Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:14:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mưu lược quân sự  (Đọc 21524 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #10 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2021, 02:27:04 pm »

TRẬN CỰ LỘC GIỮA TẦN - SỞ


Người Trung Quốc có câu thành ngữ "phá phủ trầm chu”, nghĩa là đập vỡ nồi, đánh chìm thuyền, ví với việc chấp nhận hy sinh tất cả, quyết tâm hoàn thành công việc. Điển cố này nói về câu chuyện tướng Sở là Hạng Vũ dẫn quân khởi nghĩa cứu Triệu, đại phá quân chủ lực của nước Tần.


1. Hạng Vũ dẫn quân lên phía bắc cứu nước Triệu

Năm đầu đời vua thứ hai nhà Tần (năm 209 trước Công nguyên), dưới sự lãnh đạo của Trần Thắng, Ngô Quảng, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc nhằm lật đổ chế độ chính trị tàn bạo của vương triều nhà Tần. Sau khi Trần Thắng, Ngô Quảng hy sinh, hai cánh quân khởi nghĩa do Hạng Vũ và Lưu Bang lãnh đạo tiếp tục cuộc chiến tranh chống Tần.


Khi cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, quý tộc của sáu nước cũng nhân cơ hội khởi binh. Hạng Vũ là cháu nội của viên đại tướng Hạng Yến nước Sở, uy vũ dũng mãnh, gan dạ tài trí. Sau khi Trần Thắng, Ngô Quảng khởi nghĩa, Hạng Vũ cùng chú ruột của mình là Hạng Lương giết chết quận thú của quận Cối Kê (nay là thành phô Tô Châu, Giang Tô, Trung Quốc), hưởng ứng khởi nghĩa. Hạng Lương lãnh đạo 8.000 con em ở miền Giang Đông vượt sông tiến lên phía bắc, lần lượt đánh bại quân Tần, thế lực phát triển rất nhanh. Sau khi Trần Thắng hy sinh, để tiện cho việc kêu gọi sự ủng hộ của dân chúng, Hạng Lương bèn lập cháu nội của Sở Hoài vương (nước Sở thời Chiến quốc) là Hùng Tâm lên làm Sở vương, vẫn gọi là Sở Hoài vương. Từ đó, cuộc chiến tranh nông dân cuối thời nhà Tần bước vào một giai đoạn mới.


Cuộc chiến do Hạng Lương lãnh đạo gặp nhiều thuận lợi, luôn luôn chiến thắng, vì vậy nên đã nảy sinh tư tưởng kiêu ngạo chủ quan, buông lỏng cảnh giác đối với quân địch.


Tháng chín năm thứ hai của đời vua thứ hai nhà Tần (năm 208 trước Công nguyên), Chương Hàm chỉ huy quân Tần nhân đêm tối tập kích Định Đào (nay thuộc huyện Định Đào, Sơn Đông, Trung Quốc), đại phá quân Sở, Hạng Lương hy sinh trong chiến đấu. Chương Hàm đã mắc phải sai lầm khi cho rằng, một khi Hạng Lương đã chết trận thì quân Sở không còn đáng lo ngại nữa, bèn không để ý gì đến quân Sở, tiếp tục dẫn quân Tần tiến lên phía bắc để tấn công nước Triệu.


Nước Triệu lúc này không còn là nước Triệu của thời Chiến quốc nữa, mà là một nước Triệu mới được xây dựng trong chiến tranh chống Tần do Vũ Tín Quân làm vua, lực lượng vẫn còn khá mỏng yếu. Chương Hàm chỉ huy quân Tần đánh cho quân Triệu đại bại, nhanh chóng tấn công tiêu diệt kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Tướng nước Triệu là Trần Dư tập kết lại được vài vạn quân, tổ chức lại quân đội, đóng quân tại Cự Lộc (nay thuộc huyện Bình Hương, Hà Bắc, Trung Quốc). Chương Hàm cử tướng Tần là Vương Li mang quân bao vây Cự Lộc, còn bản thân mình thì dẫn binh đến đóng tại Cức Nguyên, vùng đất thuộc phía nam của Cự Lộc, làm hậu thuẫn. Chương Hàm còn cho xây dựng một con đường nối từ Cức Nguyên đến Cự Lộc, hai bên đường đắp tường đất dày để làm đường cung cấp lương cho quân của Vương Li. Quân đội của Vương Li được cung cấp đầy đủ, tấn công thành càng mạnh hơn.


Triệu vương đã mấy lần cử người đến cầu cứu Sở Hoài vương. Sở Hoài vương bèn cử Tống Nghĩa làm thượng tướng quân, Hạng Vũ làm thứ tướng quân, dẫn quân khởi nghĩa chủ lực tiến lên phía bắc cứu nước Triệu. Ngoài ra, còn cử Lưu Bang dẫn một bộ phận binh lực tấn công Quan Trung (nay là khu vực trung bộ tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc).


Tống Nghĩa dẫn đại quân lên phía bắc, đến An Dương (nay thuộc phía đông nam An Dương, Hà Nam, Trung Quốc) thì dừng lại 46 ngày liền, không chịu tiến quân nữa. Hạng Vũ khuyên rằng:

"Hiện nay quân Tần đang bao vây tấn công Cự Lộc, chúng ta nên mau chóng dẫn quân vượt sông. Chúng ta từ bên ngoài tấn công vào, quân Triệu từ bên trong tiếp ứng, nội ngoại giáp công, nhất định có thể đánh bại được quân Tần".

Tống Nghĩa không đồng ý với quan điểm của Hạng Vũ. Tống Nghĩa chủ trương để cho quân Tần và quân Triệu đánh nhau trước, đợi đến khi hai bên đều bị tổn thất thì quân Sở mới bắt đầu ra tay. Tống Nghĩa không những từ chối làm theo kiến nghị của Hạng Vũ, mà còn bày đặt yến tiệc linh đình để tiễn con trai ông ta đến nước Tề làm quan.


Lúc đó, thời tiết giá lạnh, lại có mưa lớn, quân Sở bắt đầu thiếu lương thực, quân sĩ không chịu được đói rét. Nếu quân Tần hạ được thành Cự Lộc thì tất cả những lực lượng chống Tần đều rơi vào thế nguy hiểm. Thấy tình hình như vậy, Hạng Vũ vừa lo lắng lại vừa tức giận, bèn lợi dụng lúc triều kiến buổi sáng, giết chết Tống Nghĩa, sau đó kêu gọi toàn quân:

"Tống Nghĩa ngầm câu kết với nước Tề, âm mưu chống lại nước Sở, ta đã phụng mệnh Sở Hoài vương xử tội chết hắn!”.

Lúc đó, tất cả tướng sĩ nước Sở đều tỏ ý hưởng ứng sự chỉ huy của Hạng Vũ, không ai dám có ý kiến phản đối. Hạng Vũ báo cáo việc Tống Nghĩa về cho Sở Hoài vương biết, Sở Hoài vương bèn thăng chức cho Hạng Vũ làm thượng tướng quân, thay thế chức vụ của Tống Nghĩa, đem quân đi cứu nước Triệu.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #11 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2021, 02:27:33 pm »

2. Đập nồi dìm thuyền, chiến thắng giờn giã


Tháng 12 năm thứ hai đời vua thứ hai của nước Tần (năm 208 trước Công nguyên), quân Tần cậy có binh nhiều lương đủ, định rằng sẽ đánh hạ Cự Lộc trong một thời gian ngắn, khí thế tấn công rất mạnh mẽ. Quân Triệu ở trong thành do binh ít, lương thiếu đang ở vào tình thế rất nguy hiểm. Trần Dư chỉ huy mấy vạn quân đóng tại thành bắc, con trai của Trương Nhĩ là Trương Ngạo chỉ huy hơn một vạn người và viện binh của nước Yên, nước Tề, xây dựng doanh trại ở gần khu vực đóng quân của Trần Dư, xây hào đắp lũy ở đó. Thế nhưng, bọn họ đều sợ thế mạnh của quân Tần, chỉ dám đứng nhìn lẫn nhau, không có một ai dám xuất binh giao chiến. Có một lần, Trần Dư bị Trương Nhĩ ép buộc, phải cử 5.000 quân đi tấn công quân Tần, kết quả là bị tiêu diệt toàn bộ.


Lại nói đến Hạng Vũ, sau khi giết chết Tống Nghĩa, Hạng Vũ bèn cử Anh Bố, Bồ tướng quân mang hai vạn quân tiên phong vượt sông Chương Thủy, cắt đứt đường vận chuyển lương thực của quân Tần, chia cắt quân của Chương Hàm và Vương Li. Sau đó, Hạng Vũ dẫn quân chủ lực gấp rút tiến quân. Sau khi qua sông, Hạng Vũ ra lệnh cho toàn quân đập hết toàn bộ số chảo dùng để nấu cơm, đánh chìm toàn bộ số thuyền dùng để vượt sông, đốt sạch toàn bộ lều trướng doanh trại, mỗi một người lính chỉ chuẩn bị ba ngày lương khô, để bước vào quyết chiến với quân Tần, nếu không chiến thắng quyết không sống để quay trở về.


Quyết tâm và dũng khí của Hạng Vũ có tác động rất lớn đối với việc cổ vũ động viên sĩ khí của quân sĩ. Quân Sở vừa đến chiến trường đã bao vây chặt quân của Vương Li lại, với khí thế mạnh như sấm sét, hành động nhanh như chớp giật, nhanh chóng triển khai thế trận kịch chiến với quân Tần.


Quân Sở lấy một chọi mười, dũng mãnh xông lên đánh đuổi, không cho quân Tần có cơ hội triển khai chống đỡ.


Sau chín cuộc chiến đấu cực kỳ ác liệt, quân Sở đã đánh cho quân Tần đại bại. Lúc đó, các đội quân cứu viện của các nước cũng nhập vào cuộc chiến, giết chết tướng Tần là Tô Giác, bắt sống Vương Li, buộc một viên tướng khác là Thiệp Gian phải tự sát. Quân chủ lực của Tần bị tan vỡ, Cự Lộc được giải cứu.


Khi quân Sở đánh nhau với quân Tần, tướng lĩnh của các cánh quân viện binh khác đều sợ quân Tần như sợ hổ, chỉ dám nấp sau chiến lũy quan sát chiến trận. Bọn họ thấy cảnh tượng quân Sở tả xung hữu đột, dũng mãnh xông lên giết địch thì đều sợ hãi đến ngây cả người. Sau khi chiến trận kết thúc, Hạng Vũ triệu kiến tướng lĩnh các chư hầu, bọn họ đều không dám đi tới cửa trại của Hạng Vũ mà đều quỳ gối lê bước đến, cũng không dám ngẩng đầu lên mà nhìn Hạng Vũ. Từ đó trở đi, Hạng Vũ uy trấn thiên hạ, các nước chư hầu đều một lòng ủng hộ Hạng Vũ, lập Hạng Vũ là "Thượng tướng quân của các nước chư hầu”. Các nước chư hầu đều tình nguyện trở thành bộ hạ của Hạng Vũ, nghe theo lời chỉ huy của Hạng Vũ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #12 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2021, 02:28:07 pm »

3. Chương Hàm đầu hàng


Sau khi trận Cự Lộc thất bại, Chương Hàm tập trung toàn bộ quân Tần ở Cức Nguyên, phía nam Cự Lộc. Hạng Vũ thừa thắng đem quân truy kích đến bờ nam sông Chương Thủy, hai cánh quân tạm thời hình thành cục diện đối mặt nhau. Do quân Tần liên tục thất bại, Tần nhị thế sai người đến quở trách Chương Hàm, Thừa tướng Triệu Cao sợ liên lụy, bèn lấy Chương Hàm ra để chịu tội thay mình. Chương Hàm nghe được tin đó thì vô cùng sợ hãi. Trần Dư nhân cơ hội đó viết thư gửi Chương Hàm, khuyên hắn trở giáo chống Tần. Trần Dư chỉ ra cho Chương Hàm thấy rằng: Bạch Khởi, Mông Điềm đều là danh tướng nước Tần, đều lập được đại công, thế mà cuối cùng cũng không tránh khỏi bị sát hại. Tần triều là một vương triều tàn bạo, người có công cũng bị giết, kẻ không có công cũng bị giết, ai ai cũng đều biết rằng triều đình nhà Tần trước sau rồi cũng bị diệt vong, tại sao tướng quân không liên kết với các chư hầu, cùng nhau tiêu diệt Tần, phân đất làm vương!


Chương Hàm sau khi nhận được thư vẫn còn chút nghi ngại, ông ta ngầm sai người đến gặp Hạng Vũ xin cầu hòa, Hạng Vũ vẫn không vội đồng ý. Hạng Vũ phái Bồ tướng quân ngày đêm hành quân, vượt sông Chương Thủy ở bến Tam Hộ, một lần nữa đánh bại quân Tần, cắt đứt đường rút lui của quân Tần.


Hạng Vũ lại dẫn quân chủ lực dũng mãnh tấn công, đánh tan quân Tần ở sông Vu Thủy (một nhánh của sông Chương Thủy, nay ở gần huyện Lâm Chương, Hà Bắc, Trung Quốc).


Chương Hàm liên tiếp bị bại trận, vừa không có quân chi viện, lại vừa sợ bị Tần nhị thế và Triệu Cao sát hại, một lần nữa xin đầu hàng Hạng Vũ. Lần này thì Hạng Vũ đồng ý. Tháng bảy, năm thứ ba đời vua Tần nhị thế (năm 207 trước Công nguyên), Chương Hàm dẫn hơn 20 vạn quân Tần đầu hàng Hạng Vũ tại Ân Khư, bờ nam sông Hoàn Thủy (nay thuộc phía tây thành phố An Dương, Hà Nam, Trung Quốc). Hạng Vũ phong Chương Hàm làm Ung vương, trực thuộc quân Sở.


Từ đó trở đi, quân khởi nghĩa do Hạng Vũ lãnh đạo đã giành được thắng lợi, tiêu diệt toàn bộ quân chủ lực của nước Tần, đặt nền móng cho cuộc chiến tiêu diệt toàn bộ quân Tần, tạo điều kiện thuận lợi cho Lưu Bang tiến đánh Quan Trung, đánh chiếm kinh đô Hàm Dương của nước Tần.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #13 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2021, 02:28:25 pm »

4. Kết luận


Thắng lợi to lớn của trận Cự Lộc là thắng lợi của quân khởi nghĩa chống lại chế độ chính trị tàn bạo của vương triều nhà Tần, là thắng lợi của cuộc chiến tranh chính nghĩa. Vì vậy, quân khởi nghĩa mới có được sức mạnh một chọi mười, dũng mãnh chiến đấu. Đồng thời, chiến thắng này cũng là do tài năng chỉ huy quân sự xuất sắc của Hạng Vũ, đặc biệt là giải pháp "phá phủ trầm chu" của Hạng Vũ là phù hợp với điều kiện địa lý và trạng thái tâm lý của tướng sĩ nước Sở lúc bấy giờ. Biện pháp này của Hạng Vũ đã khiến cho quân sĩ nước Sở đồng lòng hạ quyết tâm: Chỉ có kiên quyết tấn công, giành được thắng lợi mới có đường sống, từ đó mà đạt được thành tích huy hoàng trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc cổ đại, giành được thắng lợi trong chín trận đánh liên tiếp.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2021, 06:56:55 am »

TRẬN HÀN TÍN PHÁ TRIỆU

   "Qua giáp tòng quân cửu,
   Phong vân thức trận nan.
   Kim triều bái Hàn Tín,
   Kê nhật trảm Thành An".

   
(Dịch nghĩa: Vác giáo, mặc giáp đi theo quân đội đã lâu năm, đã biết được khó khăn của các trận đánh. Nay về triều phục Hàn Tín, tính từng ngày chờ chém Thành An quận Trần Dư)


Đây chính là bài thơ Tòng quân từ của nhà thơ Vương Nhai thời Đường (Trung Quốc). "Qua" là binh khí, "giáp" là áo giáp, là trang bị của quân đội; "Phong vân" là tên gọi của loại hình trận đồ tác chiến. Tác chiến thời cổ đại chia thành "bát trận" (tám loại thế trận): Thiên, Địa, Phong, Vân, Long, Hổ, Điểu, Xà; Hàn Tín là một viên đại tướng nổi tiếng đầu thời vương triều nhà Hán, là nhà quân sự kiệt xuất của Trung Quốc cổ đại. Thành An chính là tướng Triệu Trần Dư, từng được phong là Thành An quận.


Bài thơ Tòng quân từ ca ngợi Lưu Bang và Hàn Tín. Lưu Bang trong thời điểm quan trọng đã biết cách sử dụng người tài giỏi. Hàn Tín trong trận đánh phá Triệu, đã khéo léo vận dụng "bội thủy trận" (bố trí thế trận quay lưng lại với mặt nước), giành thắng lợi bất ngờ, tiêu diệt mười mấy vạn quân Triệu, chém chết Trần Dư tại trận, lập nên một thắng lợi điển hình "lấy ít thắng nhiều" nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Ngày nay, chúng ta hãy cùng xem lại Hàn Tín đã vận dụng "bội thủy trận" như thế nào để giành được thắng lợi trong trận chiến phá Triệu hồi đó.


1. Dương đông kích tây, bắt sống Ngụy vương Báo

Vào mùa hè năm thứ hai đời vua Lưu Bang nhà Hán (năm 205 trước Công nguyên), Lưu Bang bị quân Sở đánh cho đại bại ở bờ bắc Tuy Thủy. Ngụy vương Báo vốn đã quy phục quân Hán, nay thấy thế lực quân Sở lớn mạnh, bèn phản bội Lưu Bang, quay sang đầu hàng Hạng Vũ. Ngụy vương Báo lúc đó chiếm cứ Hà Đông (nay thuộc vùng đất phía tây nam tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc), nếu ông ta tiến quân về phía tây thì có thể uy hiếp được sự an toàn của Quan Trung; nếu tiến quân về phía nam thì có thể cắt đứt sự liên hệ giữa Quan Trung và Huỳnh Dương, tạo thành thế phối hợp với quân Sở, áp sát tấn công Huỳnh Dương từ hai phía. Như vậy, đối với quân Hán, đây sẽ giống như một cái gai nhọn đâm thẳng vào phía sau lưng. Để loại trừ cái gai nhọn đó, Lưu Bang sai người đi tranh thủ vận động Ngụy vương Báo một lần nữa đứng về phía mình, nhưng không ngờ Ngụy vương Báo không chịu nghe theo. Tháng tám năm đó, Lưu Bang cử Hàn Tín, Tào Tham dẫn quân tấn công Ngụy vương Báo.


Ngụy vương Báo nghe nói quân Hán tấn công đến, liền bổ nhiệm cho Bách Trực làm đại tướng, thống lĩnh toàn quân, cố thủ tại Bồ Bản (nay thuộc phía tây huyện Vĩnh Tế, Sơn Đông, Trung Quốc), bờ đông sông Hoàng Hà. Quân Ngụy phong tỏa bến sông Lâm Tấn, ngăn chặn quân Hán vượt sông. Bách Trực còn tổ chức một đội quân biệt động đi tuần men sông Hoàng Hà, đồng thời còn đuổi toàn bộ thuyền bè của ngư dân không cho qua lại trên hồ. Bách Trực sau khi sắp đặt xong lấy làm đắc ý, cho rằng quân Hán nếu như có vượt được qua sông thì cũng chỉ có thể mạo hiểm vượt qua Bồ Bản chứ không còn cách nào khác.


Hàn Tín dẫn quân đến tiền tuyến, nhìn thấy hình thế Bồ Bản rất hiểm yếu, Ngụy vương Báo lại sai Trọng Binh chiếm giữ thì biết rằng nếu như tấn công chính diện sẽ rất khó giành được thắng lợi. Sau khi nghiên cứu kĩ tình hình, Hàn Tín quyết định áp dụng trận pháp "thanh đông kích tây, tị thực tựu hư” (hô đông đánh tây, tránh mạnh đánh yếu). Hàn Tín cho quân Hán xây dựng đại bản doanh ở bờ đối diện với Bồ Bản. Xung quanh khu vực doanh trại cho cắm đầy cờ xí, tập trung toàn bộ thuyền bè của quân Hán ở đó. Ban ngày, Hàn Tín ra lệnh cho quân sĩ đánh trống hò reo, ban đêm đèn đuốc sáng trưng, điều binh khiển tướng rầm rập không ngớt. Bề ngoài quân Hán làm như chuẩn bị qua sông ở đó, nhưng thực ra Hàn Tín đã ngầm điều động toàn bộ chủ lực của quân Hán đi về hướng Bắc, lựa chọn Hạ Dương (nay là phía nam huyện Hàn Thành, Thiểm Tây, Trung Quốc) làm nơi qua sông.


Quân Ngụy thấy quân Hán ở bờ đối diện điều quân rầm rập, lại tưởng rằng Hàn Tín thực sự muốn qua sông ở Bồ Bản. Bách Trực cho rằng, doanh trại ở Bồ Bản kiên cố như vậy, lại có đội quân hùng hậu trấn giữ, hơn nữa nước sông Hoàng Hà chảy rất xiết, cho dù là Hàn Tín có tài giỏi đến mấy cũng không thể vượt sông ở đây, quân Ngụy chỉ cần giữ chắc doanh trại là có thể kê gối cao ngủ yên, không phải lo nghĩ gì nữa. Thế là Bách Trực hầu như hoàn toàn yên tâm, không hề phòng bị gì ở vùng thượng du Hoàng Hà cả.


Sau khi quân Hán tiến đến Hạ Dương, Hàn Tín ra lệnh cho quân sĩ làm một loạt những thùng gỗ miệng nhỏ, cứ vài chiếc thùng gỗ lại được liên kết lại với nhau thành một khối, úp ngược trên mặt nước, bên trên buộc sào gỗ để làm bè qua sông. Loại bè như vậy vừa thăng bằng lại vừa có sức nổi tốt. Quân Hán bí mật vượt sông ở Hạ Dương dựa vào những chiếc bè như vậy.


Quân Ngụy ở Hạ Dương hoàn toàn không có bố phòng, quân Hán vượt qua sông Hoàng Hà một cách thuận lợi, tấn công tiêu diệt hậu phương quan trọng của quân Ngụy là An Ấp (nay thuộc vùng đông bắc huyện An Ấp, Sơn Tây, Trung Quốc).


Đến lúc đó, Ngụy vương Báo mới hoảng hốt dẫn quân ra nghênh chiến, thế nhưng ông ta đâu phải là đối thủ của Hàn Tín. Chỉ vài ngày sau, Hàn Tín đã chỉ huy quân Hán đánh cho quân Ngụy đại bại, cuối cùng bắt sống Ngụy vương Báo, giải ông ta về Huỳnh Dương là nơi Lưu Bang đóng quân.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #15 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2021, 06:58:24 am »

2. Hàn Tín công Triệu, thế trận bội thủy

Sau khi tiêu diệt Ngụy, Hàn Tín liền gửi thư cho Lưu Bang yêu cầu tăng số quân lính lên thành ba vạn để đi tiêu diệt hai thế lực quân cát cứ là nước Triệu và nước Đại, nhằm thay đổi vị thế bất lợi của quân Hán trong cuộc chiến Thành Cao. Lưu Bang phê chuẩn kế hoạch tác chiến đó của Hàn Tín, cấp cho Hàn Tín ba vạn bộ binh, đồng thời tăng cường thêm Trương Nhĩ là người rất thông thạo tình hình ở Hà Bắc đến để hỗ trợ cho Hàn Tín.


Tháng chín năm thứ hai đời nhà Hán, Hàn Tín đại phá quân Đại, bắt sống tướng quốc của quân Đại là Hạ Nguyệt. Qua hai thắng lợi lớn là diệt Ngụy, bình Đại, Hàn Tín đã thu dụng được một số lượng lớn tù binh, tăng cường thêm lực lượng của nhà Hán.


Tháng mười năm thứ ba đời nhà Hán (năm 204 trước Công nguyên), Hàn Tín thống lĩnh mấy vạn quân Hán vượt qua Thái Hành Sơn sang phía đông, tấn công vào nước Triệu. Quân Hán và quân Triệu gặp nhau ở hẻm núi hiểm yếu ở vùng biên giới phía tây nước Triệu là cửa khẩu Tỉnh Hình. Một trận quyết chiến sắp bắt đầu.


Cửa khẩu Tỉnh Hình là một trong tám cửa ải hiểm yếu của Thái Hành Sơn, cũng chính là cửa khẩu ở phía đông huyện Tỉnh Hình, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay. Ở phía tây cửa khẩu Tỉnh Hình có một con đường hẹp dài khoảng một trăm dặm, địa thế hiểm trở, dễ phòng thủ, khó tấn công. Triệu vương Yết và thống soái Trần Dư của quân Triệu đã tập trung hơn mười vạn quân Triệu ở đây để phòng thủ.


Quân đội của Hàn Tín chỉ có mấy vạn người, hơn nữa có quá nửa là lính mới chiêu mộ, chưa được huấn luyện, không có kinh nghiệm tác chiến. Xét về mặt binh lực, quân Triệu có ưu thế lớn hơn rất nhiều.


Trước khi chiến tranh bắt đầu, mưu sĩ nước Triệu là Lí Tả Xa đã từng đề xuất một kế hoạch tác chiến với thống soái Trần Dư. Trước tiên, ông ta chỉ ra cho Trần Dư thấy rằng:

"Hàn Tín sau khi bắt sống Ngụy vương Báo, xuất binh công phá nước Đại. Hiện tại Lưu Bang lại cử Trương Nhĩ đến giúp sức Hàn Tín, thừa thắng tiến đánh nước Triệu, khí thế của quân Hán đang rất mạnh, chúng ta nên tránh mũi nhọn của quân Hán, không thể khinh địch".

Tiếp sau đó, Lí Tả Xa còn đưa ra kế hoạch phá địch:

"Quân Hán từ đường xa đến tấn công nước ta, lương thảo phải vận chuyển từ ngàn dặm đến, như thế chẳng khác nào đợi tiều phu đốn củi về xong mới nổi lửa nấu cơm, quân sĩ sẽ không được ăn no. Đường đi ở cửa khẩu Tỉnh Hình rất chật hẹp, xe ngựa không thể dàn hàng ngang mà tiến, quân Hán tuy có thể vượt qua được cửa ải nhưng bộ phận hậu cần của họ sẽ không theo kịp được bộ phận chủ lực, nhất định sẽ bị rớt lại ở phía sau đại quân. Xin ngài hãy cấp cho tôi ba vạn người ngựa phục sẵn ở các con đường nhỏ, xông ra cướp lương thảo của quân Hán, cắt đứt đường vận chuyển lương thực của quân Hán, đồng thời chặn đứng đường rút lui của họ. Còn ngài thì thống lĩnh quân Triệu đào hào sâu, đắp thành cao, dựa vào địa thế hiểm yếu mà cố thủ, không nên quyết chiến với quân chủ lực của Hàn Tín, khiến cho hắn đánh không được, rút lui cũng không xong. Làm như vậy, chỉ trong vòng mười ngày tôi có thể đem đầu của Hàn Tín và Trương Nhĩ dâng cho ngài. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ nhất định bị quân Hán đánh bại”.


Kế hoạch tác chiến của Lí Tả Xa đề xuất dựa vào tình hình thực tế của hai bên nên tương đối hợp lí và đáng tin cậy. Thế nhưng, Trần Dư là kẻ thư sinh, lại là người kiêu ngạo chủ quan khinh địch, nóng nảy vội vàng, cho rằng: "Nghĩa binh bất dụng trá mưu kì kế" (Quân chính nghĩa thì không dùng những mưu kế xảo trá); lại vận dụng lý luận "Thập tắc vây chi, bội tắc chiến'’ (Binh lực gấp mười lần quân địch, cần phải áp dụng trận pháp bao vây; binh lực nhiều gấp đôi quân địch thì có thể phát động tấn công quân địch)... trong binh pháp để làm căn cứ phản bác lại Lí Tả Xa. Trần Dư nói:

"Quân Hán danh nghĩa là có hàng vạn, trên thực tế bất quá chỉ có vài ngàn người. Bọn họ từ xa ngàn dặm đến đây để tấn công nước Triệu, quân sĩ đã sớm mệt mỏi quá sức. Với loại quân địch yếu như vậy, nếu như chúng ta chỉ tránh mà không dám đánh, sau đây nếu gặp phải cường địch tấn công thì sẽ phải làm thế nào? Như vậy, các lộ quân chư hầu sẽ chê cười chúng ta non gan, khinh thường chúng ta mà dễ dàng đem quân tấn công chúng ta".


Thế là Trần Dư không nghe theo kế sách của Lí Tả Xa.

Hàn Tín là một nhà quân sự mưu sâu chước cao, ông ta hiểu rất rõ về sự chênh lệch lực lượng rất lớn giữa hai bên, vì vậy không thể trực tiếp tấn công, bèn ra lệnh đóng quân ở một nơi cách xa cửa khẩu Tỉnh Hình để quan sát tình thế, nghiên cứu sự bố trí của quân Triệu, tìm cơ hội có lợi để đánh địch.


Sau khi do thám biết được thống soái nước Triệu Trần Dư không nghe theo phương án tác chiến của Lí Tả Xa, Hàn Tín mừng thầm trong bụng. Đồng thời, Hàn Tín cũng nắm được tham vọng của Trần Dư là muốn một trận nuốt trôi quân Hán ở cửa khẩu Tỉnh Hình. Nhắm vào tâm lý chủ quan khinh địch của Trần Dư, Hàn Tín đã xây dựng một phương án tác chiến bất ngờ để chiến thắng quân Triệu.


Hàn Tín lập tức chỉ huy quân Hán đóng quân ở một vị trí cách cửa khẩu Tỉnh Hình 30 dặm, lại chọn lấy 2.000 kị binh trẻ khỏe dũng mãnh trong số quân Hán, cho mỗi người mang một lá cờ đỏ, đợi đến lúc nửa đêm, nhân lúc tối trời lặng lẽ theo đường núi nhỏ vòng về phía sau doanh trại của quân Triệu, mai phục sẵn ở đó. Hàn Tín dặn dò số binh sĩ này rằng:

"Ngày mai quân ta sẽ quyết chiến với quân Triệu. Quân Triệu nếu như nhìn thấy quân ta rút lui về phía sau, sẽ nhất định dốc quân truy kích. Các ngươi nhân lúc quân Triệu bỏ trống doanh trại, nhanh chóng tấn công, hạ toàn bộ cờ xí của quân Triệu xuống, cắm cờ đỏ của quân Hán chúng ta lên".


Sau khi giao nhiệm vụ cho cánh quân đó xong, Hàn Tín bèn truyền lệnh nấu cơm. Lần xuất chinh này không giống với các lần xuất chinh bình thường khác, những lần trước, bao giờ quân sĩ cũng ăn một bữa no trước khi xuất trận, lần này lại chuẩn bị cho tướng sĩ rất ít thức ăn, tất cả tướng sĩ đều lấy làm lạ, không hiểu duyên cớ tại sao. Hàn Tín giải thích rằng:

"Các ngươi hãy tạm ăn ít đi một chút, đợi đến sáng ngày mai sau khi đại phá quân Triệu sẽ tổ chức tiệc ăn mừng thịnh soạn!".


Tướng sĩ biết rằng quân Triệu người đông, thế mạnh, là một kẻ địch đáng gờm nên không thật tin tưởng lời của thống soái, chỉ miễn cưỡng đáp lại: "Vâng!".

Mọi người đều chuẩn bị tinh thần để tấn công quân địch.

Sau khi 2.000 quân khinh kị của Hàn Tín xuất phát không lâu, Hàn Tín liền phái một vạn quân làm đội quân tiên phong, tiến đến gần cửa khẩu Tỉnh Hình, men theo dòng Miên Man Thủy để bố trí trận địa. Miên Man Thủy là dòng sông chảy từ vùng phụ cận phía bắc của thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) đến cửa khẩu Tỉnh Hình hiện nay; hồi đó là một dòng sông sâu, nước chảy rất xiết. Hàn Tín biết rằng Trần Dư định một mẻ lưới hốt gọn quân Hán nên sẽ không tiêu diệt một vạn quân tiên phong này vội. Vì vậy, Hàn Tín dặn viên tướng chỉ huy đội quân tiên phong này rằng:

"Quân Triệu đã chiếm được địa hình có lợi trước, xây dựng thành lũy kiên cố, một vạn quân này của chúng ta vừa không phải quân chủ lực, lại không mang theo cờ đại tướng, Trần Dư tất nhiên sẽ không tấn công các ngươi trước. Bởi vì hắn sợ nếu tấn công các ngươi thì quân chủ lực của chúng ta ở phía sau sẽ quay đầu rút chạy".


Sự tình quả nhiên đúng như Hàn Tín đã dự đoán, cánh quân tiên phong không hề vấp phải một sự cản trở nào, tiến quân một cách rất thuận lợi đến bờ phía đông của dòng Miên Man Thủy và xây dựng trận địa ở đó. Quân Triệu nhìn thấy quân Hán bày trận quay lưng lại phía dòng nước, không có đường để lui quân, đều cười nhạo Hàn Tín không hiểu gì về binh pháp.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #16 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2021, 06:59:17 am »

3. Đại chiến Tỉnh Hình, chém Trần Dư tại trận


Quân Hán dựa theo kế hoạch của Hàn Tín bố trí xong trận địa thì trời đã gần sáng. Hàn Tín đích thân chỉ huy quân Hán, giương cao cờ hiệu và nghi trượng của đại tướng, thúc trống tiến quân, hô hào binh lính tấn công vào cửa khẩu Tỉnh Hình. Trần Dư thấy quân Hán phát động tấn công, cho rằng thời cơ tiêu diệt quân Hán đã đến, lập tức truyền lệnh cho quân Triệu xuất kích. Quân Triệu rất đông, nhằm phía quân Hán xông lên, hai bên đại chiến một hồi lâu. Hàn Tín, Trương Nhĩ giả vờ thua trận, vứt hết cả cờ hiệu và nghi trượng, rút lui về phía dòng Miên Man Thủy. Triệu vương Yết và Trần Dư thấy Hàn Tín, Trương Nhĩ rút lui, nhầm tưởng rằng quân Hán thực sự đã bị đánh bại bèn ra lệnh cho toàn bộ quân Triệu bỏ trống doanh trại, dốc sức tấn công. Mười mấy vạn quân Triệu vừa tranh cướp chiến lợi phẩm, vừa truy đuổi theo quân đội của Hàn Tín, Trương Nhĩ.


Hàn Tín, Trương Nhĩ dẫn đội quân chủ lực của quân đội Hán rút lui đến bên dòng Miên Man Thủy thì phối hợp với một vạn quân Hán đã được bố trí trận địa sẵn ở đó, quay lại triển khai tấn công quân Triệu. Trước mắt là quân địch dốc sức truy đuổi, sau lưng là dòng Miên Man Thủy chảy xiết, trong thời khắc nguy hiểm đó, quân Hán chỉ còn cách hoặc là liều chết xông vào tiêu diệt địch, hoặc là rút lui thì sẽ chết đuối. Thế là tướng sĩ nhà Hán đều dũng cảm xông lên, lấy một địch mười, liều chết chiến đấu.


Quân đội nước Triệu dựa vào người đông thế mạnh, nhiều lần xông lên tấn công, nhưng mãi vẫn không thể phá vỡ được trận địa của quân Hán. Cứ như vậy, Hàn Tín, Trương Nhĩ chỉ huy quân Hán ghìm chặt mười mấy vạn quân Triệu bên dòng Miên Man Thủy.


Lại nói đến hai nghìn quân khinh kị của quân đội Hán đang mai phục ở phía sau doanh trại của quân Triệu, vừa nhìn thấy quân Triệu dốc toàn lực tấn công, bỏ trống doanh trại thì lập tức nhân cơ hội chiếm doanh trại của quân Triệu, nhổ hết toàn bộ cò xí của quân Triệu thay bằng cờ đỏ của quân Hán. Chỉ trong chốc lát, đại bản doanh của quân Triệu đã trở thành đại bản doanh của quân Hán.


Quân Triệu đánh nhau với quân Hán bên dòng Miên Man Thủy gần một ngày trời vẫn không giành được thắng lợi. Trần Dư thấy quân sĩ đã nhiều lần tấn công, tỏ ra rất mệt mỏi mà vẫn không thực hiện được giấc mộng bắt sống Hàn Tín, Trương Nhĩ, bèn hạ lệnh thu quân. Quân Triệu mệt mỏi quá sức, ồn ào hỗn loạn rút lui, đi đến giữa đường thì nhìn thấy đại bản doanh ở phía xa kia bốn phía xung quanh đã cắm đầy cờ đỏ của quân Hán, vậy nên vô cùng hoảng sợ, tưởng rằng Triệu vương đã bị quân Hán bắt làm tù binh, thế là vứt hết vũ khí, mũ giáp, dẫm đạp lên nhau mà bỏ chạy. Tướng Triệu mặc dù đã giết không biết bao nhiêu quân sĩ bỏ chạy, vẫn không thể nào ngăn chặn được sự tan vỡ của quân Triệu. Quân Hán đang chiếm doanh trại của quân Triệu thấy vậy bèn thừa thế xông lên. Hàn Tín chỉ huy quân chủ lực đồng thời cũng phản công đến đó, tiêu diệt toàn bộ quân chủ lực của nước Triệu, chém chết chủ soái Trần Dư của quân Triệu, bắt sống Triệu vương Yết. Quân đội nước Hán do tướng Hàn Tín thống soái giành được thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Tỉnh Hình.


Chiến tranh kết thúc, các tướng lĩnh quân đội Hán lần lượt dâng lên thủ cấp tướng địch, báo cáo số quân địch bị bắt làm tù binh, cùng chúc mừng thắng lợi. Tướng lĩnh trong quân đội Hán đều vô cùng khâm phục nghệ thuật chỉ huy của Hàn Tín, nhưng vẫn không hiểu nổi nguyên nhân thắng lợi, bèn tranh nhau hỏi Hàn Tín:

"Theo binh pháp, khi hành quân và bố trí trận địa thì phía bên phải và phía sau lưng phải dựa vào núi, phía trước mặt và phía bên trái quay ra nước, thế mà tướng quân lại làm ngược lại quy định của binh pháp, bố trí trận địa quay lưng về phía sông nước, hơn nữa lại còn hứa một cách chắc chắn với tướng sĩ rằng, đợi đến khi trời sáng đánh bại xong quân Triệu sẽ cùng nhau ăn một bữa no. Chúng tôi lúc đó đều không dám tin tưởng ở lời nói của đại tướng quân, thế mà đại tướng quân giành được thắng lợi, đó là vì lí do gì vậy?".


Hàn Tín trả lời rằng:

"Bố trí trận địa quay lưng về phía sông nước là điều trong binh pháp cũng đã có, chỉ có điều các vị chưa xem kĩ mà thôi. Trong binh thư chẳng phải là đã từng nói: Hãm chi tử địa nhi hậu sinh, trí chi vong địa nhi hậu tồn (đại ý là: rơi vào chỗ chết thì sẽ phải tìm cách để sống) đó sao? Ta sở dĩ bố trí trận địa quay lưng về phía sông nước, chính là dựa vào lí do đó. Ta biết rằng, thời gian mình ở trong quân đội chưa phải là dài, vẫn chưa xây dựng được cho mình một uy thế. Huống hồ, quân Hán đại bộ phận đều là tân binh mới được chiêu mộ, không được huấn luyện đầy đủ, ý chí chiến đấu chưa đủ kiên định, chỉ huy lính mới đánh trận cũng chẳng khác nào lùa người đi chợ ra chiến đấu vậy. Vì vậy, cần phải bố trí họ ở vào "chỗ chết", không cho họ có đường rút lui mới có thể khiến cho họ tự giác chiến đấu, liều chết xông lên. Nếu như bố trí những quân sĩ đó vào nơi an toàn, có đường để rút chạy, thì khi trận chiến trở nên ác liệt, bọn họ sẽ tranh nhau mà bỏ chạy, làm sao còn có thể chỉ huy được bọn họ nữa!”.


Các tướng lĩnh nghe Hàn Tín giải thích như vậy đều không khỏi thán phục, đồng thanh nói:

"Kế sách của đại tướng quân thật là kì diệu, chúng tôi quả là không thể nào theo kịp được!".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #17 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2021, 06:59:42 am »

4. Kết luận

Trận chiến Hàn Tín phá Triệu là một chiến dịch quan trọng trong cuộc chiến tranh giữa hai nước Hán và Sở. Do trong trận chiến đấu này, "bội thủy trận” của Hàn Tín đã trở nên nổi tiếng và lưu truyền đến hậu thế, Hàn Tín từ đó cũng trở thành một nhà quân sự nổi tiếng trong lĩnh vực vận dụng linh hoạt binh pháp. Những trận pháp như kiểu "bội thủy trận" ngày nay chúng ta không thể áp dụng được trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình. Có điều, ở tại thời điểm đó, Hàn Tín đã có thể căn cứ vào tình hình thực tế của hai bên địch - ta và tư tưởng chủ quan khinh địch của tướng Triệu để vận dụng một cách linh hoạt nguyên tắc trong binh pháp, tương kế tựu kế, tiến hành bày thế trận quay lưng về phía sông nước, cố ý để lộ điểm yếu ra cho quân địch thấy, dẫn dụ quân Triệu rời khỏi địa hình có lợi, bỏ trống doanh trại ra ngoài đánh nhau, sau đó dùng kị binh tập kích vào đại bản doanh của quân Triệu, hai cánh quân phối hợp tấn công kẹp quân Triệu vào giữa, chỉ một trận là giành thắng lợi, tiêu diệt toàn bộ quân Triệu. Tất cả những điều đó đã thể hiện tài năng quân sự nổi trội của Hàn Tín.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #18 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2021, 01:57:29 pm »

TRẬN CHIẾN CAI HẠ GIỮA SỞ - HÁN


Trên bàn cờ tướng ngày nay, ở giữa thường có bốn chữ: "Sở hà", "Hán giới", đó chính là so sánh việc đánh cờ tướng với cuộc chiến giữa hai nước chư hầu Hán và Sở trong lịch sử Trung Quốc thời cổ đại. Cuộc chiến Hán và Sở thực chất là cuộc chiến tranh giữa Hạng Vũ và Lưu Bang. Cuộc chiến này kéo dài hơn ba năm, diễn biến phức tạp, tình tiết li kì, chiến đấu rất ác liệt, tổng cộng số người chết và bị thương của cả hai bên lên tới mấy chục vạn người. Trận chiến này lấy trận đánh ở Thành Cao làm trung tâm để triển khai chiến tranh, kết thúc bằng trận đánh ở Cai Hạ, Hán thắng Sở thua.


1. Mở màn của chiến tranh

Sau chiến thắng của Hạng Vũ tiêu diệt quân chủ lực của Tần ở Cự Lộc (nay là huyện Bình Dương, Hà Bắc, Trung Quốc), Lưu Bang thống lĩnh quân đội khởi nghĩa tiến về phía tây cũng phát triển rất thuận lợi. Tháng mười năm Hán vương thứ nhất (năm 206 trước Công nguyên), quân đội của Lưu Bang đánh vào Quan Trung, chiếm lĩnh kinh đô Hàm Dương của vương triều nhà Tần.


Lưu Bang là một con người rất có con mắt chính trị, biết được lúc đó nhân dân mong muốn cái gì, căm ghét cái gì. Để thu phục lòng người, Lưu Bang rất chú ý tới việc quản lí quân lính dưới quyền mình, an ủi vỗ về dân chúng. Ông ta hạ lệnh niêm phong toàn bộ các cung điện, kho tàng của triều đình nhà Tần ở Hàm Dương, nghiêm khắc cấm chỉ quân lính dưới quyền không được sử dụng các của cải châu báu trong cung thất. Lưu Bang đóng quân ở bên ngoài thành Hàm Dương, triệu tập các phụ lão ở Quan Trung, đưa ra những điều quy ước đối với quân lính dưới quyền của mình: Kẻ giết người sẽ bị tử hình; đánh người bị thương và cướp bóc sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ phạm tội nặng nhẹ. Lưu Bang còn tuyên bố xóa bỏ toàn bộ luật pháp hà khắc của triều đình nhà Tần. Tất cả những biện pháp đó của Lưu Bang được người dân Quan Trung nhiệt liệt hoan nghênh.


Một tháng sau, đại quân của Hạng Vũ kéo đến Hàm Cốc quan (nay là vùng đất thuộc phía tây nam huyện Linh Bảo, Hà Nam, Trung Quốc). Hạng Vũ thấy Lưu Bang được sự ủng hộ của Sở Hoài vương, sẽ được làm vua ở đất Quan Trung thì vô cùng tức giận, đích thân chỉ huy 40 vạn đại quân phá cửa ải tiến vào Quan Trung. Hạng Vũ đóng quân ở Hồng Môn (nay thuộc phía đông huyện Lâm Đồng, Thiểm Tây, Trung Quốc). Từ đó, mâu thuẫn giữa Hạng Vũ và Lưu Bang ngày càng trở nên gay gắt.


Lúc đó, Lưu Bang chỉ có 10 vạn quân. Hạng Vũ ỷ thế quân đông tướng mạnh, dự định tiêu diệt Lưu Bang, độc chiếm Quan Trung. Lưu Bang muốn chống lại Hạng Vũ, nhưng lại sợ đánh không được Hạng Vũ, đành phải làm theo kế sách của Trương Lương, đích thân mình đi đến chỗ Hạng Vũ đóng quân để tạ tội. Hạng Vũ mở yến tiệc ở Hồng Môn chiêu đãi Lưu Bang. Trong lúc yến tiệc, quân sư của Hạng Vũ là Phạm Tăng ra hiệu cho Hạng Vũ giết chết Lưu Bang. Hạng Vũ chần chừ không quyết, Lưu Bang bèn kiếm cớ trốn thoát khỏi bữa tiệc. Đó chính là tích "Hồng Môn yến” nổi tiếng trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.


Mấy ngày sau, Hạng Vũ dẫn quân tiến vào Hàm Dương giết chết Tần vương Tử Anh, vơ vét không biết bao nhiêu của cải châu báu trong kinh thành, bắt và hãm hiếp rất nhiều phụ nữ, phóng hỏa đốt sạch các cung điện của triều đình nhà Tần, sau đó rút quân về phía đông. Nhân dân vô cùng thất vọng trước những việc làm của Hạng Vũ.


Hạng Vũ cắt đất phong tước vị cho rất nhiều quí tộc cũ của sáu nước chư hầu trước đây làm vương; phong cho Lưu Bang là Hán vương, bắt Lưu Bang chuyển từ khu vực Quan Trung đến Hán Trung và Ba Thục. Hạng Vũ tự xưng là Tây Sở Bá vương, có địa vị cao nhất, trên thực tế là nắm quyền chỉ huy tất cả các vua chư hầu. Việc cắt đất phong tước vị của Hạng Vũ đã đi ngược lại với khát vọng thống nhất của nhân dân thời đó, làm mất lòng dân. Vì vậy, sau khi cắt đất phong tước vị không lâu, chiến tranh lại nổ ra.


Cựu quý tộc của nước Tề là Điển Vinh tự xưng là Tề vương. Hạng Vũ đích thân mang quân đi đến nước Tề (nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) để tấn công Điền Vinh. Lưu Bang bèn nhân cơ hội đó chiếm lại đất Quan Trung, mở màn cuộc chiến tranh giữa Sở và Hán.


Tháng tư năm 205 trước Công nguyên, Lưu Bang liên kết với 56 vạn quân của các nước chư hầu, chỉ huy quân lính tiến về phía đông, chiếm lĩnh Bành Thành - đô thành của nước Sở (nay thuộc thành phố Từ Châu, Giang Tô, Trung Quốc).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #19 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2021, 02:01:42 pm »

2. Trận chiến tranh đoạt Huỳnh Dương, Thành Cao


Sau khi Hạng Vũ đánh bại Điền Vinh, quay về tấn công quân Hán, đánh bại Lưu Bang ở Bành Thành. Lưu Bang mang theo tàn binh bại tướng của mình tháo chạy về phía tây, đóng quân tại Huỳnh Dương (nay là vùng đất phía tây nam huyện Huỳnh Dương, Hà Nam, Trung Quốc). Hạng Vũ đã mấy lần phái binh đến tấn công, đều bị quân Hán đánh bại. Hai bên giữ thế đối địch, giằng co với nhau ở Huỳnh Dương.


Làm thế nào để đánh bại một kẻ địch mạnh như Hạng Vũ, giành được thiên hạ trong tình thế địch mạnh ta yếu? Lưu Bang đã áp dụng kế sách của Trương Lương và một số người khác, xây dựng một phương án tác chiến hoàn hảo, nội dung chủ yếu là:

Thứ nhất, Lưu Bang đích thân chỉ huy quân chủ lực của quân đội Hán, lợi dụng ưu thế địa hình của Huỳnh Dương - Thành Cao (nay là thị trấn Tị Thủy, huyện Huỳnh Dương), cùng Hạng Vũ duy trì thế trận lâu dài.

Thứ hai, phái Hàn Tín dẫn một cánh quân vượt qua sông Hoàng Hà đánh một trận tiêu diệt thế lực cát cứ phía bắc Hoàng Hà, uy hiếp sườn bên phải của quân đội Sở.

Thứ ba, sai người đến khuyên giải thuyết phục Cửu Giang vương Anh Bố đầu hàng, để Anh Bố tấn công sườn bên trái của quân đội Sở từ phía nam.

Thứ tư, ra lệnh cho Bành Việt ở đất Lương (nay là dải đất từ bắc xuống nam thuộc khu vực thành phố Thương Khâu, Hà Nam, Trung Quốc) tiến hành quấy nhiễu để uy hiếp hậu phương quân đội Sở.


Lưu Bang đã thực hiện thắng lợi phương án tác chiến này.

Tháng tám năm Hán vương thứ hai (năm 205 trước Công nguyên), Lưu Bang cử Hàn Tín làm chủ tướng, dẫn quân vượt qua sông Hoàng Hà, lần lượt tiêu diệt quân đội các nước Ngụy, Đại, Triệu; hàng phục nước Yên; bình định khu vực từ sông Hoàng Hà trở lên phía bắc, biến những thế lực vốn ủng hộ Hạng Vũ, uy hiếp Lưu Bang quay lại hình thành thế trận uy hiếp Hạng Vũ. Lưu Bang còn rút một bộ phận binh lực của Hàn Tín, bổ sung đến Huỳnh Dương, tăng cường lực lượng cho chiến trường chính diện ở đó.


Tháng mười một năm Hán vương thứ ba, Lưu Bang cử Tiêu Hà đến Cửu Giang, thuyết phục Cửu Giang vương Anh Bố phản bội Hạng Vũ, quy phục Lưu Bang, phát binh tấn công Sở, uy hiếp sườn bên trái của quân đội Sở. Hạng Vũ buộc phải chia bớt một phần binh lực để trấn giữ trên chiến trường Cửu Giang, như vậy đã giảm nhẹ áp lực cho chiến trường Huỳnh Dương - Thành Cao. Lưu Bang còn bổ sung quân đội của Anh Bố đến Thành Cao, tăng cường thêm lực lượng ở đó.


Quân đội của Bành Việt không ngừng tiến hành những trận đánh quấy nhiễu hậu phương của quân đội Sở, thậm chí có lần còn tấn công Hạ Phi áp sát kinh đô Bành Thành của nước Sở. Lần khác, quân đội của Bành Việt lại liên tiếp đánh hạ 17 tòa thành trì trên đất Lương, khiến cho hậu phương của quân đội Sở rối loạn, không lúc nào được yên thân, buộc Hạng Vũ phải mấy lần điều binh quay đầu về đối phó với quân đội của Bành Việt.


Lại nói đến chiến trường chính diện ở Huỳnh Dương - Thành Cao. Theo binh lực, nhất là giai đoạn ban đầu, Hạng Vũ mạnh hơn Lưu Bang rất nhiều. Từ tháng tư năm Hán vương thứ hai đến tháng mười năm Hán vương thứ tư, trong khoảng thời gian hơn hai năm, hai bên quân đội Hán - Sỏ luôn ở thế giằng co, không phân thắng bại. Trong quá trình đó, Lưu Bang dần dần từ yếu chuyển sang mạnh, lực lượng ngày một lớn mạnh, ngày càng nắm được quyền chủ động trên chiến trường. Ngược lại, quân đội nước Sở do chiến tuyến quá dài, phải chạy đông chạy tây, vô cùng mệt mỏi, lực lượng ngày càng yếu đi, rơi vào thế bị động. Đặc biệt là đến tháng mười năm Hán vương thứ tư, trong trận Tị Thủy, quân Hán đại thắng, toàn bộ quân Sở ở Thành Cao sụp đổ tan rã. Thế trận ở Huỳnh Dương - Thành Cao kết thúc, cuộc chiến tranh Sở - Hán bước vào giai đoạn mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM