủ Đông Dương. Giữa lúc này, không nên "lửng lơ với vấn đề phòng thủ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.434), cần phải đồng lòng hành động để đòi thực hiện các quyền tự do dân chủ, để phòng thủ Đông Dương, để chống phát xít, chống thế lực phản động, chống chiến tranh một cách tích cực hơn. Thì giờ đã gấp lắm rồi "không thể chần chừ nữa, cần phải hành động"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.434).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #69 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2021, 07:31:49 pm »

3. Tăng cường khối đoàn kết dân tộc, động viên và tổ chức nhân dân chuẩn bị chống phát xít Nhật xâm lược

Giữa năm 1938, tình hình thế giới ngày càng biến đổi sâu sắc, loài người đứng trước ngưỡng cửa của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong bối cảnh đó, cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô1 (Sau một thời gian bị đế quốc Anh bắt giam trái phép ở Hồng Công (Trung Quốc), tháng 1-1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do, sau đó Người sang Liên Xô (1934). Tại Mátxcơva, Người gặp Đ.Manuinki, P.Míp, V.Valaxilêva... và sau đó gặp Đimitơrốp và nhiều thành viên khác trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10-1934, Người được Quốc tế Cộng sản giới thiệu vào học Trường Quốc tế Lênin, rồi công tác ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa) đến Diên An (Trung Quốc), rồi từ đó đi cùng một đơn vị Hồng quân công nông xuống Hoa Nam công tác. Trong thời gian ở Hoa Nam, lấy bí danh là Hồ Quang, Người cùng Diệp Kiếm Anh tham gia huấn luyện khóa đào tạo cán bộ du kích Nam Nhạc từ ngày 20-6 đến 20-9-1939. Vừa hoạt động trong Tập đoàn quân thứ 18 Bát lộ quân Trung Quốc, Người vừa tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở trong nước.


Trong nửa đầu năm 1939, với bút danh P.C Lin; Lin, Người gửi về nước một loạt bài đăng trên tuần báo Notre Voix (Tiếng nói của chúng tà). Đây là một tờ tuần báo công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản bằng tiếng Pháp ở Hà Nội, có số lượng người đọc không nhiều, chỉ gồm những người biết tiếng Pháp, nhưng họ lại là những người "làm chính trị"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.182). Hàm ý đó chỉ những cán bộ của Đảng ở trong nước và các cán bộ Quốc tế Cộng sản hoạt động ở Đông Dương và châu Á nói chung. Người hy vọng qua báo Notre Voix viết bằng tiếng Pháp, những đồng chí có trách nhiệm ở Quốc tế Cộng sản "có thể đoán được ai là tác giả và hiện người đó ở đâu"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.170), đồng thời mở ra một cơ hội để có thể liên lạc được với Trung ương Đảng ở trong nước. Trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, chủ nghĩa phát xít và các thế lực phản động quốc tế ráo riết đàn áp cách mạng, việc lựa chọn gửi bài đăng báo Notre Voix là chính xác, vừa bảo đảm được nguyên tắc hoạt động bí mật, cung cấp được thông tin cần đến đúng địa chỉ, vừa tăng thêm khả năng liên lạc từ hai hướng: Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương. Thông qua đồng chí Chủ nhiệm tờ báo nói trên, Người đã liên lạc được với Trung ương Đảng ở trong nước. Nhờ vậy, Trung ương biết được địa chỉ của Người. Bản thân Người thực hiện được nhiệm vụ Quốc tế Cộng sản phân công, truyền đạt những chỉ thị (gồm 8 điểm) của Quốc tế Cộng sản về nước mà Người nhớ (do hoàn cảnh hoạt động rất bí mật), đóng góp những ý kiến quý báu với Trung ương Đảng về chủ trương, đường lối cách mạng trong tình hình mới.


Nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa Tờrốtxki để tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong đấu tranh cách mạng, trong loạt bài mang đầu đề chung Thư từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc viết ba bài đề cập đến vấn đề Tờrốtxki. Trong bài đăng ngày 23-6-1939, Người đã tập trung phân tích nguồn gốc, biểu hiện của chủ nghĩa Tờrốtxki nhằm cung cấp thông tin để người đọc nhận diện về chủ nghĩa Tờrốtxki. Người nêu rõ: "Bọn tờrốtxkít Trung Quốc (cũng như bọn tờrốtxkít nước ngoài) không lập thành nhóm, càng không lập thành chính đảng. Chúng chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật (và chủ nghĩa phát xít quốc tễ)... Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.154). Tiếp đó, trong hai bài sau, Người vạch trần những thủ đoạn hoạt động hèn hạ của chúng và giới thiệu kinh nghiệm thành công chống chủ nghĩa Tờrốtxki ở nhiều nước. Ít lâu sau, trong báo cáo nhan đề Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt, Người nhấn mạnh: "Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.167). Đảng phải đấu tranh không khoan nhượng chống tư tưởng bè phái và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn hóa, chính trị cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ. Ban Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị.


Ở trong nước, vấn đề chống bọn tờrốtxkít được đẩy mạnh. Trong tác phẩm Tự chỉ trích in trong tập sách Dân chúng (7-1939) đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhấn mạnh: "Bọn tờrốtxkít, xét đến cốt tủy của chúng thì chúng chỉ gồm những cặn bã của phong trào nhóm họp nhau để chống cộng sản, chống cách mệnh, chia rẽ và phá hoại phong trào quần chúng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.434). Coi thường nguy cơ tòrốtxkít là một khuyết điểm lớn bởi vì, dưới chế độ áp bức, bóc lột tàn ác của bọn phản động thuộc địa, những câu "cách mạng cực tả" và những thủ đoạn lừa bịp của chúng đã tạm thời phỉnh phò, lừa gạt được một số trí thức tiểu tư sản và quần chúng nông cạn. Bọn tờrốtxkít đã biến thành tay sai của chủ nghĩa phát xít. Chúng cố ý nêu lên những chủ trương quá tả để chính quyền phản động thuộc địa Đông Dương lấy cố đàn áp phong trào cách mạng. Chúng vỗ ngực cho mình là cách mạng chân chính, cho Đảng Cộng sản Đông Dương là hữu khuynh, vô nguyên tắc. Vì thế, không thể thỏa hiệp với chúng, nếu thỏa hiệp với bọn ấy, chẳng khác nào khom lưng làm nấc thang cho chúng leo lên chống lại cách mạng. Không kịp thời phê phán và ngăn chặn một số đảng viên hợp tác với chúng, là một thiếu sót của Đảng. Đối với một kẻ thù nguy hiểm như thế, cùng một số bài báo vạch mặt nạ của chúng, cần phải thâm nhập quần chúng, "chú ý từng lời nói, từng hành động của bọn tờrốtxkít đế vạch những mưu mô khiêu khích của chúng ra, đặc biệt chú ý giao thiệp với anh em trí thức và thợ thuyền nghe lầm theo chúng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.628).


Sở dĩ vấn đề được lưu ý như vậy, vì ở nước ta lúc đó, bọn tờrốtxkít đang ráo riết hoạt động. Vốn khởi nguồn từ một số trí thức, phần lớn xuất thân từ giai cấp địa chủ, tư sản theo học ở Pháp do Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm... cầm đầu, sau thất bại trong thời kỳ 1931 - 1932, đến thời kỳ 1936 - 1939, lợi dụng những điều kiện công khai hợp pháp, chúng ra sức tuyên truyền học thuyết "Cách mạng thường trực", viết báo lớn tiếng đòi Toàn quyền Đông Dương phải tăng cường phòng thủ Đông Dương chống lại họa xâm lăng phát xít, nhưng thực chất là muốn tăng cường ảnh hưởng của chúng, hoạt động của số người này thực sự gây nhiều tiêu cực, cần phải chống và loại bỏ. Trong bối cảnh đó, những bài viết của Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Nguyễn Văn Cừ về vấn đề tờrốtxkít có giá trị chỉ đạo thực tiễn rất lớn đối với cách mạng Việt Nam.


Bên cạnh những bài báo viết về vấn đề Tờrốtxki, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi đang diễn ra ở nhiều nước. Hoạt động ở Trung Quốc trong thời kỳ này, Người tham gia làm "phiên dịch các tin tức thế giới (nghe đài thu thanh) ở Bát lộ quân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.169). Kết hợp các nguồn tin quốc tế và thực tiễn cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc trong hai năm đầu chống phát xít Nhật, Người đã khái quát nhiều vấn đề quan trọng trong lĩnh vực quân sự.


Trong các bài Người Nhật Bản muốn khai hóa Trung Quốc như thế nào, Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật, Thư từ Trung Quốc - Tổng kết sau hai năm đấu tranh, v.v... Người tập trung phân tích những âm mưu, thủ đoạn quân sự của chủ nghĩa phát xít, đồng thời nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân trong cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ; phân tích các nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM